Trong đó, thuyết tiến hóa của Darwin, được công bố lần đầu tiên vào năm 1859, đã thực sự gây được một ảnh hưởng lớn đối với giới sinh học, đồng thời cũng đã đánh một đòn chí mạng vào nhữ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRẦN THỊ KHÁNH LINH
HỌC THUYẾT TIẾN HÓA CỦA CHARLES DARWIN VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2020
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRẦN THỊ KHÁNH LINH
HỌC THUYẾT TIẾN HÓA CỦA CHARLES DARWIN VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Luận văn này là công trình do chính tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS
TS Vũ Văn Gầu Nội dung trong luận văn chưa từng được công bố dưới bất kì hình thức nào, tài liệu tham khảo và trích dẫn trong luận văn là hoàn toàn chính xác Nếu những lời cam đoan trên không đúng sự thật, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
TP Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2020
Người cam đoan
TRẦN THỊ KHÁNH LINH
Trang 4MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU 1
PHẦN NỘI DUNG 10
Chương 1 HỌC THUYẾT TIẾN HÓA CỦA CHARLES DARWIN 10
1.1 CƠ SỞ HÌNH THÀNH HỌC THUYẾT TIẾN HÓA CỦA CHARLES DARWIN 10
1.1.1 Điều kiện kinh tế, xã hội nước Anh nửa đầu thế kỉ XIX đối với sự hình thành học thuyết tiến hóa của Charles Darwin 10
1.1.2 Tiền đề lý luận và tiền đề khoa học đối với sự hình thành học thuyết tiến hóa của Charles Darwin 21
1.1.3 Khái quát cuộc đời và sự nghiệp của Charles Darwin 31
1.2 NỘI DUNG CƠ BẢN HỌC THUYẾT TIẾN HÓA CỦA CHARLES DARWIN VÀ SỰ PHÁT TRIỂN HỌC THUYẾT TIẾN HÓA SAU CHARLES DARWIN 35
1.2.1 Nội dung cơ bản học thuyết tiến hóa của Charles Darwin 35
1.2.2 Sự phát triển học thuyết tiến hóa sau Charles Darwin 53
Kết luận chương 1 61
Chương 2 GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ HỌC THUYẾT TIẾN HÓA CỦA CHARLES DARWIN VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG 64
2.1 GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ HỌC THUYẾT TIẾN HÓA CỦA CHARLES DARWIN 64
2.1.1 Giá trị học thuyết tiến hóa của Charles Darwin 64
2.1.2 Hạn chế học thuyết tiến hóa của Charles Darwin 70
2.2 Ý NGHĨA HỌC THUYẾT TIẾN HÓA CỦA CHARLES DARWIN ĐỐI VỚI CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG 76
2.2.1 Chứng minh tính đúng đắn của thế giới quan duy vật biện chứng 76
2.2.2 Chứng minh tính đúng đắn của phương pháp luận biện chứng duy vật 90
2.2.3 Ý nghĩa của sự phát triển học thuyết tiến hóa sau Charles Darwin đối với chủ nghĩa duy vật biện chứng 106
Kết luận chương 2 114
PHẦN KẾT LUẬN CHUNG 117
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 121
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngay từ khi ra đời, triết học đã gắn kết chặt chẽ với sự phát triển của khoa học tự nhiên Nhiều nhà triết học đồng thời cũng là những nhà khoa học, chúng ta
có thể lấy ví dụ như Thales, Pythagoras, Descartes, Pascal, Bacon, Sự liên minh này mang ý nghĩa quan trọng đối với cả triết học lẫn khoa học tự nhiên, bởi các nhà triết học thì sử dụng những thành quả của khoa học tự nhiên để luận chứng cho quan điểm của mình, còn các nhà khoa học tự nhiên lại vận dụng những nguyên lý, quy luật của triết học để có thể hệ thống hóa, khái quát hóa các khoa học riêng biệt Sự ảnh hưởng lẫn nhau này có thể được minh họa rõ rệt vào thế kỉ XVII, XVIII Đây là giai đoạn cơ học đang đứng ở vị trí thống trị trong khoa học, mà ảnh hưởng của nó để lại trong triết học chính là việc con người có quan điểm máy móc, siêu hình về thế giới Từ đó, với thế giới quan và phương pháp luận chưa được chính xác, khiến các nhà khoa học cũng rơi vào sai lầm khi nghiên cứu và đưa ra kết luận Điều này tạo cơ sở cho mối quan hệ giữa triết học và khoa học với tôn giáo vẫn chưa thể chấm dứt Cho đến những năm 40 của thế kỉ XIX, với sự xuất hiện của Marx và Engels, chủ nghĩa duy vật biện chứng đã ra đời và tạo nên một bước ngoặt trong triết học Với thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng, Marx và Engels đã xây dựng nên một hệ tư tưởng mang tính khoa học và cách mạng, dựa trên sự bám sát vào thực tiễn sinh động của con người Trong đó
