1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tư tưởng gia huấn của phan châu trinh giá trị và ý nghĩa lịch sử

117 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 1,65 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để bảo tồn và phát huy bản sắc dân tộc, phát huy nét đẹp truyền thống của gia đình thì việc nghiên cứu về những vấn đề đạo đức, luân lý gia đình của những người đi trước để có những bài

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LUẬN VĂN THẠC SỸ TRIẾT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS TRỊNH DOÃN CHÍNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là luận văn do tôi thực hiện, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Trịnh Doãn Chính, kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng công bố trong bất kì công trình nào khác

Tác giả

ĐỖ THỊ THANH TÚ

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài 4

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 11

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài 11

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu luận văn 11

6 Đóng góp của luận văn 12

7 Kết cấu của luận văn 12

PHẦN NỘI DUNG 13

Chương 1 ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG GIA HUẤN CỦA PHAN CHÂU TRINH 13

1.1 ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ - XÃ HỘI THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẦU THẾ KỶ XX VỚI SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG GIA HUẤN CỦA PHAN CHÂU TRINH 13

1.1.1 Bối cảnh thế giới cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX với sự hình thành tư tưởng gia huấn của Phan Châu Trinh 13

1.1.2 Điều kiện lịch sử - xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX với sự hình thành tư tưởng gia huấn của Phan Châu Trinh 17

1.2 NHỮNG TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG GIA HUẤN CỦA PHAN CHÂU TRINH 23

1.2.1 Giá trị truyền thống dân tộc với sự hình thành tư tưởng gia huấn của Phan Châu Trinh 23

1.2.2 Tinh hoa văn hóa nhân loại với sự hình thành tư tưởng gia huấn của Phan Châu Trinh 27

1.3 THÂN THẾ, SỰ NGHIỆP VÀ PHẨM CHẤT TRÍ TUỆ CỦA PHAN CHÂU TRINH VỚI SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG GIA HUẤN 36

1.3.1 Khái quát về thân thế và sự nghiệp của Phan Châu Trinh 36

Trang 5

1.3.2 Phẩm chất trí tuệ của Phan Châu Trinh với sự hình thành tư tưởng gia

huấn 43

Kết luận chương 1 47

Chương 2 NỘI DUNG ĐẶC ĐIỂM GIÁ TRỊ VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ TỬ TƯỞNG GIA HUẤN CỦA PHAN CHÂU TRINH 50

2.1 NỘI DUNG VÀ ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN TƯ TƯỞNG GIA HUẤN CỦA PHAN CHÂU TRINH 50

2.1.1 Nội dung tư tưởng gia huấn của Phan Châu Trinh 51

2.1.2 Đặc điểm tư tưởng gia huấn của Phan Châu Trinh 77

2.2 GIÁ TRỊ VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ TRONG TƯ TƯỞNG GIA HUẤN PHAN CHÂU TRINH 83

2.2.1 Giá trị trong tư tưởng gia huấn của Phan Châu Trinh 83

2.2.2 Ý nghĩa lịch sử trong tư tưởng gia huấn Phan Châu Trinh 91

Kết luận chương 2 98

KẾT LUẬN CHUNG 100

TÀI LIỆU THAM KHẢO 103

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định:

“Nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, xã hội tốt thì gia đình càng tốt, gia đình tốt thì xã hội mới tốt Hạt nhân của xã hội là gia đình Chính vì muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội mà phải chú ý đến hạt nhân cho tốt” (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, 2000, tr.25)

Trong sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước, phát triển văn hóa được Đảng Cộng sản Việt Nam chú trọng, xác định xây dựng và phát triển một nền văn hóa Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại, làm cho văn hóa thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội, vào từng con người, từng gia đình, từng tập thể và cộng đồng, từng địa bàn dân cư và mọi lĩnh vực sinh hoạt và quan hệ con người, tạo ra trên đất nước ta đời sống tinh thần cao đẹp Trong Nghị quyết các kỳ Ðại hội Ðảng Cộng sản Việt Nam việc giáo dục trong gia đình được nhấn mạnh và được xem là một chiến lược

để phát triển xã hội trong giai đoạn hiện nay Nghị quyết Ðại hội Ðảng lần thứ VII xác định gia đình với tư cách là

“tế bào của xã hội, là cái nôi thân yêu nuôi dưỡng cả đời người, là môi trường quan trọng giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách” (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII,

1991, tr.15).Tiếp tục quan điểm đó Ðại hội Ðảng lần thứ XII nêu rõ:

“Thực hiện chiến lược phát triển gia đình Việt Nam Phát huy giá trị truyền thống tốt đẹp, xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, văn minh”, “tập trung xây dựng con người về đạo đức, nhân cách, lối sống, trí tuệ và năng lực làm việc” (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, 2016,tr.289)

Trang 7

Thấm nhuần tư tưởng của chủ tịch Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng

và Nhà nước ta nhận thấy gia đình có một vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc xây dựng, phát triển cũng như nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ cho xã hội mới Gia đình có vai trò quyết định đối với sự hình thành và phát triển của xã hội bởi gia đình là tế bào của xã hội, nơi người ta sống chung và gắn bó với nhau bởi các mối quan hệ tình cảm, quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng và quan hệ giáo dục, là chiếc nôi để hình thành, giáo dục, nuôi dưỡng nhân cách của mỗi con người Gia đình là môi trường giáo dục đầu tiên, là “đơn vị xã hội” đầu tiên cung cấp lực lượng lao động cho xã hội Điều quan trọng nhất trong văn hóa gia đình phải tuân thủ gia huấn Gia huấn chính là những nguyên tắc cơ bản, xác định những bổn phận phải làm và những điều phải tránh trong sinh hoạt gia đình Đây chính là cái khung tiêu chuẩn của đạo lý con người Những điều này được chỉ dạy cho mọi thành viên trong gia đình từ khi sinh

ra lớn lên và được lưu truyền cho thế hệ sau Thường những lời chỉ dạy này xuất phát từ kinh nghiệm sống của những người đi trước về cách cư xử, phép tắc, thói tục và các kinh nghiệm này đã được xã hội hóa Người lớn trong gia đình đóng vai trò làm gương sáng, chỉ dạy cho trẻ nhỏ thực hiện theo những nền nếp và thói quen này để tạo thành gia đạo Một gia đình có gia huấn là gia đình có nền nếp, tôn ti trật tự, kính trên nhường dưới và cũng là nơi đào tạo con người có nhân cách tốt cho xã hội Vì thế gia đình chịu trách nhiệm trước xã hội về sản phẩm của gia đình mình, có trách nhiệm nuôi dưỡng và giáo dục con cái, cung cấp cho xã hội những công dân hữu ích Cùng với nhà trường, gia đình tham gia tích cực nhiệm vụ

“dạy người, dạy chữ”, tạo ra lực lượng lao động tương lai chất lượng cao Trong bất kỳ thời đại lịch sử nào, đối với bất cứ người nào từ những người lao động chân tay giản đơn đến lao động trí óc đều được sinh ra, nuôi

Trang 8

dưỡng và chịu sự giáo dục của gia đình Gia đình không chỉ giữ vai trò nền tảng, tế bào của xã hội mà còn là môi trường quan trọng, trực tiếp giáo dục nếp sống, hình thành nhân cách con trẻ Gia đình là nơi giữ gìn, vun đắp, phát huy những giá trị truyền thống quý báu của con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam đã hình thành trong quá trình lịch sử dựng nước, giữ nước

Đó là lòng yêu nước, yêu quê hương, yêu thương đùm bọc lẫn nhau, hòa thuận, thủy chung, hiếu nghĩa, hiếu học, cần cù, sáng tạo trong lao động, bất khuất kiên cường vượt qua mọi khó khăn, thử thách

Trong bối cảnh hiện nay, việc giáo dục đạo đức trong gia đình đang chuyển từ truyền thống sang hiện đại, đó là một quy luật phát triển của xã hội Vì thế, việc duy trì những giá trị truyền thống đồng thời tiếp thu những

tư tưởng hiện đại trong giáo dục đạo đức gia đình là việc làm có ý nghĩa thiết thực tức là thừa kế đạo lý truyền thống và những nét đẹp của gia huấn, gia giáo, gia phong xưa kia, từ đó xây dựng những tiêu chí thích hợp cho gia đình văn hóa ngày nay có sự kết hợp hài hòa tính truyền thống và tính hiện đại Tuy nhiên trong quá trình toàn cầu hóa và hội nhập hiện nay giáo dục đạo đức trong gia đình đang đứng trước những khó khăn và thách thức với

sự tấn công của nhiều quan niệm mới, tư tưởng mới, lối sống mới làm cho xã hội chuyển động ngày một nhanh hơn, các “tế bào” của xã hội chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của thế giới bên ngoài, đặc biệt là từ thế giới internet, chịu tác động bởi nền kinh tế hàng hóa và cơ chế thị trường nên văn hóa gia đình đang có biểu hiện xuống cấp vì những tác động xấu của đời sống xã hội phá

vỡ đi giá trị truyền thống tốt đẹp trong gia đình Việt Nam vốn đã có từ rất lâu đời Những giá trị, chuẩn mực truyền thống đã và đang bị tác động, thay đổi, xen lẫn với những chuẩn mực, hành vi của xã hội mới Hiện nay, mối quan tâm, chăm sóc của một bộ phận cha mẹ dành cho con cái dường như bị suy giảm Nền tảng đạo đức xã hội, nhân cách của một số trẻ em đang có

Trang 9

nguy cơ bị lung lay, bởi chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa cá nhân và thiếu vắng sự chăm sóc, bảo vệ của gia đình Với những biểu hiện xuống cấp về mặt đạo đức, các mối quan hệ trong gia đình đã nảy sinh những mâu thuẫn

và những quan niệm về quyền lợi, nghĩa vụ, tình yêu và hôn nhân trong gia đình có nhiều bất cập như: sự đổ vỡ của gia đình, tình trạng ly thân, ly dị, cái nếp gia đình truyền thống có trên có dưới, có thứ bậc, tình cảm giữa các thành viên trong gia đình thay đổi,… những vấn đề bất cập đó cần được củng

cố, xây dựng đó là một mục tiêu góp phần vào việc phát triển xã hội ngày càng giàu mạnh

