1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Văn hóa ứng xử của giảng viên người nhật bản tại trường đại học khoa học xã hội và nhân văn đại học quốc gia thành phố hồ chí minh

97 32 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 2,88 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để đảm bảo sinh viên khi ra trường có năng lực làm việc trong các lĩnh vực có yếu tố Nhật Bản, các trường đại học của Thành phố Hồ Chí Minh, cụ thể là trường Đại học Khoa học xã hội và N

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Nhóm sinh viên thực hiện:

Chủ nhiệm: Nguyễn Thị Thu Trang

Thành viên: Phan Lâm Anh

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 5 năm 2019

Trang 2

ĐHQG-HCM Trường ĐHKHXH&NV Ngày nhận hồ sơ

Do P.QLKH-DA ghi Mẫu: SV 02

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN CẤP TRƯỜNG

Thành phần tham gia thực hiện đề tài

TT Họ và tên Chịu trách nhiệm Điện thoại Email

1 Nguyễn Thị Thu Trang 1 Chủ nhiệm 0964271042 nguyenthithutrangjps

16157@gmail.com

@gmail.com

Trang 3

i

LỜI CAM ĐOAN

Chúng tôi xin cam đoan đề tài nghiên cứu khoa học này là công trình nghiên cứu của riêng chúng tôi Được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của ThS Trần Bảo Ngọc và

TS Nguyễn Thị Hoài Châu Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong

đề tài này hoàn toàn trung thực, không sao chép của bất cứ ai

Chúng tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này

Chủ nhiệm đề tài

Nguyễn Thị Thu Trang

Trang 4

ii

LỜI CẢM ƠN

Trân trọng cảm ơn các thầy cô và các bạn sinh viên Khoa Nhật Bản học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện tốt nhất để chúng tôi thực hiện đề tài nghiên cứu này

Đặc biệt, nhóm nghiên cứu xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Th.S Trần Bảo Ngọc

và TS Nguyễn Thị Hoài Châu, những người đã hướng dẫn, giúp đỡ nhóm hoàn thành đề tài này

Tuy nhiên, do năng lực của nhóm nghiên cứu vẫn còn hạn chế nên đề tài nghiên cứu khoa học này chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo để bài nghiên cứu được hoàn thiện hơn

Chúng tôi xin trân thành cảm ơn!

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 16 tháng 5 năm 2019

Chủ nhiệm đề tài

Nguyễn Thị Thu Trang

Trang 5

iii

MỤC LỤC

Trang

Danh mục từ viết tắt 1

Danh mục sơ đồ, biểu đồ và bảng biểu 2

PHẦN MỞ ĐẦU 1 Lý do chọn đề tài 4

2 Sơ lược tình hình nghiên cứu 6

3 Mục tiêu nghiên cứu 10

4 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu 10

5 Phương pháp nghiên cứu 10

6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 11

7 Đóng góp mới của đề tài 12

8 Bố cục của đề tài 12

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 14

1.1 Cấu trúc tâm lý của nhân cách 14

1.2 Văn hóa và các đặc trưng của văn hóa 17

1.2.1 Văn hóa – Các đặc trưng của văn hóa 17

1.2.2 Các hiện tượng xảy ra trong quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóa 19

1.2.2.1 Giao thoa văn hóa 19

1.2.2.2 Sốc và xung đột trong giao thoa văn hóa 20

1.3 Văn hóa ứng xử 22

1.3.1 Ứng xử 22

1.3.2 Văn hóa ứng xử 23

1.4 Văn hóa ứng xử trong môi trường giáo dục 25

1.5 Văn hóa ứng xử của giảng viên người Nhật trong môi trường giáo dục 28

1.5.1 Đặc trưng văn hóa ứng xử của người Nhật 28

1.5.2 Đặc trưng văn hóa ứng xử của giảng viên người Nhật trong môi trường giáo dục 32

CHƯƠNG 2 ĐẶC TRƯNG VĂN HÓA ỨNG XỬ CỦA GIẢNG VIÊN NGƯỜI NHẬT BẢN TẠI KHOA NHẬT BẢN HỌC THUỘC TRƯỜNG

Trang 6

iv

ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN – ĐẠI HỌC QUỐC GIA

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 35

2.1 Khung khái niệm của đề tài 35

2.2 Phương pháp tiến hành nghiên cứu 36

2.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận 36

2.2.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn 36

2.2.2.1 Phương pháp nghiên cứu định lượng - điều tra bằng bảng hỏi 36

2.2.2.2 Phương pháp nghiên cứu định tính – phỏng vấn bán cấu trúc 40

2.3 Kết quả khảo sát và phỏng vấn sâu 42

2.3.1 Kết quả khảo sát 42

2.3.1.1 Thông tin về đối tượng khảo sát 42

2.3.1.2 Ý kiến của đối tượng khảo sát về văn hóa ứng xử của giảng viên người Nhật trong Khoa 45

2.3.1.3 Ý kiến của đối tượng khảo sát về phương pháp tăng cường hiệu quả giao tiếp giữa giảng viên người Nhật và sinh viên của Khoa 55

2.3.2 Kết quả phỏng vấn sâu - Phân tích 58

2.3.2.1 Kết quả phỏng vấn sâu với đối tượng phỏng vấn là giảng viên người Việt 58

2.3.2.2 Kết quả phỏng vấn sâu với đối tượng phỏng vấn là giảng viên người Nhật 65

CHƯƠNG 3 BIỆN PHÁP TĂNG CƯỜNG HIỆU QUẢ GIAO TIẾP GIỮA GIẢNG VIÊN NGƯỜI NHẬT VỚI GIẢNG VIÊN VÀ SINH VIÊN NGƯỜI VIỆT NAM TẠI KHOA NHẬT BẢN HỌC THUỘC TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN – ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 68

3.1 Trang bị kiến thức cho sinh viên Khoa Nhật Bản học về các quy tắc ứng xử với người Nhật 68

3.2 Tổ chức chương trình hỗ trợ sinh viên, tạo điều kiện giao tiếp với giảng viên người Nhật 70

Trang 7

v

3.3 Thành lập câu lạc bộ/ đội/ nhóm nhằm tạo điều kiện cho sinh viên tìm hiểu

và thực hành văn hóa ứng xử của người Nhật 72

3.4 Một số biện pháp khác về nâng cao hiệu quả giao tiếp giữa giảng viên người Nhật và sinh viên của Khoa 73

KẾT LUẬN 75

Danh mục tài liệu tham khảo 77

Phụ lục 1: Mẫu phiếu khảo sát 80

Phụ lục 2: Mẫu phiếu phỏng vấn 87

Trang 8

1

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

1 SV: sinh viên

2 GV: giảng viên

Trang 9

2

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ VÀ BẢNG BIỂU

Trang

Sơ đồ 1: Quá trình sốc và sung đột trong giao thoa văn hóa 21

Sơ đồ 2: Khung khái niệm của đề tài 35

Bảng 2.1: Bảng cỡ mẫu 39

Bảng 2.2: Bảng thống kê ý kiến về phương pháp tăng hiệu quả giao tiếp với giảng viên người Nhật của sinh viên 55

Biểu đồ 2.1: Tỉ lệ giới tính đối tượng khảo sát 42

Biểu đồ 2.2 : Tỉ lệ đối tượng khảo sát giữa các khóa 42

Biểu đồ 2.3: Chức vụ trong Khoa của các đối tượng khảo sát 43

Biểu đồ 2.4 : Tần suất tiếp xúc với giảng viên người Nhật 43

Biểu đồ 2.5: Hoàn cảnh tiếp xúc với giảng viên người Nhật 44

Biểu đồ 2.6.1: Mức độ thường xuyên về một số đặc trưng cơ bản trong lời nói của giảng viên người Nhật 45

Biểu đồ 2.6.2: Mức độ phù hợp về một số đặc trưng cơ bản trong lời nói của giảng viên người Nhật 46

Biểu đồ 2.7.1: Mức độ thường xuyên về một số đặc trưng cơ bản trong thái độ của giảng viên người Nhật 47

Biểu đồ 2.7.2: Mức độ phù hợp về một số đặc trưng cơ bản trong thái độ của giảng viên người Nhật 48

Biểu đồ 2.8.1: Mức độ thường xuyên về một số đặc trưng cơ bản trong hành vi, cử chỉ của giảng viên người Nhật 49

Biểu đồ 2.8.2: Mức độ phù hợp về một số đặc trưng cơ bản trong hành vi, cử chỉ của giảng viên người Nhật 49

Biểu đồ 2.9.1: Mức độ thường xuyên về một số đặc trưng cơ bản trong tác phong sư phạm của giảng viên người Nhật (1) 50

Biểu đồ 2.9.2: Mức độ phù hợp về một số đặc trưng cơ bản trong tác phong sư phạm của giảng viên người Nhật (1) 51

Trang 10

3

Biểu đồ 2.9.3: Mức độ thường xuyên về một số đặc trưng cơ bản trong tác phong sư phạm của giảng viên người Nhật (2) 51 Biểu đồ 2.9.4: Mức độ phù hợp về một số đặc trưng cơ bản trong tác phong sư phạm của giảng viên người Nhật (2) 52 Biểu đồ 2.10: Các yếu tố cản trở quá trình giao tiếp giữa sinh viên và giảng viên người Nhật 54 Biểu đồ 2.11: Các yếu tố về môi trường làm việc ảnh hưởng đến văn hóa ứng xử của giảng viên người Nhật 54

Trang 11

Bên cạnh đó, trong những năm gần đây, Việt Nam chúng ta đang trên con đường hội nhập với thế giới và mối quan hệ ngoại giao Việt – Nhật cũng theo đó càng ngày càng tốt đẹp Trong năm tài khóa 2017, nguồn Viện trợ phát triển chính thức (ODA) mà Chính phủ Nhật Bản đã viện trợ cho Việt Nam là 130 tỉ Yên (khoảng 1,2 tỉ USD); tổng số dự án đầu tư trực tiếp (FDI) của Nhật Bản vào Việt Nam tính đến tháng 6/2018 là 137 dự án với tổng số vốn là 6,47 tỉ USD.2 Cùng với đó, số lượng học sinh, sinh viên, lao động Việt Nam sang Nhật học tập và làm việc đang ngày một tăng Theo Bộ Lao động - Y tế - Phúc lợi Nhật Bản, tính đến tháng 10/2017, số lượng lao động người Việt Nam tại đây là khoảng 240.000 người, chỉ xếp sau Trung Quốc 3 Ngược lại, lượng người Nhật đến Việt Nam trong những năm gần đây cũng đạt đến con số đáng kể Trong khảo sát về thực trạng người dân lưu trú tại nước ngoài của Bộ Ngoại giao Nhật Bản, số lượng người Nhật cư trú tại Việt Nam tính đến năm 2017 là 17,266 người 4– nguyên nhân là vì ngày càng nhiều doanh nghiệp Nhật Bản mở rộng thị trường sang Việt Nam Sự tăng nhanh số lượng doanh nghiệp Nhật Bản ở Thành phố Hồ Chí Minh dẫn đến sự tăng lên của nhu cầu tuyển