cả hai đều nhận thấy rõ sự tất yếu phải liên minh của triết học và khoa học tự nhiên, do vậy hai ông luôn theo dõi những thành tựu của khoa học tự nhiên đương thời để làm tài liệu cho những quan điểm triết học của mình
Trong quá trình hình thành và phát triển, chủ nghĩa duy vật biện chứng tất yếu phải đấu tranh với những quan điểm duy tâm, siêu hình về thế giới, trong đó
có những quan điểm về thế giới hữu cơ hay về giới sinh vật Từ những năm đầu thế kỉ XIX trở về trước, quan điểm tôn giáo đang là quan điểm thống trị khi con người nói về sự sống hay về sự sáng tạo ra thế giới hữu cơ Ở đó, tất cả sinh vật kể
cả con người đều do bàn tay của một quyền lực tối cao nào đó sáng tạo nên, và sự sáng tạo này diễn ra một cách đồng thời và chỉ một lần Đến ngay cả nhà khoa học
Trang 6lỗi lạc nhất thời kì đó như I Newton (1642-1727), cũng đã phải viện dẫn đến một
“cú hích đầu tiên của Thượng Đế” khi nhắc đến vấn đề này Chủ nghĩa duy vật biện chứng, tất yếu phải đấu tranh chống lại những quan điểm duy tâm tôn giáo như trên Sự đấu tranh này không thể chỉ dựa trên những quan điểm duy vật biện chứng – cái nằm trong tư tưởng, mà còn phải được dựa trên những khám phá khoa học để có thể lấy chúng làm cơ sở vững chắc cho những quan điểm của mình Và tại thời điểm đó, có ba phát minh khoa học vĩ đại được Engels nhắc đến như là cơ
sở khoa học mang tính bước ngoặt cho sự ra đời chủ nghĩa duy vật biện chứng, chính là định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng, thuyết tế bào và thuyết tiến hóa của Darwin Trong đó, thuyết tiến hóa của Darwin, được công bố lần đầu tiên vào năm 1859, đã thực sự gây được một ảnh hưởng lớn đối với giới sinh học, đồng thời cũng đã đánh một đòn chí mạng vào những quan điểm duy tâm, tôn giáo về sự sống, về giới tự nhiên Thành tựu nghiên cứu này của Darwin đã chỉ ra rằng mọi sinh vật kể cả con người đều có nguồn gốc chung; từ nguồn gốc chung ấy, trải qua một quá trình tiến hóa – quá trình được tiến hành thông qua cơ chế chọn lọc tự nhiên – mới tạo nên được sự đa dạng, phong phú của giới sinh vật như hiện nay Chính nhờ quan điểm này, mà thuyết tiến hóa của Darwin thực sự đã đem lại những luận chứng xác đáng cho chủ nghĩa duy vật biện chứng trong phạm vi thế giới hữu cơ, góp phần phát triển thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng Điều này cũng được Marx khẳng định trong thư gửi Engels vào năm 1860, chỉ một năm sau khi thuyết tiến hóa ra đời: “ cuốn sách này đem lại cơ sở lịch sử
- tự nhiên cho các quan điểm của chúng ta” (Marx & Engels,1997, t.30, tr.173) Do vậy, việc tìm hiểu học thuyết tiến hóa của Darwin là một điều cần thiết để có thể chứng minh cho tính khoa học và cách mạng của chủ nghĩa duy vật biện chứng, đặc biệt là trong giới hữu cơ
Mặt khác, hiện nay khoa học tự nhiên nói chung và sinh học nói riêng đang
có những bước tiến vô cùng mạnh mẽ, nhất là khi chủ nghĩa tư bản vẫn đang ngày càng phát triển và bành trướng Các thành tựu khoa học chính là những giá đỡ vững chắc cho sự phát triển ấy, và ngược lại chính chủ nghĩa tư bản cũng đã định hướng cho những nghiên cứu khoa học theo hướng có lợi nhất cho mình Có thể ví