Để bảo tồn và phát huy bản sắc dân tộc, phát huy nét đẹp truyền thống của gia đình thì việc nghiên cứu về những vấn đề đạo đức, luân lý gia đình của những người đi trước để có những bài học kinh nghiệm qua đó phát hiện, cải tạo những nhân tố có giá trị đối với việc giáo dục đạo đức trong gia đình Việt Nam hiện nay là một việc làm có ý nghĩa Trong những thế kỷ trước đã

có nhiều nhà tư tưởng có tử tưởng về giáo dục gia đình như Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh,… nhưng tiêu biểu trong đó là Phan Châu Trinh một nhà giáo dục, nhà văn hóa, nhà tư tưởng lớn cuối thế

kỷ XIX đầu thế kỷ XX với những tư tưởng về giáo dục gia đình khá đặc sắc, phục vụ cho phong trào “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh” Vì vậy, đòi hỏi chúng ta phải nhìn nhận, đánh giá những giá trị, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm đối với việc giáo dục đạo đức trong gia đình Việt Nam hiện

nay Xuất phát từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài “Tư tưởng gia huấn của Phan Châu Trinh – giá trị và ý nghĩa lịch sử” làm đề tài luận văn tốt

nghiệp của mình

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Phan Châu Trinh là một nhà giáo dục, nhà văn hóa, nhà tư tưởng lớn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Cuộc đời và sự nghiệp của ông được nhiều

Trang 10

học giả nghiên cứu với những góc độ khác nhau, trong đó có đề cập đến tư tưởng gia huấn của Phan Châu Trinh như sau:

Thứ nhất, các công trình nghiên cứu điều kiện lịch sử và tiền đề lý luận hình thành gia huấn của Phan Châu Trinh

Ở góc độ lịch sử, cuốn sách Đại cương lịch sử Việt Nam do các tác giả

Trương Hữu Quýnh, Đinh Xuân Lâm, Lê Mậu Hãn chủ biên, Toàn Tập, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 2003 đã nghiên cứu trình bày hệ thống đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa… của xã hội giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ

XX; Phong trào duy tân của Nguyễn Văn Xuân, Nhà xuất bản Lá Bối, Sài Gòn, 1970 và sau này được Nhà xuất bản Đà Nẵng xuất bản năm 1995; Tân thư và xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX của Đinh Xuân Lâm,

do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997; Phong trào Duy tân với các khuôn mặt tiêu biểu của Nguyễn Quang Thắng, Nhà xuất bản Văn hóa

Thông tin, Hà Nội, 2006 gồm có 10 chương bàn về phong trào Duy tân với cuộc cách mạng dân chủ đầu tiên trong lịch sử Việt Nam trong đó có Phan

Châu Trinh; Phong trào Duy Tân ở Bắc, Trung, Nam của Sơn Nam, Nhà

xuất bản Đông Phố, 1975 với nội dung nói về Phan Châu Trinh và phong trào kháng sưu thuế 1908 ở Trung Kỳ

Ở góc độ văn học, có Giáo trình lịch sử Việt Nam đầu thế kỷ XX của

Lê Trí Viễn, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 1978; Văn học Việt Nam 1900 – 1930 của Trần Đình Hượu, Nhà xuất bản Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp, Hà Nội, 1998; Hợp tuyển thơ văn Việt Nam, tập 4 (1858- 1920), do Huỳnh Lý chủ biên, Nhà xuất bản Văn học, 1985; Tổng hợp văn học Việt Nam của Chương Thâu, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 1996 đã đề cập đề

nhiều tác giả làm cho văn học Việt Nam có diện mạo mới trong đó có Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Lương Văn Can… nói về việc mở mang công nghệ, lập hội buôn, cổ động tuyên truyền, phục vụ cho sự tiến bộ của

Trang 11

nhà nước, truyền bá tư tưởng mới lên án chế độ xã hội lạc hậu

Ở góc độ lịch sử tư tưởng, phải nhắc đến những công trình nghiên cứu như: Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến cách mạng Tháng Tám của Trần Văn Giàu, gồm 3 tập, Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí

Minh, năm 1993 đề cập đến quá trình chuyển biến ba tư tưởng: phong kiến,

tư sản và vô sản ở thế kỷ XIX đến Cách mạng Tháng Tám năm 1945; Bước chuyển biến tư tưởng Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX của Doãn

Chính, Trương Văn Chung năm 2005, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà

Nội; Quá trình chuyển biến tư tưởng chính trị Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX qua các nhân vật tiêu biểu, do Doãn Chính và Phạm Đào Thịnh

biên soạn, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2007 trình bày khái quát nội dung và đặc điểm quá trình chuyển biến tư tưởng chính trị Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX với các nhà cách mạng tiêu biểu như: Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Nguyễn An Ninh và những bài học lịch sử của

quá trình chuyển biến đó đối với nước ta hiện nay; Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam do PGS.TS Doãn Chính chủ biên, Nhà xuất bản Chính trị quốc

Thứ hai, các công trình nghiên cứu nội dung, đặc điểm tư tưởng gia huấn của Phan Châu Trinh

Phan Châu Trinh, thân thế và sự nghiệp của Huỳnh Lý, Nhà xuất bản

Đà Nẵng, 1993 được kết cấu thành 6 chương; Tuyển tập Phan Châu Trinh

của Nguyễn Văn Dương, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 1995 và sau đó được Nhà

Trang 12

xuất bản Văn hóa – Thông tin xuất bản năm 2006 được kết cấu bởi 3 chương Chương thứ nhất là thơ ca quốc âm Chương hai là các tác phẩm chính luận chữ Hán của Phan Châu Trinh Chương thứ ba là các bức thư tín được viết bằng chữ Hán, chữ Quốc ngữ, chữ Pháp và các bài diễn thuyết thể hiện khá đầy đủ về nội dung, đặc điểm tư tưởng của Phan Châu Trinh

Phan Châu Trinh cuộc đời và tác phẩm của Nguyễn Quang Thắng,

Nhà xuất bản Thành Phố Hồ Chí Minh, 1987 được tái bản nhiều lần gồm 6 chương nói về tình hình đất nước cuối thế kỷ XIX, cuộc đời, tác phẩm tiêu biểu và bài học lịch sử mà Phan Châu Trinh đã để lại

Phan Châu Trinh về tác gia và tác phẩm, Chương Thâu sưu tầm, Nhà

xuất bản Giáo dục, 2007 nói về tiểu sử Phan Châu Trinh và những lời bình của những người trong và ngoài nước như: Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Lương Chí Minh, G Buđaren, Đavít Mác,…

Phan Châu Trinh toàn tập, do Nhà xuất bản Đà Nẵng xuất bản vào

năm 2005, được kết hợp giữa GS Chương Thâu, nhà sử học Dương Trung Quốc và bà Phan Thị Minh được xem là hậu duệ của Phan Châu Trinh Nội dung bộ sách đề cập đến cuộc đời, sự nghiệp văn chương và tư tưởng triết học của Phan Châu Trinh cùng với những lời bình của những nhà cách mạng nghiên cứu về Phan Châu Trinh

Phan Châu Trinh (1872 – 1926) qua những tài liệu mới của Lê Thị

Kinh, quyển 1, tập 1, do Nhà xuất bản Đà Nẵng xuất bản vào năm 2001 nói về con người, cuộc đời, sự nghiệp và con đường cách mạng của Phan Châu Trinh đối với sự nghiệp cách mạng của đất nước qua những tài liệu mới sưu tầm

Thơ văn Phan Châu Trinh, do Huỳnh Lý, Hoàng Ngọc Bách biên

soạn, Nhà xuất bản Văn học, 1983 nội dung cuốn sách chủ yếu là thơ và câu

đối chữ Hán; Phan Châu Trinh người khởi xướng dân quyền của Vũ Gia, Nhà xuất bản Kim Đồng, 2008; Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh của Tôn

Trang 13

Quang Phiệt do Ban nghiên cứu Văn Sử Địa xuất bản, 1956 nói về những đánh giá về Phan Châu Trinh trong lịch sử vận động giải phóng dân tộc, giải phóng con người Việt Nam

Tư tưởng của Phan Châu Trinh – giá trị và bài học lịch sử của Trương

Thị Cẩm Xuyến, Luận văn thạc sĩ bảo vệ tại Trường Khoa học xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh năm 2017

Các ông trình nghiên cứu tư tưởng của Phan Châu Trinh theo từng

mảng nhỏ như: Tìm hiểu tư tưởng dân chủ của Phan Châu Trinh của Đỗ Hòa Hới, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 1996; Tư tưởng chính trị của Phan Châu Trinh của Trần Mai Ứơc, Luận án Tiến sĩ Triết học, bảo vệ tại

Trường Khoa học xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh năm 2013;

Tư tưởng “Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh” của Phan Châu Trinh

do Đỗ Văn Minh, Luận văn thạc sĩ bảo vệ tại Trường Khoa học xã hội và

Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh năm 2013; Tư tưởng giáo dục của Phan Châu Trinh và ý nghĩa lịch sử của nó của Lê Anh Tuấn, Luận văn thạc sĩ bảo

vệ tại Trường Khoa học xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh, 2016

Với những công trình trên làm rõ cuộc đời và sự nghiệp của Phan Châu Trinh thông qua những tác phẩm thơ văn, những bức thư, bài diễn thuyết… thể hiện tư tưởng “Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh” trong

đó có tư tưởng gia huấn của Phan Châu Trinh Qua đó cho ta thấy ông là một tấm gương sáng mạnh dạn canh tân và sáng tạo nền văn hóa dân tộc, quan điểm tiến bộ, sáng tạo trong tư tưởng nói chung và tư tưởng gia huấn của Phan Châu Trinh nói riêng cũng như nêu lên những hạn chế, bài học lịch sử đối với cách mạng Việt Nam vào thời điểm đầu thế kỷ XX

Thứ ba, các công trình nghiên cứu, nhận định và đánh giá về tư tưởng gia huấn của Phan Châu Trinh

Trang 14

Tại hội thảo chuyên đề Phan Châu Trinh vào năm 1964 – 1965 đã có nhiều bài về tư tưởng của Phan Châu Trinh được đăng trong các Tạp chí

Nghiên cứu lịch sử như: Đánh giá về Phan Châu Trinh của Duy Minh; Đánh giá về quan điểm luân lý đạo đức của cụ Phan Châu Trinh do Đặng Việt Thành viết; Phan Châu Trinh với thời đại của ông do Hồ Song viết; Phan Châu Trinh, tư cách con người và chủ trương chính trị của Tôn Quang Phiệt; Những quan điểm triết học lịch sử của Phan Châu Trinh của tác giả Trường Giang; Một số ý kiến về Phan Châu Trinh của Đan Đức Lợi;…

