Với vai trò trung gian tài chính, ngân hàng thương mại tập trung mọi nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế và phân phối chúng cho các nhu cầu đầu tư, sản xuất kinh doanh và các n
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG -o0o -
SINH VIÊN THỰC HIỆN : TRẦN MẠNH ĐẠT
HÀ NỘI - 2014
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
Chuyên ngành : Tài chính – Ngân hàng
HÀ NỘI – 2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Khóa luận tốt nghiệp với đề tài: “Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả huy động
vốn tại Ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt – chi nhánh Hà Nội ” đã được
hoàn thành với sự giúp đỡ của rất nhiều cá nhân và tổ chức
Trước hết em xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành nhất tới Cô giáo – Th.s Nguyễn Thị Tuyết là người đã trực tiếp hướng dẫn em trong suốt quá trình nghiên cứu
đề tài khóa luận này Nhờ có sự chỉ bảo và hướng dẫn tận tình của Cô giáo – Th.s Nguyễn Thị Tuyết mà em đã tìm ra được những thiếu sót và sai lầm của mình trong việc định hướng đề tài cũng như trong quá trình viết khóa luận để có thể sửa chữa kịp thời nhằm hoàn thiện khóa luận một cách tốt nhất
Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trong bộ môn Kinh tế trường Đại học Thăng Long, cùng toàn thể các cán bộ lãnh đạo trường Đại học Thăng Long đã tạo điều kiện và hết sức giúp đỡ em hoàn thành đề tài khóa luận của mình
Ngoài ra em cũng muốn gửi lời cám ơn tới các cán bộ đang công tác tại Ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt – chi nhánh Hà Nội đã tận tình giúp đỡ em trong việc tìm tư liệu thực tế để có những dẫn chứng hết sức cụ thể, hoàn thành bài khóa luận một cách tốt nhất
Sinh viên
Trần Mạnh Đạt
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Khóa luận tốt nghiệp này là do tự bản thân thực hiện có sự hỗ trợ từ giáo viên hướng dẫn và không sao chép các công trình nghiên cứu của người khác Các dữ liệu thông tin thứ cấp sử dụng trong Khóa luận là có nguồn gốc và được trích dẫn rõ ràng
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này!
Sinh viên
Trần Mạnh Đạt
Trang 5MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG HUY
ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1
1.1 Tổng quan về ngân hàng thương mại 1
1.1.1 Khái niệm ngân hàng thương mại 1
1.1.2 Một số nghiệp vụ cơ bản của ngân hàng thương mại 1
1.2 Nguồn vốn và hoạt động huy động vốn trong kinh doanh của ngân hàng thương mại 4
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm nguồn vốn của ngân hàng thương mại 4
1.2.2 Vai trò của vốn huy động của ngân hàng thương mại 5
1.2.3 Các hình thức huy động vốn của ngân hàng thương mại 6
1.3 Hiệu quả hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại 10
1.3.1 Khái niệm hiệu quả huy động vốn của ngân hàng thương mại 10
1.3.2 Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả huy động vốn của ngân hàng thương mại 11
1.3.3 Các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại 16
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NAM VIỆT – CHI NHÁNH HÀ NỘI 21
2.1 Khái quát về ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt – chi nhánh Hà Nội 21
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của chi nhánh 21
2.1.2 Cơ cấu tổ chức và hoạt động của ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt – chi nhánh Hà Nội 21
2.2 Tình hình hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt – chi nhánh Hà Nội giai đoạn 2010 - 2012 23
2.2.1 Kết quả hoạt động huy động vốn 23
2.2.2 Kết quả hoạt động tín dụng(chủ yếu là cho vay) 27
2.2.3 Hoạt động cung ứng dịch vụ 30
2.2.4 Hoạt động kinh doanh khác 30
Trang 62.2.5 Đánh giá chung về hoạt động kinh doanh của ngân hàng giai đoạn 2010 -
2012 32
2.3 Thực trạng hiệu quả huy động vốn của ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt – chi nhánh Hà Nội giai đoạn 2010 - 2012 34
2.3.1.Khái quát về nguồn vốn 34
2.3.2 Hoạt động huy động vốn chủ sở hữu 37
2.4 Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả huy động vốn 51
2.4.1 Chi phí trả lãi thực tế và lãi suất bình quân đầu vào 51
2.4.2 Sự phù hợp giữa huy động vốn với sử dụng vốn 52
2.4.3 Hiệu quả sử dụng vốn 55
2.5 Đánh giá chung về hiệu quả huy động vốn của ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt - chi nhánh Hà Nội giai đoạn 2010 - 2012 56
2.5.1 Những kết quả đã đạt được 56
2.5.2 Những tồn tại và nguyên nhân 57
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NAM VIỆT – CHI NHÁNH HÀ NỘI 61
3.1 Định hướng phát triển hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt – chi nhánh Hà Nội giai đoạn 2013-2015 61
3.1.1 Định hướng phát triển chung 61
3.1.2 Định hướng phát triển hoạt động huy động vốn 62
3.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn của ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt – chi nhánh Hà Nội 63
3.2.1 Xây dựng chiến lược kinh doanh phù hợp cho từng thời kỳ 64
3.2.2 Cải tiến nghiệp vụ, đa dạng hoá các hình thức huy động 64
3.2.3 Đa dạng hoá và nâng cao các loại hình dịch vụ ngân hàng 64
3.2.4 Sử dụng lãi suất linh hoạt trong từng thời kỳ, đáp ứng sự biến động của thị trường, đảm bảo hiệu quả kinh doanh của ngân hàng 65
3.2.5 Gắn liền việc huy động vốn với sử dụng vốn 66
3.2.6 Tăng cường công tác Marketing trong tất cả các mảng hoạt động của ngân hàng 67
3.2.7 Nâng cao vị thế và uy tín của ngân hàng 68 3.2.8 Xây dựng trụ sở và trang bị hệ thống máy móc thiết bị để tạo ra hình ảnh
Trang 73.3 Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả huy động vốn tại ngân hàng
thương mại cổ phần Nam Việt – chi nhánh Hà Nội 69
3.3.1 Kiến nghị đối với Chính phủ 69
3.3.2 Kiến nghị đối với Ngân hàng nhà nước 70
3.3.3 Kiến nghị đối với Ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt 71
KẾT LUẬN 73
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 8DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Trang
Sơ đồ 2.1 : Cơ cấu tổ chức của ngân hàng TMCP Nam Việt – chi nhánh Hà Nội 22
Bảng 2.1 Tình hình huy động vốn của ngân hàng TMCP Nam Việt – chi nhánh Hà Nội giai đoạn 2010-2012 24
Bảng 2.2 Kết quả hoạt động tín dụng của Ngân hàng TMCP Nam Việt - chi nhánh Hà Nội giai đoạn 2010-2012 28
Bảng 2.3 Hoạt động kinh doanh ngoại tệ Navibank Hà nội 31
Bảng 2.4 Kết quả hoạt động kinh doanh giai đoạn 2010- 2012 33
Bảng 2.5 Cơ cấu nguồn vốn của ngân hàng TMCP Nam việt-chi nhánh Hà nội giai đoạn 2010-2012 35
Bảng 2.6 Kết quả huy động từ tiền gửi theo đối tượng khách hàng 38
Bảng 2.7 Kết quả huy động tiền gửi theo kỳ hạn 40
Biểu đồ 2.1 Tỷ trọng Vốn không kỳ hạn/ Vốn có kỳ hạn 41
Bảng 2.8 Kết quả huy động tiền gửi theo loại tiền 43
Biểu đồ 2.2: Tỷ trọng Vốn nội tệ/ ngoại tệ 43
Bảng 2.9 Kết quả huy động từ phát hành giấy tờ có giá 45
Bảng 2.10 Kết quả huy động từ vay TCTD khác 47
Bảng 2.11 Kết quả huy động từ vay NHNN 49
Bảng 2.12 Kết quả huy động từ vay khác 50
Bảng 2.13 Chi phí trả lãi thực tế và lãi suất bình quân đầu vào 51
Bảng 2.14 Hệ số sử dụng vốn ngắn hạn 53
Bảng 2.15 Hệ số sử dụng vốn trung và dài hạn 54
Bảng 2.16 Hiệu quả sử dụng vốn 55
Trang 9DANH MỤC VIẾT TẮT
Ký hiệu viết tắt Tên đầy đủ
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Vốn cho đầu tư phát triển có thể được tạo thành từ nhiều nguồn, tuy nhiên trong điều kiện thị trường tài chính nước ta đang trong giai đoạn bước đầu hình thành và phát triển thì huy động vốn qua kênh ngân hàng vẫn là phổ biến và hiệu quả nhất Ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp đặc biệt chuyên kinh doanh tiền tệ, hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại vừa với danh nghĩa là một tổ chức hạch toán kinh tế - kinh doanh, vừa với vai trò trung gian tài chính Với vai trò trung gian tài chính, ngân hàng thương mại tập trung mọi nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế và phân phối chúng cho các nhu cầu đầu tư, sản xuất kinh doanh và các nhu cầu khác của các doanh nghiệp và cá nhân, tổ chức trong nền kinh tế theo các nguyên tắc tín dụng
Nhu cầu vốn đầu tư ngày càng tăng của nền kinh tế cũng tương đương với việc huy động vốn của các ngân hàng thương mại phải được tăng cường, mở rộng cho phù hợp Mặt khác việc tăng cường huy động và sử dụng vốn hợp lý cũng giúp cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng được an toàn, hiệu quả hơn
Nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động huy động vốn đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng, trong thời gian vừa qua tại Ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt – chi nhánh Hà Nội, hoạt động huy động vốn đã ngày càng được nâng cao,