Jellyfish Agent ベトナ ム在住の 日本人 が急増中 !ベ トナムが 日本人 に人気の 理由は? Ngày đăng:

19/11/2018 Thời gian truy cập: 10h38’ 16/5/2019 Truy xuất từ: https://jellyfishhr.jp/vietnam-blog/24559#index-3

Trang 12

5

dụng nguồn nhân lực có khả năng tiếng Nhật và đủ năng lực làm việc trong môi trường doanh nghiệp Nhật Bản (theo Phòng thương mại Nhật Bản Thành phố Hồ Chí Minh, tính đến ngày 1/4/2018, số lượng doanh nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh là 966 công ty 5

)

Do đó, nhu cầu giảng dạy tiếng Nhật và nghiên cứu về các khía cạnh văn hóa xã hội của Nhật Bản trở thành vấn đề đáng quan tâm hiện nay Đặc biệt, các trường đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh đã nắm bắt được nhu cầu của xã hội và phát triển việc giáo dục

và đào tạo nguồn nhân lực thông thạo tiếng Nhật, có kĩ năng nghề nghiệp, có khả năng thích ứng với môi trường làm việc của người Nhật

Để đảm bảo sinh viên khi ra trường có năng lực làm việc trong các lĩnh vực có yếu

tố Nhật Bản, các trường đại học của Thành phố Hồ Chí Minh, cụ thể là trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh với lịch sử hình thành và phát triển ngành Nhật Bản học lâu đời (gần 25 năm), rất chú trọng việc xây dựng chương trình đào tạo toàn diện về kiến thức và kĩ năng, cũng như việc tạo môi trường học tập năng động mà ở đó sinh viên có thể giao tiếp thoải mái với người Nhật Bản Thông qua quá trình giao tiếp và học tập dưới sự hướng dẫn của giảng viên người Nhật Bản, sinh viên có thể làm quen và tăng cường hiểu biết về văn hóa Nhật Bản nói chung và văn hóa ứng xử của người Nhật nói riêng Từ đó sinh viên sẽ được chuẩn bị tư thế sẵn sàng để tham gia vào những công việc liên quan đến Nhật Bản trong tương lai Vì vậy, việc nghiên cứu văn hóa ứng xử của người Nhật làm công việc giảng dạy tại các trường đại học Việt Nam hiện nay là rất cần thiết vì nó giúp cung cấp cơ sở khoa học để nhà trường và Khoa phụ trách đào tạo chuyên môn cải thiện chất lượng giáo dục và đào tạo

Tuy nhiên, các nghiên cứu từ trước đến nay về văn hóa ứng xử của người Nhật Bản chủ yếu nằm ở mức khái quát các đặc trưng cơ bản, hoặc đi vào các khía cạnh như văn hóa ứng xử trong môi trường kinh doanh, văn hóa ứng xử trong cuộc sống hàng ngày, ; chưa có nghiên cứu về văn hóa ứng xử của người Nhật Bản trong môi trường giáo dục Trên thực tế, việc giao tiếp giữa sinh viên và người Nhật tại các trường đại học hoặc các

cơ sở dạy tiếng Nhật luôn gặp nhiều khó khăn Một phần do năng lực tiếng Nhật của

5

Quick Vietnam ベトナム・ホーチミン日本商工会議所(JCCH)について Ngày đăng: 11/5/2018 Thời gian truy cập: 11h 16/5/2019 Truy xuất từ: https://919vn.com/column/jcch/

Trang 13

6

người học chưa đủ để giao tiếp tốt, một phần là do người học thiếu hiểu biết về văn hóa ứng xử của người Nhật, dẫn đến gặp nhiều khó khăn, không thích ứng kịp hoặc hiệu quả giao tiếp không như mong đợi

Do đó, bằng cách tiến hành thu thập ý kiến về quan điểm và nhận thức của giảng viên và sinh viên về đặc trưng văn hóa ứng xử của người Nhật Bản thể hiện qua các hoạt động giao tiếp sư phạm, đề tài “Văn hóa ứng xử của giảng viên người Nhật Bản tại trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh” cung cấp cho các sinh viên của Khoa Nhật Bản học cái nhìn tổng quát về con người Nhật Bản trước khi tốt nghiệp, giúp sinh viên cảm thấy tự tin khi tiếp nhận các công việc tại các cơ

sở hoặc tổ chức có yếu tố Nhật Bản tại Thành phố Hồ Chí Minh Bên cạnh đó, dựa trên việc phân tích các yếu tố tác động đến các ứng xử của giảng viên người Nhật với giảng viên/ sinh viên người Việt và ngược lại trong quá trình giao tiếp, đề tài có thể đưa ra một

số đề xuất giúp tăng cường hiệu quả giao tiếp trong các hoạt động giảng dạy – học tập tại Khoa, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của Khoa

2 Sơ lƣợc tình hình nghiên cứu

Đối với đề tài nghiên cứu này, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, tuy nhiên đa số là nghiên cứu sâu về một khía cạnh của văn hóa ứng xử của người Nhật Bản, ví dụ như: văn hóa ứng xử trong kinh doanh, văn hóa ứng xử nơi công cộng, văn hóa ứng xử trong giao tiếp,… Trong số đó, có bốn nghiên cứu khá nổi bật, liên quan trực tiếp tới đề tài và đi khá sâu rộng vào các phương diện của

văn hóa ứng xử Nhật Bản, đó là “Tìm hiểu văn hóa giao tiếp của người Nhật” (Đặng Thị

Phương Nguyên, 6/2003, Khóa luận tốt nghiệp Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh); công trình nghiên cứu “Vài nét về văn hóa ứng xử của người Nhật Bản” (Ngô Hương Lan, 2013, Viện Nghiên cứu Đông Bắc Á);

tác phẩm “Văn hóa làm việc với người Nhật” (John C Condon và Tomoko Masumoto, 2015); và “Văn hóa ứng xử trong doanh nghiệp Nhật Bản” (Trần Thị Hoài Thương,

2017, Khóa luận tốt nghiệp Trường Đại học Bà Rịa – Vũng Tàu)

Trang 14

7

Trong công trình “Tìm hiểu văn hóa giao tiếp của người Nhật” 6, Tác giả đề cập đến hai nội dung chính là văn hóa giao tiếp của người Nhật và ảnh hưởng của các hệ tư tưởng tôn giáo đến văn hóa giao tiếp của người Nhật Về văn hóa giao tiếp của người Nhật, tác giả trình bày từ những đặc điểm nổi bật và thường thấy nhất (chẳng hạn sự lễ phép, lịch sự; tôn trọng thứ bậc và địa vị; điềm tĩnh và kín đáo;…) đến những biểu hiện cụ thể khác của người Nhật trong giao tiếp gia đình và giao tiếp xã hội Thông qua bài nghiên cứu, người đọc có thể tìm hiểu về những nét văn hóa nổi bật nhất trong các hoàn cảnh giao tiếp của người Nhật như thư từ, danh thiếp, điện thoại, quà tặng,… Bên cạnh đó, tác giả còn chỉ rõ những ảnh hưởng từ yếu tố tôn giáo tới các đặc trưng văn hóa giao tiếp của người Nhật, đặt trong tương quan so sánh với văn hóa giao tiếp của người Việt Việc trình bày tỉ

mỉ, cụ thể biểu hiện nhỏ trong từng trường hợp cụ thể giúp bài nghiên cứu trở nên khoa học và dễ hiểu Song, bài nghiên cứu được thực hiện từ năm 2003 – cách đây 16 năm – nên sẽ có nhiều kiến thức cũ Trong bối cảnh nước Nhật mở cửa đón nhận văn hóa nước ngoài, cũng như có nhiều xu hướng thay đổi diễn ra trong xã hội Nhật Bản, bên cạnh những nét văn hóa được gìn giữ và bảo tồn, cũng sẽ có những nét văn hóa thay đổi cho phù hợp với bối cảnh hiện nay

Tác giả Ngô Hương Lan trong “Vài nét về văn hóa ứng xử của người Nhật Bản”

(4/2013)7 đã triển khai nghiên cứu theo hai nội dung chính: quá trình hình thành văn hóa ứng xử của người Nhật Bản; và một vài khía cạnh đặc trưng trong văn hóa ứng xử của người Nhật Trong đó, tác giả đã đi khá rộng về nhiều phương diện trong văn hóa ứng xử của người Nhật, đặc biệt tập trung về lối ứng xử của người Nhật trong giao tiếp thông thường và ở nơi làm việc, đồng thời thể hiện tư tưởng đạo đức của họ qua lối ứng xử đó Tuy công trình nghiên cứu này không lớn và chưa đi sâu vào văn hóa ứng xử của người Nhật, các kiến thức đưa ra còn khá chung chung, nhưng đã đem lại cho người đọc một cái nhìn bao quát, tổng thể về văn hóa ứng xử chung của người Nhật Bản trong nhiều trường hợp khác nhau Bên cạnh đó, tác giả cũng đề cao tầm quan trọng của việc hiểu và biết về văn hóa ứng xử của người Nhật để góp phần củng cố, tăng cường mối quan hệ trên nhiều

6

Đặng Thị Phương Nguyên (6/2003) “Tìm hiểu văn hóa giao tiếp của người Nhật” Đại học Khoa học Xã hội và

Nhân Văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh

7

Ngô Hương Lan, “Vài nét về văn hóa ứng xử của người Nhật Bản”, ngày đăng 4h17’ 23/4/2013, thời gian truy

cập: 11h28’ 16/5/2019, đường dẫn: http://cjs.inas.gov.vn/index.php?newsid=688

Trang 15

8

mặt của hai nước Việt Nam – Nhật Bản Một ưu điểm của bài nghiên cứu này là việc tác giả đã tham khảo rất nhiều tài liệu cả tiếng Việt lẫn tiếng nước ngoài để có thể đem đến những kiến thức mang tính khách quan và tổng quát nhất có thể

