phải kết hợp nhuần nhuyễn giữa kế thừa và phát triển, giữa lý luận và thực tiễn, tiếp tục từng bước hoàn thiện cương lĩnh, lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hộ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
VŨ THỊ THANH THẢO
NHỮNG HÌNH THỨC DUNG HỢP TAM GIÁO
TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN
CỦA LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2020
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
VŨ THỊ THANH THẢO
NHỮNG HÌNH THỨC DUNG HỢP TAM GIÁO
TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG VIỆT NAM
Trang 3TP Hồ Chí Minh, ngày … tháng … năm 2020
Nghiên cứu sinh
VŨ THỊ THANH THẢO
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình do tôi nghiên cứu và thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS,TS Trương Văn Chung Kết quả nghiên cứu trong luận án là trung thực và chưa được công bố Các tài liệu sử dụng trong luận án có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng
TP Hồ Chí Minh, ngày … tháng … năm 2020
Nghiên cứu sinh
VŨ THỊ THANH THẢO
Trang 5Trang
PHẦN MỞ ĐẦU 1 PHẦN NỘI DUNG 11 Chương 1: QUAN NIỆM VỀ DUNG HỢP TAM GIÁO VÀ ĐIỀU KIỆN, TIỀN
ĐỀ HÌNH THÀNH NHỮNG HÌNH THỨC DUNG HỢP TAM GIÁO TRONG LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG VIỆT NAM 11
1.1 QUAN NIỆM VỀ DUNG HỢP TAM GIÁO VÀ ĐIỀU KIỆN HÌNH THÀNH NHỮNG HÌNH THỨC DUNG HỢP TAM GIÁO TRONG LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG VIỆT NAM 11
1.1.1 Quan niệm về dung hợp Tam giáo 11 1.1.2 Điều kiện lịch sử xã hội hình thành những hình thức dung hợp Tam giáo trong lịch sử tư tưởng Việt Nam 16
1.2 TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH NHỮNG HÌNH THỨC DUNG HỢP TAM GIÁO TRONG LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG VIỆT NAM 31
1.2.1 Tư tưởng, văn hóa phương Đông với sự hình thành những hình thức dung hợp Tam giáo trong lịch sử tư tưởng Việt Nam 31 1.2.2 Tư tưởng văn hóa Việt Nam với sự hình thành những hình thức dung hợp Tam giáo trong lịch sử tư tưởng Việt Nam 48
Kết luận chương 1 53 Chương 2: NỘI DUNG CỦA NHỮNG HÌNH THỨC DUNG HỢP TAM GIÁO TRONG LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG VIỆT NAM 55
2.1 DUNG HỢP TAM GIÁO THỜI KỲ BẮC THUỘC - HÌNH THỨC DUNG HỢP TAM GIÁO HÒA ĐỒNG - NHO, PHẬT, ĐẠO CẠNH TRANH, HÒA HỢP VÀ ĐỒNG HÀNH 55 2.1.1 Sự dung hợp Tam giáo thời kỳ Bắc thuộc - một quá trình tự nhiên xuất phát từ nhu cầu đời sống dân Việt 60 2.1.2 Ngẫu nhiên tạo thế tổng hợp Tam giáo để Phật giáo không bị cấm đoán, bị hạn chế, kìm hãm; và cả Nho, Đạo cũng không bị mất vai trò, vị trí trong đời sống tinh thần xã hội Đại Việt 62 2.1.3 Hình thức dung hợp Tam giáo sơ khai chỉ dừng ở cấp độ đứng bên nhau đồng hành lấy bản sắc văn hóa Việt Nam làm chất keo kết dính 64
2.2 DUNG HỢP TAM GIÁO THỜI KỲ LÝ - TRẦN - HÌNH THỨC DUNG HỢP TAM GIÁO
ĐỒNG NGUYÊN LẤY PHẬT GIÁO LÀM TRUNG TÂM 68 2.2.1 Quan điểm thế giới quan của các nhà tư tưởng đại diện thời kỳ Lý - Trần thể hiện dung hợp Tam giáo 74 2.2.2 Quan điểm nhân sinh quan của các nhà tư tưởng đại diện thời kỳ Lý - Trần thể hiện dung hợp Tam giáo 82
Trang 62.3.1 Quan điểm thế giới quan của các nhà tư tưởng đại diện thời kỳ Lê - Nguyễn thể
hiện dung hợp Tam giáo 90
2.3.2 Quan điểm nhân sinh quan của các nhà tư tưởng đại diện thời kỳ Lê - Nguyễn thể hiện dung hợp Tam giáo 103
2.4 DUNG HỢP TAM GIÁO THỜI KỲ CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẦU THẾ KỶ XX - HÌNH THỨC DUNG HỢP TAM GIÁO ĐỒNG QUY, LẤY PHẬT GIÁO LÀM NÒNG CỐT 117
2.4.1 Tôn giáo Bửu Sơn Kỳ Hương biểu hiện của dung hợp Tam giáo cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX 117
2.4.2 Tôn giáo Cao Đài biểu hiện của dung hợp Tam giáo cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX 122
2.4.3 Phật giáo Hòa Hảo biểu hiện của dung hợp Tam giáo cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX 128
Kết luận chương 2 136
Chương 3: ĐẶC ĐIỂM VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ CỦA NHỮNG HÌNH THỨC DUNG HỢP TAM GIÁO TRONG LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG VIỆT NAM 139
3.1 ĐẶC ĐIỂM CỦA NHỮNG HÌNH THỨC DUNG HỢP TAM GIÁO TRONG LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG VIỆT NAM 139
3.1.1 Sự cạnh tranh, kế thừa, chi phối lẫn nhau - Đặc điểm nổi bật của những hình thức dung hợp Tam giáo trong lịch sử tư tưởng Việt Nam 139
3.1.2 Tính khoan dung - đặc điểm trung tâm của những hình thức dung hợp Tam giáo trong lịch sử tư tưởng Việt Nam 143
3.2 Ý NGHĨA LỊCH SỬ CỦA NHỮNG HÌNH THỨC DUNG HỢP TAM GIÁO TRONG LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG VIỆT NAM 147
3.2.1 Ý nghĩa lý luận của hiện tượng dung hợp Tam giáo trong lịch sử tư tưởng Việt Nam 148
3.2.2 Ý nghĩa thực tiễn của dung hợp Tam giáo trong lịch sử tư tưởng Việt Nam 174
Kết luận chương 3 189
KẾT LUẬN CHUNG 192
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 195 CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng mở rộng, lan tỏa, thâm nhập vào đời sống kinh tế - xã hội tác động và thấm sâu vào toàn bộ các lĩnh vực của một dân tộc, một quốc gia Đã khiến mỗi dân tộc phải đứng trước và luôn luôn phải xử lý mâu thuẫn giữa hợp tác tạo ra các giá trị phổ quát chung để xích lại gần nhau tạo điều kiện phát triển với việc không tự đánh mất mình, tự làm yếu đi các giá trị văn hóa riêng của dân tộc khi các quốc gia lớn thực hiện mưu đồ áp đặt văn hóa, biến các quốc gia khác lệ thuộc vào mình để tiến tới một sự đồng nhất về mọi mặt trong thế giới hiện đại Để đối phó với toàn cầu hóa không đơn thuần mỗi dân tộc chỉ mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế
và đóng cửa về văn hóa, “khư khư” giữ gìn, bảo vệ các bản sắc riêng của mình; mà phải phát huy bản sắc dân tộc trong chính quá trình giao lưu, hợp tác văn hóa, phát triển và tự làm giàu có mình hơn, phong phú, hiện đại hơn trong quá trình chủ động giao lưu và tiếp nhận về mặt văn hóa Điều đó sẽ diễn ra không phải theo hướng là hệ quả tự nhiên của toàn cầu hóa, mà nhất thiết phải cần một quá trình cùng điều chỉnh, cùng hợp tác và đấu tranh của từng quốc gia, dân tộc tham gia toàn cầu hóa
Xét về mặt lịch sử và đặc trưng văn hóa, văn hóa Việt Nam không hề xa lạ với
sự giao lưu, tiếp nhận, tác động lẫn nhau của các nền văn hóa bởi lãnh thổ Việt Nam
có một đặc điểm lợi thế là nằm trên vùng đất có sự giao thoa, thâm nhập lẫn nhau của nhiều nền văn hóa trong nước, văn hóa các nước Đông Nam Á với văn hóa Đông Á cũng như sau này là giữa văn hóa châu Á với văn hóa châu Âu Có thể thấy trong lịch
sử tư tưởng Việt Nam, ba hệ thống tư tưởng Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo (hệ tư tưởng, văn hóa ngoại lai) và văn hóa truyền thống đã hiện tồn và luôn đồng hành cùng với đời sống tinh thần người Việt qua nhiều giai đoạn thăng trầm của dân tộc Vì thế
mà chúng để lại không ít những giá trị đặc sắc trong truyền thống văn hóa dân tộc
Hiện tượng dung hợp của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) trong những giai đoạn lịch sử tư tưởng cụ thể dường như là phổ biến ở các quốc gia như Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản Trong lịch sử tưởng Việt Nam, hiện tượng dung hợp Tam giáo này cũng diễn ra nhưng là một trong những hiện tượng đặc sắc Hiện tượng dung hợp Tam giáo ở Việt Nam thường xuất hiện trong những giai đoạn lịch sử - xã hội người Việt có những thay đổi và đặt ra những nhiệm vụ lịch sử nhất định; phản ánh đặc điểm điều kiện lịch sử - xã hội và yêu cầu, nguyện vọng chung của xã hội đương thời và đều trở thành một trong những phương thức để đoàn kết, tập hợp các lực lượng, các yếu tố của dân tộc tạo nên sức mạnh tổng hợp toàn xã hội nhằm thực hiện thành công một nhiệm
vụ lịch sử cấp bách của dân tộc Nếu như sự dung hợp Tam giáo thời Bắc thuộc phản ánh tâm thế, nguyện vọng dân tộc Việt với khát vọng độc lập, tự chủ dân tộc không chỉ
Trang 8trong lĩnh vực chính trị, quân sự và lãnh thổ mà còn là sự độc lập về tư tưởng và văn hóa, thì mô hình Tam giáo đồng nguyên thời đại Lý - Trần lại phản ánh nhu cầu xây dựng một quốc gia dân tộc thống nhất, độc lập, tự cường, một nhà nước hùng mạnh trong khu vực, sánh ngang với thế lực phương Bắc
Trong quá trình giao lưu, tiếp nhận đó, chỉ có những giá trị văn hóa bên ngoài nào phù hợp với nhu cầu phát triển của Việt Nam, được chọn lọc và được Việt hóa mới có thể trở thành những thành tố hữu cơ cấu thành văn hóa Việt Nam Sự chọn lọc
và sự sàng lọc để trở thành giá trị văn hóa Việt Nam đã diễn ra không ngừng, thầm lặng và cực kỳ tinh tế trong tiến trình lịch sử và tiến trình văn hóa Tiếp thu, kế thừa, dung hợp để tồn tại và phát triển, đó chính là tư duy chính trị đặc sắc và mang lại ý nghĩa lịch sử hết sức sâu sắc của dân tộc ta cũng như của Đảng ta trong quá trình đổi mới, hội nhập quốc tế
“Trong quá trình đổi mới phải chủ động, không ngừng sáng tạo trên cơ sở kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh kế thừa, phát huy truyền thống dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại và kinh nghiệm quốc tế phù hợp với Việt Nam” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2015, trang 7)
Gần đây nhất, trong Hội nghị triển khai biên soạn Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã nêu rõ: “Tư tưởng chỉ đạo là phải kết hợp nhuần nhuyễn giữa kiên định và đổi mới Đổi mới nhưng vẫn kiên định mục tiêu phải kết hợp nhuần nhuyễn giữa kế thừa và phát triển, giữa lý luận và thực tiễn, tiếp tục từng bước hoàn thiện cương lĩnh,
lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam?” (Nguyễn Phú Trọng, 2019, trang 3)
Như vậy, nghiên cứu những hình thức dung hợp tư tưởng của Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo trong lịch sử tư tưởng Việt Nam làm rõ giá trị cốt lõi của chúng, không chỉ góp phần giữ gìn bản sắc, truyền thống văn hóa, tư tưởng dân tộc, mà còn là một bài học bổ ích về nguyên tắc phương pháp luận về sự tiếp thu, kế thừa và phát triển cho sự đổi mới về tư duy, trên cơ sở đó đổi mới xã hội Nghiên cứu những hình thức dung hợp tư tưởng của Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo trên phương diện tư tưởng, văn hóa cũng chính là góp phần vào tổng kết toàn bộ lịch sử tư tưởng Việt Nam, điểm tựa chắc chắn, đáng tin cậy cho sự kế thừa, tiếp thu tinh hoa tư tưởng, văn hóa nhân loại
Nghiên cứu những hình thức dung hợp Tam giáo trong lịch sử tư tưởng Việt Nam không chỉ góp phần làm rõ tính chất, đặc điểm của những hình thức dung hợp Tam giáo ở những giai đoạn lịch sử khác nhau; làm rõ giá trị, tinh hoa truyền thống dân tộc thể hiện trong những hình thức đó, không chỉ đáp ứng nhiệm vụ giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, mà còn có thể góp phần vào chủ thuyết phát triển trong giai đoạn
Trang 9phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa tư tưởng mới của Việt Nam hiện nay.Lịch sử tồn tại và phát triển của dân tộc Việt Nam luôn gắn liền với quá trình giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Trong lịch sử giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, dân tộc Việt Nam luôn thể hiện bản lĩnh vững vàng trước sự du nhập của những trào lưu văn hóa tư tưởng ngoại lai Hiện nay, xu thế mở cửa, giao lưu, hội nhập văn hóa tư tưởng ngày càng trở nên sâu rộng, bản lĩnh văn hóa tư tưởng Việt Nam đang phải đối mặt trực tiếp với những thách thức lớn, liên quan đến sự sống còn của dân tộc Trong thế ứng xử với xu thế này, xây dựng bản lĩnh văn hóa Việt Nam có ý nghĩa to lớn đối với việc phát huy sức mạnh văn hóa, thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh,
dựa trên sự lựa chọn lối ứng xử “hài hòa” của chủ thể văn hóa tư tưởng Hài hòa với thiên nhiên, hài hòa trong xã hội được biểu hiện ở tất cả các mặt, các lĩnh vực của cuộc sống và trên tất cả các cấp độ, từ cách đối nhân xử thế hàng ngày đến nếp sống, lối tư duy, quan niệm về đạo lý làm người Do ứng xử hài hòa, văn hóa tư tưởng Việt Nam không cự tuyệt các giá trị văn hóa tư tưởng bên ngoài theo lối cực đoan, mà sẵn sàng tiếp thu một cách có nguyên tắc, không đánh mất bản sắc văn hóa tư tưởng dân tộc
Nhiều năm qua đã có nhiều công trình, bài báo luận bàn về vấn đề này, song mới chỉ dừng lại ở các trường hợp cụ thể, trong những giai đoạn lịch sử cụ thể, mà chưa khái quát và hệ thống hóa những hình thức dung hợp Tam giáo trong lịch sử tư tưởng Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại trên cơ sở so sánh với mô hình dung hợp Tam giáo ở cấp độ khu vực Đông Á Với tính chất cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn một cách hệ thống trên, đặc biệt là ý nghĩa lịch sử của mô hình dung hợp Tam giáo đối
với đổi mới, phát triển ở Việt Nam nghiên cứu sinh chọn chủ đề: “Những hình thức
dung hợp Tam giáo trong quá trình phát triển của lịch sử tư tưởng Việt Nam” làm
đề tài luận án tiến sỹ Triết học của mình
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Các công trình nghiên cứu lịch sử và giá trị của những hình thức dung hợp Tam giáo ở Đông Á : Các học giả, nhà khoa học nhân văn ở Đông Á đã có rất nhiều
công trình nghiên cứu về hiện tượng dung hợp tư tưởng, văn hóa và tôn giáo, về các hình thức Tam giáo và cấu hình của chúng trong lịch sử tư tưởng, văn hóa, tôn giáo ở Đông Á Có thể kể ra các công trình cơ bản được kế thừa và vận dụng vào trong luận
án của nghiên cứu sinh như sau: Trương Đại Niên (Zhang Dainian) với công trình nghiên cứu về “Giá trị học trong triết học Trung Quốc tiền hiện đại” (Axiology in Pre-