để có thể đáp ứng cho hoạt động sử dụng vốn của ngân hàng Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được thì hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt –chi nhánh Hà Nội vẫn còn bộc lộ những hạn chế, nhất là trong điều kiện thị trường tài chính tiền tệ trong và ngoài nước diễn biến phức tạp: lạm phát cao, giá xăng dầu tăng, ngân hàng nhà nước áp dụng chính sách tiền tệ thắt chặt, cùng với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa các ngân hàng Để có thể giữ vững và tiếp tục phát triển hơn nữa, Ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt – chi nhánh Hà Nội phải có những điều chỉnh thích hợp trong hoạt động huy động vốn của mình Xuất phát
từ lý do trên, đề tài “Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng
thương mại cổ phần Nam Việt – chi nhánh Hà Nội ” đã được em chọn làm đề tài
khóa luận tốt nghiệp của mình
2 Mục đích nghiên cứu
- Hệ thống các vấn đề lý luận về hiệu quả huy động vốn của NHTM
- Trên cơ sở đó phân tích đánh giá thực trạng huy động vốn tại ngân hàng TMCP Nam Việt – chi nhánh Hà Nội, đưa ra những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân cơ bản ảnh hưởng đến hiệu quả huy động vốn của ngân hàng
Trang 11- Từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả huy động vốn tại ngân hàng TMCP Nam Việt – chi nhánh Hà Nội
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu : Hiệu quả huy động vốn của ngân hàng thương mại
- Phạm vi nghiên cứu : Hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt – chi nhánh Hà Nội trong giai đoạn 2010 – 2012
4 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong khóa luận là:
- Sử dụng phương pháp thống kê, phân tích các số liệu có kết hợp các công thức, bảng biểu để tính toán, so sánh, phân tích và rút ra kết luận
- Sử dụng phương pháp thu thập thông tin, điều tra thực tế để cho vào nội dung của khóa luận
5 Kết cấu của khóa luận
Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của khóa luận được chia làm 3 chương như sau:
Chương 1 : Những vấn đề cơ bản về hiệu quả hoạt động huy động vốn của Ngân
hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng hiệu quả huy động vốn của Ngân hàng thương mại cổ phần
Nam Việt – chi nhánh Hà Nội
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn của Ngân hàng
thương mại cổ phần Nam Việt – chi nhánh Hà Nội
Do thời gian nghiên cứu cũng như kiến thức thực tế không nhiều, bài khoá luận của em còn nhiều điểm chưa được đề cập đến và còn có những thiếu sót nhất định Rất mong nhận được sự góp ý của các thầy, cô giáo cùng các bạn để khoá luận được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 12CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG
HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Tổng quan về ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái niệm ngân hàng thương mại
Ở mỗi quốc gia khác nhau, hình thành một khái niệm khác nhau về NHTM Ở
Việt Nam, Luật các TCTD được sửa đổi, bổ sung năm 2010 xác định : “Ngân hàng
thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và
các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật các TCTD nhằm mục tiêu lợi
nhuận”
Luật các TCTD được bổ sung sửa đổi năm 2010, điều 4 giải thích: “ TCTD là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân.” và “ Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để
cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán”
1.1.2 Một số nghiệp vụ cơ bản của ngân hàng thương mại
Chương III của Luật tổ chức tín dụng nêu ra các hoạt động của tổ chức tín dụng, trong đó chủ yếu là ngân hàng thương mại, bao gồm:
Hoạt động huy động vốn
Hoạt động tín dụng
Hoạt động dịch vụ thanh toán
Hoạt động ngân quỹ
Các hoạt động khác như góp vốn, mua cổ phần, tham gia thị trường tiền tệ, kinh doanh ngoại hối, kinh doanh vàng, kinh doanh bất động sản, kinh doanh dịch vụ
và bảo hiểm, nghiệp vụ ủy thác và đại lý, dịch vụ tư vấn và các dịch vụ khác liên quan đến hoạt động của ngân hàng
1.1.2.1 Hoạt động huy động vốn
NHTM được huy động vốn dưới các hình thức sau:
Nhận tiền gửi của tổ chức, cá nhân và các tổ chức tín dụng khác dưới các hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các loại tiền gửi khác
Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và giấy tờ có giá khác để huy động vốn của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước
Vay vốn của các tổ chức tín dụng khác hoạt động tại Việt Nam và của các tổ chức tín dụng nước ngoài
Vay vốn ngắn hạn của NHNN
Trang 13cả gốc và lãi
Đặc trưng của hoạt động cấp tín dụng: Tài sản giao dịch trong tín dụng ngân hàng
có thể dưới dạng tiền tệ, tài sản thực hoặc chữ ký Rủi ro trong tín dụng ngân hàng có tính tất yếu không thể loại trừ hoàn toàn Sự hoàn trả đầy đủ gốc và lãi là bản chất của tín dụng Sự hoàn trả là vô điều kiện
NHTM được cấp tín dụng cho các tổ chức, cá nhân dưới hình thức sau: cho vay, bảo lãnh, chiết khấu, cho thuê tài chính
Cho vay: Ngân hàng thương mại được cho các tổ chức, cá nhân vay vốn dưới các
Bảo lãnh: Ngân hàng thương mại được bảo lãnh vay, bảo lãnh thanh toán, bảo
lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh đấu thầu và các hình thức bảo lãnh ngân hàng khác bằng uy tín và bằng khả năng tài chính của mình đối với người nhận bảo lãnh Mức bảo lãnh đối với một khách hàng và tổng mức bảo lãnh của một ngân hàng thương mại không được vượt quá tỉ lệ so với vốn tự có của ngân hàng thương mại
Chiết khấu: Ngân hàng thương mại được chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ
có giá ngắn hạn khác đối với tổ chức, cá nhân và có thể tái chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác đối với các tổ chức tín dụng khác
Cho thuê tài chính: Ngân hàng thương mại được hoạt động cho thuê tài chính
nhưng phải thành lập công ty cho thuê tài chính riêng Việc thành lập, tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính thực hiện theo nghị định của chính phủ về tổ chức
và hoạt động của công ty cho thuê tài chính
1.1.2.3 Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ
Để thực hiện được các dịch vụ thanh toán giữa các doanh nghiệp thông qua ngân hàng, ngân hàng thương mại được mở tài khoản cho khách hàng trong và ngoài nước
Để thực hiện thanh toán giữa các ngân hàng với nhau thông qua Ngân hàng Nhà nước, ngân hàng thương mại phải mở tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước nơi ngân
Trang 14hàng thương mại đặt trụ sở chính và duy trì tại đó số dư tiền gửi dự trữ bắt buộc theo quy định Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ của ngân hàng thương mại bao gồm các hoạt động sau:
Cung cấp các phương tiện thanh toán
Thực hiện các dịch vụ thanh toán trong và ngoài nước cho khách hàng
Thực hiện dịch vụ thu hộ và chi hộ
Thực hiện các dịch vụ thanh toán khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước
Thực hiện dịch vụ thanh toán quốc tế khi được NHNN cho phép
Thực hiện dịch vụ thu và phát tiền mặt cho khách hàng
Tổ chức thanh toán nội bộ và tham gia hệ thống thanh toán liên ngân hàng
Tham gia hệ thống thanh toán quốc tế khi được NHNN cho phép
1.1.2.4 Các hoạt động khác
Ngoài các hoạt động chính bao gồm huy động tiền gửi, cấp tín dụng và cung cấp dịch vụ thanh toán và ngân quỹ, ngân hàng thương mại còn có thể thực hiện một số hoạt động khác bao gồm :
Góp vốn, mua cổ phần
Là việc tổ chức tín dụng góp vốn cấu thành vốn điều lệ, mua cổ phần của các doanh nghiệp, tổ chức tín dụng khác, bao gồm cả việc cấp vốn, góp vốn vào công ty con, công ty liên kết của tổ chức tín dụng
Tham gia thị trường tiền tệ
NHTM được tham gia thị trường tiền tệ theo quy định của NHNN thông qua hình thức mua bán các công cụ của thị trường tiền tệ
Kinh doanh ngoại hối
NHTM được phép thành lập công ty trực thuộc để kinh doanh ngoại hối và vàng trên thị trường trong nước và quốc tế
Ủy thác và nhận ủy thác
NHTM được ủy thác, ủy thác làm đại lý trong các lĩnh vực liên quan đến hoạt động ngân hàng, kể cả việc quản lý tài sản, vốn đầu tư của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo hợp đồng ủy thác, đại lý
Ngoài ra ngân hàng thương mại phải thành lập hoặc mua lại công ty con, công ty liên kết để thực hiện hoạt động kinh doanh sau đây: Bảo lãnh phát hành chứng khoán, môi giới chứng khoán; quản lý, phân phối chứng chỉ quỹ đầu tư chứng khoán; quản lý
danh mục đầu tư chứng khoán và mua, bán cổ phiếu; cho thuê tài chính; bảo hiểm
Trang 154
1.2 Nguồn vốn và hoạt động huy động vốn trong kinh doanh của ngân hàng thương mại
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm nguồn vốn của ngân hàng thương mại
Vốn của ngân hàng thương mại là những giá trị tiền tệ do ngân hàng thương mại tạo lập hoặc huy động được dùng để cho vay, đầu tư hoặc thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác Nó chi phối toàn bộ hoạt động của ngân hàng thương mại, quyết định sự tồn tại và phát triển của ngân hàng, bao gồm vốn chủ sở hữu và vốn nợ
1.2.1.1 Nguồn vốn chủ sỡ hữu (Vốn tự có)