Trong cuốn sách “Văn hóa làm việc với người Nhật” 8, hai tác giả John C Condon

và Tomoko Masumoto đã nghiên cứu về kinh nghiệm làm việc của những người ngoại quốc đến làm việc tại Nhật Bản như Mĩ, Canada hay các quốc gia châu Âu Đa số họ đều

đã trang bị trước những hành trang cần thiết để làm việc trong môi trường đầy khắt khe, nghiêm túc và trọng lễ nghĩa của các công ty Nhật Bản Thông qua những trải nghiệm của

họ, tác giả đã dẫn dắt người đọc đến với nghiều khía cạnh khác nhau trong văn hóa làm việc với người Nhật Cuốn sách không chỉ là một công trình nghiên cứu công phu mà còn

là một cuốn cẩm nang cho tất cả những ai muốn đến làm việc tại đất nước Nhật Bản, đặc biệt là những người đến từ các nước phương Tây, bởi các khía cạnh trong văn hóa ứng xử tại các công ty Nhật Bản mà tác giả đề cập đều được đặt trong tương quan so sánh với lối ứng xử của nền văn minh phương Tây Lấy ví dụ, ở Nhật Bản, tất cả các công ty, doanh nghiệp đều rất khắt khe trong vấn đề thời gian, họ hoàn toàn không đồng ý với việc nhân viên đi làm hay đi họp trễ; điều này trái ngược lại với lối sống ở một số nước phương Tây khá thoải mái trong giờ giấc Hay một ví dụ khác, trong công việc hay trong một số hoàn cảnh khác, người Nhật luôn đề cao tính khiêm nhường, giảm nhẹ cái tôi cá nhân và hướng

về tập thể, vì lẽ đó mà họ đôi khi không hài lòng với sự có mặt của những người mang cá tính phương Tây đầy tự tin và đề cao cái tôi cá nhân ở trong môi trường làm việc của họ Ngoài ra, không chỉ đề cập đến văn hóa ứng xử trong môi trường làm việc, cuốn sách còn viết về lối ứng xử trong đời sống thường ngày của người Nhật như: thời gian nào là thích hợp để đến dự những buổi tiệc, cách chào đón những ngày lễ truyền thống ở xứ sở phù tang hay cách ứng xử trong những buổi giao lưu, gặp gỡ… Như vậy, ưu điểm lớn của cuốn sách là việc hai tác giả đã nghiên cứu khá sâu và rộng về văn hóa ứng xử của người Nhật, lấy trọng tâm là văn hóa trong môi trường làm việc và đặt trong sự so sánh với văn hóa ứng xử ở nơi làm việc của phương Tây; từ đó đưa ra lời khuyên, gợi ý dành cho những người lần đầu đến làm việc tại Nhật Bản Cùng với những ý nghĩa đó, và nhờ vào

sự ra đời khá sớm của mình (xuất bản lần đầu năm 1984), cuốn sách cũng đã góp phần

8

John C Condon & Tomoko Masumoto (2015) “Văn hóa làm việc với người Nhật” Hà Nội: Lao động

Trang 16

9

giúp thúc đẩy mối quan hệ giữa Nhật Bản với các nước phương Tây trong các lĩnh vực như kinh tế, giáo dục,… Song chính vì đã được xuất bản lần đầu tiên cách đây khá lâu (34 năm) nên những số liệu, nhận định hoặc thông tin trong cuốn sách không mang tính cập nhật với bối cảnh hiện tại

Trong bài khóa luận tốt nghiệp về“Văn hóa ứng xử trong doanh nghiệp Nhật Bản”

(2017)9, tác giả Trần Thị Hoài Thương đã đi sâu vào phân tích rất nhiều khía cạnh của văn hóa ứng xử trong doanh nghiệp Nhật Bản, cụ thể là các tác phong nơi công sở như trang phục, chào hỏi, cách trao danh thiếp,… Để minh họa cho các phân tích, tác giả cũng nêu lên nhiều ví dụ minh họa thực tế và sinh động Trong đó, việc tác giả có đề cập và phân tích sâu bốn kỹ năng quan trọng trong doanh nghiệp Nhật Bản (HOU – REN – SOU, 5S, Kaizen và Omotenashi) đã giúp cho bài nghiên cứu trở nên sâu sắc, có tính thực tiễn

và ứng dụng rất cao Tuy nhiên, hạn chế của bài luận nằm ở chỗ, dù đã chỉ ra được những

kỹ năng quan trọng mà người lao động trong doanh nghiệp Nhật Bản cần có, nhưng tác giả vẫn chưa liên hệ được với tình hình thực tế, chưa đề ra các phương pháp học hỏi, phát triển hay những cách thức phù hợp để sinh viên hoặc người lao động nước ngoài, mà cụ thể là người Việt Nam có thể tiếp thu và ứng dụng được trong quá trình làm việc với người Nhật Bản

Liên quan đến việc thực hiện thu thập quan điểm và nhận thức của các bên về văn hóa ứng xử của người Nhật trong môi trường giáo dục đại học, nhóm nghiên cứu không chỉ tham khảo, tổng hợp các kết quả đạt được từ những công trình nghiên cứu trên, mà còn thu thập thêm nguồn tư liệu khác từ sách, báo, internet,… để xây dựng cơ sở lý luận khách quan và đáng tin cậy cho việc phát triển khung khái niệm cho đề tài Một điểm khác biệt lớn giữa đề tài nghiên cứu của nhóm so với các công trình trước đây chính là việc đề xuất những biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả giao tiếp với giảng viên người Nhật, đặc biệt là trong mối quan hệ giao tiếp sư phạm tại trường đại học

9

Trần Thị Hoài Thương (2017) “Văn hóa ứng xử trong doanh nghiệp Nhật Bản” Khóa luận tốt nghiệp Đại học Bà

Rịa – Vũng Tàu

Trang 17

10

3 Mục tiêu nghiên cứu

Tìm hiểu về đặc trưng văn hóa ứng xử của giảng viên người Nhật tại Khoa Nhật Bản học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh thể hiện trong mối quan hệ với giảng viên và sinh viên người Việt

Tìm hiểu quan điểm và thái độ của sinh viên cũng như giảng viên người Việt tại Khoa Nhật Bản học về lối ứng xử của giảng viên người Nhật Từ đó xem xét những thuận lợi, khó khăn trong quá trình ứng xử, giao tiếp giữa sinh viên, giảng viên Việt Nam với giảng viên người Nhật

Đề xuất các biện pháp làm tăng cường sự hiểu biết của sinh viên về văn hóa ứng xử của người Nhật, từ đó nâng cao hiệu quả giao tiếp giữa sinh viên, giảng viên Việt Nam và giảng viên người Nhật Bản

4 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Văn hóa ứng xử của giảng viên người Nhật Bản tại Khoa Nhật Bản học, trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh

Phạm vi nghiên cứu: Đề tài thực hiện nghiên cứu trên sinh viên hiện đang học tập; cán bộ quản lí, giảng viên người Việt và giảng viên người Nhật hiện đang giảng dạy và làm việc tại Khoa Nhật Bản học, trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh trong năm học 2018-2019

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu (tài liệu thứ cấp, bao gồm các bài báo, các bài nghiên cứu bằng tiếng Nhật và tiếng Việt liên quan đến văn hóa, văn hóa ứng xử, văn hóa ứng xử của người Nhật từ nhiều góc nhìn,…) Bằng cách tổng hợp, so sánh và phân tích những bài báo, công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, đề tài rút ra được khung khái niệm để mô tả những đặc điểm chính của văn hóa ứng xử người Nhật Bản trong môi trường giáo dục đại học

- Phương pháp điều tra khảo sát: bảng hỏi khảo sát được thực hiện bởi các sinh viên năm 1, 2, 3, 4 hệ chính quy của chương trình đại trà và chương trình chất lượng cao hiện

Trang 18

11

đang học tại Khoa Nhật Bản học, trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh trong năm học 2018 -2019 Việc khảo sát cung cấp dữ liệu giúp đánh giá quan điểm và thái độ từ sinh viên của Khoa về các biểu hiện cụ thể của văn hóa ứng xử của người Nhật Bản trong môi trường giáo dục tại Khoa cũng như những khó khăn mà sinh viên gặp phải trong quá trình giao tiếp với giảng viên người Nhật

- Phương pháp phỏng vấn: Bảng hỏi phỏng vấn sâu được thực hiện bởi các giảng viên người Nhật, người Việt Nam đang công tác tại Khoa Nhật Bản học, trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh cũng trong năm học 2018 -2019 Việc phỏng vấn nhằm tìm hiểu suy nghĩ, đánh giá từ nhiều phía gồm cán bộ quản lí, giảng viên người Việt và quan điểm của chính giảng viên người Nhật

về văn hóa ứng xử của người Nhật tại Khoa cũng như các yếu tố tác động đến giao tiếp trong các mối quan hệ giữa sinh viên/ giảng viên người Việt và giảng viên người Nhật Khi tiến hành chọn mẫu cho việc phỏng vấn sâu, đề tài gặp một số hạn chế vì hiện nay, số lượng giảng viên người Nhật của Khoa khá ít, chủ yếu là giảng viên của chương trình Chất lượng cao; thêm vào đó, cơ cấu giảng viên thay đổi nhiều trong vài năm gần đây dẫn đến việc số lượng giảng viên phù hợp với tiêu chí phỏng vấn của đề tài là không nhiều

- Phương pháp thống kê dữ liệu định lượng: sử dụng phần mềm nhập liệu và trang

xã hội để thu thập và xử lí dữ liệu thu thập từ việc khảo sát sinh viên của Khoa

6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn

Ý nghĩa khoa học: đề tài đưa ra khung khái niệm để nghiên cứu đặc trưng văn hóa ứng xử của người Nhật, đặc biệt là văn hóa ứng xử trong môi trường giáo dục của người Nhật

Ý nghĩa thực tiễn: đề tài làm rõ suy nghĩ, đánh giá của sinh viên và giảng viên Khoa Nhật Bản học về văn hóa ứng xử người Nhật Bản, bên cạnh đó khám phá suy nghĩ của chính những người Nhật đang công tác tại một khoa thuộc trường đại học về những vấn

đề liên quan đến giao tiếp với giảng viên và sinh viên Việt Nam Dựa vào đó, đề tài đề xuất những biện pháp phù hợp với điều kiện nhà trường để khắc phục khó khăn khi giao

