- Từ những hạn chế và nguyên nhân của các hạn chế đó, khóa luận đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cho vay đối với khách hàng DNVVN tại chi nhánh ngân hàng đầu tư và phát
Trang 1BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
VIỆT NAM – BIDV TỪ SƠN
SINH VIÊN THỰC HIỆN : DIÊM THỊ LINH TRANG
MÃ SINH VIÊN : A16542 CHUYÊN NGÀNH : TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
HÀ NỘI - 2014
Trang 2BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
- O 0 O -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CHO VAY ĐỐI VỚI
KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN
VIỆT NAM – BIDV TỪ SƠN
Giáo viên hướng dẫn : Ngô Khánh Huyền Sinh viên thực hiện : Diêm Thị Linh Trang
Mã sinh viên : A16542 Chuyên ngành : Tài chính – Ngân Hàng
HÀ NỘI - 2014
Thang Long University Library
Trang 3Em chân thành cảm ơn Ban giám đốc chi nhánh ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam – BIDV Từ Sơn đã cho em số liệu để hoàn thành khóa luận và tạo điều kiện thuận lợi để em thực tập tại chi nhánh
Cuối cùng em kính chúc quý Thầy, Cô dồi dào sức khỏe và thành công trong sự nghiệp cao quý Đồng kính chúc các toàn thể cán bộ công nhân viên tại chi nhánh ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam – BIDV Từ Sơn luôn dồi dào sức khỏe, đạt được nhiều thành công tốt đẹp trong công việc
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên thực hiện
Diêm Thị Linh Trang
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan Khóa luận tốt nghiệp này là do tự bản thân thực hiện có sự hỗ trợ từ giáo viên hướng dẫn và không sao chép các công trình nghiên cứu của người khác Các dữ liệu thông tin thứ cấp sử dụng trong Khóa luận là có nguồn gốc và được trích dẫn rõ ràng
Em xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này!
Sinh viên thực hiện
Diêm Thị Linh Trang
Thang Long University Library
Trang 5MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG CHO VAY ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI 1
1.1 Doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế 1
1.1.1 Doanh nghiệp vừa và nhỏ 1
1.1.2 Vai trò và đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ 3
1.1.2.1 Vai trò doanh nghiệp vừa và nhỏ 3
1.1.2.2 Một số đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ 5
1.2 Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ 5
1.2.1 Khái niệm cho vay 5
1.2.2 Các hình thức cho vay của ngân hàng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ 5
1.2.2.1 Mục đích cho vay 6
1.2.2.2 Thời hạn cho vay 6
1.2.2.3 Mức độ tín nhiệm đối với khách hàng 7
1.2.2.4 Phương pháp cho vay 7
1.2.3 Các nhân tố cơ bản trong hoạt động cho vay của ngân hàng 8
1.2.3.1 Nguồn vốn cho vay 8
1.2.3.2 Thời hạn cho vay 9
1.2.3.3 Lãi suất cho vay 9
1.2.3.4 Hạn mức cho vay 9
1.2.4 Đặc điểm hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ 9
1.2.5 Vai trò hoạt động cho vay của ngân hàng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ 11
1.2.5.1 Đối với ngân hàng 12
1.2.5.2 Đối với khách hàng 12
1.2.5.3 Đối với nền kinh tế 12
1.3 Chất lượng cho vay của ngân hàng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ 13
1.3.1 Quan niệm chất lượng cho vay 13
1.3.2 Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng cho vay 14
1.3.2.1 Nâng cao chất lượng cho vay là cần thiết để phát triển kinh tế 14
1.3.2.2 Nâng cao chất lượng cho vay quyết định sự tồn tại và phát triển của các ngân hàng thương mại 14
1.3.3 Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng cho vay của ngân hàng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ 14
1.3.3.1 Chỉ tiêu định tính 14
1.3.3.2 Chỉ tiêu định lượng 16
1.3.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng cho vay của ngân hàng 19
1.3.4.1 Nhân tố về phía ngân hàng 19
1.3.4.2 Nhân tố thuộc về khách hàng 21
1.3.4.3 Các nhân tố thuộc về môi trường vĩ mô và đối thủ cạnh tranh 22
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM – BIDV TỪ SƠN 26
Trang 62.1 Khái quát chung về chi nhánh ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam –
BIDV Từ Sơn 26
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của chi nhánh ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam – BIDV Từ Sơn 26
2.1.2 Tổng quan về chi nhánh ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam – BIDV Từ Sơn 27
2.1.2.1 Giới thiệu chi nhánh ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam – BIDV Từ Sơn 27
2.1.2.2 Chức năng nhiệm vụ của các phòng ban 28
2.1.3 Tình hình hoạt động cho vay của chi nhánh ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam – BIDV Từ Sơn 29
2.1.4 Kết quả tài chính 32
2.1.5 Đánh giá chung về hoạt động kinh doanh 33
2.1.5.1 Những mặt làm được trong thời gian gần đây 34
2.1.5.2 Những mặt còn hạn chế 34
2.2 Thực trạng chất lượng cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ tại chi nhánh ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam – BIDV Từ Sơn 35 2.2.1 Phân tích định tính 35
2.2.2 Phân tích các chỉ tiêu định lượng 36
2.2.2.1 Chỉ tiêu doanh số cho vay và tỷ trọng các khoản vay của doanh nghiệp vừa và nhỏ 37
2.2.2.2 Chỉ tiêu thu nợ 40
2.2.2.3 Chỉ tiêu dư nợ 41
2.2.2.4 Chỉ tiêu nợ quá hạn 42
2.2.2.5 Chỉ tiêu nợ xấu 43
2.2.2.6 Chỉ tiêu vòng quay vốn tín dụng 44
2.2.2.7 Chỉ tiêu lợi nhuận 45
2.2.2.8 Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn 46
2.2.2.9 Chỉ tiêu hệ số rủi ro tín dụng 47
2.3 Đánh giá chất lượng cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ 47
2.3.1 Kết quả đạt được 47
2.3.1.1 Đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ 47
2.3.1.2 Đối với chi nhánh ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam – BIDV Từ Sơn 48
2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 49
2.3.2.1 Hạn chế 49
2.3.2.2 Nguyên nhân 49
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM – BIDV TỪ SƠN 52
3.1 Định hướng nâng cao chất lượng cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ 52
3.1.1 Phương hướng phát triển chung của chi nhánh ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam – BIDV Từ Sơn 52
3.1.2 Các chỉ tiêu kế hoạch năm 2014 của chi nhánh ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam – BIDV Từ Sơn 53
3.2 Giải pháp nâng cao chất lượng cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại chi nhánh ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam – BIDV Từ Sơn 54
Thang Long University Library
Trang 73.2.1 Đa dạng hoá hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ 54
3.2.1.1 Đa dạng hoá về loại hình cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ 54
3.2.1.2 Đa dạng hoá hình thức cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ 54
3.2.1.3 Đa dạng hoá phương thức cho vay 55
3.2.2 Xây dựng chiến lược Marketing 55
3.2.3 Tăng cường hoạt động tư vấn đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ 56
3.2.4 Nâng cao chất lượng thẩm định cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ 56
3.2.4.1 Về thu thập thông tin 57
3.2.4.2 Về phân tích và đánh giá khách hàng 57
3.2.5 Hoàn thiện cơ chế đảm bảo tiền vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại chi nhánh ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam – BIDV Từ Sơn 58
3.2.6 Tổ chức đào tạo và đào tạo lại cán bộ tín dụng của chi nhánh ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam – BIDV Từ Sơn 59
3.3 Kiến nghị nhằm nâng cao chất lƣợng cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại chi nhánh ngân hàng đầu tƣ và phát triển Việt Nam – BIDV Từ Sơn 61 3.3.1 Kiến nghị với Chính phủ và các bộ ban ngành liên quan 61
3.3.2 Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước 62
3.3.3 Kiến nghị với chi nhánh ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam – BIDV Từ Sơn 62
KẾT LUẬN 64
Trang 8DANH MỤC VIẾT TẮT
Ký hiệu viết tắt Tên đầy đủ
DNVVN Doanh nghiệp vừa và nhỏ
Thang Long University Library
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ, CÔNG THỨC
Bảng 1.1 Tiêu chí xác định DNVVN tại Việt Nam 2
Bảng 1.2 Đánh giá vai trò của DNVVN ở Việt Nam 4
Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức chi nhánh ngân hàng đầu tƣ và phát triển Việt Nam – BIDV Từ Sơn 28
Bảng 2.1 T nh h nh hoạt động cho vay từ n m 2001-2013 29
Bảng 2.2 Diễn biến dƣ nợ theo thành phần kinh tế 31
Bảng 2.3 Nợ xấu của chi nhánh giai đoạn 2001-2013 31
Bảng 2.4 Kết quả tài chính của chi nhánh ngân hàng đầu tƣ và phát triển Việt Nam – BIDV Từ Sơn giai đoạn 2011-2013 32
Bảng 2.5 Doanh số cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ phân theo thời hạn 37
Bảng 2.6 Doanh số cho vay phân theo loại h nh doanh nghiệp 38
Bảng 2.7 Doanh số thu nợ phân theo thời gian 40
Bảng 2.8 T nh h nh dƣ nợ doanh nghiệp vừa và nhỏ phân theo thời hạn 41
Bảng 2.9 Tỷ lệ nợ quá hạn của doanh nghiệp vừa và nhỏ giai đoạn 2011-2013 43 Bảng 2.10 Tỷ lệ nợ xấu của doanh nghiệp vừa và nhỏ giai đoạn 2011-2013 44
Bảng 2.11 Vòng quay vốn tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ 45
Bảng 2.12 Thu chi giai đoạn 2011-2013 45