Vốn chủ sở hữu của ngân hàng thương mại là vốn tự có do ngân hàng tạo lập được thuộc sở hữu riêng của ngân hàng, thông qua góp vốn của các chủ sở hữu hoặc hình thành từ kết quả kinh doanh Ở những nước khác nhau, định nghĩa về vốn tự có
có thể khác nhau nhưng nét chung nhất vốn tự có bao gồm các thành phần sau:
1 - Vốn góp của chủ sở hữu để thành lập hoặc mở rộng ngân hàng
2 - Các quỹ dự trữ được hình thành trong quá trình hoạt động kinh doanh của ngân hàng theo cơ chế tài chính hoặc quyết định của chủ sở hữu vốn như: Quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng tài chính
3 - Lợi nhuận tạo ra từ hoạt động kinh doanh chưa sử dụng
4 - Các khoản nợ được coi như vốn
Vốn này chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn của ngân hàng, song lại là điều kiện pháp lý bắt buộc khi thành lập một ngân hàng Do tính chất ổn định, nó thực hiện chức năng thành lập, chức năng bảo vệ và điều chỉnh đối với hoạt động ngân hàng Trong tổng nguồn vốn của ngân hàng, thì vốn tự có của ngân hàng chiếm dưới 10%, như vậy vốn ký thác của ngân hàng khoảng trên 90% Các ngân hàng trung ương quy định mức vốn tự có của ngân hàng lớn hơn hoặc bằng 8% trên tổng tài sản
có rủi ro quy đổi, điều này muốn nói lên rằng chức năng chủ yếu của khối lượng giới hạn vốn chủ sở hữu đã được xem như là tài sản bảo vệ cho những người gửi tiền Chức năng bảo vệ không chỉ được xem như sự bảo đảm thanh toán cho người gửi tiền khi ngân hàng vỡ nợ, mà còn góp phần duy trì khả năng trả nợ, bằng cách cung cấp một khoản tài sản có dự trữ để ngân hàng khỏi bị đe doạ bởi sự thua lỗ, để có thể tiếp tục hoạt động
Ngoài việc cung cấp nền tảng cho các hoạt động và để bảo vệ người gửi tiền Chức năng điều chỉnh cũng đã được xác định cho vốn chủ sở hữu của ngân hàng thương mại Dựa trên mức vốn tự có của ngân hàng, các cơ quan quản lý xác định, điều chỉnh hoạt động cho ngân hàng ví dụ như các ngân hàng chỉ có thể cho một khách
Trang 16hàng lớn nhất vay không quá 15% vốn tự có của ngân hàng Nếu như ngân hàng cho vay quá số đó sẽ ảnh hưởng đến hoạt động an toàn của ngân hàng
1.2.1.2 Nguồn vốn nợ (Vốn huy động)
Đây là nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong ngân hàng Nó là những giá trị tiền tệ mà ngân hàng huy động được từ các tổ chức kinh tế và các cá nhân trong xã hội thông qua quá trình thực hiện các nghiệp vụ ký thác, các nghiệp vụ khác và được dùng làm vốn để kinh doanh
Bản chất của vốn huy động là tài sản thuộc các chủ sở hữu khác nhau, ngân hàng chỉ có quyền sử dụng mà không có quyền sở hữu và có trách nhiệm hoàn trả đúng hạn
cả gốc lẫn lãi khi đến kỳ hạn (nếu là tiền gửi có kỳ hạn), hoặc khi khách hàng có nhu cầu rút vốn (nếu là tiền gửi không kỳ hạn) Vốn huy động đóng vai trò quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng Ngân hàng thương mại huy động vốn dưới các hình thức: Nhận tiền gửi (tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm); phát hành các công cụ nợ (tín phiếu, trái phiếu); và nguồn vốn đi vay Ngoài ra vốn của ngân hàng còn được hình thành thông qua việc làm uỷ thác, đại lý cho các tổ chức trong và ngoài nước hoặc cung cấp các phương tiện thanh toán như thẻ rút tiền tự động từ máy ATM
Nhìn chung nguồn vốn của ngân hàng được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau nhưng trong đó nguồn vốn huy động từ tiền gửi chiếm tỷ trọng lớn nhất, chiếm khoảng
từ 70% - 80% và nó có tính biến động Nhất là đối với loại tiền gửi không kỳ hạn và vốn ngắn hạn, hơn nữa vốn huy động chịu tác động lớn của thị trường và môi trường kinh doanh trên địa bàn hoạt động Vì vậy ngân hàng thương mại cần phải đi sâu tìm hiểu, phân tích nguồn hình thành vốn này, dự đoán trước tình hình cung cầu vốn để có đối sách phù hợp
1.2.2 Vai trò của vốn huy động của ngân hàng thương mại
Như mọi đơn vị kinh doanh khác, muốn hoạt động kinh doanh được tiến hành cần phải có tư liệu sản xuất Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh doanh tiền tệ nên phải có tiền mới có thể hoạt động kinh doanh được Hoạt động tìm kiếm tư liệu sản xuất của ngân hàng thương mại là hoạt động huy động vốn Như vậy, huy động vốn đóng vai trò rất quan trọng trong hoạt động của các ngân hàng thương mại
-Vốn là cơ sở để ngân hàng tổ chức mọi hoạt động kinh doanh
Đối với ngân hàng, vốn là cơ sở để NHTM tổ chức mọi hoạt động kinh doanh Với đặc trưng của hoạt động ngân hàng, vốn không chỉ là phương tiện kinh doanh chính mà còn là đối tượng kinh doanh chủ yếu của NHTM Ngân hành là tổ chức kinh doanh loại hàng hoá đặc biệt trên thị trường đó là tiền tệ Chính vì thế có thể nói: Vốn
Trang 176
là điểm đầu tiên trong chu kỳ kinh doanh của ngân hàng Do đó, ngân hàng phải thường xuyên chăm lo tới việc tăng trưởng vốn trong suốt quá trình hoạt động
-Vốn quyết định quy mô tín dụng và các hoạt động khác
Tuỳ theo quy mô và cơ cấu nguồn vốn huy động được mà các ngân hàng sẽ quyết định quy mô và cơ cấu đầu tư Với nguồn vốn huy động lớn, ngân hàng có đủ khả năng mở rộng phạm vi và khối lượng cho vay không chỉ giới hạn trên thị trường trong nước mà còn cho vay vượt ra khỏi lãnh thổ một quốc gia (cho vay trên thị trường quốc tế) Ngược lại, do khả năng vốn hạn hẹp nên các ngân hàng nhỏ không có những phản ứng nhanh nhạy trước sự biến động của lãi suất, ảnh hưởng đến khả năng thu hút vốn đầu tư Nói chung, một ngân hàng có nguồn vốn dồi dào sẽ đáp ứng được nhu cầu xin vay, dễ dàng mở rộng thị trường tín dụng, tăng khả năng thanh toán và các dịch vụ khác của ngân hàng
-Vốn quyết định năng lực thanh toán và đảm bảo uy tín của ngân hàng trên thị trường tài chính
Trong nền kinh tế thị trường, để tồn tại và mở rộng quy mô hoạt động đòi hỏi ngân hàng phải có uy tín lớn trên thị trường Uy tín đó phải được thể hiện trước hết ở khả năng sẵn sàng thanh toán khi khách hàng có yêu cầu Khả năng thanh toán của ngân hàng càng cao thì vốn khả dụng của ngân hàng càng lớn Để đảm bảo được các điều kiện trên, ngân hàng phải có một nguồn vốn thoả mãn đồng thời cả hai yêu cầu: chất lượng và khối lượng Vì vậy, để nguồn vốn huy động sử dụng có hiệu quả thì trong kinh doanh ngân hàng cần phải mở rộng quy mô tín dụng đồng thời nâng cao chất lượng tín dụng
-Vốn quyết định đến năng lực cạnh tranh của ngân hàng
Nguồn vốn lớn là điều kiện thuận lợi cho ngân hàng mở rộng quan hệ tín dụng với các thành phần kinh tế cả về quy mô, khối lượng, thời gian và thời hạn cho vay Đặc biệt ngày nay, sự xuất hiện hàng loạt các tổ chức tín dụng đã làm cho tình hình cạnh tranh giữa các ngân hàng trở nên gay gắt Với một nguồn vốn dồi dào, ngân hàng
sẽ chủ động đưa ra các mức lãi suất cho vay một cách hợp lý nhằm thu hút được khách hàng Với năng lực tài chính vững mạnh, ngân hàng sẽ chủ động huy động vốn với lãi suất thấp nhất nhưng cho vay với lãi suất cao nhất có thể nhằm tối đa hoá được lợi nhuận nhưng vẫn đảm bảo thu hút được khách hàng về ngân hàng mình
1.2.3 Các hình thức huy động vốn của ngân hàng thương mại
1.2.3.1 Đối với Vốn chủ sở hữu
Vốn chủ sở hữu là điều kiện pháp lý bắt buộc khi thành lập một ngân hàng Do tính chất ổn định, nó thực hiện chức năng thành lập, chức năng bảo vệ và điều chỉnh đối với hoạt động ngân hàng Vốn chủ sở hữu của ngân hàng bao gồm:
Trang 18a Vốn ban đầu
Vốn ban đầu hình thành khi ngân hàng bắt đầu hoạt động với tính chất sở hữu và nguồn hình thành khác nhau Nếu là ngân hàng tư nhân thì đó là vốn do cá nhân tự bỏ ra; nếu là ngân hàng thuộc sở hữu Nhà nước thì do ngân sách Nhà nước cấp; nếu là ngân hàng cổ phần thì do cổ đông thông qua mua các cổ phần(hoặc cổ phiếu); nếu là ngân hàng liên doanh thì do các bên tham gia liên
Vốn thường không phải hoàn trả Các cổ đông có thể bán cổ phiếu trên thị trường vốn (thị trường chứng khoán) Các cổ phần thường được hưởng cổ tức cao hay thấp tuỳ thuộc vào kết quả kinh doanh và chính sách phân chia lợi nhuận của ngân hàng
b Vốn chủ sở hữu hình thành trong quá trình hoạt động
Bao gồm cổ phần phát hành thêm (hoặc ngân sách cấp thêm) trong quá trình hoạt
động, lợi nhuận tích luỹ, thặng dư vốn, các quỹ
c Cổ phần phát hành thêm, ngân sách cấp thêm
Ngân hàng có thể phát hành thêm cổ phần (thường là cổ phần ưu đãi) hoặc
xin cấp thêm vốn từ ngân sách để mở rộng quy mô hoạt động, hoặc để chống đỡ rủi ro trong trường hợp cần phải duy trì thị giá của cổ phiếu
d Vốn cổ phần từ cán bộ công nhân viên ngân hàng mình
Hình thức huy động này huy động vốn từ chính những cán bộ công nhân
viên trong ngân hàng mình, làm cho họ trở thành những cổ đông của ngân hàng
và gắn chặt quyền lợi với quyền lợi chung của ngân hàng Đây là hình thức mang tính lâu dài và ổn định cần được chú trọng
e Huy động từ lợi nhuận chưa phân phối, các quỹ dự phòng tài chính, quỹ trợ cấp, quỹ khen thưởng là các loại quỹ khác
Nếu như lợi nhuận để lại của ngân hàng đủ để đáp ứng nhu cầu gia tăng vốn của mình thì thông thường đây chính là nguồn bổ sung quan trọng nhất Nguồn bổ sung này có thể lấy trực tiếp từ các quỹ như: Quỹ dự phòng tài chính, quỹ trợ
