Kết quả chung của những nghiên cứu kể trên là Talmy 2000 đã đề xuất chia các ngôn ngữ thành hai nhóm chính: nhóm Ngôn ngữ mã hóa phương thức chuyển động Satellite-framed languages và nhó
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
VÕ THỊ MỘNG THƠ
NGỮ NGHĨA – CÚ PHÁP CHUỖI VỊ TỪ CHUYỂN ĐỘNG TIẾNG VIỆT
(so sánh với tiếng Anh)
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
TP HỒ CHÍ MINH - Năm 2020
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
VÕ THỊ MỘNG THƠ
NGỮ NGHĨA – CÚ PHÁP CHUỖI VỊ TỪ CHUYỂN ĐỘNG TIẾNG VIỆT
(so sánh với tiếng Anh)
Chuyên ngành: NGÔN NGỮ HỌC
Mã số: 8.22.90.20
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS NGUYỄN HOÀNG TRUNG
TP HỒ CHÍ MINH - Năm 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Hoàng Trung Các số liệu, kết quả trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa được công bố ở bất kì một công trình nào khác Nếu không đúng như đã nêu trên, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về đề tài của mình
Học viên
Võ Thị Mộng Thơ
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn vô cùng sâu sắc đến Tiến sĩ Nguyễn Hoàng Trung, người Thầy đã truyền dạy cho tôi những bài học lớn lao, những kinh nghiệm thiết thực và những giá trị quý báu trên con đường nghiên cứu khoa học, người Thầy đã tận tình dẫn dắt tôi, hỗ trợ tôi, khích lệ tinh thần tôi trong suốt quá trình nghiên cứu cho đến khi tôi hoàn thành luận văn này
Đồng thời, tôi cũng xin chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô ở Bộ môn Ngôn ngữ học, quý Thầy, Cô đã giảng dạy tôi ở những môn học chuyên ngành Qua đây, tôi cũng xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô ở Phòng Sau đại học, Thư viện và các phòng ban đã luôn nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu luận văn
Bên cạnh đó, tôi cũng xin cảm ơn gia đình, bạn bè cùng các anh chị học viên Cao học khóa 2016 (đợt 1) đã luôn bên cạnh, ủng hộ tôi trong suốt quá trình học tập
và nghiên cứu
TP Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 04 năm 2020
Học viên
Võ Thị Mộng Thơ
Trang 5MỤC LỤC
DẪN NHẬP 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu 2
2.1 Trên thế giới 2
2.2 Ở Việt Nam 6
3 Mục đích nghiên cứu 7
3.1 Mục đích nghiên cứu 7
3.2 Đối tượng phục vụ của đề tài 8
4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 8
4.1 Đối tượng nghiên cứu 8
4.2 Phạm vi nghiên cứu 8
5 Phương pháp nghiên cứu 9
5.1 Phương pháp nghiên cứu 9
5.2 Cách thức thực hiện đề tài 10
6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 10
6.1 Ý nghĩa khoa học 10
6.2 Ý nghĩa thực tiễn 11
7 Bố cục luận văn 11
Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 13
1.1 Những lý thuyết về chuyển động (Motion) 13
1.1.1 Khái niệm chuyển động và sự tình chuyển động 13
1.1.2 Đặc điểm cấu trúc nội tại của sự tình chuyển động 14
1.1.3 Đồng sự tình (Co-event) 17
1.2 Cách thức mã hóa sự tình chuyển động trong ngôn ngữ 18
1.2.1 Ngôn ngữ mã hóa phương thức chuyển động (Manner languages) 18
1.2.2 Ngôn ngữ mã hóa hướng chuyển động (Path languages) 20
1.2.3 Ngôn ngữ mã hóa phương thức và hướng chuyển động (Manner and path languages) 22
1.3 Khái niệm chuỗi vị từ (Serial verb constructions - SVCs) 23
1.4 Tiểu kết 25
Trang 6Chương 2: CHUỖI VỊ TỪ CHUYỂN ĐỘNG TIẾNG VIỆT 27
2.1 Kết cấu chuỗi vị từ chuyển động trong tiếng Việt 27
2.1.1 Vị từ hàm chứa hướng chuyển động (Directional verbs) và Kết cấu chuỗi vị từ chuyển động có hướng (Directional serial motion verb constructions) 27
2.1.2 Vị từ hàm chứa đích chuyển động (Destination verbs) và Kết cấu chuỗi vị từ chuyển động có đích (Destination serial motion verb constructions) 31
2.1.3 Vị từ hàm chứa phương thức chuyển động (Manner verbs) và Kết cấu chuỗi vị từ chuyển động có phương thức (Manner serial motion verb constructions) 35
2.1.4 Vị từ hàm chứa quỹ đạo chuyển động (Path verbs) và Kết cấu chuỗi vị chuyển động có quỹ đạo (Path serial motion verb constructions) 39
2.1.5 Vị từ chuyển động tại chỗ (Self-contained verbs) và Kết cấu chuỗi vị từ chuyển động tại chỗ (Self-contained serial motion verb constructions) 41
2.1.6 Vị từ chuyển động do tác động (Caused-motion verbs) và Kết cấu chuỗi vị từ chuyển động do tác động (Caused-motion serial verb constructions) 42
2.2 Góc nhìn về chuyển động trong tiếng Việt 44
2.3 Tiểu kết 46
Chương 3: SO SÁNH CHUỖI VỊ TỪ CHUYỂN ĐỘNG TIẾNG VIỆT VỚI KẾT CẤU MIÊU TẢ CHUYỂN ĐỘNG TRONG TIẾNG ANH 49
3.1 Kết cấu miêu tả chuyển động trong tiếng Anh 49
3.2 Chuyển dịch kết cấu chuỗi vị từ chuyển động từ tiếng Việt sang tiếng Anh 51 3.2.1 Chuyển dịch kết cấu chuỗi vị từ chuyển động có hướng 51
3.2.2 Chuyển dịch kết cấu chuỗi vị từ chuyển động có đích 54
3.2.3 Chuyển dịch kết cấu chuỗi vị từ chuyển động có phương thức 56
3.2.4 Chuyển dịch kết cấu chuỗi vị từ chuyển động có quỹ đạo 60
3.2.5 Chuyển dịch kết cấu chuỗi vị từ chuyển động tại chỗ 62
3.2.6 Chuyển dịch kết cấu chuỗi vị từ chuyển động do tác động 65
3.3 Chuyển dịch kết cấu miêu tả sự tình chuyển động từ tiếng Anh sang tiếng Việt 68
3.3.1 Chuyển dịch hướng chuyển động 69
3.3.2 Chuyển dịch phương thức chuyển động 72
3.4 Một số nhận xét về cách thức chuyển dịch sự tình chuyển động giữa hai ngôn ngữ Việt – Anh 75
Trang 73.5 Tiểu kết 76
KẾT LUẬN 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
PHỤ LỤC 1 86
PHỤ LỤC 2 98
Trang 8DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
5 Dir-SVCs Directional serial motion
động
10 Ma-SVCs Manner serial motion verb
constructions
Kết cấu chuỗi vị từ chuyển động có phương thức
Trang 917 SFL Satellite-framed languages Ngôn ngữ mã hóa phương
Trang 10DẪN NHẬP
1 Lí do chọn đề tài
Ngữ pháp, ngữ nghĩa của vị từ tiếng Việt, đặc biệt là vị từ chuyển động đã được đề cập khá nhiều trong những công trình nghiên cứu trước đây Tuy nhiên, hầu hết các tác giả chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu những vị từ đơn, yếu tố thứ hai đứng sau vị từ thường được xử lý như một từ hay một giới từ chỉ hướng, mà chưa được xem xét với vai trò là một vị từ chỉ hướng Đến nay, Việt ngữ học vẫn chưa có đề tài nào thực sự nghiên cứu sâu về chuỗi vị từ chuyển động tiếng Việt dưới góc nhìn của ngữ pháp chức năng Trong khi đó, trên thế giới đã có hàng loạt những công trình nghiên cứu về đề tài này ở nhiều ngôn ngữ khác nhau Có thể kể đến một số công
trình tiêu biểu như: Sudmuk (2005) với chuyên luận The Syntax and Semantics of Serial Verb Constructions in Thai, Wechsler (2003) với đề tài “Serial Verbs and