Modern Chinese Philosophy) trích trong bộ sách Triết học Trung Quốc trong kỷ
nguyên toàn cầu hóa (Chinese philosophy in an era of globalization), do Robin R
Wang là chủ biên, xuất bản bởi State University of New York press Albany, the United States of America, 2004 Với cái nhìn xuyên văn hóa, tư tưởng và giá trị luận,
Trang 10Trương Đại Niên đã xem dung hợp triết học, tôn giáo, văn hóa ở Trung Hoa cổ, trung đại như một cấu hình tư tưởng chung của lịch sử triết học, tôn giáo và văn hóa Trung
Hoa (Zhang Dainian, 2004, trang 26) Cuốn Từ điển về triết học Trung Quốc (Chinese
philosophy A – Z) của Bo Mou xuất bản bởi Edinburgh University tại Mỹ (the United
States of America) năm 2009 đã dành tới 3 chương mục để nói về sự dung hợp Tam giáo trong Nho giáo, trong Phật giáo và Đạo giáo (Bo Mou, 2009, trang 256; 258; 483) Điểm nhấn nghiên cứu của Bo Mou là xem sự dung hợp Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo như là một cấu hình chung cho tư tưởng, văn hóa và tôn giáo Trung Quốc và chúng luôn có vai trò trong đời sống triết lý, chính trị và đạo đức của các tầng lớp xã
hội Trung Quốc Trong công trình nghiên cứu: Cấu tạo đa thành phần của văn hóa
Nhật Bản, tác giả Koumei Sasaki đã đặt tư tưởng, văn hóa Nhật Bản dưới góc nhìn
Châu Á và đưa ra những bằng chứng cụ thể về sự dung hợp nhiều loại hình văn hóa và
tổ hợp tư tưởng Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo đã làm nên một trong những đặc trưng
của tư tưởng, văn hóa Nhật Bản Cuốn Nghiên cứu tôn giáo Nhật Bản của Joseph M
Kitagawa đã dành một số chương trong phần thứ III của cuốn sách để nói về sự dung
hợp Tam giáo nhìn từ Thần đạo
Nhìn từ phương diện văn bản học, các nhà nghiên cứu Nhật Bản cho rằng, dung hợp Tam giáo đã thể hiện rõ vai trò của mình trong sự phát triển tư tưởng, văn hóa Từ hai biên niên sử Nhật Bản là Kojiki (Cổ sự ký) và Nihonshoki, (Nhật bản thư kỷ) có thể thấy các yếu tố văn hóa bên ngoài Nhật Bản đã ảnh hưởng khá nhiều đến các câu chuyện, sự tích Chẳng hạn như: “Những biểu tượng của Hoàng gia Nhật Bản: thanh gươm, chiếc gương soi, viên ngọc quí không chỉ thể hiện sự tiến bộ trong nền sản xuất,
mà còn biểu hiện sự dung hợp của Đạo giáo, Phật giáo và Nho giáo” (Kanji Nishio,
1999 Lịch sử quốc dân Nhật Bản Nxb Sankei shinbun nyusu Sabiu)
Các nghiên cứu về dung hợp Tam giáo trong văn hóa Nhật Bản cũng được nhiều học giả quan tâm, điển hình là Yoiuchi Sujua và John K Gillespie trong công trình nghiên cứu về văn hóa Nhật Bản Hai ông đã chỉ ra sự dung hợp Tam giáo trong trà đạo, Hoa Đạo và võ sỹ đạo Trà đạo Nhật Bản (Chadou) thể hiện bốn nguyên tắc cơ bản của Tam giáo là; Hòa, Kính, Thanh, Tịch Theo các ông, trà đạo không phải là một hình thức tôn giáo mà làm sự tổng hợp của tư tưởng, triết lý và nghệ thuật sống của người Nhật Nghệ thuật cắm hoa Ikebana cũng là sự kết hợp nhuần nhuyễn tư tưởng và
sự thực hành Tam giáo Hoa đạo của người Nhật thể hiện mối quan hệ tam giới giữa trời, đất và người Vườn cảnh, trà thất và hoa đạo để lắng đọng tâm hồn, xua tan những vướng bận trần tục Lối thực hành tỉ mỉ, triết lý thâm trầm, tinh túy giúp con người hòa đồng với thiên nhiên, tu tâm dưỡng tính, thanh tẩy tâm hồn mà đạt ngộ
Dung hợp Tam giáo ở Triều Tiên và Đông Á cũng được các nhà tư tưởng, văn
hóa và tôn giáo Hàn Quốc quan tâm và nghiên cứu tường tận Tác phẩm Tam quốc di
Trang 11sự1 của Il Yeon (Nhất Nhiên), được đánh giá là những tài liệu quan trọng để tìm hiểu
về văn hóa, tư tưởng của Triều Tiên cổ đại Với chủ trương chống lại chủ nghĩa mộ Hoa, các câu chuyện, sự tích, huyền thoại của Nhất Nhiên có “liên quan đến Phật giáo, Đạo giáo, và những phong tục, tập quán của người Triều Tiên” (Il Yeon (chú dịch tiếng Hàn Kim Won Jung), 2012, trang 8) Nhất Nhiên được xem là người đầu tiên cố gắng hợp nhất Tam giáo và tín ngưỡng dân gian Triều Tiên để “khẳng định lịch sử
4000 năm của Triều Tiên và cố gắng giải thích khởi nguyên của dân tộc có liên quan đến Phật giáo, Đạo giáo và vu thuật” (Il Yeon (chú dịch tiếng Hàn Kim Won Jung),
2012, trang 20) Trong bài tham luận về sự tương đồng của ba hệ tư tưởng, tôn giáo là Daesoonjinrihoe (Hàn Quốc), I - Kuan Tao (Đài Loan, Trung Quốc) và Cao Đài (Việt
dung hợp tam giáo Ông viết: “Sự dung hợp tư tưởng, giáo lý của Nho giáo, Phật giáo
và Đạo giáo là một hiện tượng truyền thống trong lịch sử tư tưởng, tôn giáo ở các quốc gia Đông Á và Việt Nam Mặc dù có tính chất khác nhau song tổ hợp Tam giáo là nền tảng tư tưởng, giáo lý chung của cả ba hệ thống tư tưởng, tôn giáo của Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo” (Lee Gyung Won, 2016, trang 186)
Còn khá nhiều học giả, nhà nghiên cứu, giảng viên các trường đại học ở Hàn Quốc bàn về dung hợp Tam giáo như; Chongsuh Kim với công trình “dung hợp Tam giáo trong tư tưởng của thiên đạo” (Kim Chongsuh, 2016); GS Kim Jin Young với bài viết “Việc truyền kỳ Phật giáo và mối quan hệ của nó với Nho giáo trong giai đoạn cuối Goryo đầu Joseon” (Kim Jin Young, 2013); Hwang Eui Dong với bài viết “Vai trò của Nho giáo trong lịch sử dung hợp Tam giáo ở Hàn Quốc” (Hwang Eui Dong,
2013, trang 52)
Quan điểm, lý thuyết về dung hợp Tam giáo ở Đông Á có thể xem là cơ sở lý thuyết và thực tiễn lịch sử của việc nghiên cứu dung hợp Tam giáo trong lịch sử tư tưởng Việt Nam Nghiên cứu sinh sẽ kế thừa và vận dụng một cách thích hợp và có lựa chọn trong Luận án của mình
Các công trình nghiên cứu ở trong nước về dung hợp Tam giáo trong lịch sử
tư tưởng Việt Nam: Những hình thức dung hợp Tam giáo ở Việt Nam hay ở các quốc
gia Đông Á, đều hình thành và phát triển trong lịch sử tư tưởng của mỗi dân tộc, do vậy nghiên cứu dung hợp Tam giáo nhất thiết phải dựa trên nền tảng lịch sử tư tưởng của dân tộc Để có cái nhìn bao quát và toàn diện, nghiên cứu sinh phải tiếp cận từ toàn bộ các tài liệu, văn bản về lịch sử và lịch sử tư tưởng ở Việt Nam và lịch sử, lịch
sử tư tưởng ở các quốc gia Đông Á Tài liệu quan trọng đáng tin cậy nhất là bộ sách
Trang 12Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1998 đây là công trình mang
tính triết - sử chứa đựng nhiều thông tin, sự kiện lịch sử từ khởi nguyên đến cận đại, mang lại diễn trình lịch sử Việt Nam, góp phần phục dựng lại rõ bối cảnh, hoàn cảnh
kinh tế, chính trị của các hình thức dung hợp tam giáo Bộ sách Lịch sử tư tưởng Việt
Nam, tập 1&2, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993 & 1997 của Viện Triết học với 2
tác giả chủ biên Nguyễn Tài Thư và Lê Sỹ Thắng đã mang lại cái nhìn toàn cảnh về lịch sử tư tưởng Việt Nam, từ các giai đoạn trong lịch sử tư tưởng đến các nhà tư tưởng và hệ tư tưởng Nhìn trên phương diện dung hợp tam giáo, bộ sách đã chỉ ra những giai đoạn và yêu cầu tất yếu của sự dung hợp và phát triển tư tưởng của dân tộc Việt Nam Như giai đoạn xây dựng quốc gia độc lập, hùng mạnh thời Lý Trần, Giai đoạn ổn định và thịnh vượng của triều đại nhà Lê, Nguyễn Giai đoạn khủng hoảng, bất lực của hệ tư tưởng Tam giáo trước yêu cầu và nhiệm vụ sống còn của dân tộc - giải phóng dân tộc Trong bộ sách này, tuy các tác giả chưa trực tiếp bàn tới nội dung dung hợp Tam giáo, nhưng khi trình bày các nhà tư tưởng tiêu biểu cụ thể, các ông đã đề cập tới trong quan điểm, tư tưởng cụ thể của họ như: Nguyễn Tài Thư khi bàn đến: “Thời đại và những khuynh hướng phát triển của tư duy” đã viết: “Đạo Nho, Đạo Phật, Đạo Lão - Trang xét về nội dung và tính chất thì khác nhau, nhưng lại luôn luôn kết hợp với nhau, bổ sung cho nhau trong thế giới quan Ba đạo du nhập Việt Nam đã tạo nên cơ sở tư tưởng cho người Hán đẩy nhanh việc thực hiện chính sách chính trị - xã hội (Hán hóa) xã hội cũng như con người Việt Nam biến đổi mức độ đó, không hẳn chỉ hời hợt và dừng lại “trên bề mặt xã hội Việt Nam mà
đã có những nét thuộc chiều sâu trong cấu trúc xã hội cũng như trong hệ tư tưởng bản xứ” (Viện Triết học, 1993, trang 92-93)
Bàn về ý thức đạo đức và quan niệm nhân sinh của người Việt, ông viết: “có sự nhất thể hóa trong quan niệm Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo đều được qui vào một hệ thống Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo cùng với tư tưởng truyền thống bản địa, tư tưởng
về độc lập, tự do cũng được quy lại trong một hệ thống” (Viện Triết học, 1993, trang
146-147) Công trình nghiên cứu Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam, tập 1 (Từ đầu
công nguyên đến thời Trần và thời Hồ), của Viện Triết học do Nguyễn Trọng Chuẩn
chủ biên, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2006 đã có những đóng góp không chỉ về phương pháp nghiên cứu, mà còn là về sự dung hợp văn hóa, tư tưởng Nhóm tác giả
đã chỉ ra tính hiệu quả của việc sử dụng phương pháp Thông diễn (Hermeneutic Research Method) để nghiên cứu lịch sử tư tưởng Việt Nam: “Đó là phương pháp thông diễn (hermeneutics) nhằm tìm ra ý nghĩa đích thực ẩn chứa ở trong và ở đằng sau các dữ kiện bắt gặp trong sử học, trong truyền thuyết, từ đó khôi phục lại và tìm ra
ý nghĩa của các dữ kiện đó trong lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam” (GS.TS.Nguyễn Trọng Chuẩn, 2006, trang 30)
Trang 13Nhóm tác giả cũng khẳng định một quan điểm có tính nguyên tắc trong nghiên cứu lịch sử tư tưởng triết học là: “ Một trong những tư tưởng của Hêghen có ý nghĩa quan trọng bậc nhất trong nghiên cứu lịch sử triết học được V.I.Lênin đánh giá rất cao, được coi là “điều tuyệt hay chính là tư tưởng tôn trọng tính lịch sử nghiêm khắc”
(GS.TS.Nguyễn Trọng Chuẩn, 2006, trang 16)
Nghiên cứu sinh hiểu nguyên tắc “tôn trọng tính nghiêm khắc” trong nghiên cứu lịch sử tư tưởng triết học cũng chính là tôn trọng tính đặc thù lịch sử Trong công trình nêu trên, vấn đề dung hợp Tam giáo cũng chưa được đề cập một cách trực tiếp, song, khi thông diễn về các khái niệm, phạm trù lịch sử triết học, vấn đề này thường được các tác giả đề cập tới như một đặc điểm chung vốn có và tất yếu của các nhà tư tưởng: “Ngay từ thời kỳ này đã thể hiện sự kết hợp giữa tư tưởng Phật giáo và tư tưởng Lão tử, giữa xuất thế và nhập thế, giữa tinh thần yêu nước với thế giới quan của các học thuyết nói trên Tình hình này còn tiếp tục và bộc lộ rõ nét trong tư tưởng triết học dân tộc thời Lý Thực tiễn dân tộc thời Lý - Trần (cả trước và sau này cũng vậy) đòi hỏi phải dung hòa trên bình diện tư tưởng sự khác biệt nói trên Không thể không dung hòa, bởi lẽ thế lực cầm quyền - từ thượng đỉnh triều đình trở xuống - vừa phải đứng ở đỉnh cao tinh thần yêu nước, thực hiện xuất sắc nhiệm vụ lãnh đạo dân tộc, vừa phải tôn sùng, gắn bó với Phật giáo” (GS.TS.Nguyễn Trọng Chuẩn, 2006, trang 127-129)
Đóng góp vào lịch sử tư tưởng Việt Nam còn có các công trình nghiên cứu của
các tác giả Nguyễn Đăng Thục và Doãn Chính Bộ sách 6 tập: Lịch sử tư tưởng Việt
Nam của Nguyễn Đăng Thục, Nxb.Thành phố Hồ Chí Minh, 1992 đã mô tả diễn trình
tư tưởng Việt Nam qua các giai đoạn với các nhà tư tưởng tiêu biểu Cuốn Lịch sử tư
tưởng triết học Việt Nam “từ thời dựng nước đến đầu thế kỷ XX” do Doãn Chính chủ
biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2013 là một công trình nghiên cứu khoa học công phu và qui mô đã vạch ra những giai đoạn cơ bản của tiến trình tư tưởng Việt Nam và một số nhà tư tưởng tiêu biểu, tuy dung hợp Tam giáo không phải là chủ đề chính trong công trình nghiên cứu này, song trong một số giai đoạn lịch sử, nhóm tác giả vẫn đề cập đến nội dung này: “Đạo giáo trong tổ hợp Tam giáo đời Trần là sự kết hợp giữa triết lý vô ngã của Phật giáo, tính chất duy lý của Nho giáo và các hình thức tín ngưỡng dân gian của người Việt ” (Doãn Chính, 2013, trang 97)
Bài viết “Hiện tượng tam giáo đồng nguyên đời Trần” được in trong sách Tư
tưởng Việt Nam thời Lý - Trần do Trương Văn Chung, Doãn Chính (chủ biên), Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008 và bài báo khoa học “Tam giáo dung hợp - một cấu hình tư tưởng triết học, tôn giáo của các quốc gia Đông Á thời trung, cận đại” của Trương Văn Chung đã làm rõ một số hình thức và tính chất khác nhau của sự dung hợp Tam giáo trong các giai đoạn lịch sử tư tưởng, tôn giáo Việt Nam Ngoài ra bài
Trang 14viết còn chỉ ra cơ sở xã hội và những giá trị cốt lõi của Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo với tư cách là thành tố cơ bản của tổ hợp tư tưởng tam giáo Ông viết: “Có thể rút
ra một nhận định chung là, các quốc gia Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam đều có mô hình tư tưởng chung kết hợp bởi các thành tố là Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo và văn hóa bản địa Mặc dù mô hình tam giáo hòa đồng đó ở mỗi quốc gia dân tộc có nhiều điểm khác biệt, song về cơ bản, đó là khuôn khổ chung, bao quát và chi phối các quá trình tư tưởng, văn hóa, tôn giáo khu vực Đông Á Mặt khác, chúng tôi cho rằng cấu hình tam giáo dung hợp này sẽ là cơ sở lý thuyết để nghiên cứu so sánh
sự tương đồng và khác biệt giữa các nhà tư tưởng ở Đông Á cổ, trung, cận đại” (Trương Văn Chung, 2016, trang 259)
Ngoài ra còn rất nhiều những công trình nghiên cứu lịch sử tư tưởng việt Nam
như: Tiến trình lịch sử Việt Nam của Nguyễn Quang Ngọc, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2007; Viện Triết học với các công trình nghiên cứu Lịch sử tư tưởng Việt Nam, Văn
tuyển, tập 1, Nxb.Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002; Lịch sử tư tưởng Việt Nam Văn tuyển, tập 2, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004; Tư tưởng Việt Nam thế kỷ XVIII (trích tuyển tư liệu tập I và II), Nxb Sự Thật, Hà Nội, 1972); Tư tưởng Việt Nam thế
