COPD được đặc trưng bởi tắc nghẽn đường dẫn khí dai dẳng do bất thường ở đường dẫn khí và/hoặc phế nang. Bằng cách đánh giá bất thường cấu trúc của phổi, bệnh nhân COPD có thể chia thành kiểu hình khí phế thũng và không khí phế thũng. Khí phế thũng là sự giãn vĩnh viễn phế nang và/hoặc ống phế nang sau tiểu phế quản tận đi kèm với sự phá hủy vách phế nang.
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
COPD được đặc trưng bởi tắc nghẽn đường dẫn
khí dai dẳng do bất thường ở đường dẫn khí và/
hoặc phế nang (1) COPD đa dạng về biểu hiện
lâm sàng, hình ảnh học, sụt giảm chức năng hô
hấp (CNHH), thời gian sống còn và đáp ứng với
điều trị Điều đó có nghĩa rằng bệnh nhân COPD
có nhiều loại kiểu hình Việc phân loại kiểu hình
nhằm tối ưu hiệu quả điều trị, giảm thiểu tác dụng phụ và tránh điều trị không cần thiết Bệnh nhân COPD có cùng kiểu hình sẽ có cùng đặc tính lâm sàng, dự hậu và đáp ứng với một liệu pháp điều trị cụ thể Kiểu hình đó phải có kết cục có ý nghĩa lâm sàng và thay đổi được với điều trị (2) Bằng cách đánh giá bất thường cấu trúc của phổi, bệnh nhân COPD có thể chia thành kiểu hình khí phế thũng và không khí phế thũng
KIỂU HÌNH KHÍ PHẾ THŨNG Ở BỆNH NHÂN COPD:
TỪ CHẨN ĐOÁN ĐẾN ĐIỀU TRỊ
TS.BS NGUYỄN VĂN THỌ
Bộ môn Lao và Bệnh phổi, Đại Học Y Dược TP.HCM
Tóm tắt
COPD được đặc trưng bởi tắc nghẽn đường dẫn khí dai dẳng do bất thường ở đường dẫn khí và/hoặc phế nang Bằng cách đánh giá bất thường cấu trúc của phổi, bệnh nhân COPD có thể chia thành kiểu hình khí phế thũng và không khí phế thũng Khí phế thũng là sự giãn vĩnh viễn phế nang và/hoặc ống phế nang sau tiểu phế quản tận đi kèm với sự phá hủy vách phế nang CT ngực có độ nhạy và đặc hiệu cao hơn X-quang ngực và xét nghiệm thăm dò chức năng hô hấp để phát hiện khí phế thũng Trong số các bệnh nhân COPD, kiểu hình khí phế thũng chiếm khoảng 50-70% Bệnh nhân COPD có kiểu hình khí phế thũng thường có chỉ số khối cơ thể thấp hơn, khó thở nhiều hơn, tốc độ sụt giảm FEV1 nhanh hơn, loãng xương hoặc ung thư phổi nhiều hơn và tử vong do mọi nguyên nhân cao hơn so với bệnh nhân không có kiểu hình khí phế thũng Điều trị kiểu hình khí phế thũng chủ yếu là các thuốc giãn phế quản tác dụng kéo dài bên cạnh ngưng hút thuốc lá, tăng cường dinh dưỡng, phục hồi chức năng hô hấp Một số ít có thể xem xét điều trị giảm thể tích phổi Bài tổng quan này sẽ gợi ý cách chẩn đoán và điều trị bệnh nhân COPD có kiểu hình khí phế thũng
Summary
COPD is characterized by persistent aiflow limitation because of airway and/or alveolar abnormalities Patients with COPD may be divided into emphysema and non-emphysema phenotypes by evaluating pulmonary structural changes Emphysema is the abnormally permanent enlargement of alveoli and/