Trang 7dụ như sinh học hiện đại ngày nay dường như không còn vây xung quanh về những vấn đề nguồn gốc hay sự ra đời các loài, mà nó đang nỗ lực nghiên cứu ngày càng dựa trên nhu cầu trực tiếp của con người Trong các phòng thí nghiệm, những sinh vật mới với những đặc tính mới đã ra đời dưới sự tác động của con người; ví dụ như các cơ thể hữu cơ gắn với công cụ phi hữu cơ như tay máy, mắt nhân tạo, hay là những trí tuệ nhân tạo AI có những hành vi, bộc lộ những cảm xúc giống con người, Những thành tựu khoa học như vậy không thể phủ nhận rằng có những lợi ích to lớn trong việc giúp đỡ con người, tạo một môi trường sống ngày càng tiện ích và thoải mái hơn Nhưng thật trớ trêu, những gì giúp đỡ con người cũng có thể hủy hoại con người, nếu chúng ta không nhận thức được những quy luật tất yếu, nhất là những vấn đề liên quan đến xã hội Bên cạnh đó, mối quan hệ giữa con người với tự nhiên ngày càng là một vấn đề cấp thiết, bởi chúng ta đang phải trả giá cho những sai lầm trong việc phát triển không bền vững gây nên Trong năm 2019, đã có nhiều cuộc cháy rừng lớn diễn ra ở khắp các châu lục, như Amazon ở châu Mỹ, Indonesia ở châu Á, Australia ở châu Úc, khi thời tiết các nơi đều ngày càng trở nên khắc nghiệt hơn bao giờ hết Tất cả những hệ quả này đều do chính con người tạo ra thông qua sự tàn phá tự nhiên để làm giàu cho chính mình Những hiện tượng mang tính chất toàn cầu như vậy đặt ra những nan đề buộc con người phải đưa ra lựa chọn để hành động Và những lựa chọn này
có thể giúp con người hàn gắn những sai lầm hay không lại hoàn toàn phụ thuộc vào sự hiểu biết của chúng ta đối với thế giới này Với thực tế như vậy, việc xem xét lại mối quan hệ giữa chủ nghĩa duy vật biện chứng và khoa học là điều cần thiết; trong đó, ngành sinh học dường như là một trong những ngành quan trọng nhất bởi nó liên quan đến chính những sinh vật đang sống trên trái đất Và học thuyết tiến hóa, không nghi ngờ gì chính là một nền tảng cho lĩnh vực sinh học Vì thế việc tìm hiểu nó sẽ giúp chúng ta có được cái nhìn sâu sắc nhất về giới sinh vật
đã được tạo ra như thế nào, con người có nguồn gốc từ đâu Thông qua đó, chúng
ta có thể hiểu rõ hơn được những quan điểm về thế giới của chủ nghĩa duy vật biện chứng đã được luận giải như thế nào, đồng thời khẳng định được sự liên minh ngày càng vững chắc của khoa học và triết học nói chung, chủ nghĩa duy vật biện
Trang 8chứng nói riêng Đó cũng chính là lý do tác giả chọn đề tài “Học thuyết tiến hóa của Charles Darwin và ý nghĩa của nó đối với chủ nghĩa duy vật biện chứng” làm
đề tài luận văn thạc sĩ của mình
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Học thuyết tiến hóa của Darwin ra đời như là một cuộc cách mạng trong lĩnh vực sinh học hiện đại Trải qua gần 160 năm kể từ khi xuất hiện, cho đến nay
nó vẫn còn giữ nguyên giá trị của mình, dù xung quanh học thuyết này vẫn còn nhiều vấn đề gây tranh cãi Chính vì vậy đã có nhiều công trình của các nhà nghiên cứu về học thuyết tiến hóa ở nhiều góc độ khác nhau, trong đó có những công trình liên quan đến mối liên hệ giữa học thuyết tiến hóa và chủ nghĩa duy vật biện chứng Chúng ta có thể khái quát các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài
luận văn “Học thuyết tiến hóa của Charles Darwin và ý nghĩa của nó đối với chủ nghĩa duy vật biện chứng” theo ba hướng như sau:
Thứ nhất, đó là các công trình nghiên cứu về học thuyết tiến hóa của Darwin Liên quan đến chủ đề này, có các công trình cơ bản như Học thuyết tiến
hóa (Trần Bá Hoành, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1988) và Giáo trình tiến hóa (Nguyễn