Trang 19

12

tiếp nhằm nâng cao hiệu quả giao tiếp giữa giảng viên/ sinh viên người Việt và giảng viên người Nhật, tạo môi trường học tập và làm việc thoải mái cho sinh viên và giảng viên

7 Đóng góp mới của đề tài

Trong môi trường giao tiếp đa văn hóa, việc gặp phải những khó khăn do khác biệt

về tư tưởng, quan điểm, ngôn ngữ, văn hóa dân tộc là điều không thể tránh khỏi Do đó,

đề tài nghiên cứu này giúp làm rõ về những khó khăn mà các sinh viên và giảng viên Khoa Nhật Bản học gặp phải trong quá trình tương tác với giảng viên người Nhật tại Khoa và ngược lại Những biện pháp mà nhóm nghiên cứu đề xuất dựa trên kết quá khảo sát và phỏng vấn không chỉ giúp hỗ trợ cho việc giao tiếp giữa giảng viên người Nhật với các giảng viên và sinh viên Việt Nam tại một khoa của trường đại học, mà còn giúp sinh viên trang bị những kiến thức cần có về văn hóa ứng xử của người Nhật để phục vụ cho công việc về sau tại các cơ quan có yếu tố Nhật Bản

xử của giảng viên người Nhật tại Khoa, giải thích những khó khăn các bên gặp phải trong quá trình giao tiếp

Chương 3 Biện pháp tăng cường hiệu quả giao tiếp giữa giảng viên người Nhật với giảng viên và sinh viên người Việt Nam tại Khoa Nhật Bản học thuộc Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh: Chương 3 đề xuất những biện pháp giúp nâng cao hiệu quả giao tiếp giữa giảng viên người Nhật với

Trang 20

13

sinh viên và giảng viên của Khoa, và các biện pháp giúp nâng cao hiểu biết của sinh viên

về văn hóa ứng xử của người Nhật

Trang 21

14

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Cấu trúc tâm lý của nhân cách

Nói về cấu trúc tâm lý của nhân cách, trước tiên cần hiểu được nhân cách là gì

Trong cuốn Tâm lý học nhân cách một số vấn đề lý luận, từ nhiều cách định nghĩa khía

cạnh nghiên cứu và nhiều trường phái khác nhau, tác giả Nguyễn Ngọc Bích (1998) đã đúc kết được cách định nghĩa khái niệm nhân cách phù hợp nhất với hiện nay như sau:

“Nhân cách là hệ thống những phẩm giá xã hội của cá nhân thể hiện những phẩm chất bên trong của cá nhân, mối quan hệ qua lại của cá nhân với cá nhân khác, với tập thể,

xã hội, với thế giới xung quanh và mối quan hệ của cá nhân với công việc trong quá khứ, hiện tại và tương lai.” (tr 213) 10

Còn theo như Giáo trình Tâm lý học đại cương: “Nhân cách là tổ hợp những đặc

điểm, những thuộc tính tâm lý của cá nhân, quy định hành vi xã hội và giá trị xã hội của

cá nhân đó.” (Nguyễn Xuân Thức (Chủ biên), 2007, tr 169) 11

Có thể nói, nhân cách hình thành trong quá trình sinh sống và hoạt động, giao lưu của con người trong xã hội Nhân cách được hình thành không dừng lại, không cố định, nó có thể được phát triển đi đến hoàn thiện, và cũng có thể bị suy thoái

Về cấu trúc tâm lý của nhân cách, có khá nhiều cách phân tách, tùy theo quan niệm của mỗi nhà nghiên cứu Trong đề tài nghiên cứu này, nhóm nghiên cứu xin được phép kế thừa những nội dung lý thuyết về cấu trúc tâm lý của nhân cách được đề cập đến trong

Giáo trình Tâm lý học đại cương nói trên

Cấu trúc nhân cách là sự sắp xếp các thuộc tính hay các thành phần của nhân cách thành một chỉnh thể trọn vẹn tương đối ổn định trong một liên hệ và quan hệ nhất định Theo quan điểm của các nhà tâm lý học Việt Nam, cấu trúc của nhân cách gồm hai mặt Đức và Tài, hay còn gọi là Phẩm chất và Năng lực

- Phẩm chất gồm: phẩm chất xã hội (thế giới quan, lý tưởng, lập trường, niềm tin,…), phẩm chất cá nhân (đạo đức tư cách: nết, thói quen, các ham muốn,…), phẩm chất

Trang 22

Nếu phân tách cấu trúc tâm lý của nhân cách theo các nhóm thuộc tính tâm lý điển hình của cá nhân, có thể có được cấu trúc với bốn nhóm: xu hướng, tính cách, khí chất và năng lực

- Xu hướng là sự hướng tới mục tiêu có ý nghĩa đối với bản thân con người, diễn ra trong thời gian lâu dài và tương đối ổn định, trở thành động lực thúc đẩy con người chinh phục mục tiêu đó Xu hướng của mỗi người là khác nhau, nó tạo động cơ, và định hướng, chi phối, điều khiển, điều chỉnh hoạt động của con người Xu hướng quy định hướng phát triển của tính cách con người, xu hướng ổn định thì tính cách của con người cũng được ổn định và vững vàng Bên cạnh đó, xu hướng xác định chiều hướng phát triển của năng lực;

và ngược lại, năng lực giúp cho những mục tiêu của xu hướng có khả năng biến thành hiện thực và trở lại củng cố, kích thích xu hướng Ngoài ra xu hướng cũng có thể góp phần phát triển những mặt tốt; hạn chế, khắc phục những thiếu sót của từng kiểu khí chất

- Tính cách là tổng hợp nhiều nét tính cách, hay những phản ứng riêng biệt của mỗi người đối với những tác động của thế giới khách quan và thế giới chủ quan Nét tính cách

đó có thể là dịu dàng, hiền hòa hay cộc cằn, hung dữ; keo kiệt, ích kỷ hay hào phóng, độ lượng; chăm chỉ, cần cù hay lười biếng, ham chơi,… Nội dung của tính cách là hệ thống thái độ của cá nhân đối với hiện thực, tức thái độ đối với tự nhiên, đối với xã hội, đối với lạo động và đối với bản thân Hình thức của tính cách là những phương thức hành động, kiểu hành vi xã hội của con người Trong tính cách của một con người, có thể tách ra thành những nét tính cách chung của cả loài người, của dân tộc, của giai cấp và những nét

cá biệt đặc trưng cho cá nhân ấy Những nét tính cách chung và riêng này hài hòa với nhau, tạo nên một tính cách độc đáo của mỗi cá nhân

Trang 23

- Năng lực là tổng hợp những thuộc tính tâm lý độc đáo của cá nhân đáp ứng yêu cầu đặc trưng của hoạt động và đảm bảo cho hoạt động ấy đạt kết quả cao Năng lực của mỗi người là khác nhau nên sự tiếp thu kiến thức, kỹ năng,… của họ cũng khác nhau Năng lực có thể có được do bẩm sinh, di truyền hoặc do tự tạo mà có Mức cao hơn của năng lực là tài năng và thiên tài Năng lực của con người có vai trò quan trọng đối với sự tiến bộ và phát triển của xã hội

Cuốn Giáo trình Tâm lý học đại cương cũng đề cập giao tiếp là một trong những con

đường cơ bản để hình thành và phát triển nhân cách của con người Thông qua giao tiếp, các mối quan hệ xã hội giữa người với người mới tồn tại và phát triển Thông qua giao tiếp, con người tiếp thu, lĩnh hội những tri thức, kỹ năng,… để phát triển và hoàn thiện nhân cách bản thân; và ngược lại, cũng nhờ có hoạt động giao tiếp của con người mà xã hội mới phát triển Trong quá trình giao tiếp, con người không chỉ nhận thức được người khác mà còn có thể nhận thức được bản thân mình, tự mình đánh giá bản thân như một nhân cách và tìm cách khắc phục, sửa đổi hoặc phát triển bản thân để nhân cách của mình ngày một hoàn thiện hơn Có thể nói rằng, giao tiếp là hình thức đặc trưng cho mối quan

hệ giữa con người với con người, là nhân tố cơ bản của việc hình thành và phát triển tâm

lý, ý thức, nhân cách của mỗi cá nhân

Mặt khác, theo học giả Đoàn Văn Chúc (1997): giao tiếp và ứng xử có quan hệ hữu

cơ với nhau; giao tiếp là tiền đề, là điều kiện của ứng xử; và ứng xử là hành động phản hồi trong quá trình giao tiếp 12

Vậy, có thể thấy, thông qua hoạt động giao tiếp, và qua cách ứng xử, nhân cách của con người phần nào được thể hiện ở cả bốn khía cạnh xu

12

Đoàn Văn Chúc (1997) Xã hội học văn hóa Hà Nội: Văn hóa Thông tin

Trang 24

Do đó, khi xét đến văn hóa ứng xử của con người, không thể không xét đến cấu trúc tâm lý của nhân cách Bởi khi bóc tách các khía cạnh của nhân cách, ta mới có thể hiểu rõ hơn về cách ứng xử mỗi người; và ngược lại, qua cách mà họ ứng xử, ta hiểu được phần nào tính cách, khí chất, xu hướng,… của người đó để có thể lựa chọn cách thức ứng xử phù hợp trong quá trình giao tiếp với đối phương

1.2 Văn hóa và các đặc trƣng của văn hóa

1.2.1 Văn hóa – Các đặc trƣng của văn hóa

Văn hóa là một khái niệm được sử dụng rộng rãi trong đời sống con người, nhưng cũng chính vì vậy mà sinh ra rất nhiều cách hiểu khác nhau về nó

Trước đây, Edward Bernett Tylor (1871) từng đưa ra định nghĩa: “Văn hóa hay văn minh, theo nghĩa rộng về tộc người học, nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách một thành viên của xã hội” (Huyền Giang, 2001, tr 13) Trong cách định nghĩa này, văn hóa đồng nhất với văn minh, mà hai khái niệm này có ngoại diên khác nhau Cụ thể, văn minh là tập hợp con của văn hóa, là văn hóa ở một trình độ phát triển cao Bên cạnh đó, phương pháp định nghĩa của Tylor lại thiên về hướng liệt kê các lĩnh vực được bao gồm trong văn hóa mà chưa thực sự tóm gọn được đặc điểm chung nhất của tập hợp các lĩnh vực ấy Vì vậy, nhóm nghiên cứu cho rằng việc thiếu sót trong cách định nghĩa trên là khó tránh khỏi