Cuộc Hội thảo khoa học về Phan Châu Trinh và Huỳnh Thúc Kháng được tổ chức tại Đà Nẵng vào tháng 9/1992 do Sở Khoa học công nghệ và môi trường tỉnh Quảng Nam, Đà Nẵng tổ chức được viết trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học về Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Nhà xuất bản Đà

Nẵng, năm 1993 với các bài như: Phan Châu Trinh – chặng đường dân tộc thức tỉnh, chặng đường lịch sử, hệ luận nhận thức đúng và con đường không tưởng của Nguyễn Văn Hồng; Phan Châu Trinh, lập trường và phương pháp cách mạng của Trần Đình Hường; Nhà chí sĩ Phan Châu Trinh của Võ

Nguyên Giáp;…

Tạp chí Triết học các công trình nghiên cứu như: Tìm hiểu tư tưởng dân chủ của Phan Châu Trinh với tư tưởng tự do – bình đẳng – bác ái của cách mạng Pháp 1789, (số 4 – 1989) của tác giả Đỗ Thị Hòa Hới; Phan Châu Trinh và sự thức tỉnh dân tộc đầu thế kỷ XX, (số 1 – 1992) tác giả Đỗ Thị Hòa Hới cùng với đó tác giả cũng đã viết bài: Tư tưởng Canh tân sáng tạo đầu thế kỷ XX của chí sĩ Phan Châu Trinh (số 3 – 2000) Ngoài ra còn một số bài: Tác giả Chương Thâu với bài Tinh thần dân tộc và dân chủ của Phan Châu Trinh qua “Tỉnh quốc hồn ca”, (số 11 – 2002); Tác giả Nguyễn Văn Trung viết về bài Tính cập nhật kỳ lạ của một tư tưởng lớn, (số 12 –

Trang 15

2005); Tác giả Hồ Sĩ Vịnh với bài Phan Châu Trinh – nhà chí sĩ yêu nước lớn, nhà văn hóa lớn, Tạp chí Nhà văn, số 2 (111) – 2012);…

Bên cạnh đó còn có các đề tài luận văn thạc sĩ Đạo đức Nho giáo và ảnh hưởng của nó đối với văn hóa gia đình Việt Nam hiện nay của Nguyễn Thị Bích Ngọc, bảo vệ tại trường Khoa học xã hội và Nhân Văn, 2017; Đề tài luận văn thạc sĩ Chữ hiếu trong Nho giáo và ảnh hưởng của nó đối với văn hóa gia đình Việt Nam hiện nay của Nguyễn Thị Hải Như, 2010; Bài viết của tác giả Trần Đình Hượu về Gia đình truyền thống Việt Nam với ảnh hưởng của “Nho giáo”; Giá trị đạo đức trong nền kinh tế thị trường của TS Trần Nguyên Việt, Tạp chí Triết học (số 5 – 2002); Từ đạo hiếu truyền thống nghĩ về đạo hiếu ngày nay của Nguyễn Thị Thơ, Tạp chí triết học (số 6 – 2007); Văn hóa gia đình Việt Nam của Vũ Ngọc Khánh, nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc, 1998;…

Qua các bài viết của các nhà khoa học có thể thấy rằng các tác giả đều khẳng định nhà yêu nước, nhà cách mạng, nhà tư tưởng Phan Châu Trinh có vị trí hết sức quan trọng trong lịch sử dân tộc cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX Với từng tác phẩm nghiên cứu đánh giá từng mặt, từng nội dung, góc độ khác nhau và đã đạt được những kết quả nhất định cả về lý luận

và thực tiễn Tuy nhiên, ở phương diện triết học tác giả nhận thấy chưa có công trình nghiên cứu nào trình bày tư tưởng gia huấn của Phan Châu Trinh như một bộ phận độc lập nhưng thống nhất trong chính tư tưởng của ông, từ

đó rút ra những giá trị và ý nghĩa lịch sử trong tư tưởng gia huấn Phan Châu Trinh Do đó, tư tưởng gia huấn của Phan Châu Trinh vẫn là vấn đề đặt ra để tiếp tục nghiên cứu

Trang 16

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

* Đối tượng nghiên cứu của luận văn:

Luận văn tập trung nghiên cứu tư tưởng gia huấn của Phan Châu Trinh

* Phạm vi nghiên cứu của luận văn:

Luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu nội dung tư tưởng gia huấn của Phan Châu Trinh chủ yếu tập trung qua các tác phẩm: Tỉnh quốc hồn ca (I, II); Đạo đức và luân lý Đông Tây, Tây hồ và Santé thi tập,… và qua những bức thư Phan Châu Trinh gửi cho gia đình, con trai của Phan Châu Trinh là Phan Châu Dật gửi cho cha

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

*Mục đích nghiên cứu:

Trên cơ sở nghiên cứu nội dung, đặc điểm tư tưởng gia huấn của Phan Châu Trinh, luận văn nhằm rút ra những giá trị và ý nghĩa lịch sử trong tư tưởng gia huấn của ông

*Nhiệm vụ nghiên cứu:

Để thực hiện được mục đích trên cần thực hiện những nhiệm vụ sau đây:

Thứ nhất, tìm hiểu về điều kiện hình thành tư tưởng gia huấn của Phan

Châu Trinh

Thứ hai, hệ thống hóa và khái quát hóa nội dung, đặc điểm tư tưởng

gia huấn của Phan Châu Trinh

Thứ ba, từ những nội dung, đặc điểm từ đó rút ra những giá trị và ý

nghĩa lịch sử trong tư tưởng gia huấn của Phan Châu Trinh

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu luận văn

* Cơ sở lý luận của luận văn:

Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở thế giới quan, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của

Trang 17

Đảng cộng sản Việt Nam và kế thừa những kết quả các công trình nghiên cứu khoa học trước đó có đề cập đến tư tưởng của Phan Châu Trinh

* Phương pháp nghiên cứu của luận văn:

Luận văn thực hiện dựa trên phương pháp luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng, Chủ nghĩa duy vật lịch sử và các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phân tích – tổng hợp, logic và lịch sử, so sánh và đối chiếu và phương pháp văn bản học,…

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn luận văn

Đóng góp về lý luận của luận văn: Luận văn góp phần làm rõ những

vấn đề lý luận cơ bản về nội dung tư tưởng gia huấn của Phan Châu Trinh

Đóng góp về thực tiễn của luận văn: Những nhận định đánh giá giá

trị và ý nghĩa lịch sử trong tư tưởng gia huấn của Phan Châu Trinh sẽ góp phần hữu ích vào việc giáo dục đạo đức trong gia đình ở Việt Nam hiện nay

7 Kết cấu của luận văn

Luận văn được kết cấu bởi 2 chương, 5 tiết và phần kết luận

Trang 18

PHẦN NỘI DUNG Chương 1 ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG GIA HUẤN

CỦA PHAN CHÂU TRINH

1.1 ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ - XÃ HỘI THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM CUỐI THẾ

KỶ XIX ĐẦU THẾ KỶ XX VỚI SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG GIA HUẤN CỦA PHAN CHÂU TRINH

1.1.1 Bối cảnh thế giới cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX với sự hình thành tư tưởng gia huấn của Phan Châu Trinh

Phan Châu Trinh người chí sĩ yêu nước sinh ra và lớn lên trong hoàn cảnh thế giới và đất nước có nhiều biến động

Từ nửa sau thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản phương Tây chuyển từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn độc quyền (giai đoạn đế quốc chủ nghĩa) Nền kinh tế hàng hóa phát triển mạnh, đặt ra yêu cầu bức thiết về thị trường Đó chính là nguyên nhân sâu xa dẫn tới những cuộc chiến tranh xâm lược các quốc gia phong kiến phương Đông, biến các quốc gia này thành thị trường tiêu thụ sản phẩm hàng hóa, mua bán nguyên vật liệu, khai thác sức lao động và xuất khẩu tư bản của các nước đế quốc

Đến năm 1914, các nước đế quốc Anh, Nga, Pháp, Đức, Mỹ, Nhật chiếm một khu vực thuộc địa rộng 65 triệu km2 với số dân 523,4 triệu người (so với diện tích các nước đó là 16,5 triệu km2 và dân số 437,2 triệu) Riêng diện tích các thuộc địa của Pháp là 10,6 triệu km2 với số dân 55,5 triệu (so với diện tích nước Pháp là 0,5 triệu km2 và dân số 39,6 triệu người) (V.I.Lênin, Toàn tập, tập 7, 1951, tr.478)

Các nước thuộc địa phải chịu sự áp bức và thôn tính dân tộc của chủ nghĩa đế quốc Với sự áp bức và thôn tính đó các dân tộc thuộc địa đã phản

Trang 19

ứng gay gắt và ngày càng trở nên quyết liệt hơn Chính vì thế chủ nghĩa đế quốc trở thành kẻ thù chung của các dân tộc thuộc địa Bên cạnh việc biến các nước thuộc địa là nơi xuất khẩu tư bản, đầu tư khai thác đem lại lợi nhuận tối đa cho tư bản chính quốc mà còn làm cho quan hệ xã hội của các nước thuộc địa biến đổi một cách căn bản Một số nước thuộc địa ở châu Á, châu Phi và khu vực Mỹ Latinh vẫn còn tồn tại chế độ phong kiến của trước kia cộng thêm sự đàn áp của chủ nghĩa thực dân Các giai cấp của xã hội cũ vẫn được duy trì và đã xuất hiện thêm nhiều các giai cấp tầng lớp xã hội mới, trong đó có giai cấp công nhân và giai cấp tư sản

Đầu thế kỷ XX, sự áp bức và thôn tính dân tộc của chủ nghĩa đế quốc càng tăng làm cho mâu thuẫn giữa dân tộc thuộc địa với thực dân càng gay gắt, sự phản ứng của nhân dân các thuộc địa càng quyết liệt Và chính bản thân chủ nghĩa đế quốc xâm lược, thống trị các thuộc địa lại tạo cho các dân tộc bị chinh phục những phương tiện và phương pháp để tự giải phóng Sự thức tỉnh về ý thức dân tộc và phong trào đấu tranh dân tộc để tự giải phóng khỏi ách thống trị của thực dân Sự thức tỉnh ấy đã dẫn đến hàng loạt các cuộc đấu tranh nổi dậy của công nhân các nước tư bản chủ nghĩa như phong trào dân chủ tư sản ở Đông Âu và bắt đầu từ Cách mạng 1905 ở Nga đã tạo thành một cao trào thức tỉnh của các dân tộc phương Đông Hàng trăm triệu người hướng về một cuộc sống mới với ánh sáng tự do Từ đó đã dẫn đến một cao trào mới của thế giới mà đỉnh cao là Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 Đối với nước Nga, đó là cuộc cách mạng vô sản, nhưng đối với các dân tộc thuộc địa trong đế quốc Nga thì đó còn là một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, bởi vì trước cách mạng “nước Nga là nhà tù của các dân tộc” Cuộc cách mạng vô sản ở nước Nga thành công, các dân tộc thuộc địa của đế quốc Nga được giải phóng và được hưởng quyền dân tộc tự quyết, kể

cả quyền phân lập, hình thành nên các quốc gia độc lập và quyền liên hợp,

Trang 20

dẫn đến sự ra đời của Liên bang Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô - viết (1922) Cách mạng Tháng Mười Nga đã nêu tấm gương sáng về sự giải phóng dân tộc bị áp bức đã “mở ra trước mắt họ thời đại cách mạng chống đế quốc, thời đại giải phóng dân tộc” (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 8, 2000, tr.562)