Xuân Viết, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2009) Cả hai công trình đều được trình bày theo cách tương tự nhau, bao gồm hai phần: Lịch sử phát triển học thuyết tiến hóa và Thuyết tiến hóa hiện đại Trong phần một, tác giả nêu rõ được sự phát triển học thuyết tiến hóa theo từng giai đoạn: trước Darwin, của Darwin và sau Darwin; đồng thời đưa ra những bằng chứng cho thấy học thuyết tiến hóa của Darwin là chính xác và khoa học Phần hai của công trình nghiên cứu lại trình bày
về thuyết tiến hóa hiện đại, trong đó có một chương bàn đến vấn đề nguồn gốc con người theo thuyết tiến hóa Với tư cách là giáo trình thuộc lĩnh vực sinh học, hai công trình thực sự đã đem lại những kiến thức đầy đủ và rõ nét nhất về học thuyết tiến hóa, không những của Darwin mà còn của những nhà sinh học khác
Bên cạnh đó còn có công trình 150 năm thuyết tiến hóa và Charles Darwin
(Chu Hảo, Nguyễn Quang Riệu, Trịnh Xuân Thuận, Nguyễn Xuân Xanh, Phạm Xuân Yêm, Nxb Tri thức, Hà Nội, 2010) Đây là một cuốn kỷ yếu được biên tập nhân kỉ niệm 150 năm học thuyết tiến hóa ra đời Do đó, tác phẩm bao gồm nhiều
Trang 9bài nghiên cứu liên quan đến thuyết tiến hóa của nhiều tác giả, có những bài tiêu biểu như: “Khởi đầu là sự ngẫu nhiên” của tác giả Hà Dương Tuấn, “Ảnh hưởng của Darwin đến tư tưởng hiện đại” của tác giả Ernst Mayr, “Thuyết tiến hóa sau Darwin” của tác giả Nguyễn Ngọc Hải, Các bài viết trong công trình chủ yếu đi vào phân tích một khía cạnh riêng biệt, có thể liên quan đến thuyết tiến hóa của Darwin, có thể là về chính bản thân cuộc đời Darwin, và những ứng dụng khoa học của học thuyết tiến hóa Darwin đối với sinh học và y học hiện đại Do đó, đánh giá
sơ lược thì đây là một công trình mang hướng nghiên về sinh học và ứng dụng nó trong giai đoạn hiện đại nhiều hơn
Thứ hai, đó là các công trình nghiên cứu về chủ nghĩa duy vật biện chứng Liên quan đến chủ đề này có thể kể đến các tác phẩm nổi bật như: Lịch sử
chủ nghĩa Marx (bộ sách dịch gồm 4 tập, tập 1, Viện Nghiên cứu lịch sử phát triển
Chủ nghĩa Marx – Lenin Trường Đại học Nhân dân Trung Quốc, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2003); Vấn đề triết học trong tác phẩm của K.Marx – F.Engels – V.I.Lenin (Doãn Chính, Đinh Ngọc Thạch (đồng chủ biên), Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 2008)
Về công trình Lịch sử chủ nghĩa Marx, đây có thể nói là công trình nghiên
cứu sâu sắc và đầy đủ nhất về quá trình ra đời và phát triển chủ nghĩa Marx của các nhà nghiên cứu Trung Quốc Chủ nghĩa duy vật biện chứng được Marx và Engels hình thành, do Lenin phát triển, không phải là một cái gì đó xong xuôi ngay
từ đầu, mà nó được xây dựng từng bước, từng giai đoạn Điều này được thể hiện một cách rõ ràng ngay trong công trình này Nếu như Marx là người đề xuất những nguyên lý đầu tiên trong những giai đoạn đầu tiên của chủ nghĩa duy vật biện chứng, thì việc bổ sung những luận điểm, luận cứ cho những nguyên lý đó lại thuộc về Engels và sau này là Lenin Trong đó, đặc biệt là vấn đề liên hệ giữa triết học và khoa học tự nhiên đều được Marx được Engels đề cập và nghiên cứu một
cách nghiêm túc, nhất là Engels thông qua hai tác phẩm tiêu biểu là Chống Duhring và Biện chứng của tự nhiên - cũng đã được tác phẩm chỉ rõ và phân tích Bên cạnh đó, công trình Vấn đề triết học trong tác phẩm của K.Marx – F.Engels – V.I.Lenin cũng được xem như một công trình tương tự, nhưng ở dạng phân tích các