kỷ XIX (trích tuyển tư liệu tập I và II), Nxb Sự Thật, Hà Nội, 1974); Công trình khoa
học Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến cách mạng tháng Tám,
tập I, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996; tập II, 1997 của Trần Văn Giàu; cuốn
sách Đại cương lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam, tập 1, Nxb Chính trị Quốc gia,
Hà Nội, 2002 do Nguyễn Hùng Hậu chủ biên
Một số các công trình nghiên cứu liên quan đến chủ đề dung hợp Tam giáo như
tư tưởng của Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo và những nhà tư tưởng tiêu biểu Việt Nam
như: Nguyễn Tài Thư với công trình Lịch sử Phật giáo Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1988; Nho giáo xưa và nay của Vũ Khiêu, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1997; Trần Văn Giáp với công trình Phật giáo Việt Nam - từ nguyên thủy đến thế kỷ
XIII (Tuệ Sỹ dịch), Nxb Vạn Hạnh, 1968; Việt Nam Phật giáo sử luận (tập I, 1974;
tập II, 1978; tập III, 1979) của Nguyễn Lang, Nxb Văn học, Hà Nội Các tác phẩm thơ văn, tư tưởng của Lê Quý Đôn, Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Bỉnh Khiêm; Nguyễn Trãi; Nguyễn Dữ, Lê Hữu Trác; Phùng Khắc Khoan,v.v
Các công trình nghiên cứu chuyên khảo về lịch sử Phật giáo, lịch sử Nho giáo, lịch sử Đạo giáo và các nhà tư tưởng tiêu biểu Việt Nam: từ các nhà sư, đạo sỹ “tinh thông tam giáo, đọc kỹ trăm nhà” đến Lý Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Nguyễn Trãi, Ngô Thì Nhậm, Lê Quý Đôn, Nguyễn Bỉnh Khiêm,v.v với các tôn giáo dung hợp, nội sinh ở Nam Bộ: (Bửu Sơn Kỳ Hương, Phật giáo Hòa Hảo, Cao Đài,v.v ) không chỉ là những mảnh ghép hoàn hảo về dung hợp Tam giáo như một truyền thống xuyên suốt trong lịch sử tư tưởng, mà còn làm phong phú và chi tiết hơn vai trò, tính chất,
Trang 15đặc điểm của các hình thức dung hợp Tam giáo trong tiến trình tư tưởng Việt Nam Nhìn chung, các công trình nêu trên đã làm rõ tính phổ biến, tính tất yếu của những dạng thức dung hợp Tam giáo xuyên suốt trong lịch sử tư tưởng Việt Nam Đây là những tài liệu vô cùng quí báu, để nghiên cứu sinh kế thừa trong đề tài của luận án
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận án
Trên cơ sở làm rõ quan niệm, nội dung và đặc điểm của những hình thức dung
hợp Tam giáo luận án nhằm chỉ ra ý nghĩa lịch sử của nó đối với quá trình phát triển của lịch sử tư tưởng Việt Nam cũng như đối với sự nghiệp đổi mới, hội nhập quốc tế hiện nay
Để đạt được những mục đích trên, luận án có những nhiệm vụ sau:
Một là, trình bày, phân tích làm rõ những quan niện về dung hợp Tam giáo và
điều kiện, tiền đề hình thành những hình thức dung hợp Tam giáo trong lịch sử tư tưởng Việt Nam
Hai là, trình bày nội dung chủ yếu của những hình thức dung hợp Tam giáo
trong lịch sử tư tưởng Việt Nam
Ba là, chỉ ra những đặc điểm cơ bản của những hình thức dung hợp Tam giáo
từ đó phân tích, đánh giá ý nghĩa lịch sử của những hình thức dung hợp Tam giáo trong lịch sử tư tưởng Việt Nam đối với quá trình phát triển của lịch sử tư tưởng Việt
Nam cũng như đối với công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tư ng nghiên cứu của luận án: Đó là những hình thức dung hợp Tam giáo
trong quá trình phát triển của lịch sử tư tưởng Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu của luận án: Luận án nghiên cứu những hình thức dung
hợp Tam giáo từ thời kỳ Bắc thuộc đến giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Về cơ sở lý luận, luận án dựa trên thế giới quan và phương pháp luận của Chủ
nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về văn hóa tư tưởng
Về phương pháp nghiên cứu, luận án sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên
cứu khoa học như phương pháp phân tích và tổng hợp, lôgích và lịch sử, quy nạp và diễn dịch, đối chiếu và so sánh, và phương pháp hệ thống cấu trúc, tác giả đặc biệt chú trọng sử dụng phương pháp văn bản học, phương pháp nghiên cứu lịch sử nhằm làm toát lên tiến trình vận động, phát triển của những hình thức dung hợp trong nghiên cứu
và trình bày luận án
6 Cái mới của luận án
Thứ nhất, từ kết quả nghiên cứu những quan niệm về dung hợp Tam giáo luận
án đã trình bày một cách có hệ thống nội dung và đặc điểm của những hình thức dung
Trang 16hợp Tam giáo trong quá trình phát triển của lịch sử tư tưởng Việt Nam
Thứ hai, luận án đã chỉ ra ý nghĩa lịch sử bổ ích góp phần thiết thực vào việc
gìn giữ, phát huy bản sắc và truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam, trong công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế hiện nay
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Về mặt khoa học, luận án đã góp phần làm sáng tỏ những quan niệm về dung
hợp Tam giáo, nội dung, đặc điểm của những hình thức dung hợp Tam giáo trong lịch
sử tư tưởng Việt Nam, một cách cơ bản và hệ thống
Về mặt thực tiễn, thông qua việc làm rõ nội dung và đặc điểm của những hình
thức dung hợp Tam giáo trong quá trình phát triển của lịch sử tư tưởng Việt Nam; luận
án rút ra là những ý nghĩa lịch sử bổ ích góp phần thiết thực vào việc gìn giữ, phát huy bản sắc và truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam, trong công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế hiện nay
8 Kết cấu của luận án:
Ngoài phần mở đầu, kết luận chung và danh mục tài liệu tham khảo, luận án được kết cấu thành 3 chương và 8 tiết
Trang 17PHẦN NỘI DUNG Chương 1 QUAN NIỆM VỀ DUNG HỢP TAM GIÁO VÀ ĐIỀU KIỆN,
TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH NHỮNG HÌNH THỨC DUNG HỢP TAM GIÁO
TRONG LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG VIỆT NAM
1.1 QUAN NIỆM VỀ DUNG HỢP TAM GIÁO VÀ ĐIỀU KIỆN HÌNH THÀNH NHỮNG HÌNH THỨC DUNG HỢP TAM GIÁO TRONG LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG VIỆT NAM
1.1.1 Quan niệm về dung hợp Tam giáo
Xuất phát từ đặc điểm và yêu cầu của thực tiễn lịch sử - xã hội qua các thời kỳ lịch sử, trên cơ sở liên kết, hòa đồng, thống nhất ba thành tố cơ bản của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) cùng với sự ảnh hưởng của văn hóa bản địa, đã hình thành nên những hình thức dung hợp Tam giáo chủ yếu trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, với hình thức (hay mô hình), tính chất, khuynh hướng dung hợp khác nhau: 1) Hình thức dung hợp Tam giáo hòa đồng, trong đó Nho, Phật, Đạo cạnh tranh, hòa hợp, đồng hành, sơ khai, thời kỳ Bắc thuộc; 2) Hình thức dung hợp Tam giáo đồng nguyên, lấy Phật giáo làm trung tâm, thời Lý - Trần; 3) Hình thức dung hợp Tam giáo đồng nguyên, lấy Nho giáo làm hạt nhân, thời Lê - Nguyễn; 4) Hình thức dung hợp Tam giáo đồng quy, các yếu tố tư tưởng của Nho, Phật, Đạo thống nhất về một nguồn gốc, kết hợp với yếu tố của tư tưởng, tôn giáo khác, pha trộn với văn hóa, tín ngưỡng bản địa, lấy Phật giáo làm nòng cốt, cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX Để tìm hiểu rõ nội dung, đặc điểm của những hình thức dung hợp Tam giáo trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, trước hết, luận án tập trung làm rõ vấn đề lý luận chung về dung hợp Tam giáo, như là cơ sở lý thuyết cho toàn luận án
Trong các công trình nghiên cứu về dung hợp Tam giáo, các học giả châu Á thường sử dụng thuật ngữ “mô hình” để nói về những hình thức chung của ba hệ thống tư tưởng triết học Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo liên kết và xâm nhập vào nhau thành một tổ hợp tư tưởng triết học, văn hóa, tôn giáo Tuy nhiên các học giả châu Á lại sử dụng các thuật ngữ rất khác nhau để nói về mô hình này Tài liệu của Trung Quốc thường sử dụng thuật ngữ: “Tam giáo hợp nhất”; Nhật Bản là “Tam giáo tập hợp”; Triều Tiên gọi là:
“Tam giáo dung hợp” Ngay cả khi các công trình của họ được chuyển dịch sang tiếng Anh để công bố trên các tạp chí cũng diễn đạt theo những thuật ngữ khác nhau như: model, pattern, example, exemplar, template, standard, prototype, archetype, paradigm; đúng là các thuật ngữ này đồng nghĩa với nhau, song thường đặt trong những ngữ cảnh khác nhau, xin chia sẻ quan điểm của Pelix M Keesing, khi ông chọn thuật ngữ:
“paradigm” để chỉ mô hình Tam giáo dung hợp ở Đông Á với lý do: Mô hình (paradigm) của Tam giáo chưa đạt đến trình độ loại hình hóa (typology) vì nó có thể là phổ biến ở các quốc gia Đông Á, nhưng chỉ là hình thức đặc thù riêng có của khu vực Đông Á
Trang 18Các nhà triết học xem thuật ngữ “hình thái (model)” là phù hợp với mô hình Tam giáo trong lịch sử Trung Quốc, còn người Nhật Bản lại chọn thuật ngữ “cấu hình” (configue) là thích hợp với trường hợp kết cấu Tam giáo trong lịch sử triết học, văn hóa, tôn giáo Nhật Bản, song không phù hợp với trường hợp Tam giáo dung hợp của các quốc gia còn lại Người Triều Tiên lại gọi hiện tượng này bằng cụm từ “tổ hợp”
Mô hình (paradigm) ngoài nghĩa chính là mô hình, nó còn có nghĩa là một dạng thức hoặc một kiểu mẫu mang tính tạm thời của các hình thức cụ thể trong một giai đoạn lịch sử Nó mềm mại, không cứng và cố định như thuật ngữ “model”, cũng không quá linh hoạt, thay đổi nhanh như thuật ngữ cấu hình Mô hình (paradigm) còn
là thuật ngữ chỉ hình thức, hình mẫu hòa hợp, sự hòa đồng, sự liên tục tiếp biến của Tam giáo trên phương diện tư tưởng, văn hóa và tôn giáo nữa Mô hình (paradigm) là thuật ngữ không chỉ bao gồm sự tổng hợp của ba thành tố cơ bản: Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo, mà còn bao gồm cả nhân tố văn hóa truyền thống bản địa của các dân tộc Đông Á (ví dụ: mô hình Tam giáo hợp nhất của Trung Quốc, Tam giáo tập hợp của Nhật Bản, Tam giáo dung hợp của Triều Tiên, Tam giáo đồng nguyên ở Việt Nam, đều có thêm nhân tố văn hóa bản địa của dân tộc làm nên cái đặc thù, cái bản sắc văn hóa riêng của dân tộc mình) (Pelix M.Keesing, 1984, trang 161-178)
Cũng cần phân biệt thuật ngữ “mô hình” với “cấu trúc” (structure) Theo định nghĩa, cấu trúc là một hệ thống được bố trí, cấu tạo, thiết lập, sắp xếp các nhân tố, thành phần trong một trật tự nhất định với các chức năng và mối quan hệ lẫn nhau trong hệ thống đó Chẳng hạn cấu trúc của một tư tưởng trước hết phải tuân thủ cấu trúc ngôn ngữ diễn đạt tư tưởng đó và cấu trúc logic của tư duy Còn mô hình cũng là một tập hợp của các nhân tố, thành phần, song chưa có cấu trúc ổn định, chưa trở thành một hệ thống chắc chắn, cố định và các thành phần, nhân tố, thường xuyên thay đổi và vì thế chức năng, vai trò của chúng cũng luôn biến đổi tùy thuộc vào các tác động từ bên ngoài một tập hợp Như vậy, trong luận án này, tác giả sử dụng thuật ngữ
mô hình (paradigm) để chỉ cụm từ mô hình dung hợp Tam giáo ở Đông Á, vì đây là thuật ngữ phản ánh đúng hiện tượng chung ở các quốc gia Đông Á trong đó có Việt Nam, nó nằm giữa thuật ngữ “hình thái” (model) và thuật ngữ “cấu hình” (configue) nếu nhìn từ cấp độ loại hình học Mặt khác đây cũng là thuật ngữ được sử dụng phổ biến trên các văn bản quốc tế
Theo Yoshinori, thuật ngữ dung hợp được định nghĩa là: sự hợp nhất, dung hợp, hài hòa hoặc kết hợp, trộn lẫn của các nền văn hóa, hoặc trường phái tư tưởng và các tôn
giáo khác nhau (Yoshinori.Y, 1982, trang 31) Do vậy, thuật ngữ “dung hợp” được sử
dụng trong cụm từ dung hợp Tam giáo cũng được thể hiện bằng nhiều từ ngữ có ý nghĩa khác nhau như: dung hợp (fusion), trộn lẫn (mixture), hài hòa (harmony); tổng hợp (synthetic) song theo Pelix M Keesing, thuật ngữ dung hợp (syncrective) là phù hợp hơn cả, vì thứ nhất, nó bao quát ý nghĩa của tất cả các thuật ngữ trên, thứ hai, nó chỉ ra
Trang 19nguồn gốc, căn nguyên của sự hợp nhất Tam giáo Thứ ba, thuật ngữ dung hợp phản ánh đúng tất cả các trường hợp dung hợp Tam giáo ở các quốc gia Đông Á Có thể hiểu dung hợp là thuật ngữ rộng hơn, bao quát tất cả các tổ hợp Tam giáo trong lịch sử triết học, văn hóa, tôn giáo ở Đông Á, trong luận án tác giả sẽ sử dụng thuật ngữ này
Dung hợp tư tưởng, văn hóa là một hiện tượng phổ biến trong đời sống tinh thần của các dân tộc trên thế giới, do vậy, thuật ngữ “dung hợp” (syncretic) không chỉ trở thành khái niệm mà còn là lý thuyết nghiên cứu (syncretism) quan trọng trong các lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, tôn giáo Theo từ điển diễn giải triết học từ trường đại học Stanford, thuật ngữ dung hợp được định nghĩa là: sự hợp nhất, hài hòa hoặc kết hợp, trộn lẫn của các nền văn hóa, hoặc trường phái tư tưởng và các tôn giáo khác nhau (The Stanford Encyclopedia of Philosophy, 2016, trang 721)
Tuy nhiên, thuật ngữ “dung hợp” được sử dụng trong cụm từ dung hợp Tam giáo cũng được thể hiện bằng nhiều từ ngữ có ý nghĩa khác nhau như: hỗn hợp (fusion), trộn lẫn (mixture), hài hòa (harmony); tổng hợp (synthetic) Song theo nghiên cứu sinh thuật ngữ dung hợp (syncrectic) là phù hợp hơn cả; vì thứ nhất, nó bao quát ý nghĩa của tất cả các thuật ngữ trên; Thứ hai, nó chỉ ra nguồn gốc, căn nguyên của sự dung hợp tư tưởng, văn hóa và tôn giáo; Thứ ba, thuật ngữ dung hợp phản ánh bao quát tất cả các hình thức dung hợp không chỉ là tổ hợp Tam giáo ở các quốc gia Đông
Á, mà còn là khái niệm, lý thuyết rộng hơn, bao quát tất cả các hình thức dung hợp
trong lịch sử triết học, văn hóa, tôn giáo ở các vùng văn hóa khác Trong Từ điển bách
khoa toàn thư về tôn giáo và văn hóa, David Levinson và các học giả đã định nghĩa:
“Dung hợp là một hiện tượng phổ biến trong văn hóa, tư tưởng, tôn giáo ở nhiều vùng văn hóa và các tộc người, nó phản ánh một ý nghĩa phát triển đặc biệt khi hợp nhất các tổ chức, hoặc các yếu tố của chúng và được gán cho những giá trị khác nhau, được hình thành như những cách để có cùng một mục tiêu, với quy định rằng một trong số chúng dẫn đến mục tiêu hiệu quả hơn các mục tiêu khác Loại dung hợp này phục vụ một nhu cầu trong triết lý, văn hóa, tôn giáo” (David Levinson, 1996, trang 271)
Các học giả phương Tây thường cho rằng: “Chủ nghĩa dung hợp thường xuất hiện nằm trong các nền văn hóa dân gian của nông dân và những người theo chủ nghĩa mục vụ, ở các vùng biên giới hoặc vùng ven biên giới, và trong số những người bị thất sủng trong giai cấp của mình Đặc biệt là trong tư tưởng, văn hóa ở các quốc gia Phương Đông” (David Levinson, 1996, trang 265)
Dung hợp còn là một hiện tượng rất đa dạng trong các lĩnh vực tư tưởng, văn hóa nên được xác định thành các dạng thức như: Kết hợp các yếu tố cụ thể của nhiều hệ thống tư tưởng hoặc nền văn hóa chẳng hạn như: “Người Hy lạp - La Mã đã mang nền văn hóa của mình vào các nền văn hóa truyền thống của các dân tộc khác, dẫn đến một
sự tiếp biến và pha trộn, tạo nên sự dung hợp cho cả hai nền văn hóa” (William
Trang 20P.Alston & Richard B Brandt, 1978, trang 617) “Ví dụ điển hình nhất về điều này có
lẽ là sự di cư của người Aryan vào tiểu lục địa Ấn Độ và sự kết hợp giữa hai nền văn minh bán du mục và thuần nông nghiệp của tộc người Dravidian.” (Alburey C astell & Donald M Borchert, 1983, trang 18)
Các học giả châu Âu, Bắc Mỹ xem chủ nghĩa dung hợp là một yếu tố quan trọng
để nghiên cứu tư tưởng, văn hóa và tôn giáo toàn cầu, chúng bao gồm nhiều yếu tố biểu thị sự hợp nhất, trao đổi, tổng hợp và kết hợp các tư tưởng, văn hóa tín ngưỡng và thực hành đa dạng Có nguồn gốc từ các nghiên cứu tư tưởng, tôn giáo, thuật ngữ này đã được sử dụng ngày càng tăng trong các lĩnh vực lịch sử, nhân học, triết học và nghiên cứu văn hóa Cho đến gần đây, nó đã được đưa ra giả định rằng nền văn minh, văn hóa
và tôn giáo luôn được ưu đãi bởi sự thống nhất, mạch lạc và không ranh giới bởi những tương tác của chúng tạo ra các hình thức hỗn hợp, đồng bộ Thông thường, chủ nghĩa dung hợp được xác định trong các tổ hợp tư tưởng, văn hóa, ví dụ, người Mỹ gốc Phi có thể kết hợp văn hóa Hồi giáo và các tư tưởng của Ki tô giáo Sự dung hợp văn hóa của
họ được thể hiện trong kiến trúc, trong nghệ thuật hội họa, trong thế giới của ý tưởng, ý thức hệ và bản sắc cá nhân và văn hóa xã hội Ngoài ra còn có rất nhiều công trình về sự dung hợp tư tưởng, văn hóa, tôn giáo và các dạng thức dung hợp như: King, Karen L với công trình: “Lý thuyết dung hợp là gì? Lambert, Wilfred G với bài viết “Chủ nghĩa dung hợp và những tranh cãi tôn giáo ở Babylonia.”; Baines, John “Chủ nghĩa dung hợp trong tư tưởng, văn hóa Ai Cập Đóng góp của Hans Bonnet.”; Françoise Dunand
và Pierre L Lévêque (chủ biên) “Lý thuyết dung hợp và lịch sử dung hợp văn hóa, tôn giáo trong thời Hy Lạp và La Mã cổ đại” Còn khá nhiều công trình, bài báo khoa học của các học giả phương Tây sử dụng khái niệm dung hợp khi nghiên cứu lịch sử triết học tôn giáo, như công trình: “Triết học nữ quyền về tôn giáo” (A Feminist philosophy
of religion) của Pamela Sue Anderson; Tác phẩm “Triết học tôn giáo thế kỷ XXI” (Philosophy of Religion in the 21st Century) do D Z Phillips và Timothy Tessin chủ biên; cuốn triết học tôn giáo (Philosophy of Religion) của tác giả John H Hick Những công trình này thường làm rõ lịch sử và quá trình dung hợp về tư tưởng triết học của các tôn giáo như sự dung hợp giữa triết học của Platon, Aristote, Heghen với tư tưởng Thần học Ki tô giáo, về thế giới ý niệm với bản chất của Thiên Chúa Các bộ từ điển bách
khoa toàn thư về các tôn giáo cụ thể như: Bách khoa toàn thư về Do thái giáo
(Encyclopedia of Judaism) của hai tác giả: Sara E Karesh and Mitchell M Hurvitz, mô
tả quá trình dung hợp giữa các hình thức tư tưởng, văn hóa bản địa với thần học, giáo lý
Do Thái giáo, bộ Bách khoa toàn thư về Đạo Tin Lành (Encyclopedia of Protestantism)
do J Gordon Melton dành riêng một chuyên mục nói về sự dung hợp tư tưởng triết lý và thần học của trường phái Tin Lành với các giá trị về bình đẳng, bác ái, tự do của chủ nghĩa tư bản (thời kỳ đầu) Những đóng góp cơ bản từ các công trình nghiên cứu về dung hợp tư tưởng, văn hóa, tôn giáo của các học giả phương Tây là:
Trang 21Xây dựng hiện tượng dung hợp tư tưởng, văn hóa, tôn giáo như một phạm trù:
“triết học văn hóa” phản ánh tính phổ biến của các trường hợp dung hợp trong lịch sử cũng như đời sống tinh thần, văn hóa đương đại Vì thế mà khái niệm “dung hợp” có trong hầu hết các từ điển diễn giải về triết học, văn hóa, tư tưởng tôn giáo Làm rõ các trường hợp dung hợp tư tưởng, văn hóa, tôn giáo trong lịch sử của các quốc gia dân tộc Làm rõ tính chất và các dạng thức của sự dung hợp tư tưởng, văn hóa, tôn giáo Khái niệm “dung hợp” (syncrective): là sự kết hợp, pha trộn, vay mượn những yếu tố, bộ phận của các hệ thống văn hóa, tư tưởng hoặc tôn giáo thành một tổ hợp tư tưởng Khái niệm này thường được các nhà nghiên cứu sử dụng chung trong các lĩnh vực văn hóa, tư tưởng, tôn giáo và hình thức dung hợp Tam giáo của các quốc gia Đông Á và Việt Nam là một thể hiện cụ thể
Khái niệm “dung hợp Tam giáo” là khái niệm được sử dụng phổ biến trong các lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, tôn giáo Từ nhiều cách tiếp cận, lý thuyết khác nhau, từ đặc điểm lịch sử, văn hóa, truyền thống khác nhau, nhưng các nhà nghiên cứu ở Đông
Á đều có một định nghĩa chung mang tính đồng thuận: Cấu hình dung hợp Tam giáo là một hiện tượng phổ biến, hiện tồn, xuyên suốt trong lịch sử cổ, trung đại Nó hầu như
là cái bóng bao trùm các quá trình tư tưởng, văn hóa của dân tộc Đông Á, dù dưới các hình thức khác nhau
Các khái niệm: “cấu hình”, “tổ hợp tư tưởng”, “tam giáo đồng nguyên”, “tam giáo đồng quy” đều được định nghĩa và làm rõ nội dung cơ bản trong sự so sánh với các khái niệm, thuật ngữ đồng nghĩa
Mối quan hệ Tam giáo xuất hiện ở Việt Nam từ khi xuất hiện của ba học thuyết Nho, Phật, Đạo Trải qua hàng thế kỷ, ở mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể cùng với sự tham gia của các yếu tố bản địa, mối quan hệ đó đều có những nét đặc thù phản ánh không chỉ nhu cầu thời đại mà cả sự phát triển về mặt học thuật của đất nước Chính vì vậy, mối quan hệ Tam giáo thường biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như Tam giáo đồng nguyên, Tam giáo đồng quy, Tam giáo hợp nhất, Tam giáo hòa đồng,…
Thuật ngữ “dung hợp” có nguồn gốc từ tiếng Hy lạp cổ: “synkretimos”, nghĩa là
sự liên kết, kết hợp, pha trộn, vay mượn các bộ phận, yếu tố trong các hệ thống khác nhau Trong khoa học xã hội và nhân văn, thuật ngữ này phản ánh một hiện tượng rất phổ biến trong lịch sử văn hóa, tư tưởng, tôn giáo của nhiều dân tộc trên thế giới và được sử dụng rộng rãi ở các lĩnh vực: nhân chủng, văn hóa, triết học, tôn giáo.v.v… Nếu như trong Tâm lý học, thuật ngữ này chỉ sự tri giác khối toàn vẹn bề ngoài của đối tượng thì Nhân chủng học chỉ sự pha trộn các chủng tộc khác nhau Ở Tôn giáo học, thuật ngữ dung hợp chỉ sự kết hợp, vay mượn và hòa lẫn vào nhau giữa các tín điều, nghi lễ, giáo lý của các tôn giáo, còn trong lĩnh vực triết học là sự tổ hợp, vay mượn, dung hòa một cách tùy tiện những hệ thống khác nhau thậm chí trái ngược, mâu thuẫn nhau hoặc là một tổ hợp những khuynh hướng khác nhau vào một hệ thống tạm
Trang 22thời nhằm giải quyết một mục đích xã hội nào đó
Dung hợp Tam giáo nằm trong lĩnh vực triết học - tôn giáo và diễn ra chủ yếu ở các nước Đông Á (Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam), chúng phản ánh một trong những đặc điểm nổi bật của triết lý phương Đông là sự kết hợp không thể tách bạch giữa triết học, tôn giáo, chính trị, đạo đức mà thực chất là quá trình kết hợp, pha trộn các bộ phận, yếu tố trong hệ thống tư tưởng Tam giáo dưới tác động của những điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội để tạo ra một tổ hợp tư tưởng không
có cấu trúc rõ ràng và không có sự vận động nội tại, tự thân
Đồng tình với quan điểm của PGS,TS Trương Văn Chung, trong luận án, tác giả thống nhất sử dụng khái niệm “những hình thức dung hợp Tam giáo”, và có thể đưa ra một kết luận chung về hiện tượng dung hợp Tam giáo ở Việt Nam như sau:
“Dung hợp Tam giáo ở Việt Nam là một hiện tượng triết học - tôn giáo phổ biến
trong lịch sử tư tưởng Đó là một tổ hợp của ba hệ thống tư tưởng khác nhau, liên kết, pha trộn với nhau một cách tạm thời, không bền vững, nhưng được ràng buộc lại với nhau bởi những nhu cầu chính trị, văn hóa trong một hoàn cảnh xã hội cụ thể” (Trương Văn Chung, 2008, trang 280)
1.1.2 Điều kiện lịch sử xã hội hình thành những hình thức dung hợp Tam
giáo trong lịch sử tư tưởng Việt Nam
Là một trong những hình thái ý thức xã hội, sự dung hợp Tam giáo trong lịch sử
tư tưởng Việt Nam, là sự phản ánh và chịu sự quy định của những đặc điểm và yêu cầu của các giai đoạn lịch sử xã hội Việt Nam, như C.Mác và Ph.Ăngghen đã khẳng định:
“Chính con người, khi phát triển sự sản xuất vật chất và sự giao tiếp vật chất của mình,
đã làm biền dổi, cùn với hiện thực đó của mình, cả tư duy lẫn sản phẩm tư duy của mình Không phải ý thức của con người quyết định sự tồn tại của họ; trái lại, sự tồn tại của họ quyết định ý thức của họ…Ý thức không bao giờ có thể là cái gì khác hơn là sự tồn tại được ý thức, và tồn tại của con người là quá trình đời sống hiện thực của con người” (C.Mác & Ph.Ănghen, 1995, trang 37-38) Vì thế khi nghiên cứu các hình thức dung hợp Tam giáo ở Việt Nam, không thể không tìm hiểu đặc điểm điều kiện lịch sử
xã hội Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử
Điều kiện lịch sử xã hội hình thành hình thức dung hợp Tam giáo thời kỳ Bắc thuộc (hình thức dung hợp Tam giáo hòa đồng, trong đó sự dung hợp Tam giáo có tính sơ khai, cạnh tranh, hòa hợp và đồng hành với nhau)
Thời kỳ Bắc thuộc kéo dài hơn một nghìn năm, từ khi nhà Triệu và đặc biệt là từ khi nhà Hán xâm chiếm, đô hộ nước ta năm 111 trước Công nguyên, cho đến khi Ngô Quyền giành độc lập năm 938 Đây là thời kỳ đất nước ta bị các triều đại phong kiến phương Bắc Triệu, Hán, Ngô, Ngụy, Tấn, Tống, Tề, Lương, Tùy, Đường kế tiếp nhau xâm lược và cai trị Chúng biến Âu Lạc thành những châu quận của phương Bắc, thực hiện chính sách đồng hóa, rắp tâm xóa bỏ độc lập chủ quyền dân tộc, vơ vét, bóc lột tàn bạo nhân dân ta
Trang 23Về kinh tế: Với chính sách bao trùm của tất cả các chính quyền phong kiến Trung
Quốc là ra sức vơ vét tài nguyên và của cải đồng thời bóc lột sức lao động của nhân dân Đại Việt Dựa vào hệ thống tổ chức quan lại, quân đội tương đối chặt chẽ và khá mạnh, chính quyền đô hộ các triều đại phong kiến phương Bắc ra sức bóc lột và đàn áp nhân dân các châu, quận Chúng ra sức chiếm đất, xây dựng cơ sở kinh tế riêng nhằm duy trì lâu dài nền thống trị nước Việt, thông qua chính sách đồn điền, cống nạp, nộp
tô thuế, bắt phu lao dịch cho chính quyền đô hộ và sử dụng những thành tựu kinh tế của họ vào nước Việt nhằm phục vụ chính sách bóc lột như các kỹ thuật canh tác mới cày bừa bằng trâu, sử dụng phân bón và những nông cụ bằng sắt vào Giao Chỉ, Cửu Chân từ thời Tích Quang, Nhâm Diên; việc dẫn nước tưới tiêu dưới thời Mã Viện được triển khai trước hết ở vùng châu thổ này, là nơi đông đảo dân di thực người Hán
Về chính trị - xã hội: Với âm mưu muốn biến nước ta vĩnh viễn trở thành bộ phận
lãnh thổ của Trung Quốc; dùng nước Việt làm bàn đạp đánh xuống Đông Nam Á, độc chiếm khu vực mậu dịch biển từ đó đánh qua Ấn Độ Dương Để thực hiện âm mưu trên, các triều đại phong kiến phương Bắc đã sử dụng các thủ đoạn, như thiết lập bộ máy đô hộ, đưa quan lại, pháp luật sang để cai trị Đồng thời, chinh phục quân sự tàn bạo nhằm thôn tính lãnh thổ của các nước láng giềng, bành trướng đế chế và đồng nhất hóa đế chế với quốc gia; dùng chính sách mua chuộc bằng vật chất, dụ dỗ hoặc phá rối các quốc gia và các cộng đồng láng giềng, xúi giục họ đánh nhau rồi mượn cớ can thiệp; và thiết lập nền thống trị chính trị - hành chính khắc nghiệt, bóc lột đè nặng, với quan đô hộ, quân chiếm đóng và một bè lũ quan lại thu cống phẩm, tô thuế, vơ vét của cải của các vùng đất chinh phục
Sau khi chiếm được Âu Lạc, Triệu Đà đã sát nhập đất đai Âu Lạc vào phạm vi quốc gia của Nam Việt và chia Âu Lạc thành hai quận là Giao Chỉ (Bắc bộ), Cửu Chân (Bắc Trung bộ) cử quan lại, quân lính sang cai trị và đóng đồn Ở mỗi quận, Triệu Đà đặt một chức điền sứ để cai quản, thu cống phẩm và một chức xã tướng để chỉ huy quân đội chiếm đóng Dưới quận, chính quyền nhà Triệu vẫn giữ nguyên hệ thống hành chính cơ sở của người Việt trước đây Đứng đầu liên minh bộ lạc vẫn là lạc tướng cổ truyền và điều đó có nghĩa là tổ chức chính trị - xã hội địa phương của người Việt vẫn chưa có sự xáo trộn đáng kể Ngoài ra Triệu Đà còn thực thi chính sách mị
dân “Hòa Tập Việt Chúng” mà mục tiêu chủ yếu là dung dưỡng, sử dụng bộ máy nhà nước cũ của Âu Lạc để thực thi chính sách “dùng người Việt đánh người Việt” Bản
thân Triệu Đà để thực hiện âm mưu bành trướng và đồng hóa người Việt của mình cũng sống theo phong tục Việt, lấy vợ Việt,… thâu hóa chế độ tù trưởng Việt vào cơ
sở thống trị hạ tầng và khi đối đầu với Hán thì tự xưng là “Man di đại trưởng lão” (Lão già tù trưởng lớn của các dân tộc man di) “Với hệ thống quyền lực dung hợp thành tố thống trị ngoại bang với hệ thống hành chính bản địa nên trong hơn nữa thế kỷ lệ thuộc nhà Triệu, tình hình Âu Lạc không mấy biến động, cấu trúc xã hội không mấy