Serial Motion” cùng hàng loạt bài nghiên cứu liên quan được Nhà xuất bản Oxford
công bố trong công trình Serial Verb Constructions do Aikhenvald và Dixon chủ biên
vào năm 2006, có thể kể đến như: Matthews (2006) với “On Serial Verb Constructions in Cantonese”, Hellwig (2006) với “Serial Verb Constructions in Goemai”, Kilian – Hatz (2006) với “Serial Verb Constructions in Khwe (Central –
Khoisan)” và Ameka (2006) với “Ewe Serial Verb Constructions in their
Grammatical Context”,…
Đối tượng nghiên cứu của hầu hết những công trình kể trên là các ngôn ngữ đơn lập khác nhau trên thế giới bao gồm cả tiếng Việt nhưng rất hiếm Trong khi đó, tiếng Việt là một ngôn ngữ thuộc loại hình đơn lập và chuỗi vị từ là khái niệm thường xuất hiện nhiều ở các ngôn ngữ thuộc loại hình này Do đó, kết cấu chuỗi vị từ có thể được xem như là một đặc trưng của các ngôn ngữ đơn lập nói chung và tiếng Việt nói riêng Chính vì thế, vấn đề này cần được khảo sát, nghiên cứu một cách cụ thể, chi tiết và có hệ thống Bên cạnh đó, việc so sánh kết cấu chuỗi vị từ tiếng Việt với một ngôn ngữ khác loại hình, cụ thể là tiếng Anh sẽ càng thể hiện được một cách nổi bật hơn những đặc trưng ngữ nghĩa – cú pháp của nó
Trang 11Đặc trưng của ngôn ngữ là tính võ đoán, tuy nhiên, có những thứ thuộc về ngôn ngữ mà chúng ta vẫn có thể lí giải được ở một chừng mực nào đó hoàn toàn phi
võ đoán Vì thế, dù xét ở phương diện khoa học hay thực tiễn, kết cấu chuỗi vị từ tiếng Việt cũng là một hiện tượng thú vị, cần được quan tâm và nghiên cứu một cách sâu sắc Chính vì vậy, tôi quyết định lựa chọn và tiến hành nghiên cứu một vấn đề cụ
thể liên quan đến chuỗi vị từ với tên đề tài: Ngữ nghĩa – cú pháp chuỗi vị từ chuyển động tiếng Việt (so sánh với tiếng Anh)
2 Lịch sử nghiên cứu
Liên quan đến đề tài chuyển động và vị từ chuyển động, một số nhà ngôn ngữ trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đã có những công trình tiêu biểu đặt nền tảng kế thừa cho những nghiên cứu về sau
2.1 Trên thế giới
Talmy có thể được xem là người chạm những bước chân đầu tiên đến lĩnh vực nghiên cứu về sự tình chuyển động trong ngôn ngữ Những nghiên cứu của Talmy về
sự tình chuyển động đã đặt nền móng cho hàng loạt nhà nghiên cứu khai thác về đề
tài này ở nhiều bình diện khác nhau Lần lượt qua những công trình Semantic Structures in English and Atsugewi năm 1972, “Lexicalization Patterns: Semantic Structure in Lexical Forms” năm 1985, Towards a Cognitive Semantics: Typology and Process in Concept Structuring năm 2000,… Talmy đã đạt được những thành
tựu nhất định và có tầm ảnh hưởng đến những công trình nghiên cứu sau này
Cụ thể, cột mốc đầu tiên đặt tiền đề cho những nghiên cứu về sự tình chuyển
động trong ngôn ngữ chính là luận án Semantic Structures in English and Atsugewi
của Talmy (1972) Trong công trình này, Talmy đã phác họa được lý thuyết sơ khai
về sự tình chuyển động (translatory situation) bằng cách đưa ra và phân biệt những khái niệm một cách rõ ràng Theo đó, sự tình chuyển động là một sự tình mà trong
đó có một đối tượng chuyển động (figure) di chuyển dọc theo một hướng (path) và
nó là một phức thể được cấu thành bởi bốn thành tố nội tại: đối tượng chuyển động (figure), điểm quy chiếu của chuyển động (ground), hướng chuyển động (directional)
Trang 12và nguyên nhân chuyển động (motive) Kết quả nghiên cứu này là một trong những tiền đề quan trọng của Talmy đối với những nghiên cứu sau này về ngôn ngữ và loại hình ngôn ngữ
Tiếp nối thành quả của luận án Semantic Structures in English and Atsugewi
năm 1972, Talmy (1985, 1991, 2000) đã lần lượt công bố hàng loạt công trình nghiên cứu tiếp theo về sự tình chuyển động trong ngôn ngữ Trong đó, “Lexicalization Patterns: Semantic Structure in Lexical Forms” được công bố năm 1985 là một bản tuyên ngôn chính thức của Talmy về vấn đề nghiên cứu sự tình chuyển động trong ngôn ngữ Bởi vì, kết quả nghiên cứu mà ông đưa ra lúc này mới bắt đầu thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu và được công nhận như một vấn đề cần được nghiên cứu một cách sâu sắc trong ngôn ngữ Trong công trình này, thuật ngữ “translatory situation” (sự tình chuyển động) chính thức được Talmy thay thế bằng thuật ngữ
“motion event” và 4 thành tố nội tại của sự tình chuyển động lần lượt là: đối tượng chuyển động (figure), điểm quy chiếu (ground), hướng chuyển động (“translatory” được thay thế bằng “path”) và chuyển động (“motive” được thay thế bằng “motion”) Kết quả chung của những nghiên cứu kể trên là Talmy (2000) đã đề xuất chia các ngôn ngữ thành hai nhóm chính: nhóm Ngôn ngữ mã hóa phương thức chuyển động (Satellite-framed languages) và nhóm Ngôn ngữ mã hóa hướng chuyển động (Verb-framed languages) bằng việc khảo sát các yếu tố kết hợp với vị từ để tạo thành một ngữ vị từ miêu tả một sự tình chuyển động
Tóm lại, kết quả các công trình nghiên cứu của Talmy kể trên có tầm ảnh hưởng và mở đường cho những nghiên cứu về sau, có thể được khái quát thành hai vấn đề chính:
Một là, với những lý thuyết hữu dụng trong các công trình được công bố, Talmy đã cho thấy rằng sự tình chuyển động là một vấn đề cần được quan tâm và nghiên cứu sâu hơn trong lĩnh vực ngôn ngữ
Hai là, trên quan điểm về loại hình học, Talmy đã phân chia ngôn ngữ thành hai nhóm: nhóm Ngôn ngữ mã hóa hướng chuyển động (Verb-framed languages) và
Trang 13nhóm Ngôn ngữ mã hóa phương thức chuyển động (Satellite-framed languages) Đây chính là tiền đề quan trọng cho những nghiên cứu sau này
Mâu thuẫn nhưng không hoàn toàn đối lập với kết quả nghiên cứu của Talmy, Slobin (1987) đã đưa ra một kết quả nghiên cứu mới thông qua công trình “Thinking for Speaking” Theo đó, ông đưa ra quan điểm rằng những người bản ngữ thuộc nhóm Ngôn ngữ mã hóa hướng chuyển động sẽ miêu tả hướng chuyển động bằng những vị
từ và cung cấp rất ít thông tin về phương thức chuyển động Trong khi đó, những người bản ngữ thuộc nhóm Ngôn ngữ mã hóa phương thức chuyển động sẽ dùng những vị từ chỉ phương thức kết hợp với một hoặc nhiều yếu tố vệ tinh đi cùng vị từ trong ngôn ngữ đó để mã hóa thông tin về phương thức chuyển động Slobin cho rằng, tùy vào cách tri nhận của người bản ngữ mà mỗi ngôn ngữ khác nhau sẽ có cách thức mã hóa hai thành tố hướng chuyển động và phương thức chuyển động khác nhau Tiếp nối thành quả nghiên cứu đó, trong công trình “The Many Ways to Search for a Frog: Linguistic Typology and Expression of Motion Events” Slobin (2004, tr.25) đã