Bảng 2.13 Hiệu suất sử dụng vốn giai đoạn 2011-2013 46
Bảng 2.14 Hệ số rủi ro tín dụng giai đoạn 2011-2013 47
Trang 10LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong những năm trở lại đây, các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) đã không ngừng phát triển cả về số lượng và chất lượng hoạt động kinh doanh và ngày càng khẳng định những đóng góp quan trọng của mình vào sự phát triển kinh tế đất nước Với nhiều đổi mới trong các chính sách, Chính phủ đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển Trong quá trình tồn tại và phát triển của mình, nhu cầu vốn để mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD) của các DNVVN là rất lớn Chính vì vậy, đối với các ngân hàng, DNVVN được đánh giá là đối tượng tiềm năng lớn, tạo điều kiện cho ngân hàng có thể tăng lợi nhuận, mở rộng thị trường Tuy nhiên, một thực tế là các doanh nghiệp vừa và nhỏ đang gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận với nguồn vốn vay của ngân hàng cũng như việc sử dụng có hiệu quả nguồn vốn vay đó Ngoài ra, bản thân các ngân hàng cũng còn nhiều hạn chế trong công tác cho vay đối với các DNVVN
Nhận thấy được tầm quan trọng và tiềm năng lớn từ đối tượng khách hàng là các DNVVN, trong những năm gần đây chi nhánh ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam – BIDV Từ Sơn đã chú trọng hơn đến việc mở rộng và nâng cao chất lượng cho vay đến bộ phận khách hàng này Tuy nhiên, dù đã có được nhưng kết quả nhất định nhưng chất lượng cho vay đối với các DNVVN tại chi nhánh ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam – BIDV Từ Sơn vẫn còn những mặt hạn chế Xuất phát từ thực tế tại chi nhánh ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam – BIDV Từ Sơn trong thời gian học tập, nghiên cứu, em thấy rằng vấn đề cho vay đối với DNVVN tại chi nhánh còn nhiều vấn đề cần xem xét như doanh số cho vay còn hạn chế, các chỉ tiêu tín dụng như chỉ tiêu thu nợ, chỉ tiêu dư nợ,… chưa thực sự tốt Hơn nữa, trong thời kỳ này kinh tế huyện Từ Sơn đang bắt đầu có làn sóng phát triển vượt bậc, các DNVVN được thành lập nhiều kèm theo vô số dự án kinh doanh, chính vì thế chi nhánh cần nâng cao chất lượng cho vay đối với DNVVN để nâng cao hiệu suất kinh doanh, từ đó mang lại lợi nhuận cao nhất cho chi nhánh
Xuất phát từ thực tiễn đó em đã chọn đề tài: “Nâng cao chất lượng cho vay đối
với khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ tại chi nhánh ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam – BIDV Từ Sơn” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp
Thang Long University Library
Trang 112 Mục đích nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu, làm rõ ba mục tiêu chính sau:
- Làm rõ cơ sở lý luận về chất lượng cho vay đối với DNVVN tại chi nhánh ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam – BIDV Từ Sơn
- Phân tích làm rõ thực trạng chất lượng cho vay đối với DNVVN tại chi nhánh ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam – BIDV Từ Sơn, từ đó thấy được những hạn chế và nguyên nhân của các hạn chế đó
- Từ những hạn chế và nguyên nhân của các hạn chế đó, khóa luận đưa ra một
số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cho vay đối với khách hàng DNVVN tại chi nhánh ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam – BIDV Từ
Sơn
3 Đối tượng, phạm vi, phương pháp nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Chất lượng cho vay đối với DNVVN tại chi nhánh
ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam – BIDV Từ Sơn
Phạm vi nghiên cứu: Chất lượng cho vay đối với DNVVN tại chi nhánh ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam – BIDV Từ Sơn trong 3 năm từ năm 2011 đến
năm 2013
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tài liệu tại ngân hàng và điều tra thực
tiễn, các phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp, hỏi ý kiến chuyên gia …
4 Kết cấu khóa luận
Ngoài lời mở đầu và kết luận, danh mục các từ viết tắt, danh mục bảng biểu đồ
thị, kết cấu khóa luận gồm ba chương như sau:
Chương 1: Lý luận chung về chất lượng cho vay đối với doanh nghiệp vừa và
nhỏ tại Ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng chất lượng cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại
chi nhánh ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam – BIDV Từ Sơn
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng cho vay đối với DNVVN tại chi
nhánh ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam – BIDV Từ Sơn
Trong quá trình nghiên cứu sẽ không tránh khỏi những sai sót Em rất mong được sự góp ý của quý thầy (cô) để đề tài luận văn tốt nghiệp được hoàn thiện tốt hơn
Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn tới Thạc sỹ Ngô Khánh Huyền đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 121
CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG CHO VAY ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI 1.1 Doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế
1.1.1 Doanh nghiệp vừa và nhỏ
Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp được hiểu là một tổ chức kinh tế có
tư cách pháp nhân được tổ chức ra để hoạt động kinh doanh trong một lĩnh vực nhất định với mục đích công ích hoặc thu lợi nhuận Thông thường cần có 3 điều kiện sau
để được công nhận là một doanh nghiệp:
- Có tư cách pháp nhân đầy đủ
Thứ nhất: Dựa vào quan hệ sở hữu về vốn và tài sản, các doanh nghiệp được
chia thành doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp sở hữu hỗn hợp Cụ thể:
- Doanh nghiệp Nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước thành lập, đầu tư vốn
và quản lý nó với tư cách là chủ sở hữu
- Doanh nghiệp tư nhân là những doanh nghiệp do cá nhân đầu tư vốn và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp
- Doanh nghiệp sở hữu hỗn hợp là các doanh nghiệp có sự đan xen của các hình thức sở hữu khác nhau trong cùng một doanh nghiệp
Cách phân loại này chỉ rõ quan hệ sở hữu về vốn và tài sản trong các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau Đồng thời là một trong các căn cứ để Nhà nước có những chính sách kinh tế và định hướng phát triển phù hợp đối với từng loại doanh nghiệp
Thứ hai: Dựa vào mục đích kinh doanh, các doanh nghiệp được chia thành
doanh nghiệp hoạt động kinh doanh và doanh nghiệp hoạt động công ích Cụ thể:
- Doanh nghiệp hoạt động kinh doanh là tổ chức kinh tế do Nhà nước thành lập hoặc thừa nhận, hoạt động kinh doanh theo cơ chế thị trường Mục tiêu
số một là thu được lợi nhuận tối đa
- Doanh nghiệp hoạt động công ích (thường là doanh nghiệp Nhà nước) là tổ chức kinh tế thực hiện các hoạt động về sản xuất, lưu thông hay cung cấp các dịch vụ công cộng, trực tiếp thực hiện các chính sách xã hội của Nhà
Thang Long University Library
Trang 13Thứ ba: Dựa vào lĩnh vực kinh doanh, các doanh nghiệp có thể chia làm hai
loại là doanh nghiệp tài chính và doanh nghiệp phi tài chính Cụ thể:
- Doanh nghiệp tài chính là các tổ chức tài chính trung gian như các ngân hàng thương mại (NHTM), công ty tài chính, công ty bảo hiểm, Những doanh nghiệp này có khả năng cung ứng cho nền kinh tế các loại dịch vụ về tài chính, tiền tệ, tín dụng, bảo hiểm,
- Doanh nghiệp phi tài chính là các doanh nghiệp lấy việc SXKD làm hoạt động chính
Phân loại theo tiêu thức này chỉ ra chức năng của từng loại doanh nghiệp, qua tiêu thức phân loại này Nhà nước có thêm căn cứ để hoạch định các chính sách quản lý phù hợp với mỗi loại hình doanh nghiệp trong từng ngành nghề
Thứ tư: Dựa vào quy mô kinh doanh người ta chia doanh nghiệp thành các loại
doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp vừa và doanh nghiệp nhỏ
Căn cứ Chương 1, Điều 3 Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của
Chính phủ về việc hỗ trợ phát triển DNVVN đã định nghĩa: Doanh nghiệp vừa và nhỏ là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn hoặc số lao động bình quân năm, cụ thể như sau:
Bảng 1.1 Tiêu chí xác định DNVVN tại Việt Nam Quy mô
Doanh nghiệp siêu nhỏ
Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa
Khu vực Số lao động Tổng
nguồn vốn Số lao động
Tổng nguồn vốn Số lao động
I Nông,
lâm nghiệp
và thủy sản
10 người trở xuống
20 tỷ đồng trở xuống
Từ trên 10 người đến
20 tỷ đồng trở xuống
Từ trên 10 người đến
10 tỷ đồng trở xuống
Từ trên 10 người đến
100 người
(Nguồn: Nghị định số 56/2009/NĐ-CP)
Trang 143
1.1.2 Vai trò và đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.1.2.1 Vai trò doanh nghiệp vừa và nhỏ
Xét về mặt lịch sử, sự ra đời và phát triển của các nước tư bản có nền đại công nghiệp phát triển gắn với những công ty, tập đoàn kinh tế lớn như ngày nay thì sự khởi đầu của họ cũng là những xí nghiệp, công trường thủ công sản xuất nhỏ Trong quá trình phát triển, sự tích tụ và tập trung vốn cùng với quá trình cạnh tranh gay gắt giữa những xí nghiệp trong nước và ngoài nước đã tạo ra những tập đoàn kinh tế lớn như ngày nay Tuy vậy, ngay cả ở các nước tư bản phát triển, các DNVVN vẫn giữ một vị trí quan trọng và ngày càng được khẳng định, bởi vì nhiều lĩnh vực kinh tế chỉ có thể SXKD có hiệu quả bởi các DNVVN Trải qua nhiều thời kỳ kinh tế, đặc biệt là sau những thời kỳ suy thoái kinh tế, người ta luận ra rằng khu vực DNVVN là nhân tố cực