Trang 10tác phẩm của Marx, Engels và Lenin Công trình cũng đã đem lại cái nhìn khái quát về sự hình thành, phát triển chủ nghĩa duy vật biện chứng của Marx và Engels như thế nào thông qua sự phân tích các tác phẩm theo thời gian Chính nhờ những phân tích này, mối quan hệ giữa khoa học tự nhiên và triết học nói chung, chủ nghĩa duy vật biện chứng nói riêng được thể hiện một cách đầy đủ; và cũng thông qua đó, học thuyết tiến hóa với tư cách là một khám phá sinh học có tính chất cách mạng, cũng được nêu lên như là một cơ sở về khoa học cho chủ nghĩa duy vật biện chứng Có thể thấy, cả hai công trình theo hướng này đều mang tính chất trình bày
và phân tích về chủ nghĩa duy vật biện chứng, thuyết tiến hóa chỉ được nêu lên như một khám phá khoa học nổi bật trong giai đoạn đó được các nhà kinh điển nhắc đến Do vậy, ý nghĩa của thuyết tiến hóa Darwin đối với chủ nghĩa duy vật biện chứng cũng không được chỉ ra và phân tích một cách rõ ràng
Thứ ba, đó là các công trình nghiên cứu về ý nghĩa của thuyết tiến hóa đối với sự phát triển của chủ nghĩa duy vật biện chứng nói riêng hay triết học nói chung Như đã nhắc đến, học thuyết tiến hóa là một công trình có ý nghĩa
bước ngoặt trong lĩnh vực sinh học hiện đại Mà thông qua đó, khoa học tự nhiên hay cụ thể hơn là sinh học, đã trở thành một công cụ đắc lực cho việc phát triển chủ nghĩa duy vật biện chứng Vì lý do này mà cũng đã có những công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa học thuyết tiến hóa hay sinh học hiện đại với chủ nghĩa duy vật biện chứng Liên quan đến vấn đề này có các công trình tiêu biểu
như là: Lý thuyết tiến hóa của C Darwin và tính chất chống tôn giáo triệt để của
nó (Nguyễn Trọng Chuẩn, Phạm Thị Ngọc Trầm, Tạp chí Triết học, số 4, 1982); hay hai cuốn sách của tác giả Bùi Huy Đáp: Chủ nghĩa duy vật trong lịch sử sinh vật học (Nxb Sự thật, Hà Nội, 1960), Chủ nghĩa Mác và một số vấn đề sinh vật học (Nxb Sự thật, Hà Nội, 1962)
Trong công trình Lý thuyết tiến hóa của C Darwin và tính chất chống tôn giáo triệt để của nó, như tên gọi, nó bao hàm nội dung về ý nghĩa của thuyết tiến
hóa đối với triết học Trước khi học thuyết tiến hóa ra đời, bởi sự ảnh hưởng bao trùm của tôn giáo, người ta quan niệm rằng thế giới tự nhiên và cả con người là do một đấng tối cao sáng tạo nên, do đó mọi sinh vật xuất hiện chỉ trong một lần, trong
Trang 11hình hài như thế nào là do ý muốn của đấng tối cao Và với quan niệm như vậy, đồng thời khoa học cũng bị ảnh hưởng, được thể hiện thông qua những quan điểm phiếm thần luận hay tự nhiên thần luận Nhưng với sự ra đời của học thuyết tiến hóa của Darwin, quan niệm này dần dần bị lung lay từ gốc rễ bằng nguyên lý chọn lọc tự nhiên – hạt nhân của thuyết tiến hóa Theo đó, thế giới này không phải chỉ được sáng tạo một lần theo phương án đã được định sẵn, mà nó là một quá trình dài và đầy khốc liệt Và cũng từ đó, bài viết khẳng định rằng thuyết tiến hoá đã mang lại một cách nhìn hoàn toàn duy vật khi giải thích các hiện tượng của tự nhiên Tuy nhiên, do giới hạn phạm vi nghiên cứu nên công trình chỉ mới dừng lại ở việc phân tích khía cạnh ý nghĩa về mặt thế giới quan của thuyết tiến hóa Darwin, nhưng đây cũng đã là một tài liệu tham khảo đáng tin cậy cho đề tài luận văn
Ngoài ra còn phải kể đến bộ hai tác phẩm của tác giả Bùi Huy Đáp Vốn là một nhà nghiên cứu nông học, tác giả rất quan tâm đến những vấn đề liên quan đến
bộ môn sinh vật Nhưng không chỉ dừng lại ở đó, trong quá trình nghiên cứu, tác giả còn nhận thấy được những vấn đề sinh học có mối liên hệ chặt chẽ với triết học, mà cụ thể là chủ nghĩa duy vật của Marx, Engels và Lenin Trong công trình
Chủ nghĩa duy vật trong lịch sử sinh vật học, tác giả khảo sát toàn bộ lịch sử sinh
vật học từ thời cổ đại cho đến thế kỉ XX và luận giải một số thành tựu sinh học đã chứng minh cho quan điểm duy vật như thế nào Thuyết tiến hóa của Darwin tất yếu cũng xuất hiện trong toàn bộ lịch sử ấy và được tác giả phân tích trong