đề xuất bổ sung thêm một nhóm thứ ba là nhóm Ngôn ngữ mã hóa phương thức và hướng chuyển động (Equipollently-framed languages) Theo đó, trong nhóm ngôn ngữ thứ ba này, hướng chuyển động và phương thức chuyển động được mã hóa cùng lúc trong những hình thức ngữ pháp của vị từ, điển hình như:
Những ngôn ngữ có kết cấu chuỗi vị từ, trong đó một vị từ mã hóa phương
thức chuyển động và một vị từ mã hóa hướng chuyển động theo kết cấu: Manner verbs + Path verbs như tiếng Niger-Congo, tiếng Hmong-Mien, tiếng Sino-Tibetan,
tiếng Tai-Kadai, tiếng Mon-Khmer và tiếng Austronesian
Những ngôn ngữ mà cả phương thức chuyển động và hướng chuyển động
được mã hóa trong cùng một vị từ theo kết cấu: [Manner + Path] Verbs, chẳng hạn như tiếng Algonquian, tiếng Athabaskan, tiếng Hokan và tiếng Klamath-Takelman
Những ngôn ngữ có hai tiền tố đi trước vị từ lần lượt mã hóa phương thức
chuyển động và hướng chuyển động theo kết cấu: Manner preverb + Path preverb + Verb, điển hình của nhóm ngôn ngữ này là tiếng Jaminjungan
Trang 14Tiếp đó, Sudmuk (2005), trong chuyên luận The Syntax and Semantics of Serial Verb Constructions in Thai đã đưa ra kết quả cho thấy, có thể khái quát thành
8 kết cấu chuỗi vị từ khác nhau trong tiếng Thái, lần lượt là: Motion SVCs, Posture SVCs Take – SVCs, Use – SVCs, Open Class SVCs, Give – SVCs, Causative SVCs
và Resultative SVCs
Tám kết cấu chuỗi vị từ này có những đặc điểm ngữ pháp và ngữ nghĩa khác nhau trong quá trình hành chức Tuy nhiên, vì phạm vi nghiên cứu tương đối rộng nên chúng tôi mới chỉ dừng lại ở mức độ miêu tả và phân tích một cách khái quát chứ chưa đề cập sâu hơn về những đặc trưng ngữ pháp và ngữ nghĩa của từng loại
Bên cạnh đó, Matthews (2006) cũng công bố công trình “On Serial Verb Constructions in Cantonese” nghiên cứu về chuỗi vị từ tiếng Quảng Đông (Trung Quốc) Kết quả ông đưa ra là những miêu tả và phân tích bao quát về ngữ pháp của một số chuỗi vị từ điển hình trong tiếng Quảng Đông Trong công trình này, Matthews còn chỉ ra sự giống nhau giữa chuỗi vị từ trong tiếng Quảng Đông và với chuỗi vị từ trong tiếng Thái
Cùng với Matthews, hàng loạt nhà nghiên cứu như Hellwid (2006), Hatz (2006), Ameka (2006), Solnit (2006), Diller (2006), Aikhenvald (2006), Ingram (2006),… đã có những bài nghiên cứu về chuỗi vị từ đối với những ngôn ngữ đơn lập
Kilian-được tập hợp và công bố trong công trình Serial Verb Constructions của Nhà xuất
bản Oxford Tuy nhiên, phần lớn các công trình trên mới chỉ dừng lại ở mức độ đưa
ra những miêu tả và phân tích ngữ pháp chuỗi vị từ một cách khái quát ở góc nhìn loại hình học chứ chưa đi sâu vào phân tích từng loại cụ thể
Nhận xét:
- Nhìn chung, trên thế giới đã nhiều có công trình nghiên cứu về đề tài chuyển động và vị từ chuyển động Tuy nhiên, ngoại trừ chuyên luận của Sudmuk, đặc điểm chung của hầu hết các công trình là chưa khảo tả một cách toàn diện các loại chuỗi vị
từ có trong từng ngôn ngữ mà họ nghiên cứu
- Những công trình của các nhà nghiên cứu nước ngoài đa số đều tiếp cận ở góc độ từ ngoài nhìn vào trong Bởi vì, các nhà nghiên cứu kể trên đều không phải là
Trang 15người bản ngữ đối với các ngôn ngữ mà họ đang nghiên cứu Điều này có mặt ưu điểm nhưng cũng có phần hạn chế Ưu điểm là các nghiên cứu nước ngoài có thể có được cái nhìn khách quan đối với ngôn ngữ được nghiên cứu – điều mà đôi khi người nghiên cứu bản ngữ không thể nhận ra Tuy nhiên, điều này cũng hạn chế ở chỗ họ khó có thể khảo sát hết được tất cả những hiện trạng đang diễn ra trong ngôn ngữ đó
- Hầu hết các nghiên cứu kể trên đều chưa nhất quán trong bình diện tiếp cận
đề tài nên đã hình thành những trường phái nghiên cứu khác nhau Điều này tạo ra một khoảng trống trong nghiên cứu để những đề tài sau có thể phát triển vấn đề theo hướng đa dạng hơn
ra, lên, xuống một cách đơn lẻ chứ chưa giải quyết vấn đề kết cấu chuỗi vị từ có các
từ vào, ra, lên, xuống như là một vị từ chỉ hướng trong kết cấu chuỗi vị từ
Nguyễn Thị Quy (2002) trong Ngữ pháp chức năng tiếng Việt đã có một bước
nghiên cứu mang tính đột phá trong việc vận dụng phương pháp nghiên cứu ngữ pháp chức năng vào nghiên cứu vị từ hành động trong tiếng Việt Trong khuôn khổ nghiên cứu của luận án, tác giả đã làm rõ được những vấn đề còn mơ hồ trong nghiên cứu Việt ngữ như là: sự phân biệt bổ ngữ và trạng ngữ, bổ ngữ tỉnh lược và bổ ngữ vắng mặt cố hữu, bổ ngữ và vai nghĩa, tình thái, trạng ngữ và các hư từ, chức năng của vị
từ trong vị ngữ,… Đặc biệt, tác giả đã phân loại vị từ hành động trong tiếng Việt thành những tiểu loại một cách rất hệ thống và mở ra nhiều hướng nghiên cứu mới
Trong công trình Ngữ pháp chức năng tiếng Việt: Ngữ đoạn và từ loại, Cao
Xuân Hạo (2006, tr.23-26) đã từng đề cập đến cấu trúc cú pháp của ngữ vị từ Theo
đó, ngữ vị từ là phần thuyết trong cấu trúc đề - thuyết, biểu thị nội dung của một sự
Trang 16tình Một ngữ vị từ được tạo thành từ một hoặc có thể nhiều hơn một vị từ Đối với những ngữ vị từ được tạo thành từ hai vị từ trở lên, vị từ mở đầu là vị từ trung tâm Đồng thời, trước ngữ vị từ biểu hiện nội dung sự tình sẽ có chuỗi các ngữ vị từ tình thái để tình thái hóa nội dung sự tình, còn sau nó là chuỗi các ngữ vị từ đi sau trung tâm để bổ sung ý nghĩa cho nội dung sự tình Kết quả này đã mở ra nhiều hướng mới cho các nghiên cứu liên quan đến vị từ sau này
Liên quan đến kết cấu chuỗi vị từ tiếng Việt, Nguyễn Hoàng Trung (2014) trong bài viết “Vài nét về kết cấu gây khiến trong tiếng Việt” đề cập rằng:
“Kết cấu gây khiến trong tiếng Việt miêu tả một sự tình có hai sự tình bộ phận: (a) sự tình tác động và (b) sự tình kết quả Sự tình tác động biểu thị một hành động nhắm đến đối tượng do danh ngữ bổ ngữ biểu thị, khiến đối tượng này ở vào một trạng thái hay thực hiện một hoạt động nào đó ngoài ý muốn của mình
Về mặt cú pháp - ngữ nghĩa, vị từ tác động trong kết cấu thường phải là vị từ chuyển tác, còn vị từ kết quả có thể là vị từ động phi chuyển tác Vị trí của các
sự tình bộ phận trong kết cấu phản ánh giác độ mã hóa sự tình trong hiện thực của người bản ngữ Việt” (tr.16)
Qua đó, tác giả đã đưa ra kết quả cho thấy nội dung một sự tình trong tiếng Việt có thể được biểu hiện bằng một chuỗi các vị từ mà trong đó kết cấu gây khiến là một trong những kết cấu tiêu biểu đã được khái quát hóa Đây cũng là một trong những công trình đặt tiền đề cho việc nghiên cứu các vấn đề liên quan đến kết cấu chuỗi vị từ trong tiếng Việt