kỳ quan trọng thúc đẩy và mở rộng cạnh tranh, bảo đảm và ổn định kinh tế, phòng chống nguy cơ khủng hoảng Thật vậy, khu vực DNVVN là xương sống trong nền kinh tế của nhiều quốc gia hiện tại và cả tương lai Đặc biệt khi cuộc Cách mạng khoa học và công nghệ ngày càng phát triển đã tạo điều kiện cho các DNVVN nhiều cơ hội tập trung kỹ thuật, có khả năng sản xuất các sản phẩm không thua kém các doanh nghiệp lớn Mặt khác, xét trên phạm vi toàn cầu hiện nay về tính chất cạnh tranh giữa các doanh nghiệp đang chuyển từ cạnh tranh giá cả sang cạnh tranh về chất lượng và công nghệ Trong điều kiện này, lợi thế của các doanh nghiệp có quy mô lớn sẽ bị giảm sút Sự phát triển của chuyên môn hoá và hợp tác hoá đã không cho phép một doanh nghiệp tự khép kín chu trình SXKD một cách có hiệu quả Mà với mô hình sản xuất kiểu vệ tinh, trong đó các DNVVN là vệ tinh của các doanh nghiệp lớn tỏ ra rất thích hợp
Như vậy, một nền kinh tế hiện đại thì DNVVN ngày càng không thể tan biến trong các tập đoàn kinh tế lớn mà khả năng hợp tác để mở rộng lại ngày càng tăng
Đối với Việt Nam, một nước đang phát triển, tiến tới nền kinh tế thị trường thì DNVVN càng có ý nghĩa quan trọng Điều đó được thể hiện cụ thể trên các mặt sau:
- DNVVN chiếm tỷ trọng cao về số lượng, thu hút nhiều lao động và đóng
góp phần lớn thu nhập quốc dân cho đất nước Theo Tạp chí con số và sự
kiện, số 475 của Tổng cục thống kê Việt Nam, phát hành tháng 5/2013 thì
Việt Nam có hơn 95% các doanh nghiệp là DNVVN, tạo công ăn việc làm cho hơn 90% lao động xã hội Như vậy, phát triển DNVVN là chủ trương đúng đắn của Đảng, nó được gắn liền với đường lối phát triển kinh tế nhiều thành phần của Đảng theo định hướng kinh tế thị trường nhằm giải quyết việc làm, tăng thu nhập, góp phần vào ổn định tình hình kinh tế xã hội
- Các DNVVN đóng vai trò quan trọng trong lưu thông hàng hoá và cung cấp dịch vụ, có vai trò bổ sung cho các doanh nghiệp lớn, là xí nghiệp gia công
Thang Long University Library
Trang 154
vệ tinh cho các doanh nghiệp lớn cùng hệ thống và là mảng lưới tiêu thụ
hàng hoá cho các doanh nghiệp lớn Cũng theo Tạp chí con số và sự kiện,
số 475 của Tổng cục thống kê Việt Nam, phát hành tháng 5/2013 thì các DNVVN chiếm khoảng 29% tổng sản lượng công nghiệp hàng năm, 83% doanh số bán lẻ trong thương nghiệp, 71% khối lượng vận chuyển hành khách và hàng hoá
- Các DNVVN đáp ứng tích cực, kịp thời nhu cầu tiêu dùng ngày càng phong phú và đa dạng mà các doanh nghiệp lớn không thể làm được, chế biến hàng hoá xuất khẩu và tăng kim ngạch xuất khẩu Hệ thống siêu thị cũng không thể thay thế được các của hàng bán lẻ, những nhà máy quy mô lớn không sản xuất được những sản phẩm đơn chiếc, mang tính thủ công Bằng sự đa dạng ngành nghề, các DNVVN sẽ có nhiều thuận lợi trong sản xuất và cung cấp dịch vụ, đáp ứng mọi nhu cầu tiêu dùng xã hội Với lợi thế so sánh về các nguyên liệu nông, lâm, thuỷ, hải sản để sản hàng hoá xuất khẩu, lợi thế
về ngành nghề thủ công truyền thống đã tạo ra khả năng vô cùng to lớn cho khu vực DNVVN tham gia sản xuất, gia công chế biến, đại lý khai thác cho xuất khẩu
- Các DNVVN có vai trò tích cực đối với sự phát triển kinh tế địa phương, khai thác tiềm năng thế mạnh của từng vùng sản xuất Phát triển DNVVN sẽ giúp các địa phương khai thác thế mạnh về đất đai, tài nguyên, lao động trong mọi lĩnh vực phục vụ phát triển kinh tế địa phương Từng địa phương cũng bị giới hạn bởi ngân sách, khả năng tích tụ và tập trung vốn của doanh nghiệp tư nhân không nhiều nên việc phát triển doanh nghiệp lớn là hạn chế Chính vì vậy, Đảng và Chính phủ ta đưa ra các chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế trang trại ở vùng núi phía Bắc, vùng cao nguyên Nam Trung Bộ và phát huy các làng nghề truyền thống
Như vậy, có thể khẳng định vị trí và vai trò của các DNVVN, đồng thời việc chú trọng phát triển các DNVVN là một trong những hướng chiến lược quan trọng quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước
Bảng 1.2 Đánh giá vai trò của DNVVN ở Việt Nam
3 Tăng tính năng động và hiệu quả của nền kinh tế 83,2
4 Tham gia đào tạo đội ngũ các nhà kinh doanh Việt Nam 63,2
(Nguồn: Chính sách hỗ trợ phát triển DNVVN ở Việt Nam năm 2011)
Trang 165
1.1.2.2 Một số đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ
Xét về ưu điểm: DNVVN tồn tại và phát triển ở mọi thành phần kinh tế Ở nước
ta, DNVVN chiếm 33,6% trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; 65,9% trong các hợp tác xã và liên hiệp hợp tác xã; 94,6% công ty trách nhiệm hữu hạn; 99,4% doanh nghiệp tư nhân; 65,9% doanh nghiệp Nhà nước và gần 100% doanh nghiệp hoạt động ở lĩnh vực nông thôn là các DNVVN Bên cạnh đó, các DNVVN còn
có tính năng động và linh hoạt cao trước những thay đổi của thị trường, có khả năng chuyển hướng kinh doanh và chuyển hướng mặt hàng nhanh vì vốn đầu tư ít và thu hồi vốn nhanh, chính vì vậy, các DNVVN dễ phát huy được bản chất hợp tác, có thể duy trì tự do cạnh tranh và phát huy tiềm lực ở trong nước Hơn nữa, các doanh nghiệp này
có bộ máy tổ chức quản lý gọn nhẹ, hiệu quả nên các quyết định quản lý đưa ra được thực hiện một cách nhanh chóng, không ách tắc và tránh phiền hà nên có thể tiết kiệm tối đa chi phí quản lý doanh nghiệp Xét về số vốn đầu tư thì các DNVVN có vốn ban đầu ít, khả năng thu hồi vốn nhanh qua các hoạt động SXKD, có hiệu quả sử dụng vốn cao và ít xảy ra rủi ro trong quá trình hoạt động nên tạo ra nhiều khả năng đầu tư của các cá nhân và mọi thành phần kinh tế
Bên cạnh những ưu điểm nói trên, thì các DNVVN vẫn còn bộc lộ những điểm hạn chế như nguồn tài chính hạn hẹp nên quá trình tích tụ và tập trung để đầu tư tái sản xuất diễn ra rất chậm chạp, trình độ quản lý SXKD còn nhiều hạn chế, khó khăn thâm nhập vào thị trường thế giới và khu vực
1.2 Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.2.1 Khái niệm cho vay
Theo khoản 16 Điều 4 Luật tổ chức tín dụng 2010 thì: “Cho vay là hình thức
cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”
Theo đó, việc NHTM cho các DNVVN vay vốn sẽ dựa theo đúng các quy định của Luật tổ chức tín dụng 2010 đã ban hành Ngân hàng sẽ cho các doanh nghiệp vay tiền phục vụ cho việc SXKD thông qua các thỏa thuận, cam kết giữa hai bên và phía các doanh nghiệp sẽ có nghĩa vụ đóng lãi và hoàn trả toàn bộ số tiền đã vay của ngân hàng theo đúng thời hạn đã cam kết
1.2.2 Các hình thức cho vay của ngân hàng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
Có rất nhiều tiêu thức để phân loại các hình thức và sản phẩm cho vay đối với DNVVN Việc phân loại cho vay có cơ sở khoa học nhằm mục đích giúp cho các ngân hàng có thể thiết lập các quy trình cho vay thích hợp và nâng cao hiệu quả của công
Thang Long University Library
Trang 17- Cho vay công nghiệp và thương mại: Đây là loại cho vay ngắn hạn của ngân hàng cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ nhằm để bổ sung vốn lưu động cho các doanh nghiệp này
- Cho vay nông nghiệp: Là loại cho vay phục vụ cho mục đích trang trải các chi phí sản xuất như phân bón, thuốc trừ sâu, giống cây trồng, thức ăn gia súc, lao động, nhiên liệu,…
Việc NHTM cho các DNVVN vay vốn chủ yếu dựa vào mục đích cho vay công nghiệp và thương mại Trong loại mục đích vay này, các DNVVN sẽ có nhiều lợi thế như: những chính sách hỗ trợ của địa phương trong việc phát triển các DNVVN trên địa bàn tỉnh về việc cắt giảm lãi suất hay tăng tổng số vốn được vay để việc đầu tư cho
việc SXKD mang lại hiệu quả cao nhất
1.2.2.2 Thời hạn cho vay
Theo tiêu thức này, việc cho vay đối với DNVVN được chia thành 03 loại:
- Cho vay ngắn hạn: Là loại cho vay có thời hạn đến 12 tháng và được sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của các nhân
- Cho vay trung hạn: Là các món vay có thời hạn trên 12 tháng đến 60 tháng Cho vay trung hạn chủ yếu được sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng SXKD, xây dựng các dự
án mới có quy mô nhỏ và thời hạn thu hồi vốn nhanh Bên cạnh đầu tư cho tài sản cố định, cho vay trung hạn còn là nguồn hình thành vốn lưu động thường xuyên của các doanh nghiệp, đặc biệt là những doanh nghiệp mới thành lập
- Cho vay dài hạn: Là loại cho vay có thời hạn vay trên 05 năm và thời hạn tối
đa có thể lên tới 20 – 30 năm Cho vay dài hạn được sử dụng để thực hiện các dự án đầu tư mới, mở rộng sản xuất, đáp ứng nhu cầu xây dựng nhà ở, mua sắm, đầu tư phương tiện vận tải có quy mô lớn, xây dựng các xí nghiệp, dây chuyền, nhà máy sản xuất
Trang 187
Thời hạn vay vốn của các DNVVN chủ yếu là ở mức ngắn hạn Các doanh nghiệp này vay vốn để trực tiếp thực hiện việc SXKD và mở rộng các hoạt động kinh doanh nên nguồn vốn vay sẽ có vòng quay ngắn, nguồn vốn đầu tư sẽ nhanh chóng được thu hồi do việc SXKD của các DNVVN mang tính thời vụ và có chu kỳ Chính
vì thế thời gian vay vốn của các doanh nghiệp này chủ yếu nằm trong khoảng thời gian
