1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vấn đề con người trong tác phẩm hệ tư tưởng đức của c mác và ph ăngghen

108 82 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vấn đề con người trong tác phẩm hệ tư tưởng đức của c.mác và ph.ăngghen
Tác giả Nguyễn Thị Thanh Phúc
Người hướng dẫn TS. Võ Văn Dũng
Trường học Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Triết học
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2020
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 1,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giáo dục 2016, Công trình tập trung bàn đến các vấn đề như: một số vấn đề lý luận về con người và phát triển con người, ở phần này tác giả tập trung bàn đến khoa học về con người, con n

Trang 1

- -

NGUYỄN THỊ THANH PHÚC

VẤN ĐỀ CON NGƯỜI TRONG TÁC PHẨM HỆ TƯ TƯỞNG ĐỨC

CỦA C.MÁC VÀ PH.ĂNGGHEN

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2020

Trang 2

- -

NGUYỄN THỊ THANH PHÚC

VẤN ĐỀ CON NGƯỜI TRONG TÁC PHẨM HỆ TƯ TƯỞNG ĐỨC

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Luận văn: Vấn đề con người trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức của

C.Mác và Ph.Ăngghen là công trình nghiên cứu độc lập, sử dụng nguồn tài

liệu có nguồn gốc rõ ràng dưới sự hướng dẫn của TS Võ Văn Dũng Tôi xin cam đoan nội dung trình bày trong luận văn là trung thực, chưa từng được ai công bố

TÁC GIẢ

Nguyễn Thị Thanh Phúc

Trang 4

Trang

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu luận văn 3

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn 7

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 7

5 Phạm vi nghiên cứu của luận văn 7

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn 8

7 Kết cấu của luận văn 8

Chương 1 ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ - XÃ HỘI, TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH VẤN ĐỀ CON NGƯỜI CỦA C.MÁC VÀ PH.ĂNGGHEN – CUỘC ĐỜI SỰ NGHIỆP, HOÀN CẢNH RA ĐỜI, KẾT CẤU TÁC PHẨM HỆ TƯ TƯỞNG ĐỨC 9

1.1 ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ - XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN VỚI VIỆC HÌNH THÀNH VẤN ĐỀ CON NGƯỜI CỦA C.MÁC VÀ PH.ĂNGGHEN TRONG TÁC PHẨM HỆ TƯ TƯỞNG ĐỨC 9

1.1.1 Điều kiện lịch sử - xã hội châu Âu cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX với việc hình thành vấn đề con người của C.Mác và Ph.Ăngghen trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức 9

1.1.2 Tiền đề lý luận và khoa học tự nhiên với việc hình thành vấn đề con người của C.Mác và Ph.Ăngghen trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức 21

1.2 CUỘC ĐỜI SỰ NGHIỆP CỦA C.MÁC VÀ PH.ĂNGGHEN VÀ HOÀN CẢNH RA ĐỜI, KẾT CẤU TÁC PHẨM HỆ TƯ TƯỞNG ĐỨC 37

1.2.1 Khái quát cuộc đời và sự nghiệp của C.Mác và Ph.Ăngghen 37

1.2.2 Hoàn cảnh ra đời, kết cấu tác phẩm Hệ tư tưởng Đức 44

Kết luận chương 1 47

Trang 5

TƯ TƯỞNG ĐỨC 50

2.1 NỘI DUNG CƠ BẢN VẤN ĐỀ CON NGƯỜI CỦA C.MÁC VÀ PH.ĂNGGHEN TRONG TÁC PHẨM HỆ TƯ TƯỞNG ĐỨC 50

2.1.1 Con người hiện thực trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức 50

2.1.2 Con người gắn với hoạt động sản xuất vật chất trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức 56

2.1.3 Con người sản sinh ra xã hội trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức 68

2.2 ĐẶC ĐIỂM, GIÁ TRỊ VẤN ĐỀ CON NGƯỜI TRONG TÁC PHẨM HỆ TƯ TƯỞNG ĐỨC 82

2.2.1 Đặc điểm của vấn đề con người trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức 82

2.2.2 Giá trị của vấn đề con người trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức 88

Kết luận chương 2 96

KẾT LUẬN CHUNG 97

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 100

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong lịch sử triết học, vấn đề về con người là vấn đề trọng tâm của các nhà nghiên cứu khoa học cả phương Tây và phương Đông Không một nhà khoa học, một trường phái triết học nào khi tiến hành nghiên cứu lại không

đề cập đến con người Tuy nhiên, cũng như tất cả các vấn đề khác, vấn đề con người cũng bị quy định bởi hoàn cảnh lịch sử và điều kiện chính trị, nên quan niệm về con người ở mỗi giai đoạn lịch sử là hoàn toàn không giống nhau Trong lịch sử triết học thời kỳ cổ đại, vấn đề con người đã được các nhà tư tưởng và các trường phái triết học quan tâm nghiên cứu Trong thời

kỳ này, con người được xem như một tiểu vũ trụ nằm trong đại vũ trụ bao la Điều này cho thấy, con người chính là giá trị chuẩn mực nhất để đánh giá mọi thứ ở xung quanh mình Bằng hoạt động thực tiễn có ý thức, con người không chỉ cải tạo thế giới khách quan mà còn cải tạo chính bản thân mình Hoạt động cải tạo này không chỉ cải tạo về phương thức sản xuất để mang lại hiệu quả cao trong quá trình sản xuất mà còn cải tạo nhân cách, lối sống, và cách ứng xử của con người cho phù hợp với tự nhiên và phù hợp với các mối quan hệ giữa những con người với nhau trong xã hội

Cùng với sự phát triển chung thì phát triển con người trở thành mục đích quan trọng nhất của nhân loại Bởi lịch sử xã hội loài người dù có nhìn

từ góc độ nào thì nó cũng là lịch sử của con người không ngừng sản xuất, sáng tạo, khám phá để đáp ứng nhu cầu Tuy nhiên, quá trình tư hữu về tư liệu sản xuất và đối kháng giai cấp đã tạo nên sự tha hóa về lao động Sự tha hóa này phải đến C.Mác và Ph.Ăngghen mới phát hiện ra C.Mác (1818-

1883 và Ph.Ăngghen 182 -1895), trên quan điểm kế thừa những tư tưởng tiến bộ của những quan điểm trước đó, tổng hợp các thành tựu khoa học đương thời và bằng thiên tài trí tuệ của bản thân đã đưa ra quan điểm về con người hết sức đúng đắn Trên lập trường duy vật triệt để, hai ông đã nêu lên

Trang 7

quan điểm về con người và giải phóng con người tương đối hoàn thiện trong

tác phẩm Hệ tư tưởng Đức Với tác phẩm này C.Mác và Ph.Ăngghen đã

bước đầu đưa ra quan điểm về con người, về sự tha hóa của con người và tìm

ra phương pháp để giải phóng con người một cách triệt để Quan điểm tiến

bộ về con người của hai ông đã ảnh hưởng nhanh chóng và sâu sắc đến phong trào công nhân thế giới Từ một “bóng ma” đang ám ảnh châu Âu, chủ nghĩa Mác đã trở thành hiện thực với thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 Với cuộc cách mạng này đã mở ra một thời đại mới trong tiến trình phát triển của xã hội loài người

Hiện nay, vấn đề toàn cầu hóa diễn ra ngày càng mạnh mẽ đã thúc đẩy các lĩnh vực của đời sống con người phát triển về mọi mặt Tuy nhiên vấn đề

về con người chưa bao giờ dừng lại ở các học thuyết trước đó mà nó tiếp tục được các nhà khoa học bàn tới ở dưới nhiều góc độ khác nhau Nhưng suy cho đến cùng là bàn tới vai trò của con người và sự giải phóng con người để làm cho con người không còn là nô lệ của tự nhiên, của xã hội; con người phải là chủ nhân của chính bản thân mình và khi đó sự sáng tạo và lao động của con người mới được đánh giá đúng tầm quan trọng của nó Nhận thức được điều này, Đảng cộng sản Việt Nam và Nhà nước ta ngày càng quan tâm nhiều hơn đến sự phát triển toàn diện con người, để hướng tới việc xây dựng thành công con người xã hội chủ nghĩa như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng

nói: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã

hội chủ nghĩa” (Hồ Chí Minh, 2011, tr.66)

Do đó, việc tìm hiểu về vấn đề con người trong chủ nghĩa Mác – Lênin

nói chung và vấn đề con người trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức nói riêng là

một việc làm rất cần thiết đối với việc xây dựng thành công nhà nước pháp

quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam Chính vì vậy, tôi quyết định chọn “Vấn

đề con người trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức của C.Mác và Ph.Ăngghen”

để làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình

Trang 8

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu luận văn

Vấn đề con người trong lịch sử triết học là một đề tài lớn đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Đã có nhiều công trình, tài liệu nghiên cứu vấn đề này theo các hướng như:

Thứ nhất, các công trình nghiên cứu về con người trong triết học Mác nói chung gồm các công trình tiêu biểu như: Con người và phát triển con người của tác giả Hồ Sĩ Quý, Nxb Giáo dục (2016), Công trình tập trung

bàn đến các vấn đề như: một số vấn đề lý luận về con người và phát triển con người, ở phần này tác giả tập trung bàn đến khoa học về con người, con người và phát triển con người trong quan niệm của chủ nghĩa Mác, nghiên cứu con người trước nhu cầu của sự phát triển, trong phần này tác giả làm rõ, một số vấn đề phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu con người, con người là trung tâm, những hướng chủ yếu trong nghiên cứu con người, nghiên cứu phức hợp về con người, nghiên cứu định lượng về con người: vấn đề chỉ số hạnh phúc; xây dựng con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phần này tác giả tập trung giải quyết, vấn đề nhân tố con người trong quá trình đổi mới xây dựng con người đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển con người Việt Nam: một số

vấn đề thực tiễn; Bài viết Tư tưởng Các Mác về con người, giải phóng con

người và phát triển con người toàn diện ở Việt Nam của Văn Thị Thanh

Mai, Đinh Quang Thành, Tạp chí Tuyên Giáo, ngày 4/5/2018, bài viết tập trung bàn về con người là tổng hoà của những mối quan hệ xã hội, phát triển con người Việt Nam toàn diện theo tư tưởng của Mác Bài viết tập trung giới thiệu về Các Mác và những công lao to lớn mà Người đã cống hiến cho nhân loại Bên cạnh đó bài viết cũng đề cập đến sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với nỗ lực chăm lo cho con người, phát triển con người Việt Nam toàn diện phù hợp với điều

kiện cụ thể của Việt Nam; Triết học Mác về lịch sử của Phạm Văn Chung,

Trang 9

Nxb Chính trị quốc gia 2 6 , cuốn sách được chia làm năm chương bàn

về quá trình ra đời và phát triển của triết học Mác qua các thời kỳ Ngoài ra

còn có các công trình như: Con người và phát triển con người trong quan

niệm của C.Mác và Ph.Ăngghen (Hồ Sĩ Quý chủ biên), Nxb Chính trị

quốc gia, Hà Nội, năm 2 3

Thứ hai, các công trình nghiên cứu về quan điểm con người của Mác một cách chuyên biệt Nguyen Anh Quoc (2019) “Karl Marx’s theory of human nature”, European Journal of Social Studies, Volume 4/ Issue 4/

2019 Ở công trình này tác giả đã trình bày chi tiết và lý giải một cách xác đáng tư tưởng của Karl Mart về bản chất con người như: Bản năng nói chung của con người là vì sự an toàn của hoạt động sinh sống Bản chất con người

là bản chất loài Bản năng sinh sống của loài đã bộc lộ một cách đầy đủ, toàn diện, hiện thực của bản chất con người Con vật đồng nhất với hoạt động loài vật là bản chất tự nhiên Loài vật được vô nghĩa hóa thì con người mang bản chất loài Loài được mạng sống hiện thực hóa thì con người mang bản năng

xã hội Xã hội được của cải (tiền hóa thì con người mang bản năng lao động Lao động được khoa học hóa thì con người mang bản năng của thượng

đế Hiện thực hóa thượng đế là mục đích, đối tượng của khoa học Khoa học

về con người là khoa học chân chính Ý chí là vô nghĩa; Bài viết Học thuyết

về con người, giải phóng và phát triển con người - một giá trị làm nên sức sống trường tồn của chủ nghĩa Mác của tác giả Đặng Hữu Toàn, đăng trên

báo điện tử Đảng cộng Sản Việt Nam, ngày 16 tháng 6 năm 2 18 Bài viết nhấn mạnh đến sự khởi xướng và xây dựng nên học thuyết khoa học và cách mạng về con người, về sự nghiệp giải phóng con người, giải phóng xã hội và phát triển con người toàn diện của Mác Bài viết cũng rút ra giá trị đối với việc phát triển kinh tế theo cơ chế thị trường, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa nhất thiết phải gắn liền với cội nguồn dân tộc, với những giá trị truyền thống Cần được xuất phát từ

Trang 10

quan niệm của C.Mác về tính thiết yếu của việc kết hợp hài hòa sự phát triển

tự do của cá nhân với thiết lập mối quan hệ tốt đẹp giữa người với người

trong cộng đồng Bên cạnh đó còn phải kể đến các công trình như: Tư tưởng

về con người trong lịch sử triết học của tác giả Vũ Minh Tâm; Mối quan hệ giữa con người và tự nhiên trong sự phát triển xã hội (Hồ Sĩ Quý chủ biên),

Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2 ;

Thứ ba, các công trình viết về “Hệ tư tưởng Đức” bao gồm các công trình sau; Sức sống của “Hệ tư tưởng Đức” của tác giả Nguyễn Trọng

Chuẩn, Tạp chí Triết học, số 12 (175), tháng 12 – 2005 Bài viết đề cập đến,

Hệ tư tưởng Đức là tác phẩm mà khi trình bày “chủ nghĩa duy vật mới”,

đường lối triết học mới, C.Mác và Ph.Ăngghen đã bước đầu trình bày có hệ thống một số nguyên lý cơ bản của quan điểm duy vật về lịch sử và trên cơ

sở đó, luận chứng có căn cứ vững chắc một lý luận mới về chủ nghĩa xã hội khoa học Sức sống của những tư tưởng đó là ở chỗ, chúng cung cấp cho chúng ta cái nhìn biện chứng về sự vận động và phát triển của xã hội nói chung, của lực lượng sản xuất, đặc biệt là tư liệu sản xuất và con người nói riêng Không chỉ thế, chúng còn cung cấp những luận cứ khoa học xác đáng

để chúng ta khẳng định chủ nghĩa cộng sản là một cuộc vận động hiện thực trên cơ sở và một nền tảng kinh tế phát triển nhằm xoá bỏ tình trạng hiện tồn chứ tuyệt nhiên không phải là một lý tưởng trừu tượng hay không tưởng

buộc hiện thực phải tuân theo; Hệ tư tưởng Đức trong sự tiến triển quan

niệm của C.Mác và Ph.Ăngghen về tôn giáo, của tác giả Nguyễn Quang

Hưng, Tạp chí Triết học, S 4 2 6 , Để làm rõ giá trị lịch sử của Hệ tư

tưởng Đức trong sự tiến triển quan niệm của C.Mác và Ph.Ăngghen về tôn

giáo, trước hết, tác giả đã chỉ ra và phân tích bối cảnh lịch sử hình thành quan niệm của các ông về tôn giáo Tiếp đó, tác giả đã luận giải những luận

điểm chủ yếu của các ông về tôn giáo trong Hệ tư tưởng Đức để qua đó,

khẳng định đây là tác phẩm đánh dấu bước đột phá trong quan niệm của các

Trang 11

ông về tôn giáo khi coi tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội bị chi phối bởi

cơ sở kinh tế và điều kiện xã hội, mang tính lịch sử - cụ thể và do vậy, khi nghiên cứu quan niệm của các ông về tôn giáo, không nên tuyệt đối hóa, mà

cần có quan điểm lịch sử cụ thể; Hệ tư tưởng Đức - tác phẩm đánh dấu sự ra

đời một thế giới quan mới, một quan niệm duy vật về lịch sử, của tác giả

Đặng Hữu Toàn, Tạp chí Triết học, S 1 (2006) Trên cơ sở phân tích và luận giải những luận điểm cơ bản mà lần đầu tiên, C.Mác và Ph.Ăngghen đã đưa

ra và trình bày một cách tương đối hoàn chỉnh, có hệ thống, sâu sắc để trên

cơ sở đó, xây dựng một quan niệm mới, duy vật biện chứng về thế giới và về lịch sử nhân loại, tác giả đã khẳng định rằng, cái làm nên giá trị trường tồn,

sức sống bền vững và ý nghĩa lịch sử lớn lao của Hệ tư tưởng Đức chính là

thế giới quan duy vật biện chứng và quan niệm duy vật về lịch sử Bởi lẽ, đó

là những thành tố đã làm nên bước ngoặc cách mạng thực sự trong lịch sử tư tưởng triết học nhân loại, tạo ra một phương pháp luận thực sự khoa học cho việc nghiên cứu tiến trình phát triển của xã hội loài người và bước đầu đặt cơ

sở lý luận cho chủ nghĩa xã hội khoa học với tư cách kết quả có tính quy luật của tiến trình lịch sử khách quan, một cuộc vận động hiện thực trên cơ sở và nền tảng kinh tế - xã hội phát triển mà hiện đang được chúng ta lấy làm nền tảng tư tưởng, làm cơ sở lý luận cho công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Ngoài ra còn phải kể đến các công trình như: công

trình Quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen về con người, giải phóng con

người trong “Hệ tư tưởng Đức” và sự vận dụng của Đảng ta, của tác giả

Cao Thu Hằng Công trình Đánh giá của C.Mác – Ph.Ăngghen về vấn đề con

người trong triết học L.Phoiơbắc qua “Hệ tư tưởng Đức” của Lê Công Sự;

Tóm lại, có thể thấy, nhìn tổng quát thì vấn đề con người trong lịch sử triết học nói chung, quan niệm của Mác về con người nói riêng đã được nhiều nhà nghiên cứu đề cập trên nhiều bình diện với những khía cạnh tư tưởng khác nhau Nhưng để đánh giá đúng đắn, sâu sắc vấn đề vẫn cần có

Trang 12

những chuyên đề đi sâu vào tác phẩm với những nội dung cụ thể Dựa trên những nguồn tài liệu, những công trình nghiên cứu của các tác giả đã được công bố, những kiến thức học được trên giảng đường, chúng tôi đi sâu vào tìm hiểu và trình bày một cách có hệ thống vấn đề con người trong tác phẩm

Hệ tư tưởng Đức của C.Mác và Ph.Ăngghen

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

Mục đích của luận văn là nghiên cứu làm rõ nội dung cơ bản của vấn đề

con người trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức, từ đó rút ra đặc điểm, giá trị

Để đạt được mục đích trên, luận văn cần giải quyết những nhiệm vụ sau:

Thứ nhất, trình bày và phân tích điều kiện lịch sử - xã hội, tiền đề lý

luận hình thành học thuyết của Mác về con người

Thứ hai, trình bày hoàn cảnh ra đời, kết cấu tác phẩm Hệ tư tưởng Đức Thứ ba, Trình bày và phân tích nội dung cơ bản vấn đề con người trong

tác phẩm Hệ tư tưởng Đức

Thứ tư, rút ra đặc điểm và giá trị của vấn đề con người trong tác phẩm

Hệ tư tưởng Đức

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện được mục đích và nhiệm vụ của luận văn, chúng tôi căn

cứ trên cơ sở lý luận về thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Đồng thời, chúng tôi còn sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể như: phương pháp lịch sử và logic; phương pháp phân tích và tổng hợp; phương pháp so sánh và đối chiếu; phương pháp quy nạp và diễn dịch… để nghiên cứu và trình bày luận văn

5 Phạm vi nghiên cứu của luận văn

Trong khuôn khổ luận văn chúng tôi tập trung vào một số nội dung cơ bản như: vấn đề con người trong hiện thực; vấn đề con người gắn với hoạt động sản xuất vật chất và vấn đề con người sản sinh ra xã hội Thông qua

Trang 13

việc trình bày những nội dung cơ bản về vấn đề con người trong tác phẩm

Hệ tư tưởng Đức đã nêu, chúng tôi sẽ rút ra các đặc điểm và giá trị của nó

Sở dĩ chúng tôi giới hạn phạm vi như trên là vì: thứ nhất, về tính khách quan thì các vấn đề trên đã phản ánh được nội dung vấn đề con người trong tác

phẩm Hệ tư tưởng Đức; thứ hai, về tính đại diện, những nội dung mà luận

văn đã trình bày mang tính tiêu biểu cho các quan điểm về vấn đề con người

trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức; thứ ba, các vấn đề đã phản ánh hết sức chân thực về vấn đề con người trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức và cuối cùng

là các vấn đề này có giá trị không nhỏ đối với thời đại ngày nay

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Về ý nghĩa khoa học, luận văn trình bày một cách có hệ thống nội dung

cơ bản về vấn đề con người trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức góp phần hệ

thống hóa và làm rõ hơn vấn đề con người trong triết học Mác

Về ý nghĩa thực tiễn, luận văn được thực hiện và bảo vệ thành công là một tài liệu tham khảo bổ ích, phục vụ công tác nghiên cứu và phổ biến triết học Mác - Lênin

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương 4 mục

Trang 14

Chương 1 ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ - XÃ HỘI, TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH VẤN ĐỀ CON NGƯỜI CỦA C.MÁC VÀ PH.ĂNGGHEN – CUỘC ĐỜI

SỰ NGHIỆP, HOÀN CẢNH RA ĐỜI, KẾT CẤU TÁC PHẨM

HỆ TƯ TƯỞNG ĐỨC

1.1 ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ - XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN VỚI VIỆC HÌNH THÀNH VẤN ĐỀ CON NGƯỜI CỦA C.MÁC VÀ PH.ĂNGGHEN TRONG TÁC PHẨM HỆ TƯ TƯỞNG ĐỨC

Có thể nói, tồn tại xã hội bao giờ cũng quyết định ý thức xã hội, do

đó bất kỳ một tư tưởng nào ra đời cũng phải dựa trên điều kiện lịch sử - xã hội nhất định Vì vậy, khi nghiên cứu về vấn đề con người trong tác phẩm

Hệ tư tưởng Đức của C.Mác và Ph.Ăngghen cũng cần phải nghiên cứu điều

kiện lịch sử - xã hội châu Âu cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, và tiền đề

lý luận ảnh hưởng đến việc hình thành vấn đề con người của C.Mác và Ph.Ăngghen

1.1.1 Điều kiện lịch sử - xã hội châu Âu cuối thế kỷ XVIII đầu thế

kỷ XIX với việc hình thành vấn đề con người của C.Mác và Ph.Ăngghen

trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức

Châu Âu giai đoạn này, chủ nghĩa tư bản đã có những bước phát triển nổi bậc, làm thay đổi toàn bộ diện mạo nền kinh tế châu Âu Phương thức sản xuất của chủ nghĩa tư bản đã phá vỡ những mối quan hệ lỗi thời của chủ nghĩa phong kiến, đồng thời đây cũng là thời đại năng động nhất so với những thời đại đã qua trong lịch sử Chủ nghĩa tư bản đã phát triển sản xuất,

đề cao tư tưởng tự do, dân chủ, bình đẳng, bác ái trong đời sống xã hội C.Mác và Ph.Ăngghen nhận định rằng, trong lịch sử của mình, chủ nghĩa tư bản đã tạo ra sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất: “Giai cấp tư sản trong quá trình thống trị chưa đầy một thế kỷ, đã tạo ra những lực lượng sản

Trang 15

xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất của tất cả các thế hệ trước kia gộp lại” C.Mác và Ph.Ăngghen, 1980, tr.557)

Dưới sự tác động của các cuộc cách mạng công nghiệp, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã được củng cố và phát triển không ngừng ở các nước như Anh, Pháp, v.v Tại Anh, cuộc cách mạng công nghiệp từ nửa sau thế kỷ XVIII đã dẫn đến những biến đổi quan trọng trong sự phát triển của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, giúp cho Anh vươn lên đứng ở vị trí hàng đầu trong nền kinh tế thế giới Với tốc độ phát triển công nghiệp ngày càng tăng của nước Anh thì việc sử dụng máy móc ngày càng nhiều Những phát minh khoa học, kỹ thuật đã đem lại hiệu quả kinh tế, giúp chuyển từ lao động thủ công sang lao động máy móc, thay thế những công trường thủ công bằng những xí nghiệp hiện đại Các ngành công nghiệp nặng được chú trọng phát triển, như ngành luyện kim, cơ khí nhằm trang bị kỹ thuật cho nền công nghiệp, đường sắt phát triển nhằm tăng cường mối quan hệ với các trung tâm kinh tế và thúc đẩy thị trường phát triển Chính vì vậy đến năm 184 “sản lượng công nghiệp của Anh bằng 45% tổng sản lượng công nghiệp thế giới” (Nguyễn Chí Hải, 2006, tr.30) Có thể nhận thấy, chỉ trong một thời gian ngắn, nước Anh đã có một nền công nghiệp phát triển và dần bước vào giai đoạn công nghiệp hóa cao với nền sản xuất cơ khí

Tại Pháp, chủ nghĩa tư bản cũng đã giành nhiều thắng lợi, giúp kinh tế Pháp lên hàng thứ hai trên thế giới sau Anh Tuy nhiên sự thống trị của chính quyền Louis Philip là một trở ngại lớn đối với kinh tế Pháp Bởi vì bọn quý tộc tài chính chỉ lo làm giàu bằng con đường buôn lậu trên biển và cho vay nặng lãi chứ không tập trung vào phát triển sản xuất hàng hóa

Ở Đức, lúc này vẫn là một nước quân chủ phong kiến với các cát cứ lãnh địa phong kiến và vẫn trong tình trạng bị chia cắt về chính trị, tồn tại dưới một hình thức quốc gia liên bang Liên Bang Đức bao gồm 38 nước, trong đó có 34 tiểu vương quốc và 4 thành phố tự trị (Brê - men, Hăm - bua,

Trang 16

Liu - bêch, Frăng - fuôc)

Trong khi đó, triều đình vua Phổ Friedrich Wilhelm (1770 – 1840) vẫn ngoan cố theo đuổi, duy trì một chế độ quân chủ phong kiến lạc hậu, cản trở đất nước phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa Tuy nhiên do sự ảnh hưởng của cách mạng công nghiệp ở các nước châu Âu, nhất là Anh, Pháp, nền kinh tế Đức bắt đầu phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa

Cuộc cách mạng công nghiệp Đức chính thức bắt đầu nổ ra vào những năm 4 thế kỷ XIX và cũng đã có những tiến bộ đáng kể Nếu như vào những năm 1822 ở nước Đức mới chỉ có 2 máy hơi nước, thì đến năm 1847

đã tăng lên 1139 máy Những tiến bộ kĩ thuật trong việc sử dụng hơi nước để chạy động cơ đã dẫn đến sự phát triển trên nhiều phương diện, đặc biệt là giao thông đường thủy và giao thông đường sắt Bước phát triển trong ngành giao thông bằng động cơ hơi nước đã mang lại thuận tiện lớn trong việc phát triển kinh tế, văn hóa của nước Đức, đồng thời nó cũng là một trong những nhân tố tạo nên sức mạnh về quân sự Bên cạnh đó, chủ nghĩa tư bản ở Đức chủ yếu tập trung đầu tư vào các ngành công nghiệp nặng như khai thác mỏ

và công nghiệp hóa chất Các vùng Rai-lan, Ve-xla-len, Siledin…là những trung tâm công nghiệp phát triển nhất nước Đức lúc bấy giờ

Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở các nước châu Âu lúc này, mặc dù

đã góp phần thúc đẩy vận động xã hội tiến về phía trước, tuy nhiên vẫn còn tồn tại những mâu thuẫn cơ bản của xã hội không những không giải quyết được mà còn làm nó trở nên trầm trọng hơn như: mâu thuẫn giữa các giai cấp đối kháng trong xã hội có giai cấp, sự tha hóa con người…

Trong lịch sử phát triển của kinh tế tư bản, có thể thấy luôn xảy ra những cuộc khủng hoảng theo chu kỳ 1 năm một lần Ở Anh, cuộc khủng hoảng đầu tiên diễn ra vào năm 1825, sau đó lại tiếp tục diễn ra vào những năm 1837 và 1847 theo chu kỳ 1 năm một lần, điều này đã gây ảnh hưởng lớn không chỉ riêng nền kinh tế Anh mà còn có ảnh hưởng đến tình hình kinh

Trang 17

tế của cả châu Âu lúc bấy giờ Sở dĩ xảy ra tình trạng ấy là do mâu thuẫn giữa cái cụ thể và cái toàn bộ Nghĩa là, việc ông chủ tư bản quyết định sản xuất mặt hàng gì, sản xuất bao nhiêu và phân phối như thế nào thì hoàn toàn không có một kế hoạch gì cả, “người sản xuất không biết nhu cầu và nguồn lực, không biết số cầu và số cung” C.Mác và Ph.Ăngghen, 2 0, tr.102) Cũng chính việc sản xuất không có kế hoạch, vô tổ chức đã dẫn đến một mâu thuẫn tiếp theo đó là mâu thuẫn giữa cung và cầu trên thị trường Nhà tư bản tiến hành mở rộng phạm vi sản xuất một cách vô hạn, mà không quan tâm đến nhu cầu của thị trường, sức mua của quần chúng nhân dân Như vậy, tất yếu dẫn đến “khủng hoảng thương nghiệp, đóng cửa xí nghiệp, hàng hóa ứ đọng hay khan hiếm một cách chu kỳ” C.Mác và Ăngghen, 2 , tr.1 2 Đồng thời, khi quá trình tích tụ tư bản và tập trung tư bản ngày càng diễn ra mạnh mẽ, cùng với tính chất khắc nghiệt của các quy luật của thị trường dẫn đến sự sụp đổ của những nhà tư bản nhỏ Trong quá trình cạnh tranh, các nhà

tư bản nhỏ vì lợi nhuận làm ra không đủ để duy trì sự tồn tại của mình, đã khiến họ rơi vào sự bần cùng, để duy trì sự tồn tại họ buộc phải bán sức lao động, trở thành thành viên của giai cấp công nhân

Giữa công nhân và nhà tư bản có mối quan hệ biện chứng với nhau, vừa thống nhất, vừa đấu tranh với nhau Người công nhân chỉ tồn tại được khi bán sức lao động cho nhà tư bản, đồng thời nhà tư bản cũng chỉ tồn tại được khi chiếm lấy lao động làm thuê của công nhân Lợi nhuận của nhà tư bản không thể sinh ra bằng cách gì khác nếu không phải là lao động thặng dư của giai cấp nông dân Nhà tư bản đã biến sức lao động của người công nhân trở thành một loại hàng hóa đặc biệt Công nhân bị tước hết tư liệu sản xuất cần thiết, họ chỉ có thể sống được là nhờ vào việc bán sức lao động của mình cho nhà tư bản Họ bị bóc lột hết sức nặng nề và dã man, phải làm việc liên tục nhiều giờ một ngày, ở những khu nhà tối tăm lụp xụp Cuộc cách mạng công nghiệp đã khiến giai cấp công nhân ngày càng đông đảo hơn, tập trung hơn,

Trang 18

tình cảnh sống thì càng ngày càng tồi tệ và sa sút hơn Đối nghịch với khung cảnh ấy, giai cấp tư sản lại sống cảnh sung sướng trong những khu nhà ở sang trọng, lộng lẫy

Tại Anh, công nhân phải làm việc kéo dài từ 12 đến 16 tiếng đồng hồ với điều kiện môi trường luôn ẩm thấp, nóng nực, bụi bặm, họ bị bóc lột sức lao động đến cạn kiệt Ngay cả lao động phụ nữ và trẻ em cũng được sử dụng trong điều kiện khắc nghiệt “có những trường hợp công nhân nữ đội sọt than từ lò hầm ra, phải lao động ngay cả trong thời kì thai nghén và phải làm việc sau khi sinh nở được vài ngày” (Melvin, 1997, tr.289); Trong khi đó tiền lương của người công nhân chỉ đủ để họ duy trì cuộc sống ở mức tối thiểu nhất, còn tiền lương của công nhân nữ và trẻ em lại rẻ mạt hơn rất nhiều so với tiền lương của công nhân là đàn ông Không chỉ ở Anh, mà ở các nước tư bản khác, đời sống của người công nhân cũng vô cùng đáng thương, tiền công họ nhận được chỉ đủ cho họ khỏi chết đói

“Đau ốm mà nghỉ việc thì không được lãnh công, rủi ro tai nạn thì phải chịu, hơi trái lệch chủ là bị cúp lương Nơi làm việc thì thiếu vệ sinh mà nạn thất nghiệp lúc nào cũng có thể xảy ra được” (Nguyễn Hiến Lê, 1995, tr.90)

Tiền công thấp rẻ mạt là yếu tố quan trọng nhất, khiến cho tình cảnh người công nhân lâm vào nghèo khổ Việc áp dụng máy móc hiện đại vào sản xuất đã làm giảm nhu cầu về lao động thủ công, kéo theo đó giá cả lao động giảm xuống, những chi phí cho công nhân bị rút xuống tới mức chỉ còn những tư liệu sinh hoạt cần thiết để duy trì đời sống và giống loài mà thôi Những cuộc khủng hoảng kinh tế làm cho hàng vạn công nhân bị thất nghiệp, nạn thất nghiệp đã thực sự trở thành tai họa khủng khiếp đối với giai cấp vô sản Nên,

“chỉ cần thương nghiệp lên xuống một chút là hàng ngàn công nhân không có bánh mì; số tiền tiết kiệm ít ỏi của họ biến đi rất nhanh, và lúc

Trang 19

đó nạn đói sẽ đe dọa họ Mà cứ mấy năm thì một cuộc khủng hoảng như vậy lại nổ ra” C.Mác và Ph.Ăngghen, 2 4, tr 696)

Tiền lương từ việc bán sức lao động thì ít ỏi, trong khi đó việc phát triển sản xuất, sử dụng máy móc hiện đại vào sản xuất, có khả năng khiến họ mất việc bất cứ lúc nào, mà mất việc đồng nghĩa với việc họ sẽ bị chết đói

Từ đó, công nhân phải tranh nhau về việc làm, đố kị, thù ghét và làm hại nhau, chỉ mong sao mình không bị chết đói Công nhân là lực lượng lao động chính tạo ra của cải vật chất cho xã hội, nhưng sản phẩm làm ra không thuộc

về họ mà thuộc về nhà tư bản Mối quan hệ giữa con người với con người, nhất là giữa nhà tư bản và công nhân trở nên không còn khăng khít, nhưng cũng không thể thiếu nhau được

Bên cạnh đó, xã hội tư sản lại ngày càng đào sâu khoảng cách giữa thành thị và nông thôn, giữa sản xuất công nghiệp và sản xuất nông nghiệp,

đã tạo nên một sự chênh lệch lớn, tạo nên sự phân hóa mới trong mối quan

hệ giữa người với người Sự vận động của các quy luật thị trường tư bản chủ nghĩa đồng thời đã bộc lộ những mặt trái của chúng Con người cạnh tranh

và làm giàu bằng mọi giá bất chấp tất cả ngay cả chính trong quan hệ gia đình, huyết thống

Chủ nghĩa tư bản đã đẩy mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hóa cao của nền sản xuất và sự chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa với tư liệu sản xuất lên mức gay gắt, không thể dung hòa được Các cuộc đấu tranh giải phóng xã hội gắn liền với các cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống lại trật tự xã hội tư sản Những cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân diễn ra sôi nổi, lúc đầu những cuộc đấu tranh này mang tính chất tự phát, đơn thuần là những cuộc đấu tranh về kinh tế như đòi tăng lương, giảm giờ làm, cải thiện đời sống và điều kiện làm việc, phản đối chế độ cúp phạt của ông chủ tư bản… Đấu tranh kinh tế là một sự tất yếu có tính quy luật của phong trào công nhân Công nhân muốn thông qua đấu tranh kinh tế để thoát khỏi tình cảnh

Trang 20

khốn khó, đấu tranh để có một hoàn cảnh sống tốt hơn Việc đấu tranh kinh

tế của giai cấp công nhân như một sự trưởng thành của giai cấp vô sản, thể hiện sự giác ngộ của giai cấp vô sản Tuy nhiên, những hình thức phản kháng của giai cấp công nhân còn mang tính tự phát như đập phá máy móc, đình công, mới chỉ nhắm vào một mặt của những quan hệ hiện hành Và khi

“công nhân vừa đạt được thắng lợi chốc lát thì quyền lực xã hội liền đem toàn bộ sức nặng của mình đánh vào những người phạm tội đã lại trở thành những người không có gì tự vệ, mặc sức trừng phạt họ, còn máy móc thì lại vẫn được dùng” C.Mác và Ph.Ăngghen, 2 4, tr.595) Chính thực tiễn đấu tranh, đã giúp giai cấp công nhân dần có ý thức, tổ chức kỷ luật Phong trào đấu tranh đã chuyển từ tự phát lên tự giác, giai cấp công nhân trở thành một lực lượng chính trị độc lập, từ những yêu sách đơn thuần về kinh tế đã chuyển dần mục tiêu sang chính trị, nhiều phong trào đấu tranh đã mang tính chất khởi nghĩa vũ trang Nổi lên đó là phong trào Hiến chương năm 183 – 1840 ở Anh; phong trào khởi nghĩa của công nhân Lyông năm 1831 và 1834 ở Pháp; phong trào khởi nghĩa của công nhân dệt Xilêdi năm 1844 ở Đức

Ở Anh, giai cấp công nhân Anh mặc dù chiếm tỉ lệ lớn dân cư đất nước, trong hàng ngũ công nhân Anh cũng có rất nhiều người có học vấn nhưng họ không có bất cứ quyền gì về các công việc xã hội, chính trị của đất nước Giai cấp công nhân Anh lúc bấy giờ cũng chịu ảnh hưởng của tư tưởng xã hội không tưởng của R.Ôoen, cho rằng lao động của giai cấp công nhân là nguồn duy nhất làm giàu cho dân tộc Nhờ vào lao động của họ mà lực lượng sản xuất cứ mười năm lại tăng gấp bội, đời sống sung sướng, xa hoa của giai cấp cầm quyền chính là do sự bóc lột, cướp bóc, chà đạp lên “quyền tự nhiên” của con người mà có được Họ cảm thấy đã bị giai cấp tư sản Anh lừa bịp, và đứng lên đấu tranh vì quyền tự nhiên ấy Những hội, những tổ chức chính trị của giai cấp công nhân Anh lần lượt ra đời Và nổi bậc nhất, đỉnh

Trang 21

cao nhất là phong trào Hiến chương Phong trào đã mang tính chất chính trị

và xã hội rộng lớn, đòi hỏi luật pháp nước Anh phải thực hiện các yêu sách

đề ra là “tiền công công bằng” Khẩu hiệu này đòi hỏi sự thống nhất về tiền công trong các xí nghiệp cùng sản xuất một loại sản phẩm, và đảm bảo mức giá tiền công ấy về sau Sâu xa hơn, có thể hiểu khẩu hiệu ấy có nghĩa là sự đòi hỏi cải tạo chế độ xã hội vì lợi ích của giai cấp công nhân

Ý thức được tính chất phi dân chủ trong hoạt động chính quyền Anh, giai cấp công nhân đã tổ chức một phong trào rộng lớn nhằm đòi quyền lợi chính trị cho mình Tháng 6 năm 1836, Hội Liên hiệp công nhân Luân Đôn được thành lập, Hội này tổ chức phong trào “Hiến chương nhân dân” với mục đích đòi quyền phổ thông đầu phiếu trong bầu cử Đến tháng 5 năm

1939, Hội liên hiệp đã thu thập 125 vạn chữ ký của công nhân và đơn thỉnh nguyện, nhưng nhanh chóng bị chính phủ phủ quyết sau chỉ 2 tháng Năm

1840, phái Hiến chương thu thập được hơn ba triệu chữ ký của công nhân cùng với đơn thỉnh nguyện, sở dĩ lần này sự tập trung số lượng chữ ký lớn

do năm 184 nước Anh rơi vào tình trạng khủng hoảng, đời sống công nhân rơi vào cùng cực Đến năm 1842 thư thỉnh nguyện bị bác bỏ Đến năm 1842 – 1848, khủng hoảng kinh tế tiếp tục diễn ra, phong trào Hiến chương có bước tiến mới khi thu thập được 5 triệu chữ ký, đã lôi kéo được sự tham gia của đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia Qua phong trào, giai cấp công nhân được giác ngộ, có ý thức tổ chức kỷ luật, Đảng Hiến chương được thành lập

Không chỉ ở Anh, mà ở Pháp các phong trào cũng diễn ra hết sức sôi nổi Cuộc cách mạng tư sản lần 2 ở Pháp diễn ra vào tháng 7 năm 183 giành thắng lợi, đánh dấu sự sụp đổ của vương triều Buốcbông (Bourbon) Giai cấp

tư sản Pháp đã gạt bỏ giai cấp vô sản và các tầng lớp giai cấp khác ra khỏi chính quyền, đồng thời còn tước đi những lợi ích về kinh tế của giai cấp vô sản đã làm mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản trở nên gay gắt

Trang 22

hơn Tháng 11 năm 1831 công nhân dệt ở thành phố Lyông (Lyon) bãi công đòi tăng lương, giảm giờ làm với tuyên bố “làm việc không đủ sống thì thà chết trong chiến đấu” Có thể thấy, phong trào không chỉ hướng tới việc tăng lương, giảm giờ làm mà còn hướng đến mục đích chính trị, vũ trang rõ ràng Trong cuộc khởi nghĩa lần này, giai cấp tư sản đã phần nào nhận ra được nguy cơ lớn nhất đối với xã hội là tính chất phi chính trị của nó, mặc dù chỉ mới đưa ra tuyên bố, nhưng vẫn chưa thành lập Đảng, có thể thấy đây là cách duy nhất để biểu hiện sự độc lập về chính trị lúc ban đầu của công nhân Những yêu sách về chính trị do công nhân Lyông đề ra thực tế chỉ có thể là những yêu sách chính trị tư sản, vì lúc ấy tư tưởng về nền cộng hòa xã hội còn rất xa lạ đối với họ Cuộc khởi nghĩa lần này đã đánh dấu một cột mốc quan trọng của quá trình xung đột giai cấp trong xã hội tư sản, để làm nền tảng của cuộc đấu tranh sau này giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản

Sau ba năm bị đàn áp của giai cấp tư sản, tháng 4 năm 1834, công nhân thành phố Lyông (Pháp) tiếp tục tiến hành khởi nghĩa vũ trang lần hai Lần này, cuộc khởi nghĩa đã công khai mục đích chính trị - thành lập nước cộng hòa dân chủ Cuộc khởi nghĩa đã tạo được tiếng vang và nhận được sự ủng

hộ của công nhân Pari, Mácxây cũng như công nhân toàn châu Âu Phong trào đã thể hiện tính chất ủng hộ chế độ cộng hòa rõ nét Phong trào như là phát súng đầu tiên làm tác động tới địa vị chính trị của giai cấp tư sản Pháp cũng như giai cấp tư sản toàn châu Âu

Cả hai cuộc khởi nghĩa đều là những cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản, và cả hai cuộc khởi nghĩa đều mang tính chất chính trị Từ chính thực tiễn đấu tranh chống giai cấp tư sản đã chỉ cho công nhân thấy rằng, chính quyền hiện hành của nhà nước không là đại biểu cho dân tộc, mà đại biểu cho một bộ phận, giai cấp bóc lột trong xã hội Người công nhân ý thức được rằng, việc đấu tranh của họ chính là bảo vệ lợi ích, danh dự

và phẩm giá của họ Việc đấu tranh của giai cấp công nhân ở Pháp vẫn chưa

Trang 23

có mục tiêu rõ nét, họ vẫn chưa có tổ chức, chưa có kế hoạch chính trị, chưa

có hệ tư tưởng riêng vì họ chưa có tri thức Giai cấp công nhân ở Pháp mới chỉ hành động theo tư tưởng của các nhà hoạt động trong phong trào giải phóng không phải là vô sản

Trong xã hội Đức lúc này, giai cấp quý tộc phong kiến vẫn chiếm vị trí thống trị Triều đình vẫn tiếp tục tăng cường quyền lực của chế độ quân chủ chuyên chế phong kiến mà không thực hiện những điều đã hứa hẹn trước đây

về việc ban hành hiến pháp Vì thế, tình trạng đất nước bị chia cắt với quyền lực vô hạn của các tiểu vương quốc là một trở ngại lớn đối với sự phát triển kinh tế tư bản chủ nghĩa Vào những năm 4 của thế kỷ XIX trung tâm của phong trào cách mạng chuyển từ Anh, Pháp sang Đức, trong khi nước này đang phải hoàn thành cuộc cách mạng tư sản Giai cấp tư sản Đức tỏ ra khiếp nhược trước bọn quý tộc phong kiến, khiếp sợ cách mạng, họ dần biến thành lực lượng phản cách mạng, lo sợ sự phát triển của giai cấp công nhân, sự thức tỉnh ý thức cách mạng của giai cấp công nhân Đến nửa đầu thế kỷ XIX, giai cấp tư sản Đức có xu hướng thỏa hiệp với bọn quý tộc phong kiến nhằm chống lại phong trào cách mạng của quần chúng lao động Giai cấp tư sản ở Đức chưa dám nghĩ đến việc thiết lập một xã hội mới bằng con đường cách mạng như ở Pháp

Giới trí thức, sinh viên, tầng lớp tiểu tư sản dân chủ là những tầng lớp

có thái độ cấp tiến hơn, họ đòi hỏi một nền dân chủ thực sự, và yêu cầu thiết lập một chế độ cộng hòa Năm 1834, “Hội nước Đức trẻ” được thành lập, cương lĩnh của hội đề ra là phải thành lập một nước Đức thống nhất, xóa bỏ đặc quyền phong kiến, thực hiện bình đẳng chính trị, xã hội, ban hành quyền

tự do kinh doanh công thương nghiệp…

Nông dân Đức phải sống trong tình trạng vô cùng cực khổ, không những phải chịu tô thuế nặng nề mà còn phải thực hiện các thứ nghĩa vụ phong kiến Hầu hết đất đai đều tập trung vào tay bọn quý tộc địa chủ, nên

Trang 24

người nông dân không có đất để làm nông nghiệp Lúc này trong xã hội Đức, ngoài tiểu nông và tá điền đã bắt đầu xuất hiện công nhân nông nghiệp Họ vừa bị bóc lột giá trị thặng dư, vừa phải thực hiện những nghĩa vụ của chế độ phong kiến, chính vì thế họ đã nhiều lần đứng lên đấu tranh chống bọn quý tộc địa chủ Tuy nhiên, do không có đường lối tổ chức cũng như lãnh đạo nên không tránh khỏi thất bại Chính sự lạc hậu chung về kinh tế, chính trị của nước Đức mà giai cấp vô sản cũng không tránh khỏi tình trạng lạc hậu Ph.Ăngghen có nhận xét rằng:

“Trong quá trình phát triển về xã hội và chính trị của nó, giai cấp công nhân Đức cũng lạc hậu so với giai cấp công nhân Anh, Pháp, giống như giai cấp tư sản Đức so với giai cấp tư sản các nước ấy” (Ph.Ăngghen,

1963, tr.179)

Giai cấp công nhân là một giai cấp ra đời và lớn mạnh theo sự phát triển của công nghiệp, tuy nhiên giai cấp công nhân ở Đức thì lại chủ yếu là những người học việc, những thợ thủ công, những người nửa vô sản khi chưa dứt được nông nghiệp, thậm chí coi nông nghiệp là một nghề phụ

Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, và bước đầu của công nghiệp hóa ở Đức đã tước bỏ đi quyền chính trị của công nhân Đức Nền công nghiệp mới phát triển ở Đức phải cạnh tranh với nền công nghiệp nước ngoài đã hoàn bị hơn về mặc kỹ thuật, bằng cách tấn công vào mức sống của người công nhân Họ bị ép làm việc từ 14 đến 16 giờ trong một ngày, trong khi đó mức tiền lương ít ỏi mà họ nhận lại thì chỉ đủ cho họ khỏi chết đói, tiền lương thấp tới mức không thể thấp hơn được nữa, và họ thường xuyên bị trả bằng hiện vật Chính vì sự bóc lột thậm tệ này, công nhân đã tiến hành đấu tranh phản kháng từ đập phá máy móc đến biểu tình đình công Tháng 6 năm

1844, cuộc khởi nghĩa của công nhân dệt Xilêdi nổ ra, công nhân ở thành phố Xilêdi khởi nghĩa có vũ trang, đốt các chứng từ tư sản và hướng đến đấu tranh chống chế độ tư hữu Phong trào đã có những bước tiến, những điểm

Trang 25

tiến bộ hơn về cách mạng do đã có kinh nghiệm thông qua sự thất bại của phong trào công nhân các nước Pháp, Anh

C.Mác đã từng đánh giá cao cuộc khởi nghĩa của công nhân dệt Xilêdi, coi đó như một hiện tượng chính trị có ý nghĩa lớn lao, mở đầu cho phong trào đấu tranh có tính quần chúng ở Đức, chứ không như bọn dân chủ tiểu tư sản xuyên tạc là một cuộc “nổi loạn vì đói” Cuộc khởi nghĩa ấy đã chứng tỏ giai cấp công nhân Đức đã hành động như một lực lượng xã hội độc lập Họ

đã ý thức được rằng, họ là những người làm thuê, bị bóc lột một cách tàn nhẫn, vì vậy họ cần phải đứng lên đấu tranh cho lợi ích của chính bản thân mình Đây là phong trào đầu tiên của giai cấp công nhân chống lại chủ nghĩa

tư bản một cách quy mô lớn như vậy Vậy nên, có thể nói cuộc khởi nghĩa của công nhân dệt Xilêdi cũng ngang tầm với phong trào Hiến chương Anh

và cuộc khởi nghĩa Lyông ở Pháp

Có thể nhận thấy, cả ba phong trào công nhân trên đều đã thành lập được tổ chức cách mạng của giai cấp công nhân Những phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân giai đoạn này đã chứng tỏ, giai cấp công nhân thế giới đã bước lên vũ đài chính trị, với tư cách là một giai cấp độc lập Các phong trào công nhân giai đoạn này vẫn còn chịu nhiều trào lưu tư tưởng khác nhau như chủ nghĩa xã hội không tưởng - phê phán, đạo Cơ đốc, chủ nghĩa vô chính phủ Đồng thời, giai cấp công nhân chưa có tổ chức vững mạnh, chưa được trang bị hệ thống lý luận khoa học nên vẫn chưa thể giành được thắng lợi

Như vậy, vào những năm 4 của thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản đã có sự phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là các nước Anh, Pháp, Hà Lan, Đức Trong quá trình phát triển ấy, công nhân là lực lượng trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất để tạo ra các sản phẩm lao động Tuy nhiên, những thành quả mà người công nhân tạo ra lại không thuộc về họ bởi tư liệu sản xuất nằm trong tay của những nhà tư bản Bên cạnh đó, người công nhân còn bị bóc lột nặng nề, phải

Trang 26

sống trong những căn hầm ẩm thấp, tối tăm và điều kiện làm việc không được đảm bảo, họ phải làm việc từ 14 đến 16 giờ một ngày mà chỉ nhận được những đồng lương ít ỏi đủ để họ không chết đói Chính vì thế, mà mẫu thuẫn chủ yếu trong giai đoạn này là mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân với giai cấp

tư sản Lúc này, giai cấp công nhân nói riêng và giai cấp vô sản nói chung đã bắt đầu ý thức được những lợi ích căn bản của mình và tiến hành những cuộc đấu tranh nhằm chống lại chủ nghĩa tư bản và đó cũng là những điều kiện cơ bản cho sự xuất hiện quan niệm về con người trong chủ nghĩa Mác và đã được

hệ thống hóa, thể hiện trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức

1.1.2 Tiền đề lý luận và khoa học tự nhiên với việc hình thành vấn đề

con người của C.Mác và Ph.Ăngghen trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức

là nghiên cứu toàn bộ triết học thời trước” C.Mác và Ph.Ăngghen,

1995, tr.487)

Có thể nói, vấn đề con người trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức là kết

quả của sự kế thừa một cách tích cực tinh hoa văn hóa nhân loại, mà trực tiếp nhất là: tư tưởng về con người trong triết học Hy Lạp cổ đại, triết học thời kỳ Phục hưng, triết học ánh sáng, triết học cổ điển Đức là tiền đề lý luận cơ bản Trong triết học Hy Lạp cổ đại, vấn đề con người được bàn tới là sự giải phóng con người Điều này được thể hiện trước hết bằng việc giải phóng tư tưởng con người thoát khỏi thế giới tự nhiên Vào thời kỳ này, các nhà triết học đã cố gắng làm rõ sự phân chia giữa con người và tự nhiên bằng những lập luận của mình Theo đó, con người được xem là khởi điểm của tri thức

Trang 27

và trí tuệ, khởi điểm của sự tự ý thức của con người với tính cách là con người Do đó, các nhà triết học đã chú trọng đến vấn đề con người với tư cách là một thực thể có lý trí nhằm giải phóng tư duy con người khỏi bức tranh huyền thoại về thế giới và cũng từ đây, tư duy khái quát về tự nhiên, xã hội được hình thành để thay thế cho tư duy biểu tượng

Đến thời kỳ cực thịnh của triết học Hy Lạp cổ đại, vấn đề con người đã được khái quát hóa thành một hệ thống tri thức mang tính hàn lâm và con người lúc này đã trở thành đối tượng trực tiếp để nghiên cứu Vì vậy, mà C.Mác và Ph.Ăngghen đã nghiên cứu vấn đề con người trong triết học Hy Lạp

cổ đại từ rất sớm Điều này được thể hiện thông qua việc nghiên cứu đề tài Sự

khác nhau giữa triết học tự nhiên của Đêmôcrít và triết học tự nhiên của Êpiquơ vào năm 1839 của C.Mác và được hoàn thành vào năm 1841 Khi

nghiên cứu về Êpiquơ, C.Mác đánh giá cao triết học của Êpiquơ trong quan niệm về con người Đồng thời, Ông còn cho rằng, các nhà tư tưởng như Xôcrat và Arixtốt là sự phản ánh hết sức chân thực về tư duy của thời kỳ Hy Lạp cổ đại, đặc biệt là Arixtốt Các nhà triết học thời kỳ này đã xem con người

là “động vật duy lý”, đó là việc sử dụng trí lực để lý giải thế giới xung quanh, bóc trần thế giới quan đa thần, để rồi tiến đến làm chủ thế giới Các nhà triết học thời kỳ này đã tìm lời giải đáp qua những câu hỏi về giới tự nhiên, mạo hiểm tiến lên về phía trước để chinh phục thế giới Đánh giá về điều này, Ph.Ăngghen cho rằng:

“trong triết học cũng như trong nhiều lĩnh vực khác, chúng ta phải luôn luôn trở lại với thành tựu của cái dân tộc nhỏ bé đó, cái dân tộc mà năng lực và hoạt động toàn diện của nó đã tạo ra cho nó một địa vị mà không một dân tộc nào khác có thể mong ước được trong lịch sử phát triển của

nhân loại” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 1995, tr 491)

Triết học Hy lạp đã tiếp cận con người dưới nhiều hình thức khác nhau, đây được xem là những “viên gạch” đầu tiên để xây dựng nên quan điểm về

Trang 28

con người sau này Ph.Ăngghen nhận định, “khoa học tự nhiên lý thuyết” cũng “buộc phải quay trở lại với người Hy Lạp, nếu nó muốn truy cứu lịch

sử phát sinh và phát triển của những nguyên lý chung của nó ngày nay” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 1995, tr.491 Chính những thành tựu của triết học

Hy Lạp cổ đại đã để lại cho nhân loại những ánh hào quang sáng lạng và tràn đầy sức sống

Vấn đề con người trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức được kế thừa từ

quan điểm về con người trong triết học Phục Hưng Khi nghiên cứu về triết học thời kỳ này, C.Mác và Ph.Ăngghen đặc biệt đánh giá cao giá trị nhân văn, bởi mục tiêu giải phóng con người trước hết là con người cá nhân thoát khỏi sự ràng buộc của ý thức hệ của xã hội phong kiến và “cái bóng của giáo hội” Các nhà triết học thời kỳ này chủ trương khai sáng trí tuệ con người để

mở đường cho các khoa học phát triển nhằm phục vụ cho con người ở trần gian Chính vì thế, trào lưu chủ đạo của thời kỳ này là chủ nghĩa nhân văn,

nó thể hiện khát vọng của con người trong vấn đề làm chủ bản thân, làm chủ xã hội và chinh phục giới tự nhiên Chủ nghĩa nhân văn là trào lưu xuyên suốt trong triết học Phục hưng, có tác động tích cực đến các lĩnh vực của nhận thức và hoạt động xã hội Cùng với tuyên bố “con người là trung tâm của vũ trụ”, các nhà triết học dành sự quan tâm đáng kể đến việc xây dựng thiết chế xã hội lý tưởng phục vụ con người Các phương án cải cách

xã hội, dù còn sơ lược, đã có tác dụng tích cực đến hình thành tư tưởng khai sáng ở thời đại sau Có thể nói, chủ nghĩa nhân văn thời Phục hưng hàm

chứa hai nội dung lớn đó là: một là, tôn vinh con người, lấy hình ảnh con người đấu tranh vì tự do làm trung tâm để hướng đến một xã hội tốt đẹp; hai

là, phụng sự con người, thay sự thống trị của Thượng đế bằng sự thống trị

của con người, xây dựng một thiên đường trên mặt đất bởi con người và cho con người Triết học thời kỳ Phục hưng xem con người là xuất phát điểm, là mục đích, là đối tượng để nghiên cứu C.Mác và Ph.Ăngghen cho rằng, thời

Trang 29

kỳ này đã “sinh ra những con người khổng lồ: khổng lồ về năng lực suy nghĩ, về nhiệt tình và tính cách, khổng lồ về mặt có lắm tài, lắm nghề và về mặt học thức sâu rộng” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 1995, tr.459 - 460)

Trong thời kỳ này đã sinh ra các nhà triết học tiêu biểu như: Nicolas Copernicus, Léonardo Da Vinci, Giordado, Filippo Bruno, Galiléo Galilés Với sự phát triển của tri khoa học, cùng với đó là các cuộc cách mạng tư sản

nổ ra Mục đích của cuộc cách mạng là xây dựng một xã hội công dân và thiết lập nên nhà nước pháp quyền Triết học thời kỳ cận đại đã có một bước tiến dài trong lịch sử về quan niệm con người Thời kỳ này đã nảy sinh một loạt các nhà triết học lớn như: Francis Bacon, Thomas Hobbes, John Locke, George Berkeley, David Hume, Reen Descares, Pierre Pascal, Charler Luis Secondat Montesquieu, Voltaire, Jean- Jacque Rousseau, Denis Diderot, Paul Henry Holbach, Baruch Spinoza, Gottfried Wihelm Von Leibniz, v.v Khi đánh giá về các nhà tư tưởng thời kỳ này C.Mác và Ph.Ăngghen đã cho rằng, Francis Bacon là “ông tổ thực sự của chủ nghĩa duy vật Anh và của khoa học thực nghiệm hiện đại” (Nguyễn Tiến Dũng, 2 6, tr.263

Thời kỳ này các nhà tư tưởng nhấn mạnh về tri thức như: Francis Bacon cho rằng “tri thức là sức mạnh”; Thomas Hobbes cho rằng, quyền lực cần phải hàm chứa yếu tố tri thức, nghĩa là được xác lập trên sự hiểu biết bản chất con người, hướng đến mục tiêu ổn định chính trị, chủ quyền quốc gia và thống nhất ý chí toàn dân; John Locke cho rằng, không có chân lý nào được toàn bộ nhân loại thừa nhận; David Hume cho rằng, hãy trở thành nhà triết học nhưng phải đắm mình trong triết học và phải là con người, v.v Các quan điểm, con người lý trí, con người tự do, bình đẳng, bác ái, xã hội dân chủ, v.v trong thời kỳ này đã gợi mở ra một xã hội hiện thực trong lịch sử nhân loại C.Mác và Ph.Ăngghen cho rằng, xã hội hiện thực là xã hội được nảy sinh từ tư tưởng của các nhà khai sáng Pháp đã nêu ra Như vậy, con người trong triết học thế kỷ XVII – XVIII, là thành quả tất yếu của sự phát

Trang 30

triển của khoa học tự nhiên, xã hội và tư duy Tuy nhiên, trong thời kỳ này quan điểm về vấn đề con người cũng có những hạn chế nhất định đó là tính chất máy móc, siêu hình, không triệt để Kế thừa những tư tưởng tiến bộ về con người trong giai đoạn này, C.Mác và Ph.Ăngghen đã đặt con người trong vô vàn các mối quan hệ vốn có của nó khi nghiên cứu Quan điểm về con người trong triết học Mác còn là sự kế thừa tư tưởng tiến bộ của chủ nghĩa xã hội không tưởng thời kỳ Phục hưng Các nhà tư tưởng thể hiện rõ quan điểm về giải phóng con người ra khỏi cuộc sống khổ đau bằng một xã hội phi thực tế Họ khát khao xây dựng một xã hội không còn bất công, bóc lột, không còn tiếng khóc của chúng sinh bị áp bức Tuy nhiên, xã hội mà các nhà tư tưởng thời kỳ này không thể vạch ra được một đường lối thực sự

để biến những ước muốn trở thành hiện thực Tuy vậy, những tư tưởng của các nhà chủ nghĩa xã hội không tưởng đã để lại những giá trị vô cùng to lớn

để C.Mác và Ph.Ăngghen kế thừa và phát triển quan điểm về con người của

mình trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức

Thông qua điều kiện thực tiễn xã hội Tây Âu cuối thế kỷ XVIII, đầu thế

kỷ XIX đã cung cấp cho C.Mác những tư liệu để xây dựng vấn đề con người

trong hệ thống triết học của mình nói chung và trong tác phẩm Hệ tư tưởng

Đức nói riêng Cũng chính thực tiễn ấy cũng đã được các nhà kinh tế chính

trị học phản ánh hết sức khái quát trong những tác phẩm của mình, mà nhờ

đó C.Mác đã tổng kết được phần nào điều kiện kinh tế xã hội lúc bấy giờ Kinh tế chính trị học Anh là học thuyết kinh tế của giai cấp tư sản Nó nảy sinh từ thời kỳ cách mạng tư sản Anh, nửa cuối thế kỷ XVII và hoàn thành sau cách mạng công nghiệp Anh thế kỷ XIX Người sáng lập kinh tế chính trị Anh là Wiliam Petty (1623-1687 , các đại biểu quan trọng là: Adam Smith (1723-1790), David Ricardo (1772-1823)

Kinh tế chính trị học cổ điển Anh là một học thuyết lý luận của giai cấp

tư sản, phục vụ cho việc xác lập sự thống trị về kinh tế, chính trị của giai cấp

Trang 31

tư sản mới Họ ra sức chống lại chế độ phong kiến, cho rằng chế độ phong kiến là chế độ do con người áp đặt, chỉ có chế độ tư sản mới là chế độ tự nhiên, làm tăng thêm của cải vật chất cho xã hội

Thời kỳ này, công nghiệp có sự phát triển vượt bậc, năng suất lao động cũng tăng lên đáng kể “để thỏa mãn yêu cầu vật chất của xã hội, chỉ cần mọi người có khả năng làm việc trung bình năm tiếng đồng hồ mỗi ngày là đủ…” C.Mác và Ph.Ăngghen, 2 , tr.84 Tuy nhiên, thực tế các nhà tư bản vì chạy theo lợi nhuận, bóc lột giá trị thặng dư của người công nhân mà ép họ phải làm việc cật lực từ 12 đến 16 giờ đồng hồ, trong điều kiện thiếu thốn với đồng lương “không mua nổi quyền khỏi chết đói”

Khi nền kinh tế tư bản chuyển từ trạng thái tự do cạnh tranh sang trạng thái độc quyền, sự chi phối của quy luật kinh tế tuyệt đối của nó tác động đến đời sống xã hội, sự phân hóa gay gắt giàu nghèo, sự tăng nhanh về số lượng cũng như chất lượng của giai cấp công nhân Lao động của người công nhân lúc này chỉ như một loại hàng hóa đặc biệt hay “hàng hóa có thuộc tính bất hạnh” C.Mác và Ph.Ăngghen, 2 , tr.87 C.Mác và Ph.Ăngghen đã phê phán những hạn chế, khuyết điểm của các nhà kinh tế chính trị học cổ điển như họ coi quy luật kinh tế chủ nghĩa tư bản là tự nhiên, tuyệt đối và bất biến Bên cạnh đó, C.Mác và Ph.Ăngghen cũng nhìn thấy được những đóng góp tích cực về mặt lý luận của kinh tế chính trị học cổ điển Anh ở ba mặt:

Thứ nhất, là học thuyết về giá trị - lao động Đây là một học thuyết tương đối chặt chẽ, học thuyết đã coi lao động là nguồn gốc của giá trị, giá trị lao động được thể hiện qua thời gian lao động xã hội cần thiết Học thuyết này được các nhà tư tưởng như: Petty, Locke, Smith đặt nền móng và Ricardo là người có công lớn nhất Khái niệm giá trị đã xuất hiện tương đối sớm trong lịch sử học thuyết kinh tế, nhưng việc coi lao động là nguồn gốc của giá trị, đo lường giá trị bằng thời gian lao động hao phí trong sản xuất hàng hóa là thành quả của kinh tế chính trị học cổ điển Anh Wiliam Petty

Trang 32

đã đề xuất quan điểm cơ bản về lý luận giá trị lao động, đề cao vai trò quan trọng của đất đai và lao động Ông đã thấy được rằng, giá trị hàng hóa hình thành trong quá trình sản xuất, căn cứ để đo lường giá trị hàng hóa là thời gian lao động hao phí để sản xuất ra hàng hóa Adam Smith đã phát triển học

thuyết giá trị lên một bước trong tác phẩm Nghiên cứu về bản chất và nguồn

gốc của cải của các dân tộc Ông đã phân biệt rõ giá trị sử dụng và giá trị

trao đổi Ông trừu tượng hóa mọi hình thức của lao động thành lao động nói chung, xem đó là nguồn gốc của mọi giá trị trao đổi hàng hóa Có thể thấy, Adam Smith đã thấy được sự trao đổi hàng hóa trên thực tế là trao đổi sức

lao động kết tinh trong hàng hóa Trong tác phẩm Kinh tế chính trị học và

nguyên lý về thuế, ông đã trình bày một cách rõ ràng về mối quan hệ giữa giá

trị trao đổi và giá trị sử dụng Trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, giá trị hàng hóa được quyết định bởi thời gian lao động hao phí Những quan điểm của Adam Smith là không triệt để và hỗn loạn, quan điểm tiền công quyết định giá trị hàng hóa thường lẫn lộn với quan điểm về thời gian lao động quyết định giá trị hàng hóa

Thứ hai, thông qua học thuyết giá trị - lao động, Adam Smith đã có những phán đoán về tính chất cũng như nguồn gốc của giá trị thặng dư dưới các hình thức tồn tại của nó, chẳng hạn như tiền công, lợi nhuận của nhà tư bản và địa tô Giá trị thặng dư có được thông qua lao động làm thuê của giai cấp công nhân,

“địa tô nằm trong cấu thành của giá cả hàng hóa hoàn toàn theo một cách khác với cách của tiền công và lợi nhuận về tư bản Tỷ suất cao hoặc thấp của tiền công và lợi nhuận là nguyên nhân của giá cả cao hay thấp của hàng hóa, còn tỉ suất cao hay thấp của địa tô là kết quả của giá

cả ấy” C.Mác và Ph.Ăngghen, 2000, tr.111)

Adam Smith cho rằng “Tư bản – một số lượng lớn nhất định lao động tích lũy và được dành làm dự trữ” C.Mác và Ph.Ăngghen, 2 , tr.90)

Trang 33

Adam Smith đã nhìn thấy được nguồn gốc của tư bản nhưng vẫn chưa chứng minh được sự tồn tại của nó Khi xem xét hoạt động lao động của người công nhân, Adam Smith đã thừa nhận việc sản xuất và lao động là nguyên tắc, nguyên lý của mình Bởi ông đã nhìn thấy được lao động chính là nguồn gốc của giá trị, lao động gắn liền trực tiếp với hoạt động của người công nhân Đây là một bước tiến mới so với các học thuyết trọng tiền và chủ nghĩa trọng thương trước đó Hạn chế của ông nằm ở chỗ xuất phát điểm khi nghiên cứu lao động của người công nhân, thì ông không chú ý đến tính hiện thực của con người Ông chỉ đi vào nghiên cứu con người chung chung trừu tượng Sự phản ánh hoạt động lao động của người công nhân chỉ là hành vi lao động trừu tượng, lao động như một con vật, và được xem như một loại hàng hóa, người công nhân chỉ có thể tồn tại khi lao động

Thứ ba, Adam Smith đã có sự phân chia xã hội tư sản thành các giai cấp Tổng giá trị sản phẩm xã hội, ông chia thành ba bộ phận cơ bản là địa

tô, lợi tức và tiền công Trong đó, địa tô đại diện cho tầng lớp quý tộc, giai cấp tư sản và giai cấp công nhân Những người sở hữu ruộng đất luôn đòi hỏi địa tô cao nhất đối với người thuê ruộng đất (giai cấp tư sản) Vì vậy để đảm bảo mức lợi tức cho mình, giai cấp tư sản đã hạ thấp tiền công của công nhân

“tư bản chỉ có thể nâng thu nhập của mình bằng cách hạ thấp tiền công và ngược lại” C.Mác và Ph.Ăngghen, 2 , tr.149 Như vậy, phần thiệt thòi suy cho cùng đều thuộc về người công nhân Adam Smith đã lý giải được nguồn gốc của sự phân chia xã hội thành giai cấp, đó là chế độ tư hữu; và cũng cho chúng ta một cơ sở kinh tế để lý giải tại sao trong thời kỳ đầu, giai cấp tư sản và giai cấp công nhân nằm trong cùng một liên minh chống giai cấp phong kiến Qua đó có thể thấy, các nhà kinh tế chính trị học lần đầu tiên

đã mô tả các nhà tư bản với tính cách một giai cấp xã hội độc lập Và trình bày nguyên nhân kinh tế để chia xã hội thành các giai cấp, đây là một đóng góp lớn, góp phần hình thành tư tưởng của C.Mác về vấn đề con người

Trang 34

David Ricardo đã có những quan điểm triệt để hơn Adam Smith trong việc tìm hiểu các hình thức phân phối tiền công, lợi nhuận và địa tô Ông coi

sự đối lập về lợi ích giai cấp, giữa tiền công và lợi nhuận, giữa lợi nhuận và địa tô là cơ sở cho sự nghiên cứu của mình Ông vạch ra quan hệ tỉ lệ nghịch giữa lợi nhuận và tiền công, sự đối lập của giai cấp địa chủ sống bằng địa tô với lợi ích của toàn xã hội cùng nguồn gốc kinh tế của nó

Sixmondi, người hoàn thành kinh tế học cổ điển Pháp đã có sự kế thừa, tiếp nối tư tưởng của Adam Smith về sự phân chia giai cấp xã hội, trên cơ sở phân tích mâu thuẫn giữa sản xuất và tiêu dùng trong phương thức sản xuất

tư bản chủ nghĩa Ông cho rằng tiền đề của mâu thuẫn giữa sản xuất và tiêu dùng trong xã hội tư bản chủ nghĩa là sự tồn tại của lao động làm thuê và tư bản Ông là nhà kinh tế học đầu tiên đã nêu một cách rõ ràng sự phân hóa giai cấp và sự hình thành giai cấp vô sản trong quá trình phát triển tư bản chủ nghĩa Sixmondi đã đi đến kết luận công nghiệp hóa là nguyên nhân của “sự tiêu diệt hoàn toàn giai cấp trung gian Trong xã hội, ngoài những nhà đại tư bản và những người làm thuê cho họ, không tồn tại giai cấp khác” Ngoài ra, trên cơ sở phân tích kinh tế, ông cũng đã đi đến nhận định về sứ mệnh lịch

sử của giai cấp công nhân Tuy nhiên, Sixmondi đã không thấy được chế độ

tư hữu là nguồn gốc phân chia giai cấp, công việc ấy được tiếp tục bởi Pecqueur và Say

Pecqueur cho rằng “Muốn sống, những người không có sở hữu buộc phải trực tiếp hoặc gián tiếp phục vụ những người sở hữu, nghĩa là phụ thuộc vào họ” C.Mác và Ph.Ăngghen, 2 , tr.85 Theo ông, trong xã hội tư bản lúc này phân thành hai phe đối lập, một bên là người công nhân cho thuê lao động của mình, còn một bên là nhà tư bản, cho thuê đối tượng lao động, bắt người khác phải lao động thay mình Còn Say đánh giá, chế độ tư hữu được

“bảo kê bởi hệ thống pháp luật, sự giúp đỡ của lập pháp để làm cho thừa kế trở nên thiêng liêng” C.Mác và Ph.Ăngghen, 2 , tr.89

Trang 35

Có thể thấy, những phác thảo của Adam Smith, luận điểm của Sixmondi, Pechcơ và Say đã chứng minh sự tồn tại của các giai cấp đối lập nhau trong xã hội C.Mác và Ph.Ăngghen cũng đã đồng tình và có sự kế thừa những luận điểm ấy Tuy nhiên, C.Mác và Ph.Ăngghen không chỉ dừng lại ở việc thừa nhận sự tồn tại của giai cấp mà còn chứng minh được vai trò lịch

sử của từng giai cấp Trước đó là vai trò lịch sử của giai cấp tư sản trong cuộc đấu tranh chống lại giai cấp phong kiến, và cho đến ngày nay là vai trò lịch sử của giai cấp vô sản trong cuộc đấu tranh chống lại giai cấp tư sản, để hướng đến xã hội cộng sản, một xã hội không còn giai cấp, không còn chế độ người bóc lột người

Mặt dù đã có những đóng góp quan trọng trong việc hình thành vấn đề

con người trong học thuyết Mác nói chung và trong tác phẩm Hệ tư tưởng

Đức nói riêng Nhưng kinh tế chính trị học cũng có những hạn chế nhất định

Những học thuyết của họ vẫn chưa thoát khỏi tính chất tư sản vẫn là sự biện giải cho sự tồn tại “hợp lý” của những mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất mang tính xã hội hóa và chế độ tư hữu, sự tồn tại “hợp lý” của mâu thuẫn trong đời sống xã hội và đi đến kết luận sự tồn tại “hợp lý” của giai cấp tư sản khi giai cấp ấy mất đi vai trò lịch sử của nó

Theo C.Mác, để kinh tế học là một khoa học thực sự gắn liền với sự giải phóng hoàn toàn con người thì đòi hỏi phải trút bỏ được “chiếc áo” tư sản Nếu chừng nào chưa trút bỏ được “chiếc áo” ấy thì khoa học ấy về mặt phương pháp là siêu hình còn về mặt lịch sử là duy tâm Có thể nhận thấy, các đại biểu lớn của kinh tế chính trị học Anh như Adam Smith, David Ricardo, với những lý luận của họ về nền sản xuất tư bản chủ nghĩa đã ảnh hưởng lớn đến sự hình thành học thuyết của C.Mác và Ph.Ăngghen, cũng như ảnh hưởng

đến việc hình thành tư tưởng về con người trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức

Có thể nói, hiện thực xã hội ngưng đọng của nước Đức và bối cảnh của thời đại đã in đậm dấu ấn của mình trong tư tưởng của các nhà triết học như

Trang 36

Immanuel Kant, Georg Wilhelm Friedrich Hegel, Ludwig Andreas von Feuerbach, v.v Nổi bậc lên là khát vọng về giải phóng con người và cải tạo

xã hội hiện thực Immanuel Kant (1724 – 1804) là nhà triết học đề cao con người, với mong ước cao nhất là giải phóng con người khỏi mọi khổ đau, bất hạnh, áp bức, bóc lột và sự lệ thuộc Khi con người lệ thuộc thì không còn là chính mình và có thể trở thành nô lệ của người khác Con người, với tư cách

là chủ thể của xã hội, là một bộ phận không thể tách rời của giới tự nhiên, nên mọi nghiên cứu phải được xuất phát từ chính con người và vì con người C.Mác và Ph.Ăngghen đã coi triết học Kant là “lý luận Đức của cuộc cách mạng Pháp” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 2 4, tr.131

Bên cạnh Kant là Hêghen (Georg Wilhelm Friedrich Hegel, 1770 – 1831), tư tưởng của Hêghen về con người được tập trung trình bày trong Triết học tinh thần Triết học tinh thần là bộ phận thứ ba trong cấu trúc hệ thống triết học của Hêghen Ông là người “tiếp tục phát triển tư duy của con người và lịch sử nhân loại” (Nguyễn Tiến Dũng, 2 6, tr.479- 450) Hêghen cho rằng, nếu như tinh thần chủ quan chính là lĩnh vực ý thức của con người thì tinh thần khách quan là sự khách quan hóa tinh thần của con người trong đạo đức, pháp quyền, nhà nước Pháp luật là sự thể hiện của ý chí trong các quan hệ xã hội, nhất là quan hệ sở hữu, còn đạo đức là sự thể hiện ý chí của mỗi cá nhân, thông qua hành vi xử thế Sự quy định của xã hội được bắt đầu

từ gia đình đến xã hội công dân và cuối cùng là nhà nước Nguyên nhân của

sự phân chia đẳng cấp trong xã hội được bắt nguồn từ sự phân công lao động Con người chỉ có thể tự do khi con người có trí tuệ và tư duy, đây là quan niệm tiến bộ của Hêghen Tuy nhiên, xét theo một khía cạnh khác thì quan niệm về tự do của Hêghen mang màu sắc duy tâm khách quan khi gắn sự tự

do với ý chí của Chúa

Phoiơbắc (Ludwig Andreas von Feuerbach ,1804 – 1872), ông là người đặt con người vào trung tâm toàn bộ hệ thống triết học của mình Theo ông,

Trang 37

nếu chúng ta xem vấn đề cơ bản của triết học là mối quan hệ giữa tồn tại và tư duy thì phải bắt đầu từ con người, vì chỉ có con người mới biết tư duy Trong khi tư duy về thế giới, con người cũng tư duy về chính bản thân mình Nhờ có con người mà những gì kỳ vĩ nhất của thiên nhiên mới được bộc lộ ra Con người trong hệ thống triết học của Phoiơbắc là con người bằng xương bằng thịt, con người biết sống, biết suy nghĩ và biết yêu Ông lý tưởng hóa tình yêu của con người, cho rằng yêu là bản chất của con người, con người chỉ trở thành người khi biết yêu Sự thù ghét, đó kỵ nhau là quan hệ không chân chính, không phải con người Tình yêu đối với gia đình, các quan hệ hôn nhân chính là điểm xuất phát cho tình yêu lớn, tình yêu cộng đồng Con người mang bản chất cộng đồng, khi xem xét như vậy thì con người được xác định là mục tiêu cuối cùng của cộng đồng lớn nhân loại, là “vương quốc

tự do” Dưới ảnh hưởng của cách mạng tư sản Pháp (1789), Phoiơbắc đề cao khát vọng tự do và dân chủ, mô hình xã hội công dân và nhà nước pháp quyền Ông nêu lên tuyên ngôn: “hãy thống nhất tất cả mọi người trên tinh thần nhân bản Con người do thiên nhiên tạo ra để sống và hưởng thụ, chứ không phải để đau khổ Mọi đặc quyền là trái với tự nhiên” Đinh Ngọc Thạch, 1993, tr.135) Phoiơbắc ca ngợi trật tự tư sản đang dần hình thành ở Đức Theo ông dưới chủ nghĩa tư bản dân chủ được phát huy, con người được hành động theo nguyện vọng của mình Quan niệm của Phoiơbắc về con người và giải phóng con người được xây dựng trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc tư tưởng của các nhà khai sáng Pháp thế kỷ XVIII, vận dụng vào

nước Đức Trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức, C.Mác và Ph.Ăngghen đã tập

trung phê phán quan niệm về con người của Phoiơbắc Con người trong triết học của Phoiơbắc là con người chung chung trừu tượng, phi xã hội, phi giai cấp với những thuộc tính sinh học bẩm sinh Phoiơbắc đã không đề cập đến con người thực tiễn lịch sử, không nhìn thấy phương diện xã hội trong bản chất của con người Ông đã chỉ ra hạn chế cơ bản của Phoiơbắc trong vấn đề

Trang 38

con người Phoiơbắc chỉ nói đến “con người trừu tượng” mà không nói đến con người thực tiễn lịch sử, con người hiện thực Theo C.Mác và Ph.Ăngghen,

so với các nhà duy vật “thuần túy, Phoiơbắc đã có ưu điểm lớn là ông thấy rằng, con người cũng là một đối tượng của cảm giác” chứ không phải là “hoạt động cảm giác được” Nhưng ông cũng chỉ dừng lại ở lý luận mà không xem xét con người trong mối quan hệ xã hội nhất định của họ, trong những điều kiện sinh hoạt hiện có của họ, những điều kiện làm cho họ trở thành những con người đúng như họ đang tồn tại trong thực tế Nghĩa là, Phoiơbắc không bao giờ nhận thức tới được những con người hành động đang tồn tại thực sự,

mà ông chỉ dừng lại ở con người với tính chất con người trừu tượng Ở ông, con người “hiện thực, cá thể, bằng xương, bằng thịt” chỉ đóng khung trong tình cảm thôi và hoàn toàn không biết đến những “quan hệ con người” nào khác, ngoài tình yêu và tình bạn được lý tưởng hoá Phoiơbắc cho rằng, con người không phải là sản phẩm của Thượng đế như các nhà thần học quan niệm, cũng không phải là “sự tha hoá” của “ý niệm tuyệt đối” như Hêghen nói, mà là sản phẩm của giới tự nhiên Theo ông, giới tự nhiên là ánh sáng, điện từ, từ tính, không khí, nước, lửa, đất, động vật, thực vật, là con người, bởi

vì con người là một thực thể hoạt động; trong đó, con người là sản phẩm tiến hoá cao nhất của giới tự nhiên Giới tự nhiên của ông ở đây là giới tự nhiên bất biến, siêu hình khi không thấy được rằng con người đã tác động vào giới

tự nhiên làm cho tự nhiên có tính chất lịch sử Ông cũng không nhìn thấy được mối quan hệ biện chứng giữa con người với giới tự nhiên, nghĩa là khi giới tự nhiên tác động đến con người thì con người cũng tác động vào giới tự nhiên, và chính bản thân con người Mặc dù chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của triết học Phoiơbắc, nhưng C.Mác - Ph.Ăngghen đã tiếp thu triết học đó một cách có chọn lọc, phê phán Theo C.Mác và Ph.Ăngghen thì, quan niệm về con người và giải phóng con người chỉ được thực hiện một cách triệt để bằng một cuộc cách mạng khoa học

Trang 39

*Về tiền đề khoa học tự nhiên

Triết học không thể phát triển, nếu tách ra khỏi trình độ nhận thức chung của thời đại, trong đó có trình độ phát triển của tri thức khoa học tự nhiên Triết học Mác nói chung và quan điểm về con người trong triết học Mác nói riêng cũng vậy Những khám phá khoa học, với những chất liệu thực tiễn không thể bác bỏ, đã trở thành chỗ dựa vững chắc đối với quá trình xác lập những luận điểm triết học, trong đó có quan điểm về con người Một trong những đóng góp vĩ đại của giai cấp tư sản đó là thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - kỹ thuật Bước sang nửa đầu của thế kỷ XIX, khoa học tự nhiên đạt được những thành tựu vượt bậc, những thành tựu mang tính vạch thời đại, vượt qua giới hạn của những quan niệm siêu hình

về tự nhiên, thuyết “mặc khải” của thần học và tôn giáo

Cuối thế kỷ XVII, Cantơ Kant; 1724 – 18 4 đưa ra thuyết tinh vân và nguồn gốc Hệ mặt trời, lý thuyết giải thích về nguồn gốc tự phát sinh của vũ trụ Năm 18 3, Gi.Danton (Dalton; 1766-1844) công bố thuyết nguyên tử khoa học Nhà bác học Đức Ph.Vuêlơ Woehler; 18 -1882) tổng hợp thành công chất Urê vào năm 1828, công trình đánh dấu lần đầu tiên nhân loại vượt qua ranh giới giữa chất vô cơ và hữu cơ Những phát hiện mới trong khoa học tự nhiên đã đưa đến sự biến đổi trong cách thức tư duy của con người, tạo tiền đề cho việc ra đời triết học Mác Trong những phát minh đó, phải kể đến ba phát minh quan trọng là định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng; thuyết tế bào; thuyết tiến hóa:

Thứ nhất, định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng Công trình đã

có sự lý giải mới về toàn bộ thế giới vật chất Tư tưởng cơ bản của định luật

bảo toàn chuyển hóa năng lượng được nêu lên trong tác phẩm Nguyên lý triết

học của R.Đềcáctơ Descartes; 1596 – 1650), xuất bản năm 1644, tuy nhiên

cho đến năm 1842 quy luật này mới được chứng minh thực sự trong công

trình nghiên cứu Bàn về lực trong giới vô cơ của thầy thuốc người Đức

Trang 40

G.R.Mayơ Mayer; 1814-1878 Trên cơ sở quy luật, nhà khoa học Gi.Giulơ (Joule; 1818-1889 đã tính được một đơn vị nhiệt năng qui đổi thành bao nhiêu đơn vị cơ năng Thế giới vật chất được xác định là không bị tiêu diệt, đồng thời còn là một quá trình liên hệ, tác động, chuyển hóa lẫn nhau giữa các yếu tố trong mỗi sự vật hiện tượng Sự tồn tại của thế giới vật chất là biện chứng, mọi sự vật, hiện tượng đều tác động chuyển hóa qua lại giữa các dạng vật chất, không có bắt đầu và kết thúc

Thứ hai, thuyết tế bào do nhà sinh vật học người Đức M.G.Sleđen

(Schleiden, 1804-1892) xây dựng, nếu như những nhà khoa học trong thế kỷ XVII - XVIII chỉ mới dùng kính hiển vi nghiên cứu về tổ chức cơ thể sinh vật và phát hiện ra đơn bào, đa bào, thì đến thế kỷ XIX ông đã xây dựng nên thuyết tế bào một cách có hệ thống vào năm 1838 Ông cho rằng tế bào là đơn vị sống cơ bản nhất trong kết cấu của mọi thực vật, quá trình phát dục của thực vật là quá trình hình thành và phát triển của tế bào Một năm sau đó, năm 1839, giáo sư giải phẫu học T.Svanơ Schwann, 181 -1882 đã mở rộng học thuyết tế bào từ giới thực vật sang động vật, giúp mọi người nhận thức được rằng tế bào là đơn nguyên kết cấu chung của mọi cơ thể sinh vật Sự phát triển của giới sinh vật không có gì khác ngoài sự lớn lên không ngừng bằng cách phân chia tế bào Những phát hiện nêu trên đã vạch ra được quá trình biện chứng của sự vận động phát triển, chuyển hóa không ngừng của giới sinh vật Khẳng định chân lý khoa học này đã bác bỏ quan niệm siêu nhiên về nguồn gốc của sự sống

Lý thuyết tế bào đã chứng minh sự kiện về sự thống nhất bên trong của toàn bộ sinh vật và chỉ ra một cách gián tiếp sự giống nhau về nguồn gốc của tất cả các thực thể sống từ những cơ thể đơn bào Hai nhà nghiên cứu M.G.Sleđen và T.Svanơ đều không thể rút ra những kết luận triết học đúng đắn

từ những phát minh khoa học của mình, bởi vì hai ông nghiên cứu tự nhiên theo quan điểm duy tâm và tôn giáo Chỉ có những nhà sáng lập chủ nghĩa Mác mới

Ngày đăng: 18/04/2021, 23:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. C.Mác - Ph.Ăngghen. 2 4 . Hệ tư tưởng Đức (tái bản). Hà Nội: Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ tư tưởng Đức (tái bản)
2. C.Mác và Ph.Ăngghen. 1995 . Toàn tập, tập 1. Hà Nội: Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập, tập 1
3. C.Mác và Ph.Ăngghen. (1995). Toàn tập, tập 2. Hà Nội: Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập, tập 2
Tác giả: C.Mác và Ph.Ăngghen
Năm: 1995
4. C.Mác và Ph.Ăngghen. 1995 . Toàn tập, tập 21. Hà Nội: Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập, tập 21
5. C.Mác và Ph.Ăngghen. 1995 . Toàn tập, tập 3. Hà Nội: Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập, tập 3
6. C.Mác và Ph.Ăngghen. 1995 . Toàn tập. tập 21. Hà Nội: Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập. tập 21
7. C.Mác và Ph.Ăngghen. 2 . Toàn tập, tập 42. Hà Nội: Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập, tập 42
8. C.Mác và Ph.Ăngghen. 2 4 . Toàn tập. Tập 1. Hà Nội: Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập. Tập 1
9. C.Mác và Ph.Ăngghen. 2 4 . Toàn tập. Tập 3. Hà Nội: Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập. Tập 3
10. Cao Thu Hằng. (2006). Quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen về con người, giải phóng con người trong Hệ tư tưởng Đức và sự vận dụng của Đảng ta. Tạp chí triết học, 3 (178) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen về con người, giải phóng con người trong Hệ tư tưởng Đức và sự vận dụng của Đảng ta
Tác giả: Cao Thu Hằng
Năm: 2006
11. Đặng Hữu Toàn. (2006). “Hệ tư tưởng Đức” - tác phẩm đánh dấu sự ra đời một thế giới quan mới, một quan niệm duy vật về lịch sử. Tạp chí Triết học, S. 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Hệ tư tưởng Đức” - tác phẩm đánh dấu sự ra đời một thế giới quan mới, một quan niệm duy vật về lịch sử
Tác giả: Đặng Hữu Toàn
Năm: 2006
12. Đặng Hữu Toàn. (2018). Học thuyết về con người, giải phóng và phát triển con người - một giá trị làm nên sức sống trường tồn của chủ nghĩa Mác. Báo điện tử Đảng cộng Sản Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Học thuyết về con người, giải phóng và phát triển con người - một giá trị làm nên sức sống trường tồn của chủ nghĩa Mác
Tác giả: Đặng Hữu Toàn
Năm: 2018
13. Đinh Ngọc Thạch và Doãn Chính. (2018). Lịch sử triết học phương Tây, tập 1 – Từ triết học cổ đại đến triết học cổ điển Đức. Hà Nội: Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử triết học phương Tây, tập 1 – Từ triết học cổ đại đến triết học cổ điển Đức
Tác giả: Đinh Ngọc Thạch và Doãn Chính
Năm: 2018
14. Đinh Ngọc Thạch. (1993). Đại cương lịch sử triết học phương Tây (tài liệu lưu hành nội bộ). Đại học tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: ). Đại cương lịch sử triết học phương Tây (tài liệu lưu hành nội bộ)
Tác giả: Đinh Ngọc Thạch
Năm: 1993
15. Giắccơ Đêriđa. 1994 . Những bóng ma của Mác. (Nhà xuất bản chính trị quốc gia và Tổng cục II Bộ Quốc phòng dịch). Hà Nội: Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những bóng ma của Mác
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị quốc gia và Tổng cục II Bộ Quốc phòng dịch). Hà Nội: Chính trị quốc gia
16. GS.PTS. Nguyễn Hữu Vui (Chủ biên). (1997). Lịch sử triết học. Hà Nội: Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử triết học
Tác giả: GS.PTS. Nguyễn Hữu Vui (Chủ biên)
Năm: 1997
17. Hồ Chí Minh. (2011). Toàn tập, tập 13. Hà Nội: Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập, tập 13
Tác giả: Hồ Chí Minh
Năm: 2011
18. Hồ Sĩ Quý chủ biên). (2003). Con người và phát triển con người trong quan niệm của C.Mác và Ph.Ăngghen. Hà Nội: Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con người và phát triển con người trong quan niệm của C.Mác và Ph.Ăngghen
Tác giả: Hồ Sĩ Quý chủ biên)
Năm: 2003
19. Hồ Sĩ Quý. 2 16 . Con người và phát triển con người. Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con người và phát triển con người
20. Hồ Sỹ Quý. (2000). Mối quan hệ giữa con người và tự nhiên trong sự phát triển xã hội. Hà Nội: Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mối quan hệ giữa con người và tự nhiên trong sự phát triển xã hội
Tác giả: Hồ Sỹ Quý
Năm: 2000

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w