3 Mục đích nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Dựa trên việc khảo sát, miêu tả và phân tích những đặc điểm ngữ nghĩa – cú pháp của chuỗi vị từ chuyển động tiếng Việt, luận văn sẽ xác lập các đặc trưng của chúng ở góc nhìn của ngữ pháp chức năng nhằm khẳng định được vị trí và vai trò của chuỗi vị từ chuyển động trong hệ thống ngữ pháp tiếng Việt Như vậy, vấn đề này sẽ được nghiên cứu một cách rạch ròi trên cả hai bình diện: ngữ nghĩa và cú pháp Bên
Trang 17cạnh đó, chúng tôi cũng tiến hành so sánh chuỗi vị từ chuyển động trong tiếng Việt với kết cấu miêu tả chuyển động trong tiếng Anh Qua đó, khái quát được mô hình chuyển dịch sự tình chuyển động giữa hai ngôn ngữ Việt - Anh nhằm đưa ra những ứng dụng thực tiễn liên quan đến việc giảng dạy, học tập, nghiên cứu, sử dụng tiếng Việt và tiếng Anh
3.2 Đối tượng phục vụ của đề tài
Đối tượng mà đề tài hướng đến là những người học tập tiếng Việt như một ngoại ngữ, những người nghiên cứu về tiếng Việt, những người dạy - học tiếng Anh
và những người làm công tác dịch thuật Cụ thể, đề tài sẽ cung cấp những lý thuyết hữu dụng liên quan đến chuỗi vị từ chuyển động trong Việt và kết cấu miêu tả chuyển động trong tiếng Anh Từ đó, giúp người sử dụng ngôn ngữ có những hiểu biết nhất định để việc vận dụng chúng được linh hoạt và chính xác hơn Đồng thời, đề tài còn góp phần lí giải những vấn đề xoay quanh cách mã hóa sự tình chuyển động trong hai ngôn ngữ
4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Như tên đề tài đã nêu, đối tượng nghiên cứu cụ thể của đề tài là ngữ nghĩa - cú pháp chuỗi vị từ chuyển động tiếng Việt Chính vì thế, luận văn tập trung chủ yếu vào việc miêu tả, phân tích cấu trúc chuỗi vị từ chuyển động tiếng Việt và so sánh với kết cấu miêu tả sự tình chuyển động trong tiếng Anh Từ đó, khái quát được những đặc trưng phổ quát của chuỗi vị từ này trên quan điểm về loại hình học và ngữ pháp chức năng
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài được tiến hành thông qua khảo sát kết cấu chuỗi vị từ chuyển động tiếng
Việt với danh sách 130 vị từ chuyển động mà chúng tôi thu thập từ Từ điển tiếng Việt
(Hoàng Phê, 2003)
Trang 18Bên cạnh đó, để so sánh chuỗi vị từ chuyển động tiếng Việt và kết cấu miêu tả chuyển động trong tiếng Anh, chúng tôi còn tiến hành khảo sát cách chuyển dịch câu
có kết cấu chuỗi vị từ chuyển động từ tiếng Việt sang tiếng Anh qua một số truyện
ngắn song ngữ như: “Thanh minh” (Thanh Minh), “Chân dung” (A Portrait), “Gió heo may” (Autumn Wind), “Người đàn bà đợi ở bến xe” (The Woman at The Bus Stop) và “Vũ điệu cái bô” (The Waltz of The Champer Pot) trích từ tuyển tập truyện ngắn Giữa những điều bình dị (Nguyễn Quang Thân, 2008), cùng truyện ngắn Dế mèn phiêu lưu kí (Tô Hoài, 2017) và bản dịch Diary of a Cricket (Đặng Thế Bính, 2017) và kết cấu miêu tả chuyển động được chuyển dịch từ Anh sang Việt như The Old Man and the Sea (Hemingway, 2000) với bản dịch Ông già và biển cả (Lê Huy
Bắc, 2017)
Trong phạm vi đề tài, luận văn tập trung chủ yếu vào việc miêu tả khái quát đối tượng nghiên cứu theo hướng nghiên cứu đồng đại và dựa trên cơ sở những lý thuyết về loại hình học, ngữ pháp học, ngữ nghĩa học và một số lý thuyết liên quan
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp miêu tả
Phương pháp miêu tả là một phương pháp quan trọng trong nghiên cứu lý thuyết nói chung và nghiên cứu ngôn ngữ nói riêng Trong luận văn, chúng tôi đã sử dụng phương pháp miêu tả để làm rõ các đặc trưng ngữ nghĩa – cú pháp của từng loại kết cấu chuỗi vị từ chuyển động trong tiếng Việt
Cụ thể, sau quá trình thu thập ngữ liệu là 130 vị từ chuyển động trong tiếng Việt (xem Phụ lục 1), chúng tôi đã vận dụng phương pháp miêu tả để miêu tả đặc trưng ngữ nghĩa của từng nhóm vị từ chuyển động Từ đó, đưa ra được sự phán đoán
về những khả năng kết hợp của các vị từ chuyển động ở những tiểu loại vị khác nhau
để tạo thành những kết cấu chuỗi vị từ chuyển động trong tiếng Việt Đồng thời, phương pháp này được chúng tôi vận dụng xuyên suốt chương 2 của luận văn để miêu
tả các tham tố ngữ nghĩa của từng loại kết cấu chuỗi vị từ chuyển động trong tiếng
Trang 19Việt Dựa trên kết quả của quá trình miêu tả, chúng tôi đưa ra sự kiến giải về những đặc trưng của từng kết cấu chuỗi vị từ chuyển động, về góc nhìn về chuyển động cũng như là về cách thức mã hóa sự tình chuyển động trong tiếng Việt
Phương pháp đối chiếu ngôn ngữ học
Vì phạm vi đề tài có tiến hành so sánh chuỗi vị từ chuyển động tiếng Việt với kết cấu miêu tả chuyển động trong tiếng Anh nên phương pháp đối chiếu ngôn ngữ học được sử dụng phục vụ cho quá trình nghiên cứu Nhiệm vụ chủ yếu của phương pháp này là đối chiếu mô hình mã hóa sự tình chuyển động ở hai ngôn ngữ Việt và Anh thông qua cách thức chuyển dịch để làm rõ sự giống nhau và khác nhau trong cách thức mã hóa sự tình chuyển động của từng ngôn ngữ Từ đó, nêu lên được những
mô hình khái quát trong cách chuyển dịch sự tình chuyển động từ Việt sang Anh và
từ Anh sang Việt
5.2 Cách thức thực hiện đề tài
Đề tài sẽ được tiến hành lần lượt theo những bước sau:
Thu thập ngữ liệu
Phân loại và xử lý ngữ liệu
Áp dụng những phương pháp nghiên cứu lý thuyết để miêu tả, phân tích những đặc điểm ngữ nghĩa – cú pháp của chuỗi vị từ chuyển động tiếng Việt
Xác lập những đặc trưng ngữ nghĩa – cú pháp chuỗi vị từ chuyển động trong tiếng Việt (so sánh với tiếng Anh)
Xác lập mô hình khái quát cách thức chuyển dịch sự tình chuyển động từ tiếng Việt sang tiếng Anh và từ tiếng Anh qua tiếng Việt thông qua phân tích các bản dịch Việt – Anh và Anh – Việt
6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
6.1 Ý nghĩa khoa học
Trước nhất, luận văn có ý nghĩa đánh dấu một bước đi trong việc nghiên cứu
về chuỗi vị từ – vấn đề còn chưa được khai thác nhiều trong nghiên cứu tiếng Việt
Trang 20Bởi lẽ, trước đó, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu về đề tài này một cách
hệ thống và chuyên sâu Từ đó, luận văn góp phần khai thác một hướng nghiên cứu thiết thực trong việc nghiên cứu ngữ nghĩa – cú pháp của vị từ tiếng Việt Mặt khác, đối tượng nghiên cứu của luận văn chỉ vỏn vẹn trong phạm vi khái quát các đặc trưng ngữ nghĩa và cú pháp của chuỗi vị từ chuyển động tiếng Việt, xoay quanh vấn đề về chuỗi vị từ còn khá nhiều điều thú vị cần được khai thác Do đó, dù không nhiều nhưng hi vọng rằng luận văn sẽ có được một sự đóng góp nhất định trong lĩnh vực nghiên cứu liên quan
Từ đó, cung cấp cho người dạy và học những hiểu biết nhất định về sự khác biệt trong việc mã hóa sự tình chuyển động của hai ngôn ngữ để có những phương pháp truyền đạt và tiếp thu tốt hơn