Trong thời kỳ đó bên cạnh những thay đổi về kinh tế, chính trị và xã hội trên toàn thế giới thì trên lĩnh vực văn hóa cũng đã tạo ra những trào lưu

tư tưởng tiến bộ và cách mạng có ảnh hưởng rất lớn Những vấn đề về quyền con người, dân chủ, bình đẳng được các nước phương Tây đề cao Đặc biệt

là ở Mỹ đã xuất hiện các lý thuyết về nữ quyền và bình đẳng giới Điều đó đã từng bước thay đổi nhận thức của xã hội về bản thân người phụ nữ, về quyền con người và quyền phụ nữ Ngoài ra, vấn đề giáo dục con người luôn được phương Tây xem là điều kiện tiên quyết cho việc phát triển của mỗi quốc gia

là vì sự ảnh hưởng sâu sắc từ J J Rousseau và Kant Kant nói: “Con người

là tạo vật duy nhất cần phải được giáo dục” (Kant, Toàn tập (Samtliche Werke), tập 8, Kant nói về Sư phạm học, 1920, tr.193) hay “Con người chỉ

có thể trở thành người là nhờ giáo dục Con người là những gì được giáo dục tạo nên” (Kant, Toàn tập (Samtliche Werke), Tập 8, Kant nói về Sư phạm học, 1920, tr.193) Cũng như J J Rousseau đã nói: “Việc học tập đích thực của chúng ta là học tập về thân phận con người” (Lê Hồng Sâm và Trần Quốc Dương chuyển ngữ, Émile hay là về giáo dục, 2008, tr.184)

Giữa hai thế kỷ XIX - XX ở vùng Đông Á lúc bấy giờ diễn ra nhiều

sự kiện trọng đại, nhất là ở Nhật và ở Trung Quốc Cuộc Duy tân ở Nhật Bản của Minh Trị Thiên Hoàng đưa đến kết quả rực rỡ Nước Nhật trở thành một cường quốc sau khi đánh thắng được nước Nga Cuộc Duy tân đã làm thay đổi diện mạo của Nhật Bản trên tất cả các lĩnh vực Điểm nổi bật nhất là ban bố chính sách xóa bỏ chế độ đẳng cấp phong kiến Xóa bỏ việc giữa những giai tầng này được phép gả cưới lẫn nhau Đẳng cấp võ sĩ và

Trang 21

những đặc quyền của đẳng cấp này cũng bị xóa bỏ Chính phủ Minh Trị đã nhận thức rất rõ việc học tập và tiếp thu một cách thực sự nền khoa học của phương Tây thông qua giáo dục Theo quan niệm của Nhật Bản sức mạnh quốc gia bắt đầu từ sự giáo dưỡng của mỗi công dân Do đó giáo dục được xác định là quốc sách hàng đầu là chìa khóa để cận đại hóa Nhật Bản Nền giáo dục ấy phải đảm bảo

“Không có người nào thất học, không nhà nào không có người học, không phân biệt giàu nghèo, nam nữ, giai tầng xã hội vv…” (Lưu Tộ Xương & Quang Nhân Hồng, Hàn Thừa Văn (Chủ biên), Lịch sử thế giới thời cận đại (1640 - 1900), Tập 4, 2005, tr.90)

Chính phủ Nhật Bản tăng cường gửi học sinh đi du học ở nước ngoài không phân biệt thành phần xuất thân Mở các trường ngoại ngữ cũng là một chính sách tạo điều kiện cho người Nhật Bản có điều kiện chủ động tiếp thu văn minh phương Tây có hiệu quả Công cuộc cải cách của Minh Trị Hoàng Thiên đã là thay đổi hoàn toàn cục diện của Nhật Bản lúc bấy giờ và ảnh hưởng sâu sắc đến Đông Á và Đông Nam Á Do ảnh hưởng của cuộc Duy tân ở Nhật Bản việc vận động Duy tân ở Trung Quốc cũng được bắt đầu nhưng gặp sự cản trở của thế lực phong kiến, rồi sự xâu xé của các liệt cường, trải nhiều biến cố mới đi đến cuộc Cách mạng Tân Hợi Nhưng chính cuộc vận động này đã liên tục xuất hiện rất nhiều tác phẩm lý luận chính trị, văn hóa và xã hội làm cho giới nho sĩ ở Trung Quốc thức tỉnh, chuyển biến theo đường lối mới và ảnh hưởng mạnh mẽ đến các nước ở trong vùng Cả khu vực Đông Á đang bắt đầu thức tỉnh, trong đó có Việt Nam

Tóm lại, sinh ra và lớn lên trong tình hình thế giới đầy biến động và là

người có cơ hội tiếp cận những luồng văn hóa mới, triết thuyết tiến bộ, hiểu sâu sắc giá trị của tự do, dân chủ, bình đẳng, bác ái, giao lưu quốc tế, cách

Trang 22

mạng từ các nước tiến bộ Những tư tưởng đó đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến tư tưởng con người Việt Nam nói chung và ảnh hưởng đến tư tưởng của Phan Châu Trinh nói riêng Ông muốn giải phóng dân tộc, giải phóng con người khỏi áp bức, bóc lột trước tiên là phải nâng cao tinh thần yêu nước, giá trị và năng lực của con người Muốn làm được điều đó cần phải xuất phát từ việc giáo dục và giáo dục gia đình là cái nôi đầu tiên hình thành nhân cách của mỗi con người Chính vì thế mà tư tưởng giáo dục đạo đức trong gia đình bắt đầu nhen nhóm hình thành trong Phan Châu Trinh

1.1.2 Điều kiện lịch sử - xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế

kỷ XX với sự hình thành tư tưởng gia huấn của Phan Châu Trinh

Dưới thời Pháp thuộc, xã hội Việt Nam có nhiều biến đổi to lớn trên tất cả các lĩnh vực đặt nền móng cho sự phát triển về mọi mặt trong đó có những tư tưởng về gia huấn của Phan Châu trinh

Chế độ phong kiến Việt Nam vào cuối triều Tự Đức đi vào con đường suy vong, nội chiến ngoại hoạn xảy ra khắp nơi, quyền hành của triều Nguyễn bắt đầu xuống dốc Song, các thế lực thực dân phương Tây nhất là Pháp đã trực tiếp dòm ngó nước ta từ lâu Từ đó dẫn đến sự kiện lịch sử năm

1858, tàu chiến của Pháp và Tây Ban Nha bắn phá cửa biển Đà Nẵng chính thức xâm lược Việt Nam lần thứ nhất Không lâu sau đó, chính quyền triều Nguyễn từng bước khuất phục xâm lược của tư bản Pháp, lần lượt ký kết các hiệp ước đầu hàng, thừa nhận nền bảo hộ của thực dân Pháp trên toàn cõi Việt Nam Xã hội phong kiến Việt Nam vốn đã trì trệ, kém phát triển giờ lại trở thành một nước thuộc địa nửa phong kiến Chính vì thế, cho đến cuối thế

kỉ XIX tình hình Việt Nam có nhiều sự chuyển biến và phân hóa:

Về kinh tế, quá trình phát triển của chủ nghĩa đế quốc tạo nên cuộc

khủng hoảng 1900 - 1930 dẫn đến việc mở rộng thị trường bằng cách xâm lược vào các nước phương Đông Từ đó, sự du nhập của phương thức sản

Trang 23

xuất tư bản chủ nghĩa, quan hệ kinh tế nông thôn bị phá vỡ, hình thành nên những đô thị mới, những trung tâm kinh tế và tụ điểm cư dân mới Nhưng thực dân Pháp không du nhập một cách hoàn chỉnh phương thức tư bản chủ nghĩa vào nước ta mà vẫn duy trì quan hệ kinh tế phong kiến Sau phong trào Cần Vương tiếp đến là cuộc hòa hoãn tạm thời của nghĩa quân Hoàng Hoa Thám vào đầu thế kỉ XIX thực dân Pháp đã cơ bản hoàn thành việc bình định

ở nước ta Chúng kết hợp hai phương thức bóc lột tư bản và phong kiến để thu lợi nhuận siêu ngạch Chính vì thế, nước Việt Nam không thể phát triển lên chủ nghĩa tư bản một cách bình thường được, nền kinh tế Việt Nam bị kìm hãm trong vòng lạc hậu và phụ thuộc nặng nề vào kinh tế Pháp Do Việt Nam là nước giàu tài nguyên, nhiều công nhân và phương tiện sản xuất lạc hậu Vì thế thực dân Pháp thực hiện chính sách kinh tế thực dân phản động

và bảo thủ nhằm biến nước ta thành thị trường tiêu thụ hàng hóa thừa và cung cấp nguyên liệu rẻ mạt cho chúng

Để phục vụ cho công cuộc khai thác chúng đã cho xây dựng một số

cơ sở vật chất như giao thông vận tải, độc chiếm thị trường Việt Nam Chính sách kinh tế của thực dân cũng đã làm phá sản chính sách bế quan tỏa cảng của triều đình nhà Nguyễn tạo điều kiện cho Việt Nam được tiếp xúc với các nước tiến bộ trên thế giới Lúc bấy giờ trong xã hội Việt Nam xuất hiện một số tư tưởng tiến bộ, yêu nước, đặt ra những mục tiêu độc lập,

tự do, giải phóng dân tộc ra khỏi áp bức cường quyền Chính vì lẽ đó làm xuất hiện nhiều trào lưu tư tưởng mới trong đó tiêu biểu là tư tưởng gia huấn của Phan Châu Trinh

Về chính trị, để đảm bảo về lợi nhuận thuộc địa tối đa chúng tiếp tục

thi hành chính sách chuyên chế về mặt chính trị với bộ máy đàn áp nặng nề Mọi quyền hành đều thâu tóm trong tay các viên quan cai trị người Pháp, từ toàn quyền Đông Dương, thống đốc Nam Kỳ, khâm sứ Trung Kỳ, thống sứ