từ 6 tháng đến 12 tháng
1.2.2.3 Mức độ tín nhiệm đối với khách hàng
Theo tiêu thức phân loại này, việc cho vay đối với DNVVN được chia thành 02 loại:
- Cho vay không bảo đảm: Là loại cho vay không có tài sản thế chấp hoặc cầm cố hoặc có sự bảo lãnh của người thứ ba, mà việc cho vay chỉ dựa vào
uy tín của bản thân khách hàng Đối với những khách hàng tốt, có uy tín cao, có khả năng tài chính vững mạnh, quản trị có hiệu quả thì ngân hàng có thể cấp tín dụng dựa vào uy tín của khách hàng mà không cần một nguồn thu thứ hai bổ sung
- Cho vay có tài sản bảo đảm: Là loại cho vay dựa trên cơ sở các bảo đảm như thế chấp hoặc cầm cố, hoặc phải có sự bảo lãnh của người thứ ba Đối với khách hàng không có uy tín cao đối với ngân hàng, khi vay vốn đòi hỏi phải có bảo đảm Sự bảo đảm này là căn cứ pháp lý để ngân hàng có thêm một nguồn thứ hai, bổ sung cho nguồn thu nợ thứ nhất thiếu tính chắc chắn Hiện nay, dựa theo mức độ tín nhiệm với khách hàng thì các NHTM chủ yếu cho DNVVN vay theo hình thức cho vay có tài bảo đảm Nguyên nhân của việc này là
để hạn chế tối đa rủi ro tín dụng khi mà việc SXKD của các DNVVN chỉ mang tính thời vụ, không có dự án cụ thể nên sẽ không chứng minh được lợi nhuận cũng như doanh thu của dự án
Tuy nhiên, đối với các khách hàng là các doanh nghiệp thân thiết, có quan hệ trong một thời gian dài với ngân hàng thì sẽ được ngân hàng ưu đãi về mặt tổng số tiền được vay hoặc sẽ được ngân hàng gia tăng thời gian đáo hạn
1.2.2.4 Phương pháp cho vay
Dựa vào tiêu thức này, việc cho vay của NHTM đối với các DNVVN được chia thành các loại sau đây:
- Cho vay trực tiếp từng lần: Là hình thức cho vay nhiều lần cách biệt nhau đối với khách hàng không có nhu cầu thường xuyên và chỉ vay trong trường hợp cần thiết vốn để ngân hàng tham gia vào một giai đoạn nhất định của chu kỳ SXKD Khi cần vay vốn, khách hàng làm đơn yêu cầu và trình phương án sử dụng vốn vay gửi đến Ngân hàng Ngân hàng sẽ phân tích,
Thang Long University Library
Trang 19- Cho vay luân chuyển: Là hoạt động cho vay dựa trên luân chuyển hàng hoá,
áp dụng đối với doanh nghiệp thương mại hoặc doanh nghiệp sản xuất có chu kỳ tiêu thụ ngắn ngày, có quan hệ vay trả thường xuyên với ngân hàng Doanh nghiệp khi mua hàng có thể thiếu vốn, ngân hàng có thể cho vay để mua hàng hoá và sẽ thu nợ khi doanh nghiệp bán hàng Đầu năm hoặc đầu quý, người vay phải làm đơn xin vay luân chuyển Ngân hàng cùng với khách hàng thoả thuận với nhau về phương thức cho vay, hạn mức tín dụng
và các nguồn cung cấp hàng hoá cũng như khả năng tiêu thụ Khi vay, khách hàng chỉ cần gửi đến ngân hàng các chứng từ hoá đơn nhập hàng và số tiền cần vay, ngân hàng sẽ cho vay và trả tiền cho người bán Các khoản phải thu và
cả hàng hoá trong kho trở thành vật bảo đảm cho khoản vay tại Ngân hàng Hiện tại, các DNVVN chủ yếu được ngân hàng cho vay theo hình thức cho vay trực tiếp từng lần Điều này không khó lí giải bởi các DNVVN chỉ vay vốn khi các đối tượng đó thực sự cần và quá trình thu hồi vốn của các đối tượng đó diễn ra nhanh nên một doanh nghiệp cụ thể sẽ không vay ngân hàng một cách liên tục mà khi doanh nghiệp đó thực sự
thiếu vốn mới tìm đến ngân hàng
1.2.3 Các nhân tố cơ bản trong hoạt động cho vay của ngân hàng
1.2.3.1 Nguồn vốn cho vay
Vốn cho vay được ngân hàng huy động từ các nguồn khác nhau như:
- Vốn tự có của ngân hàng: nói chung nguồn vốn nay chiếm một tỷ trọng không cao trong cơ cấu nguồn vốn của ngân hàng
- Nguồn vốn huy động tiền gửi ngắn hạn trong nước: Nguồn huy động này biến động trong từng thời kỳ, phụ thuộc vào biến động của thị trường vốn, vào sự thay đổi của các định chế của nhà nước và được sử dụng để cho vay trung và dài hạn chủ yếu trong trường hợp số dư tiền gửi ngắn hạn quá lớn,
có khả năng gây ra ứ đọng vốn
Trang 20- Vốn uỷ thác tài trợ phát triển
- Các quỹ đầu tư phát triển theo nguồn vốn ODA và các nguồn khác
1.2.3.2 Thời hạn cho vay
Đây là một yếu tố quan trọng trong hoạt động cho vay Nó là cơ sở để xác định lợi tức mà DNVVN phải trả cho ngân hàng Có hai loại thời hạn là:
- Thời hạn cho vay chung: Được tính từ khi bắt đầu cấp vốn đến khi hoàn trả xong khoản tiền đó Thời hạn cho vay chung là thời hạn nguồn vốn được sử dụng chính thức trong hợp đồng cho vay
- Thời hạn cho vay trung bình: là khoảng thời gian mà toàn bộ số tiền vay được sử dụng Thông thường thời hạn cho vay trung bình nhỏ hơn thời hạn cho vay chung trừ khi vốn vay được cấp và hoàn trả một lần
1.2.3.3 Lãi suất cho vay
- Lãi suất cho vay là tỷ lệ tính trên tổng số vốn vay mà DNVVN phải trả cho ngân hàng để được sử dụng vốn vay Nói một cách khác, lãi suất cho vay chính là giá cả của khoản vay đó và cũng như giá cả của mọi loại hàng hoá khác, lãi suất chủ yếu được tạo ra bởi cung cầu về vốn Bên cạnh đó, lãi suất còn chủ yếu phụ thuộc vào mức độ rủi ro, số lượng vốn vay, thời hạn vốn vay và tình hình kinh tế
- Lãi suất hiện nay ở nước ta đang áp dụng phổ biến là lãi suất thoả thuận
1.2.3.4 Hạn mức cho vay
- Hạn mức cho vay là lượng vốn tối đa mà ngân hàng nhà nước cho phép các NHTM có thể cho DNVVN vay lại và hạn mức cho vay còn phụ thuộc vào chính sách riêng của ngân hàng đó
- Theo quy chế cho vay hiện nay ở nước ta thì tổng dư nợ cho vay không được vượt quá 15% vốn tự có của tổ chức tín dụng trừ nguồn vốn uỷ thác hoặc trường hợp đặc biệt được Chính phủ cho phép
1.2.4 Đặc điểm hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
Cho vay là hoạt động truyền thống của ngân hàng, hoạt động cho vay phát triển
đa dạng và hoàn thiện với nhiều loại hình khác nhau từ cho vay ngắn hạn đến cho vay với thời hạn dài, mà thời hạn cho vay càng dài thì tính rủi ro càng lớn, do đó lãi suất cho vay dài hạn càng lớn hơn lãi suất cho vay ngắn hạn Các NHTM thường cho
Thang Long University Library
Trang 2110
DNVVN vay vốn theo hình thức ngắn hạn vì hoạt động của các doanh nghiệp này không ổn định, mang tính thời vụ và không có các dự án đầu tư mang tính lâu dài Nguồn vốn vay ngắn hạn được các DNVVN phục vụ cho chi tiêu trong quá trình hoạt động, hay thu mua nguyên vật liệu, trả tiền lương, bổ sung cho vốn lưu động, tức là nhằm đáp ứng nhu cầu thanh toán ngắn hạn Vì vậy cho vay ngắn hạn có tính lỏng cao hơn, có thể coi như một bộ phận đảm bảo khả năng thanh toán của ngân hàng Trái lại, ngân hàng không tập trung cho vay trung và dài hạn đối với DNVVN, vì cho vay trung
và dài hạn thường đầu tư vào mở rộng, đầu tư mới sản xuất, xây dựng cơ sở hạ tầng, đổi mới trang thiết bị khoa học công nghệ, dây truyền sản xuất hiện đại,… tức là những dự án chưa có khả năng sinh lời trong thời gian ngắn Do đó có tính lỏng thấp,
độ rủi ro cao nên có lãi suất cao nhất trong các loại hình cho vay nên các khoản cho vay, đặc biệt là các khoản cho vay trung và dài hạn có chất lượng tốt sẽ mang lại khoản lợi nhuận lớn cho ngân hàng
Từ quan hệ uy tín với các DNVVN trong hoạt động cho vay, ngân hàng sẽ tạo lập được mối quan hệ với các doanh nghiệp này trong các lĩnh vực khác như: mở tài khoản tiền gửi thanh toán, dịch vụ thanh toán hộ, bảo lãnh,… Về phía các DNVVN sẽ
có tình hình hoạt động SXKD có hiệu quả hơn, trên cơ sở mối quan hệ sẵn có với ngân hàng, các DNVVN sẽ chủ động tạo lập mối quan hệ tín dụng khác với ngân hàng, tạo mối quan hệ ngày càng bền vững giữa doanh nghiệp và ngân hàng, như vậy góp phần làm cho thị trường tín dụng được mở rộng
Mặt khác, thông qua hoạt động cho vay, ngân hàng cũng thực hiện được mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của Chính phủ bằng việc cho vay bằng vốn ngân sách dự phòng Nhà nước uỷ quyền cho ngân hàng phát hành trái phiếu, kì phiếu để huy động vốn cho đầu tư phát triển Khi đó, ngân hàng sẽ được biết đến rộng rãi hơn trong dân chúng không chỉ ở hoạt động cho vậy mà cả hoạt động huy động vốn cũng sẽ phát triển, tạo uy tín và danh tiếng cho ngân hàng
Hoạt động cho vay là hoạt động đem lại cho ngân hàng một khoản lợi nhuận rất lớn, khoản mục cho vay chiếm một tỷ trọng lớn trong tài sản của ngân hàng Với quy
mô như vậy, cho vay ảnh hưởng lớn đến nhiều chiến lược hoạt động của ngân hàng như dự trữ, vay, đầu tư, Vì vậy, trong mọi hoạt động đều phải tuân thủ nguyên tắc cho vay, đặc biệt là đối với các DNVVN Nguyên tắc cho vay góp phần rất quan trọng vào việc hạn chế rủi ro của NHTM Sau đây là một số nguyên tắc cơ bản:
- Sàng lọc: Lựa chọn đối nghịch trong các thị trường cho vay đòi hỏi ngân hàng phải lọc những doanh nghiệp đi vay có triển vọng tốt ra khỏi những doanh nghiệp có triển vọng xấu, nhờ vậy các khoản cho vay sẽ an toàn hơn
và mang lại lợi nhuận cho ngân hàng
Trang 2211
- Giám sát: Ngân hàng phải tiến hành hoạt động giám sát nhằm hạn chế rủi ro đạo đức, cần xác định rõ những quy định và hạn chế trong các hợp đồng vay, đồng thời giám sát xem doanh nghiệp đi vay có tuân thủ theo các quy định, hạn chế đó không và có thể cưỡng chế thi hành nếu doanh nghiệp đi vay không tuân thủ
