PHẦN MỞ ĐẦU Không lúc nào như thời gian từ đầu năm 2008 đến nay, vấn đề lạm phát và tăng trưởng thu hút sự quan tâm của nhiều giới khác nhau: từ người dân thường mỗi ngày khi ra chợ có c
Trang 1Tiểu luận
Tóm lược mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế
Trang 2I PHẦN MỞ ĐẦU
Không lúc nào như thời gian từ đầu năm 2008 đến nay, vấn đề lạm phát và tăng trưởng thu hút sự quan tâm của nhiều giới khác nhau: từ người dân thường mỗi ngày khi ra chợ có cảm nhận như mình bị móc túi; các chủ doanh nghiệp phải vật lộn với những toan tính từ chi phí vật tư, hàng hoá, dịch vụ, lương công nhân đến giá thành, giá bán, thị trường cung cấp vật tư, hàng hoá và tiêu thụ sản phẩm; các chủ nhà băng tính toán lãi suất huy động và cho vay như thế nào vừa để thu hút tiền gửi của người gửi tiền và người vay vốn có thể chấp nhận với lãi suất cao hơn; các nhà lập pháp, hành pháp và hoạch định chính sách đau đầu về những đơn thuốc chữa trị cho nền kinh tế khi lâm vào bão bệnh “lạm phát cường độ cao”, hậu quả là tăng trưởng bị suy giảm, đời sống nhân dân, nhất là người nghèo, người có thu nhập thấp gặp khó khăn; trong dài hạn, Chính phủ lại lo ngại khi tăng trưởng kinh tế bị suy giảm gây hậu quả giảm phát, làm cho đời sống c ủa c ác tầng lớp dân cư càng gặp khó khăn hơn, sức mua giảm dẫn đến kinh tế bị suy thoái, những ảnh hưởng tiêu cực từ khủng hoảng tài c hính
từ nước Mỹ và toàn cầu đang tác động xấu đến nền kinh tế nước ta, thị trường xuất khẩu hàng hoá bị giảm sút, vốn đầu tư gián tiếp có nguy cơ bị rút khỏi thị trường chứng khoán, vốn đầu tư trực tiếp không thực hiện được như cam kết Để kích thích nền kinh tế, trong lúc tích luỹ của nền kinh tế, dự trữ ngân sách, dự trữ ngoại hối c ủa nước ta còn rất hạn hẹp, Nhà nước ta không đủ nguồn lực để cung cấp c ác gói kích thích nền kinh tế như các nước phát triển hoặc như Trung Quốc, Ấn Độ với hàng trăm
tỷ đô la; Nhà nước chỉ có những khoản kích thích bằng tăng vốn đầu tư trực tiếp c ho sản xuất nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, trợ cấp bằng tăng các khoản cho vay, giảm thuế, giảm lãi suất cho vay, tăng lương hoặc giảm giờ làm việc, giảm giá hàng hoá, dịch vụ hoặc tăng trợ cấp cho các đối tượng c hính sách
Trang 3II CÁC ĐỊNH NGHĨA VỀ LẠM PHÁT VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
1 Lạm phát
1.1 Khái niệm
Bản thân tiền g iấy không có giá tr ị nội tại mà chỉ mang g iá tr ị danh ngh ĩa Do đó, khi
có hiện tượng thừa tiền giấy trong lưu thông thì người ta không có xu hướng giữ lại trong tay mình những đồng tiền bị mất giá và lượng tiền thừa sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất và lưu thông hàng hóa