or alveolar ducts distal to terminal bronchioles accompanied with alveolar wall destruction Chest computed tomography is more sensitive and more specific than chest X-ray or pulmonary function tests for emphysema detection Among patients with COPD, emphysema phenotype accounts for 50-70% COPD patients with emphysema phenotype have lower body mass index, more severe dyspnea, more rapid FEV1 decline, more common osteoporosis or lung cancer, and higher all-cause mortality than those with non-emphysema phenotype COPD patients with emphysema phenotype are managed by using mainly long-acting bronchodilators accompanied by smoking cessation, appropriate nutitional consultation, pulmonary rehabilitation; few patients may be considered for lung volume reduction therapies In this review, we suggest how to diagnose and manage COPD patients with emphysema phenotype
Trang 2Khí phế thũng là sự giãn vĩnh viễn phế nang
và/hoặc ống phế nang sau tiểu phế quản tận đi
kèm với sự phá hủy vách phế nang (3).Vì khí
phế thũng là định nghĩa mô bệnh học nên bất kỳ
phương pháp nào dùng để phát hiện khí phế thũng
trên lâm sàng cũng cần phải được kiểm chứng bởi
kết quả mô bệnh học Khí phế thũng thường là
do khói thuốc lá và yếu tố di truyền gây ra Khí
phế thũng có cơ chế bệnh sinh phức tạp, liên quan
đến nhiều cơ chế khác nhau Một trong những cơ
chế đó là tình trạng đáp ứng viêm quá mức xảy
ra ở nhu mô phổi khiến số lượng đại thực bào và
bạch cầu đa nhân trung tính tăng lên Các tế bào
này tăng tiết matrix metalloproteinases (MMPs),
elastases, collagenases rồi làm mỏng hoặc phá
hủy vách phế nang (4)
Trong số các bệnh nhân COPD, kiểu hình khí
phế thũng chiếm khoảng 50-70% Sự khác biệt
về tỉ lệ là tùy thuộc vào tiêu chuẩn chẩn đoán khí
phế thũng (5,6) Bệnh nhân COPD có kiểu hình khí
phế thũng thường có chỉ số khối cơ thể thấp hơn,
khó thở nhiều hơn, tốc độ sụt giảm FEV1 nhanh
hơn, loãng xương hoặc ung thư phổi nhiều hơn
và tử vong do mọi nguyên nhân cao hơn so với
bệnh nhân không có kiểu hình khí phế thũng (7,8)
CT ngực có độ nhạy và đặc hiệu cao hơn X-quang
ngực và xét nghiệm thăm dò chức năng hô hấp để
phát hiện khí phế thũng Bài tổng quan này sẽ gợi
ý cách chẩn đoán và điều trị bệnh nhân COPD có
kiểu hình khí phế thũng
CHẨN ĐOÁN KIỂU HÌNH KHÍ PHẾ THŨNG
Ở BỆNH NHÂN COPD
Do khí phế thũng là chẩn đoán mô bệnh học nên
các xét nghiệm không xâm lấn chỉ phản ánh gián
tiếp tình trạng khí phế thũng Bệnh nhân COPD
nghi ngờ có kiểu hình khí phế thũng nếu có các
đặc điểm được trình bày sau đây
Chẩn đoán dựa vào lâm sàng:
Bệnh nhân COPD nếu có khí phế thũng đáng kể,
họ thường có chỉ số khối cơ thể thấp, hay ho khan,
khó thở không tương thích với mức độ tắc nghẽn
trên hô hấp ký
Khám lâm sàng có thể phát hiện các dấu hiệu sau:
- Lồng ngực hình thùng: Tăng đường kính trước sau
- Dấu Hoover: Chuyển động nghịch thường vào trong của phần dưới ngoài lồng ngực khi hít vào
- Mất đồng bộ ngực-bụng: phần trước thành bụng chuyển động vào trong nghịch thường khi hít vào
- Sử dụng cơ thang (cơ hô hấp phụ) khi hít vào
- Thở chúm môi
Tuy nhiên, các dấu hiệu lâm sàng trên có độ nhạy và đặc hiệu thấp trong việc chẩn đoán khí phế thũng, giá trị chẩn đoán tùy thuộc vào kinh nghiệm của bác sĩ khám bệnh
Chẩn đoán dựa vào X-quang ngực:
X-quang ngực hữu ích trong việc đánh giá sự hiện diện của khí phế thũng bao gồm căng phồng phổi quá mức, bóng khí và giảm số lượng và/hoặc kích thước mạch máu phổi (9) Càng có nhiều đặc điểm trên thì khả năng bị khí phế thũng càng cao Tuy nhiên, việc đánh giá mạch máu phổi tương đối khó nên các dấu hiệu mạch máu của khí phế thũng dễ bị nhận định sai (sự tương thích giữa các người đọc khác nhau với hệ số tương quan 0,40-0,62)(10) Nếu có bất thường ở mạch máu thì phải có ít nhất 1 tiêu chuẩn căng phồng phổi quá mức mới được chẩn đoán khí phế thũng (11) X-quang ngực chỉ phát hiện khí phế thũng khi nó đủ nặng để thể hiện các biến đổi trên phim Khi so sánh với kết quả mô bệnh học, giá trị chẩn đoán khí phế thũng của X-quang ngực rất dao động, tùy từng nghiên cứu cho nhận xét
độ nhạy là 24-80%, đặc biệt thấp hơn cho KPT mức độ nhẹ-trung bình, độ đặc hiệu là 95-100%,
độ chính xác là 65-80% (12).X-quang ngực chỉ xác định có khí phế thũng hay không, chưa có hướng dẫn để đánh giá mức độ khí phế thũng bằng X-quang ngực
Trang 3Lợi điểm của X-quang ngực là giá rẻ, có sẵn mọi nơi, được chụp định kỳ mỗi năm 1 lần nên
có thể dùng để đánh giá khí phế thũng ở bệnh
nhân COPD Tính chính xác của X-quang ngực
trong việc chẩn đoán khí phế thũng tùy thuộc
vào tiêu chuẩn cụ thể của khí phế thũng, phương
pháp áp dụng các tiêu chuẩn này và ý định của
người đánh giá phim (11) Điều đó có nghĩa độ
nhạy và độ đặc hiệu sẽ phụ thuộc vào người
đánh giá phim X-quang
Để đánh giá khí phế thũng, bệnh nhân COPD nên được chụp X-quang ngực thẳng và nghiêng
trái Căng phồng phổi quá mức là dấu hiệu đáng
tin cậy nhất cho KPT (hình 1) Các dấu hiệu căng
phồng phổi quá mức bao gồm (12):
- Vòm hoành thấp: Điểm cao nhất của vòm hoành phải nằm ngang hoặc dưới đầu trong
xương sườn 7
- Vòm hoành phẳng: Chiều cao vòm hoành
<1,5 cm (hiện diện với tỉ lệ khác nhau tùy mức
độ KPT; nặng, 94%; trung bình, 76%; nhẹ: 21%)