Về phương diện dịch thuật, đề tài góp phần cung cấp những lý thuyết kiến giải
về cách thức chuyển dịch những chuỗi vị từ chuyển động từ tiếng Việt sang tiếng Anh và ngược lại Đồng thời, nó còn là cơ sở lý thuyết để góp phần hỗ trợ cho công tác dịch thuật được hiệu quả và chính xác hơn đối với những vấn đề liên quan đến chuyển dịch sự tình chuyển động
7 Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong ba chương, cụ thể như sau:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết Chương này trình bày một số lý thuyết liên quan
đến quá trình nghiên cứu đề tài như: khái niệm về chuyển động, các đặc trưng của sự
Trang 21tình chuyển động, các thành tố nghĩa của một sự tình chuyển động và cách thức mà mỗi loại hình ngôn ngữ mã hóa sự tình chuyển động
Chương 2: Chuỗi vị từ chuyển động tiếng Việt Nội dung chủ yếu của
chương hai là tập trung vào miêu tả và phân tích ngữ nghĩa – cú pháp các kết cấu chuỗi vị từ chuyển động trong tiếng Việt dựa trên ngữ liệu đã được khảo sát và phân loại Từ đó, xác lập được những đặc trưng và mối tương quan ngữ nghĩa và cú pháp của chúng
Chương 3: So sánh chuỗi vị từ chuyển động tiếng Việt với kết cấu miêu tả chuyển động trong tiếng Anh Như tên gọi, chương 3 tập trung so sánh những kết
cấu chuỗi vị từ chuyển động trong tiếng Việt (đã được phân loại ở chương 2) với kết cấu miêu tả chuyển động trong tiếng Anh Từ đó, khái quát lên được mô hình chuyển dịch sự tình chuyển động từ tiếng Việt sang tiếng Anh và ngược lại nhằm cung cấp cho người sử dụng ngôn ngữ có một khung quy ước chuẩn để tham khảo và đối chiếu khi chuyển dịch sự tình chuyển động trong ngôn ngữ
Trang 22Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.1 Những lý thuyết về chuyển động (Motion)
1.1.1 Khái niệm chuyển động và sự tình chuyển động
Theo Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê, 2003, tr.188), khái niệm chuyển động
được xác định là một sự “thay đổi vị trí theo thời gian”, một sự “vận động, hoạt động gây ra rung động, rung chuyển” hay “biến đổi một trạng thái của một hệ thống nào đó” Đồng thời, dựa vào đặc điểm về tốc độ, vị trí hay cách thức của nó, chuyển động
có thể được xếp thành nhiều loại khác nhau, chẳng hạn như: chuyển động đều, chuyển động hướng tâm, chuyển động tịnh tiến,… Như vậy, bản thân sự chuyển động là những tồn tại khách quan được phản ánh thông qua nhận thức của con người về sự thay đổi vị trí của một chủ thể trong không gian Mặc dù, không gian (space) là một khái niệm phổ quát trong nhận thức chung của nhân loại nhưng do sự khác nhau về những đặc điểm địa lí, văn hóa,… mà mỗi quốc gia, mỗi dân tộc có cách tri nhận về không gian hoàn toàn khác nhau Điều này chính là lí do vì sao những ngôn ngữ khác nhau mã hóa sự tình chuyển động theo những cách khác nhau
Talmy (2000b, tr.25) đã định nghĩa sự tình chuyển động như sau:
“The basic Motion event consists of one object (the Figure) moving or located with respect to another object (the reference object or Ground) It is analyzed
as having four components: besides Figure and Ground, there are Path and Motion.”
Theo đó, có thể hiểu, một sự tình chuyển động (motion event) cơ bản bao gồm một đối tượng di chuyển hoặc được định vị với một đối tượng khác (đối tượng quy chiếu hoặc điểm quy chiếu) Đồng thời, có bốn thành tố ngữ nghĩa cơ bản cấu thành một sự tình chuyển động, bao gồm: đối tượng chuyển động (figure), điểm quy chiếu của chuyển động (ground), hướng chuyển động (path) và chuyển động (motion)
Trang 231.1.2 Đặc điểm cấu trúc nội tại của sự tình chuyển động
1.1.2.1 Đối tượng chuyển động (Figure)
Đối tượng chuyển động (figure) là chủ thể thực hiện chuyển động trong không gian, nếu hình dung sự tình chuyển động là một phương trình bậc nhất thì đối tượng chuyển động có vai trò là một biến số có giá trị cụ thể đối với những yếu tố liên quan đến nó như hướng chuyển động, vị trí chuyển động,
ngôn trong câu Bên cạnh đó, có một số trường hợp, đối tượng chuyển động có thể
không được hiển ngôn như trong (3) nhưng thông qua vị từ “glanced” (liếc nhìn), có thể xác định đối tượng của sự chuyển động trong trường hợp này là “ánh mắt”
Có thể thấy, đối tượng chuyển động thường được biểu thị bằng một danh ngữ trong câu Tùy vào ngữ cảnh của câu, đối tượng chuyển động có thể giữ vai nghĩa khác nhau như vai tác thể, vai bị thể,… Đồng thời, nó có thể được hiển ngôn hoặc không được hiển ngôn
1.1.2.2 Điểm quy chiếu của chuyển động (Ground)
Điểm quy chiếu của chuyển động (ground) là một thực thể xác định nào đó trên quỹ đạo di chuyển của chuyển động và điểm quy chiếu giúp chúng ta nhận biết
(2) Cậu bé đẩy tủ quần áo ra khỏi phòng
(Theme)
(3) He glanced around the house
Anh ta liếc nhìn quanh căn nhà
Trang 24sự tồn tại của chuyển động Nó có thể là điểm nguồn (source) của chuyển động, có thể là bất kì một điểm mốc (milestones) nào trên con đường chuyển động mà cũng có thể đích đến (goal) của chuyển động
Ví dụ:
→ Danh ngữ “trường” trong (4) là đích đến của chuyển động và đồng thời cũng là điểm quy chiếu của chuyển động Tương tự, “tôi” trong (5) là một điểm mốc
(milestones) trên quỹ đạo của sự chuyển động và là điểm quy chiếu của chuyển động
Còn trong (6), danh ngữ “her house” là điểm nguồn của chuyển động và “the market” là đích của sự chuyển động, trong trường hợp này, cả “her house” và “the market” đều là điểm quy chiếu của chuyển động
1.1.2.3 Hướng chuyển động (Path)
Talmy (2000b, tr.25) định nghĩa hướng chuyển động là mối quan hệ tương quan giữa đối tượng chuyển động và điểm quy chiếu của chuyển động Điều này đồng nghĩa hướng chuyển động sẽ cung cấp những thông tin về chiều chuyển động của
đối tượng trong không gian (vào, ra, lên, xuống,…)
(6) She walked from her house to the market
(7) Tôi bước xuống đất
(Pa)
Trang 25→ Vị từ “xuống” trong (7) và trạng từ “down” trong (8) đều mã hóa hướng
của sự tình chuyển động
Qua đó, có thể thấy, tùy thuộc vào từng loại hình ngôn ngữ mà hướng của chuyển động có thể được mã hóa bằng một vị từ chỉ hướng như (7) hoặc một từ vệ tinh đi cùng với vị từ như (8)
1.1.2.4 Chuyển động (Motion)
Chuyển động (motion) là một khái niệm dùng để miêu tả sự thay đổi về vị trí hoặc trạng thái của đối tượng chuyển động Đây là một thành tố quan trọng và là một điều kiện cần, luôn có mặt trong câu để tạo thành một sự tình chuyển động Trong một sự tình chuyển động, chuyển động được biểu thị bằng một vị từ
(8) The little girl bends down to pick up the doll