Trang 24thay đổi” (Lịch sử Việt Nam (từ đầu đến năm 938), tập 2, 2005, trang 124) Năm 111 trước Công nguyên, nhà Hán sau khi thay thế nhà Tần (202 trước Công nguyên) đã nêu cao đường lối bành trướng nước lớn, đưa quân chinh phục Nam Việt (bao gồm cả
Âu Lạc) Nhà Hán chia lại khu vực hành chính và tổ chức bộ máy cai trị trên vùng đất mới chiếm được theo chế độ quận huyện của chính quốc, biến Âu Lạc thành đất đai của nhà Hán Vùng đất này được Hán Vũ Đế chia thành 9 quận: Đạm Nhĩ, Chu Nhai (ngoài đảo Hải Nam), Nam Hải, Hợp Phố (Quảng Đông), Uất Lâm, Thương Ngô (Quảng Tây), Giao Chỉ (Bắc Bộ), Cửu Chân (Thanh Nghệ Tĩnh), Nhật Nam (từ Đèo Ngang trở vào Nam cho đến khoảng Quảng Nam - Đà Nẵng
Về tổ chức quyền lực, chính quyền đô hộ của nhà Hán thiết lập trên đất Âu Lạc có
phần chặt chẽ hơn thời nhà Triệu Chế độ quận huyện được xác lập khắp nơi Hệ thống quan lại xuyên suốt từ Trung ương đến châu và đến tận huyện (đơn vị cơ sở) Phan Huy
Lê nhận định: “Tuy nhà Hán đã đặt được bộ máy đô hộ ở cấp châu, cấp huyện Xong chính giới thống trị Hán tộc cũng phải thú nhận rằng tuy chúng chỉ có thể “dùng tục cũ
mà cai trị”, chúng không nắm được huyện vì ở huyện vẫn phải theo chế độ lạc tướng cha truyền con nối của người Việt Điều đó có nghĩa là đẳng cấp quý tộc Việt cổ truyền vẫn giữ được thế mạnh là uy quyền của dân tộc mà cai quản dân Việt” (Phan Huy Lê, Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn & Lương Ninh , 1991, trang 159)
Ngoài ra, các chính quyền đô hộ phương Bắc còn thực hiện chính sách di dân (theo hướng tự nguyện, lưu đày, lính thú,…) đến xen kẽ với dân Việt Đó cũng là chính sách lâu dài trong công cuộc đồng hóa, Hán hóa Di dân Hán vào đất Việt “sinh
cơ lập nghiệp” bằng nhiều cách, như xâm chiếm ruộng đất, tài sản của dân Việt, kéo theo bè cánh phục vụ cho chính quyền Hán, có người đã trở thành các viên quan đắc lực trong quá trình Hán hóa, đàn áp dân Việt Nhiều người lấy vợ Việt và trở thành những đại tộc có thế lực mạnh, khuynh đảo đất nước Những quí tộc Hán và quan lại người Hán ở đất Việt, tăng cường các biện pháp cai trị Chẳng hạn, Thái thú Cửu Chân
là Nhâm Diên và Thái thú Giao Chỉ là Tích Quang có quyền hành rất lớn át cả Thứ sử Trường hợp Thái thú Tô Định trong chính sách đàn áp bóc lột dân Việt đã dẫn đến cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng vào năm 40
Với chính sách bóc lột, vơ vét triệt để của bọn phong kiến phương Bắc, trong hơn nghìn năm bị đô hộ, nhân dân Việt đã phải trải qua cuộc sống đói khổ, đầy đau thương, tủi nhục Trong hơn nghìn năm, các triều đại phong kiến phương Bắc đã “tích cực” thực hiện mọi biện pháp nhằm đàn áp nhân dân Việt về quân sự, vơ vét về kinh tế, đồng hóa xã hội, biến nước Việt thành quận huyện của Trung Quốc Các triều đại phong kiến phương Bắc xâm lược nước ta không chỉ thực hiện ý đồ đồng hóa về chính trị, cai trị lâu dài Đại Việt mà còn thực hiện âm mưu đồng hóa, “Hán hóa” về văn hóa, nhằm thủ tiêu văn hóa bản địa; một mặt, các thế lực phong kiến dùng lối sống, văn hóa Hoa cải biến phong hóa Việt; mặt khác, dùng vũ lực để ép nhân dân ta bỏ những tập tục của mình,
Trang 25cưỡng bức một bộ phận nhân dân phải theo những quy định sinh hoạt văn hóa của Trung Quốc Dưới thời thống trị của nhà Triệu và đặc biệt là nhà Tây Hán do di dân Hán sang đất Việt ngày càng đông, lại “ở lẫn với người Việt”, do đó dần dần giữa văn hóa Việt và Hán có sự dung hòa và chuyển hóa lẫn nhau
Về mặt tư tưởng, giai đoạn Bắc thuộc cũng là giai đoạn Tam giáo (Nho, Phật, Đạo)
truyền vào nước ta Nếu Nho, Đạo vào nước ta theo vó ngựa của quân xâm lược thì Phật vào nước ta chủ yếu bằng đường biển trực tiếp từ Ấn Độ, với triết lý từ bi, hỉ xả, kêu gọi sự bình đẳng và yêu thương Đạo giáo với triết lý vô vi, tiêu dao, thoát tục, kêu gọi
sự tự do hòa nhập với tự nhiên, bắt chước đạo của tự nhiên, sống với tự nhiên Hai hệ thống giá trị này gần gũi với tâm tư tình cảm, phong tục tập quán của người Việt Nam nên được đông đảo quần chúng nhân dân noi theo
Khi các trào lưu tư tưởng trên du nhập nước ta, thì nhân dân Văn Lang, Âu Lạc đã
có một nền văn hóa tương đối phát triển với những đặc điểm riêng của mình, có “trình độ văn hóa khá cao, có xã hội tổ chức thành quy củ, tồn tại lâu dài hàng ngàn năm” (Trần Văn Giàu, 1993, trang 57), do vậy, cần phải khẳng định rằng Nho, Phật, Đạo truyền vào nước ta không còn là Nho, Phật, Đạo nguyên thủy và cũng không phải là những luồng tư tưởng, văn hóa hoàn toàn có thể chinh phục, xâm lấn nền văn hóa bản địa Không những thế, khi truyền vào nước ta thì chính Nho, Phật, Đạo cũng phải có sự thay đổi để phù hợp với “mảnh đất mới” mà chúng xâm nhập Đó là quá trình “bản địa hóa”, quá trình “tái cấu trúc” của các hệ tư tưởng Nho, Phật, Đạo khi truyền vào Việt Nam Đồng thời giữa ba trường phái cũng cạnh tranh với nhau, liên kết, hòa đồng và đồng hành với nhau, để
khẳng định vị thế của mình trong đời sống xã hội Đại Việt, từ đó hình thành nên hình
thức dung h p Tam giáo hòa đồng, đó là sự dung h p của Nho, Phật, Đạo có tính chất
sơ khai, cạnh tranh, kết h p và đồng hành với nhau - một quy luật của sự giao lưu và
tiếp biến văn hóa, trên cơ sở truyền thống văn hóa Việt Nam
Điều kiện lịch sử xã hội hình thành hình thức dung hợp Tam giáo thời kỳ Lý - Trần (hình thức Tam giáo đồng nguyên, lấy Phật giáo làm trung tâm)
Triều Lý được bắt đầu từ khi vua Lý Thái Tổ lên ngôi năm 1009 kết thúc năm
1225 Sau khi Lý Chiêu Hoàng truyền ngôi cho chồng là Trần Cảnh, triều Trần được lập nên bắt đầu năm 1225 kéo dài đến năm 1400 Lý - Trần là hai triều đại tồn tại dài nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam và phát triển hưng thịnh trên mọi lĩnh vực: kinh tế, chính trị, quân sự và văn hóa… Đây là thời kỳ đặt nền móng cho sự hình thành
và phát triển của quốc gia phong kiến Việt Nam độc lập, tự chủ, thống nhất, là cơ sở cho sự hình thành và phát triển hệ tư tưởng phong kiến trong lịch sử tư tưởng Việt Nam Sự hưng thịnh và phát triển rực rỡ của thời kỳ Lý - Trần đặc biệt còn được thể hiện qua chiến công vang dội của cuộc kháng chiến chống Tống (1077) và ba lần đại thắng quân Mông - Nguyên năm 1258, năm 1285 và năm 1288, trở thành niềm tự hào
về truyền thống anh dũng, kiên cường chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam
Trang 26Theo lôgích khách quan của sự vận động và phát triển của lịch sử - xã hội, trong những mối quan hệ như: kinh tế với chính trị, kinh tế với văn hóa và chính trị với văn hóa, thì kinh tế là cơ sở, nền tảng quy định các mối quan hệ trên V.I.Lê-nin đã chỉ ra
“chính trị là sự biểu hiện tập trung của kinh tế” (V.I Lênin, Toàn tập, tập 42, 1977, trang 349) Do đó, trong các triều đại phong kiến Việt Nam nói chung và vương triều Lý
- Trần nói riêng, sau khi giành được chính quyền các bậc vua chúa luôn tập trung phát triển kinh tế, củng cố nền chính trị - xã hội, và văn hóa, nhằm bảo vệ vững chắc ngôi vị
cũng như quyền lợi của dòng họ Lý - Trần Về kinh tế, cũng như thời Lý, các vua Trần
chú ý thúc đẩy mạnh sự phát triển kinh tế, đặc biệt nông nghiệp và thủ công nghiệp Các hình thức sở hữu ruộng đất cơ bản thời kỳ nhà Trần là ruộng đất thuộc sở hữu nhà nước thông qua công xã nông thôn và ruộng đất thuộc sở hữu tư nhân Sự thống trị của chính quyền nhà Trần trong phạm vi cả nước và uy quyền chuyên chế của hoàng đế đã tạo thành một quan niệm “đất của vua, chùa của bụt”, một quan niệm đã xác nhận sự tồn tại
tự nhiên: chế độ sở hữu nhà nước về ruộng đất rất phổ biến Có hai bộ phận cấu thành
ruộng đất thuộc sở hữu nhà nước, đó là, ruộng đất do nhà nước trực tiếp quản lý, nó tồn
tại như tài sản của bản thân nhà vua và hoàng cung, một loại “tư hữu” đặc biệt mà những hoa lợi bóc lột là của riêng hoàng đế và ruộng đất công của thôn làng: ruộng công
các làng xã thời bấy giờ được gọi là quan điền hay “quan điền bản xã”
Về hình thức sở hữu ruộng đất tư nhân, gồm có: thái ấp, điền trang của quý tộc nhà Trần, ruộng tư hữu của địa chủ và ruộng đất sở hữu của tiểu nông Thời Lý, các quan trong, quan ngoài đều không được cấp bổng Đến thời Trần mới định lệ cấp bổng cho các quan văn võ trong ngoài, đây là nét khác biệt rất cơ bản về tổ chức nhà nước của hai triều đại Có thể thấy thêm chính sách ban cấp ruộng đất và bổng lộc của nhà Trần dưới một hình thức tiêu biểu nhất là thái ấp Ban cấp thái ấp là chính sách kinh tế quan trọng nhằm tạo ra cơ sở xã hội cho chính quyền nhà Trần Nguồn đất ban đầu của thái
ấp thuộc quyền sở hữu nhà nước, nhưng khi ban cấp thành thái ấp thì thái ấp thuộc chiếm hữu tư nhân các quý tộc
Về thủ công nghiệp và thương nghiệp, triều đại Lý - Trần vẫn tiếp tục xây dựng quan xưởng thủ công nghiệp nhà nước Thủ công nghiệp nhà nước gồm có nhiều ngành nghề sau: nghề sản xuất đồ gốm là bộ phận quan trọng trong xưởng; nghề dệt cũng được nhà nước chú ý, đặt ngay trong cung đình; và đặc biệt trong thủ công nghiệp nhà nước là xưởng chế tạo vũ khí Thủ công nghiệp nhân dân cũng là bộ phận quan trọng và phổ biến của tiểu thủ công, của tiểu nông chợ, phố, l , sở, phủ lộ và kinh thành Thăng Long là địa điểm trao đổi sản phẩm Các nghề thiết yếu của thủ công nghiệp nhân dân thời Trần là nghề gốm, nghề rèn, nghề đúc đồng, nghề làm giấy và khắc bản in, nghề mộc, nghề xây dựng và nghề khai khoáng
Về chính trị - xã hội: Để tổ chức lại bộ máy nhà nước, năm 1240 nhà Trần đổi 24
lộ thời Lý thành 12 lộ Dưới lộ, phủ có châu, huyện, xã Nhà vua nắm quyền lực tối cao
Trang 27quyết định tất cả, nhưng để tránh tình trạng vua còn nhỏ tuổi, nhà Trần đặt ra chế độ Thái Thượng hoàng Các vua thường truyền ngôi sớm cho con nhưng vẫn trông coi chính sự Chế độ quan lại nhà Trần nói chung cũng giống như của nhà Lý nhưng có quy củ và đầy
đủ hơn Các chức quan trọng yếu trong triều đều giao cho vương hầu quý tộc nắm giữ, nhằm tập trung mọi quyền lực về dòng họ mình Ở địa phương buổi đầu nhà Trần cũng phong cho một số vương hầu đi trấn trị các vùng quan trọng (ví như Trần Quốc Khang coi Diễn Châu, Trần Nhuật Duật coi Thanh Hóa, Trần Khánh Dư coi Vân Đồn )
Để tạo điều kiện cho vương hầu, tôn thất làm việc, nhà nước cấp cho mỗi người một vùng đất lớn nhỏ tùy theo thứ bậc gọi là thái ấp Nhà nước cũng cho phép các quan lại tôn thất cao cấp được xây dựng dinh thự, phủ đệ riêng, khi có việc mới phải vào chầu và làm việc ở kinh sư Năm 1266, do yêu cầu mới về kinh tế và chính trị, vua Trần lại ra lệnh cho các vương hầu, công chúa, phò mã chiêu mộ dân lưu vong đi khai hoang lập trang trại riêng, tạo thành một mạng lưới tôn thất nhà Trần trấn trị khắp nơi trong nước Trong buổi đầu, chủ trương này có lợi cho việc củng cố chính quyền trung ương của nhà Trần, nhưng về sau lại dẫn đến xu hướng cát cứ Kinh nghiệm của nhà
Lý buộc nhà Trần đặt ra lệnh riêng: người trong họ không được lấy vợ khác họ Tuy nhiên, nhà Trần vẫn không thể phá vỡ được quy luật phát triển của nhà nước quân chủ tập quyền Ngay khi tập trung những quyền lực trong triều vào tay các vương hầu, quý tộc họ Trần, các vua Trần phải sử dụng một số quan chức không phải họ Trần, giữ chức vụ quan trọng trong triều Trần như trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi, hoàng giáp Nguyễn Trung Ngạn, Trương Hán Siêu, Lê Quát sau này Cùng với việc hoàn thiện
bộ máy nhà nước để ổn định xã hội, củng cố chính quyền phong kiến trung ương tập quyền, nhà Trần đã ra sức xây dựng một tổ chức quân đội hùng mạnh đủ sức bảo vệ nền độc lập của dân tộc Quân chủ lực nhà Trần cũng chia thành hai bộ phận như thời nhà Lý là cấm quân và quân các lộ (ở đồng bằng gọi là chính binh, ở miền núi gọi là thiên binh) Quân đội nhà Trần là một đội quân thiện chiến, được trang bị, tổ chức và huấn luyện tốt, có nhiều kinh nghiệm bởi đã trải qua các cuộc kháng chiến chống giặc Nguyên - Mông Lực lượng quân sự thời Trần bao gồm các thành phần chủ yếu: Quân chủ lực của triều đình; Quân của lộ phủ, châu; Quân của quý tộc tôn thất; Lực lượng dân binh (hương binh) trong làng xã, động, bản
Trên bình diện xã hội và các hoạt động chính trị - xã hội thời Lý - Trần cũng diễn ra sự phân hóa mạnh mẽ, sự biến động sâu sắc về mặt kết cấu giai cấp xã hội Một
xã hội mới với những đẳng cấp mới đã dần được hình thành với sự tồn tại của ba đẳng cấp chính, đó là: đẳng cấp quí tộc, tôn thất, quan lại trong chính quyền quân chủ; đẳng cấp những người bình dân; và đẳng cấp nô tỳ Mặc dù giữa các tầng lớp có sự phân biệt về địa vị chính trị, quyền lợi kinh tế, trách nhiệm xã hội… nhưng nó chưa tạo ra
hố sâu ngăn cách về đẳng cấp quá rạch ròi, không tạo thành những mâu thuẫn xã hội gay gắt, phá vỡ sự đoàn kết, đe dọa sự bình ổn của thể chế chính trị
Trang 28Ngoài ra, thời kỳ Lý - Trần đã đặt ra nhiệm vụ thống nhất về chính trị - xã hội
Là một triều đại vừa được thiết lập, giai cấp quý tộc tôn thất nhà Trần cần nhanh chóng ổn định trật tự xã hội và thống nhất về tư tưởng, chính trị Với động thái chính trị chuyển giao quyền lực từ dòng họ này sang dòng họ khác, triều Trần đã có được thiên hạ Đó đồng thời là bước ngoặt cách mạng đáp ứng nhu cầu thống nhất đất nước,
ổn định chính trị lúc bấy giờ Nhu cầu đó buộc giai cấp thống trị triều Trần cần đến một lý luận chính trị vừa khôn khéo, vừa kiên quyết để chấm dứt sự thống trị của vương triều cũ; dẹp yên các cuộc chiến tranh nổi dậy cát cứ, cướp giết trong nước; khôi phục và phát triển nền kinh tế đang hết sức trì trệ; chuẩn bị lực lượng quân sự để đối phó với kẻ thù ngoại bang đang hòng chuẩn bị xâm chiếm Đại Việt
Cùng với nhiệm vụ xây dựng nhà nước Đại Việt thì nhiệm vụ củng cố, ổn định trật tự xã hội và bảo vệ lợi ích của giai cấp quý tộc nhà Trần đã được đặt ra Nhà Trần lên nắm chính quyền trong bối cảnh xã hội mục rỗng mà triều Lý để lại, nhu cầu bức thiết đặt ra, là nhanh chóng ổn định chính trị, củng cố lại trật tự xã hội; một mặt, nhằm đảm bảo lợi ích của giai cấp thống trị cầm quyền; mặt khác, là thống nhất xã hội cả về chính trị lẫn tư tưởng Để có sự bình ổn về chính trị và đáp ứng nhu cầu chấn hưng về kinh tế, nhà Trần đã áp dụng nhiều biện pháp phát triển thủy lợi, thủy nông, đắp đê chống lụt nhằm khuyến khích và bảo vệ thành quả nông nghiệp, phát triển các làng nghề thủ công nghiệp và mạng lưới thương nghiệp, thông qua việc mở rộng, nâng cấp
hệ thống giao thông, nhất là giao thông thủy bộ trong cả nước
Bên cạnh đó, cũng như các triều đại phong kiến khác nhà Trần rất quan tâm đến xây dựng và tổ chức bộ máy nhà nước trung ương tập quyền ngày càng lớn mạnh, vừa đảm bảo quyền lợi của giai cấp thống trị, vừa tạo ra một trật tự ổn định cho xã hội phong kiến Nhu cầu xây dựng và củng cố nhà nước phong kiến trung ương tập quyền cùng với sự trưởng thành của giai cấp phong kiến Việt Nam đặt ra những đòi hỏi cấp thiết đối với sự hình thành các quan điểm, những nhận thức lí luận về mặt chính trị, chỉ đạo cho hoạt động thực tiễn của nhân dân Đại Việt dưới thời Trần
Cùng với đó, là nhiệm vụ chống giặc ngoại xâm, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và lợi ích quốc gia dân tộc mà triều Trần gánh trên vai Nước Việt Nam với vị trí địa lý thuận lợi, tài nguyên phong phú luôn là mảnh đất màu mỡ khiến nhiều kẻ thù tham lam muốn dòm ngó, xâm lược Do vậy, nhiệm vụ lịch sử mang tính sống còn bao trùm, chi phối các nhiệm vụ khác của thời Trần là vừa xây dựng đất nước, vừa chiến đấu và bảo
vệ quyền độc lập, tự chủ, khẳng định nền độc lập thiêng liêng và bất khả xâm phạm của đất nước ta Tinh thần yêu nước nồng nàn ấy của vương triều Trần và nhân dân Đại Việt tất yếu phải được phản ánh vào trong lĩnh vực tư tưởng, trở thành những quan điểm và nhận thức lý luận về chủ quyền đất nước Những bài học kinh nghiệm từ các cuộc kháng chiến chống xâm lược, để giành thắng lợi, nhân dân ta phải chấp nhận những mất mát to lớn, cần phải được đúc kết về mặt lý luận, trở thành những nguyên lý chính trị chung soi
Trang 29đường cho công cuộc dựng nước và giữ nước của dân tộc ta trong quá trình phát triển của mình Do vậy, nó thực sự trở thành nhu cầu xã hội - nhu cầu của công cuộc dựng nước và giữ nước cho sự phát triển của tư tưởng Việt Nam thời kỳ Lý - Trần
Trong thời kỳ Lý - Trần, để đáp ứng những nhiệm vụ xã hội đặt ra, trên lĩnh vực về văn hóa, tư tưởng xu hướng “sùng Phật ngưỡng Nho” ngày càng trở nên rõ nét, tạo thành một sự dung hợp Tam giáo, gọi là “Tam giáo đồng nguyên” (Nho - Phật - Đạo) trong lịch sử tư tưởng Việt Nam Tuy nhiên, trên góc độ lý luận và thực tiễn ảnh hưởng của Đạo không thể bằng của Nho và Phật Tuy nhiên, tính chất ảnh hưởng này lại có sự khác nhau Nhà cầm quyền tôn sùng Phật giáo phần nhiều trên lĩnh vực tinh thần; còn thực tế việc dụng, phát huy vai trò của những thiền sư có tài Còn Nho giáo được sử dụng trên các phương diện quản lý đất nước, đưa ra các chính sách, đường hướng đối nội, đối ngoại, xác lập chế độ triều chính và trật tự xã hội, xây dựng tôn ti trật tự từ triều đình cho đến xóm thôn Có thể nói, về đại thể, hai triều đại Lý - Trần đều sùng bái Phật giáo, song đồng thời cũng rất coi trọng Nho giáo, từng bước lấy Nho học và nguyên tắc chính trị - đạo đức của Nho giáo làm nền tảng lý luận và làm công
cụ để xây dựng và duy trì trật tự chế độ xã hội phong kiến trung ương tập quyền
Thời Lý - Trần là thời kỳ Phật giáo có sự phát triển và sức ảnh hưởng xã hội vô cùng mạnh mẽ, song giữa Nho giáo thời kỳ này có mối quan hệ với Phật giáo, thể
hiện: Thứ nhất, về chính trị xã hội, Phật giáo chưa phát triển hệ thống, bộ máy giáo
dục mang tính toàn dân, trong khi đó một trong những thế mạnh của Nho giáo chính là
ở chế độ giáo dục khoa cử Chế độ giáo dục khoa cử trong thời phong kiến là tương đối tiến bộ, đặc biệt ở chỗ, nó mở cửa cho tất cả các loại đối tượng nam giới, không phân biệt dòng máu, đẳng cấp, giai cấp, tuổi tác Đây là cơ hội thay đổi thân phận duy nhất cho những người bình dân, cũng như những người bần cùng trong xã hội Đồng thời, đây cũng là một kênh khách quan và hiệu quả nhất đương thời để triều đình có thể chọn ra những người biết chữ nghĩa, có học hành, thậm chí có tài để bổ nhiệm vào
hệ thống quan lại trong triều cũng như tại các cấp ở địa phương Thứ hai, về luân lý xã
hội, đặc biệt là trật tư cương thường xã hội, Nho giáo lại có ưu thế hơn Phật giáo Mục đích cuối cùng của Phật giáo là xuất thế, giải thoát Thế gian này, đời sống này chỉ là giả tưởng, nguyên nhân của nỗi khổ kéo dài suốt từ quá khứ đến và tới hiện tại và tới tương lai (tam thế lưỡng trùng nhân quả) Khác với Phật giáo, Đạo đức học Nho giáo
là Đạo đức học quy phạm, ngoài nhấn mạnh việc tu thân, thì nó đề ra một hệ thống các chuẩn mực cơ bản và nguyên tắc ứng xử đạo đức trong các mối quan hệ xã hội và gia đình, đáp ứng được nhu cầu ổn định xã hội trong một chế độ quân chủ
Có thể nói, đặc điểm và yêu cầu cơ bản của thời kỳ Lý - Trần là phải củng cố và xây dựng một quốc gia Đại Việt độc lập, thống nhất và hùng mạnh cả về kinh tế, chính trị, quân sự, nhằm khẳng định nền độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia phong kiến tập quyền; xây dựng một nền văn hóa độc lập thoát khỏi sự ảnh hưởng của nên văn hóa
Trang 30ngoại lai; cố kết, thống nhất sức mạnh toàn dân tộc nhằm chống lại các cuộc xâm lăng của quân Tống thời Lý, giặc Nguyên - Mông thời Trần Từ thực tiễn đó đòi hỏi cần thống nhất sức mạnh vật chất và tinh thần, thống nhất tư tưởng, hình thành sự dung hợp Tam giáo, với hình thức Tam giáo đồng nguyên Trong lĩnh vực văn hóa tinh thần,
tư tưởng của xã hội Đại Việt thời Lý - Trần, ý thức dân tộc, lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, cố kết cộng đồng dân tộc, cùng với các yếu tố triết học, tôn giáo, đạo đức, chính trị - xã hội của Phật giáo, Nho giáo và Đạo giáo, đã trở thành những nhân tố tinh thần tiêu biểu ảnh hưởng đến đời sống tinh thần xã hội thời kỳ này nói chung, đến tư tưởng chính trị nói riêng Trải qua tiến trình du nhập lâu dài để khẳng định chỗ đứng trong đời sống tinh thần của người dân Việt, Nho, Phật, Đạo có lối đi riêng với những hình thức khác nhau, có khi ôn hòa, có khi gay gắt, dần ăn sâu, cắm rễ vào mảnh đất Đại Việt, Tam giáo đã dần hòa nhập với truyền thống văn hóa của dân tộc Việt, và bản thân chúng cũng kết hợp, hòa hợp, thống nhất lẫn nhau, ở cùng một nguồn gốc, hình
thành hình thức Tam giáo đồng nguyên lấy Phật giáo làm trung tâm, một hệ tư tưởng
chi phối toàn bộ đời sống kinh tế xã hội của nhân dân ta, nhất là hệ tư tưởng chính trị
Điều kiện lịch sử xã hội hình thành hình thức dung hợp Tam giáo thời kỳ Lê - Nguyễn (hình thức Tam giáo đồng nguyên, hợp nhất, lấy Nho giáo làm hạt nhân)
Giai đoạn Lê - Nguyễn trong lịch sử Việt Nam bắt đầu từ thế kỷ XV, sau khi cuộc khởi nghĩa Lam Sơn hoàn toàn thắng lợi, Lê Lợi chính thức lên làm hoàng đế, lấy niên hiệu Thuận, khôi phục tên nước là Đại Việt mở ra một trang sử mới cho triều đại
Lê sơ (1428 - 1527) đến khi thực dân Pháp bắt đầu nổ súng xâm lược Việt Nam (năm
1858) Thời kỳ này, Đại Việt đã khẳng định một nhà nước phong kiến độc lập, có sự
phát triển độc lập về chính trị, thể chế riêng hùng mạnh, một nền kinh tế riêng
Về kinh tế: Để phát triển nông nghiệp nhà Lê đã đưa ra các bài chiếu, chỉ dụ và
các quy định đảm bảo phát triển kinh tế trong Bộ luật Hồng Đức nhằm khẩn hoang,
mở mang diện tích đất canh tác, quản lý đất đai, khuyến khích sản xuất; chủ trương khắc phục những thiên tai, làm thủy lợi, đắp đê, ngăn lũ, tưới tiêu cho đồng ruộng Với vị trí và vai trò quan trọng của kinh tế nông nghiệp Đại Việt, nhà Lê rất quan tâm bảo vệ và mở rộng đê điều, việc đào kênh không chỉ để dân thủy nhập điền, mở rộng diện tích trồng trọt, mà còn để lưu thông hàng hóa Lê Thánh Tông viết:
“Việc sửa đê những sông lớn bắt đầu từ ngày mồng mười tháng giêng, người xã nào ở trong đường đê phải đến nhận phần đắp đê, hạn trong hai tháng đến ngày mồng mười tháng ba thì làm xong Những đường đê mới đắp hạn trong ba tháng phải đắp xong Quan lộ phải năng đến xem xét, quan coi đê phải đốc thúc hàng ngày Nếu không cố gắng làm, để quá hạn mà không xong thì quan lộ bị phạt, quan giám bị biếm Quân lính và dân đinh không theo thời hạn đến làm và không chăm chỉ sửa đê, để quá hạn không xong thì bị trượng hoặc biếm” (Nguyễn Ngọc Nhuận (chủ biên), 2006, trang 89)
Trang 31Mặt khác, để tăng cường được diện tích trồng trọt, giải quyết tình trạng bỏ hoang đất đai, nhà Lê đưa ra tư tưởng lập đồn điền để lo việc mộ dân lưu vong khai thác một cách có tổ chức và hệ thống các vùng đất hoang Bên cạnh việc khuyến khích khai hoang đất đai, ông còn trừng phạt những quan viên quản lý khu vực không tốt để dẫn đến tình trạng đất hoang hóa Lê Thánh Tông viết: “Nếu không phải ruộng bỏ hoang mà bỏ lâu ngày không chia, thành bỏ hoang thì các quan viên phải bồi thường tiền hoa màu ruộng” (Nguyễn Quang Thắng (dịch), 1998, trang 185)
Trong đường lối phát triển kinh tế, nhà Lê còn chủ trương khuyến khích tư nhân khai hoang, nhất là khẩn hoang, chinh phục và cải tạo các đất bãi bồi ven biển
và vùng trung du Đặc biệt, để phát triển kinh tế nông nghiệp, Lê Thánh Tông chủ trương phải đảm bảo nguồn lao động và sức kéo, một trong những yếu tố quyết định trong sản xuất nông nghiệp Trong đó, Lê Thánh Tông cấm điều động dân phu xây dựng các công trình vào các vụ mùa cày cấy, gặt hái hằng năm Quân lính công, trượng (thợ thủ công do nhà nước quản lý) đều được luân phiên về làm ruộng Bên cạnh đó, Lê Thánh Tông rất quan tâm đến việc nuôi dưỡng, bảo vệ trâu, bò và ngựa
Lê Thánh Tông viết:
“Những người tự tiện giết trâu ngựa thì bị xử 80 trượng và phải nộp tiền giá con
trâu ngựa ấy vào công khố Nếu là người ngoại quốc hay là kẻ nô lệ mà phạm lỗi trên thì người quản giám nội kiều và người chủ bị phạt 5 quan tiền Thấy ai đem thịt ra chợ bán mà người coi chợ và xã quan sở tại không cấm thì đều bị xử phạt 80 trượng” (Nguyễn Ngọc Nhuận (chủ biên), 2006, trang 178)
Với đường lối phát triển kinh tế toàn diện và thống nhất, nhất là kinh tế nông nghiệp dưới thời kỳ nhà Lê đã góp phần chấn hưng đất nước, nông dân được sống trong cảnh ấm no, thái bình Sang thế kỷ XVII - XVIII, kỹ thuật trồng lúa của người Việt đạt đến một đỉnh cao mới với những khám phá trong vấn đề thủy lợi và vấn đề thâm canh cây lúa Việc dẫn nước vào đồng và rút nước ra hình thành thường xuyên những lớp phân bón tự nhiên trên mặt ruộng Việc này làm cho đất luôn mới và “xem ra chẳng bao giờ kiệt quệ” (Nguyễn Thanh Nhã , 2017, trang 88) Theo tác giả Nguyễn Thanh Nhã (2017), sự phát triển của nông nghiệp lúa nước Việt Nam thế kỷ XVII - XVIII còn được ghi dấu ấn bởi kỹ thuật thâm canh ngày càng hoàn thiện:
“Mặc dù công cụ nghèo nàn, nhưng phương pháp thâm canh buộc nông dân chúng
ta không ngừng thích nghi Trên đây chúng ta thấy lúa nước thích hợp với nhiều loại đất Mỗi loại đất lại thích hợp với một giống lúa riêng: lúa cho vùng ngập nước, lúa khô của vùng núi và đồi, lúa chịu được nước lợ tại các vùng đất bồi, lúa sớm và lúa muộn, lúa nổi có thể phát triển tại các vùng ngập sâu trong nước Lê Quí Đôn liệt kê có đến trên hai trăm loại” (Nguyễn Thanh Nhã , 2017, trang 92) Bên cạnh việc canh tác lương thực lúa nước, nền kinh tế nông nghiệp Đại Việt lúc bấy giờ còn phát triển những giống cây trồng khác phù hợp với truyền thống “đói
Trang 32ăn rau, đau uống thuốc” của người Việt Thế kỷ XVIII đã chứng kiến những cây trồng
có nguồn gốc từ phương Tây xuất hiện trong danh mục hàng hóa tiêu dùng của người Việt như đậu Hà Lan, các loại khoai màu… Cùng với nông nghiệp, thủ công nghiệp thời kỳ này có những bước phát triển vượt bậc như cùng với việc khai thác khoán sản đem bán thì việc sản xuất các mặt hàng thủ công nghiệp cũng được nhà nước tận dụng
và tạo điều kiện phát triển với mục đích buôn bán là chính Bên cạnh những ngành nghề thủ công truyền thống phục vụ trong nước từ lâu đời, thế kỷ XVIII đánh dấu sự phát triển mạnh mẽ của ngành nghề như: làm muối, dệt, gốm, điêu khắc, vì đây là những ngành nghề có giá trị xuất khẩu cao
Bên cạnh lĩnh vực nông nghiệp được chú trọng, nhà Lê cũng rất quan tâm đến vai trò của lĩnh vực thương nghiệp trong đường lối phát triển kinh tế của mình Trong
xã hội phong kiến, thương nghiệp vốn là nghề bị xã hội xem thường theo quan điểm
“nông bản thương mạt” Tuy nhiên, trong đường lối phát triển kinh tế, dưới thời nhà
Lê, đặc biệt là Lê Thánh Tông lại đặc biệt chú ý đến phát triển lĩnh vực này Quan điểm khuyến khích phát triển thương nghiệp của ông đã được ghi lại trong những điều luật quy định về tiền tệ, dụng cụ đo lường, chất lượng hàng hóa, vay và trả nợ, thiết lập trật tự kỷ cương các trung tâm buôn bán; chống buôn lậu và việc cấm các quan chức đi buôn Đây là những yếu tố cơ bản của việc bảo đảm thiết lập những quan hệ kinh tế thị trường Sang thời kỳ nhà Nguyễn các hoạt động thương nghiệp và ngoại thương phát triển khá mạnh kéo theo đó là sự phát triển của ngành nghề thủ công, sự giao thương buôn bán giữa các vùng miền, sự hưng thịnh của một số thành thị và tác dụng quan trọng của đồng tiền trong xã hội Đây chính là những tiền đề quan trọng của một quan