- Tăng khoảng sáng sau xương ức: ≥ 2,5 cm (đo từ bờ sau xương ức đến bờ trước động mạch
chủ lên tại điểm dưới góc Louis 3cm)
- Tù góc sườn hoành trên phim thẳng hoặc nghiêng
- Bóng tim nhỏ (<11,5cm), thấy phổi dưới bóng tim
- Tăng sáng không đều 2 phế trường: Đậm
độ cản quang khác biệt giữa những vùng phổi đối
xứng bên trái so với bên phải do sự phân bố khí
phế thũng không đều
Hình 1 Dấu hiệu căng phồng phổi quá mức trên phim ngực
thẳng (A) và nghiêng trái (B)
Bảng 1 Tiêu chuẩn chẩn đoán khí phế thũng
bằng X-quang ngực
Phim ngực Dấu hiệu
Đậm độ cản quang không đều 2 phế trường Nghiêng trái Tăng khoảng sáng sau xương ức
Vòm hoành phẳng hoặc thậm chí cong lõm lên trên
Bệnh nhân COPD nếu có ít nhất 2 dấu hiệu trong bảng 1 thì sẽ được chẩn đoán khí phế thũng (11) Bằng cách áp dụng tiêu chuẩn này thì độ nhạy chẩn đoán KPT so với mô bệnh học (mô KPT chiếm >2% tổng thể tích phổi) là 82% Khi
so sánh với CT độ phân giải cao được đánh giá bán định lượng bằng mắt thường (thang điểm
từ 0-100 với 10-30 KPT nhẹ, >30-50 KPT trung bình và >50 KPT nặng), thì tiêu chuẩn này có độ nhạy và độ đặc hiệu là 90% và 98% (55) Giá trị chẩn đoán dương là 98% và giá trị chẩn đoán âm
là 88% Kết quả âm giả của X-quang ngực xảy ra
ở những bệnh nhân có KPT rất ít trên CT ngực Việc chẩn đoán KPT trên X-quang ngực dựa vào bảng 1 có độ tương hợp giữa các người đọc khác nhau rất cao với chỉ số Kappa = 0,95 (5) Do đó, tiêu chuẩn chẩn đoán KPT như trên nên được áp dụng trong thực hành lâm sàng hàng ngày ở bệnh nhân COPD
Chẩn đoán dựa vào CT ngực:
Trong thực hành lâm sàng, CT ngực không được chỉ định thường quy trong quá trình đánh giá và theo dõi COPD do đắt tiền và nguy cơ nhiễm xạ tia X cao Tuy nhiên, CT ngực vẫn thường được chỉ định cho bệnh nhân COPD vì những lý do khác như tầm soát K phổi, khảo sát thuyên tắc phổi, khảo sát giãn phế quản, nghi ngờ viêm phổi, đánh giá bệnh mạnh vành, Những dữ liệu CT ngực từ các mục đích khác này có thể được sử dụng để đánh giá COPD nếu bác sĩ biết cách khai thác các dữ liệu này
CT ngực không chỉ giúp xác định có KPT hay không mà còn xác định mức độ KPT Biểu hiện trên CT của khí phế thũng là những vùng giảm đậm độ có bờ không rõ Trên CT, có 3 dạng khí
Trang 4phế thũng gồm KPT trung tâm tiểu thùy (TTTT),
KPT toàn tiểu thùy và KPT cạnh vách (hình 2)
(13) KPT TTTT là dạng phổ biến ở Việt Nam, liên
quan đến tình trạng hút thuốc lá KPT toàn tiểu
thùy chủ yếu xảy ra ở người thiếu α1 anti-tripsin,
loại khí phế thũng có thể gặp ở người Tây Âu,
hiếm khi gặp ở người Châu Á
Hình 2 Các loại khí phế thũng trong COPD A) Khí phế
thũng trung tâm tiểu thùy; B) Khí phế thũng toàn tiểu thùy;
C) Khí phế thũng cạnh vách.