Trang 24

Bắc Kỳ, công sứ các tỉnh, đến các bộ máy quân đội, cảnh sát, toà án, ;

Nguyễn Ái Quốc trong tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp đã viết:

“Ở Ấn Độ thuộc Anh, dân số là 325 triệu người, có 4.898 viên chức người Âu Ở Đông Dương thuộc Pháp, dân số 15 triệu người, có 4.300 viên chức người Âu” (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 2, 2000, tr.55) và biến vua quan Nam triều thành bù nhìn, tay sai

Chúng bóp nghẹt tự do, dân chủ, thẳng tay đàn áp, khủng bố, dìm các cuộc đấu tranh của nhân dân ta trong biển máu Chúng thi hành chính sách chia để trị làm suy yếu lực lượng dân tộc Việt Nam rất thâm độc, chia nước ta làm

ba kỳ, mỗi kỳ đặt một chế độ cai trị riêng và nhập ba kỳ nước ta với nước Lào và nước Campuchia để lập ra liên bang Đông Dương thuộc Pháp, xóa tên nước ta trên bản đồ thế giới Chúng gây chia rẽ và gây thù hận giữa Bắc, Trung, Nam, giữa các tôn giáo, các dân tộc, các địa phương, thậm chí là giữa các dòng họ; giữa dân tộc Việt Nam với các dân tộc trên bán đảo Đông Dương

Tóm lại về mặt kinh tế, chính trị - xã hội thực dân Pháp bắt nước ta phải cam chịu sự thống trị của thực dân Pháp, các giai cấp chấp nhận làm tay sai của thực dân Pháp Mâu thuẫn xã hội sâu sắc giữa các giai cấp trong xã hội phát triển đến đỉnh điểm đã làm ảnh hưởng đến tư duy của của những nhà sĩ phu tiến bộ trong giai đoạn này trong đó có Phan Châu Trinh

Về văn hóa chúng thi hành triệt để chính sách văn hóa nô dịch, gây

tâm lý tự ti, vong bản, khuyến khích các hoạt động mê tín dị đoan, đồi phong bại tục Mọi hoạt động yêu nước của nhân dân ta đều bị cấm đoán Chúng tìm mọi cách bưng bít và ngăn chặn ảnh hưởng của nền văn hóa tiến bộ trên thế giới vào Việt Nam và thi hành chính sách ngu dân để dễ bề thống trị, chúng xây dựng nhà tù nhiều hơn trường học, đời sống nhân dân khổ cực với cảnh một cổ hai tròng áp bức Tính chất xã hội thay đổi từ xã hội phong kiến

Trang 25

dần chuyển sang xã hội thuộc địa nửa phong kiến Sự phân hoá giai cấp trong xã hội diễn ra ngày càng sâu sắc hơn kéo theo sự thay đổi về văn hóa cũng lâm vào tình trạng suy thoái

Chúng duy trì chế độ phong kiến với những luân thường đạo lý như trọng nam khinh nữ đã khiến con người bị buộc chặt bởi những lễ giáo phong kiến Con gái ở chế độ phong kiến phải luôn sống trong giới hạn của gia đình, ít được tiếp xúc với bên ngoài, không có kinh nghiệm về cuộc sống

và không được học hành, phận làm con cha mẹ đặt thì phải ngồi đấy nên vị trí của người phụ nữ không được đề cao Các vấn đề tảo hôn, tỳ thiếp, mãi dâm rất phổ biến trong xã hội phong kiến, nạn tỳ thiếp được xem là một vết nhơ trong xã hội phong kiến từ lâu để lại Cái gương xấu từ người cầm đầu chế độ quân chủ chuyên chế - vua - hoàng đế đã có hoàng hậu nhưng vẫn có các cung phi và hàng trăm cung tần mỹ nữ Nắm trong tay vận mệnh của quốc gia, ngôi thiên tử bao giờ cũng theo đuổi mục đích thỏa mãn cái bản năng hưởng lạc, hoang dâm vô độ đẻ ra nạn tranh quyền cướp ngôi đưa đến họa mất nước Các quan đại thần ở tỉnh nào có con gái xinh đẹp thì bắt phải dâng lên để làm vợ lẽ, nàng hầu, nếu không thì gia đình phải khó lòng sống được nơi ấy Một số cha mẹ phải đưa con gái mình nộp vào cung để được vua thăng quan tiến chức, một số gia đình phải bán con cho nhà khác thậm chí làm vợ của những nhà giàu

Thế kỷ XIX là thời kỳ suy vong của chế độ phong kiến cũng là lúc chủ nghĩa thực dân thống trị Việt Nam, biến mọi thứ trên đời thành hàng hóa, đồng tiền được đặt lên trên hết, việc hôn nhân gia đình bị tước mất đi tính thiêng liêng như một nghĩa vụ xã hội của nó Lại một lần nữa người phụ nữ phải chịu những lầm than thống khổ bởi ngày càng bộc lộ rõ hơn tính trơ trẽn, dã man, buôn bán và đày đọa phụ nữ bởi những tên cường hào, những tên lính chúng xây dựng lối sống đồi trụy, xa hoa đã làm cho nạn tỳ thiếp

Trang 26

tiếp tục được duy trì bởi chủ nghĩa thực dân Ngoài ra mãi dâm, tảo hôn, mua

- bán con cái cũng trở thành một món hàng hóa bình thường trong xã hội Dưới chính sách áp bức bóc lột cùng các chế độ đàn áp, chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, người nông dân Việt Nam bị bần cùng hóa, khổ cực hóa và có nhiều sự thay đổi đáng kể Điểm nổi bật là chủ nghĩa thực dân đẩy mạnh đầu tư vốn sang thuộc địa, nhiều nhất là đầu tư vào nông nghiệp, chủ yếu là cao su khiến một số nông dân trở thành công nhân (tá điền, phu điền ) Công nghiệp được mở rộng quy mô, khai thác mỏ được coi trọng, đặc biệt là mỏ than, hàng ngàn nông dân phải xa nhà, xa quê hương để vào làm việc cho các hầm mỏ, xí nghiệp Chính vì thế mà gia đình truyền thống

bị phá vỡ, con cái không được học hành, không được giáo dục từ bố mẹ vì phải đi làm ăn xa và không thực hiện đúng chức trách làm con của mình Từ

đó nhiều giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp của gia đình như: hiếu nghĩa, thủy chung, kính trên nhường dưới dần bị mai một và cấu trúc gia đình trở nên lỏng lẻo, liên kết giữa các thành viên gia đình mờ nhạt, các thành viên gia đình không được đối xử bình đẳng, cha mẹ thiếu gương mẫu và không có thời gian hoặc không quan tâm chăm sóc, giáo dục con cái, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, xung đột, bạo lực gia đình gia tăng Chính vì lẽ đó

mà gia đình khó có thể làm tốt chức năng giáo dục, các thành viên trong gia đình khó hòa thuận, hạnh phúc và đặc biệt con cái khó có thể sống trong tình yêu thương, ấm no và không thể hình thành con người có nhân cách tốt phục

vụ cho thời đại mới

Cùng thời điểm lịch sử đó, làn sóng Âu học du nhập vào nước ta ngày càng mạnh cùng với những ảnh hưởng từ các cuộc cải cách của Nhật Bản, Trung Quốc tràn vào nước ta Từ đó, phong trào yêu nước của Việt Nam dần chuyển sang hướng dân chủ tư sản, đó cũng là cơ hội để các nhà Nho yêu nước có cơ hội tiếp cận với những tư tưởng tiến bộ như: chủ trương cầu

Trang 27

ngoại viện của Phan Bội Châu, dùng bạo lực để khôi phục độc lập, chủ trương “ỷ Pháp cầu tiến bộ” và phong trào Duy tân của Phan Châu Trinh nhằm khai thông dân trí, nâng cao dân khí, trên cơ sở đó mà tạo sức mạnh nội sinh giải phóng dân tộc, Tuy nhiên, các tư tưởng của các bậc tiền bối

đã thất bại trên con đường giải phóng dân tộc nhưng vẫn có giá trị hết sức quan trọng đối với việc giáo dục con người Việt Nam Để giành được độc lập bên cạnh việc tìm ra việc con đường giải phóng mới là cần phải xây dựng sức mạnh nội sinh của đất nước Sức mạnh đó là xây dựng, nâng cao yếu tố con người nhất là đạo đức, lòng yêu nước Đồng thời, ông đã khẳng định vai trò quan trọng của gia đình trong việc giáo dục đạo đức, hình thành và phát triển nhân cách con người Xã hội muốn phát triển, tiến bộ thì gia đình phải tiến bộ: các thành viên trong gia đình phải có tư tưởng tiến bộ, đạo đức tốt, yêu thương, đoàn kết với nhau, thế hệ đi trước phải giáo dục thế hệ sau, thế

hệ sau thực hiện đúng bổn phận, trách nhiệm của mình Từ đó giúp các thành viên trong gia đình hiểu rõ vị trí, trách nhiệm của mình trong gia đình, đây là một trong những nội dung quan trọng trong tư tưởng giáo dục đạo đức gia đình của Phan Châu Trinh

Như vậy, Phan Châu Trinh đã tận mắt chứng kiến tình hình đất nước thay đổi trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội, đời sống nhân dân đã cực khổ nay lại càng cực khổ hơn khi phải chịu ách xiềng xích của chế độ thực dân và những tàn dư của xã hội phong kiến Từ lòng căm thù giặc ngoại xâm

và tình yêu quê hương, thương yêu đồng bào đã thôi thúc Phan Châu Trinh tìm cách giải phóng dân tộc, giải phóng con người với mong muốn nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho đất nước và cuộc sống cho nhân dân Tư tưởng giáo dục đạo đức gia đình của Phan Châu Trinh được hình thành trong điều kiện bối cảnh lịch sử trên, đã góp phần thực hiện mong muốn của ông