Bé gái cúi xuống để nhặt búp bê
(9) Cô ấy chạy ra công viên
(Mo)
(10) I fell down the stairs
Tôi ngã xuống bậc thang
(Mo)
Trang 261.1.3 Đồng sự tình (Co-event)
Đồng sự tình (co-event) là thành tố có mặt đồng thời cùng sự tình chuyển động, cung cấp những thông tin bổ sung về nguyên nhân và phương thức của chuyển động Giải thích về phương thức chuyển động, Talmy (1985, tr.128) cho rằng: “Manner refers to a subsidiary action or state that a Patient manifests concurrently with its main action or state.” Như vậy, phương thức chuyển động có thể được hiểu là một hành động hoặc một trạng thái phụ trợ mà bị thể chuyển động biểu thị đồng thời với hành động hoặc trạng thái chính Nói cách khác, phương thức chuyển động là cách thức thực hiện sự chuyển động
Tùy theo từng loại hình ngôn ngữ mà phương thức chuyển động có thể được tích hợp trong ngữ nghĩa nội tại của vị từ chuyển động như trong (11) hoặc được biểu thị bằng một yếu tố khác trong câu (xem thêm ở mục 1.2)
Ví dụ:
Còn nguyên nhân chuyển động đề cập đến những tác nhân gây ra sự chuyển động Nguyên nhân chuyển động được tích hợp trong ngữ nghĩa vị từ chuyển động như trong (12) hoặc có thể không được thể hiện trên bề mặt ngôn ngữ tùy vào loại hình ngôn ngữ (xem thêm ở mục 1.2)
Ví dụ:
(11) The pencil rolled off the table
(Mo/ma)
(12) The napkin blew away
Cái khăn bị thổi ra xa
(Mo/cau)
Trang 271.2 Cách thức mã hóa sự tình chuyển động trong ngôn ngữ
Căn cứ vào cách thức mà mỗi ngôn ngữ mã hóa sự tình chuyển động được thể hiện thông qua bề mặt cấu trúc từ vựng của nó, Talmy (2000b) đã phân chia ngôn
ngữ thành hai loại hình chính: Satellite-framed languages (tạm dịch là ngôn ngữ mã hóa phương thức chuyển động) và Verb-framed languages (tạm dịch là ngôn ngữ mã hóa hướng chuyển động) Kế đến, Slobin (2004) đã bổ sung thêm một loại hình ngôn ngữ thứ ba: Equipollently-framed languages (tạm dịch là ngôn ngữ mã hóa phương thức chuyển động và hướng chuyển động) Đồng thời, Slobin cũng khẳng định phần
lớn những ngôn ngữ thuộc loại hình equipollently-framing mã hóa sự tình chuyển động bằng một kết cấu chuỗi vị từ
1.2.1 Ngôn ngữ mã hóa phương thức chuyển động (Manner languages)
“Satellite-framed languages” (SFL, từ đây luận văn sẽ dùng SFL để chỉ loại hình ngôn ngữ satellite-framing) được Talmy (2000b) dùng để miêu tả những ngôn
ngữ mã hóa một sự tình chuyển động bằng một vị từ (verb) và một từ vệ tinh đi cùng
vị từ để diễn giải ý nghĩa của vị từ (satellite) Trong đó, phương thức chuyển động (manner) được mã hóa bằng một vị từ (verb) và hướng chuyển động (path) được mã hóa bằng một từ vệ tinh (satellite)
Thuật ngữ “satellite” được Talmy (1985) định nghĩa như sau:
“[S]atellite are certain immediate constituents of verb root other than inflections, auxiliaries, or nominal arguments They relate to the verb root as periphery (or modifiers) to a head A verb root together with its satellite forms
a constituent in its own right, the “verb complex”
… In some cases, elements that are encountered acting as satellites to a verb root otherwise belong to particular recognizable grammatical categories; therefore, it seems better to consider the satellite role not as a grammatical category in its own right but as a new kind of grammatical relation” (tr.102)
Trang 28Theo đó, thuật ngữ “satellite” (từ đây luận văn tạm dùng cách diễn dịch “từ
vệ tinh” để nói về thuật ngữ “satellite”) có thể được định nghĩa là thành tố bổ sung
ý nghĩa cho vị từ gốc vốn không thể tìm thấy ở các từ phái sinh, trợ từ hoặc danh từ giữ vai trò là tham tố Những từ vệ tinh này được phân bố xung quanh một yếu tố chính, tạo thành một tổ hợp có quy tắc hay còn gọi là một “phức hợp động từ” Trong một số trường hợp, các thành tố đóng vai trò là từ vệ tinh cho một căn tố nếu không thuộc về các phạm trù ngữ pháp đặc biệt dễ nhận biết thì có thể được xem xét với vai trò là một phụ ngữ không chỉ là một phạm trù ngữ pháp có quy luật mà còn là một loại quan hệ ngữ pháp mới
Tùy theo từng ngôn ngữ, từ vệ tinh có thể được quan niệm theo những cách khác nhau, ví dụ:
Satellite Particles (In)separable
prefixes Verb prefixes
inflectional affixes
Non-Riêng trong tiếng Anh, Talmy (1985) nhấn mạnh rằng, từ vệ tinh (satellite) và giới từ (preposition) là hai khái niệm nên được phân biệt rõ ràng Talmy giải thích rằng hướng của chuyển động trong tiếng Anh được diễn giải bằng sự kết hợp của vị
từ với một từ vệ tinh (satellite) hoặc một giới từ (preposition)
Dưới đây là một số ví dụ minh họa của Talmy (1985) về một số từ vệ tinh (satellite) mã hóa hướng chuyển động trong tiếng Anh:
Trang 29They rolled apart They slammed together
(tr.104) Những ngôn ngữ thuộc nhánh Ấn – Âu, Trung Quốc, Atsugewi,… là những ngôn ngữ mã hóa phương thức chuyển động điển hình
Dưới đây là một vài ví dụ về cách diễn đạt sự tình chuyển động trên cấu trúc
bề mặt ngôn ngữ đối với ngôn ngữ mã hóa phương thức chuyển động:
→ “Climbed” (climb), “fell” (fall) và “went” (go) trong (13), (14) và (15) lần lượt là những vị từ mã hóa phương thức chuyển động, còn “into”, “down”, “out” là
những từ vệ tinh mã hóa hướng chuyển động Hai yếu tố vị từ và từ vệ tinh kết hợp với nhau tạo thành một cấu trúc miêu tả sự tình chuyển động trong tiếng Anh
Kết cấu sự tình chuyển động của ngôn ngữ mã hóa phương thức chuyển động
có thể được khái quát như sau:
MOTION EVENT = (MANNER + MOTION) VERB + PATH SATELLITE
1.2.2 Ngôn ngữ mã hóa hướng chuyển động (Path languages)
Thuật ngữ “Verb-framed languages” (VFL, từ đây trở đi luận văn sẽ dùng VFL
để chỉ loại hình ngôn ngữ verb-framing) được Talmy (2000) dùng để miêu tả những
ngôn ngữ mã hóa một sự tình chuyển động có hướng bằng một vị từ (verb) và một
(13) John climbed into the truck
(Mo/ma) (Pa) (Gr)
(14) John fell down the stairs
John ngã xuống cầu thang
(Mo/ma) (Pa) (Gr)
(15) John went out of the house
John chạy ra khỏi nhà
(Mo/ma) (Pa) (Gr)
Trang 30thành tố phụ (có thể có hoặc không) Trong đó, hướng chuyển động (path) được mã hóa bằng một vị từ (verb), còn phương thức chuyển động có thể vắng mặt hoặc được biểu thị bằng một thành tố bổ sung nằm ở ngoại biên của câu
Nhóm ngôn ngữ Rôman, Semitic, Thổ Nhĩ Kỳ, Basque, Nhật, Hàn,… là những ngôn ngữ điển hình thuộc loại hình ngôn ngữ mã hóa hướng chuyển động
Ví dụ:
Tiếng Hàn là một ngôn ngữ thuộc loại hình ngôn ngữ mã hóa hướng chuyển
động nên trong (16), “오다” (đến) là một vị từ tích hợp cả chuyển động và hướng