Ủy ban Quốc gia UNESCO (1992) cũng đã đưa ra rất nhiều định nghĩa về văn hóa Trong đó, định nghĩa mà chúng tôi cho là trọn vẹn nhất là: “Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát và sống động mọi mặt của cuộc sống (của mỗi cá nhân và các cộng

Trang 25

18

đồng) đã diễn ra trong quá khứ cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỉ,

nó đã cấu thành nên một hệ thống các giá trị truyền thống, thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình”(tr 23) 13

Nhìn chung, cách định nghĩa này có nhiều điểm tương tự với quan điểm của Giáo sư

Tiến sĩ Khoa học Trần Ngọc Thêm (1999) trong cuốn Cơ sở văn hóa Việt Nam: “Văn hóa

là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội.” (tr 10) 14 Có thể nói, định nghĩa văn hóa của UNESCO và của giáo sư Trần Ngọc Thêm có những chỗ tương đồng khi cho rằng: văn hóa là một hệ thống các giá trị được tạo nên bởi con người, thể hiện qua các mặt của đời sống, và trải qua một quá trình hình thành lâu dài Bàn về điểm khác biệt, điểm đắt giá nhất trong cách định nghĩa của UNESCO chính là việc khẳng định văn hóa là cơ sở, nền tảng để phân biệt dân tộc này với dân tộc khác Còn định nghĩa của giáo sư Trần Ngọc Thêm thể hiện được 4 đặc trưng bao gồm: tính hệ thống, tính giá trị, tính lịch sử và tính nhân sinh; do đó cách hiểu này đầy đủ và toàn diện hơn

Cụ thể hơn về 4 đặc trưng của văn hóa, cũng theo cuốn Cơ sở văn hóa Việt Nam,

tính hệ thống giúp người ta hiểu rõ hơn về một nền văn hóa trong tổng thể của nó, tính này gắn liền với chức năng tổ chức xã hội, “thường xuyên làm tăng độ ổn định của xã hội, cung cấp cho xã hội mọi phương tiện cần thiết để ứng phó với môi trường tự nhiên và xã hội của mình Nó là nền tảng của xã hội – có lẽ chính vì vậy mà người Việt Nam ta dùng

từ chỉ loại “nền” để xác định khái niệm văn hóa (nền văn hóa).” (tr 11) 6

Tiếp đến là tính giá trị của văn hóa – gắn với chức năng điều chỉnh xã hội Tùy theo cách chia (theo mục đích, ý nghĩa hay thời gian) mà có các loại giá trị văn hóa khác nhau (giá trị vật chất – giá trị tinh thần, giá trị sử dụng – giá trị đạo đức – giá trị thẩm mĩ, giá trị vĩnh cửu – giá trị nhất thời) Tính nhân sinh giúp văn hóa trở thành sợi dây nối liền con người với con người và thực hiện chức năng giao tiếp Cuối cùng là tính lịch sử Tính lịch sử được thể hiện ở sự tích lũy các giá trị trong một quá trình dài, tạo cho văn hóa bề dày cũng như chiều sâu, gắn liền với chức năng giáo dục

Trang 26

19

Tóm lại, “văn hóa” chính là “một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội; là cơ sở để mỗi dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình”

1.2.2 Các hiện tượng xảy ra trong quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóa 1.2.2.1 Giao thoa văn hóa

Theo tác giả Lê Hải Yến (2015): “Trong quá trình học ngoại ngữ, văn hóa bản địa gặp gỡ văn hóa của nước dùng ngoại ngữ ấy tạo nên quá trình giao thoa văn hóa” (tr 19).15

Tác giả Nguyễn Quang (2008) khẳng định: Giao thoa văn hóa là sự tương tác giữa các nhóm xã hội, giữa các tiểu văn hóa, giữa các văn hóa tộc người và giữa các nền văn hóa khác nhau.16

Tác giả cũng nhấn mạnh những yếu tố cần thiết khi tham gia vào một môi trường giao thoa văn hóa gồm: Sự nhận thức được tất cả các nền văn hóa đều bình đẳng nhưng khác biệt; Có ý thức về các nền văn hóa khác nhau; Tiếp nhận “cái mới” và

“cái chưa biết” một cách xây dựng và có phê phán; Khách quan; Kiên nhẫn; Khoan dung; Nhạy cảm; Có đầu óc quan sát; Tôn trọng đối tác; Không mặc cảm;…

Văn hóa ứng xử, theo Giáo sư Trần Ngọc Thêm (2006), là một thành tố của văn hóa.17

Vậy, trong quá trình giao thoa văn hóa, để đạt được hiệu quả giao tiếp cao cũng như tạo sự hài hòa về văn hóa ứng xử của các bên, đặc biệt là trong môi trường đa văn hóa, mỗi người cần tìm tòi, trau dồi thêm những tri thức về văn hóa ứng xử của các quốc gia, dân tộc Đồng thời, nếu bản thân được đặt trong một môi trường mới lạ, một nền văn hóa khác so với dân tộc mình, mỗi người cần học cách thích nghi và dung hòa giữa văn hóa ứng xử của bản thân và văn hóa ứng xử của đối phương Cụ thể trong trường hợp giao tiếp giữa người Nhật Bản và người Việt Nam tại Khoa Nhật Bản học thuộc Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, giảng viên người Nhật khi đến sinh sống và làm việc tại Việt Nam cần tìm hiểu về những đặc

15

Lê Hải Yến (2015) Ảnh hưởng của giao thoa văn hóa tới việc học tiếng Hàn của người Việt (Luận văn Thạc sĩ)

Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

16

Nguyễn Quang (08/01/2008) Văn hóa, giao thoa văn hóa và giảng dạy ngoại ngữ Tạp chí Khoa học Đại học

Quốc gia Hà Nội

17

Trần Ngọc Thêm (2006) Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh: NXB Tổng hợp Thành phố

Hồ Chí Minh

Trang 27

20

trưng trong lối ứng xử của người Việt để có thể nhanh chóng thích nghi và hòa nhập Tương tự, với các sinh viên và giảng viên của Khoa vốn có chuyên ngành về nghiên cứu Nhật Bản cũng như cần tiếp xúc với nhiều người Nhật trong quá trình học tập và làm việc, thì việc hiểu về văn hóa ứng xử của người Nhật cũng như biết cách cư xử sao cho đúng mực là điều vô cùng quan trọng Việc đôi bên chủ động tìm hiểu và thích nghi với văn hóa ứng xử của nhau giúp cho sự giao thoa văn hóa diễn ra được hài hòa và hiệu quả giao tiếp cũng được nâng cao hơn

1.2.2.2 Sốc và xung đột trong giao thoa văn hóa

Theo Nguyễn Quang (2008): “Sốc văn hóa là cảm giác bất ổn, lo lắng, sợ hãi, sốt ruột, mất phương hướng, và do vậy, thu mình, bất hợp tác hoặc tỏ ra thù địch khi tiếp xúc với một nhóm xã hội, một tiểu văn hóa, một văn hóa tộc người hay một nền văn hóa khác.” (tr 78) 8

Những biểu hiện tâm lý – xã hội chính của sốc văn hóa thường là: Buồn bã, cô đơn;

Lo lắng; Thay đổi tính tình, trầm cảm, bất lực; Cáu giận, bẩn gắt, ngại tiếp xúc với người khác; Thiếu tự tin; Cảm thấy mất phương hướng, bị coi thường; Bám lấy và lí tưởng hóa các ẩn tàng văn hóa của nhóm xã hội, tiểu văn hóa, văn hóa tộc người hoặc nền văn hóa của mình; Đánh mất bản sắc;…

Nguyên nhân khiến một người sốc văn hóa là do họ dựa trên những chuẩn mực của nền văn hóa của chính mình (như giá trị, quan niệm, tập quán,…) hoặc những kiến thức, trải nghiệm của riêng mình để diễn giải về nền văn hóa mà mình đang tiếp xúc, dẫn đễn việc diễn giải và hiểu sai lệch và xảy ra sự sốc văn hóa trong quá trình giao thoa văn hóa Các yếu tố chính tác động vào họ dẫn đến việc diễn giải sai lệch này có thể kể đến:

- Khuôn mẫu và định kiến: là những quan niệm, đức tin,… cố hữu trong mỗi con người, được hình thành bởi ảnh hưởng từ chính nền văn hóa của họ trong một quá trình dài

- Bản tộc trung tâm: là niềm tin rằng những gì mình và những người có chung nền văn hóa với mình nghĩ rằng đúng thì nó sẽ là đúng, đề cao những chuẩn mực, khuôn mẫu của nền văn hóa của mình

- Mặc cảm: cho rằng mình thua kém người khác (mặc cảm tự ti) hoặc hơn người khác (mặc cảm tự tôn)

Trang 28

21

Hệ quả của việc sốc văn hóa là những hành xử, tương tác sai lệch, dẫn đến xung đột văn hóa và cuối cùng là sẽ ngừng trệ quá trình tương tác và hợp tác

Có thể tóm gọn quá trình trên bằng sơ đồ như sau:

Sơ đồ 1: Quá trình sốc và sung đột trong giao thoa văn hóa

Trong quá trình giao tiếp ứng xử, khi hiểu sai lời nói, hành vi, cử chỉ hay thái độ của đối phương thì có thể dẫn tới việc bị sốc văn hóa Ví dụ một số người vốn mang tính cách

ý nhị, hướng nội của người phương Đông nếu tiếp xúc với người phương Tây qua những cái ôm hôn đầy phóng khoáng sẽ có thể hiểu nhầm đây là một hành vi khá đường đột, thậm chí thô lỗ và mang ý đồ xấu Dẫn đến việc họ dễ bị sốc văn hóa và trở nên bài xích với việc tiếp xúc với người phương Tây

Do đó, để tránh những điều đáng tiếc này xảy ra, cần có sự tìm hiểu về nhiều nền văn hóa khác nhau cũng như tìm cách dung hòa, chấp nhận sự khác biệt Cụ thể ở trường hợp của đề tài nghiên cứu này, trong quá trình giao tiếp giữa giảng viên người Nhật với các giảng viên và sinh viên của Khoa, việc xảy ra những khó khăn do sự khác biệt về lối văn hóa ứng xử vốn có của dân tộc là điều không tránh khỏi Ví dụ như những giảng viên người Nhật vốn nghiêm túc, xem trọng tác phong, sự lịch sự trong cách ứng xử khi tiếp xúc với những bạn sinh viên người Việt năng động, đôi lúc có phần hơi tự nhiên sẽ có