Trang 28

Nhìn chung cuối thế kỷ XIX đầu thế kỉ XX, lịch sử Việt Nam đã chuyển sang một giai đoạn mới Tương ứng với điều kiện hoàn cảnh mới, nhiệm vụ cách mạng giải phóng dân tộc cũng mang tính chất khác trước Một bộ phận nhà Nho tiến bộ, trong đó có Phan Châu Trinh đã “khai phá” những phương pháp cứu nước, cứu dân theo những khuynh hướng dân chủ

tư sản Một trong những khuynh hướng nổi bật trong giai đoạn này đó là phong trào Duy Tân Phong trào này nổi lên như một cuộc cách mạng văn hóa, đã tác động đến hầu hết các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội của Việt Nam lúc bấy giờ Đáng chú ý trong phong trào này là những đóng góp về giáo dục Là người đứng đầu phong trào Duy Tân, Phan Châu Trinh đã nêu

ra ba nội dung cơ bản: “Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh” Nói đến phong trào Duy Tân, trước hết là nói đến dân trí, nói đến tư tưởng phát triển giáo dục của chí sĩ yêu nước nhiệt thành Phan Châu Trinh Tư tưởng về sự phát triển giáo dục “khai dân trí” luôn được ông đề cao trong đó có tư tưởng gia huấn đến nay vẫn còn nguyên giá trị

1.2 NHỮNG TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG GIA HUẤN CỦA PHAN CHÂU TRINH

1.2.1 Giá trị truyền thống dân tộc với sự hình thành tư tưởng gia huấn của Phan Châu Trinh

Giá trị truyền thống dân tộc

Lịch sử dựng nước và giữ nước lâu đời đã hình thành nên những giá trị truyền thống hết sức đặc sắc và cao quý của dân tộc Việt Nam Những giá trị truyền thống đang được gìn giữ và phát huy đó là tinh thần yêu nước, ý chí kiên cường bất khuất đấu tranh chống giặc ngoại xâm, truyền thống nhân nghĩa, tương thân tương ái, đoàn kết, hiếu thảo, hiếu học, cần cù, dũng cảm, Những giá trị truyền thống này có ảnh hưởng rất nhiều đến tư tưởng của thế

Trang 29

hệ sau, trở thành tiền đề, cơ sở lý luận hình thành biết bao tư tưởng lỗi lạc, trong đó có tư tưởng giáo dục đạo đức gia đình của Phan Châu Trinh

Truyền thống nhân nghĩa, đoàn kết, tương thân, tương ái là một truyền thống quý báu được hình thành, phát triển cùng với sự ra đời, phát triển của dân tộc Việt Nam được tạo dựng, bồi đắp và phát triển bền vững

từ đời này qua đời khác Giá trị truyền thống ấy cho phép dân tộc Việt Nam quy tụ sức mạnh tổng hợp to lớn để chiến thắng thiên tai và giặc ngoại xâm trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Từ thời cổ đại cho đến thời hiện đại, với độ dài thời gian gần 12 thế kỷ trong hơn 22 thế kỷ, số lượng các cuộc kháng chiến quá lớn so với các nước trên thế giới, buộc dân tộc ta phải biết huy động sức mạnh của toàn dân thì mới có thể chiến thắng được kẻ thù, bảo vệ non sông Đúc kết từ thực tiễn đấu tranh chống thiên tai và địch họa, dân tộc Việt Nam đã động viên nhau:

“đoàn kết thì sống, chia rẽ là chết” Hơn nữa, văn hóa nhà - làng - nước tồn tại lâu đời trong lịch sử dân tộc ta là cơ sở để sinh sôi, nảy nở truyền thống nhân nghĩa, đoàn kết, tương thân, tương ái Truyền thống nhân nghĩa, đoàn kết, tương thân tương ái thấm đượm trong mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, phát triển trong quan hệ làng xóm và mở rộng ra cả cộng đồng dân tộc Việt Nam Nhận định được tầm quan trọng đó của sự đoàn kết, tương thân tương ái trong gia đình, Phan Châu Trinh rút ra bài học là các thành viên trong gia đình phải yêu thương, đùm bọc, đoàn kết với nhau, cũng như tương thân tương ái giúp đỡ mọi người trong “gia đình lớn” Lòng yêu nước là truyền thống quý báo, ăn sâu, bám rễ trong tiềm thức của mỗi con người Việt Nam Phan Châu Trinh cũng được tiếp cận truyền thống này từ rất sớm bởi người cha của mình và sống trong tình hình đất nước nhiều biến động, ông nhận ra cũng chính nhờ có lòng yêu nước mà biết bao anh hùng hào kiệt đứng để đấu tranh giải phóng dân tộc Từ đó,

Trang 30

trong con người ông hình thành lòng yêu nước, tinh thần kiên cường bất khuất và ngày càng lớn mạnh trong ông Lòng yêu nước là tình cảm lớn nhất, bao trùm nhất, trở thành lẽ sống, thành tư duy chính trị và hành động ứng xử tự nhiên của mọi con người Việt Nam Cũng bởi chính lòng yêu nước luôn thôi thúc Phan Châu Trinh tìm tòi, học hỏi tìm ra con đường giải phóng dân tộc, giải phóng con người Một trong những con đường của ông tìm ra đó là con đường nâng cao đạo đức mà xuất phát điểm là nâng cao giáo dục đạo đức gia đình bởi giữ gia đình chỉnh tề rồi mới bình định thiên

hạ, bởi gia đình là tế bào của xã hội

Bên cạnh đó, truyền thống gia đình như hiếu thảo, nhường nhịn, hòa thuận, chung thủy của người dân Việt Nam tác động rất nhiều đến tư tưởng giáo dục đạo đức gia đình của Phan Châu Trinh Mà gia đình của ông chính

là tấm gương điển hình cho ông noi theo Từ đó trong nội dung giáo dục đạo đức gia đình của ông xác định vị trí, trách nhiệm của từng thành viên trong gia đình: trách nhiệm của con cái phải hiếu thảo với cha mẹ, anh em trong nhà phải yêu thương, đùm bọc hòa thuận với nhau, vợ chồng phải nhường nhịn, chung thủy, thì gia đình mới hạnh phúc

Tư tưởng gia huấn của các bậc tiền bối

Những lời giáo huấn qua các tác phẩm của Phan Châu Trinh ta thấy được sự kế thừa từ tư tưởng của nhiều nhà văn hóa lớn của dân tộc Nguyễn Trãi vị anh hùng dân tộc vào thế kỉ XV, là một nhà quân sự, một nhà chính trị lỗi lạc, một nhà văn, nhà thơ vĩ đại của dân tộc, có nhiều thi phẩm văn

chương bất hủ Trong đó tác phẩm Gia huấn ca của ông, đã đề cao đạo đức, luân lý trong mối quan hệ giữa cá nhân, gia đình và xã hội Gia huấn ca thể

hiện rõ về gia pháp - gia lễ - gia phong: dạy vợ con, dạy con có đạo đức, dạy con gái, vợ khuyên chồng, dạy học trò ở cho có đạo, khuyên học trò phải

chăm học… Hiện nay tác phẩm Gia huấn ca được các nhà nghiên cứu tranh

Trang 31

luận và đưa ra hai hướng khác nhau Hướng thứ nhất được cho rằng Gia huấn ca là của Nguyễn Trãi, hướng thứ hai cho rằng tác phẩm Gia huấn ca

không phải của thi hào dân tộc Nguyễn Trãi bởi lời văn bình thường, mộc mạc khác hẳn với lời văn Bình ngô Đại cáo Tuy nhiên vẫn chưa có kết luận

chính thức về tác giả nên vẫn có thể xem như Nguyễn Trãi là tác giả của Gia huấn ca Đây được xem là một trong những cổ văn của Việt Nam có ảnh

hưởng sâu sắc đến những Nho sĩ trong đó có Phan Châu Trinh

Nguyễn Bỉnh Khiêm được xem là người xứng đáng kế thừa và phát triển ngôn ngữ thi ca dân tộc kể từ sau thời Nguyễn Trãi Nguyễn Bỉnh Khiêm được nhìn nhận là một trong những nhà văn hóa lớn của dân tộc Ông

là một chính khách có uy tín, bậc hiền triết, nhà tiên tri Nhưng ông cũng đồng thời là một tác gia lớn có những đóng góp quan trọng trong sự phát triển của văn học dân tộc Sáng tác của Nguyễn Bỉnh Khiêm rất phong phú trong đó Bạch Vân gia huấn một trong những tác phẩm nhằm giáo huấn con

cái trong gia đình biết hiếu hạnh, làm tròn đạo nghĩa và những lời khuyên răn tu thân, tích đức phải kính trên nhường dưới thì mới mong có được cuộc sống hạnh phúc vui tươi và phải giữ danh phận của mình Nguyễn Bỉnh Khiêm viết:

“Phận làm con phải thông đạo hiếu - Phận làm dân phải hiểu chữ trung” hay “Của cải dùng lâu cũng hết Chữ hiếu trung hưởng mãi vô cùng” (Trần Minh Khởi, Bạch vân gia huấn Trình Quốc Công (Sưu tầm), Chức phận làm con, 2007, tr.347)

Trong các câu thơ Phan Châu Trinh thể hiện dễ dàng bắt gặp cách giáo dục giáo đình của ông, đặc biệt là việc giáo dục người phụ nữ trong gia đình biết giáo dục con cái, chăm sóc chồng, sống an nhàn, an phận giữ gìn sự thủy chung Phan Châu Trinh còn ảnh hưởng bởi những câu chuyện truyền thuyết hay truyện cổ tích mà người Việt luôn tự hào là thuộc dòng giống con rồng

Trang 32

cháu tiên Khi kể về Lạc Long Quân như là một người cha mẫu mực, anh hùng, thương yêu và che chở con cái lúc hoạn nạn, thường khuyên mọi người

ăn ở hiền lành, sống đúng đạo lý cha con và tình nghĩa vợ chồng Đó là ý thức

về hiếu hạnh, đặt nền tảng gây dựng đạo đức xã hội Trong ca dao Việt Nam, tiếng nói đạo đức mang truyền thống văn hóa dân tộc được kết tụ mấy nghìn năm lịch sử Truyền thống uống nước nhớ nguồn, sùng bái tổ tiên đó là tinh thần gia tộc quan trọng cũng là mối dây thắt chặt tình đoàn kết trong tông tộc nên trong việc giáo dục con cái cũng đề cập sâu về việc tế tự tổ tiên Với những lời lẽ mộc mạc, dễ hiểu đã đề cao được công lao sinh dưỡng của cha

mẹ, nó không nằm trong phạm vi văn chương bác học, mà trở lại gần gũi và phổ cập với đời sống con người qua bao thế hệ Bên cạnh đó, tư tưởng giáo dục đạo đức gia đình của Phan Châu Trinh còn chịu ảnh hưởng của các “tư tưởng Tân thư” cụ thể là tư tưởng Lương Khải Siêu, Khang Hữu Vi, ; “tư tưởng canh tân” cụ thể là tư tưởng của Nguyễn Trường Tộ, Phạm Phú Thứ,