chuyển động trong ngữ nghĩa của nó Phương thức chuyển động là một yếu tố không được nhấn mạnh trong sự tri nhận của người bản ngữ nên cấu trúc từ vựng bề mặt ngôn ngữ chỉ mã hóa hướng chuyển động, còn phương thức chuyển động có thể được
ẩn đi hoặc được biểu hiện bằng một ngữ đoạn bổ sung như “버스를 타고” (bằng xe
Trang 311.2.3 Ngôn ngữ mã hóa phương thức và hướng chuyển động (Manner and path languages)
Trên nền tảng nghiên cứu của Talmy, Slobin (1996a, 2004) đã tiến hành khảo sát cách thức chuyển động được diễn đạt trong 21 ngôn ngữ khác nhau dựa trên một
quyển sách tranh vẽ với tiêu đề Frog, where are you? (Mayer, 1969) Nghiên cứu cho
thấy, những người nói ngôn ngữ VFL diễn đạt hướng của chuyển động bằng một vị
từ và sẽ cung cấp rất ít thông tin về phương thức chuyển động Trong khi đó, người nói ngôn ngữ SFL lại sử dụng một số lượng lớn những vị từ chỉ phương thức chuyển động kết hợp với một hoặc một vài từ vệ tinh để diễn đạt hướng của chuyển động Slobin (1996b) cũng nghiên cứu sự khác nhau trong cách tri nhận của người nói những ngôn ngữ khác nhau dẫn đến việc những thành tố của chuyển động được mã hóa theo cách thức khác nhau Từ kết quả nghiên cứu trên, Slobin (2004) đề xuất bổ sung vào sự phân chia của Talmy (2000b) một loại hình ngôn ngữ thứ ba:
Equipollently-framed languages (EFL, từ đây trở đi luận văn sẽ dùng EFL để chỉ loại hình ngôn ngữ equipollently-framing) Ngôn ngữ có kết cấu chuỗi vị từ (SVCs) như
tiếng Thái, tiếng Việt, tiếng Mon-Khmer,… là những ngôn ngữ điển hình thuộc loại hình này
Kết cấu chuỗi vị từ (SVCs) là đặc trưng cú pháp cơ bản của những ngôn ngữ thuộc loại hình EFL
Ví dụ:
(18) Dek wing khaw baan
(ma V) (pa V)
Trang 32→ Trong (18) và (19), có thể thấy, sự tình chuyển động trong tiếng Thái được diễn giải trên bề mặt cấu trúc ngôn ngữ bằng một kết cấu chuỗi với hai vị từ, vị từ thứ nhất mã hóa phương thức chuyển động và vị từ thứ 2 mã hóa hướng chuyển động
Slobin (2004, 2006) khái quát kết cấu mã hóa sự tình chuyển động của nhóm ngôn ngữ thuộc loại hình EFL thành 3 tiểu loại cơ bản:
MOTION EVENT = MANNER VERB + PATH VERB (*)
(*) được tìm thấy ở những ngôn ngữ mã hóa sự tình chuyển động với kết cấu chuỗi vị từ Chẳng hạn: tiếng Niger-Congo, Hmong-Mien, Sino-Tibetan, Tai-Kadai, MonKhmer và Austronesian,…
MOTION EVENT = [MANNER + PATH] VERB (**)
(**) được tìm thấy ở những ngôn ngữ có hình thức vị từ lưỡng cực, tích hợp được cả phương thức và hướng chuyển động trong một vị từ Chẳng hạn: tiếng Algonquian, Athabaskan, Hokan, Klamath-Takelman,…
MANNER PREVERB + PATH PREVERB + VERB (***)
(***) được tìm thấy ở những ngôn ngữ có những tiểu loại vị từ khác nhau trong từng lớp vị từ Như tiếng Jaminjungan và những ngôn ngữ khác nhau ở Úc
1.3 Khái niệm chuỗi vị từ (Serial verb constructions - SVCs)
Collin (1997, tr.462) định nghĩa khái niệm chuỗi vị từ như sau:
“A serial verb construction is a succession of verbs and their complements (if any) with one subject and one tense value that are not separated by any overt marker of coordination or subordination”
Theo định nghĩa này, kết cấu chuỗi vị từ (SVCs) là sự nối tiếp nhau của những
vị từ và những thành tố bổ sung của chúng (nếu có) với cùng một chủ ngữ và một ý
Chim bay ra khỏi tổ
(ma V) (pa V)
(Tiếng Thái)
Trang 33nghĩa về thì, cái mà không được phân chia bởi bất kì sự đánh dấu nào của liên từ hoặc mệnh đề phụ thuộc
Baker (1989), Givon (2009), Li & Thompson (1981) và Noonan (1985) đều có chung nhận định rằng kết cấu chuỗi vị từ là những kết cấu cú pháp có hai hoặc nhiều hơn hai vị từ tạo thành một vị ngữ phức để diễn đạt một chuỗi những hành động liên quan với nhau trong một câu đơn Dựa trên nhận định này, Liang Tao (2011, tr.199) dẫn ra kết cấu chuỗi vị từ xuyên ngôn ngữ có một số đặc điểm chung như sau:
a Những vị từ trong một chuỗi vị từ luôn có sự hòa hợp về ngữ pháp với chủ ngữ của câu
b Không có sự đánh dấu liên kết nào chỉ ra mối liên hệ giữa các vị từ
c Những vị từ trong một chuỗi vị từ đều có cùng một phạm trù ngữ pháp (thì, thể hoặc tình thái,…)
d Các vị từ được sắp xếp theo một trật tự với sự thay đổi những mối quan hệ dựa trên ngữ nghĩa của từ
Đối với các ngôn ngữ thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập nói chung và tiếng Việt nói riêng, chuỗi vị từ là một kết cấu phổ biến được dùng để mã hóa một sự tình
Cụ thể, trong tiếng Việt, chuỗi vị từ là một kết cấu ngữ pháp trong đó có từ hai vị từ trở lên được thể hiện trên cấu trúc bề mặt ngôn ngữ để miêu tả một sự tình trong câu Chuỗi vị từ là một ngữ (đoạn) vị từ mã hóa sự tình cốt lõi trong nội dung của câu và giữ vai trò như là một thành phần trung tâm của vị ngữ trong một câu đơn
Trang 34Nếu chuỗi vị từ là một kết cấu dùng để miêu tả nội dung của một sự tình thì
chuỗi vị từ chuyển động là một kết cấu dùng để mã hóa một sự tình chuyển động
thông qua sự thể hiện trên bề mặt ngôn ngữ
Kết cấu chuỗi vị từ chuyển động tiếng Việt có những đặc điểm chung như sau:
Chuỗi vị từ chuyển động tiếng Việt là một kết cấu cú pháp có hai vị từ đi liền kề nhau, phổ biến nhất là kết cấu chuỗi gồm một vị từ mã hóa phương thức chuyển động và một vị từ mã hóa hướng chuyển động
Trật từ của các vị từ trong chuỗi vị từ chuyển động được sắp xếp thông qua cách thức tri nhận của người Việt, đồng thời, nó phản ánh nhận thức của con người đối với thế giới khách quan
1.4 Tiểu kết
Như vậy, dựa trên nghiên cứu phân loại của Talmy (2000b) và sự bổ sung của Slobin (2004) có thể khái quát cấu trúc sự tình chuyển động trong ba loại hình ngôn ngữ như sau:
Bảng 1.1 Cấu trúc sự tình chuyển động ở loại hình SFL
Các thành tố
của sự tình chuyển động
Yếu tố thể hiện trên bề mặt ngôn ngữ
Ví dụ (Tiếng Anh)
(nhà)
Trang 35Bảng 1.2 Cấu trúc sự tình chuyển động ở loại hình VFL
Các thành tố
của sự tình chuyển động
Yếu tố thể hiện trên bề mặt ngôn ngữ
Ví dụ (Tiếng Hàn)
Ví dụ (Tiếng Thái)
PHƯƠNG THỨC CHUYỂN
ĐỘNG
Vị từ
(tích hợp chuyển động và phương thức chuyển động)
wing (chạy)
HƯỚNG CHUYỂN ĐỘNG
Vị từ
(tích hợp chuyển động và hướng chuyển động)
khaw (vào)
Trang 36Chương 2: CHUỖI VỊ TỪ CHUYỂN ĐỘNG TIẾNG VIỆT
2.1 Kết cấu chuỗi vị từ chuyển động trong tiếng Việt
Trước khi tiến hành phân tích kết các cấu chuỗi vị từ chuyển động tiếng Việt, chúng tôi đã tổng hợp 130 vị từ chuyển động trong tiếng Việt và tiến hành phân loại, khảo sát Kết quả xử lý ngữ liệu cho thấy, có 29 vị từ trên tổng số 130 vị từ thuộc nhóm vị từ chuyển động có hướng (chiếm 22,3%), có 9 vị từ trên tổng số 130 vị từ thuộc nhóm vị từ chuyển động có đích (chiếm 6,9%), 73 vị từ trên tổng số 130 vị từ thuộc nhóm vị từ chuyển động có phương thức (chiếm 56,2%), 9 vị từ trên tổng số