Trang 198
cấp.v.v Mặc dù vậy khó nhất là phải xác định được khi nào thì được phép trích lập
từ các quỹ trên để làm nguồn vốn bổ sung, tỉ lệ trích lập ra sao cho hợp lý
g Vốn bổ sung bằng phát hành giấy nợ có khả năng chuyển đổi thành cổ phiếu
Một số ngân hàng coi cổ phần ưu đãi có thời hạn, các trái phiếu dài hạn cũng thuộc vốn chủ sở hữu mặc dù chúng mang nhiều tính chất của một khoản nợ Tuy nhiên, phần này thường bị giới hạn và kiểm soát chặt chẽ
1.2.3.2 Đối với vốn nợ (Vốn huy động)
a Huy động từ tài khoản tiền gửi
Nguồn vốn huy động từ tài khoản tiền gửi là nguồn vốn quan trọng nhất của ngân hàng Nguồn vốn này luôn chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu nguồn vốn của ngân hàng
và nó có tính biến động cao Nguồn vốn huy động từ tài khoản tiền gửi bao gồm:
* Tài khoản tiền gửi không kỳ hạn :
Tiền gửi không kỳ hạn là những giá trị tiền tệ mà khách hàng gửi vào ngân hàng nhưng có thể rút ra bất cứ lúc nào và ngân hàng phải đáp ứng đầy đủ yêu cầu này của người gửi tiền Đây là tiền của cá nhân, doanh nghiệp gửi vào ngân hàng với mục đích chính là để hưởng dịch vụ thanh toán của ngân hàng Trong phạm vi số dư cho phép các nhu cầu chi trả của doanh nghiệp, cá nhân đều được ngân hàng thực hiện và các khoản thu bằng tiền của doanh nghiệp và cá nhân đều được ngân hàng thực hiện nhập vào tài khoản thanh toán theo yêu cầu Tiền gửi không kỳ hạn là loại tiền gửi khách hàng có thể rút ra bất cứ lúc nào Do vậy nó là nguồn vốn biến động nhiều nhất mà ngân hàng khó có thể dự đoán về quy mô tiền gửi không kỳ hạn ngân hàng có thể huy động được, đồng thời kỳ hạn tiềm năng của loại loại tiền này cũng là ngắn nhất
* Tài khoản tiền gửi có kỳ hạn:
Tiền gửi có kỳ hạn là những giá trị tiền tệ mà các tổ chức doanh nghiệp gửi vào ngân hàng nhưng có thoả thuận thời gian rút tiền và khách hàng không được phép rút tiền trước thời hạn Mục đích chính của người gửi tiền là sinh lời và ngân hàng có thể chủ động trong việc sử dụng nguồn vốn này vì tính thời hạn của nguồn vốn Mức lãi suất cụ thể phụ thuộc vào thời hạn gửi tiền và sự thoả thuận giữa ngân hàng và khách hàng trên cơ sở xem xét mức độ an toàn của ngân hàng cũng như quan hệ cung cầu về vốn tại thời điểm đó Tuy nhiên, để tạo tính lỏng cho các loại tiền gửi có kỳ hạn mà từ
đó mà hấp dẫn khách hàng, ngân hàng có thể cho phép khách hàng rút tiền trước kỳ hạn, tuỳ theo chính sách của mỗi ngân hàng mà có hình thức trả lãi phù hợp
Trang 20* Tiền gửi tiết kiệm:
Tiền gửi tiết kiệm là loại tiền gửi của các tầng lớp dân cư trong xã hội với mục đích tích luỹ và hưởng lãi
Là sản phẩm huy động truyền thống với các hình thức phong phú và kỳ hạn đa dạng nên tiền gửi tiết kiệm rất phù hợp với dân cư, đáp ứng được nhu cầu người gửi, khả năng huy động của ngân hàng từ nguồn vốn này là rất tiềm năng Tuy nhiên ngân hàng cần chú ý đến chính sách lãi suất huy động, nghiên cứu để đưa ra các hình thức huy động hấp dẫn, phù hợp với tính đa dạng phong phú và phức tạp của đối tượng dân
cư Đặc biệt cần có cơ chế trả lãi hợp lý đối với các loại tiết kiệm, cơ chế đảm bảo bằng giá trị vàng, hay ngoại tệ mạnh cho các loại tiết kiệm nội tệ, nhằm đảm bảo quyền lợi cho người gửi, tạo niềm tin để khuyến khích dân cư gửi vào ngân hàng ngày càng lớn
b Huy động vốn thông qua phát hành giấy tờ có giá
Các giấy tờ có giá là các công cụ nợ do ngân hàng phát hành để huy động vốn trên thị trường Nguồn vốn này tương đối ổn định để sử dụng cho một mục đích nào
đó Lãi suất của loại này phụ thuộc vào sự cấp thiết của việc huy động vốn nên thường cao hơn lãi suất tiền gửi có kỳ hạn thông thường Nguồn vốn huy động từ phát hành giấy tờ có giá bao gồm:
* Chứng chỉ tiền gửi (CDs):
CDs là công cụ vay nợ do NHTM bán cho người gửi tiền với lãi suất nhất định và được lưu thông khi chưa đến hạn thanh toán Người sở hữu CDs có thể được hoàn trả hết toàn bộ số tiền gửi cộng với lãi hoặc có thể bán CDs trên thị trường thứ cấp CDs là công cụ mang lãi suất, lãi suất của nó được tính toán trên cơ sở 360 ngày và được trả theo mệnh giá và thời hạn
Lãi suất của CDs được tính dựa trên lãi suất của thị trường tiền tệ, tình trạng tài chính của ngân hàng phát hành ra nó và thời hạn thanh toán CDs Mức lãi suất của CDs do ngân hàng có chất lượng cao phát hành thường cao hơn lãi suất của tín phiếu kho bạc, sự chênh lệch này phản ánh mức độ chênh lệch và rủi ro của từng ngân hàng
Sự phát triển của CDs cùng với sự nhạy cảm của lãi suất giúp các NHTM chủ động trong việc huy động vốn và thích ứng với môi trường cạnh tranh mới
* Trái phiếu :
Trái phiếu là một chứng thư xác nhận một khoản nợ của tổ chức phát hành đối với người hữu, trong đó cam kết sẽ hoàn trả nợ kèm lãi trong một thời hạn nhất định Thông qua phát hành trái phiếu, ngân hàng có thể thu hút được nguồn vốn trung và dài hạn để cho vay mở rộng sản xuất kinh doanh và đầu tư Việc phát hành trái phiếu sẽ
Trang 21c Huy động vốn qua các khoản đi vay từ NHTW và các TCTD khác
Vốn đi vay là quan hệ vay mượn giữa NHTM với NHTW, hoặc giũa các NHTM với nhau trên thị trường liên ngân hàng, hay với các tổ chức tài chính khác Nguồn vốn huy động qua các khoản đi vay bao gồm vay từ NHTW và vay từ các TCTD khác
* Vay NHTW:
Đây là khoản vay nhằm giải quyết nhu cầu cấp bách trong chi trả của NHTM Trong trường hợp thiếu hụt dự trữ ( thiếu hụt dự trữ bắt buộc, dự trữ thanh toán ) NHTM thường vay NHNN Hình thức cho vay của NHNN chủ yếu là tái chiết khấu các thương phiếu hoặc tái cấp vốn Trong điều kiện của Việt Nam chưa có thương phiếu NHNN cho NHTM vay dưới hình thức tái cấp vốn theo hạn mức tín dụng nhất định
* Vay các TCTD khác:
Đây là nguồn các NHTM vay mượn lẫn nhau và vay của các TCTD khác trên thị trường liên ngân hàng Các ngân hàng đang có dự trữ vượt yêu cầu do có kết dư gia tăng bất ngờ về các khoản huy động hoặc giảm cho vay sẽ có thể sẵn lòng cho các ngân hàng khác vay để tìm lãi suất cao hơn Ngược lại các ngân hàng đang thiếu hụt
dự trữ có nhu cầu vay mượn tức thời để đảm bảo thanh khoản Như vậy nguồn vốn vay mượn từ các ngân hàng khác là để đáp ứng nhu cầu dự trữ và chi trả cấp bách và trong nhiều trường hợp nó có thể bổ sung hoặc thay thế cho nguồn vay mượn từ NHNN Khoản vay có thể không cần đảm bảo hoặc được đảm bảo bằng các chứng khoán của
kho bạc nhà nước
1.3 Hiệu quả hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại
1.3.1 Khái niệm hiệu quả huy động vốn của ngân hàng thương mại
Hiệu quả là sự so sánh giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra Nếu hiệu quả cao thì khoảng cách giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra sẽ càng lớn, ngược lại hiệu quả
thấp thì khoảng cách này càng nhỏ
Trang 22Hiệu quả huy động vốn của NHTM chính là kết quả huy động mà ngân hàng đạt được, phù hợp với nhu cầu sử dụng vốn, đảm bảo được mục tiêu an toàn và sinh lợi cao cho ngân hàng trong từng thời kỳ
Hiệu quả của huy động vốn ảnh hưởng rất lớn đến các hoạt động của ngân hàng Ngân hàng phải đảm bảo ở mọi thời điểm toàn bộ tài sản có phải lớn hơn các khoản nợ phải thanh toán để có thể duy trì được khả năng thanh toán của mình Đồng thời ngân hàng phải đảm bảo trong số tài sản ấy phải có những tài sản mang tính thanh khoản cao, trang trải hết số thiếu trong thanh toán bù trừ, đáp ứng đủ nhu cầu rút tiền mặt… trong khi vẫn đảm bảo được tỉ lệ dự trữ theo quy định Chính vì thế hiệu quả hoạt động huy động vốn cần được đánh giá thường xuyên để từ đó ngân hàng có những biện pháp, chiến lược kịp thời trong từng giai đoạn giúp ngân hàng kinh doanh một cách có hiệu quả nhất
1.3.2 Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả huy động vốn của ngân hàng thương mại
Hoạt động huy động vốn của ngân hàng được đánh giá là hiệu quả khi :
Tốc độ tăng trưởng vốn huy động của năm sau cao hơn năm trước cả về số lượng lẫn chất lượng
Quy mô, cơ cấu nguồn vốn huy động đủ lớn để tài trợ cho các danh mục tài sản
và không ngừng tăng trưởng ổn định
Nguồn vốn huy động có chi phí thấp
Huy động vốn phải phù hợp với sử dụng vốn
1.3.2.1 Quy mô và tốc độ tăng trưởng của vốn huy động
Quy mô là chỉ tiêu phản ánh chất lượng hoạt động của ngân hàng Qui mô nguồn huy động gia tăng đáp ứng cho hoạt động tài trợ không ngừng tăng trưởng sẽ tạo điều kiện để ngân hàng mở rộng hoạt động, nâng cao tính thanh khoản và tính ổn định của nguồn vốn Trong điều kiện cụ thể, các nguồn có thể có tốc độ và quy mô thay đổi khác nhau Các ngân hàng lớn có quy mô nguồn lớn thì tốc độ tăng trưởng nguồn có thể không cao như các ngân hàng nhỏ Để đánh giá quy mô và tốc độ tăng trưởng của nguồn vốn ta sử dụng một số chỉ tiêu sau:
Đây là chỉ tiêu phản ánh sự tăng trưởng của tổng nguồn vốn qua các năm Nếu hệ