Giao thoa

văn hóa

Xung đột văn hóa

Diễn giải

và hiểu sai lệch

Sốc văn hóa

Hành xử

và tương tác sai lệch

Mặc

Ngừng trệ tương tác và hợp tác

Trang 29

22

phần hơi khó xử, không quen và ngược lại, các bạn sinh viên đó cũng có thể sẽ cảm thấy khó gần, khó giao tiếp được Vì thế để tránh những trường hợp như vậy xảy ra, việc hiểu biết về văn hóa ứng xử của nhau cũng như tìm được cách dung hòa đôi bên là điều cần thiết

1.3 Văn hóa ứng xử

1.3.1 Ứng xử

Khái niệm ứng xử theo Từ điển Tiếng Việt do Giáo sư Hoàng Phê (2018) chủ biên:

nghĩa từ “ứng” mang hai nội dung: một là đáp lại, hai là có mối quan hệ phù hợp tương đối với nhau Còn “xử” có nghĩa là hành động theo cách nào đó, thể hiện thái độ với người khác trong một hoàn cảnh cụ thể nhất định 18

Trong cuốn sách Tâm lý học ứng xử, tác giả đã định nghĩa: “ứng xử là sự phản ứng

của con người đối với sự tác động của người khác đến mình trong một tình huống nhất định Nó thể hiện ở chỗ con người không chỉ chủ động trong giao tiếp mà còn chủ động trong phản ứng có sự lựa chọn có tính toán, thể hiện qua thái độ, hành vi, cử chỉ, cách nói năng tùy thuộc vào tri thức, kinh nghiệm và nhân cách của mỗi người nhằm đạt kết quả giao tiếp cao nhất” (Lê Thị Bừng & Hải Vang, 1997, tr 12) 19

Trong cuốn Xã hội học văn hóa của tác giả Đoàn Văn Chúc (1997) 3

cũng đã đề cập đến khái niệm ứng xử: "ứng" là đáp lại, đối lại; "xử" là đối đãi Sự ứng xử cũng được biểu thị ở con người và các nhóm người trong mọi hoạt động sinh tồn, trong đó chủ yếu là giữa người với người và cụ thể là trong hoạt động giao tiếp Giao tiếp và ứng xử có quan hệ hữu cơ với nhau Giao tiếp là tiền đề, là điều kiện của ứng xử Ứng xử là hành động là phản hồi trong quá trình giao tiếp Ứng xử của con người bao hàm các yếu tố tạo thành một tổng thể không tách rời:

- Tính hữu thực tế, tính định hướng trong hành động Chủ thể cảm thấy, nhận thấy, hiểu mình đang đức trước tình huống nào và tổ chức hoạt động của mình

- Những biểu thị ra bên ngoài có thể quan sát được (những phản ứng sinh lý, cơ thể, những thực hành vật chất)

18

Hoàng Phê (2018) Từ điển Tiếng Việt Hà Nội: Hồng Đức

19 Lê Thị Bừng & Hải Vang (1997) Tâm lý học ứng xử Hà Nội: Giáo dục

Trang 30

Thứ nhất, nói đến ứng xử là nói đến cách xử trí trong quan hệ giữa người với người hoặc giữa cá nhân và cộng động trước những sự kiện hoặc sự việc cụ thể

Thứ hai, ứng xử cũng là một phương diện cấu thành của văn hóa, là biểu hiện tổng hợp của văn hóa

1.3.2 Văn hóa ứng xử

Trong bài viết “Đi tìm nét đẹp văn hóa ứng xử”, tác giả Ly Lam (2013) đã ghi lại nhận định của dịch giả Bùi Văn Nam Sơn về văn hóa ứng xử như sau: “Văn hóa ứng xử là cách thể hiện ra bên ngoài của những thái độ – yêu, thích, ghét, trọng, khinh…, và người

ta có thể học hỏi, chia sẻ những điều này với nhau” 20

Về phân loại văn hóa ứng xử, có hai tiểu hệ văn hóa ứng xử là văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên và văn hóa ứng xử với môi trường xã hội “Văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên là hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần, do con người sáng tạo

và tích lũy qua quá trình tận dụng và ứng phó với các yếu tố thiên nhiên như vật lý, hóa học, sinh học, tồn tại ngoài ý muốn của con người Văn hóa ứng xử với môi trường xã hội

là hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình tận dụng và ứng phó trong tổng thể các quan hệ giữa người với người.” (Cù Thị Thanh Huyền, 2011, tr 17)21 Ngoài ra, một số tài liệu còn nhắc đến tiểu hệ văn hóa ứng

xử với chính mình Đối với trường hợp đề tài nghiên cứu này, văn hóa ứng xử được nhìn

từ góc độ văn hóa ứng xử với môi trường xã hội, tức văn hóa ứng xử được đặt trong tổng

Cù Thị Thanh Huyền (2011) Blog Việt từ góc nhìn văn hóa ứng xử (Luận văn Thạc sĩ) Trường Đại học Khoa học

Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 31

24

thể quan hệ giữa con người với con người, giữa giảng viên người Nhật, những người Nhật đang theo học tại trường với sinh viên Khoa Nhật Bản học (trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh)

Vậy, xét trong mối quan hệ giữa con người với con người, có thể định nghĩa: Văn

hóa ứng xử là hệ thống những lời nói, cử chỉ, hành vi, thái độ của con người được hình thành và tích lũy thông qua quá trình lao động và giao tiếp

Về lời nói, ông bà ta vẫn có câu: “Lời nói chẳng mất tiền mua Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau” Quả thực, lời nói luôn là yếu tố vô cùng quan trọng, là yếu tố cơ bản nhất trong giao tiếp, ứng xử hàng ngày Lời nói không chỉ là phương tiện biểu đạt trực tiếp thông điệp của các bên trong ứng xử một cách nhanh chóng, mà đó còn là cách thức đơn giản, dễ hiểu, dễ nắm bắt hơn cả Trong giao tiếp ứng xử đa quốc gia, lời nói được nâng lên một bậc cao hơn, là ngôn ngữ Có được khả năng ngôn ngữ tốt, cách diễn đạt lưu loát,

dễ hiểu sẽ là một lợi thế lớn cho mỗi cá nhân trong quá trình giao tiếp, ứng xử

Tuy nhiên, có những trường hợp, các yếu tố phi ngôn ngữ như hành vi, cử chỉ, thái

độ mới là cách bộc lộ rõ nhất văn hóa ứng xử của một người Bởi con người vẫn có thể

che giấu những suy nghĩ hay cảm xúc thật của bản thân trong lời nói Trong cuốn Tâm lý

học ứng xử, tác giả cũng đã viết: “Có thể nói những phương tiện phi ngôn ngữ (như nụ

cười, ánh mắt, cử chỉ, điệu bộ,…) là yếu tố rất quan trọng khi giao tiếp với người nước ngoài, nhất là khi vốn ngoại ngữ của ta còn hạn chế Song mỗi dân tộc, mỗi quốc gia sử dụng phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ này với những ý nghĩa khác nhau Do vậy, việc nắm vững ý nghĩa của những hành vi, cử chỉ, ánh mắt, nụ cười,… trong giao tiếp của mỗi quốc gia là rất cần thiết” (Lê Thị Bừng & Hải Vang, 1997, tr 96) 10 Giả dụ, nếu người nói vì một lý do nào đó (lịch sự, giữ khoảng cách,…) mà kìm nén cảm xúc giận dữ hay vui mừng trong lời nói, thì qua cử chỉ như ánh mắt, nụ cười hay thái độ biểu cảm trên gương mặt, ta vẫn có thể đoán biết cảm nghĩ của đối phương Hoặc có thể thông qua hành

vi như vỗ tay tán thưởng hay xua tay lắc đầu, ta vẫn hiểu được ý đồ của đối phương mà không cần đến lời nói

Bên cạnh đó, thông qua hành vi, cử chỉ, cách cư xử của đối phương, ta có thể nhìn nhận được văn hóa ứng xử của họ, nét tính cách họ mang,… để từ đó điều chỉnh cách ứng

xử sao cho phù hợp cho đôi bên Việc điều chỉnh cách ứng xử còn tùy thuộc vào năng lực

Trang 32

25

giao tiếp của mỗi cá nhân và hiểu biết của mỗi người về văn hóa ứng xử của các quốc gia khác trong quá trình giao lưu văn hóa đa quốc gia, mà cụ thể trong đề tài nghiên cứu này

là sự giao lưu giữa người Nhật và người Việt

1.4 Văn hóa ứng xử trong môi trường giáo dục

Có thể hiểu, nhà trường là một tổ chức giáo dục cho nên văn hóa ứng xử trong môi trường giáo dục chính là văn hóa ứng xử trong nhà trường, hay còn gọi là văn hóa nhà trường hoặc văn hóa học đường Cụ thể, “văn hóa học đường là hành vi ứng xử của các chủ thể tham gia hoạt động đào tạo trong nhà trường, là lối sống văn minh trong trường học Văn hóa học đường thể hiện ở một số khía cạnh sau: Ứng xử của người thầy với người học (Biết quan tâm đến người học, hết lòng yêu thương người học; Biết tôn trọng người học, biết phát hiện ra những ưu điểm và nhược của người học; gương mẫu trước học sinh); Ứng xử của người học đối với người thầy (Kính trọng, yêu quý thầy cô; nhận thức và thực hiện những điều chỉ bảo, dạy dỗ của thầy cô); Ứng xử giữa người lãnh đạo nhà trường và giáo viên (chú ý đến năng lực của các cá nhân trong tập thể, vị tha, độ lượng, công bằng, khách quan,…); Ứng xử giữa các đồng nghiệp (tôn trọng, thân thiện, hợp tác,…).” 22

- sinh viên".23 (tr.99)

Thứ nhất, ứng xử thầy - trò xuất hiện trong giao tiếp của người dạy và người học, và

cụ thể gọi đó là giao tiếp sư phạm Trong cuốn Tâm lý học Sư phạm Đại học, Thạc sĩ

Nguyễn Thạc nêu rõ về giao tiếp sư phạm: "Trường đại học có mục đích, hình thức và nội

22

Hoàng Quốc Đạt (2018) Quản lý xây dựng văn hóa nhà trường trung học cơ sở Thành phố Hồ Chí Minh (Luận

án Tiến sĩ) Học viện Khoa học Xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam

23

Nguyễn Duy Phấn “Văn hóa ứng xử của sinh viên một số trường cao đẳng kĩ thuật trong giai đoạn hội nhập hiện

nay – Thực trạng và Khuyến nghị”.Tạp chí Giáo dục số đặc biệt, Kỳ 3 tháng 6/2016.