- Quan hệ với các DNVVN thường xuyên và lâu dài: Một doanh nghiệp đi vay có quan hệ với ngân hàng trong khoảng thời gian dài trước đó thì ngân hàng sẽ nhìn vào hoạt động quá khứ của doanh nghiệp để nắm bắt được một
số lượng thông tin đáng kể về doanh nghiệp này Điều này sẽ giảm rủi ro đạo đức trong cho vay, tiết kiệm được chi phí và thời gian thẩm định doanh nghiệp
- Tài sản đảm bảo: Ngân hàng yêu cầu doanh nghiệp đi vay phải có tài sản đảm bảo, đây là nguồn trả nợ thứ hai cho ngân hàng khi nguồn thứ nhất là nguồn thu nhập từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đi vay không đảm bảo trả được nợ
- Hạn chế cho vay: Đó là việc ngân hàng từ chối cho vay mặc dù doanh nghiệp vay sẵn lòng thanh toán lãi suất đã được công bố thậm chí với một lãi suất cao hơn Việc hạn chế cho vay có 2 dạng: (1) Ngân hàng từ chối cho vay với bất kỳ số lượng nào với doanh nghiệp vay; (2) Ngân hàng cho vay nhưng hạn chế mức vay dưới mức vay mà doanh nghiệp mong muốn
- Tương hợp ý muốn: Đó là vấn đề thồng nhất giữa ngân hàng và doanh nghiệp về: nhu cầu vay vốn, quy mô của loại hình cho vay, thời hạn cho vay, lãi suất cho vay, thời điểm giải ngân,…
1.2.5 Vai trò hoạt động cho vay của ngân hàng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
Với chức năng là một trung gian tài chính, ngân hàng đã biến tiết kiệm thành đầu tư, tức là huy động vốn từ các nguồn vốn tạm thời dư thừa trong SXKD cũng như nguồn vốn nhàn rỗi nằm rải rác trong dân cư để cho vay Đối với các DNVVN, do quy
mô sản xuất còn nhỏ hẹp, nguồn vốn đầu tư còn hạn chế nên nguồn vốn vay được từ ngân hàng sẽ giúp cho các doanh nghiệp này có điều kiện để mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao hiệu quả SXKD, từ đó, quá trình sản xuất được diễn ra liên tục, góp phần nâng cao lợi nhuận của các doanh nghiệp này
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của thị trường tài chính, nhiều tổ chức tín dụng
ra đời, đặc biệt trong thời gian qua nhiều NHTM mới được thành lập Khi nước ta được làm thành viên chính thức của tổ chức thương mại quốc tế WTO, ngành ngân hàng đứng trước nhiều cơ hội cũng như thách thức, đòi hỏi các ngân hàng nâng cao trình độ quản lý và công nghệ ngân hàng Đồng thời chất lượng cho vay luôn được
Thang Long University Library
Trang 2312
quan tâm hàng đầu, nó là sức mạnh nội lực giúp ngân hàng tồn tại và phát triển trong cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn
1.2.5.1 Đối với ngân hàng
Hoạt động chủ yếu của NHTM là việc thu hút vốn để mở rộng cho vay và đầu
tư nhằm thu lợi nhuận Việc sử dụng vốn có hiệu quả hay không quyết định đến sự thành bại trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng Chiến lược kinh doanh quan trọng nhất của ngân hàng là chiến lược tín dụng Trong đó hoạt động cho vay là hoạt động có rủi ro cao nhưng hứa hẹn đem lại lợi nhuận cao nên các ngân hàng luôn quan tâm đến việc mở rộng và nâng cao chất lượng cho vay
- Mở rộng cho vay làm tăng doanh thu và lợi nhuận của ngân hàng: Khi ngân hàng cho vay ngân hàng thu được tiền lãi:
Tiền lãi = Lãi suất x Tổng dƣ nợ thực tế x Thời gian vay
Tiền lãi chiếm một tỷ lệ lớn trong tổng doanh thu và lợi nhuận của ngân hàng Khi ngân hàng mở rộng cho vay về chiều rộng làm tổng dư nợ tăng lên; nếu ngân hàng không gặp rủi ro lớn từ các khoản cho vay này thì chắc chắn doanh thu và lợi nhuận sẽ tăng lên Khi ngân hàng mở rộng cho vay về chiều sâu chất lượng của các khoản cho vay tăng lên, khả năng thu hồi vốn vay và lãi là cao, đặc biệt đối với các khoản vay với thời hạn dài thì doanh thu và lợi nhuận từ các khoản vay này cũng tăng lên Ngoài thu từ lãi, ngân hàng còn có các khoản thu phí dịch vụ như: dịch vụ bảo lãnh, dịch vụ thanh toán, dịch vụ tư vấn…
- Nâng cao chất lượng cho vay: Giúp ngân hàng phát triển bền vững
1.2.5.2 Đối với khách hàng
Chất lượng cho vay tạo lòng tin đối với khách hàng Trong điều kiện nền kinh
tế mở, khách hàng có quyền lựa chọn ngân hàng làm đối tác Chính vì vậy ngân hàng nào có chất lượng cho vay tốt sẽ thu hút được nhiều khách hàng đến thiết lập quan hệ với ngân hàng Với vai trò chủ đạo cung cấp vốn cho nền kinh tế, các ngân hàng hỗ trợ
và tạo điều kiện cho các cá nhân và tổ chức kinh tế tiếp cận nguồn vốn ngân hàng
Đối với DNVVN, do có quy mô về nguồn vốn còn hạn hẹp, khả năng trả nợ cho ngân hàng đúng hạn là rất khó, chính vì vậy, từ nguồn vốn vay được của ngân hàng, các DNVVN có áp lực trả nợ vay sẽ tận dụng tối đa lợi ích của nguồn vốn vay mang lại, tăng cường hoạt động kinh doanh có hiệu quả hơn, nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường để nhanh chóng tạo ra lợi nhuận và trả nợ vốn vay cho ngân hàng
1.2.5.3 Đối với nền kinh tế
Thứ nhất: Chất lượng cho vay có vai trò quan trọng trong việc đẩy lùi và kiềm
chế lạm phát, từng bước duy trì sự ổn định giá trị đồng tiền và tỉ giá, góp phần cải thiện kinh tế vĩ mô, môi trường đầu tư và sản xuất kinh doanh
Trang 2413
Thứ hai: Góp phần thúc đẩy hoạt động đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh
và hoạt động xuất nhập khẩu Đây là kết quả tác động nhiều mặt của đổi mới hoạt động ngân hàng, nhất là những cố gắng của ngành ngân hàng trong việc huy động các nguồn vốn trong nước cho đầu tư phát triển, trong việc đổi mới chính sách cho vay và
cơ cấu tín dụng theo hướng căn cứ vào tính khả thi và hiệu quả của từng dự án, từng lĩnh vực ngành nghề để quyết định cho vay
Thứ ba: Chất lượng cho vay đã đóng góp tích cực cho việc duy trì sự tăng
trưởng kinh tế với nhịp độ cao trong nhiều năm liên tục Với dư nợ cho vay nền kinh tế chiếm khoảng 35-37% GDP
Thứ tư: Thông qua nguồn vốn cho các chương trình và dự án phát triển sản
xuất kinh doanh, hàng năm, hệ thống ngân hàng đã góp phần tạo thêm được nhiều việc làm mới, nhất là tại các vùng nông thôn Việc sử dụng vốn ngân hàng cho mục đích này ngày càng có tính chuyên nghiệp, minh bạch và hiệu quả Góp phần hỗ trợ có hiệu quả trong việc tạo việc làm mới và thu hút lao động, góp phần cải thiện thu nhập và giảm nghèo bền vững
Thứ năm: Hoạt động cho vay góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng
công nghiệp hóa – hiện đại hóa và phát triển các ngành chủ chốt thông qua huy động
và cho vay có định hướng
1.3 Chất lƣợng cho vay của ngân hàng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.3.1 Quan niệm chất lượng cho vay
Chất lượng cho vay tại ngân hàng thương mại là chất lượng của các khoản cho vay của ngân hàng thương mại Các khoản cho vay có chất lượng khi vốn vay được khách hàng sử dụng hiệu quả, đúng mục đích, tạo ra số tiền lớn hơn, thông qua đó ngân hàng thu hồi được gốc và lãi, còn doanh nghiệp có thể trả được nợ, bù đắp chi phí và thu được lợi nhuận Điều này có nghĩa là ngân hàng vừa tạo ra hiệu quả kinh tế lại tạo được hiệu quả xã hội
Quan niệm về chất lượng cho vay vừa mang tính chất định tính, khó xác định
cụ thể bằng các số liệu tính toán được, vừa mang tính định lượng thể hiện qua khả năng thu hút khách hàng, tác động đến nền kinh tế,…
Trong quan hệ với các DNVVN, để có được chất lượng cho vay thì hoạt động cho vay phải có hiệu quả và quan hệ tín dụng này phải được thiết lập trên cơ sở uy tín
và sự tin cậy trong hoạt động Có nghĩa là, trước khi cho vay ngân hàng cần phải xem xét, tìm hiểu thật kỹ các DNVVN cho nhu cầu vay vốn, nguồn vốn cho vay phải được các doanh nghiệp này sử dụng một cách hiệu quả, tạo ra lợi nhuận lớn để phục vụ cho quá trình sản xuất, tái đầu tư sau này thì đó mới là khoản vay có chất lượng
Do đó, xem xét đánh giá một khoản vay là tốt hay xấu cần có một cái nhìn bao quát, toàn diện vấn đề
Thang Long University Library
Trang 2514
1.3.2 Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng cho vay
1.3.2.1 Nâng cao chất lượng cho vay là cần thiết để phát triển kinh tế
Ngày nay cùng với sự phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hoá, hoạt động cho vay ngày càng phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu vay vốn không ngừng tăng cao của nền kinh tế Chất lượng cho vay ngày càng được quan tâm bởi lẽ:
- Đảm bảo chất lượng cho vay là điều kiện để ngân hàng làm tốt vai trò là trung tâm thanh toán: khi chất lượng cho vay được đảm bảo sẽ tăng vòng quay vốn cho vay, với một lượng tiền như cũ có thể thực hiện số lần giao dịch lớn hơn, tạo điều kiện tiết kiệm tiền trong lưu thông, củng cố sức mua của đồng tiền
- Chất lượng cho vay góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định tiền tệ, tăng trưởng kinh tế, tăng uy tín quốc gia Điều này xuất phát từ chức năng tạo tiền của NHTM, thông qua cho vay chuyển khoản, thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt, NHTM có thể mở rộng tiền ghi sổ gấp nhiều lần so với số tiền thực có, hoặc ngân hàng cho phép các chủ tài khoản phát hành séc và thanh toán bằng các phương tiện khác cho khách vượt quá số tiền gửi thực có, hay khi ngân hàng xử lý hoạt động thanh toán cho khách hàng đã cung cấp cho doanh nghiệp một khối lượng thanh toán bằng cách ghi "có" trước ghi "nợ" sau
1.3.2.2 Nâng cao chất lượng cho vay quyết định sự tồn tại và phát triển của các ngân hàng thương mại
Những tác động của chất lượng cho vay đối với NHTM:
- Chất lượng cho vay làm tăng khả năng sinh lời của các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng, do giảm được sự chậm trễ, giảm chi phí của hoạt động cho vay, chi phí quản lý, các chi phí thiệt hại do không thu hồi được vốn cho vay
- Chất lượng cho vay đảm bảo khả năng thanh toán và lợi nhuận của ngân hàng, tạo thế mạnh cho ngân hàng trong cạnh tranh
Với những tác động tích cực trên việc nâng cao chất lượng cho vay là sự cần thiết khách quan vì sự tồn tại và phát triển lâu dài của NHTM
1.3.3 Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng cho vay của ngân hàng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.3.3.1 Chỉ tiêu định tính
Thứ nhất: Ngân hàng là đơn vị đứng ra thẩm định, xem xét việc cho các
DNVVN vay vốn nên để mang lại một khoản cho vay có chất lượng thì ngân hàng phải xem xét thật kỹ để chọn ra những doanh nghiệp đủ điều kiện vay vốn, tránh mang lại rủi ro tín dụng như nợ xấu, nợ quá hạn, nợ khó đòi,… Đối với ngân hàng thì chất lượng cho vay biểu hiện ở một số chỉ tiêu sau:
Trang 2615
- Tính phù hợp của khoản vay: Tức là ngân hàng phải xác định được mục đích vay vốn của các DNVVN để từ đó ra quyết định có cho vay vốn hay không, việc này tránh mang lại những rủi ro tín dụng sau này
- Thời gian, lãi suất của khoản vay: Đối với các DNVVN, ngân hàng thường
áp dụng các hình thức cho vay ngắn hạn, thời gian thường là 6 tháng đến 12 tháng Tuy nhiên, ngân hàng cần xem xét giảm lãi suất so với cho vay dài hạn để nâng cao chất lượng cho vay đối với DNVVN
- Các yêu cầu về tài sản đảm bảo: Tài sản đảm bảo của DNVVN thường là cơ
sở vật chất như nhà xưởng, thiết bị, máy móc,… Tuy nhiên, thiết bị, máy móc thường xuyên xuống cấp hoặc được thay đổi trong quá trình sử dụng, chính vì vậy, ngân hàng cần xem xét kỹ lưỡng để quyết định những vật chất nào có thể đưa vào tài sản đảm bảo để nâng cao chất lượng của nguồn vốn vay đó
- Quy trình cho vay: Đối với DNVVN thì hoạt động SXKD chủ yếu theo mùa
vụ nên các doanh nghiệp này sẽ vay vốn theo các mùa vụ đó Hơn nữa, mùa
vụ SXKD thường phát triển trong một thời gian ngắn nên việc có được nguồn vốn nhanh sẽ mang lại hiệu quả tích cực cho các doanh nghiệp này Chính vì vậy, ngân hàng cần xem xét để đưa ra một quy trình cho vay đơn giản nhất, nhưng vẫn tuân thủ đúng quy định để nguồn vốn vay mang lại hiệu quả cao nhất đối với các DNVVN
Thứ hai: DNVVN là đối tượng trực tiếp sử dụng, quản lý vốn vay Vì thế, đối
với DNVVN thì chất lượng cho vay biểu hiện ở một số chỉ tiêu sau:
- Doanh thu từ hoạt động SXKD tăng
- Lợi nhuận từ hoạt động SXKD tăng: Từ việc doanh thu tăng, doanh nghiệp cần tính toán, trừ đi các khoản chi phí, lãi suất ngân hàng để đưa ra lợi nhuận thực đối với các đơn hàng sử dụng nguồn vốn vay Khi đó mới có thể kết luận chính xác về chất lượng của khoản vốn vay đó
- Chất lượng lao động tham gia hoạt động SXKD tăng
Có thể nói đây là những chỉ tiêu hệ quả phản ánh chất lượng cho vay tốt hay xấu Một khoản cho vay tốt đối với ngân hàng cũng chính là khoản vay tốt đối với DNVVN Chỉ tiêu chất lượng cho vay phải được xem xét, phân tích trên nhiều giác độ, phải đặt trên quan điểm của cả DNVVN và ngân hàng, tức là khoản tiền đó phải tạo ra được lợi nhuận cho cả phí ngân hàng và cả phía doanh nghiệp Có như vậy, việc đánh giá chất lượng hoạt động cho vay mới thật sự khách quan, chính xác, phản ánh đúng thực trạng để từ đó phân tích nguyên nhân, tìm ra giải pháp tháo gỡ một cách có hiệu quả
Thang Long University Library
Trang 2716
1.3.3.2 Chỉ tiêu định lượng
Các chỉ tiêu cơ bản được sử dụng để đánh giá chất lượng cho vay tại NHTM:
Chỉ tiêu doanh số cho vay
Doanh số cho vay là tổng số tiền của các khoản vay mà ngân hàng cho khách hàng vay vốn tại một thời điểm nhất định Một ngân hàng muốn chất lượng của các khoản cho vay tốt thì trước tiên ngân hàng đó phải có doanh số cho vay Tuy nhiên, không phải doanh số cho vay cao là chất lượng của các khoản vay đó tốt, mà chất lượng của các khoản vay đó còn được đánh giá thông qua các chỉ tiêu dưới đây
Chỉ tiêu thu nợ
Hệ số thu nợ phản ánh số tiền mà ngân hàng thu hồi được của khách hàng thông qua các khoản thu đã tới hạn tại một thời điểm nhất định Chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả thu nợ của ngân hàng, qua đó phần nào đánh giá được chất lượng cho vay của ngân hàng đó Chỉ tiêu này được xác định như sau:
Hệ số thu nợ = Doanh số thu nợ
Doanh số cho vay Chỉ tiêu dƣ nợ
Dư nợ chính là số tiền mà khách hàng còn nợ ngân hàng tại một thời điểm nhất định Hiện nay, các Ngân hàng quốc tế nói chung và Ngân hàng Việt Nam nói riêng đều dùng chỉ tiêu dư nợ phản ánh quy mô của tín dụng, qua đó phần nào phản ánh chất lượng cho vay
Chỉ tiêu này được xác định như sau:
Bên cạnh tỷ lệ nợ xấu, tỷ lệ nợ quá hạn cũng góp phần phản ánh chất lượng cho vay tại ngân hàng, tuy với mức độ thấp hơn
Nợ quá hạn là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc hoặc lãi đã quá hạn Một cách tiếp cận khác, nợ quá hạn là những khoản vay không hoàn trả đúng hạn, không được phép và không đủ điều kiện gia hạn nợ Các khoản nợ quá hạn bao gồm:
Trang 28Chỉ tiêu tỷ lệ nợ xấu
Nợ xấu (hay nợ có vấn đề, nợ không lành mạnh, nợ khó đòi, nợ không thể đòi,…) được định nghĩa là các khoản nợ thuộc nhóm 3, 4 và 5
Nợ xấu mang các đặc trưng sau:
- Khách hàng đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ với ngân hàng khi các cam kết này đã hết hạn
- Tình hình tài chính của khách hàng đang và có chiều hướng xấu dẫn đến có khả năng ngân hàng không thu hồi được cả gốc lẫn lãi
- Tài sản đảm bảo (thế chấp, cầm cố, bảo lãnh) được đánh giá là giá trị phát mãi không đủ trang trải nợ gốc và lãi
Thông thường về thời gian là các khoản nợ quá hạn ít nhất là 90 ngày Cụ thể, các khoản nợ xấu bao gồm:
- Nợ dưới tiêu chuẩn (nợ nhóm 3)
- Nợ nghi ngờ (nợ nhóm 4)
- Nợ có khả năng mất vốn (nợ nhóm 5)
Tỷ lệ nợ xấu là tỷ lệ phần trăm giữa nợ xấu và tổng dư nợ của ngân hàng thương mại tại một thời điểm nhất định, thường là cuối tháng, cuối quý, cuối năm Chỉ tiêu này được tính như sau:
x 100%
Tổng dƣ nợ cho vay Chỉ tiêu vòng quay vốn tín dụng
Chỉ tiêu này đo lường tốc độ luân chuyển vốn của ngân hàng trong một thời gian nhất định (thường là một năm), phản ánh thời gian thu hồi nợ của ngân hàng là nhanh hay chậm và được xác định như sau:
Vòng quay vốn tín dụng =
Thang Long University Library
Trang 2918
chất lượng tín dụng thông qua chỉ tiêu này thì các tiêu thức tính toán phải thống nhất, vòng quay vốn tín dụng phải tính toán cho từng loại vay, thời hạn vay và từng đối tượng vay cụ thể
Chỉ tiêu lợi nhuận
Chỉ tiêu này được xác định như sau:
Tỷ suất lợi nhuận của
hoạt động cho vay =
Lợi nhuận từ hoạt động cho vay
x 100% Tổng dƣ nợ tín dụng
Chỉ tiêu này cho biết khả năng sinh lời của các khoản cho vay, một khoản cho vay ngắn hạn hay dài hạn không thể xem là có chất lượng cao nếu nó không đem lại lợi nhuận cho ngân hàng Chỉ tiêu này có giá trị lớn chứng tỏ các khoản vay của ngân hàng sinh lời và ngược lại Đánh giá chất lượng cho vay thông qua chỉ tiêu này cũng chỉ mang tính chất tương đối vì chỉ tiêu này cũng phụ thuộc khá nhiều vào chính sách lãi suất Ngoài ra, khi so sánh chất lượng cho vay giữa các ngân hàng thương mại, không thể kết luận được chất lượng cho vay của ngân hàng này cao hơn ngân hàng khác do có tỷ suất lợi nhuận của hoạt động cho vay cao hơn, nguyên nhân cũng bởi do
sự khác nhau trong chính sách lãi suất của từng ngân hàng Vì vậy, chỉ tiêu này cũng nên được xem xét một cách tương đối trong mối quan hệ với các chỉ tiêu và yếu tố quan trọng khác làm ảnh hưởng tới chất lượng cho vay của ngân hàng
Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn
Đây là chỉ tiêu dùng để so sánh khả năng cho vay của ngân hàng với khả năng huy động vốn của ngân hàng đó tại một thời điểm, đồng thời, xác định hiệu quả của một đồng vốn huy động Chỉ tiêu này được tính như sau:
Hiệu suất
sử dụng vốn =
Tổng dƣ nợ Tổng vốn huy động
Thông thường, nếu nhìn vào cách tính, ta sẽ thấy chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ ngân hàng sử dụng nhiều vốn huy động và hoạt động của ngân hàng sẽ hiệu quả hơn Tuy nhiên, điều này chưa chắc đã đúng Thực ra, chưa thể khẳng định được hiệu suất
sử dụng vốn cao thì chất lượng cho vay cùa ngân hàng là tốt và ngược lại, bởi tỷ lệ dư
nợ trên vốn huy động lớn song có thể tỷ lệ nợ đủ tiêu chuẩn vẫn ở tỷ lệ thấp, làm ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng cho vay Ngoài ra, ta có thể thấy rằng ngân hàng có hiệu suất sử dụng vốn cao chưa hẳn đã tốt hoặc ngược lại, do nếu chỉ tiêu này có giá trị lớn (càng lớn hơn 1, tức tổng số tiền huy động ít hơn tổng số tiền cho vay) thì ngân hàng phải tìm kiếm nguồn vốn khác có chi phí cao hơn; đồng thời, nếu hiệu suất sử dụng vốn thấp (có giá trị càng nhỏ hơn 1, tức tổng số tiền huy động được nhiều hơn tổng số tiền cho vay) thì ngân hàng sẽ rơi vào tình trạng thừa vốn Do đó, chỉ tiêu này chỉ mang tính tương đối giúp so sánh khả năng cho vay và huy động vốn của ngân hàng