Nhiều nhà kinh tế đã đi tìm một định nghĩa đúng cho thuật ngữ lạm phát (inflation), nhưng nói chung chưa có một sự thống nhất hoàn toàn Quan điểm cổ điển cho rằng lạm phát xảy ra khi số tiền lưu hành vượt quá dự trữ vàng làm đảm bảo c ủa ngân hàng phát hành Cụ thể người ta dự vào tỷ lệ đảm bảo c ủa tiền tệ để xem xét c ó lạm phát hay không Chẳng hạn nếu pháp luật ấn định rằng tỷ lệ đảm bảo tối thiểu của tiền tệ 40%, khi tỷ lệ đó xuống dưới mức pháp định tức là ngân hàng đã phát hành tiền quá mức Quan điểm này coi trọng cơ sở đảm bảo của tiền Trong thực tế, có những trường hợp tỷ lệ đảm bảo pháp định vẫn được tôn trọng nhưng giá cả của hàng hóa đều lên cao Nước Đức năm 1934 đã tránh được nạn lạm phát mặc dù tỷ lệ đảm bảo của đồng Mark xuống dưới 2%
Quan điểm khác cho rằng lạm phát là sự mất c ân đối giữa tiền và hàng trong nền kinh
tế Có thể tóm tắt trong phương trình Fisher: M.V=P Y Nếu tổng khối lượng t iền lưu hành (M) tăng thêm trong khi tổng lượng hàng hóa – dịch vụ được trao đổi (Y) giữ vững, tất nhiên mức giá trung bình (P) phải tăng Và nếu thêm vào đó tốc độ lưu thông tiền tệ (V) tăng thì P lại tăng rất nhanh Để khắc phục tình trạng này cần dùng biện pháp thích hợp để thiết lập lại cân đối giữa tiền và hàng trong nền kinh tế
Quan điểm tĩnh về lạm phát nêu trên tuy giúp ta hiểu rõ về lạm phát, nhưng không cho biết nguyên nhân của lạm phát và khiến cho ta lầm tưởng lạm phát cao là kết quả của việc tăng trưởng mức cung tiền tệ cao Thật ra trong nhiều trường hợp không hẳn
là như vậy, nhà nước có thể tăng cung ứng tiền tệ mà không làm cho giá cả tăng,
Trang 4không gây ra lạm phát, nếu như khối lượng tăng đó phù hợp với khối tiền cần thiết cho lưu thông, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế
Lại có quan điểm cho rằng lạm phát là sự tăng giá của các loại hàng hóa (tư liệu tiêu dùng, tư liệu sản xuất và hàng hóa sức lao động) Lạm phát xảy ra khi mức chung của giá cả và chi phí tăng Theo quan điểm này thì giá cả tăng lên cho dù bất kỳ nguyên nhân nào đều là lạm phát Lạm phát và giá cả tăng đều c ùng một ý nghĩa Thật ra giá
cả đồng loạt tăng lên chỉ là một trong những biểu hiện cơ bản c ủa lạm phát mà thôi
Vậy tóm lại lạm phát là gì? Lạm phát là hiện tượng tiền trong lưu thông vượt
quá nhu cầu cần thiết làm cho chúng bị mất giá, giá cả của hầu hết các lại hàng hóa tăng lên đồng loạt
1.2 Các nguyên nhân gây ra lạm phát
- Sự bất cập và kém hiệu quả của các c hính sách điều tiết vĩ mô: như phát hành tiền quá mức nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của chính phủ làm tăng dư cầu tổng quát
- Chi phí sản xuất trong nước gia tăng: chi phí quản lý, tiền lương lao động, nguyên liệu, vật tư
- Các điều kiện quốc tế làm xuất hiện t́nh trạng lạm phát xuất khẩu: chiến tranh, khủng hoảng kinh tế khu vực
- Thiên tai, lũ lụt, hạn hán, động đất, khiến cung sụt giảm đột ngột so với c ầu
- Hơn nữa trên thế giới đang nổi lên nguy cơ gây ra lạm phát găn với kỹ thuật tiền tệ điện tử, một thực tiễn mới mẻ của sự phát triển kinh tế và kỹ thuật hiện đại Việc phổ cập rộng răi hai dạng tiền điện tử hiện nay là thẻ thông minh ( chiếc thẻ nhựa cất giữ và thay thế một lượng tiền nhất định c ho trước) và tiền