số này lớn hơn 0 chứng tỏ tổng nguồn vốn của năm nay lớn hơn tổng nguồn vốn của năm trước Còn nếu hệ số này nhỏ hơn 0 chứng tỏ tổng nguồn vốn của năm nay nhỏ
Trang 2312
hơn tổng nguồn vốn của năm trước Ngân hàng cần xem xét lại cách thức huy động vốn để khắc phục tình trạng trên Còn nếu hệ số này bằng 0 thì tổng nguồn vốn năm nay và năm trước không thay đổi, ngân hàng cần tăng cường các biện pháp để huy động vốn được tốt hơn
Tốc độ tăng trưởng có thể tính cho cả tổng nguồn vốn hoặc cũng có thể tính riêng cho từng loại vốn cụ thể :
Chỉ tiêu này phản ánh sự tăng trưởng của nguồn vốn CSH qua các năm Nếu hệ
số này lớn hơn 0 chứng tỏ nguồn vốn CSH của năm nay lớn hơn nguồn vốn CSH của năm trước Còn nếu hệ số này nhỏ hơn 0 chứng tỏ nguồn vốn CSH của năm nay nhỏ hơn nguồn vốn CSH của năm trước Còn hệ số này bằng 0 thì nguồn vốn CSH năm nay và năm trước không thay đổi, ngân hàng cần tăng cường các biện pháp để huy động vốn được tốt hơn
Tương tự chỉ tiêu này phản ánh sự tăng trưởng của nguồn vốn HĐ qua các năm Nếu hệ số này lớn hơn 0 chứng tỏ nguồn vốn HĐ của năm nay lớn hơn nguồn vốn HĐ của năm trước Còn nếu hệ số này nhỏ hơn 0 chứng tỏ nguồn vốn HĐ của năm nay nhỏ hơn nguồn vốn HĐ của năm trước Còn hệ số này bằng 0 thì nguồn vốn HĐ năm nay và năm trước không thay đổi, ngân hàng cần tăng cường các biện pháp để huy động vốn được tốt hơn
Bên cạnh việc sử dụng chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng vốn, ngân hàng cũng cần đánh giá quy mô vốn huy động của ngân hàng như thế nào Các NHTM thường dùng
tỷ lệ hoàn thành kế hoạch huy động (TLHTKHHĐ) để đánh giá quy mô huy động vốn: Tổng VHĐ
TLHTKHHĐ =
Kế hoạch huy động vốn
Chỉ tiêu này cho biết số vốn huy động được đã đáp ứng được bao nhiêu phần của
kế hoạch huy động vốn đã đề ra Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ ngân hàng đã đáp ứng được tốt kế hoạch huy động vốn đã đề ra lúc đầu
Tốc độ tăng trưởng
Tổng VCSH năm nay – Tổng VCSH năm trước
*100% Tổng VCSH năm trước
Tốc độ tăng trưởng
Tổng VHĐ năm nay – Tổng VHĐ năm trước
*100% Tổng VHĐ năm trước
Trang 241.3.2.2 Cơ cấu nguồn vốn huy động
Mỗi loại tiền gửi có các yêu cầu khác nhau về chi phí, thanh khoản, thời hạn Do
đó, việc xác định rõ cơ cấu vốn huy động sẽ giúp cho ngân hàng hạn chế rủi ro có thể gặp phải và tối thiểu hoá chi phí đầu vào Một số chỉ tiêu thường được sử dụng như :
Vốn HĐ
Tổng NV
Chỉ tiêu này cho thấy khả năng tự chủ của ngân hàng, tỷ lệ này cho biết trong cơ cấu tổng nguồn vốn thì vốn huy động chiếm bao nhiêu Nếu chỉ tiêu này quá cao
chứng tỏ khả năng tự chủ của ngân hàng thấp, có thể mang lại rủi ro cho ngân hàng
Ngoài ra tỷ trọng của các loại vốn huy động (ngắn hạn, trung dài hạn,….) với nhu cầu sử dụng vốn ở mức hợp lý, phù hợp với nhu cầu sử dụng vốn của ngân hàng thì hiệu quả huy động vốn của ngân hàng mới cao Do vậy ta có thể sử dụng thêm một
Tương tự chỉ tiêu này cho biết trong 1 đồng nguồn vốn huy động được thì có bao nhiêu đồng là vốn huy động trung và dài hạn Chỉ tiêu này càng cao càng tốt bởi vì vốn huy động trung và dài hạn có tính ổn định cao Tuy nhiên ngân hàng phải biết cân đối giữa vốn huy động ngắn hạn với vốn huy động trung và dài hạn sao cho phù hợp với tình hình kinh doanh của ngân hàng mình
1.3.2.3 Chi phí huy động vốn
Chi phí huy động vốn là toàn bộ số tiền ngân hàng phải bỏ ra để có được số vốn
đó, bao gồm chi phí trả lãi và các chi phí khác Để phục vụ cho việc quản lý chi phí huy động vốn và xác định các mức lãi suất tiền gửi, tiền vay một cách hợp lý, các
Tỷ lệ huy động
vốn trung và dài hạn =
Vốn huy động trung và dài hạn Tổng NV huy động
Trang 25kỳ nhất định Qua đó, so sánh khả năng hấp dẫn khách hàng của ngân hàng bằng lãi xuất đồng thời cho phép so sánh chi phí huy động giữa các ngân hàng Ngoài ra từ việc xác định được lãi xuất huy động bình quân, ngân hàng sẽ tính được tỷ suất lợi nhuận sinh lời từ các khoản cho vay và đầu tư để bù đắp cho khoản chi phí dùng để trả lãi này
Ngoài ra để đánh giá mức chi phí bỏ ra để huy động vốn với phần doanh thu thu được từ nguồn vốn trên ta sử dụng chỉ tiêu:
Tỷ suất chi phí
huy động vốn =
Tổng chi phí huy động Tổng doanh thu Chỉ tiêu này cho biết để tạo ra một đồng doanh thu thì mất bao nhiêu đồng chi phí huy động vốn Chỉ tiêu này càng thấp chứng tỏ hoạt động huy động vốn của ngân hàng càng hiệu quả và ngược lại, chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ ngân hàng phải bỏ ra quá nhiều chi phí cho việc huy động vốn Từ đó ngân hàng nên điều chỉnh lại chiến lược huy động vốn của mình cho phù hợp
1.3.2.4 Hiệu quả sinh lời của vốn huy động
Khả năng sinh lời
của vốn huy động =
Lợi nhuận sau thuế Vốn huy động Khả năng sinh lời của vốn huy động cho biết một đồng vốn huy động tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ ngân hàng kiếm được càng nhiều lợi nhuận từ vốn huy động, chứng tỏ hoạt động sử dụng vốn huy động hiệu quả cao
Khả năng sinh lời của vốn CSH =
Lợi nhuận sau thuế Vốn CSH
Trang 26Khả năng sinh lời của vốn CSH cho biết một đồng CSH tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ ngân hàng kiếm được càng nhiều lợi nhuận từ vốn CSH, chứng tỏ hoạt động sử dụng vốn CSH hiệu quả cao
1.3.2.5 Sự phù hợp giữa huy động vốn và sử dụng vốn
Nếu một ngân hàng thương mại có nguồn sử dụng vốn tương xứng với nguồn vốn huy động, chứng tỏ nguồn vốn huy động đã được sử dụng có hiệu quả và công tác huy động vốn của ngân hàng đã thành công Bởi vì phần lớn thu nhập từ hoạt động sử dụng vốn sẽ bù đắp phần nào chi phí huy động và đem lại lợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng Hơn nữa việc sử dụng vốn tốt sẽ thúc đẩy hoạt động huy động vốn Cho nên khi đánh giá hiệu quả hoạt động của công tác huy động vốn người ta thường xem xét đến công tác sử dụng vốn của ngân hàng đó
Hệ số sử dụng vốn
trong kỳ =
Dư nợ tín dụng trong kỳ Vốn huy động
Hệ số này cho biết một đồng vốn huy động thì có bao nhiêu đồng được sủ dụng trong kì, hệ số này càng cao chứng tỏ số vốn huy động được sử dụng càng cao và qua
đó tiết kiệm được chi phí lãi phải trả cho việc huy động vốn
Hệ số sử dụng vốn cũng nên được tính rõ ràng theo sự phân chia theo thời gian: ngắn hạn, trung hạn, dài hạn Qua đó mới có thể đánh giá một cách chuẩn xác và đưa
ra các chiến lược huy động vốn một cách hợp lý nhất
Hệ số sử dụng vốn
ngắn hạn =
Dư nợ tín dụng ngắn hạn Vốn huy động ngắn hạn
Hệ số này cho biết có bao nhiêu đồng vốn huy động ngắn hạn được sử dụng cho các hoạt động tín dụng ngắn hạn Nếu hệ số này lớn hơn 1 chứng tỏ ngân hàng đã sử dụng nhiều hơn số vốn ngắn hạn huy động được để kinh doanh tín dụng ngắn hạn, tức
là một phần số vốn huy động trung và dài hạn được dùng để kinh doanh tín dụng ngắn hạn Việc này là tốt tuy nhiên sẽ không tạo ra nhiều lợi nhuận cho ngân hàng Ngược lại Nếu hệ số này nhỏ hơn 1 chứng tỏ ngân hàng đã sử dụng ít hơn số vốn ngắn hạn huy động được để kinh doanh tín dụng ngắn hạn, tức là một phần số vốn huy động ngắn hạn được dùng để kinh doanh tín dụng dài hạn Việc này tiềm ẩn rất nhiều rủi ro cho ngân hàng Còn nếu hệ số này bằng 1 chứng tỏ ngân hàng đã sử dụng hết số vốn ngắn hạn huy động được để kinh doanh tín dụng ngắn hạn
Trang 27
để kinh doanh tín dụng trung và dài hạn
1.3.3 Các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại
1.3.3.1 Yếu tố chủ quan
a Quan điểm của lãnh đạo ngân hàng về huy động vốn
Mỗi ngân hàng phải tự hoạch định cho mình một chiến lược kinh doanh riêng biệt, phù hợp với các điều kiện bên trong và bên ngoài ngân hàng Ngân hàng cần phải xác định vị trí hiện tại của mình trong hệ thống, thấy được điểm mạnh, điểm yếu, thấy được những cơ hội và thách thức Trên cơ sở đó dự đoán sự thay đổi của môi trường
để xây dựng được chiến lược kinh doanh phù hợp mà trong đó chiến lược phát triển qui mô và chất lượng nguồn vốn là một bộ phận quan trọng trong chiến lược tổng thể của ngân hàng Trong từng thời kỳ, dựa trên chỉ tiêu được giao về hoạt động huy động vốn, sử dụng vốn và các hoạt động khác của NHTW cùng với tình hình thực tế của từng ngân hàng, ngân hàng phải lập kế hoạch và lên cân đối giữa huy động vốn và sử dụng vốn Mặt khác, trong chiến lược kinh doanh của mình ngân hàng cần phải đặc biệt chú trọng vào chi phí vốn mà ngân hàng phải chịu trong khâu huy động Phải tìm kiếm nguồn vốn rẻ, thời hạn dài thông qua việc lựa chọn các hình thức huy động khác nhau, có như vậy ngân hàng mới chủ động trong việc tìm kiếm và sử dụng vốn
b Uy tín, cơ sở vật chất kỹ thuật của ngân hàng
Một ngân hàng có một bề dày lịch sử với danh tiếng, cơ sở vật chất, trình độ nhân viên sẽ tạo ra hình ảnh tốt về ngân hàng, gây được sự chú ý của khách hàng từ đó lôi kéo được khách hàng đến quan hệ giao dịch với mình Không phải ngẫu nhiên mà
Trang 28nhân dân ta có câu tục ngữ “ Chọn mặt gửi vàng”, và trong hoạt động ngân hàng chữ
“Tín” và “Lòng tin” là rất quan trọng