Trang 33

Trong công tác giảng dạy, ứng xử của người thầy là vô cùng quan trọng vì nó thể hiện được uy tín và trí tuệ đối với người học, có như vậy thì công tác giáo dục mới đem lại hiệu quả Việc ứng xử của người thầy gồm nhiều khía cạnh và phức tạp, đó là một quá trình sử dụng linh hoạt, sáng tạo những kiến thức sư phạm trong quá trình giáo dục, ứng

xử với học sinh được gọi là nghệ thuật sư phạm

Ứng xử của người thầy cũng bị ảnh hưởng rất lớn bởi ứng xử chung của người học Người Việt Nam có truyền thống "Tôn sư trọng đạo", chính vì thế mà thể hiện sự kính trọng và biết ơn các thầy cô giáo được thể hiện qua việc ứng xử đúng mực trong thời gian học tập là một trong những nội dung cơ bản mà người học ở bất kỳ cấp độ nào cũng được dạy bảo, nhắc nhở

Thứ hai, xét về ứng xử giữa thầy với thầy Tác giả Lê Thị Bừng & Hải Vang (1997)

trong cuốn Tâm lý học ứng xử cũng chỉ rõ rằng quan hệ giữa thầy giáo với thầy giáo trong

nhà trường là quan hệ đồng nghiệp, do vậy trong ứng xử với đồng nghiệp cần có những nguyên tắc cơ bản như tôn trọng, bình đẳng, trách nhiệm và hòa hợp, Những nguyên tắc này được thể hiện ở cách xưng hô trong sinh hoạt chuyên môn, sinh hoạt tập thể và trong công tác giảng Trong một ngôi trường, đội ngũ giáo viên là một tập thể không cùng độ tuổi, kinh nghiệm, chuyên môn và điều kiện sống, nhưng trong phân công công tác, trong đánh giá và đánh giá cần thể hiện sự bình đẳng Những sự tương tác thông qua việc giúp

đỡ, tôn trọng giờ giấc, chia sẻ khó khăn với nhau một cách cởi mở chân tình được xem là cần thiết để giúp người thầy giáo thực hiện nghĩa vụ và chức năng của mình

Thứ ba xét về ứng xử giữa những người học (Sinh viên - Sinh viên, Học sinh - học sinh) Mối quan hệ giữa những người học với nhau thường là quan hệ bạn bè, có mục đích

cơ bản chung là học tập sao cho đạt kết quả tốt Nhìn chung các mối quan hệ này là bình đẳng, vô tư, ít vụ lợi Để gây dựng và duy trì tốt quan hệ bạn học cần phải tuân theo các quy tắc ứng xử chung như: tôn trọng lẫn nhau; quan tâm, giúp đỡ nhau trong học tập và

Trang 34

27

cuộc sống; giao tiếp cởi mở, chân tình; quan tâm, thăm hỏi theo đúng lễ nghi của văn hóa địa phương; tế nhị góp ý, Đặc biệt trong một tập thể lớn cần chú ý đến tinh thần đoàn kết

Bên cạnh đó, văn hóa ứng xử trong giáo dục có liên quan mật thiết đến "văn hóa nhà trường" Có nhiều cách tiếp cận nội hàm của văn hóa nhà trường, song cũng theo Nguyễn Duy Phấn (2016) có thể hiểu "Văn hóa nhà trường là hệ thống niềm tin, giá trị, chuẩn mực, thói quen và truyền thống hình thành trong quá trình phát triển của nhà trường, được các thành viên trong nhà trường thừa nhận, làm theo và được thể hiện trong các hình thái vật chất và tinh thần, từ đó tạo nên bản sắc riêng cho mỗi tổ chức sư phạm".(tr.99)16

Như vậy có thể nhận định rằng mỗi một nhà trường đều có "văn hóa nhà trường" của riêng mình

Xét về trường hợp Đại học Khoa học xã hội Nhân văn - một trường thành viên của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, văn hóa nhà trường được hình thành và phát triển qua hơn 60 năm, mang những đặc điểm vô cùng riêng biệt Là một trong những trọng điểm nghiên cứu khoa học xã hội của cả nước, thêm vào đó với tính chất đặc trưng của các ngành đào tạo, nhìn chung “Văn hóa Nhân văn” được nhận xét tích cực với nhiều

ưu điểm, đặc biệt là trong văn hóa ứng xử Dưới đây là một số đặc trưng mà nhóm nghiên cứu dựa trên phương pháp quan sát để mô tả về văn hóa ứng xử trong môi trường Nhân văn

Về lời nói: giao tiếp trong hoạt động tập thể rõ ràng, lưu loát, cách sử dụng ngôn từ linh hoạt, thường sử dụng song song tiếng Việt và một ngoại ngữ đi kèm (ứng với đặc điểm có nhiều ngành đào tạo ngoại ngữ)

Về thái độ: cư xử chừng mực, lễ độ nhưng thân thiện, gần gũi; chủ động và tích cực

để hòa nhập trong môi trường đa văn hóa

Về hành vi, cử chỉ: sử dụng ngôn ngữ cơ thể linh hoạt, “ăn nhẹ nói khẽ” trong môi trường lịch sự (ứng với đặc điểm có nhiều sinh viên nữ)

Về tác phong: nghiêm túc, trang phục sinh viên tự do nhưng đảm bảo phù hợp với môi trường giáo dục, trang phục giảng viên lịch sự, mang tính truyền thống (áo dài, ), có quy định cho đội ngũ cán bộ công nhân viên, quan niệm về giờ giấc không quá nghiêm khắc,

Trang 35

28

Cung cách ứng xử vì thế cũng đạt được tính chất linh hoạt, vừa nhã nhặn lịch sự thể hiện văn hóa truyền thống; vừa năng động, sáng tạo để thích ứng với môi trường giáo dục mang tính quốc tế của trường trong thời đại hội nhập hiện nay

Bên cạnh văn hóa nhà trường, văn hóa của từng khoa - bộ môn cũng được phát triển mạnh mẽ, cụ thể và riêng biệt theo tính chất chuyên ngành, đặc biệt là đối với các ngành ngoại ngữ, văn hóa các nước trong và ngoài khu vực như: Hàn Quốc học, Úc học, Nhật Bản học, Việt Nam học,

Cụ thể Khoa Nhật Bản học, chương trình đào tạo hướng đến việc cung cấp cho sinh viên những kiến thức và kỹ năng để tiếp tục nghiên cứu và làm việc thành công trong các

tổ chức có yếu tố Nhật Bản hay của Nhật Bản, nên môi trường học tập được thiết kế nhằm tăng cường sự tiếp xúc của sinh viên với văn hóa Nhật Bản thông qua con người Nhật Bản – cụ thể là những giảng viên bản xứ Những hoạt động giao lưu và tương tác giữa sinh viên và các giảng viên người Nhật Bản góp phần tạo nên những ảnh hưởng qua lại,

từ đó dẫn đến những thay đổi trong cách suy nghĩ, thái độ, hành vi giao tiếp và ứng xử giúp dung hòa những điểm khác biệt giữa văn hóa ứng xử của người Việt Nam và người Nhật Bản trong một môi trường đặc thù – môi trường giáo dục Vì vậy, ở từng khoa hình thành và phát triển các quy tắc ứng xử mang đặc trưng của từng ngành đào tạo, tạo cơ sở giúp nhận diện giữa giảng viên và sinh viên các ngành đào tạo về văn hóa và ngôn ngữ với nhau Bên cạnh đó, các giảng viên người Nhật trong quá trình làm việc giảng dạy tại Khoa Nhật Bản học đã dần điều chỉnh các ứng xử sao cho phù hợp với đặc điểm tâm lý của đối tượng người học, đặc trưng văn hóa của cơ sở, và của văn hóa Việt Nam Sự điều chỉnh qua lại này chính là biểu hiện rõ ràng của quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóa diễn ra trong môi trường giáo dục

1.5 Văn hóa ứng xử của giảng viên người Nhật trong môi trường giáo dục

1.5.1 Đặc trưng văn hóa ứng xử của người Nhật

Theo tác giả Nguyễn Thị Hồng Thu (2005), “Văn hóa ứng xử Nhật Bản vừa mang những đặc điểm chung của khu vực và thế giới vừa có những nét độc đáo và đặc sắc riêng

Trang 36

dù Nhật Bản không ngừng học hỏi từ các nước khác, nhưng những nét văn hóa truyền thống của họ không hề mất đi, ngược lại còn ngày càng được củng cố và phát triển mạnh

mẽ Có thể thấy trong lối ứng xử với truyền thống dân tộc, có một Nhật Bản vừa hiện đại, vừa truyền thống, vừa phát triển không ngừng theo hướng hiện đại, vừa bảo tồn và trân quý những giá trị tốt đẹp

Do tính thống nhất về chủng người và địa lý, văn hóa Nhật Bản cũng mang tính thống nhất và con người xứ sở phù tang cũng có tính cộng đồng rất cao, tính kỷ luật chặt chẽ và một tinh thần tự hào dân tộc đôi khi mang tính cực đoan Do ảnh hưởng của đạo Phật, họ luôn sống giàu lòng nhân ái, sẻ chia và nhẫn nhịn Điển hình cho nét tính cách này chính là sự tương thân tương ái cứu trợ lẫn nhau khi gặp phải thiên tai Trong văn hóa ứng xử của người Nhật, theo Tâm lý học ứng xử, người Nhật khá khó đoán bởi họ luôn cư

xử niềm nở dù có thích hay không Khi chào, họ sẽ cúi gập người, luôn đề cao sự lịch sự Ngoài ra, họ còn luôn khiêm tốn, khá chú ý màu sắc trong ăn mặc (kị áo sẫm màu) và rất

vệ sinh Họ cũng rất độ lượng, không để bụng nếu người mắc lỗi thành thật xin lỗi,…(Lê Thị Bừng & Hải Vang, 1997) 10

Trong luận án của mình, tác giả Nguyễn Thị Hồng Thu (2005) có viết: “Trong tính cách người Nhật có những nét đặc trưng riêng như: khả năng kiềm chế cá nhân cao, tế nhị, khiêm nhường, nhã nhặn, kín đáo và rất tránh xung đột, dù được khen ngợi cũng không thể hiện sự mãn nguyện…”(tr.57)1