hệ sản xuất mới, dần được manh mún hình thành
Về chính trị - xã hội: Các vua đầu triều Lê sơ đều quan tâm và cố gắng thực
hiện kiện toàn bộ máy nhà nước quân chủ tập trung, quan liêu chuyên chế Đến đời Lê Thánh Tông, mô hình nhà nước đã đạt tới đỉnh cao, ánh dấu một bước ngoặt lịch sử, một sự chuyển đổi mô hình, từ nền quân chủ quí tộc thời Lý - Trần đậm nét văn hóa Phật giáo mang màu sắc Đông Nam Á sang một nền quân chủ quan liêu Nho giáo Đông Á Bộ máy quan liêu hành chính và chuyên môn cũng được kiện toàn từng bước Năm 1471, Lê Thánh Tông đã tiến hành một đợt cải cách hành chính lớn nhằm tăng cường sự kiểm soát của hoàng đế đối với các triều thần, đồng thời tăng cường sự rằng buộc, kiểm soát lẫn nhau trong giới quan liêu, tăng cường tính hiệu lực và hiệu quả của bộ máy quan lại Trong triều đình, dưới quyền điều khiển trực tiếp của nhà vua có
6 bộ giúp vua theo dõi, giám sát và Lục tự với chức năng điều hành Những cơ quan chuyên môn trong chiều gồm có các đài, các viện, giám, sảnh như Ngự sử đài, Hàn lâm viện, Quốc tử giám, Nội thị sảnh Về mặt hành chính, trước đó, Lê Thái Tổ chia nước thành 5 đạo, Lê Thánh Tông đã cải tổ lại, chia thành 13 đạo (sau đổi thành 13 thừa nguyên) Với lòng tự tôn dân tộc, các vua thời Lê sơ đã không ngừng củng cố,
Trang 33phát triển quốc gia dân tộc thống nhất Các vua Lê đã thi hành một chính sách hòa hoãn nhưng kiên quyết với nhà Minh trong vấn đề biên giới, đồng thời mở rộng lãnh thổ về phía tây và phía nam Để nắm chắc và khống chế các tù trưởng thiểu số, triều đình nhà Lê đã áp dụng những biện pháp kết hợp trấn áp với phủ dụ Nhà vua cũng cho điều tra và lập sổ hộ tịch, khảo sát địa hình, lập bản đồ hành chính quốc gia (bản
đồ Hồng Đức được vẽ năm 1469) Nhà Lê luôn có ý thức đề cao, tôn vinh truyền thống dân tộc và các danh nhân lịch sử - văn hóa Ở thế kỷ XV, Đại Việt đã trở thành một quốc gia có uy thế trong khu vực
Bước sang thế kỷ XVI và đặc biệt là nửa cuối thế kỷ XVI, Đại Việt đã lâm vào khủng hoảng kinh tế trầm trọng Chính sách “quân điền” dần bị phá sản, đồng nghĩa với nó là làm cơ sở cho chế độ tư hữu về ruộng đất ngày càng mở rộng Sự phát triển chậm chập của kinh tế công thương nghiệp không tạo nên được các trung tâm kinh tế
đô thị Thăng Long, trung tâm đô thị quan trọng nhất đã không đủ tác động lên một nền kinh tế quốc gia mà chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, vốn dĩ đã hết sức khó khăn, lại thiên tai triền miên, gây nên hậu quả nghiêm trọng trên cả nước Trong khi đó các địa phương, các thế lực phong kiến ngày càng lớn mạnh và luôn tìm mọi cách cát cứ Kết quả là ngày càng xuất hiện nhiều cuộc nổi dậy chống lại triều đình ở khắp các địa phương Mô hình tập trung quan liêu không còn phù hợp với phát triển kinh tế, xã hội
và chính trị Triều đình nhà Lê đã bất lực trong việc điều hành đất nước
Nhân cơ hội triều đình phong kiến Lê Sơ đang sa sút, Mạc Đăng Dung đã lợi dụng dưới danh nghĩa phù vua Lê Chiêu Tông đã tiêu diệt các phe phái đối lập và đã được phong tước Minh Quận Công rồi Nhân Quốc Công Năm 1526 Mạc Đăng Dung giết vua Chiêu Tông, 1527 bắt Hoàng đệ Xuân nhường ngôi cho mình Nhà Mạc lên thay nhà Lê đã gây ra sự phản ứng dữ dội trong các con cháu công thần và sĩ phu khoa bảng lúc bấy giờ như Nguyễn Thái Bạt, Lê Tuấn Mậu, Đàm Thuận Huy, Nguyễn Duy Tường,… Sự phản ứng này của họ là phản ứng của những sĩ phu Nho giáo theo kiểu
“trung thần bất sự nhị quân” mang dáng dấp của nhân cách sĩ khí anh hùng của thời kỳ trước để lại Nhà Mạc được lập lên trong thế chênh vênh, yếu đuối Dó đó, nhà Mạc một mặt đã tìm đến nhà Minh (Trung Hoa) để bảo vệ ngôi vị của mình, mặt khác tìm cách đối phó với những công thần trung thành với nhà Lê Sơ và ra sức củng cố, xây dựng chính quyền, ổn định trật tự xã hội, mở các khoa thi Nho học để đào tạo ra tầng lớp sĩ phu mới làm chỗ dựa cho triều đình
Tuy nhiên bộ máy triều đình nhà Mạc vẫn căn bản giống với mô hình phong kiến triều Lê Sơ mang tính quan liêu hành chính trong quản lý xã hội Sự ra đời của vương triều nhà Mạc, đã làm cho các tập đoàn phong kiến khác lấy danh nghĩa “phù Lê diệt Mạc”, đã thành lập ra triều đình mới là Lê Trung Hưng (ở Thanh Hóa) Sự xung đột giữa nhà Mạc và nhà Lê Trung Hưng đã hình thành nên Bắc Triều (nhà Mạc thống trị ở Bắc Bộ) và Nam Triều (họ Trịnh dưới danh nghĩa phù Lê quản lý vùng đất Thanh Hóa
Trang 34trở vào) từ năm 1546 đến 1592, với 38 chiến dịch lớn nhỏ giữa Lê - Trịnh và Mạc Năm
1592 Nam Triều thắng Bắc Triều, nhà Mạc chạy lên Cao Bằng và tồn tại ở đó được khoảng hơn 60 năm thì tan rã Cuộc xung đột giữa nhà Mạc và Lê - Trịnh kết thúc, thì
xã hội Việt Nam lại xuất hiện cuộc xung đột mới Trịnh - Nguyễn Sông Gianh là giới tuyến, phía Bắc do họ Trịnh quản lý (gọi là Đàng Ngoài hay Bắc Hà), phía Nam do họ Nguyễn quản lý (gọi là Đàng Trong hay Nam Hà) Sự phân chia và quản lý đất nước do các tập đoàn phong kiến Mạc, Trịnh, Nguyễn là nét nổi bật nhất trong tình hình chính trị của xã hội Việt Nam bấy giờ Tuy nhiên các nhà nước phong kiến Đàng Trong và Đàng Ngoài đều có điểm chung là đều theo mô hình cũ từ thời Lê Sơ - nhà nước quan liêu hành chính ngày càng nặng nề và phức tạp, nó thành trở lực cho sự phát triển của xã hội
Về xã hội: Cũng như triều Lê, dưới triều Nguyễn có bốn giai tầng xã hội theo
mức độ trọng thị từ cao xuống thấp là sĩ, nông, công, thương Mâu thuẫn cơ bản trong
xã hội vẫn là mâu thuẫn giữa nông dân với địa chủ, quan lại phong kiến Mâu thuẫn này dưới triều Nguyễn hết sức gay gắt và không thể dung hòa được do nông dân bị bóc lột,
áp bức nặng nề về kinh tế và tinh thần Hàng trăm cuộc nổi dậy của nông dân đã diễn ra trong suốt nửa đầu thế kỷ XIX, làm cho xã hội rơi vào khủng hoảng hết sức trầm trọng
Từ sự phân tích thực tế lịch sử, chúng ta thấy, thời kỳ Lê - Nguyễn, Đại Việt đã khẳng định một nhà nước phong kiến độc lập, có sự phát triển độc lập tự chủ và vững mạnh về chính trị, kinh tế, văn hóa, quân sự Tuy nhiên, trong bối quá trình biến đổi xã hội sâu sắc ấy trong thời kỳ Lê - Nguyễn đã đặt ra vấn đề bức thiết nhất, đó là phải xây dựng, tổ chức, quản lý xã hội và nhà nước phong kiến trung ương tập quyền một cách quy củ, chặt chẽ, để xây dựng một nước Đại Việt vững mạnh, bảo vệ nền độc lập và chủ quyền của quốc gia Đại Việt Chính điều kiện lịch sử - xã hội đặc biệt đó, tư tưởng chính trị - đạo đức Nho giáo đáp ứng yêu cầu của xã hội bấy giờ, song bên cạnh Nho giáo còn có sự kết hợp các yếu tố tư tưởng, tôn giáo, đạo đức của Phật giáo, Đạo giáo
và các yếu tố văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam, từ đó tạo nên cuộc dung h p
Tam giáo với hình thức Tam giáo đồng nguyên, h p nhất, lấy Nho giáo làm hạt nhân
Điều kiện lịch sử xã hội hình thành hình thức dung hợp Tam giáo cuối thế
kỷ XIX đầu thế kỷ XX (hình thức Tam giáo đồng quy)
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là một trong những giai đoạn có nhiều biến động đối với lịch sử xã hội Việt Nam Đó là thời kỳ chế độ phong kiến triều Nguyễn
đã suy tàn, thỏa hiệp và đầu hàng làm tay sai cho thực dân Pháp Đây là giai đoạn đánh dấu bước chuyển Việt Nam từ xã hội phong kiến thành xã hội thuộc địa nửa phong kiến, tính chất xã hội hoàn toàn thay đổi
Sau khi hoàn thành chiến tranh xâm lược và bình định, thực dân Pháp đã đẩy mạnh kế hoạch “Khai thác thuộc địa lần thứ nhất” kéo dài từ năm 1897 đến chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914) Xã hội phong kiến Việt Nam vốn đã trì trệ, kém phát triển, giờ đây lại trở thành xã hội nửa thuộc địa nửa phong kiến Dưới thời thuộc
Trang 35Pháp, cơ cấu giai cấp - xã hội ở Việt Nam có nhiều thay đổi, xuất hiện những lực lượng mới, đặt nền móng cho sự tiếp nhận những giá trị văn minh mới và những bài học kinh nghiệm của thế giới
Về kinh tế: Để thâu tóm nền kinh tế, triệt để bóc lột nhân dân ta, thực dân Pháp
đã thi hành các chính sách như: độc chiếm thị trường, độc quyền ngoại thương; chú trọng đầu tư vào các ngành sản xuất công nghiệp, thương mại phục vụ cho việc chiếm đoạt, vơ vét tài nguyên, bóc lột nhân công rẻ mạt, mang lại lợi nhuận cao, như khai khoáng, chế biến quặng, giao thông đường bộ, đường sắt, làm muối, nấu rượu, cảng biển; độc quyền ngân hàng và đầu tư vào các ngành thuận lợi cho việc khai thác thuộc địa để xuất khẩu; duy trì một nền sản xuất nông nghiệp theo quan hệ sản xuất phong kiến cổ truyền, lạc hậu, què quặt, chiếm đoạt ruộng đất của nông dân, tạo ra các vùng sản xuất hàng hóa xuất khẩu với các đồn điền cao su, cà phê, chè, làm phá sản những người nông dân và thợ thủ công, tạo ra nguồn nhân công sẵn có, phục vụ cho chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp
Về chính trị - xã hội: Trong quá trình khai thác thuộc địa, thực dân Pháp đã áp
đặt và duy trì ở nước ta chế độ chính trị mang tính chất thực dân, dùng chính sách
“chia để trị”, “dùng người Việt trị người Việt” Chúng xây dựng ở nước ta một bộ máy cai trị, gồm một hệ thống từ viên Toàn quyền Đông Dương đến Thống đốc, Khâm sứ, Thống sứ, Công sứ các kỳ, các tỉnh và bộ máy cảnh sát, nhà tù, quân đội; bên cạnh chính quyền bù nhìn nhà Nguyễn Chúng chia nước ta thành ba kỳ với chế độ khác nhau để chia rẽ và cai trị dân ta Để khai thác vơ vét tài nguyên khoáng sản và nhân công rẻ mạt của nước ta, nhằm thu về lợi nhuận tối đa, thực dân Pháp đã dùng mọi thủ đoạn và hình thức để cai trị, bóc lột và áp đặt hàng trăm thứ tô thuế vô lý, nặng nề lên người dân Việt Nam Bên cạnh việc đầu độc thể xác và tinh thần người dân Việt Nam bằng rượu cồn, thuốc phiện và báo chí phản động, thực dân Pháp đã sử dụng các công
cụ bạo lực như quân đội, cảnh sát, tòa án và nhà tù để đàn áp, khủng bố sự phản kháng
và đấu tranh của nhân dân ta
Về văn hóa, tư tưởng: Thực dân Pháp thực hiện chính sách nô dịch về văn hóa,
gây tâm lý vong bản tự ti, phát triển tôn giáo, mê tín dị đoan để mê hoặc nhân dân, ngăn chặn ảnh hưởng của nền văn hóa dân chủ tiến bộ Pháp vào Việt Nam, đem văn hóa phản động trụy lạc nhồi sọ nhằm ngu dân; đồng thời thực dân Pháp vẫn duy trì nền học vấn Nho gia, mặt khác mở các trường dạy tiếng Pháp và văn hóa Pháp Thực dân Pháp khai thác triệt để những tác dụng của Nho gia trong xã hội Việt Nam, nhằm làm cho “gia đình vững mạnh, cha mẹ được kính trọng, chính quyền được tuân thủ” (Trần
Bá Đệ, 2002, trang 186) phục vụ ý đồ chính trị của thực dân Trong lúc đó, giai cấp địa chủ phong kiến coi Nho học là cứu cánh, nên ra sức níu kéo nền học vấn bảo thủ này
Tất cả những điều đó đã khiến cho xã hội Việt Nam có sự phân hóa và mâu thuẫn khá sâu sắc, phức tạp, gay gắt, đại đa số người dân Việt Nam bị mất hết tư liệu sản xuất,
Trang 36rơi vào cảnh bần cùng, mất tự do, cuộc sống mưu sinh hết sức khó khăn, hình thành một nền kinh tế không cân đối, phụ thuộc vào chính quốc, khai thác kiệt quệ tài nguyên của đất nước, nhằm phục vụ lợi ích của thực dân, bần cùng hóa một bộ phân dân cư… mâu thuẫn cơ bản về kinh tế đã thể hiện mâu thuẫn về lợi ích của dân tộc Việt Nam với bộ máy cai trị của thực dân Pháp đương thời và triều đình phong kiến là công cụ đắc lực của chủ nghĩa thực dân
Bên cạnh đó, vào cuối thế kỷ XIX, nền văn minh phương Tây bắt đầu du nhập vào nước ta, đặc biệt là Cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi, chủ nghĩa xã hội đang trở thành hiện thực và mong ước của hàng triệu con người trên trái đất Hệ tư tưởng của giai cấp công nhân ngày càng ảnh hưởng rộng khắp trên phạm vi thế giới Phong trào đấu tranh giải phóng của các dân tộc đang ngày càng phát triển nhanh chóng Đây là những sự kiện lịch sử chính trị rất lớn, có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình chuyển biến
tư tưởng ở Việt Nam lúc bấy giờ Ngoài ra, qua quá trình xâm lược và khai thác thuộc địa của Pháp ở Việt Nam, bên cạnh bộ phận những người trong chính quyền thực dân, còn có những trí thức, hay các nhà khoa học tới Việt Nam với mục đích nghiên cứu, dạy học… Và đặc biệt trong đó không thể không kể tới, đó chính là các giáo sĩ truyền đạo Thiên Chúa, họ ít nhiều cũng đã mang tư tưởng bình đẳng của Chúa đến với giáo dân và ảnh hưởng sâu rộng tỉ lệ thuận với quá trình phát triển của đạo Thiên Chúa đối với nhân dân Việt Nam Hơn thế nữa, nền giáo dục Pháp ở Việt Nam mặc
dù với mục đích chính là đào tạo những người làm việc cho bộ máy cai trị chính quyền thực dân nhưng ít hay nhiều cũng mang đến cho những người Việt Nam theo Pháp học
có những hiểu biết về tư tưởng “Ánh sáng” với Milê, người đã có quan niệm về chủ nghĩa cộng sản không tưởng; Mông-te-xki-ơ với tư tưởng xây dựng hệ thống nhà nước “tam quyền phân lập, kiềm chế đối trọng”; Vôn-te có tư tưởng chống độc tài phong kiến và nhà thờ Thiên Chúa; hay Đi-đơ-rô với quan điểm triết học duy vật và Rut-xô với tư tưởng dân chủ cách mạng và nhà nước dân chủ,… Vì vậy, nền giáo dục
mà Pháp xây dựng ở Việt Nam thời kỳ này không tránh khỏi ảnh hưởng của những tư tưởng này đối với giới trí thức cũng như đối với cả xã hội nước ta
Như vậy, mặc dù, thực dân Pháp đặt ách nô dịch về văn hóa, giáo dục nhưng với tinh thần tự tôn, độc lập, tự chủ, thì nhân dân đã có những thay đổi nhất định về sự hiểu biết thế giới xung quanh, về chính trị, xã hội, văn hóa… Mặt khác, trong đội ngũ trí thức, một bộ phận có ý thức tự tôn dân tộc đã tích cực, chủ động tiếp thu tư tưởng tiến