Vì vậy, khi xem xét ảnh hưởng của chỉ tiêu này tới chất lượng cho vay của ngân hàng,
Trang 301.3.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng cho vay của ngân hàng
Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng cho vay là những nhân tố gây ra sự biến động tốt hay xấu của các chỉ tiêu đánh giá chất lượng cho vay Có nhiều nhân tố, chủ quan và khách quan, nhân tố bên trong và bên ngoài Có thể phân thành các nhóm nhân tố sau:
1.3.4.1 Nhân tố về phía ngân hàng
Chính sách tín dụng của ngân hàng
Chính sách tín dụng là một hệ thống các biện pháp liên quan đến việc khuyếch trương hoặc hạn chế tín dụng nhằm đặt được các mục tiêu của các ngân hàng Với ý nghĩa như vậy rõ ràng chính sách tín dụng tác động rất lớn đến chất lượng cho vay của ngân hàng Trước hết về mặt quy mô tín dụng nếu chính sách tín dụng của ngân hàng trong thời kỳ nào đó hạn chế cho vay thì có nghĩa là quy mô tín dụng đã bị thu hẹp Đó
có thể là dấu hiệu cho thấy chất lượng cho vay của ngân hàng đang có vấn đề Ngoài
ra, chính sách tín dụng của ngân hàng còn bao gồm một loạt các vấn đề như: quy định
về điều kiện; tiêu chuẩn tín dụng đối với khách hàng; lĩnh vực tài trợ; biện pháp đảm bảo tiền vay; quy trình quản lý tín dụng, lãi suất cho vay tác động trực tiếp hay gián tiếp đến chất lượng cho vay Nếu chính sách tín dụng được xây dựng và thực hiện một cách khoa học và chặt chẽ thì sẽ hứa hẹn một chất lượng cho vay tốt Còn ngược lai, nếu việc xây dựng và thực hiện chính sách tín dụng không hợp lý thì chắc chắn chất lượng cho vay nói riêng của ngân hàng sẽ không cao
Định hướng chiến lược phát triển của ngân hàng
Nếu như ngân hàng không có định hướng rõ ràng trong việc phát triển hoạt động cho vay, không có các chính sách phân bổ nguồn vốn hợp lý cho hoạt động này thì chắc chắn thì ngân hàng không thể hoạt động có hiệu quả và chất lượng cho vay sẽ không như mong muốn Chẳng hạn một ngân hàng với định hướng phát triển các dịch
vụ ngân hàng bán lẻ thì sẽ tập trung chủ yếu vào các đối tượng khách hàng là các DNVVN, cùng với các tầng lớp trung lưu trong xã hội Từ đó, các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng tập trung thoả mãn nhu cầu của các đối tượng này
Thang Long University Library
Trang 3120
Quy mô và cơ cấu kỳ hạn nguồn vốn của ngân hàng
Hoạt động chính của ngân hàng thương mại là tìm kiếm các khoản vốn (huy động vốn) để sử dụng nhằm thu lợi nhuận Do muốn cho vay được thì điều kiện trước tiên là ngân hàng phải có vốn Cho vay mang lại thu nhập khá lớn cho ngân hàng, còn nguồn vốn liên quan tới chi phí chủ yếu của ngân hàng - chi phí trả lãi Quy mô huy động càng tăng thì quy mô và hoạt động cho vay càng được mở rộng, khả năng sinh lời càng lớn và ngược lại Vì vậy các ngân hàng có thể theo đổi lãi suất huy động cao
để tìm kiếm các nguồn tiền với quy mô lớn, nỗ lực tiềm kiếm các nguồn tiền với chi phí thấp Do phải đảm bảo khả năng thanh toán thường xuyên, cũng như đảm bảo khả năng an toàn và sinh lời trong hoạt động, ngân hàng luôn phải có chiến lược huy động nguồn vốn với quy mô và cấu trúc nhất định, cần được phân bổ thành các tài sản sinh lời thích hợp (các món vay) Các nguồn vốn mà ngân hàng có thể sử dụng để cho vay bao gồm: vốn tự có của ngân hàng, vốn vay trung và dài hạn trong và ngoài nước, vốn huy động ngắn hạn,vốn huy động trung dài hạn, vốn uỷ thác Quy mô các nguồn này là một trong những nhân tố quyết định quy mô cho vay và do đó ảnh hưởng đến chất lượng cho vay của ngân hàng Nếu một ngân hàng có nguồn vốn dồi dào cũng dễ dàng hơn trong việc tạo lập uy tín đối với khách hàng, nhờ đó thu hút được nhiều khách
hàng hơn
N ng lực của ngân hàng
Năng lực của ngân hàng trong việc thẩm định dự án, thẩm định khách hàng Một trong những tiêu chí đánh giá chất lượng cho vay của ngân hàng là vốn và lãi phải được trả đúng kỳ hạn Điều này không thể có được nếu như hoạt động kinh doanh, dự
án đầu tư của khách hàng không đạt hiệu quả như mong muốn, hoặc khách hàng không
có thiện chí, cố tình lừa đảo ngân hàng Để hạn chế nguy cơ đó ngân hàng cần thực hiện tốt công tác thẩm định dự án, thẩm định khách hàng Làm được như vậy sẽ giúp ngân hàng lựa chọn được chính xác khách hàng tin cậy, những dự án thực sự khả thi
và đó là tiền đề để nâng cao chất lượng cho vay của ngân hàng
Thông tin tín dụng
Thông tin tín dụng luôn là yếu tố cơ bản cần thiết cho công tác quản lý dù ở bất
kỳ lĩnh vực nào Trong hoạt động cho vay ngân hàng cũng vậy, để thẩm dịnh dự án, thẩm định khách hàng trước tiên phải có thông tin về khách hàng đó, về dự án đó, để làm tốt công tác giám sát sau khi cho vay cũng cần thông tin Thông tin càng chính xác, kịp thời càng thuận lợi cho ngân hàng trong việc đưa ra quyết định cho vay, theo dõi việc sử dụng vốn vay và tiến độ trả nợ Thông tin chính xác kịp thời đầy đủ còn giúp ngân hàng xây dựng hoặc điều chỉnh kế hoạch kinh doanh, chính sách tín dụng một cách linh hoạt cho phù hợp với tình hình thực tế Tất cả những điều đó góp phần nâng cao chất lượng cho vay cho ngân hàng
Trang 3221
N ng lực giám sát và xử lý các t nh huống tín dụng của ngân hàng
Cho dù công tác thẩm định dự án, thẩm định khách hàng được tiến hành tốt, giúp cho ngân hàng lựa chọn được những khách hàng tốt, những dự án khả thi có khả năng sinh lời cao Tuy nhiên, đó chưa phải là sự bảo đảm chắc chắn để có được chất lượng cho vay cao, đặc biệt đối với các khoản vay có thời hạn dài Bởi lẽ hoạt động SXKD trong thời gian dài luôn chứa đựng những rủi ro tiềm ẩn không thể lường trước Bản thân dự án trong quá trình thực hiện cũng nảy sinh những tình huống ngoài dự kiến Chính vì vậy mà công tác giám sát, xử lý tình huống tín dụng khi cho vay có ý nghĩa rất quan trọng
Công nghệ ngân hàng, trang thiết bị kỹ thuật
Trong thời đại khoa học kỹ thuật phát triển, đặc biệt là công nghệ áp dụng trong ngành ngân hàng hiện nay Một ngân hàng sử dụng công nghệ hiện đại, được trang bị các phương tiện kỹ thuật chất lượng cao sẽ tạo điều kiện đơn giản hoá các thủ tục, rút ngắn thời gian giao dịch, đem lại sự tiện ích tối đa cho khách hàng vay vốn Đó là điều kiện để ngân hàng thu hút thêm khách hàng, mở rộng hoạt động cho vay Sự hỗ trợ của các phương tiện kỹ thuật hiện đại còn giúp cho việc thu thập thông tin nhanh chóng chính xác, công tác lập kế hoạch, xây dựng chính sách cho vay cũng có hiệu quả hơn
Chất lƣợng nhân sự và quản lý nhân sự của ngân hàng
Cho dù khoa học kỹ thuật có hiện đại đã mở ra một thời đại tự động hoá nhiều lĩch vực song nhân tố con người vẫn giữ vai trò quyết định Đặc biệt hoạt động của ngân hàng là hoạt động rất phức tạp, có liên quan đến nhiều vấn đề của đời sống xã hội thì vai trò của con người càng quan trọng Các phương tiện kỹ thuật hiện đại chỉ có thể trợ giúp chứ không thể thay thế được sự nhạy cảm hay kinh nghiệm của đội ngũ cán
bộ ngân hàng Do vậy vấn đề nhân sự là một vấn đề cực kỳ quan trọng đối với ngân hàng và ngân hàng cần phải làm tốt từ khâu tuyển dụng đến khâu đào tạo để có được đội ngũ nhân sự và đội ngũ quản lý tốt nhất
1.3.4.2 Nhân tố thuộc về khách hàng
Khả n ng đáp ứng các điều kiện, tiêu chuẩn của ngân hàng
Để đảm bảo an toàn và tránh rủi ro khi cho vay, các NHTM thường đặt ra các điều kiện, tiêu chuẩn riêng nhằm phân loại, chọn ra những khách hàng có thể cho vay hay không thể cho vay Chỉ những khách hàng nào đáp ứng đủ yêu cầu của ngân hàng mới được xem xét cho vay Những điều kiện, tiêu chuẩn này có thể khác nhau tuỳ thuộc vào từng ngân hàng cụ thể, song nhìn chung các ngân hàng thường tập trung xem xét các vấn đề cụ thể sau: tính hợp lý, tính hợp pháp của mục đích sử dụng vốn; năng lực tài chính; năng lực SXKD của doanh nghiệp; tính khả thi của dự án; các biện pháp bảo đảm Rõ ràng khả năng của khách hàng trong việc đáp ứng các điều kiện, tiêu chuẩn sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cho vay của ngân hàng Bởi nếu đa
Thang Long University Library
Trang 3322
số các khách hàng không thể đáp ứng được các yêu cầu của ngân hàng, có thể do điều kiện vay quá khắt khe, không thực tế hoặc do khả năng của khách hàng quá thấp, thì ngân hàng không thể mở rộng cho vay trong khi vẫn bảo đảm an toàn tín dụng
Khả n ng của khách hàng trong việc sử dụng vốn vay có hiệu quả
Việc sử dụng vốn vay có hiệu quả nó biểu hiện ở khả năng thích ứng trong sản xuất kinh doanh và đầu tư của khách hàng với nhu cầu thị trường, ở khối lượng sản phẩm và doanh thu mang lại, cũng có nghĩa là việc kinh doanh của khách hàng sẽ dễ dàng hơn trong việc chiếm lĩnh thị trường, chiến thắng trong cạnh tranh
Năng lực công nghệ của các đơn vị kinh tế được tạo nên bởi trình độ trang thiết bị; trình độ tay nghề, kiến thức khoa học công nghệ Năng lực công nghệ cao cho phép thực hiện hiệu quả hoạt động SXKD, đồng thời dễ dàng hơn trong việc tiếp thu công nghệ tiên tiến từ bên ngoài đưa vào
Năng lực quản lý của doanh nghiệp bao gồm chất lượng nhân sự quản lý, sự phối hợp giữa các thành viên trong ban quản lý nhằm xây dựng một cơ cấu tổ chức tối
ưu trong doanh nghiệp, cho phép tận dụng tối đa nguồn tài lực, vật lực của doanh nghiệp để đạt được mục đích kinh doanh cao nhất Trong điều kiện nền kinh tế thị trường cạnh tranh gay gắt và đầy biến động thì vai trò của công tác quản lý của doanh nghiệp càng quan trọng, bởi trong điều kiện đó đòi hỏi hoạt động của doanh nghiệp phải thường xuyên được điều chỉnh để thích ứng với những biến động của môi trường kinh doanh, của chính bản thân doanh nghiệp Nâng cao uy tín và vị thế của doanh nghiệp mình trên thị trường Khách hàng càng có khả năng tiếp cận với nguồn vốn vay ngân hàng dễ dàng hơn, với quy mô và lãi suất ưu đãi hơn Do đó chất lượng của khoản vay được bảo đảm hơn
Đạo đức và thiện chí của khách hàng
Trong quan hệ cho vay muốn có hiệu quả cao đòi hỏi phải có sự hợp tác từ cả hai phía người cho vay và người đi vay Nếu như khách hàng không có thiện chí thì sẽ rất khó khăn cho ngân hàng trong việc thu hồi nợ Sự thiếu thiện chí của khách hàng
có thể biểu hiện trực tiếp trong quan hệ đi vay với ngân hàng như: cố tình sử dụng vốn sai mục đích, tìm cách lừa đảo ngân hàng, hoặc cũng có thể các hành vi gián tiếp ảnh hưởng tới chất lượng cho vay của ngân hàng như kinh doanh trái pháp luật, lừa đảo chiếm dụng vốn lẫn nhau Tất cả những hành vi đó đều có thể mang lại rủi ro cho ngân
hàng
1.3.4.3 Các nhân tố thuộc về môi trường vĩ mô và đối thủ cạnh tranh
Môi trường kinh tế
Nghiên cứu sự ảnh hưởng của môi trường kinh tế đến hoạt động của ngân hàng
sẽ thấy được ảnh hưởng của nó đến chất lượng cho vay của ngân hàng Bất kỳ một ngân hàng nào cũng chịu sự chi phối của những chu kỳ kinh tế Trong giai đoạn nền
Trang 3423
kinh tế đang hưng thịnh thì các doanh nghiệp làm ăn phát đạt, xuất hiện nhu cầu mở rộng sản xuất, thu nhập xã hội tăng kéo theo nhu cầu tiêu dùng xã hội cũng tăng cao, nên nhu cầu đi vay cũng tăng, hoạt động cho vay của ngân hàng sẽ phát triển Trong giai đoạn nền kinh tế suy thoái thì tất yếu nhu cầu đi vay sẽ giảm, khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế bị giảm sút, lúc này ngân hàng sẽ dư thừa , ứ đọng một lượng vốn lớn, nguồn vốn huy động được sử dụng không hiệu quả có nghĩa là chất lượng cho vay
bị giảm sút
Những sự biến động về lãi suất, tỷ giá trên thị trường cũng ảnh hưởng trực tiếp đến lãi suất của ngân hàng, dẫn đến ảnh hưởng đến mức lãi ròng của khoản cho vay Tác động của môi trường kinh tế có thể làm tăng hoặc giảm quy mô hoạt động tín dụng nói chung và hoạt động cho vay nói riêng Đồng thời ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng cho vay của ngân hàng
Môi trường pháp lý
Môi trường pháp lý được biểu hiện là hệ thống luật và các văn bản pháp quy liên quan đến hoạt động của ngân hàng nói chung và hoạt động cho vay nói riêng Hiên nay dù đã trải qua nhiều sửa đổi và mở rộng quyền hạn cho các NHTM song hệ thống văn bản pháp luật còn chưa đồng bộ, gây khó khăn cho ngân hàng khi ký kết, thực hiện các hợp đồng tín dụng Bên cạnh đó, luật ngân hàng còn nhiều sơ hở, chưa đồng bộ với các quy định, văn bản dưới luật Điều này ảnh hưởng đến việc quản lý chât lượng cho vay của các ngân hàng
Sự thay đổi chủ trương chính sách của nhà nước cũng gây ảnh hưởng tới khả năng trả nợ vay của các doanh nghiệp Nhất là cơ cấu kinh tế, chính sách xuất nhập khẩu, do thay đổi đột ngột gây sáo trộn trong hoạt động SXKD của doanh nghiệp Doanh nghiệp không tiêu thụ được sản phẩm hay chưa có phương án sản xuất kinh doanh có hiệu quả dẫn đến nợ quá hạn, nợ khó đòi
Quản lý của nhà nước về hoạt động SXKD của các đơn vị kinh tế còn có nhiều
sơ hở dẫn đến rủi ro, thua lỗ, làm giảm sút chất lượng cho vay của ngân hàng
Môi trường v n hoá - xã hội
Môi trường văn hoá - xã hội có ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động cho vay Thói quen, tâm lý, phong tục tập quán, trình độ dân trí có tác động tới nhu cầu sử dụng và tiếp cận đối với các dịch vụ của ngân hàng, tác động tới quyết định vay và sử dụng vốn của khách hàng Nếu người dân e ngại việc vay vốn ngân hàng do tâm lý sợ nợ nần thì
sẽ làm giảm doanh số cho vay hoặc do dân trí ở địa bàn đấy thấp việc sử dung vốn vay ngân hàng kém hiệu quả dẫn đến không có khả năng trả nợ vay gây tổn thất cho ngân hàng
Thang Long University Library
Trang 3524
Các đối thủ cạnh tranh
Ngành ngân hàng đang phát triển rất sôi động Nhiều NHTM, các chi nhánh, phòng giao dịch (PGD) mới được thành lập trên khắp toàn quốc Sự cạnh tranh càng trở nên khốc liệt, nó có ảnh hưởng đến thị phần cho vay của mỗi ngân hàng Năng lực cạnh tranh của ngân hàng thể hiện vị thế và uy tín của ngân hàng Đặc biệt là các ngân hàng lớn, với tiềm lực vốn mạnh, thị trường lớn, các mối quan hệ lâu dài với khách hàng Do vậy trong môi trường cạnh tranh mạnh mẽ và khốc liệt như hiện nay, mỗi ngân hàng trong quá trình phát triển đều phải xác định chỗ đứng của mình để có được những chiến lược phát triển đúng đắn
Trang 3625
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chương 1 đã làm rõ cơ sở lý luận về về chất lượng cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng thương mại Nội dung chương 1 đã nêu rõ vai trò quan trọng của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế quốc dân và vai trò của loại hình doanh nghiệp này còn quan trọng hơn đối với các hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại Việc các ngân hàng thương mại chú ý tới các hoạt động cho vay đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ mang lại lợi nhuận cao cho các ngân hàng
và đây cũng là cơ sở để khóa luận đi sâu, làm rõ thực trạng chất lượng cho vay đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại chi nhánh ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam – BIDV Từ Sơn tại chương 2
Thang Long University Library
Trang 372.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của chi nhánh ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam – BIDV Từ Sơn
Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam chi nhánh Từ Sơn có trụ sở tại số Số
368 Trần Phú, Đông Ngàn, Từ Sơn, Bắc Ninh Chi nhánh ngân hàng được thành lập tháng 9/2006, là chi nhánh cấp 2 của ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam tại Bắc Ninh
- Tên giao dịch: Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Từ Sơn
- Tên quốc tế: Vietnam Joint Stock Commercial Bank for Investment and Development of Tu Son
- Trụ sở: Số 368 Trần Phú, Đông Ngàn, Từ Sơn, Bắc Ninh
- Mã số thuế của ngân hàng: 0100150619
Trước năm 1982 ngân hàng mang tên ngân hàng kiến thiết Hà Bắc và có nhiệm
vụ nhận vốn từ ngân sách nhà nước để tiến hành phân phát và cho vay trong lĩnh vực xây dựng cơ bản
Đến năm 1982, ngân hàng được đổi tên thành ngân hàng đầu tư và xây dựng Hà Bắc và ngân hàng nằm trong hệ thống ngân hàng đầu tư và xây dựng Việt Nam
Tháng 5 năm 1990, hai pháp lệnh về ngân hàng được ban hành đó là: Pháp lệnh ngân hàng nhà nước Việt Nam và Pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng công ty tài chính Hai pháp lệnh được ban hành với mục đích hoàn thiện hệ thống ngân hàng của Việt Nam cho phù hợp với cơ chế thị trường đang xây dựng
Theo quyết định số 401 ngày 14/11/1991 của chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam đã được thành lập và có trụ sở tại 194 Trần Quang Khải, Hà Nội, với vốn điều lệ là 200 tỷ đồng và có các chi nhánh trực thuộc tại các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung Ương Đến 1995 toàn bộ vốn cấp phát được bàn giao sang Cục Đầu tư phát triển trực thuộc bộ tài chính
Sau ngày 01 tháng 01 năm 1995 ngân hàng đầu tư và phát triển Hà Bắc được phép huy động các nguồn ngắn, trung và dài hạn từ các cá nhân và thành phần kinh tế để cho vay ngắn, trung và dài hạn các cá nhân và các tổ chức kinh tế
Theo quyết định số 265 của Hội đồng quản trị ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam ngày 20/12/1996 về việc thành lập chi nhánh ngân hàng đầu tư và phát triển Bắc Ninh
Trang 3827
Ngày 01 tháng 01 năm 1997 chi nhánh ngân hàng Bắc Ninh được tách riêng thành chi nhánh cấp hai trực thuộc trực tiếp ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam Đến nay chi nhánh ngân hàng đầu tư và phát triển Từ Sơn đã có thêm hai PGD là Châu Khê và Đồng Quang
Một điều dễ nhận thấy là ngân hàng đầu tư và phát triển Hà Bắc từ ngày thành lập đến năm 1995 chỉ hoạt động như một ngân hàng quốc doanh có nhiệm vụ nhận vốn
từ ngân sách nhà nước và tiến hành cấp phát cho vay trong lĩnh vực xây dựng cơ bản
Từ 1995 chi nhánh đã thực sự hoạt động như một ngân hàng thương mại thực sự Và chi nhánh ngân hàng không ngừng mở rộng và phát triển lớn mạnh, dần chiếm lĩnh thêm thị phần khác ngoài thị phần chủ yếu là các doanh nghiệp xây dựng cơ bản
2.1.2 Tổng quan về chi nhánh ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam – BIDV
- Đại học: 26 người chiếm 27,1%
- Cao đẳng, trung cấp, sơ cấp: 26 người chiếm 27,1%
- Cán bộ tín dụng: 17 người chiếm 17,7%
- Cán bộ kế toán – ngân quỹ: 17 người chiếm 17,7%
- Cán bộ tổ chức hành chính kiểm tra: 4 người chiếm 4,2%
- Lãnh đạo: 6 người chiếm 6,2%
Thang Long University Library