“Chương 5: Sinh vật học trong thời kì phồn thịnh của xã hội tư bản” Trong đó, thuyết tiến hóa của Darwin được nêu lên một cách sơ lược và được tác giả đánh giá một cách tóm tắt là đã “đem lại những thắng lợi căn bản cho trận tuyến duy vật
trong sinh vật học” (Bùi Huy Đáp, 1960, tr.134) Còn trong tác phẩm Chủ nghĩa Mác và một số vấn đề sinh vật học thì hướng phân tích lại có phần khác biệt Nội
dung chính gồm ba phần: Sự sống là gì, Tiến hóa của sự sống, Bộ óc và tư duy Theo đó, những quan điểm của chủ nghĩa Marx về ba nội dung đó sẽ được trình bày, và các thành tựu sinh học liên quan sẽ được đưa vào để chứng minh Đặc biệt, thuyết tiến hóa của Darwin được phân tích ở phần hai là “Tiến hóa của sự sống” Tác giả nêu lên những nét cơ bản của học thuyết tiến hóa Darwin, sau đó luận
Trang 12chứng về giá trị của nó đối với chủ nghĩa duy vật biện chứng Không chỉ dừng lại
ở đó, tác giả còn vạch ra những hạn chế mà thuyết tiến hóa của Darwin mắc phải,
và đã được các nhà kinh điển của chủ nghĩa duy vật biện chứng khắc phục, bổ sung như thế nào Từ đó, mối quan hệ chặt chẽ giữa triết học và khoa học tự nhiên,
mà cụ thể ở đây là giữa chủ nghĩa duy vật biện chứng và sinh học cũng được nêu lên Công trình này của tác giả Bùi Huy Đáp đã đem lại nhiều đánh giá sâu sắc và đầy đủ hơn, và có thể nói là sát với đề tài luận văn nhất Tuy nhiên, với tư cách là một công trình bàn đến mối liên hệ giữa chủ nghĩa Marx và vấn đề sinh học nói chung, thì ý nghĩa về mặt thế giới quan và phương pháp luận của thuyết tiến hóa Darwin đối với chủ nghĩa duy vật biện chứng vẫn chưa được phân tích một cách cụ thể và rõ ràng Và cách tiếp cận vấn đề của công trình cũng khác biệt so với đề tài, bởi nó dựa chủ yếu vào các quan điểm sinh học nhiều hơn Mặt khác, đây là công trình đã nghiên cứu từ gần 60 năm trước, cho nên có nhiều nội dung cần phải bổ sung, nhất là với tình hình hiện nay
Như vậy có thể thấy, nhìn chung thì các công trình trên chủ yếu nghiên cứu
về học thuyết tiến hóa một cách riêng biệt, hay chủ nghĩa duy vật biện chứng một cách riêng biệt; tuy có những công trình nghiên cứu về mối quan hệ của cả hai nhưng cũng chỉ mới dừng lại ở sự khái quát chung, hay chỉ ở mặt thế giới quan Trong khi đó, ý nghĩa của thuyết tiến hóa Darwin đối với chủ nghĩa duy vật biện chứng không chỉ là ở thế giới quan mà còn nằm trong phương pháp luận, vì vậy việc tìm hiểu một cách đầy đủ chúng mới có thể giúp chúng ta nhận thức chính xác được mối quan hệ giữa chủ nghĩa duy vật biện chứng với sinh học nói riêng và khoa học
tự nhiên nói chung Do đó, luận văn dựa trên sự kế thừa từ những thành quả của các nhà nghiên cứu trước đó, mong muốn đóng góp một phần vào chủ đề mối quan hệ
giữa sinh học và chủ nghĩa duy vật biện chứng, đã tìm hiểu đề tài “Học thuyết tiến hóa của Charles Darwin và ý nghĩa của nó đối với chủ nghĩa duy vật biện chứng”
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: học thuyết tiến hóa của Darwin; giá trị,
hạn chế của học thuyết tiến hóa Darwin; và ý nghĩa của nó đối với chủ nghĩa duy vật biện chứng
Trang 13Phạm vi nghiên cứu của đề tài: nghiên cứu về học thuyết tiến hóa của
Darwin liên quan trực tiếp đến chủ nghĩa duy vật biện chứng
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục đích của đề tài: khái quát một cách căn bản học thuyết tiến hóa của
Darwin, từ đó chỉ ra được những giá trị và hạn chế cũng như ý nghĩa của nó đối với
sự phát triển của chủ nghĩa duy vật biện chứng
Nhiệm vụ của đề tài:
- Một là, trình bày cơ sở hình thành học thuyết tiến hóa của Darwin vào thế
kỉ XIX
- Hai là, khái quát nội dung cơ bản của học thuyết tiến hóa Darwin
- Ba là, phân tích những giá trị, hạn chế của học thuyết tiến hóa Darwin