kỹ thuật số tức là chiếc đĩa c ứng của máy điện toán dùng trên mạng internet để thanh toán các giao dịch lớn và sẽ thay thế cho tiến séc trong tương lai sẽ gây ra một số lo ngại
- Ngoài ra còn có thể có những nguyên nhân khác đi liền với nộ i c hiến, đấu tranh chính trị và cái gọi là kỳ vọng về lạm phát
Trang 51.3 Phân loại lạm phát
a Căn c ứ vào định lượng gồm:
- Lạm phát vừa phải Còn gọi là lạm phát một con số ,có tỷ lệ lạm phát dưới 10% một năm Lạm phát vừa phải làm cho giá cả biến động tương đối Trong thời kì này nền kinh tế hoạt động một cách bình thường ,đời sống của người lao động ổn định Sự
ổn định đó được biểu h iện : Giá cả tăng chậm ,lãi xu ất tiền gử i không c ao ,không xảy
ra tình trạng mua bán và tíc h trữ hàng hoá với số lượng lớn …
Có thể nói đây là mức lạm phát mà nền kinh tế chấp nhận được ,những tác động của nó là không đáng kể Mặt khác ,lạm phát vừa phải tạo tâm lý an tâm cho người lao động chỉ trông chờ vào thu nhập Trong thời gian này ,các hãng kinh doanh
có khoản thu ổn định ,ít rủi ro và sẵn sàng đầu tư cho sản xuất kinh doanh
- Lạm phát phi mã lạm phát xảy ra khi giá cả tăng tương đối nhanh với tỷ lệ 2 con số 1 năm Ở mức 2 con số thấp :11,12% thì nói chung các tác động tiêu cực không đán kể và nền kinh tế vẫn có thể c hấp nhận được Nhưng khi tăng đến hai chữ
số cao thì lạm phát sẽ làm cho giá cả chung tăng lên nhanh c hóng ,gây biến động lớn
về kinh tế ,các hợp đồng được chỉ số hoá Lúc này người dân tích trữ hàng hoá ,vàng bạc ,bất động sản và không bao giờ cho vay tiền ở mức lãi xuất bình thường Như vậy lạm phát sẽ làm ảnh hưởng xấu đến sản xuất và thu nhập vì những tác động tiêu cực của nó không nhỏ Bên cạnh đó lạm phát phi mã còn là mối đe doạ đối với sự ổn định của nền kinh tế
- Siêu lạm phát 3 con số một năm xảy ra khi lạm phát đột biến tăng lên với tốc
độ rất nhanh ,tỷ lệ lạm phát cao Tốc độ và tỷ lệ siêu lạm phát vượt xa lạm phát phi
mã ,nó như một căn bệnh chết người ,tốc độ lưu thông tiền tệ tăng kinh khủng ,giá cả tăng nhanh và không ổn định ,tiền luơng thục tế của người lao động bị giảm mạnh ,tiền tệ mất giá nhanh chóng ,thông tin không còn chính xác ,các yếu tố thị trường biến dạng và hoạt động sản xuất khin doanh lâm vào tình trạng rối loạn ,mất phương hướng Tóm lại ,siêu lạm phát làm cho đời sống và nền kinh tế suy sụp một cách nhanh chóng Tuy nhiên siêu lạm phát rất ít xảy ra
Trang 6b Căn cứ vào định tính
- Lạm phát cân bằng và lạm phát không cân bằng
Lạm phát cân bằng Tăng tương ứng với thu nhập thực tế của người lao động ,tăng phù hợp với hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Do đó không gây ảnh hưởng đến đời sống hàng ngày của người lao động và dến nền kinh tế nói c hung Lạm phát không cân bằng Tăng không tương ứng với thu nhập của người lao động.Trên thực tế loại lạm phát này cũng thường hay xảy ra
- Lạm phát dự đoán trước được và lạm phát bất thường
Lạm phát dự đoán trước là loại lạm phát xảy ra hàng năm trong một thời kì tương đối dài và tỷ lệ lạm phát ổn định đều đặn Loại lạm phát này có thể dự đoán trước được tỷ lệ của nó trong các năm tiếp theo.Về mặt tâm lý ,người dân đã quen với tình trạng lạm phát đó và đã có sự chuẩn bị trước Do đó không gây ảnh hưởng đến đời sống ,đến kinh tế
Lạm phát bất thường xảy ra đột biến mà có thể từ trước chưa xuất hiện Loại lạm phát này ảnh hưởng đến tâm lý ,đời sống người dân vì họ chưa kịp thích nghi Từ
đó mà loại lạm phát này sẽ gây ra biến động đối với nền kinh tế và n iềm t in c ủa nhân dân vào chính quyền có phần giảm sút
Trong thực tế lịch sử c ủa lạm phát c ho thấy lạm phát ở nước ta đang phát triển thường diễn ra trong thời gian dài ,vì vậy hậu quả của nó phức tạp và trầm trọng hơn Và các nhà kinh tế đã chia lạm phát thành 3 loại với tỷ lệ khác nhau : lạm phát kinh liên kéo dài trên 3 năm với tỷ lệ lạm phát dưới 50% một năm ,lạm phát nghiêm trọng thường kéo dài hơn 3 năm với tỷ lệ lạm phát trên 50% và siêu lạm phát kéo dài trên một năm với tỷ lệ lạm phát trên 200% một năm
2 Tăng trưởng kinh tế
1.1 Khái niệm:
Tăng trưởng kinh tế là sự tăng lên về quy mô sản lượng của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm) Đó là sự gia tăng quy mô sản lượng nhanh hay chậm so với thời điểm gốc
Trang 7Chỉ tiêu chính biểu hiện mức tăng trưởng kinh tế là tỷ lệ tăng GDP hoặc GNP của thời kỳ sau so với thời kỳ trước: [(GNP1-GNP0)/GNP0].100%
1.2 Vai trò của tăng trưởng kinh tế:
- Có vai trò quan trọng đối với mỗi quốc gia Nó là biểu hiện cần thiết đầu tiên
để khắc phục tình trạng đói nghèo, lạu hậu; để cải thiện và nâng c ao chất lượng c uộc sống
- Là đ iều kiện để tạo thêm việc làm, giảm thất nghiệp và nâng cao mức sống của
nhân dân
- Là tiền đề vật chất để củng cố an ninh quốc phòng của mỗi quốc gia Tuy vai trò của tăng trưởng kinh tế là hết sức quan trọng, nhưng cần phải tăng trưởng hợp lý Tăng trưởng phù hợp với khả năng của đất nước ở từng thời kỳ nhất định Tránh tình trạng tăng trưởng kinh tế ở trạng thái quả nóng, quá thấp Vì vậy, cần tăng trưởng kinh tế hợp lý tức là phù hợp với khả năng của đất nước trong thời kỳ nhất
định
1.3 Các nhân tố tăng trưởng kinh tế :
Tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào nhiều yếu tố, song các nhân tố cơ bản là:
a Vốn:
- Là toàn bộ của cải vật chất do con người tạo ra được tích luỹ lại cộng với tài nguyên thiên nhiên
- Vốn được thể hiện dưới nhiều hình thức: Hiện vật và tiền tệ
- Mối quan hệ giữa tăng GDP với tăng vốn đầu tư gọi là hiệu suất sử dụng vốn sản phẩm gia tăng ICOR Những nền kinh tế thành công thường là: Tằng 3% vốn đầu
tư thì tăng 1% GDP
- Vai trò của nhân tố vốn đối với tăng trưởng kinh tế không c hỉ thể hiện mức vốn đầu tư mà còn ở hiệu suất sử dụng vốn