Mức độ khó thở hoặc rối loạn chức năng hô
hấp phụ thuộc vào mức độ khí phế thũng hơn là
loại khí phế thũng Khi đánh giá bằng mắt thường,
mức độ khí phế thũng cho một lát cắt được ước
lượng dựa trên thang điểm như sau: 0 nếu KPT
<5%, 1 nếu từ 5% đến <25%, 2 nếu từ 25% đến
<50%, 3 nếu từ 50% đến <75% và 4 nếu từ 75%
trở lên (14) Dựa vào cách đánh giá này, 5% là
ngưỡng xác định kiểu hình khí phế thũng ở bệnh
nhân COPD (15) Tuy nhiên, cách lượng giá mức
độ KPT này tốn thời gian và mức độ tương hợp
giữa các bác sĩ chỉ ở mức thấp-trung bình (chỉ số
Kappa dao động từ 0,25-0,63)(15)
Khi định lượng mức độ khí phế thũng bằng
CT định lượng, phần mềm phân tích hình ảnh CT
sẽ tính phần trăm diện tích (low attenuation area,
LAA%) hoặc phần trăm thể tích giảm đậm độ (low
attenuation volume, LAV%) cho từng lát cắt CT
(16) Mức độ KPT đo bằng CT định lượng tương
quan tốt với mức độ KPT ước lượng bằng CT
định tính (17) hoặc đo lường bằng giải phẫu đại thể
và vi thể (18) Ở bệnh nhân COPD, LAA% tương
quan thuận với mức độ khó thở (19) và DLCO (20)
Ngưỡng của LAA% hoặc LAV% để xác định kiểu
hình khí phế thũng vẫn chưa được biết Nhiều tác
giả đề nghị tính giới hạn trên bình thường (ULN:
upper limit of normal) (6) như là ngưỡng, có tác
giả đề nghị ngưỡng là 5% (21)
Chẩn đoán dựa vào thăm dò chức năng hô hấp:
Thăm dò CNHH được xem là xét nghiệm có phản ảnh rối loạn chức năng do khí phế thũng gây ra
Vì các chỉ số của xét nghiệm thăm dò CNHH tương quan với mức độ khí phế thũng trên CT nên các chỉ số này có thể dùng để đánh giá khí phế thũng một cách gián tiếp Lợi điểm của các xét nghiệm thăm dò CNHH là không xâm lấn, có tính lặp lại, có thể thực hiện nhiều lần để theo dõi diễn tiến bệnh mà không bị nguy cơ nhiễm xạ tia
X hoặc không quá đắt tiền
Trong các chỉ số hô hấp, khả năng khuếch tán khí CO qua màng phế nang mao mạch (DLCO)
là một trong những chỉ số có tương quan cao với mức độ khí phế thũng trên CT DLCO có thể dùng
để phản ánh mức độ khí phế thũng trên mô bệnh học hoặc hình ảnh học DLCO giảm ở bệnh nhân khí phế thũng do diện tích bề mặt của màng phế nang-mao mạch bị giảm DLCO được xem là xét nghiệm để tầm soát bệnh nhân nghi ngờ bị khí phế thũng trên lâm sàng, có thể giúp phân biệt bệnh nhân khí phế thũng với không khí phế thũng DLCO
<80% xem như là bất thường, nhưng ATS/ERS (Hiệp hội lồng ngực Hoa Kỳ/Hội Hô hấp Châu Âu) đề nghị dùng ngưỡng thấp hơn bình thường (LLN: lower limit of normal) cho những dân số
đã có giá trị tham khảo Một nghiên cứu tại Hàn Quốc cho thấy, so với quần thể dân số tham chiếu, ngưỡng DLCO thấp hơn từ 5% trở lên mới có thể
là điểm cắt chẩn đoán KPT Khi so sánh với kết quả khí phế thũng trên CT thì DLCO có khả năng phát hiện khí phế thũng với độ nhạy 68,3% và đặc hiệu 84,5%22
Theo ATS, trong số những bệnh nhân có tắc nghẽn đường dẫn khí (FEV1 <80%), bệnh nhân được xem như có khí phế thũng (theo tiêu chuẩn rối loạn chức năng) khi có DLCO (đã hiệu chỉnh cho Hb và CO) <80% và/hoặc RV > 120% (9) Các chỉ số đo thể tích phổi có thể dùng để đánh giá tình trạng khí phế thũng do chúng có tương quan thuận với mức độ khí phế thũng trên
CT Khi bị khí phế thũng đáng kể, các chỉ số sau
