SKKN Nâng cao hiệu quả giảng dạy bài lai một cặp tính trạng trong chương trình sinh học 9 THCS bằng phương pháp dạy học tích cực giải quyết vấn đề. SKKN Nâng cao hiệu quả giảng dạy bài lai một cặp tính trạng
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
PHÒNG GD&ĐT HUYỆN MƯỜNG LÁT
-SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
TÊN ĐỀ TÀI NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢNG DẠY BÀI LAI MỘT CẶP TÍNH TRẠNG TRONG CHƯƠNG TRÌNH SINH HỌC 9 THCS BẰNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC GIẢI
Trang 2MỤC LỤC Trang
Trang 3PHẦN A: MỞ ĐẦU 1
1 Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết: 3
2 Phương pháp điều tra khảo sát thực tế: 3
3 Phương pháp thu nhập thông tin: 3
4 Phương pháp thống kê, xử lý số liệu. 3
5 Phương pháp thực nghiệm sư phạm. 3
PHẦN B: NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 4
I Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm: 4
II Thực trạng của việc sử dụng phương pháp dạy học giải quyết
vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến sinh nghiệm trong quá trình
giảng dạy môn sinh học 9 ở trường thcs Nhi sơn.
5
3 Tình hình sử dụng các PPDH nói chung và phương pháp dạy
học giải quyết vấn đề nói riêng trong môn sinh học ở các trường
THCS trên địa bàn huyện Mường Lát
6
3.1 Tình hình sử dụng các PPDH trong môn Sinh học trên địa
bàn huyện Mường Lát.
6
3.2 Tình hình sử dụng phương pháp giảng dạy bài Lai một cặp
tính trạng trong chương trình Sinh học 9 THCS ở huyện Mường
Lát
7
3.3 Một số khó khăn gặp phải khi giảng dạy bài “Lai một cặp tính
trạng” của giáo viên:
1.2 Sử dụng phương pháp dạy học giải quyết vấn đề kết hợp với
phương pháp đàm thoại ơrixtic:
8
1.3 Sử dụng phương pháp dạy học giải quyết vấn đề kết hợp với
phiếu học tập.
9
2 Sơ lược về phương pháp dạy học giải quyết vấn đề: 9
3 Vận dụng phương pháp dạy học giải quyết vấn đề để giảng dạy
bài “Lai một cặp tính trạng” Sinh học 9 THCS.
11
IV Hiệu quả của việc sử dụng phương pháp dạy học giải quyết
vấn đề trong quá trình giảng dạy bài “Lai một cặp tính trạng”
sinh học 9 thcs.
17
Trang 42 Kết quả nghiên cứu: 18
Trang 5Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện; đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đến hoạt động quản trị của các cơ
sở giáo dục - đào tạo và việc tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội và bản
thân người học; đổi mới ở tất cả các bậc học, ngành học.
Trong quá trình đổi mới, cần kế thừa, phát huy những thành tựu, phát triển những nhân tố mới, tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm của thế giới; kiên quyết chấn chỉnh những nhận thức, việc làm lệch lạc Đổi mới phải bảo đảm tính hệ thống, tầm nhìn dài hạn, phù hợp với từng loại đối tượng và cấp học; các giải pháp phải đồng bộ, khả thi, có trọng tâm, trọng điểm, lộ trình, bước đi phù hợp.”
Đối với giáo dục trung học nghị quyết cũng nhấn mạnh: “Giáo dục phổ thông, tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời”.
Để đạt được mục tiêu này yêu cầu ngành giáo dục phải đổi mới mạnh mẽphương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động,sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ
áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyếnkhích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng,phát triển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức họctập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học
Mục đích của việc đổi mới phương pháp dạy học ở trường học phổ thông
là thay đổi lối dạy học truyền thụ một chiều sang phương pháp dạy học tích cực.PPDHTC được dùng với nghĩa là hoạt động, hướng tới việc tích cực hóa hoạtđộng nhận thức của học sinh, trong đó phải có sự hợp tác giữa thầy và trò Muốnđổi mới cách học, phải đổi mới cách dạy Muốn đổi mới cách dạy giáo viên phảitrang bị cho mình cho hệ thống kiến thức phù hợp với phương pháp dạy học tíchcực Để trang bị được những kiến thức đó giáo viên phải được bồi dưỡng đầy đủ
Trang 6về chuyên môn nghiệp vụ Có bản lĩnh sư phạm vững vàng đề phù hợp với mụctiêu đổi mới.
Theo quan điểm đó là một giáo viên trực tiếp giảng dạy môn Sinh học ởtrường THCS chúng tôi trên địa bàn huyện Mường Lát - Thanh Hóa, một môn
có rất nhiều kiến thức trừu tượng khó lĩnh hội, đặc biệt là các kiến thức mangtính quy luật Trong đó tập trung chủ yếu ở chương trình Sinh học lớp 9 Vì vậykhi giảng dạy giáo viên phải đẩy mạnh đổi mới phương pháp giảng dạy theohướng tích cực, lấy học sinh là trung tâm, tự tìm tòi và lĩnh hội kiến thức
Trong toàn bộ chương trình Sinh học 9 bài 2 “Lai một cặp tính trạng” là
bài mà giáo viên thường rất lúng túng, phân vân trong việc lựa chọn phươngpháp giảng dạy phù hợp Làm sao đó vừa phát huy tính tự học, tự nghiên cứucủa học sinh, vừa phù hợp với mục đích đổi mới phương pháp dạy học theohướng tích cực Vì vậy đa số giáo viên thường lựa chọn phương pháp giảng dạytruyền thống nên hiệu quả giảng dạy chưa cao, khả năng lĩnh hội kiến thức củahọc sinh còn nhiều hạn chế Nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy, sau một quátrình nghiên cứu, tìm tòi, và dạy thử tại lớp 9 trường THCS chúng tôi trong năm
học 2015 - 2016, tôi đã mạnh dạn đưa ra sáng kiến “Nâng cao hiệu quả giảng
dạy bài Lai một cặp tính trạng trong chương trình Sinh học 9 THCS bằng phương pháp dạy học tích cực giải quyết vấn đề”
II Mục đích nghiên cứu:
Đưa ra phương pháp giảng dạy tích cực phù hợp và có hiệu quả để giảng
dạy bài 2 “Lai một cặp tính trạng” Sinh học 9 THCS.
III Đối tượng nghiên cứu
Ngày nay dạy học bằng phương pháp tích cực giải quyết vấn đề có mộtvai trò hết sức quan trọng trong việc giảng dạy, đặc biệt khi mà Sinh học thôngtin đang phát triển mạng với tốc độ mạnh và ứng dụng hết sức rộng rãi Phươngpháp dạy học tích cực giải quyết vấn đề không chỉ dừng lại ở mức độ minh họa
mà đã trở thành công cụ nhận thức Vì vậy tôi chọn nghiên cứu đề tài “Nâng
cao hiệu quả giảng dạy bài Lai một cặp tính trạng trong chương trình Sinh học 9 THCS bằng phương pháp dạy học tích cực giải quyết vấn đề”.
Hiện nay tôi đang làm công tác giảng dạy môn Sinh học và tiến hành thửnghiệm sử dụng phương pháp dạy học tích cực giải quyết vấn đề trong các tiếthọc Sinh hoc đối với học sinh lớp 9 tại trường Trung học cơ sở Nhi Sơn, bêncạnh đó tôi còn học hỏi kinh nghiệm của các đồng nghiệp trong trường
IV Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành tốt đề tài tôi đã sử dụng kết hợp một số phương pháp sau:
1 Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết:
Nghiên cứu tài liệu lí luận dạy học môn Sinh học, tài liệu về tâm lí học,lôgic học có liên quan đến đề tài để làm cơ sở định hướng cho quá trình nghiên
Trang 7cứu Nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến chương “Lai một cặp tính”.Nghiên cứu SGK Sinh học 9 nhằm định hướng cho việc thực hiện mục đíchnghiên cứu.
2 Phương pháp điều tra khảo sát thực tế:
Khi chúng ta đưa ra các yêu cầu cho các học sinh tự tìm hiểu, sưu tầm sẽ tạocho học sinh khả năng tìm hiểu, tích lũy thông tin qua các yêu cầu của giáo viên,tránh tình trang ỉ lại, tạo hứng thú cho các em khi tìm hiểu nội dung bài mới
3 Phương pháp thu nhập thông tin:
Thu thập thông tin từ giáo viên trực tiếp giảng dạy môn Sinh học 9 ở cáctrường trong cùng huyện hoặc ngoài huyện và từ những học sinh trực tiếp thamgia bồi dưỡng, học sinh khá, giỏi
4 Phương pháp thống kê, xử lý số liệu.
Phương pháp thống kê tính toán, qua những thông tin tài liệu thu thập được,tôi đã vận dụng phương pháp này để thống kê lại tình hình và tính toán số liệucần thiết để biết được chất lượng học tập của học sinh thời gian trước như thếnào?
5 Phương pháp thực nghiệm sư phạm.
Tiến hành thực nghiệm đề tài để đánh giá tính hiệu quả đối với việc vậndụng kiến thức của phần lai một cặp tính trạng Từ đó sửa đổi bổ sung và hoànthiện những thiếu sót của đề tài
Ngoài các phương pháp trên tôi còn sử dụng một số phương pháp khác nữatrong quá trình nghiên cứu
PHẦN B: NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
I Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm:
Trong Luật Giáo dục (sửa đổi bổ sung 2009), điều 28.2 có ghi: "Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh" Đó là
những quan điểm về pháp lý mà mỗi người làm công tác giáo dục chúng taphải thi hành
Chiến lược phát triển giáo dục 2001- 2010 khẳng định quan điểm định
hướng cho việc phát triển giáo dục và yêu cầu: “Phát huy tính độc lập suy nghĩ
và sáng tạo của HS, để nâng cao năng lực tự học, tự hoàn thiện học vấn và tay nghề”.
Từ những trích dẫn trên có thể khẳng định rằng quan điểm phát huy tínhtích cực, độc lập và sáng tạo là một nội dung trọng tâm của chính sách giáo dục
và quan điểm chỉ đạo giáo dục Việt Nam Những quan điểm chỉ đạo này được
Trang 8đặt ra cho toàn bộ hệ thống giáo dục phổ thông, xuất phát từ những yêu cầu của
xã hội, nhằm làm cho giáo dục đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của xã hộitrong việc đào tạo con người Để thực hiện được những quan điểm chỉ đạo nàycần vận dụng những tri thức khoa học giáo dục, trước hết là những quan điểm vàPPGD tích cực
Đòi hỏi của xã hội tính quy định của xã hội đối với giáo dục, biểu hiện cụthể ở các quy định trong Luật Giáo dục, Nghị quyết/ Chỉ thị của Đảng, Quốchội, Nhà nước và của Ngành về mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục phổthông… Những đường lối và quan điểm chỉ đạo của nhà nước về đổi mới giáodục nói chung và THCS nói riêng được thể hiện trong nhiều văn bản, đặc biệttrong các văn bản sau đây:
Nghị quyết trung ương 8 khóa 11 về đổi mới toàn diện giáo dục
Nghị quyết 40/2000/QH10 về đổi mới CT GDPT;
Chỉ thị 14/2001/CT - TTg về thực hiện NQ 40;
Chiến lược phát triển giáo dục 2001 - 2010; 2010 - 2020
Luật Giáo dục (sửa đổi năm 2009)
II Thực trạng của việc sử dụng phương pháp dạy học giải quyết vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến sinh nghiệm trong quá trình giảng dạy môn sinh học 9 ở trường thcs Nhi sơn.
1 Thuận lợi:
Đội ngũ giáo đều có trình độ chuẩn và trên chuẩn, có năng lực nhiệt tìnhtrong giảng dạy, có ý thức trong việc khơi dậy và phát huy tính tích cực của họcsinh thông qua việc áp dụng các phương pháp giảng dạy tích cực
Học sinh có ý thức hơn trong học tập, bước đầu làm quen với phươngpháp học mới, tích cực chủ động trong việc phát hiện và tìm tòi kiến thức mới
Chương trình SGK môn Sinh học 9 có sự đổi mới cơ bản, với mục tiêuhình thành cho học sinh kỹ năng tư duy phân tích, tự tìm hiểu khám phá và giảiquyết vấn đề
Các kiến thức trong chương trình Sinh học 9 là những kiến thức khôngmang tính trừu tượng nhưng mang tính chất khái quát hóa cao Do đó giáo viên
có thể dễ dàng vận dụng phương pháp dạy học giải quyết vấn đề trong giảngdạy
Sự chỉ đạo kịp thời, sát sao của các cấp, ngành có liên quan trong việc đổimới phương pháp giảng dạy đã thôi thúc giáo viên không ngừng đổi mớiphương pháp giảng dạy để phù hợp với xu thế phát triển của xã hội
Trong những năm gần đây Phòng GD&ĐT huyện Mường Lát đã khôngngừng mở các lớp bồi dưỡng giáo viên về đổi mới phương pháp giảng dạy theo
Trang 9hướng tích cực và tổ chức sinh hoạt chuyên môn theo cụm đây là cơ hội rất tốt
để giáo viên học hỏi trao đổi kinh nghiệm và lẫn nhau
2 Khó khăn:
Việc sử dụng phương pháp dạy học giải quyết vấn đề trong quá trìnhgiảng dạy chưa được vận dụng phổ biến trong các trường THCS là do gặp phảinhững khó khăn sau:
Do địa bàn xã Nhi Sơn nói riêng và huyện Mường Lát nói chung phầnlớn là đồng bào dân tộc thiểu số Nhiều gia đình không có điều kiện chăm loviệc học tập cho con cái, một bộ phận học sinh lớp 6 học lực yếu nên khi học ởcấp học cao hơn thường không theo kịp bạn bè dẫn đến chán học bỏ bê bài vở.Một số ít học sinh còn thiếu đồ dùng học tập cá nhân chủ yếu là tập, viết
THCS Nhi Sơn nằm trên địa bàn xã Nhi Sơn, là một xã miền núi mớithành lập điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn, nên phụ huynh đầu tư cho concái học tập chưa được cao Đây là điều kiện khó khăn để các em có thể tiếp cậncác thông tin hay tài liệu thông qua nhiều hình thức khác nhau
Trên thực tế một số học sinh còn chưa thạo tiếng phổ thông vì vậy việctruyền đạt kiến thức của giáo viên đến với học sinh còn gặp rất nhiều khó khăn
Thực tế có một số phụ huynh học sinh cho rằng Sinh học là môn phụ nênnhận thức đó đã phần nào ảnh hưởng tới suy nghĩ của học sinh vì vậy ý thức họctập của một số học sinh chưa tốt: Các em nói chuyện riêng, không chú ý, lườilàm bài tập giáo viên giao Đã gây khó khăn cho giáo viên khi áp dụng cácphương pháp dạy học tích cực Trong đó có phương pháp dạy học giải quyết vấnđề
Lối dạy truyền thống, thuyết trình thông báo, lối học thụ động sách vởđang là thói quen thống trị trong các nhà trường ở nước ta hiện nay
Giáo viên còn thụ động trong việc đổi mới phương pháp giảng dạy chotừng bài học cụ thể
Trang 10Có nhiều giáo viên muốn đổi mới phương pháp giảng dạy, muốn sử dụngphương pháp dạy học giải quyết vấn đề để giảng dạy, nhưng lại thiếu kinhnghiệm, nên hiệu quả chưa cao, chưa phát huy tính chủ động sáng tạo của họcsinh.
3 Tình hình sử dụng các PPDH nói chung và phương pháp dạy học giải quyết vấn đề nói riêng trong môn sinh học ở các trường THCS trên địa bàn huyện Mường Lát
3.1 Tình hình sử dụng các PPDH trong môn Sinh học trên địa bàn huyện Mường Lát.
Tôi đã gửi phiếu điều tra tới 9 giáo viên dạy Sinh học ở 9/10 trườngTHCS trên địa bàn huyện Mường Lát tỉnh Thanh Hóa Đã thu được kết quả nhưsau:
Bảng 1: Kết quả điều tra các phương pháp giảng dạy trong môn Sinh học
trên địa bàn huyện Mường Lát.
Phương pháp GD
Số người sử dụng Số người
không sử dụng Thường xuyên Không thường xuyên
Tôi đã tiến hành điều tra việc giảng dạy bài “Lai một cặp tính trạng” của 9
giáo viên trực tiếp giảng dạy môn Sinh học 9 ở các trường THCS trên địa bànhuyện Mường Lát kết quả thu được ở bảng 2
Bảng 2: Kết quả điều tra các phương pháp giảng dạy bài “Lai một cặp tính
trạng” ở các trường THCS.
Trang 11thức giảng Diễn thoại Đàm
Thảo luận nhóm
Sử dụng
sơ đồ
tư duy
Dạy học giải quyết vấn đề
Biểu diễn TN
Sở thích
Phù hợp KT
Lí do khác
khái niệm và bản chất của hiện tượng “Lai một cặp tính trạng”
Việc giảng giải khái niệm và bản chất của hiện tượng Lai một cặp tính trạngcòn mang tính chung chung Học sinh chưa hiểu đúng được bản chất của hiệntượng Lai một cặp tính trạng Chưa nêu bật được sự giống và khác nhau giữaLai một cặp tính trạng và phân li độc lập
Việc phối hợp các phương pháp dạy học để hình thành khái niệm còn hạn chế
III Các giải pháp thực hiện:
1 Các giải pháp:
Để nâng cao hiệu quả giảng dạy bài “Lai một cặp tính trạng” trong
chương trình sinh học 9 THCS Tôi đã sử dụng 3 giải pháp chính Đó là:
1.1 Sử dụng phương pháp dạy học giải quyết vấn đề kết hợp với hệ thống câu hỏi tự lực.
Câu hỏi tự lực là hệ thống câu hỏi yêu cầu học sinh phân tích, giải thích,chứng minh hay khái quát hóa nội dung SGK và từ đó tìm ra những lời giải chotình huống có vấn đề được đặt ra trong bài toán nhận thức
Trong giảng dạy bài “Lai một cặp tính trạng” câu hỏi tự lực được sử
dụng khi giáo viên nêu tình huống có vấn đề bằng bài tập tình huống Sau đó từ
Trang 12hệ thống câu hỏi tự lực giáo viên sẽ dẫn rắt học sinh đi giải quyết vấn đề và tìm
ra kiến thức mới của bài học
1.2 Sử dụng phương pháp dạy học giải quyết vấn đề kết hợp với phương pháp đàm thoại ơrixtic:
Đàm thoại orixtic là phương pháp mà trong đó học sinh độc lập giải quyếttừng phần nhỏ hàng loạt các câu hỏi do giáo viên nêu ra trên lớp Giáo viên tổchức trao đổi ý kiến, kể cả tranh luận giữa thầy với trò, giữa trò với trò Thôngqua đó nắm được kiến thức mới
Sau khi đưa ra bài tập nhận thức để tạo tình huống có vấn đề Giáo viên sẽ
tổ chức việc dạy học bằng sự xen kẽ tuần tự thông báo ngắn của giáo viên với các câu hỏi và câu trả lời của học sinh Học sinh sẽ lần lượt trả lời các câu hỏi Trên cơ sở câu trả lời của học sinh giáo viên yêu cầu học sinh tìm ra kiến thức mới
1.3 Sử dụng phương pháp dạy học giải quyết vấn đề kết hợp với phiếu học tập.
Phiếu học tập là những là những tờ giấy rời in sẵn những công tác độc lập,được phát cho học sinh tự lực hoàn thành trong một thời gian ngắn của tiết học
Giáo viên lập ra phiếu học tập dưới dạng những bài tập, hệ thống câu hỏitheo nội dung SGK Những yêu cầu trong phiếu học tập sau khi được trả lời sẽgiúp học sinh định hướng việc giải bài tập nhận thức để dễ dàng tiếp thu các trithức mới
Trong quá trình giảng dạy bài “Lai một cặp tính trạng” Sinh học 9 THCS
phiếu học tập được sử dụng ở cuối bài học Giáo viên sử dụng phiếu học tậpnhằm mục đích so sánh sự khác nhau giữa hiện tượng Lai một cặp tính trạng vàphân li độc lập.Trên cơ sở đó giáo viên có thể khắc sâu nội dung kiến thức vừahình thành cho học sinh
2 Sơ lược về phương pháp dạy học giải quyết vấn đề:
2.1 Khái niệm:
Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề là PPDH trong đó GV tạo ranhững tình huống có vấn đề, điều khiển HS phát hiện vấn đề, hoạt động tự giác,tích cực, chủ động, sáng tạo để giải quyết vấn đề và thông qua đó chiếm lĩnh trithức, rèn luyện kĩ năng và đạt được những mục đích học tập khác Đặc trưng cơbản của dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề là "tình huống gợi vấn đề" vì "Tưduy chỉ bắt đầu khi xuất hiện tình huống có vấn đề" (Rubinstein)
Tình huống có vấn đề (tình huống gợi vấn đề) là một tình huống gợi ra
cho HS những khó khăn về lí luận hay thực hành mà họ thấy cần có khả năngvượt qua, nhưng không phải ngay tức khắc bằng một thuật giải, mà phải trải quaquá trình tích cực suy nghĩ, hoạt động để biến đổi đối tượng hoạt động hoặc điềuchỉnh kiến thức sẵn có
Trang 132.2 Quy trình thực hiện dạy học giải quyết vấn đề:
Bước 1 Phát hiện hoặc thâm nhập vấn đề
Phát hiện vấn đề từ một tình huống gợi vấn đề
Giải thích và chính xác hóa tình huống (khi cần thiết) để hiểu đúng vấn đềđược đặt ra
Bước 2: Tìm giải pháp
Tìm cách giải quyết vấn đề, thường được thực hiện theo sơ đồ sau:
Bước 3 Trình bày giải pháp
HS trình bày lại toàn bộ từ việc phát biểu vấn đề tới giải pháp Nếu vấn đề
là một đề bài cho sẵn thì có thể không cần phát biểu lại vấn đề
Bước 4 Nghiên cứu sâu giải pháp
Tìm hiểu những khả năng ứng dụng kết quả
Đề xuất những vấn đề mới có liên quan nhờ xét tương tự, khái quát hóa,lật ngược vấn đề, và giải quyết nếu có thể
2.3 Bản chất tình huống có vấn đề:
Theo M.I Macmutôp tình huống có vấn đề là sự trở ngại về trí tuệ cuả conngười, xuất hiện khi người đó chưa biết cách giải thích hiện tượng, sự kiện củaquá trình thực tại
Trong quá trình dạy học, GV tạo tình huống phải phù hợp với khả năngcuả HS, có tỷ lệ hợp lý giữa cái đã biết và cái chưa biết Vấn đề học tập phải vừa
Bắt đầu Phân tích vấn đề
Đề xuất và thực hiện hướng giải quyết
Hình thành giải pháp Giải pháp đúng Kết thúc