130 vị từ thuộc nhóm vị từ chuyển động có quỹ đạo (chiếm 6,9%), 14 vị từ trên tổng
số 130 vị từ thuộc nhóm vị từ chuyển động tại chỗ (chiếm 10,8%), 24 vị từ trên tổng
số 130 vị từ thuộc nhóm vị từ chuyển động do tác động (chiếm 18,5%) và 26 trên tổng số 130 vị từ chuyển động vừa thuộc nhóm này vừa thuộc nhóm kia (chiếm 20%)
Từ ngữ liệu được khảo sát cho thấy, trong tiếng Việt, phần lớn các vị từ chuyển động đều thuộc vào nhóm vị từ chỉ phương thức chuyển động (73/130 vị từ, chiếm 56,2%), những vị từ thuộc các nhóm còn lại chỉ chiếm khoảng 43,8% Đây chỉ là kết quả được ước tính dựa trên tổng số 130 vị từ chuyển động mà chúng tôi đã khảo sát Trên thực
tế, có lẽ vẫn có sai số nhất định nhưng không đáng kể
2.1.1 Vị từ hàm chứa hướng chuyển động (Directional verbs) và Kết cấu chuỗi vị từ chuyển động có hướng (Directional serial motion verb constructions)
Hướng không gian là một phổ niệm trong nhận thức của nhân loại Tuy nhiên, tùy thuộc vào cách tri nhận của mỗi dân tộc mà điểm mốc xác định hướng không gian trong từng ngôn ngữ có sự khác nhau Ý nghĩa chỉ hướng chuyển động trong ngôn ngữ cũng gắn liền với ý nghĩa chỉ hướng không gian Nguyễn Thị Quy (2002, tr.110)
miêu tả hướng chuyển động như là “một véc-tơ di chuyển” trong không gian và hướng
chuyển động được xác định căn cứ vào “một cái mốc chung trong cái không gian bao quanh thế giới của nhân loại” Cụ thể, nếu lấy Trái Đất làm mốc chung thì hướng xa dần trung tâm của Trái Đất là hướng (đi) lên, hướng ngược lại là hướng (đi) xuống
Trang 37Còn các hướng (đi) ra hay (đi) vào thì căn cứ vào điểm nguồn của xuất phát (source) Nói một cách khác, muốn xác định được hướng thì cần có điểm mốc hay điểm quy chiếu phản ánh sự tồn tại của sự vật trong không gian
Trong khuôn khổ luận văn này, nhằm để dễ dàng khảo sát các tham tố ngữ nghĩa của các vị từ nên chúng tôi căn cứ vào ý nghĩa chỉ sự chuyển động của vị từ chuyển động mà phân loại chúng thành những tiểu loại khác nhau
Vị từ chuyển động có hướng là những vị từ chuyển động mà nội hàm của
chúng có ý nghĩa chỉ hướng của sự chuyển động trong không gian, tiêu biểu như: chìm, chúi, đáp, đến, đổ, hướng, lại, lặn, lên, lún, nâng, ngả, qua, ra, rơi, rớt, sà, tiến, tới, trồi, trượt, tuột, ra, vào, vô, xuống,… Đây là những vị từ chỉ sự chuyển động của chủ thể theo một hướng nhất định trong không gian Trong nhóm vị từ này, bốn vị từ
ra, vào, lên, xuống là những vị từ có khả năng kết hợp linh hoạt với các vị từ cùng
nhóm hoặc những vị từ ở các nhóm khác để tạo ra một kết cấu chuỗi vị từ mã hóa một sự tình chuyển động có hướng
Dựa trên lý thuyết của Dik (1978) về tiêu chí phân loại vị từ, chúng tôi nhận định rằng vị từ thuộc nhóm vị từ chuyển động có hướng là những vị từ có đặc tính [+Động] và [±Chủ ý]
Những vị từ này khi hành chức trong câu với vai trò là một vị từ đơn, hầu hết chúng là những vị từ có hai diễn tố: vai hành thể và vai đích đến Tuy nhiên, trong khuôn khổ giới hạn của luận văn, chúng tôi chỉ phân tích một cách khái quát các đặc trưng về tham tố ngữ nghĩa của các kết cấu chuỗi vị từ chuyển động mà chúng tôi đã phân loại
Có thể thấy, kếu cấu chuỗi vị từ chuyển động có hướng (Directional serial motion verb constructions, Dir-SVCs, từ đây chúng tôi sẽ dùng Dir-SVCs để nói về kết cấu chuỗi vị từ chuyển động có hướng) là sự kết hợp theo một trật tự nhất định
của hai vị từ chuyển động miêu tả hướng chuyển động trong tiếng Việt:
VTCĐ có hướng 1 + VTCĐ có hướng 2
Ví dụ: chìm xuống, chúi xuống, đáp xuống, lặn xuống, nâng lên, rơi xuống,…
Trang 38Cũng giống như những vị từ đơn, Dir-SVCs giữ vai trò là ngữ đoạn vị từ làm trung tâm của câu, được dùng để miêu tả một sự tình chuyển động có hướng
Dir-SVCs trong tiếng Việt miêu tả một sự tình chuyển động gồm có ba tham tố: tham tố đối tượng chuyển động (figure), tham tố hướng chuyển động (direction)
và tham tố điểm quy chiếu của chuyển động (ground)
Theo lý thuyết của Talmy (xem mục 1.1.2), đối tượng chuyển động (figure) là
một trong bốn thành tố nội tại của một sự tình chuyển động Tương tự, ở một SVCs trong tiếng Việt, tham tố đối tượng chuyển động cũng là một thành tố nội tại của sự tình chuyển động có hướng và nó có thể đóng vai trò là những vai nghĩa khác nhau tùy thuộc vào sự tình chuyển động:
Dir-(23) Đoàn người tiến vào sân
→ đoàn người: Fi/NP/Actor
(24) Hắn lao đến trước mặt tôi
Tham tố thứ hai trong Dir-SVCs là tham tố hướng chuyển động (direction)
Theo Talmy (2000), hướng chuyển động và nguyên nhân của chuyển động là hai
Trang 39thành tố bên ngoài của một sự tình chuyển động hay còn gọi là đồng sự tình Trong những ngôn ngữ chỉ mã hóa hướng chuyển động và những ngôn ngữ chỉ mã hóa phương thức chuyển động, tham tố hướng chuyển động được biểu thị bằng một từ vệ tinh đi sau động từ (xem mục 1.2) Còn trong tiếng Việt – ngôn ngữ mã hóa cả phương thức chuyển động và hướng chuyển động – thì hướng chuyển động được tích hợp trong ngữ nghĩa của vị từ thứ hai trong Dir-SVCs:
(28) Họ tiến vào miền Nam
Tham tố thứ ba trong ngữ nghĩa của Dir-SVCs là điểm quy chiếu của chuyển động (ground) Điểm quy chiếu này thường là đích đến của chuyển động:
Trang 40(35) Chiếc lá vàng rơi xuống đường
tư duy của mỗi dân tộc sẽ quyết định cách mà họ kiến giải về thế giới khách quan và quyết định cách mà ngôn ngữ đó mã hóa sự tình chuyển động trong ngữ nghĩa – cú pháp của nó
Tóm lại, cấu trúc ngữ nghĩa – cú pháp của Dir-SVCs trong tiếng Việt có thể được phác họa bằng sơ đồ sau:
NN: Actor/Existent Directional V 1 Directional V 2 Goal
2.1.2 Vị từ hàm chứa đích chuyển động (Destination verbs) và Kết cấu chuỗi vị từ chuyển động có đích (Destination serial motion verb constructions)
Nếu như hướng là một khái niệm trừu tượng khó hình dung thì đích lại là một cái gì đó rất rõ ràng, cụ thể và dễ hình dung Đích có thể là nơi chốn như nhà, trường, chợ,… hay một không gian hữu hình nào đó có thể được tái hiện hình ảnh ngay lập tức trong nhận thức của người sử dụng ngôn ngữ Nói một cách khác, đích chính là đối tượng, là mục tiêu mà hướng chuyển động nhắm vào, nó chi phối, đồng thời quyết định lộ trình và hướng của sự chuyển động
Vị từ hàm chứa đích chuyển động là những vị từ chuyển động mà nghĩa của chúng luôn cần có một danh ngữ biểu thị một không gian cụ thể đi theo sau làm bổ ngữ thì mới có thể biểu đạt được ý nghĩa của câu một cách trọn vẹn, tiêu biểu như: