1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự chuyển biến từ chế độ độc tài sang chế độ dân chủ ở indonesia (từ 1967 đến nay)

152 32 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 152
Dung lượng 4,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh đó, trong công trình nghiên cứu này tác giả cũng đã trình bày về quá trình quá độ từ chế độ dân chủ - đại nghị đến chế độ độc tài và các nguyên nhân gây nên khủng khoảng tài chí

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THỊ PHƯƠNG LINH

SỰ CHUYỂN BIẾN TỪ CHẾ ĐỘ ĐỘC TÀI SANG CHẾ ĐỘ DÂN CHỦ Ở INDONESIA

(TỪ 1967 ĐẾN NAY)

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Chuyên ngành: Lịch sử thế giới

Thành phố Hồ Chí Minh – năm 2020

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THỊ PHƯƠNG LINH

SỰ CHUYỂN BIẾN TỪ CHẾ ĐỘ ĐỘC TÀI SANG CHẾ ĐỘ DÂN CHỦ Ở INDONESIA

Trang 3

luận văn này là trung thực và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào khác

Học viên thực hiện Luận văn

Nguyễn Thị Phương Linh

Trang 4

nói chung và Bộ môn Lịch sử thế giới nói riêng của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh vì đã truyền đạt những kiến thức, phương pháp học tập và nghiên cứu cho tôi trong suốt thời gian học cao học tại đây

Đặc biệt, để hoàn thành luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và lời cảm ơn chân thành đến PGS.TS Hoàng Văn Việt, người trực tiếp hướng dẫn luận văn, đã tận tình chỉ bảo, góp ý cũng như đã luôn động viên, khích lệ tôi trong thời gian học tập và hoàn thành luận văn từ những ý tưởng ban đầu cho tới khi hoàn thành

Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đến TS Nguyễn Thanh Tuấn đã hỗ trợ và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và làm việc tại Bộ môn Indonesia học

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Khoa Đông phương học, là nơi tôi công tác và học tập, đã động viên và tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã luôn động viên, tạo mọi điều kiện cho tôi học tập và hoàn thành luận văn

TP Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 05 năm 2020

Học viên thực hiện

Nguyễn Thị Phương Linh

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU… 6

1 Lý do chọn đề tài 6

2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 7

2.1 Ý nghĩa khoa học 7

2.2 Ý nghĩa thực tiễn 8

3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 9

3.1 Công trình nghiên cứu về đất nước và lịch sử Indonesia 9

3.2 Công trình nghiên cứu về chế độ độc tài ở Indonesia 11

3.3 Công trình nghiên cứu về sự phát triển chính trị từ độc tài đến dân chủ

ở Indonesia 13

4 Mục đích nghiên cứu 17

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 17

5.1 Đối tượng nghiên cứu 17

5.2 Phạm vi nghiên cứu 17

6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu 18

6.1 Phương pháp nghiên cứu 18

6.2 Nguồn tài liệu 19

7 Bố cục đề tài 19

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 21

1.1 Các quan niệm về chế độ độc tài và dân chủ 21

1.1.1 Chế độ độc tài – một hình thái quản lý tập trung quyền lực 21

1.1.2 Quan niệm về chế độ dân chủ 24

1.2 Indonesia – đất nước “thống nhất trong đa dạng” 30

1.2.1 Đất nước – con người 30

1.2.2 Sơ lược lịch sử Indonesia 34

Tiểu kết chương 1 42

CHƯƠNG 2: TRẬT TỰ MỚI - MÔ HÌNH ĐỘC TÀI QUÂN SỰ Ở INDONESIA……… 41

2.1 Quá trình xác lập chế độ “Trật tự mới” 43

2.1.1 Sự ra đời của nền dân chủ chỉ đạo 43

Trang 6

2.1.2 Cuộc đảo chính quân sự 1965 – 1967 46

2.1.3 Sự xác lập chế độ “Trật tự mới” 48

2.2 Tình hình kinh tế, chính trị - xã hội của Indonesia dưới thời kỳ "Trật tự mới" 46

2.2.1 Kinh tế 49

2.2.2 Chính trị - xã hội 56

2.3 Hoạt động đối ngoại dưới thời kỳ “Trật tự mới” 60

2.3.1 Trong khu vực 61

2.3.2 Quốc tế 64

2.4 Sự khủng hoảng và sụp đổ của chế độ “Trật tự mới” 68

2.4.1 Sự suy thoái của nền kinh tế 68

2.4.2 Sự bất ổn định của xã hội 70

2.4.3 Sự tan rã của chế độ cầm quyền 71

Tiểu kết chương 2 72

CHƯƠNG 3: SỰ XÁC LẬP VÀ CỦNG CỐ NỀN TẢNG DÂN CHỦ

Ở INDONESIA TỪ 1998 ĐẾN NAY 75

3.1 Những biện pháp cấp bách ổn định xã hội 75

3.2 Củng cố hệ thống quyền lực chính trị 78

3.2.1 Hệ thống các cơ quan nhà nước 78

3.2.2 Mở rộng không gian hoạt động của đảng chính trị 89

3.3 Dân chủ hóa đời sống xã hội 91

3.3 Khuyến khích phát triển kinh tế tư bản chủ nghĩa hiện đại 95

3.4 Giải quyết vấn đề xung đột sắc tộc – hòa hợp và hòa giải 98

3.5 Chính sách đối ngoại – mở rộng, liên kết, hòa bình và hữu nghị 100

Tiểu kết chương 3 103

KẾT LUẬN ……… 105

TÀI LIỆU THAM KHẢO 108 PHỤ LỤC

Trang 7

GOLKAR Partai Golongan Karya Đảng các nhóm sự nghiệp

(Đảng Golkar) IMF International Monetary Fund Quỹ tiền tệ quốc tế

Kodam Komado Daerah Militer Bộ tư lệnh quân khu

KONTRAS Komisi Untuk Orang Hilang Dan

Korban Tindak Kekerasan

Ủy ban vì những nạn nhân bị mất tích và bị bạo hành

MPR Majelis Permusyawaratan Rakyat Hội đồng hiệp thương nhân dân MPRS Majelis Permusyawaratan Rakyat

Trang 8

PKI Partai Komunis Indonesia Đảng cộng sản Indonesia PPP Partai Perjuangan Pembangunan Đảng thống nhất phát triển

Compagnie

Công ty Đông Ấn Hà Lan

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong những năm gần đây, vấn đề dân chủ luôn nhận được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu và bình luận chính trị - xã hội Vào những năm 70-80 thế kỷ trước, nhiều nước phương Đông thực hiện việc chuyển đổi sang dân chủ Quá trình dân chủ hóa được xem như là một quá trình chính trị tất yếu xảy ra sau sự tan rã của cấu trúc quyền lực chính trị tập trung- chế độ độc tài Là đất nước vạn đảo lớn nhất thế giới với dân số đông, đa sắc tộc và đa tôn giáo, trải qua một quá trình lịch sử lâu dài, Indonesia cuối cùng đã thành công trong việc thực hiện chuyển mình từ một nước độc tài ngự trị và đang trở thành một nhà nước dân chủ lớn trên thế giới

Sau khi giành được độc lập, Indonesia lựa chọn xây dựng đất nước theo mô hình Dân chủ Nghị viện vay mượn từ phương Tây Tuy nhiên, nền dân chủ này nhanh chóng bị sụp đổ do còn non trẻ về chính trị, pháp luật và không đủ sức để thực hiện các mô hình phát triển kinh tế, xã hội Những bất ổn về chính trị, xã hội dẫn đến cuộc đảo chính vào năm 1965, Suharto lên nắm quyền và chính thức trở thành tổng thống thứ hai của Indonesia vào năm 1967 Sau khi lên cầm quyền, Suharto đã đặt tên cho thời kì trị vì của mình là chế độ “Trật tự mới” để phân biệt với chế độ “Trật tự cũ” của Sukarno Hơn 30 năm thống trị, qua 6 nhiệm kì, Suharto thực hiện chế độ độc tài, tham nhũng và mô hình gia đình trị do đó càng ngày ông càng bị mất niềm tin ở người dân Đỉnh điểm là vào năm 1997, cuộc khủng hoảng kinh tế diễn ra khiến Indonesia rơi vào tình trạng hỗn loạn Từ đó dẫn đến sự phẫn nộ và bất bình của nhân dân, nhiều cuộc biểu tình bùng nổ buộc Suharto phải từ chức vào ngày 21/5/1998

Sau khi Suharto từ chức, Tổng thống Habibie kế nhiệm và bắt đầu tiến hành thực hiện nhiều cuộc cải cách Cuộc cải cách chính trị của Tổng thống Habibie vào năm 1998 tuy ngắn nhưng nó đánh dấu mốc quan trọng đối với chặng đường lịch sử Indonesia nói chung và con đường dân chủ của Indonesia nói riêng Bởi đây là cột mốc chấm dứt chế độ độc tài, chấm dứt trên 30 năm thực hiện mô hình “Trật tự mới” của Tổng thống Suharto Indonesia chuyển đổi từ hệ thống chính quyền tập trung sang mô hình phân quyền Sau khi nền tảng dân chủ được thiết lập, Indonesia vẫn

Trang 11

tiếp tục củng cố chế độ dân chủ ở trong nước dù nhiều vấn đề chính trị nổi lên và phải trải qua nhiều cuộc hỗn loạn trong nước, có nguy cơ bị chia rẽ đất nước nhưng cuối cùng Indonesia đã thành công vượt qua những khó khăn đó để trở thành một nhà nước dân chủ lớn và có số tín đồ Islam giáo lớn nhất trên thế giới

Với đề tài “Sự chuyển biến từ chế độ độc tài sang chế độ dân chủ ở Indonesia (từ 1967 đến nay)” chúng tôi mong muốn có thể nghiên cứu và tìm hiểu

được quá trình phát triển chính trị ở Indonesia từ một nước độc tài để trở thành một quốc gia có nền dân chủ lớn trên thế giới Bên cạnh đó, đây cũng được xem là một cột mốc lịch sử quan trọng của Indonesia nên qua bài nghiên cứu này chúng tôi hy vọng sẽ cung cấp thêm thông tin về lịch sử, chính trị Indonesia cho những ai muốn quan tâm về đất nước này

2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

2.1 Ý nghĩa khoa học

Thứ nhất, mô hình chuyển đổi từ chế độ độc tài sang chế độ dân chủ ở Indonesia là bước phát triển tất yếu của sự vận động chính trị phù hợp với quy luật tiến hóa xã hội Kiến trúc thượng tầng và cơ sở hạ tầng có mối quan hệ biện chứng khăng khít trong sự vận động thường xuyên và liên tục Nếu kiến trúc thượng tầng phù hợp với cơ sở hạ tầng thì sẽ thúc đẩy xã hội phát triển, còn nếu kiến trúc thượng tầng không phù hợp với cơ sở hạ tầng thì ngược lại nó sẽ kìm hãm sự phát triển của

xã hội, tạo ra các mâu thuẫn và đẩy xã hội lấn sâu vào khủng hoảng trầm trọng Do

đó, kiến trúc thượng tầng đóng vai trò quan trọng (thậm chí quyết định trong một số trường hợp đối với sự phát triển của xã hội)

Thứ hai, do đặc thù về văn hóa chính trị, đặc biệt là ở xã hội phương Đông, chế độ độc tài gần như là một loại hình quản lý xã hội tất yếu Độc đoán chuyên quyền

là sản phẩm tất yếu của quá trình chính trị (như chế độ độc tài ở Myanmar, Hàn Quốc, Philippines) Ở mỗi nước khác nhau, chế độ độc tài đã phát huy được vai trò tích cực trong việc giải quyết thành công các nhiệm vụ kinh tế xã hội (ở Hàn Quốc, Singapore) Tuy nhiên, kết cục mô hình độc tài cũng dần dần tỏ ra lỗi thời và trở thành vật cản

Trang 12

của xã hội, kìm hãm sự tiến bộ của xã hội và tất yếu dẫn đến sự diệt vong, sụp đổ, nhường chỗ cho một trật tư mới tiến bộ hơn đó là chế độ dân chủ

Thứ ba, trong lịch sử phát triển xã hội của nhân loại, loài người có thể tìm kiếm và lựa chọn nhiều con đường phát triển khác nhau Cách mạng xã hội là bước ngoặt làm đảo lộn và thay đổi căn bản nền tảng kinh tế xã hội, chính trị của xã hội cũ được thay thế bằng một hình thái quản lý nhà nước mới tiến bộ hơn Tuy nhiên, kinh nghiệm các nước phương Đông và ở nhiều nước khác nữa, như Nhật Bản, không phải bằng các cuộc cách mạng xã hội mà có thể bằng các cuộc cải cách đã làm thay đổi căn bản xã hội, đặt tiền đề đưa nước này bước vào xây dựng một hình thái kinh tế xã hội mới

Như vậy, việc tìm hiểu về bước chuyển biến từ chế độ độc tài sang chế độ dân chủ ở Indonesia góp phần làm rõ hơn quá trình dân chủ hóa ở Indonesia nói riêng và

ở các nước đang phát triển nói chung

2.2 Ý nghĩa thực tiễn

Trong xu thế hội nhập Cộng đồng ASEAN như hiện nay, quan hệ ngoại giao kinh tế cũng như ngoại giao văn hóa, chính trị giữa Việt Nam và Indonesia ngày càng được củng cố và phát triển thì việc tìm hiểu về lịch sử chính trị Indonesia sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về đất nước vạn đảo này và tạo được mối quan hệ tốt đẹp giữa hai quốc gia, góp phần vào công cuộc hội nhập của Việt Nam với khu vực và thế giới

Bên cạnh đó, việc nghiên cứu về Indonesia nói chung và nghiên cứu về bước chuyển biến từ chế độ độc tài sang chế độ dân chủ ở Indonesia vẫn còn khá ít công trình nghiên cứu Chính vì vậy, luận văn sẽ đóng góp một phần vào việc cung cấp nguồn tài liệu phục vụ cho nghiên cứu, tìm hiểu về tình hình lịch sử, chính trị của Indonesia, của các nước phương Đông, cũng như về chế độ độc tài và chế độ dân chủ

ở Indonesia

Về phương diện cá nhân, là một người nghiên cứu về Indonesia và lịch sử thế giới, việc nghiên cứu đề tài này giúp tôi hiểu rõ hơn về lịch sử Indonesia cũng như hệ thống chính trị của nước này

Trang 13

3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Sự chuyển biến từ chế độ độc tài sang chế độ dân chủ ở Indonesia là một dấu mốc quan trọng đối với lịch sử Indonesia Cho đến hiện nay đã có một số công trình viết về vấn đề dân chủ, chế độ độc tài và thời kì “Trật tự mới” ở Indonesia nhưng vẫn còn khá ít đề tài viết cụ thể về quá trình chuyển biến từ chế độ độc tài đến dân chủ ở Indonesia từ năm 1967 đến nay Dưới đây là một số công trình có liên quan do các học giả trong nước và nước ngoài viết

3.1 Công trình nghiên cứu về đất nước và lịch sử Indonesia

Huỳnh Văn Tòng (1992) với cuốn sách Lịch sử Indonesia (từ thế kỷ XV – XVI

đến những năm 1980) đã viết về hai vấn đề chính đó là lịch sử Indonesia từ thời kì

cận đại từ thế kỷ XV-XVI đến năm 1917 và thời kỳ hiện đại từ năm 1917 đến những năm của thập niên 1980 Ở giai đoạn cận đại tác giả đã phân tích Indonesia trong những buổi đầu của thời kỳ thuộc địa, chịu áp bức thống trị của thực dân Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và Hà Lan Ở thời kỳ hiện đại, tác giả tập trung viết về quá trình giải phóng dân tộc của người dân Indonesia khỏi tay quân đội Nhật Bản và Hà Lan Bên cạnh đó, ông cũng trình bày về lịch sử Indonesia từ sau khi giành được độc lập cho tới những năm đầu của thời kỳ “Trật tự mới”

Cuốn sách Inđônêxia Những chặng đường lịch sử của tác giả Ngô Văn Doanh

(1995) đã phác họa sơ lược về những đặc điểm văn hóa của Indonesia cũng như tác giả đã khái quát về lịch sử của Indonesia kể từ khi xuất hiện những vương quốc đầu tiên cho đến thời kỳ “Trật tự mới” Theo ông, Indonesia là quốc gia có lịch sử lâu đời

và là nơi xuất hiện loài người đầu tiên Bên cạnh đó, Indonesia còn là cảng thương mại cung cấp hương liệu quan trọng của thế giới nên nó trở thành “con mồi” của các nước thực dân Kể từ sau các cuộc giải phóng dân tộc, cuối cùng Indonesia giành độc lập vào ngày 17/08/1945 dưới sự dẫn dắt của Tổng thống Suharto cho tới năm 1966 Vào năm 1967, chế độ độc tài quân sự “Trật tự mới” được thiết lập

Các quan hệ chính trị ở phương Đông lịch sử và hiện đại của tác giả Hoàng

Văn Việt (2009) đã phân tích khái quát về chính trị và văn hóa chính trị ở một số nước ở phương Đông như Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Việt Nam, Philippines,

Trang 14

Indonesia Tác giả viết về hệ thống chính trị của những nước này, về tình hình cải cách, cách mạng, đảo chính Bên cạnh đó, trong công trình nghiên cứu này tác giả cũng đã trình bày về quá trình quá độ từ chế độ dân chủ - đại nghị đến chế độ độc tài

và các nguyên nhân gây nên khủng khoảng tài chính – tiền tệ ở các nước Đông Nam

Á Đặc biệt là chế độ độc tài dưới thời kì “Trật tự mới” của Suharto ở Indonesia cũng được tác giả phân tích, tuy nhiên vẫn chưa chi tiết

Công trình Sejarah Indonesia Modern 1200 - 2008 (tạm dịch: Lịch sử

Indonesia hiện đại 1200 – 2008) của tác giả M.C Ricklefs (2008) đã phác họa sự hình thành của lịch sử Indonesia hiện đại kể từ khi Islam giáo bắt đầu xuất hiện ở Indonesia, cùng với đó là sự đặt chân của những người phương Tây ở xử sở vạn đảo này Tác giả đã khái quát quá trình xâm lược Indonesia của các nước thực dân và quá trình giành độc lập của người dân Indonesia để có thể thoát khỏi ách thống trị của thực dân Bồ Đào Nha, Hà Lan, Nhật Bản và trở thành một Indonesia thống nhất Ở giai đoạn sau khi giành được độc lập, tác giả đã trình bày về thử nghiệm dân chủ lần đầu tiên ở Indonesia, nền dân chủ chỉ đạo, quá trình hình thành và sụp đổ của chế độ

“Trật tự mới” và cuối cùng là tình hình cải cách dân chủ ở Indonesia từ 1998 đến

2004

Bên cạnh đó cũng có các công trình viết khái quát chung về lịch sử Indonesia

như công trình Đối thoại với các nền văn hóa Indonesia của Nhà xuất bản Trẻ, công trình Lịch sử Đông Nam Á của tác giả D.G.E Hall (1997), công trình Lịch sử Đông

Nam Á của tác giả Lương Ninh (2005) Nhìn chung, có khá nhiều các công trình

nghiên cứu về đất nước Indonesia cũng như về lịch sử của Indonesia ở cả trong nước

và nước ngoài

Tóm lại, Indonesia là một quốc gia lớn có lịch sử, văn hóa và văn minh khá điển hình của khu vực nên nghiễm nhiên nó trở thành đối tượng quan tâm của nhiều giới nghiên cứu Tuy nhiên, do hạn chế số lượng tài liệu cũng như khả năng tiếp cận của tác giả nên những công trình trình bày trên chủ yếu chỉ mang tính “bất định” cần thiết

Trang 15

3.2 Công trình nghiên cứu về chế độ độc tài ở Indonesia

Luận văn cao học “Trật tự mới” – Mô hình độc tài Indonesia (1967 – 1998)

của tác giả Đinh Thị Lan (2012) đã viết về vấn đề khủng hoảng chế độ dân chủ đại nghị “vay mượn” phương Tây và sự xác lập chế độ “Trật tự mới” Bên cạnh đó, tác giả cũng trình bày về những cơ sở tư tưởng, nội dung hoạt động của chế độ “Trật tự mới” và sự sụp đổ của chế độ “Trật tự mới”

Bài viết “Trật tự mới” ở Indonesia – Mô hình cải cách “nửa vời” của tác giả

Phạm Thị Phượng Linh (2016) đã làm rõ khái niệm về chế độ “Trật tự mới” và bên cạnh đó, bài viết trình bày hai nội dung chính đó là tính “nửa vời” trong kinh tế và tính “nửa vời” trong chính trị của chế độ độc tài Suharto thể hiên qua mô hình “Trật

tự mới” Theo tác giả, mô hình “Trật tự mới” có ưu điểm là đã thực hiện được mục tiêu ổn định tình hình trong nước và vượt qua những khó khăn về kinh tế để trở thành một trong những quốc gia phát triển nhanh ở Châu Á vào những năm 1968 – 1997 Tuy nhiên, nhược điểm của mô hình này đó là quyền lực tập trung quá nhiều vào tay Tổng thống và lực lượng quân đội Chính trị và toàn bộ đời sống của nhân dân đều bị quân đội kiểm soát và những quyền tự do – dân chủ của nhân dân không được thực

hiện

Michael R.J Vatikiotis (1998) với cuốn Indonesian Politics under Suharto:

The Rise and Fall of the New Order đã viết khái quát về tình hình Indonesia từ lúc

Suharto lên nhậm chức Tổng thống cho đến lúc ông gặp các vấn đề khủng hoảng và buộc phải từ chức Ở công trình này, tác giả đã trình bày sự phát triển về kinh tế, chính trị xã hội của chế độ “Trật tự mới” dưới thời Tổng thống Suharto Theo tác giả, dưới thời thống trị của Tổng thống Suharto, nền kinh tế Indonesia phát triển mạnh và vượt trội so với giai đoạn trước đó, tuy nhiên cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1997 đã kéo theo nền kinh tế Indonesia đi xuống khiến chế độ “Trật tự mới” của Suharto gặp khủng hoảng Bên cạnh đó, tác giả cũng phân tích bản sắc Islam giáo trong mô hình chính trị của Suharto và vai trò của quân đội trong hệ thống chính trị ở Indonesia dưới thời kì này Cuối cùng, tác giả nói về quá trình sụp đổ của chế độ “Trật tự mới”

Trang 16

Công trình Indonesian Politics Crisis: The long fall of Suharto 1996 – 98 của

tác giả Stefan Eklof (1999) đã khái quát về Suharto và chính quyền “Trật tự mới” của ông từ khi mới được hình thành cho đến khi gặp khủng hoảng và sụp đổ Tác giả đã trình bày những nét nổi bật trong quá trình phát triển kinh tế của Indonesia dưới thời

“Trật tự mới” của Suharto so với thời kì “Trật tự cũ” của Sukarno Bên cạnh đó, tác giả cũng phân tích những khủng hoảng về kinh tế, chính trị xã hội dưới kì “Trật tự mới”, sự phản đối của phong trào sinh viên đối với chính quyền của Suharto và cách đối phó của Suharto đối với phe đối lập Nhìn chung ở tác phẩm này, tác giả tập trung phân tích nhiều về sự khủng hoảng của chế độ “Trật tự mới” buộc Suharto phải từ chức và chấm dứt chế độ “Trật tự mới” ở Indonesia

Edward Aspinall (2005) với công trình Opposing Suharto: Compromise,

Resistance, and Regime Change in Indonesia đã nghiên cứu về tình hình kinh tế,

chính trị xã hội của Indonesia dưới thời kỳ của Tổng thống Suharto Tác giả đã trình bày về sự xuất hiện cũng như sự sụp đổ của chế độ “Trật tự mới” Bên cạnh đó, tác giả cũng phân tích các phong trào, hoạt động của sinh viên, và giai đoạn khủng khoảng năm 1996 của thời kì “Trật tự mới” Ngoài ra, tác giả cũng đề cập đến vấn đề quá độ lên dân chủ ở Indonesia và so sánh với một vài mô hình quá độ dân chủ ở các nước khác tuy nhiên vấn đề này không được tác giả phân tích nhiều

Leo Suryadinata (2019) qua cuốn Politik luar negeri Indonesia di bawah

Soeharto (tạm dịch: Chính sách đối ngoại của Indonesia dưới Soeharto) đã trình bày

về chính sách đối ngoại của Indonesia trong suốt thời kỳ chế độ độc tài của Soeharto Tác giả đã phân tích những đặc điểm và các yếu tố ảnh hưởng đến chính sách đối ngoại của Indonesia dưới thời kỳ này Bên cạnh đó, tác giả cũng viết về chính sách đối ngoại của Indonesia đối với các nước lớn như Mỹ, Nhật, Úc, Nga cũng như vai trò và mối quan hệ của Indonesia đối với các quốc gia trong khu vực ASEAN

Tóm tại, giới khoa học từ những năm 80 thế kỷ trước đặc biệt quan tâm đến các mô hình độc tài và dân chủ ở các nước phương đông Chế độ độc tài ở Indonesia cũng nằm trong danh mục tài liệu nghiên cứu của các học giả Việt Nam và nước ngoài Tuy nhiên, để giải mã cho những ẩn số tạo nên diện mạo chế độ độc tài của

Trang 17

đất nước này vẫn thật sự chưa có nhiều công trình, thậm chí còn đối lập nhau về cách đánh giá

3.3 Công trình nghiên cứu về sự phát triển chính trị từ độc tài đến dân chủ ở Indonesia

Luận án tiến sĩ Quá trình dân chủ hóa ở Indonesia từ năm 1945 đến nay –

Nhìn từ góc độ giai cấp trung lưu và xã hội dân sự của tác giả Hồ Thị Thành (2015)

đã viết về quá trình dân chủ hóa ở Indonesia từ năm 1945 đến năm 2014 Bên cạnh

đó tác giả phân tích vai trò của giai cấp trung lưu và vai trò của các tổ chức dân sự trong quá trình dân chủ hóa ở Indoneisa Ở công trình này, tác giả không phân tích cụ thể về chế độ Trật tự mới và bước chuyển biến từ chế độ độc tài sang chế độ dân chủ

ở Indonesia như đề tài luận văn đang nghiên cứu mà chỉ tập trung nhấn mạnh vai trò của giai cấp trung lưu và xã hội dân sự trong quá trình dân chủ hóa ở Indonesia

Bài viết “Từ độc tài đến dân chủ - Thử nghiệm lạc quan ở Indonesia” của tác

giả Hoàng Văn Việt (2015) đã viết về tình hình kinh tế, chính trị, xã hội Indonesia dưới thời kì “Trật tự mới” và sự sụp đổ, khủng hoảng của chế độ “Trật tự mới” Bên cạnh đó, tác giả cũng trình bày quá trình dân chủ hóa ở Indonesia Và theo tác giả, với quá trình chuyển hóa từ độc tài đến dân chủ ở Indonesia sẽ trở thành kinh nghiệm quý báu cho các quốc gia đang phát triển trong việc lựa chọn hình thái quyền lực mới

Bài viết Demokrasi dan civil society (tạm dịch: Dân chủ hóa và xã hội dân sự)

của tác giả Muhammad AS Hakim (1999) trình bày về chế độ dân chủ và xã hội dân

sự ở Indonesia Qua bài nghiên cứu của mình, tác giả đã phân tích các vấn đề và những triển vọng trong quá trình dân chủ hóa ở Indonesia thông qua các cuộc bầu cử, mối liên hệ giữa chính quyền nhà nước với xã hội dân sự Ngoài ra tác giả cũng trình bày về tầm quan trọng của xã hội dân sự trong việc xây dựng nhà nước dân chủ ở Indonesia

Cornelis Lay & Amalinda Savirani (2000) với bài viết Reformasi konstitusi

dalam transisi menuju demokrasi (tạm dịch: Cải cách hiến pháp trong thời kỳ quá độ

dân chủ) đã trình bày về việc cải cách hiến pháp trong quá trình dân chủ hóa ở Indonesia Theo tác giả, việc thay đổi hiến pháp là một trong những việc làm quan

Trang 18

trọng trong việc củng cố chế độ dân chủ Trong bài nghiên cứu của mình, tác giả đã lấy mô hình thay đổi hiến pháp thành công của Đài Loan và Tây Ban Nha để làm mẫu cho mô hình ở Indonesia Hiến pháp năm 1945 ở Indonesia được xem là cơ hội để Suharto có thể củng cố quyền lực của mình trong suốt trên 30 năm giữ chức Tổng thống Bởi theo Hiến pháp năm 1945, quyền lực nằm trong tay Tổng thống quá nhiều, Tổng thống có quyền lớn hơn cả Hội đồng đại diện nhân dân (DPR) Tổng thống có thể thay đổi các điều luật mà không cần phải thông qua DPR Do đó, theo tác giả, để

có thể đi đến con đường dân chủ cần phải thay đổi hiến pháp

Tim KontraS (2003) với công trình Politik militer dalam transisi demokrasi

Indonesia (tạm dịch: Quân đội trong thời kỳ quá độ dân chủ ở Indonesia) đã trình bày

về chính trị quân sự trong quá độ dân chủ ở Indonesia Theo tác giả, trước đây dưới thời kì “Trật tự mới” lực lượng quân đội không chỉ chi phối hoạt động đời sống chính trị mà còn trực tiếp tham gia vào các hoạt động kinh tế Do đó, điều kiện tiên quyết

để củng cố chế độ dân chủ đó là xóa bỏ “chức năng kép” (dwifungsi) của lực lượng quân đội như trước đây Qua bài viết, tác giả đã xem xét và phân tích các điều luật liên quan đến vai trò của lực lượng quân đội dưới thời kì cải cách Bên cạnh đó, tác giả cũng xem xét về sự thay đổi mô hình của lực lượng vũ trang quốc gia Indonesia (TNI) ở đầu thời kì cải cách và đây được xem là tiền đề để thúc đẩy việc ban hành các chương trình nghị sự dân chủ ở Indonesia

Trong công trình Jatuhnya Soeharto dan Transisi Demokrasi Indonesia (tạm

dịch: Sự sụp đổ của Suharto và thời kỳ quá độ dân chủ ở Indonesia) của tác giả Denny J.A (2006) nói về sự sụp đổ của Suharto và quá trình quá độ lên dân chủ ở Indonesia Tác giả chia bài viết của mình thành ba nội dung chính Ở phần đầu tác giả viết về sự sụp đổ của Suharto và tiền đề xác lập dân chủ ở Indonesia Tác giả đã phân tích về cuộc khủng hoảng kinh tế ở Châu Á năm 1997, phong trào nổi dậy của sinh viên và cuộc khủng hoảng chính trị vào tháng 5 năm 1998 Đây được xem là những nguyên nhân gây đến sự sụp đổ của Suharto Ở phần hai, tác giả trình bày về cuộc bầu cử dân chủ vào năm 1999 Tác giả chủ yếu nói về các đảng phái chính trị ở Indonesia sau sự

Trang 19

sụp đổ của chế độ “Trật tự mới” Ở phần ba, tác giả viết về kết quả của cuộc bầu cử năm 1999 và những vấn đề liên quan

Marco Bunte & Andreas Ufen (2008) với cuốn Democratization in Post-

Suharto Indonesia (tạm dịch: Dân chủ hóa hậu thời kỳ Suharto Indonesia) đã viết về

quá trình dân chủ hóa ở Indonesia sau sự sụp đổ chế độ độc tài của Suharto Công trình nghiên cứu được tác giả chia ra làm bốn nội dung chính Ở nội dung đầu tiên, tác giả viết về việc tái cấu trúc các cơ quan nhà nước ở Indonesia Ở phần này, tác giả

đã phân tích vai trò và ảnh hưởng của cơ quan lập pháp trong việc củng cố chế độ dân chủ ở Indonesia Bên cạnh đó, vấn đề đấu tranh để trở thành một nhà nước pháp quyền và việc đưa các chính sách và thành lập ban chống tham nhũng sau thời kì

“Trật tự mới” cũng được tác giả trình bày Phần hai, tác giả viết về các đảng phái chính trị ở Indonesia Ở phần này, tác giả trình bày về vai trò của các đảng phải chính trị trong quá trình dân chủ hóa ở Indonesia, đặc biệt là vai trò của đảng chính trị tồn tại ở chế độ trước, cụ thể là đảng Golkar trong quá trình dân chủ hóa ở Indonesia Phần ba, tác giả trình bày về sự kháng cự của những lực lượng theo chế độ “Trật tự mới” Phần bốn, tác giả viết về xã hội dân sự ở Indonesia hậu thời kì Suharto và tác giả đã nêu ra những khó khăn và trở ngại trong việc thực hiện dân chủ hóa ở Indonesia

Bài viết Masa transisi politik di Indonesia tahun 1998 – 1999 (tạm dịch: Giai

đoạn quá độ ở Indonesia 1998 – 1999) của tác giả Agung Setiawan (2008) đã viết về bước quá độ chính trị ở Indonesia vào năm 1998 – 1999 Tác giả đã trình bày về những nguyên nhân gây sự khủng hoảng của chế độ “Trật tự mới” như khủng hoảng kinh tế - xã hội, khủng hoảng chính trị và sự sụp đổ của Suharto Bên cạnh đó, tác giả cũng trình bày về hệ thống chính trị ở Indonesia vào năm 1998 – 1999 Theo tác giả, sau khi Suharto từ chức, Tổng thống Habibie kế nhiệm, Indonesia như bắt đầu bước vào một chương mới, đó là cải cách dân chủ Giai đoạn kiêm nhiệm của Tổng thống Habibie được xem là giai đoạn quá độ lên dân chủ ở Indonesia Bên cạnh đó, tác giả cũng trình bày về cuộc bầu cử năm 1999 và việc nhậm chức của Tổng thống thứ 4 của Indonesia đó là Abdurrahman Wahid

Trang 20

Leo Agustino & Mohammad Agus Yusoff (2010) với bài viết Politik lokal di

Indonesia: Dari Otokratik ke Reformasi Politik (tạm dịch: Chính trị địa phương ở

Indonesia: Từ độc tài đến cải cách) đã phân tích về tình hình chính chính trị địa phương Indonesia trước và sau cải cách năm 1998 Theo tác giả, sức mạnh của chế

độ “Trật tự mới” trước khi cải cách đã gây cản trở đối với chính trị của chính quyền địa phương Quyền lực chính trị ở chính quyền địa phương phải có sự phối hợp giữa chính quyền trung ương với chính quyền địa phương, và thông qua tổ chức quân đội

Do đó, quyền lực của chính quyền địa phương chịu sự kiểm soát trực tiếp của chính quyền trung ương và quân đội Như việc bầu chọn các chức vụ của một vùng cũng phải được thông qua Bộ Nội Vụ Tuy nhiên sau khi cải cách, quyền lực của chính quyền địa phương ngày càng được tăng cường và ngày càng dân chủ hơn Bên cạnh

đó, qua bài viết tác giả cũng nhấn mạnh vai trò của các nhà lãnh đạo độc tài địa

phương (local strongmen) trước và sau khi chế độ độc tài của Suharto sụp đổ

Syamsuddin Haris (2019) với cuốn Menimbang demokrasi dua dekade

reformasi (tạm dịch: Nhìn lại hai thập kỷ cải cách dân chủ) đã trình bày về việc cải

cách dân chủ ở Indonesia sau sự sụp đổ của chế độ độc tài Ở công trình nghiên cứu này tác giả đã trình bày về sự xác lập cũng như những cơ hội và thách thức của Indonesia trong việc cải cách dân chủ Bên cạnh đó, tác giả cũng phân tích những cải cách của cơ quan nhà nước, hệ thống bầu cử và đảng chính trị ở Indonesia sau khi xác lập nền dân chủ Ngoài ra, những cải cách trong lĩnh vực quân đội và vấn đề phân quyền giữa chính quyền trung ương và chính quyền địa phương cũng được tác giả nghiên cứu

Qua tổng quan về tình hình lịch sử nghiên cứu, nhìn chung, ở trong nước đã

có một số công trình nghiên cứu về chế độ độc tài và chế độ “Trật tự mới” ở Indonesia cũng như các bài viết quá trình dân chủ hóa ở Indonesia nhưng đến hiện tại vẫn chưa

có công trình nào viết cụ thể và chi tiết về sự chuyển biến từ chế độ độc tài đến chế

độ dân chủ ở Indonesia Còn về tình hình lịch sử nghiên cứu ở nước ngoài, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về sự sụp đổ của chế độ độc tài của Suharto ở Indonesia

và quá trình dân chủ hóa ở Indonesia Bên cạnh đó, cũng có một số sách và bài viết

Trang 21

nói về quá trình quá độ từ chế độ độc tài đến dân chủ ở Indonesia Tuy nhiên phần lớn các bài nghiên cứu này chỉ tập trung phân tích quá trình quá độ từ chế độ độc tài lên chế độ dân chủ ở Indonesia từ năm 1998 – 1999 hoặc từ năm 1998 đến nay Cho đến hiện nay, vẫn chưa có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến quá trình chuyển tiếp từ độc tài đến dân chủ ở Indonesia từ năm 1967 cho đến nay ở Indonesia

4 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu chính của đề tài là tìm hiểu quá trình chuyển biến của Indonesia từ chế độ “Trật tự mới” tức là từ chế độ độc tài sang chế độ dân chủ Từ mục đích này luận văn giải quyết 3 nhiệm vụ chính:

- Tìm hiểu bối cảnh lịch sử và hoạt động của của chế độ độc tài ở Indonesia dưới thời kì “Trật tự mới”

- Tìm hiểu nguyên nhân và quá trình sụp đổ của chế độ độc tài ở Indonesia

- Tìm hiểu về các bước xác lập và củng cố nền tảng dân chủ ở Indonesia từ sau

sự sụp đổ của chế độ độc tài

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là sự phát triển chính trị của Indonesia,

cụ thể hơn đó là sự đổi mới về hình thái cấu trúc và tổ chức bộ máy ở Indonesia nhằm tạo nên một hệ thống chính trị mới đáp ứng nhu cầu phát triển tất yếu sang dân chủ ở Indonesia

5.2 Phạm vi nghiên cứu

Về không gian nghiên cứu: bối cảnh xã hội và đất nước Indonesia

Về thời gian nghiên cứu: Giai đoạn từ năm 1967 đến nay Đề tài chọn mốc thời gian này bởi vào năm 1967 Suharto lên cầm quyền, trở thành Tổng thống thứ hai của Indonesia Từ đó, chế độ “Trật tự mới” được thiết lập và chế độ độc tài quân sự được hình thành Vào năm 1998 khi chính quyền “Trật tự mới” của Suharto bị sụp

đổ, chấm dứt chế độ độc tài ở Indonesia và Indonesia bắt đầu chuyển sang chế độ dân chủ cho đến ngày nay

Trang 22

6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu

6.1 Phương pháp nghiên cứu

Về phương pháp luận, luận văn nghiên cứu dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Marx – Lenin về hình thái kinh tế - xã hội cũng như về mối quan hệ biện chứng giữa kiến trúc thượng tầng và cơ sở hạ tầng Dựa vào mối quan hệ đó, các yếu tố thượng tầng và cơ sở hạ tầng của Indonesia sẽ được trình bày để lý giải vì sao chế độ độc tài sụp đổ và được thay thế bằng chế độ dân chủ

Bên cạnh đó, luận văn còn sử dụng các phương pháp khác như:

Phương pháp lịch sử được sử dụng để xem xét và trình bày quá trình chuyển

biến chính trị từ chế độ độc tài quân sự sang chế độ dân chủ theo một trình tự liên tục Việc sử dụng phương pháp lịch sử để đảm bảo tính liên tục về thời gian của các

sự kiện, làm rõ điều kiện và đặc điểm phát sinh, phát triển cũng như các mối quan hệ

đa dạng của chúng với các yếu tố liên quan từ đó có thể tái dựng lại được bức tranh toàn cảnh chân thực khoa học, phản ánh đúng lịch sử và quy luật vận động cả quá trình chuyển biến của không gian nghiên cứu và thời gian tương ứng đó là từ năm

1967 đến nay

Phương pháp logic được sử dụng nhằm lý giải, khái quát, đánh giá và rút ra

những kết luận từ sự chuyển biến từ chế độ độc tài quân sự sang chế độ dân chủ của không gian nghiên cứu trong một thời gian nhất định Mỗi một sự kiện lịch sử gắn với một giai đoạn nhất định, chúng diễn ra và tồn tại mối quan hệ biện chứng với nhau, từ đó tìm ra được những nhân tố bên trong và bên ngoài dẫn đến sự chuyển biến chính trị từ chế độ độc tài sang chế độ dân chủ ở Indonesia

Phương pháp chính trị học để nghiên cứu và thông qua các cơ chế bầu cử, cơ

chế quyền lực, thể chế chính trị và nhà nước, các phong trào dân chủ và hoạt động của các đảng phái chính trị để từ đó làm rõ quá trình dân chủ hóa ở Indonesia

Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng để dựa trên nguồn tài liệu thu

thập được, người viết phân tích, tổng hợp để làm rõ những vấn đề về hệ thống chính trị, những đặc điểm văn hóa chính trị Phân tích và tổng hợp diễn biến của các phong

Trang 23

trào nổi dậy, từ đó tìm ra nguyên nhân sụp đổ của chế độ độc tài và sự đi lên của chế

độ dân chủ

Phương pháp tiếp cận liên ngành được sử dụng nhằm giải quyết vấn đề khoa

đặt ra một cách toàn diện, khách quan và hiệu quả nhất Luận văn sử dụng phương pháp tiếp cận liên ngành sử học – kinh tế - chính trị học – địa lý học để phân tích và tổng hợp một số khía cạnh của quá trình biến đổi từ những góc độ chuyên ngành

Do đây là một công trình nghiên cứu sử học nên phương pháp chủ yếu được sử dụng trong luận văn vẫn là phương pháp nghiên cứu lịch sử theo quan điểm duy vật lịch sử và phương pháp logic

6.2 Nguồn tài liệu

Người viết sử dụng nguồn tư liệu sau đây: các bài chính văn (gồm bài phát biểu của thủ lĩnh chính trị, các nghị quyết, văn bản của các tổ chức chính trị thế giới), sách, tạp chí chuyên đề, công trình nghiên cứu liên quan đến lịch sử, văn hóa, chính trị Indonesia bằng tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Indonesia để hoàn thành luận văn này

7 Bố cục đề tài

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Luận văn được chia làm

ba chương, bao gồm:

Chương 1: Những vấn đề lý thuyết và cơ sở thực tiễn

Chương này làm rõ những quan niệm có liên quan đến đề tài: quan niệm về chế độ độc tài và chế độ dân chủ Bên cạnh đó, ở chương này, tác giả phác họa về đất nước và con người Indonesia cũng như khái quát sơ lược về các giai đoạn lịch sử của Indonesia

Chương 2: Trật tự mới – Mô hình độc tài quân sự ở Indonesia

Chương này tập trung tìm hiểu về điều kiện và quá trình xác lập của mô hình độc tài quân sự ở Indonesia Bên cạnh đó, tác giả cũng phân tích các hoạt động về kinh tế, chính trị - xã hội của Indonesia dưới thời kỳ này, cũng như khái quát về nguyên nhân và quá trình sụp đổ của chế độ “Trật tự mới ở quốc gia vạn đảo này

Chương 3: Sự xác lập và củng cố nền tảng dân chủ ở Indonesia từ 1998 đến nay

Trang 24

Chương này tập trung trình bày bước xác lập chế độ dân chủ ở Indonesia và

sự củng cố quyền lực chính trị ở quốc gia này từ sau sự sụp đổ của chế độ “Trật tự mới” Bên cạnh đó, tác giả cũng nghiên cứu về đời sống dân chủ hóa của người dân, chính sách đối ngoại, chính sách phát triển kinh tế và cách giải quyết các vấn đề xung đột sắc tộc để Indonesia có thể củng cố nền tảng dân chủ

Trang 25

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN

1.1 Các quan niệm về chế độ độc tài và dân chủ

1.1.1 Chế độ độc tài – một hình thái quản lý tập trung quyền lực

Từ lâu, chế độ độc tài luôn trở thành mối quan tâm đặc biệt của các nhà khoa

học Theo các nhà nghiên cứu, thuật ngữ “độc tài” theo tiếng Hy Lạp là Autoritas trong đó auto nghĩa là người sáng lập, người tạo lập; ritas nghĩa là quyền lực, ảnh

hưởng Khái niệm “độc tài” lần đầu tiên được đề cập trên diễn đàn khoa học của nhà

tư tưởng Đức vào thế kỷ XX (Hoàng Văn Việt, 2014, tr.102) Cho đến hiện nay có rất nhiều khái niệm khác nhau về chế độ độc tài

Theo Montesquieu, chế độ độc tài là chế độ mà mọi quyền lực đều nằm trong tay một cá nhân và cá nhân đó sẽ cai trị nhà nước dựa theo sở thích và ý muốn của

mình chứ không thông qua một luật lệ chung “chỉ một người cai trị, mà không luật lệ

gì hết, chỉ theo ý chí và sở thích của hắn ta mà thôi.” (Montesquieu, 2004, tr.46) Do

đó, người dân buộc phải tuân theo ý kiến của người cai trị mà không được quyền đưa

ra ý kiến riêng của mình

Cùng quan điểm với Montesquieu, đến thế kỷ XVIII, Rousseu cho rằng chế

độ độc tài là chế độ mà quyền lực nằm trong tay người cầm đầu tối cao tuy nhiên

người cầm đầu không đại diện cho luật pháp Theo đó, ông cho rằng “cả bộ máy luật

pháp trở thành chướng ngại cho việc đảm bảo luật pháp, thì người ta chỉ định một người cầm đầu tối cao, để ông ta tuyên bố tạm gác cơ quan quyền lực tối cao, tạm thời làm luật pháp im tiếng…Ông ta có thể làm tất cả chỉ trừ việc làm ra đạo luật.”

(J.J.Rousseau, 2006, tr.222)

Như vậy, cả Montesquieu và Rousseu đều cho rằng chế độ độc tài là việc tập trung quyền lực tối cao vào tay một cá nhân và từ đó vai trò của pháp luật bị suy giảm bởi vì mọi quyết định về việc cai trị nhà nước đều phụ thuôc vào quyết định của người cai trị chứ không phụ thuộc vào pháp luật

Theo Từ điển chính trị, chế độ độc tài là “chế độ quản lý nhà nước dựa trên

cơ sở quyền hành của một người không bị hạn chế bởi bất cứ một luật lệ nào.”

Trang 26

(B.N.Pô-nô-ma-rep, 1961,tr.316) Theo khái niệm này, chế độ độc tài là việc tập trung

quyền quản lý nhà nước vào tay một cá nhân và cá nhân đó không bị hạn chế quyền lực bởi một luật lệ hoặc nguyên tắc nào

Trong khi đó, theo Hoàng Văn Việt (2009) “chế độ độc tài là một cấu trúc

chính trị quản lý xã hội mà trong đó quyền lực chính trị tập trung vào tay một cá nhân hoặc một nhóm cá nhân cùng với việc giải tán hoặc làm suy giảm vai trò các

cơ quan đại diện và các đảng phái chính trị đối lập.” Theo khái niệm này, để có thể

duy trì chế độ độc tài thì người nắm quyền lực hoặc nhóm nắm giữ quyền lực phải tìm cách để làm suy yếu quyền lực của các nhóm đối lập

Qua đó cho thấy, tuy trong giới học thuật vẫn chưa thống nhất khái niệm về chế độ độc tài nhưng nhìn chung họ có cùng một nhân định đó là chế độ độc tài là chế độ mà quyền lực nằm trong tay một cá nhân hoặc một nhóm cá nhân nào đó Các

cá nhân và nhóm cá nhân này sử dụng quyền lực của mình để điều hành và cai trị nhà nước Có thể nói, chế độ độc tài là loại chế độ chính trị đối lập với chế độ dân chủ

Do đặc thù phát triển ở mỗi nước, chế độ độc tài mang những đặc điểm khác nhau Dựa vào mục tiêu và nội dung của chế độ độc tài, các nhà khoa học chính trị phương Tây đã chia chế độ độc tài thành hai loại đó là chế độ độc tài phát triển và chế độ độc tài phản phát triển (Hoàng Văn Việt, 2009, tr.53)

Chế độ độc tài phát triển là một thể chế chính trị được thiết lập để đảm bảo sự

ổn định của chính trị - xã hội và tiến hành công việc hiện đại hóa nền kinh tế Trong thể chế này, quyền lực tập trung vào tay một nguyên thủ quốc gia (có thể là Thủ tướng hay Tổng thống) Nguyên thủ quốc gia nắm trong tay tất cả quyền hành pháp, lập pháp và tư pháp và có thể thay đổi hiến pháp cho phù hợp với quyền lực của mình Trong những trường hợp cần thiết nguyên thủ quốc gia có thể thay đổi các đạo luật của Quốc hội bằng những sắc lệnh của mình Chính phủ có quyền kiểm soát và hạn chế hoạt động của nền kinh tế quốc gia cũng như can thiệp, kiểm soát các hoạt động của các tổ chức chính trị đối lập với lợi ích chính phủ Tuy nhiên, hoạt động của nhà nước vẫn chú tâm vào phục vụ lợi ích của quốc gia, dân tộc và đời sống nhân dân Những chính sách của chính phủ nhằm đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng và tiến

Trang 27

lên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa Ví dụ như mô hình độc tài phát triển ở Philippines của Tổng thống Marcos Sau khi trấn áp các thế lực đối lập, Marcos đã tiến hành ban hành các chính sách nhằm ổn định lại tình hình chính trị- xã hội trong nước như: cải cách ruộng đất, xây dựng nền công nghiệp dân tộc, phân phối lợi tức công bằng hơn và tạo mọi điều kiện để nền kinh tế Philippines phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa Có thể thấy đây là một chế độ độc tài nhưng vì mục tiêu chung và lợi ích của cộng đồng và dân tộc

Chế độ độc tài phản phát triển là thể chế được xây dựng để phục vụ cho quyền

lợi của một cá nhân hoặc nhóm cá nhân nhất định Mục tiêu của chế độ này nhằm tranh giành quyền lợi, chạy đua vũ trang để tiến hành những cuộc chiến tranh xâm lược, phục vụ cho tham vọng của những cá nhân nhất định Trong trường hợp này, quyền hành của nguyên thủ quốc gia vẫn là tuyệt đối và vô hạn Chính phủ thẳng tay đàn áp những hoạt động chống đối của các đảng phái chính trị đối lập Chính phủ không từ bất cứ một thủ đoạn nào để có thể loại bỏ đối thủ của mình và áp đặt truyền thống Do đó, chính phủ của chế độ độc tài phản phát triển không phục vụ cho sự phát triển của quốc gia mà chỉ để đạt được tham vọng của nhà cầm quyền Có thể lấy trường hợp của Hitler ở Đức Quốc xã ra làm ví dụ Vì âm mưu muốn thống trị cả thế giới, Hitler đã thẳng tay đàn áp và tiêu diệt các phe đối lập trong khi đó, mọi quyền lợi của người dân đều không được giải quyết

Tuy nhiên, trái ngược lại với cách phân loại trên, các nhà khoa học Marxist lại dựa trên tính chất quyền lực chính trị và phương pháp quản lý xã hội để chia chế độ độc tài thành hai loại đó là chế độ độc tài hợp hiến và chế độ độc tài quân sự (Hoàng Văn Việt, 2009, tr.53)

Chế độ độc tài hợp hiến là chế độ chính trị được thiết lập trong hoàn cảnh đất

nước đang gặp nhiều khó khăn, khủng hoảng Mục tiêu của nó nhằm thiết lập lại ổn định xã hội và phát triển kinh tế Trong thể chế này, quyền lãnh đạo nằm trong tay của các nhà chính trị Chính phủ độc tài được thiết lập thông qua một cuộc cải cách chính trị do chính phủ đương nhiệm tiến hành hoặc do dân bầu ra trong một nhiệm

kỳ mới Do đó, chính phủ độc tài hợp hiến là chính phủ phù hợp với Hiến pháp, được

Trang 28

người dân ủng hộ và hợp pháp Philippines là điển hình của chế độ độc tài hợp hiến Tổng thống Ph Marcos chính thức trở thành tổng thống năm 1968 Năm 1972, ông được bầu lại làm tổng thống lần thứ II Nhiệm kỳ II của ông bắt đầu bằng những cuộc khủng hoảng kinh tế xã hội trầm trọng, trong điều kiện đó ông ta phải tiến hành hiện đại hóa đất nước

Chế độ độc tài quân sự là thể chế chính trị được thiết lập trên cơ sở dựa vào

hoạt động của bộ máy quân đội để tiến hành cuộc đảo chính quân sự giành lấy chính quyền Do đó, quyền lực quản lý nhà nước tập trung vào tay giới quân nhân Người đứng đầu nhà nước là xuất thân từ quân đội, dựa vào quân đội để thâu tóm tất cả quyền lực về tay của mình Quân đội trở thành công cụ đắc lực để trấn áp những cuộc nổi dậy của nhân dân để ổn định tình hình chính trị xã hội trong nước Vì vậy, vai trò của quân đội không ngừng tăng cao và rất lớn mạnh Điển hình của chế độ độc tài quân sự đó là chế độ độc tài của Park Chung Hee (1961 – 1979) Park Chung Hee xuất thân từ quân đội (tướng hai sao) đã tiến hành cuộc đảo chính và lật đổ nền cộng hòa thứ hai để thiết lập chế độ độc tài ở Hàn Quốc Sau khi lên cầm quyền, Park Chung Hee đã xây dựng một nhà nước mang tính độc đoán, chuyên chế và phi dân chủ Vai trò của giới quân sự ngày càng tăng do mọi hoạt động của nhà nước đều dựa vào quân đội, cảnh sát và Cục tình báo trung ương Triều Tiên (KCIA) KCIA đã trở thành công cụ đắc lực để chính quyền có thể đàn áp các cuộc nổi loạn chống đối lại nhà nước

Như vậy, có thể thấy chế độ độc tài có thể phát huy được vai trò tích cực của

nó trong việc quyết định thành công nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội Tuy nhiên, chế độ độc tài cũng sẽ trở thành vật cản kìm hãm sự tiến bộ của xã hội, nên tất yếu sẽ dẫn đến sụp đổ

1.1.2 Quan niệm về chế độ dân chủ

Khái niệm về dân chủ đã xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử nhân loại Nó là sản phẩm mà xã hội loài người phát triển đến một giai đoạn nhất định mới có thể đạt được Theo sự phát triển của thời đại, khái niệm và quan niệm về dân chủ được hình thành và ngày càng hoàn thiện hơn

Trang 29

Theo các nhà nghiên cứu, thuật ngữ dân chủ ra đời ở Châu Âu từ thời cổ đại gắn với nhà nước thành bang Athens (Hy Lạp) vào thế kỷ V trước Công nguyên Dân

chủ (Democracy) là danh từ có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp là Demoscratos, được ghép bởi hai từ demos nghĩa là nhân dân còn cratos nghĩa là quyền lực, tức là quyền

lực của nhân dân (Anwar Arifin Andipate, 2017, tr.26) Nền móng của dân chủ xuất hiện từ rất sớm – thời Hi Lạp cổ đại với nền dân chủ Athens là một ví dụ điển hình Tại Athens, những nghệ sĩ, nhà tri thức, các lãnh tụ chính trị và những người giàu sáng kiến đã tham dự một cách sáng suốt vào một cuộc tranh luận sôi nổi về những nguyên tắc của xã hội lương hảo và cách áp dụng những nguyên tắc đó (Leslie Lipson,

1973, tr.14) Như vậy ở Athens, người dân có quyền tham gia, tranh luận những vấn

đề của xã hội Nhà nước Athen từng được xem là một mô hình của chế độ dân chủ

Đến thời đại của Herodot, Aristotle, Polybe, Monstesquie dân chủ được xem

là một thể chế nhà nước do đông đảo nhân dân cầm quyền bằng bỏ phiếu bầu ra các pháp quan Ở đây, mọi quyết định là do cộng đồng và đều vì lợi ích chung, xã hội được quản lý theo nguyên tắc bình đẳng, sự công bằng trước pháp luật được thực hiện

Tư tưởng dân chủ sơ khai được hình thành từ thời cổ đại ở Hy Lạp – La Mã, tuy nhiên sau khi nhà nước Hy Lạp và Roma sụp đổ thì tư tưởng này cũng chìm vào quên lãng Đến thế kỷ XI tư tưởng dân chủ bắt đầu phát triển trở lại ở Bắc Italia, sau

đó phát triển mạnh từ thời kỳ Phục hưng ở châu Âu thế kỷ XVI Và mãi đến tận thế

kỷ XVII, XVII, XIX tư tưởng dân chủ mới bắt đầu phát triển trở lại và ngày càng hoàn thiện hơn

Vào thế kỷ XVIII, Jean Jacques Rousseau (1992) cũng đã nêu khái niệm về

dân chủ trong tác phẩm “Khế ước xã hội” đó là chính phủ dân chủ là “cơ quan quyền

lực tối cao có thể phó thác việc quản lý chính phủ cho toàn dân hoặc cho đại bộ phận dân chúng” Như vậy, theo Rousseau trong chế độ dân chủ, quyền lực quản lý nhà

nước được trao lại cho toàn dân hoặc đại bộ phận dân chúng nắm quyền

Sang thế kỷ XIX, Tổng thống Mỹ Abraham Lincoln đã có những bổ sung cho

khái niệm dân chủ Theo ông, dân chủ là “chính quyền của dân, do dân và vì dân”

Trang 30

Bên cạnh đó, Sukarno - Tổng thống đầu tiên của Indonesia, cũng đưa ra quan điểm

của mình về dân chủ đó là“dân chủ là chính phủ của nhân dân Và chính phủ ấy cho

phép người dân có quyền cai trị” (Kholid Santosa, 2006, tr.15) Còn theo Chủ tịch

Hồ Chí Minh “Dân chủ là dân là chủ và dân làm chủ trong đó mọi quyền hành và

lực lượng là ở nơi dân (thuộc về nhân dân).” (Lê Tùng Lâm, 2008, tr.25) Như vậy,

cả Tổng thống Abraham Lincoln, Tổng thống Sukarno và Chủ tịch Hồ Chí Minh đều cho rằng chế độ dân chủ là chế độ mà mọi quyền hành đều thuộc về nhân dân, nhân dân có quyền bình đẳng về chính trị cũng như quyền tham gia vào chính trị Và ở đó,

người dân được quyền giám sát chính phủ

Theo định nghĩa trong từ điển chính trị “Dân chủ là một chế độ chính trị, trong

đó quyền lực thuộc về nhân dân Chế độ dân chủ bao giờ cũng có tính giai cấp và không có gì khác một hình thức chuyên chính về chính trị của giai cấp thống trị”

(B.N.Pô-nô-ma-rep, 1961, tr.208)

Từ các tư tưởng và cách hiểu về khái niệm trên, có thể hiểu dân chủ là một chế

độ chính trị, mà ở đó quyền lực thuộc về dân và do dân làm chủ bằng các quyền tham gia vào chính trị, nhà nước hoạt động vì mục tiêu chung của nhân dân Mặt khác, dân chủ cũng luôn mang tính giai cấp và bảo vệ cho giai cấp nắm quyền thống trị

Dân chủ là sản phẩm của sự tiến bộ xã hội và của mọi thời đại Dân chủ là tập trung quyền lực đi đôi với kiểm soát quyền lực một cách chặt chẽ Đó là quá trình ngăn chặn độc quyền, lộng quyền, lợi dụng quyền lực nhà nước để đi đến đặc quyền, đặc lợi cho lợi ích riêng Cũng là quá trình mở rộng môi trường tự do cho hoạt động sáng tạo của cá nhân, khẳng định vị thế của mỗi con người trong dòng chảy của sự phát triển của tất cả Dân chủ là con đường nhận thức và tìm phương hướng giải quyết những vấn đề phát triển xã hội theo lợi ích của đa số Đó là cơ chế thực hiện quyền lực của nhân dân Bản chất của nền cộng hòa dân chủ thì quyền lực tối thượng thuộc

về nhân dân, còn nguyên tắc của nó là đức hạnh chính trị

Từ khái niệm dân chủ, theo sự phát triển của xã hội và sự thay đổi về chính trị

mà khái niệm dân chủ hóa được hình thành Theo Vương Bích Thủy (2008), “nếu

dân chủ về bản chất là quyền lực thuộc về nhân dân, thì dân chủ hóa về thực chất là

Trang 31

một quá trình thực hiện và bảo đảm thực thi trên thực tế quyền lực đó trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, từ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội đến ý thức, tư tưởng, tinh thần Đó là quá trình đấu tranh lâu dài, diễn ra trên quy mô toàn xã hội,

để xác lập, khẳng định quyền lực thực sự thuộc về nhân dân đồng thời tạo ra những đảm bảo xã hội cho giá trị của quyền lực đó.” Theo khái niệm này, dân chủ hóa là

một tiến trình lâu dài để đạt được những giá trị dân chủ trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Ở đó người dân được đảm bảo và tôn trọng các quyền của mình

Ngoài ra có thể hiểu “Dân chủ hóa là tiến trình vận động thực tiễn chính trị

diễn ra theo hướng mở rộng các quyền tự do cho người dân và xã hội, tôn trọng và

đề cao quyền con người, quyền công dân và giới hạn quyền lực nhà nước theo các nguyên tắc pháp quyền Nói cách khác, dân chủ hóa là quá trình hiện thực hóa các giá trị dân chủ trong đời sống xã hội.” (Lê Thị Thu Mai, 2016, tr.55) Với quan điểm

này, có thể hiểu dân chủ hóa là một quá trình chính trị xác lập và mở rộng các tiền đề

và các giá trị dân chủ trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội

Bên cạnh đó cũng có quan điểm cho rằng “Dân chủ hóa là bước chuyển từ

trạng thái chuyên chế hoặc vô chính phủ lên trạng thái ứng xử dựa vào pháp luật, mà pháp luật ấy phản ánh được nguyện vọng, ý chí của các tác nhân tham dự.”( Đức

Thuận Hoàng, 2006, tr.61) Theo cách định nghĩa này thì dân chủ hóa là sự chuyển hóa từ một nhà nước không có pháp luật hoặc không dựa vào pháp luật sang một nhà nước tuân thủ theo pháp luật mà pháp luật ấy thể hiện được ý chí và nguyện vọng của nhân dân Dân chủ hóa gắn liền với cuộc đấu tranh chống lại sự chuyên chế, chống lại chủ nghĩa quan liêu để đảm bảo dân chủ thực sự cho mọi người trong xã hội

Như vậy, dân chủ hóa là động lực to lớn cho sự tiến bộ xã hội và giải phóng con người, mang lại cho con người tự do đích thực Dân chủ hóa mọi mặt của đời sống xã hội có ý nghĩa lớn lao đối với sự phát triển của con người và xã hội Đẩy mạnh quá trình dân chủ hóa ngày càng sâu rộng sẽ tạo ra môi trường lành mạnh cho

sự phát triển cá tính, nhân cách, tài năng và sức sáng tạo của mỗi cá nhân Mỗi cá nhân được phát triển tự do, toàn diện sẽ tạo ra hợp lực thúc đẩy xã hội phát triển

Trang 32

Dân chủ hóa là xu hướng vận động chính trị của thế giới hiện đại Tiến trình dân chủ hóa của mỗi quốc gia phụ thuộc vào đặc điểm kinh tế, xã hội, chính trị và sự tác động từ bên ngoài tương ứng với những giai đoạn lịch sử khác nhau Dân chủ hóa

là một tiến trình (as a process), không phải là cái đích cuối cùng (endpoint) (Viện ngôn ngữ học, 1997, tr.215)

Tóm lại, dân chủ gắn bó chặt chẽ với quyền sống của con người, với tự do và bình đẳng Dân chủ là nhu cầu không thể thiếu được đối với mỗi cá nhân cũng như của cả cộng đồng xã hội Nếu dân chủ là mục tiêu thì dân chủ hóa là quá trình để đạt được mục tiêu đó Dân chủ hóa là một quá trình tất yếu, đi liền với sự phát triển của loài người, thể hiện một trong những đặc điểm bản chất của sự nghiệp giải phóng con người Dân chủ hóa là cách thức thực hiện để đạt được dân chủ

Mỗi chế độ dân chủ đều tồn tại và được quy định bởi điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, lịch sử khác nhau mà hình thành nên cái riêng của từng loại dân chủ Trên thực tế, có rất nhiều mô hình dân chủ được phát triển từ thời Plato đến thế kỷ 21 Bên cạnh đó, hiện nay trên thế giới cũng xuất hiện nhiều biến thể của dân chủ nên không

dễ dàng để có thể thống nhất cụ thể một nguyên tắc chung cho mô hình dân chủ

Theo David Held, có bốn mô hình dân chủ kinh điển được cho là đã được thử nghiệm trong lịch sử từ trước thế kỷ XX, đó là mô hình dân chủ cổ điển Athens, mô hình dân chủ cộng hòa, mô hình dân chủ tự do và mô hình dân chủ trực tiếp (David Held, (Phạm Nguyên Trường dịch), 2016, tr.28)

Mô hình dân chủ cổ điển Athens xuất hiện ở thành phố Athens, Hi Lạp vào thế kỷ thứ V trước công nguyên Theo mô hình này, mọi công dân đều có quyền tham gia trực tiếp vào quá trình lập pháp, xét xử và điều hành các công việc chung của cộng đồng

Mô hình dân chủ cộng hòa xuất hiện tại các thành phố Bắc Ý vào cuối thế kỷ

XI Lúc này công dân được quyền bầu người đại diện vào hội đồng chấp chính Những người đại diện trong hội đồng chấp chính đến lượt mình sẽ bầu quan chấp chính – tức người đứng đầu thành quốc

Trang 33

Mô hình dân chủ tự do xuất hiện ở Mĩ và Châu Âu từ cuối thế kỷ XII Ở mô hình dân chủ này, người dân có quyền bầu những người đại diện trong hội đồng lập pháp và những người đại diện trong hệ thống hành pháp Luật pháp được tự do mưu cầu hạnh phúc, không bị cưỡng bức bởi đồng loại và nhà nước

Mô hình dân chủ trực tiếp được thử nghiệm lần đầu tiên tại Công xã Paris giữa thế kỷ XIX Nét đặc trưng của mô hình này là công dân trực tiếp ủy nhiệm việc điều hành các công việc chung, từ công việc sản xuất đến công việc xã hội, cho các đại diện của mình tại các hội đồng nhân dân địa phương Đối với công việc ở phạm vi rộng hơn, các hội đồng địa phương sẽ ủy nhiệm trực tiếp cho các hội đồng cấp cao hơn Những đại diện ở hội đồng nhân dân cấp trên sẽ phải chịu trách nhiệm giải trình cho những người bầu mình ở hội đồng nhân dân cấp dưới, và đến lượt những người đại diện ở hội đồng nhân dân cấp địa phương phải chịu trách nhiệm giải trình trước những công dân mà họ đại diện

Tuy nhiên theo Fukuyuma ở thế kỷ XXI, mô hình dân chủ được sử dụng nhiều nhất đó là mô hình dân chủ tự do và mô hình dân chủ tham gia (Francis Fukuyama,

2004, tr.499) Và quan điểm này cũng trùng khớp với quan điểm của David Held khi ông cũng cho rằng nhìn chung mọi mô hình dân chủ đều có thể được chia làm hai nhóm lớn đó là dân chủ trực tiếp hay dân chủ tham gia và dân chủ tự do hay dân chủ đại diện (David Held, (Phạm Nguyên Trường dịch), 2016, tr.28) Với mô hình dân chủ trực tiếp thì người dân tham gia vào tiến trình quyết định các chính sách thông qua việc bầu cử hoặc trưng cầu dân ý Còn với mô hình dân chủ đại diện thì người dân thông qua cuộc bầu cử để tìm ra đại diện quản lý xã hội

Theo một số học giả Indonesia, nếu xét theo hệ tư tưởng thì có thể chia thành hai mô hình dân chủ chính đó là mô hình dân chủ tư sản và mô hình dân chủ xã hội chủ nghĩa (dân chủ vô sản) (Anwar Arifin Andipate, 2017, tr.31; Meriam Budiardjo,

1996, tr.52) Mô hình dân chủ tư sản là nền dân chủ dựa trên sự tự do và chủ nghĩa

cá nhân Ở mô hình dân này, quyền hạn của nhà nước bị giới hạn bởi hiến pháp Hoạt động của bộ máy nhà nước chủ yếu dựa trên nguyên tắc tam quyền phân lập với sự phân chia chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của các ngành lập pháp, hành pháp và tư

Trang 34

pháp Nhà nước không được phép lạm dụng quyền lực và tùy tiện ra tay với người dân Còn đối với nhà nước theo mô hình dân chủ xã hội hoạt động dưới sự chỉ đạo và dẫn dắt bởi một đảng duy nhất cùng với sự phối hợp giữa các cơ quan Quốc hội, chính phủ, tòa án nhân dân và viện kiểm sát nhân dân trong việc thực hiện ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp Nó không hoạt động theo nguyên tắc tam quyền phân lập mà theo tập trung dân chủ

Tóm lại, dân chủ là một thể chế chính trị mà ở đó, quyền lực thuộc về nhân dân Nhân dân thể hiện quyền quản lý nhà nước của mình bằng những cuộc bầu cử phổ thông đầu phiếu để chọn ra những đại diện của mình quản lý đất nước Đồng thời, nhân dân cũng được quyền tự do trong các hoạt động của mình Tuy nhiên, mỗi chế độ dân chủ đều phục vụ lợi ích của một giai cấp nhất định nên dân chủ luôn mang tính giai cấp Ở Indonesia, từ sau năm 1945, sau khi giành độc lập khỏi các nước phương tây, nền dân chủ ở Indonesia là nền dân chủ tư sản

1.2 Indonesia – đất nước “thống nhất trong đa dạng”

1.2.1 Đất nước – con người

1.2.1.1 Đất nước

Indonesia là quốc gia hải đảo lớn nhất thế giới nằm giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương với diện tích là 1,9 triệu km2 và là quốc gia đông dân đứng thứ 4 trên thế giới với tổng dân số hơn 270 triệu người (theo thống kê vào tháng 3/2020 của Liên Hợp Quốc) Indonesia có hơn 17500 hòn đảo lớn nhỏ và trong số đó có khoảng

3000 hòn đảo có người sinh sống còn nhiều hòn đảo khác vẫn còn bỏ hoang hoặc thâm chí là không có tên Toàn bộ các đảo ở Indonesia trải dài khoảng 6000km từ Tây sang Đông và khoảng 2000km từ Bắc xuống Nam (Huỳnh Văn Giáp, 2003, tr.389)

Có 5 hòn đảo lớn nhất ở Indonesia đó là: Kalimantan, Sumatra, Sulawesi, Java

và Papua Trong đó, đảo Java là trung tâm kinh tế và nơi tập trung đông dân cư nhất

ở Indonesia, chiếm khoảng 60% dân số Hiện nay thủ đô Jakarta cũng tọa lạc tại hòn đảo này, tuy nhiên Jakarta đang bị quá tải dân số và có nguy cơ bị chìm dưới mực nước biển nên vào tháng 4 năm 2019, Tổng thống Joko Widodo đã tuyên bố sẽ dời

Trang 35

thủ đô sang đảo Kalimantan Đảo Kalimantan hay còn được thế giới biết đến là hòn đảo Borneo Đảo Borneo là đảo lớn thứ ba trên thế giới và lớn nhất Châu Á Ba quốc gia có lãnh thổ trên hòn đảo này đó là Brunei, Malaysia và Indonesia, trong đó Indonesia chiếm 73% diện tích của đảo này và gọi tên đảo này là Kalimantan

Indonesia có lịch sử địa chất phức tạp, các đảo tại đây tương đối trẻ, có thời gian thành lập vào cuối thời kỳ Miocène cách đây khoảng 15 triệu năm Từ đó đến nay, tại Indonesia đã xảy ra nhiều biến động địa chất như: sự va chạm của các mảng kiến tạo, sự hoạt động của núi lửa Có thể nói Indonesia nằm trong vùng địa chấn không ổn định (Huỳnh Văn Giáp, 2003, tr.389) Tên gọi Indonesia xuất phát từ tiếng

Hy Lạp trong đó từ Indo xuất phát từ từ Indus trong tiếng Hy Lạp nghĩa là Ấn Độ còn

từ Nesia xuất phát từ từ Nesos nghĩa là quần đảo Do đó tên gọi Indonesia nghĩa là

quần đảo Ấn Độ (Tomascik, 1996)

Indonesia có biên giới đất liền với Papua New Guinea, Đông Timor và Malaysia và có biên giới biển với Úc, Ấn Độ, Palau, Philippines, Singapore, Thái Lan

và Việt Nam Quốc gia này có hơn 80.000 km bờ biển nên biển đảo là nguồn tài nguyên phong phú của quốc gia này Indonesia đứng thứ 2 trên thế giới về sự đa dạng sinh học với nhiều loại đặc hữu và nhiều loài động vật quý hiếm 4/7 di sản thế giới của Indonesia là các Vườn quốc gia, trong đó có vườn quốc gia Komodo bảo tồn loài thằn lằn khổng lồ và các loại bò sát 8 vườn quốc gia khác đang được đề nghị UNESCO công nhận Indonesia có rừng nhiệt đới lớn nhất thế giới trừ Amazon, chiếm 1/10 diện tích rừng nhiệt đới toàn cầu Rừng đã bị khai thác từ lâu đời, nhưng rừng vẫn còn chiếm khoảng 2/3 tổng diện tích đất đai của Indonesia Rừng ở Indonesia có nhiều loại như: rừng mưa nhiệt đới, rừng cận nhiệt đới và ôn đới và rừng ngập mặn ven biển

Indonesia nằm xung quanh đường xích đạo và nằm trong vành đai núi lửa Thái Bình Dương, Indonesia có địa hình rất đa dạng và phức tạp và là nơi có điều kiện địa chất bất ổn nhất thế giới Do đó, Indonesia có nhiều núi lửa và thường xảy ra động đất Hiện nay ở Indonesia có ít nhất 150 núi lửa đang hoạt động Nhiều núi lửa vẫn

Trang 36

còn hoạt động mạnh gây tàn phá khủng khiếp cho cư dân và mùa màng xung quanh Nhưng đất núi lửa và khí hậu nhiệt đới đã làm phần đất đai Indonesia rất màu mỡ

Sự đa dạng của Indonesia là một thách thức lớn đối với một nhà nước hiện đại Chính phủ Indonesia có ý thức sâu sắc về việc xây dựng một sự thống nhất quốc gia

và một nền văn hóa dân tộc Đặc trưng vùng mà đa số dân Indonesia thừa hưởng một cách tự nhiên cùng với sự đa dạng về ngôn ngữ và văn hóa đã khiến việc xây dựng quốc gia và phát triển sự thống nhất hóa đã khiến việc xây dựng quốc gia và phát triển

sự thống nhất xã hội trở thành nhiệm vụ dài hạn và đầy khó khăn

1.2.2.2 Con người

Indonesia là quốc gia có diện tích rộng lớn, đông dân đứng thứ 4 trên thế giới

và đa dạng về sắc tộc Tuy nhiên mật độ phân bố dân cư ở Indonesia không đồng đều Người dân Indonesia sống rải rác trên các hòn đảo khác nhau nhưng chủ yếu tập trung

ở 5 hòn đảo lớn và Java là nơi tập trung đông dân cư nhất, với diện tích là 138,793.6

km2 chỉ chiếm 6.67% diện tích lãnh thổ của đất nước nhưng lại là nơi sinh sống của 60% dân số cả nước, với khoảng 145 triệu dân (Wikipedia, 7/2020)

Khẩu hiệu của Indonesia là “Bhinneka Ika Tunggal” nghĩa là thống nhất trong

đa dạng bởi vì Indonesia có trên 300 dân tộc, thuộc nhiều nhóm chủng tộc khác nhau

và 95% trong số họ là người bản địa Mỗi nhóm tộc người có một nền văn hóa và ngôn ngữ khác nhau Đất nước vạn đảo này có khoảng 250 ngôn ngữ riêng biệt và hầu hết đều thuộc ngữ hệ Nam đảo, nhưng tiếng Indonesia (Bahasa Indonesia) có nguồn gốc từ tiếng Melayu được coi là quốc ngữ ở xứ sở này (Ngô Văn Doanh, 1995, tr.17) Ngoài tiếng Indonesia thì tiếng dân tộc cũng được giảng dạy như một môn học

ở các trường ở Indonesia, có khoảng 30 tiếng dân tộc được giảng dạy ở trường học

Trong lịch sử Indonesia, có nhiều luồng xuất nhập cư từ Trung Quốc đến Indonesia và trở về Trung Quốc Các cuộc xuất nhập cư giữa Hà Lan và Indonesia giảm nhiều sau khi Indonesia giành độc lập, có khoảng 250.000 người Hà Lan đã hồi hương vào năm 1949 Số người Hà Lan định cư ở Indonesia còn khoảng dưới 10.000 năm 1995 Vào năm 1969, chính phủ ban hành chính sách di dân (transmigrasi) từ các đảo đông dân như Java, Bali, Madura sang các đảo ít dân hơn như Sumatra,

Trang 37

Kalimantan Cộng đồng người Hoa chiếm 4% dân số Indonesia với trên 6 triệu người sống ở các thành phố lớn và làm nghề buôn bán, dịch vụ, ngân hàng Người Hoa kiểm soát 60% -80% hoạt động nội thương và 42% hoạt động ngoại thương của Indonesia (Huỳnh Văn Giáp, 2003, tr.401)

Indonesia có nền văn hóa vô cùng phong phú với sự hòa quyện của những sắc màu tôn giáo và một truyền thống lâu đời Là đất nước với tín đồ Islam giáo đông nhất thế giới nhưng nơi đây cũng chịu nhiều ảnh hưởng của các nền văn hóa Ấn Độ,

Ả Rập và các nước phương Tây như Hà Lan, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha Cho tới ngày nay những vỡ kịch múa nổi tiếng ở Java và Bali vẫn mang đậm dấu Ấn Độ

Gần 90% dân số ở Indonesia theo Islam giáo tuy nhiên Indonesia không được coi là một nhà nước Islam giáo như Malaysia và Brunei do Islam giáo không phải là quốc giáo của quốc gia này Ở Indonesia có 6 tôn giáo được chính thức công nhận đó

là Islam giáo, Thiên chúa giáo, Tin lành, Hindu giáo, Phật giáo và Khổng giáo Sự đa dạng về văn hóa, sắc tộc và tôn giáo đã từng dẫn đến nhiều xung đột xảy ra ở đất nước vạn đảo này Và sau đó, cuộc đối đầu giữa Abangan (chủ nghĩa dân tộc thế tục)

và Santri (chủ nghĩa dân tộc Islam giáo) đã dẫn đến sự ra đời của hệ tương tưởng Pancasila

Hệ tư tưởng Pancasila được xem như một kim chỉ nam đươc quy định trong Hiến pháp để mọi người dân cùng tuân theo và cùng sống hòa thuận dưới một “mái

nhà” mang tên Indonesia Panca có nghĩa là 5 còn sila có nghĩa là nguyên tắc Hệ tư

tưởng Pancasila được quy định trong Hiến pháp với 5 nguyên tắc đó là: niềm tin vào một đức chúa trời; một nhân loại công bằng và văn minh; một Indonesia thống nhất; nền dân chủ được các đại diện nhân dân thông tuệ dẫn dắt; công bằng xã hội cho toàn thể nhân dân Indonesia Kể từ năm 1975, hệ tư tưởng Pancasila được đưa vào giảng dạy ở trường học Đến năm 1978, Pancasila trở thành kim chỉ nam cho toàn xã hội nhằm chống lại sự đối lập ngày càng lớn của phái Muslim do muốn Islam giáo được công nhận trong hiến pháp Indonesia Ngày nay, Pancasila đã trở thành một triết lý ở Indonesia Với triết lý này, người Indonesia sống hòa thuận với nhau và ít xảy ra các cuộc xung đột hơn

Trang 38

Qua đây có thể thấy, là một quốc gia đông dân, đa sắc tộc, đa tôn giáo đã và đang trở thành trở ngại lớn trong việc thống nhất Indonesia Do đó, để hòa hợp sự khác biệt này, chính phủ Indonesia đã thống nhất sự đa dạng bằng cách sử dụng chung một ngôn ngữ đó là tiếng Indonesia Bên cạnh đó, hệ tư tưởng Pancasila được sử dụng trở thành triết lý chung cho mọi người dân Indonesia Đó là mọi người đều có một niềm tin vào một đức chúa trời (nghĩa là bao gồm tất cả tôn giáo ở Indonesia chứ không chỉ cụ thể một tôn giáo nào) do đó mọi tôn giáo đều có thể hòa hợp cùng tồn tại Mọi người dân Indonesia đều có quyền và nghĩa vụ như nhau dù họ thuộc tôn giáo hoặc dân tộc nào

1.2.2 Sơ lược lịch sử Indonesia

Indonesia là một quốc gia có lịch sử lâu đời và được cho là một trong những cái nôi cổ xưa nhất của loài người ở Đông Nam Á bởi nơi đây đã được các nhà khảo

cổ học phát hiện ra dấu vết của loài người cổ, đó là họ đã tìm thấy xương hóa thạch của người vượn Java sống cách đây khoảng hơn 500.000 năm Điều này cho thấy đã

có sự tiến hóa từ vượn thành người tinh khôn ở Indonesia Lịch sử Indonesia đã trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm khác nhau để có thể trở thành một quốc gia độc lập

và có tầm ảnh hưởng như ngày nay Có thể chia lịch sử Indonesia thành 3 giai đoạn chính: giai đoạn tiền thuộc địa, giai đoạn thuộc địa, giai đoạn sau khi giành độc lập 1.2.2.1 Giai đoạn tiền thuộc địa

Indonesia trước đây được biết đến là nơi cung cấp gia vị, trầm hương, hương liệu và các sản phẩm nhiệt đới khác Indonesia trở thành nơi giao thương của các thương nhân Trung Hoa, Ấn Độ và Ả rập

Vào thời kỳ của Cơ đốc giáo, người Hindu từ Ấn Độ đến định cư tại quần đảo Indonesia Vương triều Kutai nằm ở Đông Kalimantan được cho là vương triều cổ nhất ở Indonesia, xuất hiện vào khoảng năm 375 sau công nguyên Các nhà khảo cổ học đã phát hiện ra các bia điêu khắc bằng chữ Phạn và chữ Palava (chữ viết được phát triển ở Nam Ấn vào khoảng thế kỷ thứ ba sau Công nguyên) đã đề cập đến 3 vị vua của vương triều Kutai Martadipura và các đặc điểm trong nghi lễ của Hindu giáo

cổ đại Khoảng một thế kỷ sau, xuất hiện vương triều Tarumangara vào khoảng thế

Trang 39

kỷ thứ V ở phía Tây Java Nhìn chung, các bia điêu khắc này là minh chứng về sự ảnh hưởng to lớn của Hindu giáo đối với những người cai trị tinh hoa của các vương quốc bản địa cổ đại đầu tiên ở quần đảo này Tuy nhiên, quan hệ giao thương giữa

Ấn Độ và Indonesia được cho là đã được hình thành từ nhiều thế kỷ trước khi có bia điêu khắc Kutai Eo biển Malacca, tuyến đường biển nối Ấn Độ Dương với Thái Bình Dương, đã trở thành tuyến vận chuyển chính cho giao thương đường biển giữa Trung Quốc, Ấn Độ và Trung Đông Phần lớn bờ biển của Sumatra nằm cạnh làn đường biển này nên tạo điều kiện thuận lợi để các thương nhân Ấn Độ, Trung Quốc ghé qua

Kể từ đó, Hindu giáo bắt đầu được du nhập vào Indonesia

Vào khoảng thế kỷ thứ VII, vương quốc Sriwijaya được hình thành ở eo biển Malacca phía nam đảo Sumatra Vương quốc này nằm ở ví trí chiến lược, thuận lợi

về giao thương đường biển Sriwijaya là nơi giao thương buôn bán trên tuyến đường

Ấn Độ Dương, Biển Đông và đảo hương liệu Maluku, nên có điều kiện thuận lợi phát triển nhanh chóng và trở thành một vương quốc hùng mạnh, trở thành trung tâm kinh

tế và văn hóa quan trọng của khu vực Đông Nam Á Bên cạnh đó, Sriwijaya còn là trung tâm Phật giáo quan trọng của thế giới Tuy nhiên vào khoảng thế kỷ XIII, trước sức ép của các vương quốc mới nổi, Sriwijaya bị sụp đổ hoàn toàn

Đền Phật giáo Borobudur và đền Hindu giáo Prambanan ở Trung Java là minh chứng cho sự tồn tại của Hindu giáo và Phật giáo ở nơi đây Đền Borobudur được xây dựng vào khoảng năm 800 sau công nguyên dưới vương triều Sailendra và đền Prambanan được xây dựng vào khoảng năm 850 sau công nguyên dưới vương triều Sanjaya Sự sụp đổ dần dần của Sriwijaya và sự xuất hiện của một vương quốc lớn mới trên Java có nghĩa là quyền lực dần chuyển từ Sumatra sang Java

Năm 1222, xứ Singhasari được thành lập ở đông bộ Java, nhanh chóng trở thành thế lực lớn nhất nhì của quần đảo Singhasari đánh đuổi được quân xâm lược Mông cổ năm 1293, rồi đổi quốc hiệu thành Majapahit Năm 1319, một viên tướng thủ lĩnh ngự lâm là Gadjah Mada dần nắm hết mọi quyền bính trong triều Từ năm

1319 đến năm 1364, Gadjah Mada bành chướng Majapahit thành Indonesia rộng lớn như ngày nay và có thêm miền nam Philippines Vào đầu thế kỷ XIII, những nhà buôn

Trang 40

Ả Rập đến truyền bá Islam giáo ở Indonesia Tôn giáo mới này đã phát triển nhanh chóng trên các đảo và có cả những tín đồ trong vương quốc Hindu (Huỳnh Văn Giáp,

2003, tr.417) Đến năm 1550 thì Islam giáo trở thành tôn giáo có tín đồ đông nhất trong vùng Vào đầu thế kỷ XVI, đế quốc Hindu giáo Majapahit bị tiêu diệt Lãnh thổ của vương quốc này chia thành nhiều vương quốc Islam Điều này đã tạo điều kiện thuận lợi để các nước tư bản phương Tây vào xâu xé xứ này

1.2.2.2 Giai đoạn thuộc địa

Đến đầu thế kỷ XVI, sự hấp dẫn của các nguồn tài nguyên thiên nhiên và sự giàu có về hương liệu ở Indonesia đã khiến đất nước rơi vào tay thực dân phương Tây Bồ Đào Nha là quốc gia đầu tiên xuất hiện trên quần đảo này Vốn đã có cứ điểm

ở bờ phía Tây Ấn Độ, năm 1509 người Bồ Đào Nha âm mưu mở thế lực sang Đông Nam Á Sau khi xác định được tính chất quan trọng của eo biển Malacca, vào năm

1511, người Bồ Đào Nha chiếm Mallaca, xây dựng điểm chốt thương nghiệp quan trọng như quần đảo hương liệu Maluku ở phía Đông Indonesia Năm 1592, họ bắt đầu xây dựng pháo đài ở Ternate và chiếm độc quyền mua bán hương liệu (Vũ Dương Ninh & Nguyễn Văn Hồng, 1998, tr.386)

Vào năm 1592, người Tây Ban Nha cũng đến Malulu và buôn bán tại nơi đây Người Tây Ban Nha đã lợi dụng sự xích mích giữa các bộ lạc và các vương quốc với nhau để trục lợi và cạnh tranh với Bồ Đào Nha Cuối cùng cả hai bên đã đi đến thỏa hiệp, người Bồ Đào Nha bồi thường cho người Tây Ban Nha một số vàng và Tây Ban Nha chuyển sang hoạt động ở Phillipines Năm 1580, Bồ Đào Nha bị Tây Ban Nha xâm chiếm

Không lâu sau đó, người Hà Lan đến Indonesia Các công ty Đông Ấn Hà Lan (VOC) đã hất cẳng người Bồ Đào Nha ra khỏi Indonesia với tham vọng độc quyền con đường buôn bán gia vị đến Châu Âu Vào năm 1619, VOC đã tấn công thành trì Jayakarta, thành phố buôn bán trọng điểm của vương quốc Banten, Tây Java Sau đó, Jayakarta được đặt lại tên là Batavia (tên của thủ đô xứ Đông Ấn thuộc Hà Lan) cho đến khi tuyên bố độc lập vào năm 1945 thì được đổi lại thành tên Jakarta

Ngày đăng: 18/04/2021, 23:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w