có thể tăng: RV, RV/TLC (do đường dẫn khí nhỏ
Trang 5đóng sớm vì khí phế thũng, còn gọi là bẫy khí);
FRC, TLC và/hoặc FRC/TLC (do căng phồng
phổi quá mức) (23) Các chỉ số thể tích phổi vừa
nêu vẫn chưa có giá trị ngưỡng tối ưu để xác định
là tăng Có tác giả sử dụng ngưỡng là giới hạn
trên bình thường (ULN) nhưng có tác giả lại sử
dụng con số tùy ý như 120% hoặc 135%
Phế thân ký được xem là phương pháp chuẩn
để đo lường thể tích phổi Ở bệnh nhân có tắc
nghẽn mức độ trung bình-nặng, phương pháp
khuếch tán khí He có khuynh hướng ước lượng
dưới mức thể tích phổi, trong khi phương pháp
phế thân ký có khuynh hướng ước lượng quá mức
FRC Do đó, cần phải nói rõ tình trạng căng phồng
phổi được đánh giá bằng phương pháp nào và
bằng chỉ số thể tích nào Ở bệnh nhân bị khí phế
thũng nặng, FRC đo bằng phương pháp khuếch
tán khí He sẽ ước lượng dưới mức rất nhiều do
có những vùng không được thông khí tốt Do đó,
không nên dùng phương pháp này để đánh giá ở
bệnh nhân có khí phế thũng nhiều Phương pháp
này chỉ dùng cho những bệnh nhân không thể đo
được phế thân ký do quá nặng, sợ khoang kín (24)
ĐIỀU TRỊ KIỂU HÌNH KHÍ PHẾ THŨNG
Điều trị không dùng thuốc cho kiểu hình khí phế
thũng cũng giống như các kiểu hình khác của
COPD, bao gồm các thành phần sau: Ngưng hút
thuốc lá; Vật lý trị liệu hô hấp: thở chúm môi,
tăng cường độ dẻo dai của cơ hô hấp hoặc cơ toàn
thân; Dinh dưỡng tối ưu; Tiêm ngừa cúm và phế
cầu; Oxy liệu pháp khi có chỉ định
Điều trị bằng thuốc: Phần lớn các thử nghiệm thuốc không dựa trên kiểu hình COPD nên ít có
bằng chứng cho từng loại kiểu hình COPD, kể cả
kiểu hình khí phế thũng Mục đích điều trị bằng
thuốc ở bệnh nhân COPD có kiểu hình KPT là
giảm khó thở, tăng cường khả năng gắng sức Các
thuốc xem xét dùng trong giai đoạn ổn định là
LAMA (thuốc kháng thụ thể muscarinic kéo dài)
và/hoặc LABA (thuốc kích thích beta 2 tác dụng
kéo dài), các thuốc cắt cơn là SABA (thuốc kích
thích beta 2 tác dụng ngắn) và/hoặc SAMA (thuốc
kháng thụ thể muscarinic tác dụng ngắn) Các
thuốc này làm giảm căng phồng phổi quá mức từ
đó giảm khó thở và tăng khả năng gắng sức (23) Bệnh nhân có kiểu hình khí phế thũng kém đáp ứng với corticoid hít (ICS) kết hợp LABA (25) Một nghiên cứu gần đây ở 240 bệnh nhân COPD
do hút thuốc lá tại Việt Nam cho thấy, bệnh nhân
có kiểu hình khí phế thũng dựa vào CT định lượng
có tỉ lệ có bạch cầu ái toan/máu ≥3% thấp hơn so với bệnh nhân không có kiểu hình khí phế thũng (50,7% so với 72,5%; RR 0,70; 95%CI 0,57-0,86; P=0.0007) (26) Trong khi đó, có nhiều bằng chứng cho thấy, bệnh nhân COPD có bạch cầu ái toan/ máu cao thì có khả năng đáp ứng với ICS/LABA tốt hơn giả dược hoặc LAMA (27) Điều đó lý giải tại sao bệnh nhân có kiểu hình khí phế thũng ít đáp ứng với ICS/LABA hơn kiểu hình không khí phế thũng