Công nghệ ngân hàng cũng là một nhân tố không kém phần quan trọng quyết định thành công hay thất bại trong hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại Công nghệ ngân hàng liên quan trực tiếp đến các mặt hoạt động như thanh toán, giao dịch, kế toán Các ngân hàng thương mại ở Việt Nam hiện nay đang đầu tư mạnh mẽ cho công nghệ ngân hàng và coi đây như sức mạnh để cạnh tranh trên thị trường dịch
vụ tài chính Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong: ứng dụng lập mạng thanh toán liên ngân hàng nội bộ tập trung, hệ thống quản lý vốn ngoại tệ tập trung, ứng dụng dịch vụ ngân hàng điện tử, triển khai ứng dụng thanh toán SWIFT, dịch vụ thẻ ATM
đã mở ra nhiều cơ hội hơn cho ngân hàng
c Năng lực và trình độ của cán bộ ngân hàng
Về phương diện quản lí: Nếu ngân hàng có trình độ quản lí tốt sẽ có khả năng tư vấn phù hợp cho khách hàng đem lại hiệu quả cao thì sẽ thu hút được khách hàng đến với mình Mặt khác, nếu ngân hàng quản lý tốt về mặt nhân sự, tài sản nợ, tài sản có, tức là trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình, ngân hàng dự đoán được những rủi ro xảy ra, dự đoán được môi trường đầu tư của mình có hiệu quả hay không thì quá trình hoạt động của ngân hàng đảm bảo được an toàn vốn, tăng uy tín, tạo điều kiện thu hút khách hàng gửi tiền cũng như vay tiền
Về trình độ nghiệp vụ: Các cán bộ nhân viên ngân hàng có năng lực sẽ phán đoán, xử lý chính xác các tình huống sẽ làm cho các hoạt động huy động vốn được thực hiện một cách tốt đẹp, trình độ nghiệp vụ của cán bộ ngân hàng càng cao, mọi thao tác nghiệp vụ thực hiện nhanh chóng, chính xác, có hiệu quả; thái độ phục vụ, tác phong làm việc của cán bộ ngân hàng tốt, nhiệt tình, cởi mở, tạo thuận lợi cho khách hàng sẽ gây được ấn tượng tốt đối với khách hàng, thu hút được nhiều khách hàng hơn Do đó, để thu hút khách hàng gửi tiền , đi đôi với việc trau dồi kiến thức , nghiệp vụ , cán bộ ngân hàng phải thường xuyên chú ý đến thái độ phục vụ của mình sao cho vừa lòng khách hàng
d Lãi suất huy động vốn
Ngân hàng sử dụng hệ thống lãi suất như là một công cụ quan trọng trong việc huy động và thay đổi qui mô nguồn vốn thu hút vào ngân hàng, đặc biệt là quy mô tiền gửi Để duy trì và thu hút thêm nguồn vốn, ngân hàng cần phải ấn định mức lãi suất cạnh tranh, thực hiện ưu đãi về lãi suất cho khách hàng lớn, gửi tiền thường xuyên Lãi suất càng cao thì càng hấp dẫn người gửi tiền nhưng lãi suất huy động cao cũng có nghĩa là lãi suất cho vay cũng phải cao tương ứng thì ngân hàng kinh doanh mới có lãi Ngoài ra không phải ngân hàng cứ đưa ra mức lãi suất cao là thu hút được nhiều nguồn vốn nhàn rỗi của dân cư mà vấn đề là ở chỗ với mức lãi suất cụ thể mà
Trang 2918
ngân hàng đưa ra sẽ đem lại cho người gửi tiền mức lợi tức thực tế là bao nhiêu Điều
đó có nghĩa là mức lãi suất mà ngân hàng đưa ra phải luôn đảm bảo lớn hơn tỷ lệ lạm phát, do đó ngân hàng phải dự đoán chính xác tỷ lệ lạm phát trong từng thời kỳ để đưa
ra mức lãi suất hợp lý
e Các hình thức huy động vốn
Trong điều kiện cạnh tranh hiện nay, việc đa dạng hoá các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng có ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng Với nhiều loại sản phẩm khác nhau, khách hàng có thể lựa chọn một sản phẩm phù hợp với điều kiện khả năng của mình Có như vậy, NHTM mới thu hút được ngày càng nhiều khách hàng đến với mình Không những thế, ngân hàng còn phải đưa ra được các dịch vụ kèm theo tốt và đa dạng để tăng lợi thế cạnh tranh Với nhiều tiện ích kèm theo, sẽ giúp ngân hàng thu hút được ngày càng nhiều nguồn vốn của mọi thành phần kinh tế và dân cư trong xã hội Qua đó, tạo thêm nhều mối quan hệ gắn bó chặt chẽ hơn giữa các ngân hàng và khách hàng
1.3.3.2 Yếu tố khách quan
a Tác động của môi trường pháp lý
Nghiệp vụ huy động vốn của các NHTM chịu sự điều chỉnh rất lớn của môi trường pháp lý Có những Bộ Luật tác động trực tiếp mà chúng ta thường thấy như: Luật các TCTD, Luật NHNN Những Luật này qui định tỉ lệ huy động vốn của ngân hàng so với vốn tự có, qui định về việc gửi và sử dụng tài khoản tiền gửi Có những
Bộ Luật tác động gián tiếp đến hoạt động ngân hàng như Luật đầu tư nước ngoài hoặc các NHTM không được nhận tiền gửi hoặc cho vay bằng cách tăng giảm lãi suất, mà phải dựa vào lãi suất do NHNN đưa ra và chỉ được xê dịch trong biên độ nhất định mà NHNN cho phép Bên cạnh những bộ luật đó thì chính sách tài chính tiền tệ của một quốc gia cũng ảnh hưởng rất lớn tới nghiệp vụ tạo vốn của NHTM Nó được thể hiện ở mục tiêu của chính sách tiền tệ, chẳng hạn khi nền kinh tế lạm phát tăng, Nhà nước có chính sách thắt chặt tiền tệ bằng cách tăng lãi suất tiền gửi để thu hút tiền ngoài xã hội thì lúc đó NHTM huy động vốn dễ dàng hơn Như vậy, môi trường pháp lí là nhân tố khách quan có tác động rất lớn tới quá trình huy động vốn của NHTM Mục tiêu hoạt động của NHTM được xây dựng vào các qui định, qui chế của Nhà nước để đảm bảo
an toàn và nâng cao niềm tin từ khách hàng
b Tác động của môi trường chính trị
Có thể nói đây là yếu tố khách quan đối với tất cả các ngành nghề kinh tế không riêng gì ngân hàng Không một quốc gia nào có thể phát triển nếu môi trường chính trị không ổn định Sự ổn định chính trị cả trong và ngoài nước có tác động rất rõ Các cuộc bãi công, biểu tình, sụp đổ chính phủ luôn kéo theo tình trạng huy động vốn của ngân
Trang 30hàng bị trì trệ bởi người dân không còn tin tưởng Ngược lại, sự đồng tâm, nhất trí, ổn định trong bộ máy lãnh đạo sẽ làm cho các ngân hàng thương mại huy động vốn được
dễ dàng Như Achentina năm 2002, sau khi có những vấn đề về chính trị, người dân kéo đến ngân hàng rút tiền ồ ạt làm cho cả hệ thống ngân hàng chao đảo
c Tác động của môi trường kinh tế
Sự thay đổi của các yếu tố: tốc độ tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ lạm phát, thu nhập bình quân đầu người thay đổi, chính sách đầu tư, tiết kiệm của chính phủ sẽ ảnh hưởng đến khả năng tiêu dùng và tiết kiệm của dân cư và từ đó ảnh hưởng đến khả năng thu hút vốn của NHTM Ví dụ nền kinh tế có ổn định, phát triển bền vững, thu nhập bình quân đầu người có cao, trình độ học vấn của dân cư có cao, xã hội ổn định thì sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động và phát triển của ngân hàng thương mại Bởi khi đó tiết kiệm trong xã hội sẽ cao, khả năng tin tưởng vào hoạt động của ngành ngân hàng sẽ ngày càng được nâng lên Một hệ qủa tất yều là làm cho các thành phần kinh tế sẽ gửi tiền vào ngân hàng theo từng mục tiêu cụ thể Và ngược lại nếu trong vùng kinh tế đó có tình hình xã hội bất ổn định, tốc độ phát triển của kinh tế còn hạn chế Điều này làm cho tiết kiệm trong xã hội đạt mức thấp, thêm vào đó là tâm lý ưa dùng tiền mặt, chưa có thái độ quan tâm thực sự tới các loại hình dịch vụ mà ngân hàng cung cấp, và do đó việc thực hiện chính sách huy động vốn của ngân hàng thương mại gặp nhiều khó khăn
d Tác động của môi trường xã hội
Mỗi quốc gia đều có một nền văn hoá riêng, văn hoá chính là yếu tố tạo nên bản sắc của các dân tộc như: tập quán, thói quen, tâm lý Đối với ngân hàng hoạt động huy động vốn là hoạt động chịu nhiều ảnh hưởng của môi trường văn hoá Cụ thể ở các nước phát triển người dân có thói quen gửi tiền vào ngân hàng để hưởng những tiện ích trong thanh toán, hưởng lãi và trong tiềm thức họ ngân hàng là một phần không thể thiếu được, là một phàn tất yếu của nền kinh tế Ngược lại ở những nước đang phát triển như Việt Nam việc huy động vốn của ngân hàng gặp rất nhiều khó khăn vì người dân Việt Nam hiện nay vẫn chưa quen sử dụng các dịch vụ ngân hàng Thêm vào đó thói quen của người dân trong việc sử dụng tiền mặt, với tâm lý lo ngại trước sự sụt giá của đồng tiền cũng như sự hiểu biết của người dân về các ngân hàng
và hoạt động của ngân hàng sẽ có ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động huy động vốn của ngân hàng
Trang 3120
Kết luận chương 1: Trong chương 1 chúng ta đã nghiên cứu những nội dung cơ bản
liên quan đến NHTM nói chung cũng như đã nghiên cứu các phương thức tạo lập vốn các hình thức huy động vốn và các nhân tố ảnh hưởng đến công tác huy động vốn và
cơ cấu nguồn vốn của NHTM Những nội dung này liên quan đến hoạt động huy động vốn của ngân hàng giúp chúng ta có một cơ sở lý luận rõ ràng để đi phân tích thực trạng công tác huy động vốn của Ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt – chi nhánh Hà Nội trong giai đoạn hiện nay, để từ đó đưa ra được các giải pháp phù hợp
nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn một cách có hiệu quả
Trang 32CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NAM VIỆT – CHI NHÁNH HÀ NỘI
2.1 Khái quát về ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt – chi nhánh Hà Nội
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của chi nhánh