b Con người
Trang 8- Là nhân tố cơ bản của tăng trưởng kinh tế bền vững Đó là con người có sức khỏe,
có trí tuệ, kỹ năng cao ý chí và nhiệt tình lao động, được tổ chức hợp lý Con người là nhân tố cơ bản c ủa tăng trưởng kinh tế bền vững vì:
Tài năng, trí tuệ của con người là vô tận Đây là yếu tố quyết định trong nền kinh tế trí thức Còn vốn tài nguyên thiên nhiên là hữu hạn
Con người sáng tạo ra kỹ thuật c ông nghệ, và sử dụng chúng để sản xuất Nếu không có con người c ác yếu tố này không thể tự phát sinh tác dụng
Vì vậy, phát triển giáo dục - đào tạo, y tế là để phát huy nhân tố con người
c Khoa học và công nghệ
- Kỹ thuật tiên tiến và công nghệ mới; nhất là công nghệ cao là động lực quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế Đây là nhân tố cho phép tăng trưởng kinh tế và tái sản xuất mở rộng theo chiều sâu
d Cơ cấu kinh tế
e Thể chế chính trị và quản lý nhà nước
- Đây là nhân tố quan trọng và có quan hệ với các nhân tố khác Thể chế chính trị
ổn định và tiến bộ cùng với sự quản lý có hiệu quả của nhà nước tạo điều kiện để tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững; khắc phục được những khuyết tật của các kiểu tăng trưởng kinh tế: gây ô nhiễm môi trường; phân hoá giầu nghèo
=>Muốn tăng trưởng kinh tế tốt phải đảm bảo thực hiện tốt các nhân tố trên Nhưng trong đó yếu tố con người và thể chế chính trị là hai nhân tố có vai trò to lớn, đặc biệt là nhân tố con người
III CÁC LÝ THUYẾT VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA LẠM PHÁT VÀ TĂNG
TRƯỞNG KINH TẾ
1 Mối quan hệ giữa tăng trưởng và lạm phát:
Hầu như tất cả các quốc gia trên thế giới đều theo đuổi bốn mục tiêu chung - tăng trưởng cao, lạm phát thấp, thất nghiệp ít, cán cân thanh toán có số dư Trong các mục
Trang 9tiêu này, tăng trưởng cao và lạm phát thấp là hai mục tiêu có tầm quan trọng hàng đầu, quan hệ chặt chẽ với nhau “khống chế” lẫn nhau
Muốn tăng trưởng cao hơn thì phải tăng đầu tư, tăng chi ngân sách, hạ lãi suất cho vay, kích cầu tiêu dùng, đẩy mạnh xuất khẩu, giảm nhập siêu… nhưng nếu làm như vậy thì lạm phát sẽ tăng Đó là chưa kể các yếu tố tác động bên ngoài như giá nhập khẩu tăng làm tăng chi phí đầu vào; hay các yếu tố thiên tai, dịch bệnh như đại hạn, bão lụt, dịch cúm gia cầm… vừa làm tăng chi phí đầu vào, vừa làm giảm nguồn cung, tăng chi ngân sách…
Muốn lạm phát thấp, thì phải thắt chặt chi ngân sách, thắt chặt đầu tư, tiêu dùng, tăng lãi suất cho vay, tăng dự trữ bắt buộc, giảm thuế suất thuế nhập khẩu… nhưng như thế thì tăng trưởng kinh tế sẽ không c ao Chính vì mối quan hệ này, trong khi không thể cùng thực hiện cả hai mục tiêu, muốn ưu tiên mục tiêu nào, các chuyên gia đã dùng các cụm từ “hy sinh mục tiêu tăng trưởng cho mục tiêu kiềm chế lạm phát” hay “hy sinh mục tiêu kiềm chế lạm phát cho mục tiêu tăng trưởng” để nói về chính sách kinh