- Bốn là, đánh giá ý nghĩa sự ra đời học thuyết tiến hóa của Darwin đối với sự phát triển của chủ nghĩa duy vật biện chứng
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
Cơ sở lý luận: luận văn được thực hiện trên cơ sở thế giới quan và phương
pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng
Phương pháp nghiên cứu: luận văn được thực hiện bằng việc sử dụng kết
hợp các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp lịch sử và logic; phương pháp
so sánh, phân tích, tổng hợp
6 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa lý luận: luận văn góp phần làm sáng tỏ những nội dung cơ bản của
học thuyết tiến hóa Darwin, từ đó đánh giá những ý nghĩa của học thuyết tiến hóa Darwin đối với sự phát triển của chủ nghĩa duy vật biện chứng
Ý nghĩa thực tiễn: luận văn có thể làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy,
nghiên cứu và học tập về triết học nói chung và chủ nghĩa duy vật biện chứng nói riêng cho các đối tượng quan tâm, nhất là lĩnh vực nghiên cứu triết học trong khoa học tự nhiên
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 2 chương, 4 tiết và 10 tiểu tiết
Trang 14PHẦN NỘI DUNG Chương 1 HỌC THUYẾT TIẾN HÓA CỦA CHARLES DARWIN
1.1 CƠ SỞ HÌNH THÀNH HỌC THUYẾT TIẾN HÓA CỦA CHARLES DARWIN
1.1.1 Điều kiện kinh tế, xã hội nước Anh nửa đầu thế kỉ XIX đối với sự hình thành học thuyết tiến hóa của Charles Darwin
Bất kì một quan điểm khoa học nào đều phải chịu ảnh hưởng của điều kiện lịch sử thời đại mình, hay nói cách khác nó là sản phẩm của lịch sử, bởi tồn tại xã hội thì mang tính quyết định đối với ý thức xã hội - đây là một quy luật không thể chối cãi Charles Darwin (1809 – 1882) là một trong những người con của thế kỉ XIX, do đó tất yếu nhà khoa học này không thể nằm ngoài những biến động của lịch sử Do vậy, việc tìm hiểu điều kiện kinh tế, xã hội Anh quốc vào giai đoạn này
là một điều cần thiết để có thể hiểu được sâu hơn về học thuyết tiến hóa – một học thuyết mang tính chất thời đại – do Darwin đưa ra vào năm 1859
Vào đầu thế kỉ XIX, Anh đã là một nước thuộc Vương quốc Liên hiệp Anh và Ireland (United Kingdom of Great Britain and Ireland) Vương quốc Liên hiệp Anh và Ireland là một quốc gia có chủ quyền tại ngoài khơi đại lục châu Âu, được hợp nhất từ Vương quốc Anh (England), Vương quốc Scotland và Vương quốc Ireland vào năm 1801 Thực ra vào những năm đầu trước công nguyên, Anh nói riêng và Vương quốc Liên hiệp Anh và Ireland chưa phải là đảo như bây giờ,
mà vẫn được nối với lục địa châu Âu bằng một dải đất nhỏ Sau này do hoạt động của vỏ trái đất khiến mực nước biển dâng lên, dải đất này bị chìm xuống và biến mất làm nó trở thành một hòn đảo như hiện nay (Trần Giang Sơn, 2013, tr.201) Với vị trí như vậy, có thể thấy Anh là một nước được bao bọc bởi biển, không một phần đất nào trong nước Anh lại xa biển Đây là một lợi thế tự nhiên, bởi nó chính là hàng rào bảo vệ tốt nhất của Anh Sự bảo vệ này không những mang ý nghĩa chống được phần lớn ngoại xâm khi nó hoàn toàn tách biệt với các nước khác, mà nó còn là lợi thế để Anh đạt được những thành tựu đỉnh cao của mình
Trang 15trong những năm thế kỉ XVIII, XIX Để tiến hành giao thương, người Anh không thể làm gì hơn là nâng cấp những con tàu vận chuyển Đó là lý do mà trong suốt lịch sử của mình, Anh đã là một nước rất phát triển về hàng hải Và đến cuối thế