Tên đầy đủ: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Nam Việt
Tên giao dịch quốc tế: Nam Viet Commercial Joint Stock Bank
Tên gọi tắt: NAVIBANK
Hội sở: 3-3A-3B và số 5 Sương Nguyệt Ánh, Phường Bến Thành,
Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh
Điện thoại : (08) 38 216 216 :
Fax: (08) 39 142 738
Website: www.navibank.com.vn
Ngân hàng TMCP Nam Việt, tiền thân là Ngân hàng TMCPNT Sông Kiên, đã
được thành lập theo Giấy phép số 0057/NH-GP do NHNNVN cấp ngày 18/09/1995,
sau đó đăng ký thay đổi lần thứ nhất số 4103005193 do Sở Kế hoạch và Đầu tư TP
Hồ Chí Minh cấp vào ngày 24/08/2006
Chính thức đi vào hoạt động tại địa bàn Hà Nội từ năm 2006, bằng những nỗ
lực của cả tập thể cán bộ nhân viên Navibank Hà Nội cùng với sự quan tâm chỉ đạo
sâu sát của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và chính quyền địa phương các cấp, sự
ủng hộ của hơn 100.000 khách hàng, Navibank Hà Nội đã có được sự tăng trưởng
ổn định về quy mô hoạt động lẫn hiệu quả kinh doanh Tính đến cuối năm 2012,
Navibank Hà Nội đã có, mạng lưới giao dịch đạt 14 điểm, cùng với danh mục sản
phẩm dịch vụ tài chính đa dạng, phong phú, mang đậm hàm lượng công nghệ cao
Những thành quả bước đầu đó, Navibank Hà Nội hoàn toàn tự tin để tiếp tục khẳng
định uy tín thương hiệu Navibank tại địa bàn Hà Nội trong nhiều năm sắp tới
2.1.2 Cơ cấu tổ chức và hoạt động của Ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt –
chi nhánh Hà Nội
Trang 3322
Sơ đồ 2.1 : Cơ cấu tổ chức của ngân hàng TMCP Nam Việt – chi nhánh Hà Nội
(Nguồn : Phòng tổ chức hành chính Navibank Hà Nội)
Phòng kinh doanh
Thực hiện các nghiệp vụ cho vay đối với các khách hàng là các tổ chức và cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế, dưới hình thức là các khoản vay ngắn, trung và dài hạn, cho vay uỷ thác, cho vay theo dự án
Phòng kế toán-tài chính
Thực hiện hạch toán kế toán các nghiệp vụ thanh toán bằng VND, lên cân đối tổng hợp
Các PGD trực thuộc
Phòng nguồn vốn
Phòng quản
lý tiền gửi
DC
Phòng kiểm soát
Phòng kinh doanh đối ngoại
Phòng tin học
Trang 34Phòng nguồn vốn
Làm nhiệm vụ xây dựng kế hoạch cân đối và tổng hợp về nguồn vốn và sử dụng vốn; huy động mọi nguồn vốn tiết kiệm từ các tổ chức và cá nhân thuộc mọi thành phân kinh tế
Phòng quản lý tiền gửi dân cƣ
Chức năng của phòng là tham mưu cho Giám đốc trong tổ chức thực hiện các hình thức huy động vốn, điều chỉnh lãi suất và huy động vốn cho phù hợp với cung cầu của từng thời kỳ
Phòng kinh doanh đối ngoại
Thực hiện 2 chức năng chính là thanh toán quốc tế (thanh toán xuất nhập khẩu bằng các phương thức mở tài khoản, nhờ thu và L/C) và kinh doanh ngoại tệ (thanh toán, chuyển tiền cho các khách hàng, chủ yếu là mua bán ngoại tệ để phục vụ cho các doanh nghiệp XNK)
Các phòng giao dịch trực thuộc
Mỗi một phòng giao dịch giống như một ngân hàng thu nhỏ, có các bộ phận huy động vốn, có bộ phận tín dụng làm công tác cho vay, có bộ phận kế toán đảm nhận các công việc kế toán cho vay, nợ, kế toán tiết kiệm thực hiện theo chế độ kế toán báo
sổ
2.2 Tình hình hoạt động kinh doanh của ngân hàng TMCP Nam Việt – chi nhánh
Hà Nội giai đoạn 2010 - 2012
2.2.1 Kết quả hoạt động huy động vốn
Trong kinh doanh ngân hàng, công tác huy động vốn và sử dụng vốn có mối quan
hệ không thể tách rời, tác động qua lại với nhau Một nguồn vốn mạnh, cơ cấu nguồn hợp lý là điều kiện cho việc mở rộng và phát triển hoạt động tín dụng của một ngân hàng Bởi vậy, chi nhánh NaviBank Hà Nội luôn đặt công tác huy động vốn là một trong những nhiệm vụ hàng đầu
Trang 3524
Bảng 2.1 : Tình hình huy động vốn của ngân hàng TMCP Nam Việt – chi
nhánh Hà Nội giai đoạn 2010-2012
Đơn vị : tỷ đồng
(Nguồn : Phòng nguồn vốn Navibank Hà Nội)
Năm 2010 tình hình huy động vốn của các ngân hàng hết sức khó khăn do thị trường có nhiều biến động: giá vàng, đô la, giá bất động sản tăng mạnh, thị trường
chứng khoán biến động lớn ảnh hưởng đến tâm lý người dân dẫn đến có sự dịch
chuyển nguồn vốn nhàn rỗi từ gửi ngân hàng sang các lĩnh vực đầu tư khác như thị
trường chứng khoán, thị trường bất động sản,…Đối với các tổ chức kinh tế nhất là các
tập đoàn phải cơ cấu lại tài chính, dành vốn phục vụ trực tiếp cho hoạt động kinh
doanh của họ Ngoài ra cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 ảnh hưởng
đến thu nhập của người dân và nhiều doanh nghiệp bị đình trệ sản xuất, đặc biệt là các
doanh nghiệp xuất khẩu khiến doanh thu và lợi nhuận của nhiều doanh nghiệp giảm và
nhiều người mất việc làm Đây là nguyên nhân khiến vốn huy động năm 2011 giảm so
với năm 2010, từ 570,11 tỷ năm 2010 xuống 563,02 tỷ năm 2011, giảm 7,09 tỷ tương
đương với 1,24% Đến năm 2012 nền kinh tế cũng chưa có dấu hiệu phục hồi, nguồn
vốn huy động được của ngân hàng tiếp tục giảm, từ 563,02 tỷ năm 2011 xuống còn
511,85 tỷ năm 2012, giảm 51,17 tỷ tương đương với 9,09%
Như vậy qua 3 năm từ 2010-2012, nguồn vốn huy động của ngân hàng liên tục giảm, một phần là do nền kinh tế chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008 Tuy
Chênh lệch 2012/2011
Tuyệt đối
Tương đối (%)
Tuyệt đối
Tương đối (%) Huy động từ tiền gửi 382,63 405,45 394,5 22,82 5,96 (10,95) (2,7) Huy động từ phát hành
Trang 36nhiên, chi nhánh cũng cần xem xét lại các chính sách huy động vốn, các chương trình ưu đãi với khách hàng truyền thống và khách hàng tiềm năng,…Bên cạnh chính sách khách hàng, công tác quản trị nội bộ cũng cần chú trọng và cải tiến hơn Thường xuyên tuyên truyền, phát động và giao nhiệm vụ huy động vốn đến tất cả các cán bộ, có kiểm điểm đánh giá hàng tháng, trên cơ sở đó phát huy nội lực của tất cả cán bộ nhân viên trong chi nhánh
Huy động từ tiền gửi
Là kênh huy động vốn chủ yếu của ngân hàng, luôn chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng vốn huy động, luôn chiếm trên 60% tổng vốn huy động Qua bảng trên ta thấy nguồn vốn huy động từ tiền gửi mà chi nhánh huy động được tương đối ổn định và ngày càng tăng về quy mô Năm 2010 vốn huy động từ tiền gửi là 38,63 tỷ, sang đến năm 2011 tăng lên 405,45 tỷ, tăng 22,82 tỷ đồng, tương đương 5,96 % Năm 2012 giảm 10,95 tỷ đồng so với năm 2011, còn 394,5 tỷ đồng, tương đương giảm 2,7% Nguyên nhân là do năm 2011, lãi suất ngân hàng liên tục tăng cao khiến cho lượng tiền gửi từ các cá nhân, tổ chức tăng cao, tất cả đều gửi tiền vào ngân hàng để hưởng lãi suất cao Hơn nữa nền kinh tế đang trong thời kỳ khó khăn nên với số tiền nhàn rỗi không thể kinh doanh được, gửi tiền vào ngân hàng là lựa chọn tốt nhất, vừa được hưởng lãi suất cao lại vừa không lo nguy cơ bị mất vốn Năm 2012, lãi suất huy động
đã giảm, dẫn đến nhu cầu gửi tiền vào ngân hàng của các cá nhân và tổ chức trong xã hội giảm Ngoài ra một phần là do lãi suất ngân hàng bây giờ không còn đủ bù đắp cho
tỷ lệ lạm phát cao dẫn đến sự mất giá của đồng tiền VNĐ
Trong nguồn vốn huy động từ tiền gửi của ngân hàng thì lượng tiền gửi giao dịch thường chiếm tỷ lệ thấp Chiếm tỷ trọng lớn trong nguồn vốn huy động tiền gửi thường là tiền gửi tiết kiệm Vì tính ổn định của nguồn tiền này rất cao nên trong những năm qua, ngân hàng đã liên tục đưa ra các chính sách gia tăng lãi suất tiền gửi tiết kiệm và các sản phẩm tiền gửi tiết kiệm dưới nhiều hình thức phong phú nhằm khuyến khích dân cư gửi tiền vào ngân hàng Các sản phẩm tiết kiệm mới có thể kể đến như: tiết kiệm gửi góp, tiết kiệm bậc thang…
Huy động từ phát hành giấy tờ có giá
Nhìn vào bảng số liệu chúng ta có thể thấy tình hình phát hành kỳ phiếu của ngân hàng không giữ ở mức ổn định Trong năm 2010, tổng mức vốn huy động từ phát hành giấy tờ có giá là 54,86 tỷ đồng, nhưng lượng này lại suy giảm vào các năm 2011 và
2012 Năm 2011 tổng mức vốn huy động từ phát hành giấy tờ có giá chỉ còn 45,73 tỷ đồng, giảm 9,13 tỷ đồng tương đương với 16,64% so với năm 2010 Đến năm 2012, tổng mức vốn huy động từ phát hành giấy tờ có giá giảm mạnh chỉ còn 24,72 tỷ đồng,
giảm 21,01 tỷ đồng tương đương với 45,94% so với năm 2011
Trang 3726
Như chúng ta đã biết, việc phát hành kỳ phiếu, trái phiếu của ngân hàng nhằm thực hiện các chính sách tiền tệ của ngân hàng Công tác phát hành kỳ phiếu, trái phiếu căn cứ vào từng thời kỳ và sự chỉ đạo của lãnh đạo ngân hàng cấp trên.Trong năm
2010 ngân hàng TMCP Nam Việt – chi nhánh Hà Nội thực hiện việc huy động vốn bằng phát hành kỳ phiếu loại 12 tháng với mức lãi suất 1% tháng Do đó trong năm đó lượng vốn huy động từ việc phát hành kỳ phiếu chiếm tỷ lệ khá cao trong nguồn vốn
mà ngân hàng huy động được Nhưng trong 2 năm gần đây 2011 và 2012 do ngân
hàng không huy động loại kỳ phiếu 1 năm vào những tháng cuối năm mà chủ yếu huy động lượng tiền gửi tiết kiệm của dân cư và tổ chức kinh tế, do đó lượng vốn huy động được từ phát hành kỳ phiếu có suy giảm, đặc biệt là vào năm 2012 Ngoài ra lãi suất phải trả cho giấy tờ có giá cũng cao hơn các nguồn khác trong khi lãi suất cho vay có