CT ngực có thể giúp để chọn lọc nhóm bệnh nhân COPD có kiểu hình đáp ứng với điều trị giảm thể tích phổi bằng phẫu thuật (lung volume reduction surgery, LVRS), bằng valve một chiều, hoặc coils hoặc hơi nóng qua đường nội soi phế quản Điều trị giảm thể tích phổi được chỉ định cho những bệnh nhân có khí phế thũng nặng, giảm khả năng gắng sức, và khó thở nhiều Điều trị này giúp cho nhu mô phổi lành và cơ hô hấp hoạt động hiệu quả hơn, từ đó giúp bệnh nhân giảm khó thở, tăng khả năng gắng sức và tăng FEV1 (28) Đây được xem như một điều trị giảm nhẹ, sau khi các biện pháp khác không đủ hiệu quả, giúp giảm triệu chứng chứ không phải giảm đợt cấp Điều trị này hiện có chi phí tương đối cao và đi kèm với các biến chứng như tràn khí màng phổi, đợt cấp, viêm phổi, tử vong liên quan thủ thuật nên được chỉ định hẹp ở các trung tâm chuyên sâu, nơi
có nhiều kinh nghiệm về thủ thuật và xử trí biến chứng Những bệnh nhân COPD tăng nguy cơ tử vong khi điều trị bằng phẫu thuật giảm thể tích khi có các đặc điểm như khí phế thũng lan tỏa, FEV1 < 20%, DLCO < 20% (29)
KẾT LUẬN
Hiện có nhiều phương pháp để chẩn đoán và đánh giá mức độ khí phế thũng Tuy nhiên,
Trang 6bác sĩ cần phải chú ý đến độ nhạy và độ đặc
hiệu của từng phương pháp khi đánh giá khí
phế thũng ở bệnh nhân COPD Nếu có càng
nhiều dấu hiệu khí phế thũng từ nhiều phương
pháp khác nhau thì khả năng chẩn đoán khí phế
thũng càng cao Điều trị COPD có kiểu hình
khí phế thũng bao gồm các thành phần không thuốc như những kiểu hình khác Tuy nhiên, thuốc chủ lực trong điều trị kiểu hình này là các thuốc giãn phế quản tác dụng kéo dài, một
số ít bệnh nhân có thể được xem xét điều trị giảm thể tích phổi
Tài liệu tham khảo
1 GOLD The Global Strategy for the Diagnosis,
Management, and Prevention of COPD, Global
Initiative for Chronic Obstructive Lung Disease
(GOLD) 2018 Available from: http://www.goldcopd.
org Accessed: 28 March 2018 2018
2 Han MK, Agusti A, Calverley PM, et al Chronic
obstructive pulmonary disease phenotypes: the
future of COPD Am J Respir Crit Care Med
2010;182(5):598-604.
3 Thurlbeck WM, Muller NL Emphysema: definition,
imaging, and quantification AJR Am J Roentgenol
1994;163(5):1017-1025.
4 Russell RE, Culpitt SV, DeMatos C, et al Release
and activity of matrix metalloproteinase-9
and tissue inhibitor of metalloproteinase-1 by
alveolar macrophages from patients with chronic
obstructive pulmonary disease Am J Respir Cell
Mol Biol 2002;26(5):602-609.
5 Miniati M, Monti S, Stolk J, et al Value of chest
radiography in phenotyping chronic obstructive
pulmonary disease Eur Respir J
2008;31(3):509-515.
6 Van Tho N, Ogawa E, Trang le TH, et al A
mixed phenotype of airway wall thickening and
emphysema is associated with dyspnea and
hospitalization for chronic obstructive pulmonary
disease Ann Am Thorac Soc 2015;12(7):988-996.
7 Johannessen A, Skorge TD, Bottai M, et al Mortality
by level of emphysema and airway wall thickness
Am J Respir Crit Care Med 2013;187(6):602-608.
8 Wilson DO, Weissfeld JL, Balkan A, et al
Association of radiographic emphysema and
airflow obstruction with lung cancer Am J Respir
Crit Care Med 2008;178:738-744.
9 The definition of emphysema Report of a National
Heart, Lung, and Blood Institute, Division of
Lung Diseases workshop Am Rev Respir Dis
1985;132(1):182-185.
10 Miniati M, Filippi E, Falaschi F, et al Radiologic
evaluation of emphysema in patients with chronic
obstructive pulmonary disease Chest radiography
versus high resolution computed tomography Am
J Respir Crit Care Med 1995;151(5):1359-1367.