tế - tài c hính của một nước
Mỹ trong thời gian khá dài đã thực thi chính sách hy sinh mục tiêu tăng trưởng cho mục tiêu kiềm chế lạm phát Sau hơn mười năm tăng trưởng liên tục khi kinh tế Mỹ bước vào chu kỳ suy thoái, nước Mỹ đã chuyển sang thực thi c hính sách hy sinh mục tiêu kiềm chế lạm phát cho mục tiêu tăng trưởng, mà biểu hiện rõ nhất là chỉ trong một năm đã liên tục 12 lần cắt giảm lãi suất từ 6,7% xuống chỉ còn 1%
Khi tăng trưởng kinh tế phục hồi và lạm phát có dấu hiệu tăng trở lại, nước Mỹ lại thực thi chính sách hy sinh mục tiêu tăng trưởng cho mục tiêu chống lạm phát với một trong những giải pháp cụ thể đã thực hiện là chỉ từ tháng 7-2004 đến nay đã tám lần liên tục nâng lãi suất từ 1% lên 3%, và theo dự đoán của nhiều chuyên gia, lãi suất của Mỹ sẽ còn tăng lên nữa, có thể đạt trên 4,5% vào cuối năm nay
Trang 10Trung Quốc sau 26 năm tăng trưởng liên tục với tốc độ cao - hiện giữ kỷ lục về thời gian tăng trưởng liên tục mà trước đó Hàn Quốc đã giữ với 23 năm - cũng đã muốn hạ bớt tốc độ tăng trưởng nóng và kiềm chế lạm phát, bằng việc giảm đầu tư sau mấy năm ở mức cao nhất thế giới (trên 44% so với GDP)
Trong thời gian gần đây, một số nhà kinh tế Việt Nam cho rằng, tỷ lệ lạm phát ở Việt Nam gần bằng tốc độ tăng trưởng kinh tế là tốt cho sự phát triển kinhh tế Phải chăng đấy là mức lạm phát tối ưu cho tăng trưởng kinh tế?
Giữa tăng trưởng kinh tế và lạm phát thường có mối quan hệ nhất định Tuy nhiên mức độ gắn kết như thế nào vẫn là vấn đề tranh c ãi Một số nghiên cứu theo lối kinh nghiệm cho thấy, lạm phát có thể tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế khi nó vượt qua một ngưỡng nhất định Mối quan hệ g iữa tăng trưởng kinh tế và lạm phát là phi tuyến tính
Fischer (1993) là người đầu t iên nh iên cứu vấn đề này với kết luận, khi lạm phát tăng
ở mức độ thấp mối quan hệ này có thể không tồn tại , hoặc thậm trí mang tính đồng biến, và lạm phát ở mức cao mối quan hệ này là nghịch biến Một số các nhà Nhiên cứu sau này như Sarel (1996), Gosh và philíp(1998), Shan và Senhadji(2001), và một
số các nhà nghiên cứu khác đã c ố gằng tìm ra đặc điểm đặc biệt về mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế Bằng các nghiên cứu khác nhau họ đã tìm ra một ngưỡng lạm phát, mà tại ngưỡng đó nếu lạm phát vượt ngưỡng sẽ có tắc động tiêu cực (tác động ngược chiều) đến tăng trưởng Sarel ngưỡng lạm phát là 8%,Shan và Senhadji ngưỡng lạm phát cho các nước đang phát triển là 11-12%, các nước công nghiệp khoảng 1-3% Gân đây nhất là nghiên cứu của tác giả Khan(2005) đã tập trung nghiên cứu xác định mức lạm phát tối ưu Kết quả Khan đã tìm ra mức lạm phát tối
ưu đối với các nước vùng Trung Đông và Trung Á là khoảng 3.2%
Sử dụng mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế, một số nước đã sử dụng lạm phát cao để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu kinh tế