Những truyền thống quý báu đó đã được khắc sâu trong tâm trí của Phan Châu Trinh và được thể hiện sâu sắc trong các tác phẩm cũng như quá trình hoạt động thực tiễn cách mạng của Phan Châu Trinh

1.2.2 Tinh hoa văn hóa nhân loại với sự hình thành tư tưởng gia huấn của Phan Châu Trinh

Nét đặc sắc trong quá trình hình thành tư tưởng giáo dục đạo đức gia đình nhân cách của Phan Châu Trinh chính là sự kết hợp giữa giá trị truyền thống phương Đông, Phật giáo và các tư tưởng cải cách tiến bộ của các nước

Về văn hóa phương Đông, Nho giáo tác động mạnh mẽ vào các hoạt động văn hóa tinh thần của người Việt Nam Đặc biệt trong văn hóa tổ chức cộng đồng, ở cấp độ gia đình tư tưởng Minh Đạo gia huấn về giáo dục gia đình của Trình Hạo - Trình Di có ảnh hưởng rất lớn Đây là tư tưởng cơ bản được dạy cho các học trò nhà Nho như lời răn dạy của Trình Minh Đạo (tức

Trang 33

Trình Hạo) bậc đại Nho gia của Trung Hoa Những tư tưởng gia huấn ấy là dựa trên kinh nghiệm sống và dùng những hình thức như thơ ca, tản văn, cách ngôn, thư tín để xoay quanh thể hiện lý luận gia đình thông qua việc dạy con cháu làm người, nguyên tắc quản lý gia đình và đạo tu thân xử thế, coi trọng hiếu đạo Bên cạnh đó đưa ra thuyết nhân quả vào giáo dục gia đình như lời răn dạy, răn đe để từ đó phải luôn biết tự điều chỉnh bản thân biết kiềm chế dục vọng đời thường. Điểm quan trọng trong Minh Đạo gia huấn nói đến là ba môi trường giáo dục: gia đình, nhà trường, xã hội đã được

đề cập nhưng một diễn trình và đề cao việc giáo dục con gái và tầm quan trọng của giáo dục đối với con cái, dù trai hay gái cũng đều được giáo dục Phan Châu Trinh với những hiểu biết uyên bác về Hán học và ảnh hưởng từ gia đình Nho giáo ông đã tiếp thu những triết lý của tư tưởng Nho giáo như: ngũ luân, tam cương, ngũ thường, đề cao văn hóa lễ giáo, tư tưởng nhập thế, hành đạo, giúp đời, hình thành trong tư tưởng của ông là giáo dục con người ý thức được trách nhiệm của bản thân trong các mối quan hệ gia đình

và xã hội, sống đạo đức, lễ giáo Chính vì thế có rất nhiều đạo lý gia huấn

của Minh Đạo gia huấn truyền thời đã ảnh hưởng sâu rộng đến sự hình thành

tư tưởng gia huấn của Phan Châu Trinh

Nhan thị gia huấn tập đại thành các loại sách gia giáo, gia huấn do

Nhan Chi Thôi thời Bắc triều soạn ra, sách này lấy tư tưởng Nho gia làm chỉ tôn nội dung chuyên về giáo dục con em, trị lý việc nhà, về việc cá nhân tu dưỡng và môn phong gia tộc… Có thể nói đây là bộ sách toàn diện có sức thuyết phục và ảnh hưởng rất lớn tới các tác phẩm gia huấn đời sau, thường được coi là trước tác của các sách gia huấn cổ kim

Ngoài ra Viên thị thế phạm của học giả Viên Thái đã dựa trên đạo lý

của Nho giáo để đưa ra những lập luận tinh tế về lẽ đọc sách tu thân, kính nghiệp, trọng người tài, kính già yêu trẻ, quản lý gia đình tiền bạc, đạo làm

Trang 34

người, cách đối nhân xử thế được truyền dạy cho các học trò và được xem là

di sản văn hóa quý báu để lại cho người đời sau biết cách trọng đức tu thân

và Chu Hy gia huấn của nhà Nho Chu Hy khởi xướng đạo hòa thuận trong gia đình, hòa hợp xã hội, trọng đức tu thân Trong Chu Hy gia huấn nhấn

mạnh đầu tiên là “tu thân”, sau đó là “tề gia” Tư tưởng lấy “tu thân”, “tề gia” làm tôn chỉ, tập hợp những thành tựu lớn về cách làm người xử thế của Nho giáo bao gồm cách đối xử với cha mẹ, con cái, vợ chồng, anh em, người làm, rồi đến “hòa thuận trong gia đình” Muốn chỉnh đốn tốt gia đình, gia tộc mình, trước hết phải làm cho tâm tư của mình ngay thẳng (chính tâm), đoan chính bởi vì con người ta ở đời thường dễ bị tình cảm chi phối, làm sai lạc ý chí, có những cảm xúc thiên vị cá nhân thế nên cần phải tu dưỡng cá nhân đến chỗ ngày càng hoàn thiện Mỗi cá nhân trong gia đình tốt thì làm cho gia đình mình tốt đẹp, tề chỉnh, có nề nếp, gia phong Vì thế, “tu thân” chính là

“tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” mà sau này được Phan Châu Trinh kế thừa được thể hiện rõ trong cách giáo dục gia đình của ông

Về Phật giáo, Phan Châu Trinh tiếp thu và chịu ảnh hưởng sâu sắc các

tư tưởng từ bi bác ái, cứu khổ cứu nạn, vị tha, hiếu thảo, thương người, sống

có đạo đức, sống giản dị, có ích, Phan Châu Trinh đã đúc kết từ những đạo

lý giáo huấn trong gia đình của Phật giáo thông qua Hạnh phúc kinh được

truyền bá rộng rãi ở Việt Nam và được xem là một trong những kinh dạy con

người cách rèn luyện, tu dưỡng bản thân biết hiếu đạo Hạnh phúc kinh là sự

hướng dẫn về hạnh phúc gia đình, giáo huấn mỗi con người bằng tình yêu thương, vị tha, bao dung, độ lượng và hiểu rõ vai trò vị trí riêng của mình trong gia đình Người con có năm bổn phận đối với cha mẹ: Nuôi dưỡng cha

mẹ (khi cha mẹ già yếu); làm đủ bổn phận người con đối với cha mẹ; giữ gìn gia đình với truyền thống, bảo vệ tài sản kế thừa tự và làm tang lễ khi cha mẹ

Trang 35

qua đời Và cha mẹ cũng có năm trách nhiệm với con cái: Ngăn chặn con làm điều ác; khuyến khích con làm việc thiện; dạy con nghề nghiệp; cưới vợ xứng đáng cho con; đúng thời trao của thừa tự cho con Đây rõ là một thông điệp trách nhiệm hỗ tương không chỉ một chiều Con có năm bổn phận đối với cha mẹ và cha mẹ cũng có năm bổn phận đối với con Và khi cha mẹ và con cái làm tròn bổn phận của mình thì sẽ có hạnh phúc an lành Nói cho rõ hơn, vận may chỉ đến gia đình nào, khi trong gia đình ấy cha mẹ chọn tình đối với con cái, và con cái trọn đạo đối với cha mẹ Chính những đạo lý ấy

đã có ảnh hưởng trực tiếp đến sự hình thành tư tưởng giáo dục đạo đức trong gia đình của Phan Châu Trinh

Kể từ khi Phật giáo truyền vào Việt Nam ngoài Hạnh phúc kinh còn

có Kinh Vu Lan cũng là một trong những kinh quan trọng nói về chữ hiếu

của Phật giáo được dịch và phổ biến đầu tiên ở Trung Quốc, phù hợp với

giáo lý Khổng Mạnh và tín ngưỡng của nhân dân vì thế mà Kinh Vu Lan

được lan truyền rộng rãi Đặc biệt là Việt Nam một trong những quốc gia có

sự ảnh hưởng rất lớn từ Phật giáo Hiếu kính mẹ cha, phụng thờ tổ tiên ông

bà, nối kết ân tình nghĩa cảm giữa người còn kẻ mất, là sự đền đáp công đức sinh thành dưỡng dục của người con đối với cha mẹ hiện tiền và cha mẹ nhiều đời nhiều kiếp thông qua những thơ văn, truyện kể nêu cao vẻ đẹp truyền thống trong dòng chảy văn hóa tình người của dân tộc Nêu cao đạo lý làm người cùng với với tình cảm của dân tộc đã “hòa quyện” để ra đời một

mỹ tục văn hóa “Tu đâu cho bằng tu nhà - Thờ cha, kính mẹ ấy là chân tu” Chính vì thế mà chữ hiếu trở thành một tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá con người, mà nếu không thành tâm, nghiêm túc thực hành sẽ bị dư luận lên

án, cộng đồng chê cười Những đạo lý được Phan Châu Trinh thể hiện rõ nét trong các tác phẩm thơ văn của ông nhằm giáo huấn gia đình

Trang 36

Về văn hóa phương Tây, Phan Châu Trinh tiếp thu và học hỏi các tư tưởng tiến bộ của văn hóa phương Tây như pháp quyền, dân quyền, dân chủ,

tự do, bình đẳng, bác ái Từ đó hình thành tư tưởng dân chủ, đề cao vai trò của nhân dân Trong việc xây dựng nền dân chủ, chấn hưng đất nước ông chủ trương “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh” Việc đầu tiên ông muốn làm đó là khai dân trí bằng việc phê phán, loại bỏ các thói hư tật xấu,

hủ tục, tư tưởng lạc hậu của chế độ phong kiến, phổ biến tư tưởng dân chủ, thay vào đó là việc mở trường học, mở rộng giáo dục, nâng cao trình độ cho người dân Ông muốn giải phóng dân tộc, giải phóng con người khỏi áp bức, bóc lột mà trước tiên là phải nâng cao tinh thần yêu nước, giá trị và năng lực của con người, ông viết:

“Hãy coi trọng nền hòa bình của đất nước nếu chúng ta không muốn mua lấy cái chết Những sự giải thoát của chúng ta là nhằm chủ yếu trong sự học hành, mở mang trí tuệ” (Lê Thị Kinh (tức Phan Thị Minh), Phan Châu Trinh qua những tài liệu mới, quyển 1, tập 1, 2001, tr.155)