Người Nhật còn tôn trọng thứ bậc trong xã hội đến mức tối đa Trong lối ứng xử, những nét tính cách này được thể hiện rất rõ qua một loạt

24

Nguyễn Thị Hồng Thu (2005) Tục ngữ Nhật Bản về văn hóa ứng xử (Có so sánh với Việt Nam)-(Luận án Tiến

sĩ) Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội

Trang 37

Lễ phép, lịch sự được xem là đặc trưng nổi bật trong văn hóa ứng xử của người Nhật trong cái nhìn khách quan của người nước ngoài, có thể tạm gọi đây là tính cách dân tộc

Vì vậy, bất cứ hành vi ứng xử nào của người dân Nhật Bản đều mang dấu ấn của sự lịch

sự, lễ phép

Bên cạnh đó, ý thức tôn trọng thứ bậc cũng được lồng ghép vào trong tính chất lễ phép, lịch sự của người Nhật, biểu hiện rõ rệt qua cách xưng hô, chào hỏi, nói năng giữa con người với con người trong xã hội Người Nhật có một hệ thống kính ngữ, khiêm nhường ngữ, các quy định về tác phong khi chào hỏi, để phân biệt rõ ràng vai trò của người giao tiếp như: giữa cấp trên và nhân viên, giữa nam và nữ, giữa người lớn tuổi và người nhỏ tuổi, giữa tiền bối (senpai) và hậu bối (kouhai), Một người trong xã hội luôn thuộc về nhiều nhóm tổ chức khác nhau, vì vậy để định rõ các mối quan hệ trong các tổ chức đó để ứng xử cho thích hợp, văn hóa Nhật Bản phân định rõ hai khái niệm “uchi” và

“soto” “Uchi” tạm hiểu là nhóm tổ chức (nhóm, công ty, gia đình, ) mà bản thân thuộc

về và “soto” là những người, nhóm tổ chức bên ngoài Rõ ràng có thể thấy “uchi” là nhóm

tổ chức có quan hệ thân thuộc hoặc lệ thuộc với người giao tiếp, vì vậy họ cố giữ một nguyên tắc mang tính trật tự đối với “uchi” Mặt khác người Nhật lại không chú trọng nhiều đến những yếu tố thuộc về “soto”, biểu hiện rõ nhất có thể thấy là người Nhật thường ít giao tiếp với nhau tại những môi trường công cộng tập trung nhiều nhóm người khác nhau như: nhà ga, trạm chờ xe buýt, bệnh viện, Khi có dịp giao tiếp với người lạ, người Nhật thường giữ thái độ lịch sự thông thường Văn hóa cư xử dựa trên sự phân biệt

“Uchi” và “Soto” không chỉ thể hiện qua mối quan hệ giữa gia đình mình với gia đình khác, công ty mình với công ty khác mà còn diễn ra trong phạm vi rộng lớn hơn, kể cả giữa người Nhật với người nước ngoài

25

Đặng Thị Phương Nguyên (6/2003) Tìm hiểu văn hóa giao tiếp của người Nhật (Khóa luận tốt nghiệp) Đại học

Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 38

Sự mơ hồ, không rõ ràng trong lời nói và thái độ của người Nhật cũng là một đặc trưng gây khó hiểu trong giao tiếp, và là rào cản cho những ai có thiện chí muốn rút ngắn khoảng cách với người Nhật Mục đích được ưu tiên hàng đầu của giao tiếp chính là giữ hòa khí, thể diện cho bản thân cũng như cho người đối thoại Tiếp đó nội dung giao tiếp được thể hiện không hoàn toàn ngay tại bề mặt lời nói mà nằm trong những ẩn ý, trong diễn biến của cuộc trao đổi Người Nhật cũng thường đưa cuộc trò chuyện đi vòng vo xung quanh bản chất vấn đề để người đối thoại có thể tự suy luận và hiểu ra nội dung giao tiếp Cách ứng xử khéo léo, tế nhị này giúp tránh được những gay gắt nảy sinh, giữ được hòa khí và tạo hiệu quả thuyết phục tuyệt đối Đặc trưng này được biểu hiện qua việc tránh nói không hay nói bỏ lửng không dứt câu một cách thẳng thừng để tôn trọng và cố làm hài lòng cho đối phương

Cuối cùng là Tatemae và Honne Đây là tên gọi của hai lối giao tiếp trái ngược nhau của người Nhật Tatemae là lối nói bề ngoài và Honne là lối nói thật lòng Vì nhiều lý do khác nhau mà trong một số tình huống người ta đưa ra những lời nói khác với suy nghĩ thật của mình Tiêu chuẩn xã hội truyền thống Nhật Bản nhấn mạnh sự đoàn kết tập thể và mối quan hệ tốt đẹp giữa con người với con người, nên ý kiến cá nhân phải được kiềm chế để tránh sự đối lập hay xung đột Tác giả Đặng Thị Phương Nguyên (2003) viết:

“Trước tập thể, ở nơi làm việc, trước mặt mọi người phải là lối nói Tatemae Người nói phải làm sao để giữ thể diện cho mình và người nghe, cảm xúc là cái cần phải kìm nén Chỉ khi nói với người thân thiết hay sau giờ làm việc, người Nhật mới cho phép mình tự

Trang 39

32

do được biểu lộ những tâm trạng, cảm xúc thật của mình, đó gọi là lối nói Honne Kết quả

là trong xã hội, ta khó thấy và hiểu rõ suy nghĩ, tình cảm thật của đối phương Với mọi người, sự khác biệt giữa Tatemae và Honne có vẻ như giả dối, không thật nhưng đối với người Nhật đó là một tiêu chuẩn xử thế, họ không xem đó là trở mặt mà chỉ đơn thuần tin rằng phải duy trì lối nói tatemae để giữ thể diện cho người khác và tôn trọng tập thể.” (tr.15) Có thể nói, văn hóa ứng xử của người Nhật vừa mang đậm nét thâm trầm phương Đông trong gìn giữ nét văn hóa riêng; vừa hiện đại, linh hoạt trong giao thoa văn hóa Trong xã hội Việt Nam, theo giáo sư Lê Thi (2015), văn hóa ứng xử của nước ta rất coi trọng việc xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa người với người “Lời chào cao hơn mâm cỗ” – ông cha ta luôn đề cao việc chào hỏi, ứng xử lịch sự, có phép tắc, sống có nghĩa có tình, ai đối tốt với mình thì nhất định không được quên nghĩa tình đó mà phải đối tốt lại (lối ứng xử duy tình) Trong quá trình đất nước hội nhập và phát triển, những nét văn hóa tốt đẹp trong cách ứng xử của người Việt Nam cần được gìn giữ và lưu truyền.26

Như vậy, có thể thấy điểm chung trong văn hóa ứng xử của người Nhật và người Việt Nam chính là đề cao việc chào hỏi và sự lịch sự trong giao tiếp, ứng xử với nhau

1.5.2 Đặc trưng văn hóa ứng xử của giảng viên người Nhật trong môi trường giáo dục

Dưới tác động của sự giao lưu và tiếp biến văn hóa đã nêu trên, cũng như chịu ảnh hưởng của văn hóa nhà trường, văn hóa đặc trưng của ngành đào tạo mà nhìn chung văn hóa ứng xử của người Nhật trong môi trường giáo dục đã hình thành nên những đặc trưng riêng Ở đây, nhóm nghiên cứu xin được đưa ra một cách sơ lược một vài đặc trưng cơ bản nhất trong văn hóa ứng xử của giảng viên người Nhật Bản trong môi trường giáo dục đại học, cụ thể là tại Khoa Nhật Bản học - Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh như sau:

- Vì tính chất công việc của các giảng viên người Nhật tại Khoa là giảng dạy ngoại ngữ, nên họ sử dụng nhiều thao tác ngôn ngữ cơ thể để sinh viên dễ nắm bắt nội dung muốn truyền tải Ánh mắt của họ luôn hướng đều đến tất cả các sinh viên trong lớp chứ không tập trung tại một điểm, nét mặt vui vẻ và luôn nở nụ cười để giờ học không trở nên nặng nề Khi trao đổi với sinh viên hoặc các giảng viên đồng nghiệp, ánh mắt và gương

26

Lê Thi (2015) Văn hóa ứng xử của người Việt Nam hiện nay Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 11

Trang 40

- Khi đến trường, họ luôn giữ tác phong nghiêm chỉnh, dứt khoát; trang phục luôn lịch sự và giản dị, phù hợp với môi trường giáo dục Họ giữ quan hệ hòa nhã với đồng nghiệp, tôn trọng thứ bậc trong đơn vị công tác, và cũng rất trọng các lễ nghi chào hỏi giữa giảng viên - sinh viên, sinh viên - sinh viên Đặc điểm này cũng là nét chung, là điều luôn được coi trọng trong văn hóa ứng xử ở môi trường giáo dục của người Việt Nam và người Nhật Bản

- Đối với văn hóa Việt Nam nói chung và văn hóa nhà trường nói riêng, các giảng viên người Nhật tại Khoa luôn thể hiện sự chủ động tiếp nhận, học hỏi và cố gắng thích nghi dưới nhiều hình thức như: học tiếng Việt; tìm hiểu về tình hình kinh tế - chính trị -

xã hội của đất nước; tham gia các hoạt động giao lưu văn hóa Việt - Nhật trong và ngoài trường, các hoạt động chung hay các lễ kỷ niệm lớn của Khoa hoặc của nhà trường; Họ cũng rất hòa nhã, thân thiện và tạo dựng được mối quan hệ tích cực, thân thiết với nhiều sinh viên và giảng viên đồng nghiệp, từ đó có nhiều thời gian giao lưu, gặp gỡ, kết bạn với sinh viên hay giảng viên Việt Nam ở bên ngoài phạm vi lớp học

Nhìn chung, ứng xử của người Nhật trong môi trường giáo dục tại Việt Nam vẫn giữ nguyên được các nguyên tắc cơ bản so với ứng xử của họ trong môi trường giáo dục tại Nhật Bản, tuy vậy việc thực hiện công tác giảng dạy tại nước ngoài cũng như việc thay đổi môi trường sống, thay đổi tâm tính theo độ tuổi, kinh nghiệm sống cũng đã tác động không nhỏ đến cách văn hóa ứng xử của họ

Ngày đăng: 18/04/2021, 23:14

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w