bộ của phương Tây nói riêng, và nhân loại nói chung truyền bá vào nước ta Cùng với
sự du nhập của văn hóa phương Tây thì Phật giáo, Đạo giáo và nhất là Nho giáo đã từng tồn tại hàng trăm năm ở Việt Nam bắt đầu có sự biến đổi Để tồn tại và phát triển, một vấn đề mang tính tất yếu là các hệ tư tưởng Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo phải có những thay đổi nhất định cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn và đặc điểm lịch sử xã hội Việt Nam thời kỳ này Chính vì vậy, đã hình thành sự dung hợp các luồng tư tưởng, tôn
Trang 37giáo thời kỳ này, đó là hình thức Tam giáo đồng quy, trong đó các yếu tố tư tưởng, tôn
giáo của Nho, Phật, Đạo quy về một mối, pha trộn với yếu tố của tư tưởng, văn hóa mới khác, kết hợp cùng với văn hóa, tín ngưỡng bản địa, lấy Phật giáo làm nòng cốt, cuối thế
kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, hình thành nên những hình thức tôn giáo mới - tôn giáo bản địa như Phật giáo Hòa Hảo, Đạo Cao Đài, Đạo Bửu Sơn Kỳ Hương
1.2 TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH NHỮNG HÌNH THỨC DUNG HỢP TAM GIÁO TRONG LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG VIỆT NAM
1.2.1 Tư tưởng, văn hóa phương Đông với sự hình thành những hình thức dung hợp Tam giáo trong lịch sử tư tưởng Việt Nam
Là một hiện tượng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, hình thức dung hợp Tam giáo không chỉ là sự phản ánh đặc điểm điều kiện cũng như yêu cầu của thực tiễn đời sống xã hội qua các giai đoạn vận động, phát triển của lịch sử - xã hội Việt Nam, mà còn
là sự tiếp thu, kế thừa, phát triển những tiền đề tư tưởng nhất định đúng như C.Mác và Ph.Ăngghen đã viết: “Trong lĩnh vực của mỗi khoa học, nhà tư tưởng lịch sử (lịch sử ở đây chỉ là một từ tổng hợp để chỉ các khái niệm: chính trị, pháp luật, triết học, thần học,
- tóm lại để chỉ tất cả những lĩnh vực liên quan đến xã hội chứ không đơn giản liên quan đến tự nhiên), có một tài liệu nhất định hình thành một cách độc lập từ sự tư duy của các thế hệ trước và đi qua con đường phát triển độc lập của riêng nó trong bộ óc của những thế hệ kế tiếp nhau đó” (C.Mác & Ph.Ăngghen, 2000, trang 133)
Những hình thức dung hợp Tam giáo chủ yếu trong lịch sử tư tưởng Việt Nam
dù khác nhau do đặc điểm, yêu cầu của điều kiện lịch sử - xã hội quy định, do Nho, Phật, Đạo có vai trò, vị trí và tính chất khác nhau trong mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn, nhưng chúng đều dựa trên chính nội dung tư tưởng của ba thành tố cơ bản là Nho, Phật, Đạo làm tiền đề, để liên kết, kết hợp, hòa đồng, thống nhất, ràng buộc với nhau, theo những hình thức dung hợp khác nhau, với sự gia nhập của các yếu văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam Vì thế, trong những tiền đề hình thành hình thức dung hợp Tam giáo trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, không thể không nghiên cứu nội dung
tư tưởng của Tam giáo Nho giáo, Đạo giáo, Phật giáo du nhập nước ta và truyền thống văn hóa của dân tộc Việt Nam
Đầu tiên là thành tố Nho giáo: Nho giáo là một trường phái triết học chính trị -
đạo đức do Khổng Tử (551 TCN - 479 CN) sáng lập Cơ sở tri thức của Nho giáo được hình thành từ trước thời Xuân Thu Nhà nho khi đó được gọi là “sỹ”, chuyên học văn chương và lục nghệ, góp phần trị vì đất nước Đến thời mình, Khổng Tử đã hệ thống hóa những tư tưởng và tri thức trước đây thành học thuyết chính trị - đạo đức, gọi là Nho giáo Quá trình hình thành, biến đổi của Nho giáo từ thời Xuân thu - Chiến quốc đến cuối thời kỳ phong kiến có thể khái quát thành ba giai đoạn chính: Nho giáo thời
kỳ Tiên Tần, Nho giáo thời kỳ Lưỡng Hán, và Nho giáo thời kỳ Tống - Minh
Nho giáo thời kỳ Tiên Tần, là học phái đại biểu cho lợi ích của giai cấp chủ nô
đang suy tàn thời kỳ Xuân thu - Chiến quốc Người sáng lập ra Nho gia là nhà tư
Trang 38tưởng nổi tiếng Khổng Khâu và nhân vật đại biểu thứ hai của Nho gia là Mạnh Kha
Do vậy học thuyết của Nho gia còn gọi là Nho học hay đạo Khổng - Mạnh Khổng Tử
đã đề xướng cương lĩnh chính trị đạo đức “khắc kỷ phục lễ” hy vọng cải biến xã hội, phục hồi chế độ tông pháp và cơ sở kinh tế chế độ “tỉnh điền” thời kỳ Tây Chu và toàn
bộ kiến trúc thượng tầng của xã hội ấy Nho giáo thời kỳ Lưỡng Hán, đại biểu là Đổng
Trọng Thư (179 TCN - 104 TCN) Ông đã có công khôi phục và hệ thống hóa tư tưởng Nho học thời kỳ Tiên Tần, nhất là phần triết lý đạo đức nhân sinh của Khổng - Mạnh, kết hợp tư tưởng Nho học với chủ nghĩa thần bí trong thuyết Âm dương ngũ hành, phục hồi lý luận chính trị thần quyền thời Tây Chu; tạo nên hình thái mới của Nho học được coi là giai đoạn phát triển lớn thứ hai của Nho gia, trở thành hệ tư tưởng thống trị của xã hội phong kiến thời kỳ Lưỡng Hán về sau, với lý luận thần học “trời
và người hợp nhất”, “trời trao chính quyền”, “trời với người cảm ứng” của Đổng
Trọng Thư Nho giáo thời kỳ Tống - Minh - đầu Thanh (960 - 1840), để duy trì và
củng cố nền thống trị phong kiến tập quyền, giai cấp thống trị đời Tống - Minh và đầu nhà Thanh đã chủ trương độc tôn Nho học, phản đối Pháp gia, cạnh tranh kế thừa tư tưởng của các học phái Phật giáo, Đạo gia, sáng tạo nên một hình thái mới của Nho gia gọi là Lý học hay Đạo học Lý học của Nho gia trở thành hình thái ý thức quan phương của xã hội phong kiến thời kỳ Tống - Minh – Thanh, đã phát triển tư tưởng của Nho gia qua hệ thống các nguyên lý, các cặp phạm trù trên các lĩnh vực bản thể luận, nhận thức luận và đạo đức nhân sinh như “đạo” và “khí”, “lý” và “khí”, “tâm” và
“vật”, “tri” và “hành”, “trí tri cách vật”, “thiên lý”, “nhân dục”, “tam cương ngũ
thường” Hình thành nên hai phái chính của Nho học Tống – Minh: phái Lý học, tức
chủ nghĩa duy tâm khách quan của Nho học Tống - Minh với các nhà tư tưởng tiêu biểu như Trình Hạo (1032 - 1085), Trình Di (1033 - 1107), Chu Hy (1130 - 1200) còn
gọi là phái Trình - Chu ; và phái Tâm học, tức chủ nghĩa duy tâm chủ quan của Nho
học Tống - Minh, với các nhà tư tưởng như Lục Cửu Uyên (1139 - 1192), Vương Thủ
Nhân (1427 - 1528), còn gọi là phái Lục - Vương
Trong quan điểm về thế giới, nhìn chung, học thuyết Nho giáo chứa đựng nhiều
mâu thuẫn, đan xen giữa khuynh hướng duy vật và duy tâm Tuy trong quan niệm của người sáng lập Nho giáo là Khổng Tử cũng đã chứa đựng một số yếu tố hết sức tiến bộ và có tính duy vật như việc ông cho rằng sự vận động của vạn vật đều tuân theo “đạo” của nó, không phụ thuộc vào ý chí của ai: “Trời có nói gì đâu! Bốn mùa vận hành, vạn vật sinh hóa mãi, Trời có nói gì đâu!” (Luận Ngữ, Dương hóa, Đoàn Trung Còn (dịch), 1950, trang 18) và cho rằng con người nên hướng vào cuộc sống thực tại chứ không nên tin vào những chuyện quỷ thần xa xôi vì: “Đạo thờ người chưa biết thì sao biết được đạo quỷ thần Sự sống còn chưa biết, sao biết được sự chết?” (Luận ngữ, Tiên Tấn, Đoàn Trung Còn (dịch), 1950, trang 11), nhưng do những biến đổi của thời cuộc, do những hạn chế bởi lợi ích giai cấp và nhận thức
Trang 39khiến cho tư tưởng của ông không tránh khỏi có những yếu tố duy tâm, thần bí Trong quan niệm của ông, trời có ý chí và có thể chi phối vận mệnh của con người: “Đạo của
ta thi hành ra được cũng do mệnh trời, mà bị bỏ phế vong cũng là do mệnh trời Công
Bá Liêu làm sao cải được mệnh trời” (Luận Ngữ, Hiến vấn, Đoàn Trung Còn (dịch),
1950, trang 38) Ông khuyên mọi người hãy phục tùng ý chí của trời và coi việc hiểu biết mệnh trời như một điều kiện cho sự hoàn thiện của con người: “Không biết mệnh trời thì không lấy gì làm quân tử” (Luận ngữ, Nghiêu viết, Đoàn Trung Còn (dịch),
1950, trang 3).Theo ông, “sống chết có mệnh, giàu sang do ở trời” (Luận ngữ, Nhan Uyên, Đoàn Trung Còn (dịch), 1950, trang 5) Mạnh Tử đã kế thừa tư tưởng “Thiên mệnh” của Khổng Tử và đẩy thế giới quan ấy tới đỉnh cao của chủ nghĩa duy tâm Trong quan niệm của mình, Mạnh Tử khẳng định ý chí và quyền uy của trời trong việc sáng tạo và chi phối vạn vật, từ sự biến hóa của giới tự nhiên đến sự biến đổi của đời sống con người, từ trật tự, địa vị trong xã hội đến tâm tính, đạo đức của con người Từ
đó, ông nhấn mạnh tư tưởng “thiên mệnh”, cho rằng con người phải tuyệt đối phục tùng mệnh trời, an phận vì: “Chẳng có việc gì xảy ra mà không do mệnh trời Mình nên tùy thuận mà nhận lấy cái mệnh chính đáng ấy…” Ông còn nói: “Hễ mình hết lòng hết dạ thì mình biết được cái bản tính của mình, thì biết được Trời rồi đó” (Mạnh
Tử, Tận tâm thượng, Đoàn Trung Còn (dịch), 1950, trang 1-2)
Tư tưởng này của Khổng Tử và Mạnh Tử đến đời Hán được Đổng Trọng Thư kết hợp với thần học, “sấm vĩ” và quan điểm Âm dương - Ngũ hành đã hình thành nên một hệ thống triết học mang tính chất duy tâm thần bí rõ rệt với các luận đề “thiên nhân hợp nhất”, “thiên nhân cảm ứng”, “vương quyền thần thụ”, cho tất cả đều là do trời định Theo ông: “Trời là tổ của vạn vật, vạn vật không có trời, không sinh Trời
làm ra cái tính mệnh của người, khiến người làm điều nhân nghĩa” (Xuân thu phồn lộ,
Vi nhân giả thiên) Trời chi phối con người thông qua các vị quân vương trên thế giới
này, các “thiên tử” Quyền của vua do trời trao cho (gọi là “vương quyền thần thụ”),
mà trời là bậc chí cao vô thượng nên quyền của vua cũng là chí cao vô thượng Con người phải tuyệt đối phục tùng quân vương, phản lại vua là chống lại trời mà phản lại trời thì nhất định sẽ bị trời trừng phạt Như vậy, nếu ở Khổng Tử, “trời” chỉ là một lực lượng siêu hình quy định trật tự tự nhiên và xã hội thì đến Đổng Trọng Thư “trời” không phải là vô hình mà là “ông trời” có hình dáng, có ý chí, trời đặt ra cho xã hội loài người một vị vua có quyền lực tối cao để thay trời hành đạo, có thể khen chê, thưởng phạt con người, giám sát chặt chẽ mọi hành động của con người Trời còn có thể cảm thông với con người (“Thiên nhân cảm ứng”) chỉ cần con người có lòng thành cầu xin trời, trời sẽ xúc động mà khiến cho tai tiêu nạn giải
Từ thời nhà Tống trở đi, quan điểm của Nho gia về thế giới trở nên khái quát và
trừu tượng hơn với sự kết hợp tư tưởng Phật giáo và Đạo giáo, trên cơ sở của Kinh Dịch Theo các nhà Lý học, vạn vật trong vũ trụ vật nào cũng đều có lý và khí hay đạo và khí,
Trang 40trong đó lý là bản thể của thế giới vạn vật, “vạn vật đều cùng một thiên lý” chi phối khí; còn khí là cái cụ thể, hữu hình, biểu hiện của lý và chịu sự chi phối của lý Trong đó, lý là cái có trước, khí là cái có sau, lý là đạo, hình nhi thư ng, là một cái tuyệt đối trừu tượng là gốc của sự sinh ra vạn vật, đó không chỉ là cái lý hình thành sự vật mà lại còn có thể tồn tại tách rời sự vật, có trước sự vật Khí là khí chất, thuộc hình nhi hạ, là khí cụ, chất liệu
để tạo thành sự vật Tuy vậy: “Lý chưa bao giờ rời khí Nhưng lý là hình nhi thượng, khí
là hình nhi hạ Nói hình nhi thượng, hình nhi hạ làm sao có trước có sau” (Ngữ loại,
quyển 1) “Thật ra thì lý có trước, nhưng ta không thể nói rằng hôm nay có lý ấy, mà ngày
mai mới có khí ấy Nhưng cũng phải có trước sau” (Chu Tử toàn thư, quyển 49)
Về tư tưởng chính trị - xã hội, Nho giáo, đặc biệt là Nho Khổng - Mạnh đã nêu
lên một xã hội lý tưởng xem đó như là mục tiêu phấn đấu của mình, một thiên hạ bình trị, một xã hội có trật tự, hòa mục như lời Khổng Tử: “Sự thực hiện của đạo lớn là, thiên hạ là của chung, tuyển chọn người hiền và cử người tài năng, nói điều tín và tu sửa hòa mục Cho nên người ta không chỉ tôn kính cha mẹ mình, không chỉ thương yêu con cái mình, còn khiến cho người già được sống trọn đời, người trai tráng được
sử dụng, trẻ thơ được lớn lên, người không vợ, người không chồng, trẻ mồ côi, người
không con, người tàn tật, tất cả đều được chăm sóc,…” (Lễ Ký, thiên Lễ vận) Để đạt
tới một xã hội hòa mục, thái bình đó, Nho giáo chủ trương lấy đạo đức, lấy “nhân”,
“nghĩa”, “lễ”, “trí”, “dũng”, “hiếu”, “kính”, “đễ”… để giáo hóa con người, cải biến con người Theo đó thì người cầm quyền phải dùng đức hạnh của bản thân, lấy lễ nghĩa để giáo hóa dân chúng chứ không nên lạm dụng luật pháp, hình phạt để ép dân
đi vào tôn ti trật tự Khổng Tử cho rằng: “Dùng mệnh lệnh pháp luật để hướng dẫn chỉ đạo dân, dùng hình phạt để quản lý dân, làm như vậy tuy có thể giảm được phạm pháp, nhưng người phạm pháp không biết xấu hổ sỉ nhục Dùng đạo đức để hướng dẫn chỉ đạo dân, dùng lễ nghĩa để giáo hóa dân, làm như vậy chẳng những dân hiểu được thế nào là nhục nhã khi phạm tội, mà còn can tâm tình nguyện sửa chữa sai lầm của mình tận từ gốc từ mặt tư tưởng” (Luận ngữ, Vi chính, Đoàn Trung Còn (dịch), 1950, trang 3) Cũng với tinh thần đó, Mạnh Tử đưa ra tư tưởng “nhân chính”, theo đó, đạo trị nước phải lấy điều nhân nghĩa làm gốc, xuất phát từ lòng “chẳng nỡ làm những việc có hại cho người khác” (Mạnh Tử, Công Tôn Sửu thượng, Đoàn Trung Còn (dịch), 1950, trang 2,4) Ông gọi đường lối trị nước dựa vào đạo đức, “đức trị”, “lễ trị” là “vương đạo”, còn dùng hình pháp, vũ lực để cai trị, giành lấy thiên hạ là “bá đạo” Theo ông:
“Một vị vua dùng vũ lực lại giả nhân nghĩa đi chinh phạt các nước, vị vua ấy có thể xưng bá Làm bá thì nhất định cần có một nước to lớn Một vị vua dựa vào đức hạnh lại thực hiện nhân chính, thì người ta tôn làm vương Làm vương chẳng đợi có một nước to lớn Như vua Thành Thang đất đai chỉ vuông vức bảy mươi dặm, vua Văn Vương đất đai chỉ vuông vức một trăm dặm nhưng đều từ đó mà nổi lên Dựa vào sức mạnh khiến người khác phục tùng thì người ta chỉ chịu phục bề ngoài, chứ tâm người