Muốn thực hiện được mục tiêu đó, cần có sự kết hợp, đồng lòng của tất cả các lực lượng giáo dục và nhân dân Bên cạnh tiếp thu những giá trị trên, khi bước vào thời kỳ khủng hoảng của chế độ phong kiến, trào lưu tư tưởng tiến

bộ của phương Tây có ảnh hưởng khắp Châu Á nó phá vỡ trật tự xã hội, phá

vỡ đi những nét văn hóa không còn phù hợp với thời đại và được thay bằng những tư tưởng tiến bộ hơn Phan Châu Trinh một người tiếp cận với văn hóa phương Tây khá sớm khi còn làm quan cho triều đình nhà Nguyễn Ông

là người nhận ra những nhược điểm của con người và xã hội Việt Nam và

thấy rõ việc cần phải thay đổi từ gốc rễ bằng cách nâng cao trình độ trí tuệ và đạo đức của người Việt, phát triển kinh tế - văn hóa, học tập những tư tưởng tiến bộ của Phương Tây, từ bỏ phong tục tập quán lạc hậu phải được bắt đầu

Trang 37

bằng việc thay đổi cách giáo dục đạo đức từ trong gia đình và học hỏi nét văn hóa của người phương Tây

Theo pháp luật của họ thì con cái tới 21 tuổi là sống tự lập, không phụ thuộc vào cha mẹ nữa, họ còn giáo dục con phải biết vị trí, trách nhiệm với

xã hội chứ không được bó hẹp trong phạm vi gia đình “đến tuổi có nghĩa vụ

và trách nhiệm đối với quốc gia luân lí, tất nhiên phải nhẹ gánh trong gia đình đi” (Nguyễn Văn Dương, Tuyển tập Phan Châu Trinh, 1995, tr.765).Ông đã nhận thấy được những nét tiến bộ trong giáo dục hôn nhân gia đình của phương Tây phù hợp đạo lý như: Hôn nhân một vợ - một chồng là loại hình hôn nhân cơ bản nhất, được pháp luật công nhận và việc đa thê chỉ được chấp nhận ở một số quốc gia trong một số giai đoạn lịch sử trong đó

có Việt Nam Lúc bấy giờ ở Việt Nam những tư tưởng về nữ quyền và bình đẳng nam nữ là một khái niệm hết sức xa lạ và đối với phụ nữ không có bất

cứ quyền lợi nào về kinh tế, chính trị và văn hóa bởi những ảnh hưởng lâu dài của hệ tư tưởng Nho giáo lên đời sống xã hội, những định kiến của xã hội về địa vị và thân phận họ trong xã hội thì việc công bằng giữa con trai

và con gái ở phương Tây rất được đề cao, đặc biệt là về giáo dục và đánh giá cao vai trò của phụ nữ trong gia đình Do ảnh hưởng của các trào lưu tư

tưởng dân chủ trên thế giới qua các Tân thư cùng với sự xuất hiện của báo

chí, từ đó mà Phan Châu Trinh có cơ hội tiếp cận với các tư tưởng mới và

có cơ hội bày tỏ quan điểm của mình đối với các vấn đề xã hội, văn hóa và chính trị Điều này ảnh hưởng rất nhiều đến tư tưởng giáo dục đạo đức gia đình của ông đó là việc ông rất quan trọng việc các thành viên trong gia đình phải xác định rõ vị trí trách nhiệm của mình đối với gia đình và xã hội, ông quy ra các chuẩn mực đạo đức cụ thể để các thành viên thực hiện có sự

kế thừa từ văn hóa phương Tây

Trang 38

Từ nửa cuối thế kỷ XIX, trong xu thế chung của cả khu vực văn hóa Việt Nam cổ truyền đã và đang phải đối mặt với trào lưu văn hóa phương Tây Sự thật lịch sử đã chỉ ra rằng ở Việt Nam đã sớm có một dòng tư tưởng canh tân nhận thức được sự cần thiết phải hướng văn hóa của dân tộc tới những giá trị tiến bộ mới lạ của khu vực và của thời đại, đồng thời phải kế thừa bảo lưu những giá trị tốt đẹp đã từng là chỗ dựa cho dân tộc trường tồn phát triển Khởi đầu là Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch, Phạm Phú Thứ, Đặng Huy Trứ Tiếp nối dòng tư tưởng này, nhận thức được vấn đề cấp thiết của dân tộc đầu thế kỷ XX là vấn đề độc lập dân tộc đặt trong hệ luận giải mới là dân chủ, dân quyền là một loạt các danh sĩ, đứng đầu phải kể tới Phan Châu Trinh

Phan Châu Trinh phát động phong trào Duy tân hô hào đổi mới và cải cách khắp nơi trong Nam và ngoài Bắc nhằm đưa xã hội Việt Nam tiến lên một bước Phong trào này đã lôi cuốn được đông đảo nhân dân tham gia, nổi nhất là trường Đông kinh Nghĩa thục ở Hà Nội và phong trào Duy tân ở các tỉnh miền Trung Những hoạt động của phong trào này nhằm cổ vũ ý thức tự cường dân tộc, thúc đẩy những cải cách chính trị, văn hóa xã hội trước hết là cải cách giáo dục và thi cử

Phan Châu Trinh đã diễn thuyết biên soạn những áng thơ văn kêu gọi lòng yêu nước để hô hào cải cách với khẩu hiệu nổi tiếng của ông: “Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh” Ông đề ra nhiệm vụ phải xóa bỏ nhân sinh quan cũ kỹ của thời trước, bắt tay vào xây dựng những quan niệm con người

lý tưởng mới có trí tuệ cao xa Muốn làm được điều đó theo ông phải đi tìm nguyên nhân mất nước, đánh giá lại một cách công bằng nền văn hoá cũ, phân biệt được một cách khách quan cái được và cái không được, cái hay và cái dở, để từ đó xây dựng nên nền văn hóa mới phù hợp với truyền thống và

Trang 39

bản sắc của dân tộc, đồng thời theo kịp với đà tiến bộ của văn minh nhân loại Chỉ riêng điều này thôi, ông đã vượt lên tất cả những người cùng thời

Ông nghiêm khắc chỉ trích tư tưởng độc đoán gia đình và những phong tục cổ hủ Ông cho rằng chủ nghĩa gia đình là cái ngăn trở sự tiến bộ của xã hội, bao nhiêu thói hư tật xấu là do trong gia đình mà ra, vì thế muốn chấn chỉnh xã hội thì trước hết phải phá bỏ mọi sự ràng buộc con người bởi những quyền uy của gia trưởng Ông luôn cho rằng việc thức tỉnh nhân dân

là rất quan trọng Ông đã phân tích và chỉ ra sự lạc hậu trong nền giáo dục của Nho giáo không còn đáp ứng nhu cầu của thực tiễn và đưa ra những dẫn chứng đề cao luân lý phương Tây cao hơn phương Đông Cao ở chỗ

“cái tính nô lệ ở người mình ngày nay chính là mang từ trong gia đình chuyên chế mà ra”; “quốc gia luân lý của ta từ xưa đến nay chỉ ở trong vòng chật hẹp của hai chữ vua tôi” (Nguyễn Văn Dương, Tuyển tập Phan Châu Trinh, 1995,tr.937)

Ông đưa ra nhận xét luân lý phương Tây phát triển thành ba giai đoạn, từ gia đình, lên quốc gia, đến xã hội Cũng chính vì lẽ đó mà tư tưởng giáo dục đạo đức gia đình bắt đầu nhen nhóm hình thành trong Phan Châu Trinh Theo ông thời thế thay đổi thì tư tưởng, lý luận phải thay đổi Phan Châu Trinh viết: “Luân lý tùy mỗi thời lúc mà khác, tùy mỗi nơi mà khác” (Nguyễn Văn Dương, Tuyển tập Phan Châu Trinh, 1995, tr.930) Bên cạnh việc phê phán những tư tưởng trong giáo dục gia đình của ông lại xuất phát

từ quan điểm “tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” của học thuyết Nho giáo Có thể thấy rằng những giá trị nhân văn, đạo đức của Nho giáo vẫn còn ý nghĩa phù hợp trong mọi thời đại phải kế thừa và phát triển

Không dừng lại ở đó ông tiếp tục đưa ra những lý giải về văn hóa phương Tây tiến bộ mà đất nước chúng ta nên học hỏi tiếp thu, cái mà ông gọi là “luân lý Tây Âu” Ông cho rằng muốn khôi phục hay thay đổi những

Trang 40

“luân lý gia đình” bằng một “luân lý gia đình” tiến bộ hơn của Tây Âu trước hết phải khôi phục lại “luân lý gia đình” xưa cũ trước đã rồi sau đó mới tiếp thu đạo đức luân lý của Tây Âu được Về vấn đề này ông đã phát biểu:

“Có người hỏi luân lý ta mất thì ta đem luân lý của Âu châu về ta dùng hẳn có được không? Tôi xin trả lời rằng: Không Một nước luân

lý cũ đã mất là nước không có cơ sở, nay bảo đem luân lý mới về thì biết đặt vào đâu?” (Nguyễn Văn Dương, Tuyển tập Phan Châu Trinh,

1995, tr.954 - 955)

Theo quan điểm của ông nếu như “luân lý gia đình” nước ta lúc bấy giờ không được sửa chữa, khôi phục lại thì không có cái gọi là nguồn gốc để thi hành một cái mới Nói “khôi phục lại nền đạo đức cũ” là khôi phục đúng nghĩa của tư tưởng Nho giáo thời Khổng Mạnh và không có nghĩa là khôi phục lại “luân lý gia đình” y nguyên như xưa được Ngược lại, chúng ta phải biết gạn lọc, rút kết những gì cần gìn giữ, phát huy và những gì là cái cần phải loại bỏ rồi mới đem “luân lý Tây Âu” về mà áp dụng Ông phát biểu:

“Nhưng nay đem một cây rất tươi tốt như cây luân lý ở các nước bên

Âu Tây kia mà chắp với một cây đã cằn cộc như cây luân lý ở nước Việt Nam ta thì tưởng cũng không tài nào sinh hoa tươi, quả tốt được Muốn cho sự kết quả về sau được tốt đẹp, tưởng trước khi chắp cây cũng nên bồi bổ cho hai bên sức lực bằng nhau đã Tôi diễn thuyết hôm nay là cốt ý mong anh em nên cứu chữa lấy cây luân lý cũ của

ta, rồi sẽ đem chắp nối với cây luân lý của Âu châu vậy.” (Nguyễn Văn Dương, Tuyển tập Phan Châu Trinh, 1995, tr.954 - 955)

Để đánh giá Phan Châu Trinh, việc ông lên án nền văn hóa cổ hủ, lạc hậu

do Nho giáo mang lại nhưng ông vẫn duy trì những phẩm giá tốt đẹp của

Ngày đăng: 18/04/2021, 23:14

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w