11 Pratt PC Role of conventional chest radiography
in diagnosis and exclusion of emphysema Am J Med 1987;82(5):998-1006.
12 Sanders C The radiographic diagnosis
of emphysema Radiol Clin North Am 1991;29(5):1019-1030.
13 Lynch DA, Austin JH, Hogg JC, et al CT-Definable Subtypes of Chronic Obstructive Pulmonary Disease: A Statement of the Fleischner Society Radiology 2015;277(1):192-205.
14 Goddard PR, Nicholson EM, Laszlo G, Watt I Computed tomography in pulmonary emphysema Clin Radiol 1982;33:379-387.
15 Barr RG, Berkowitz EA, Bigazzi F, et al A combined pulmonary-radiology workshop for visual evaluation of COPD: study design, chest
CT findings and concordance with quantitative evaluation COPD 2012;9(2):151-159.
16 Van Tho N, Wada H, Ogawa E, Nakano Y Recent findings in chronic obstructive pulmonary disease
by using quantitative computed tomography Respir Investig 2012;50(3):78-87.
17 Gietema HA, Muller NL, Fauerbach PV, et al Quantifying the extent of emphysema: factors associated with radiologists’ estimations and quantitative indices of emphysema severity using the ECLIPSE cohort Acad Radiol 2011;18(6):661-671.
18 Madani A, Zanen J, de Maertelaer V, Gevenois PA Pulmonary emphysema: objective quantification
at multi-detector row CT comparison with macroscopic and microscopic morphometry Radiology 2006;238:1036-1043.
19 Grydeland TB, Dirksen A, Coxson HO, et al Quantitative computed tomography measures of emphysema and airway wall thickness are related
to respiratory symptoms Am J Respir Crit Care Med 2010;181(4):353-359.
20 Nakano Y, Muro S, Sakai H, et al Computed tomographic measurements of airway dimensions and emphysema in smokers Correlation with lung function Am J Respir Crit Care Med 2000;162:1102-1108.
Trang 721 Han MK, Tayob N, Murray S, et al Association
between Emphysema and Chronic Obstructive
Pulmonary Disease Outcomes in the COPDGene
and SPIROMICS Cohorts: A Post Hoc Analysis of
Two Clinical Trials Am J Respir Crit Care Med
2018;198(2):265-267.
22 Lee JS, Ra SW, Chae EJ, et al Validation of the
lower limit of normal diffusing capacity for detecting
emphysema Respiration 2011;81(4):287-293.
23 Dubé B, Guerder A, Morelot-Panzini C,
Laveneziana P The clinical relevance of the
emphysema hyperinflated-phenotype in COPD
COPD Research and Practice 2016;2:1.
24 Rossi A, Aisanov Z, Avdeev S, et al Mechanisms,
assessment and therapeutic implications of
lung hyperinflation in COPD Respir Med
2015;109(7):785-802.
25 Fujimoto K, Kitaguchi Y, Kubo K, Honda T Clinical
analysis of chronic obstructive pulmonary disease
phenotypes classified using high-resolution computed tomography Respirology 2006;11:731-740.
26 Tho NV, Lan LTT, Ogawa E, Nakano Y Eosinophilia
is less likely to occur in COPD smokers with emphysema phenotype Respirology 2017;22(3):Abstract AO006.
27 Pavord ID, Lettis S, Locantore N, et al Blood eosinophils and inhaled corticosteroid/long-acting beta-2 agonist efficacy in COPD Thorax 2016;71(2):118-125.
28 Criner GJ, Sue R, Wright S, et al A Multicenter RCT of Zephyr(R) Endobronchial Valve Treatment
in Heterogeneous Emphysema (LIBERATE) Am J Respir Crit Care Med 2018
29 Shah PL, Herth FJ, van Geffen WH, Deslee G, Slebos DJ Lung volume reduction for emphysema Lancet Respir Med 2017;5(2):147-156.