xu hướng giảm nên ngân hàng đã hạn chế hoạt động huy động vốn từ việc phát hành giấy tờ có giá
Vay từ NHNN
Từ bảng số liệu ta có thể thấy nguồn vốn huy động từ vay NHNN cũng khá quan trọng và chiếm một phần không nhỏ trong tổng nguồn vốn huy động được của ngân hàng Năm 2010, vốn huy động từ vay NHNN là 93,47 tỷ đồng Sang năm 2011, vốn vay NHNN giảm xuống còn 73,14 tỷ đồng, giảm 20,33 tỷ đồng tương đương với 21,75% so với năm 2010 Đến năm 2012, lượng vốn vay từ NHNN chỉ còn 49,1 tỷ đồng, giảm 24,04 tỷ đồng tương đương với 32,87% so với năm 2011
Nghiệp vụ này thường phát sinh khi Nhà nước giao cho chi nhánh thực hiện chương trình tín dụng đầu tư phát triển theo kế hoạch cụ thể nhưng lại không rót vốn cho chi nhánh hoặc rót vốn ít Do đó chi nhánh phải tự lo vốn bằng cách vay từ NHNN, đồng thời kết hợp với các nguồn khác để phục vụ tốt theo yêu cầu, nhiệm vụ
mà Nhà nước giao Do năm 2010 NHNN chưa thực hiện việc siết chặt hoạt động cho các ngân hàng thương mại vay nên nguồn vốn vay từ NHNN của ngân hàng còn khá cao Tuy nhiên sang năm 2011 và đăc biệt là 2012, NHNN đã siết chặt hoạt động cho vay đối với các ngân hàng thương mại Hơn nữa Ngân hàng Nhà nước muốn giảm lượng cung tiền ra ngoài nền kinh tế nhằm giảm bớt tình trạng lạm phát Do vậy mà lượng vốn mà ngân hàng vay từ NHNN giảm mạnh
Vay từ TCTD khác
Năm 2010, nguồn vốn huy động từ vay các TCTD khác của ngân hàng là 26,35 tỷ đồng Đây là con số khá khiêm tốn so với tổng nguồn vốn huy động được Nguyên nhân là do việc vay vốn từ NHNN còn khá thuận lợi nên ngân hàng không chú trọng vào công tác huy động vốn từ các TCTD khác Năm 2011, nguồn vốn vay các TCTD
là 30,4 tỷ đồng, tăng 4,05 tỷ đồng tương đương 15,37% so với năm 2010, Đến năm
Trang 382012, nguồn vốn vay các TCTD là 34,13 tỷ đồng, tăng 3,73 tỷ đồng tương đương với 12,27% so với năm 2011 Sở dĩ nguồn vốn huy động từ vay các TCTD trong 2 năm
2011 và 2012 tăng là do năm 2011 NHNN thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt khiến nguồn cung tiền cho nền kinh tế bị giảm đi Lãi suất huy động của các ngân hàng tăng cao khiến cho việc huy động từ tiền gửi dễ dàng hơn Tuy nhiên do nguồn huy động từ vay NHNN và phát hành giấy tờ có giá giảm đi nên ngân hàng gia tăng hoạt động vay vốn của các TCTD để bù đắp những nguồn thiếu hụt Năm 2012 thì do lãi suất của các ngân hàng đã giảm khiến cho việc huy động từ tiền gửi khó khăn hơn, thêm vào đó do
nề kinh tế suy thoái nên ngân hàng hạn chế việc huy động từ phát hành giấy tờ có giá
do chi phí cao, ngân hàng còn tăng cường các hoạt động huy động vốn dẫn đến ciệc vay vốn từ các tổ chức tín dụng tăng Do đó chi nhánh đã chủ động tìm kiếm nguồn vốn bằng việc vay các TCTD trong nền kinh tế khi cần thiết Nguồn vốn này chủ yếu được hình thành do chi nhánh vay từ các Công ty bảo hiểm như: Công ty Bảo hiểm xã hội, Công ty Bảo hiểm Việt Nam Nguồn này tăng mạnh gắn liền với sự tăng trưởng của tín dụng đầu tư phát triển theo kế hoạch Nhà nước và các dự án mà chi nhánh tự tìm kiếm.Vay từ các TCTD là nghiệp vụ huy động vốn quan trọng của chi nhánh nhằm tài trợ cho nhu cầu vốn của các dự án cụ thể Tuy nhiên, nếu lượng vốn này quá lớn sẽ làm giảm lợi nhuận của Ngân hàng (vì lãi suất thường cao hơn tiền gửi tiết kiệm, kỳ phiếu cùng kỳ hạn)
Vốn khác
Nguồn vốn khác của ngân hàng chủ yếu đến từ hoạt động ủy thác đầu tư của các ngân hàng đối tác hoặc các các nhân, tổ chức có nhu cầu khác Nguồn vốn này chỉ chiếm một phần nhỏ và có tính tăng giảm thất thường, trong năm 2010 nguồn vốn huy động từ vốn khác là 12,8 tỷ đồng, sang năm 2011 giảm xuống còn 8,3 tỷ đồng, giảm 4,5 tỷ đồng tương đương giảm 35,16 % so với năm 2010 Đến năm 2012 nguồn vốn huy động từ vốn khác lại tăng lên 9,4 tỷ đồng, tăng 1,1 tỷ đồng tương đương với 13,25% Nguyên nhân của việc tăng giảm thất thường này là do nguồn vốn khác huy động được chủ yếu từ hoạt động ủy thác nguồn vốn từ các ngân hàng khác, tức là năm
2010 ngân hàng cho vay được nhiều, đầu tư có hiệu quả nên các ngân hàng khác, chi nhánh khác có nguồn vốn nhiều không cho vay được đã uỷ thác cho ngân hàng sử dụng Nguồn vốn uỷ thác này thể hiện được uy tín và vị thế của chi nhánh trên thương trường Sang năm 2011 và 2012 do kinh tế khó khăn, lượng vốn huy động được của các ngân hàng giảm mạnh nên hoạt động này đã ít hơn
2.2.2 Kết quả hoạt động tín dụng(chủ yếu là cho vay)
Trang 3928
Bảng 2.2 : Kết quả hoạt động tín dụng của Ngân hàng TMCP Nam Việt - chi
nhánh Hà Nội giai đoạn 2010-2012
Đơn vị : tỷ đồng
(Nguồn : Phòng nguồn vốn Navibank Hà Nội)
Giai đoạn 2010-2012 tăng trưởng tín dụng của chi nhánh tăng khá đồng đều Năm
2010 tổng dư nợ là 346,79 tỷ đồng Năm 2011 tổng dư nợ là 354,73 tỷ đồng tăng 7,94
tỷ đồng tương đương 2,29% so với năm 2010 Năm 2012 tổng dư nợ là 366,13 tỷ
đồng, tăng 11,4 tỷ đồng tương đương 3,21% so với năm 2011 Việc gia tăng về dư nợ,
nếu ngân hàng quản lý không tốt các khoản tín dụng này sẽ khiến cho rủi ro tín dụng của
ngân hàng tăng lên, đặc biệt là với các khoản cho vay trung dài hạn Trong bối cảnh có
những biến động kinh tế khó lường thì việc giữ mức dư nợ ở mức an toàn sẽ giúp cho
ngân hàng tránh được rủi ro mất vốn
Xem xét về cơ cấu tín dụng qua các năm, nhìn chung dư nợ tín dụng ngắn hạn luôn chiếm tỷ trọng lớn Năm 2010 dư nợ ngắn hạn là 194,46 tỷ đồng Năm 2011 dư
nợ ngắn hạn là 197,6 tỷ đồng, tăng 3,14 tỷ đồng tương đương 1,61% so với năm 2010
Đến năm 2012 dư nợ ngắn hạn tiếp tục tăng đạt 204,34 tỷ đồng, tăng 6,74 tỷ đồng
tương đương 3,41 % so với năm 2011 Nguyên nhân là do nhu cầu vốn ngắn hạn của
nền kinh tế lớn, đầu tư tín dụng ngắn hạn đã đáp ứng được nhu cầu vốn lưu động nhằm
mở rộng sản xuất, bổ sung ngân quỹ, đảm bảo yêu cầu thanh toán đến hạn hoặc đáp
ứng nhu cầu tiêu dùng cá nhân Tỷ trọng dư nợ ngắn hạn lớn giúp ngân hàng kinh
Chênh lệch 2012/2011
Tuyệt đối
Tương đối (%)
Tuyệt đối
Tương đối (%)
Trang 40doanh một cách an toàn vì tín dụng ngắn hạn có thời gian thu hồi khoản vay nhanh, vòng quay tín dụng cao, tránh được rủi ro lãi suất, lạm phát và những bất ổn của môi trường kinh tế vĩ mô Ngân hàng cần có các biện pháp đa dạng hóa khoản mục cho vay ngắn hạn để có hiệu quả kinh doanh cao và an toàn Bên cạnh đó, dư nợ trung và dài hạn tăng cả về khối lượng và tỷ trọng Năm 2010 dư nợ dài hạn là 67,6 tỷ đồng, dư nợ trung hạn là 84,73 tỷ đồng Đến năm 2011 dư nợ dài hạn là 70,6 tỷ đồng tăng 3 tỷ đồng tương đương 4,44% so với năm 2010, dư nợ trung hạn là 86,53 tỷ đồng tăng 1,8
tỷ đồng tương đương 2,12% so với năm 2010 Năm 2012 dư nợ dài hạn là 71,39 tỷ đồng, tăng 0,79 tỷ đông tương đương 2,12 % so với năm 2011, dư nợ trung hạn là 90,4
tỷ đồng, tăng 3,87 tỷ đông tương đương 4,47 % so với năm 2011 Nguyên nhân là do nhu cầu tín dụng trung và dài hạn của các doanh nghiệp ngày càng tăng để đầu tư vào tài sản cố định phát triển sản xuất phù hợp với nhịp độ tăng trưởng chung của nền kinh
tế
Qua bảng cho thấy dư nợ theo thành phần kinh tế của chi nhánh là không cân đối
Dư nợ của các tổ chức kinh tế chiếm phần lớn Cụ thể: năm 2010 dư nợ của các TCKT
là 284,41 tỷ đồng Năm 2011 là 304,52 tỷ đồng, tăng 20,11 tỷ đồng tương đương 7,07% so với năm 2010 Đến năm 2012, dư nợ của các tổ chức kinh tế giảm còn 275,1
tỷ đồng, giảm 29,42 tỷ đồng tương đương 9,66 % so với năm 2011 Nguyên nhân tỷ trọng này cao là do chi nhánh xác định mục tiêu chủ yếu tập trung vào hoạt động cho vay các TCKT Năm 2011, dư nợ của các TCKT tăng là do trong năm 2011, lãi suất của các ngân hàng tăng cao nên việc huy động vốn dễ dàng hơn, do đó ngân hàng đã gia tăng các hoạt động cho vay và khiến cho dư nợ của các TCKT tăng Tuy nhiên sang năm 2012, dư nợ của các TCKT giảm là do nền kinh tế suy thoái, nhiều doanh nghiệp bị phá sản hoặc giải thể dẫn đến nhu cầu vay vốn của các TCKT giảm Đây là vấn đề chung của toàn bộ hệ thống ngân hàng tuy vậy ngân hàng cũng nên xem xét lại các chiến lược cho vay để gia tăng hoạt động này Cải thiện tình hình kinh doanh của ngân hàng trong những năm tới
Tuy nhiên, việc chi nhánh chỉ tập trung cho vay một đối tượng khách hàng thì khả năng xảy ra rủi ro có thể tăng lên Đặc biệt là trong tình hình kinh tế bất ổn hiện nay, các
tổ chức kinh tế sẽ phải đối mặt với rất nhiều khó khăn để tồn tại Do đó, vấn đề đặt ra là chi nhánh phải tìm cách đa dạng hóa khách hàng để phân tán rủi ro Chính vì vậy, qua các năm chi nhánh đã bước đầu mở rộng cho vay các đối tượng khác như cho vay tư nhân, cá thể, hộ gia đình Cụ thể là: Năm 2010 cho vay tư nhân, cá thể và hộ gia đình là 62,38 tỷ đồng Đến năm 2011, cho vay cá nhân là 50,21 tỷ đồng, giảm 12,17 tỷ đồng tương đương 19,51% so với năm 2010 Năm 2012 cho vay cá nhân lại tăng mạnh lên 91,03 tỷ đồng, tăng 40,82% tương đương 81,3% so với năm 2011 Nguyên nhân là do năm 2011 ngân