kỉ XVIII, đầu thế kỉ XIX, cùng với sự ra đời và phổ biến của máy hơi nước và sắt, những con tàu ở Anh đã có những bước tiến nổi bật Năm 1833, một tờ nhật báo của New York đã đưa tin về hai chiếc tàu Anh chạy bằng hơi nước (chiếc Great Western và chiếc Sirius) đã nhổ neo từ Liverpool vượt Đại Tây Dương sang New York chỉ mất có 13 và 17 ngày – rút ngắn thời gian rất nhiều so với những con tàu của các nước khác (Phạm Gia Hải, Phan Ngọc Liên, Nguyễn Văn Đức & Trần Văn Trị, 1978, tr.17) Những phương tiện đường biển được cải tiến như vậy là tiền đề cho việc tăng lượng chuyên chở cũng như việc rút ngắn hành trình từ Anh sang Mỹ, hay đến các vùng xa xôi khác Điều này giúp cho những thương gia Anh dễ dàng đến được những nơi rộng lớn hơn ở phía bên kia bờ biển thông qua những con tàu vận chuyển, đây chính là điều then chốt trong việc thiết lập phạm vi thị trường trong thương mại, tạo nên một tiềm lực về kinh tế cho Anh Chính vì lẽ đó, Anh được ví như là một cường quốc hải quốc không có đối thủ trong giai đoạn này Và với sự cải tiến ngày càng mạnh mẽ của những con tàu cũng chính là điều kiện thuận lợi giúp cho các nhà khoa học có điều kiện nghiên cứu sâu rộng hơn về các lĩnh vực khi được thu thập tài liệu từ nhiều nơi trên thế giới; trong đó có các nhà sinh học, tựa như Darwin
Để nói về kinh tế nước Anh trong thế kỉ XIX thì cần nhắc đến nước Anh vào những thế kỉ trước, bởi chúng là những giai đoạn cực kì quan trọng, tạo tiền đề cho sự phát triển thành cường quốc của Anh sau này Năm 1588, sau cuộc chiến với Tây Ban Nha, Anh giành được thắng lợi và trở thành quốc gia nắm bá quyền trên biển; sau đó là những cuộc chiến với Hà Lan và Pháp, chiến thắng cũng đã giúp Anh chiếm được những món lợi béo bở từ những thuộc địa của hai nước này Đặc biệt, sau cuộc chiến Napoleon với Pháp kết thúc vào năm 1815 (1803 – 1815), phần thắng lại thuộc về Anh Tuy ban đầu Anh cũng gặp phải sự khủng hoảng về kinh tế cũng như chính trị sau chiến tranh, nhưng với những lợi ích thu được từ Pháp, Anh nhanh chóng khắc phục khó khăn và tạo nên những bước nhảy vọt Sau
Trang 16cuộc chiến ấy, Anh được giành quyền bá chủ trên mặt biển và độc quyền thương mại trên thế giới, chiếm được những địa điểm chiến lược quan trọng trên con đường biển từ Anh sang Ấn Độ và một số thuộc địa của Pháp (Phạm Gia Hải và các tác giả khác, 1978, tr.14) Và cũng từ sau 1815, Anh không còn thật sự bị đe dọa bởi một nước nào trong một thời gian dài Chính vì những thành tựu như vậy, Anh quốc thế kỉ XVIII, XIX nhìn chung có được một nền hòa bình lâu dài, điều này cho phép Anh có điều kiện và thời gian để tập trung phát triển kinh tế
Anh từ lâu đời đã nổi tiếng với ngành dệt, đầu tiên là bằng vải bông Trước đây, quá trình sản xuất này được thực hiện bằng tay, tại nhà của công nhân hoặc một cửa hàng quy mô nhỏ dưới sự dẫn dắt của một người; sau này quá trình sản xuất đó được mở rộng ra, tập trung trong các công trường thủ công Cùng với sự gia tăng không ngừng của dân số cũng như thị trường nước ngoài của Anh, nhu cầu nâng cao sản lượng là một hệ quả tất yếu Do đó người ta thi nhau tìm mọi cách để có thể cải tiến kỹ thuật, nhưng đều không thành công Cho đến những năm
60 của thế kỉ XVIII, sự ra đời của máy kéo sợi Jenny (1764) của James Hargreaves (1720 - 1778) đã giúp sản lượng ngành dệt của Anh tăng một cách đáng kể, bởi nó tăng số lượng cọc lên đến tận 16 đến 18 cọc chỉ do một người điều khiển Có thể nói, máy kéo sợi Jenny là một phát minh cực kỳ quan trọng đối với kinh tế Anh cũng như thế giới, bởi nó đánh dấu cho sự sản xuất mà không cần phụ thuộc vào sức mạnh của con người hay tự nhiên Cùng với sự ra đời của máy kéo sợi Jenny, năng suất tăng đòi hỏi phải có một động lực mới, mạnh hơn để ngày càng tăng nhanh tốc độ sản xuất Đến năm 1784 thì động lực ấy đã xuất hiện, đó là việc động
cơ hơi nước của James Watt (1736 – 1819) – phát minh đánh dấu cho một thời đại mới, đó là thời đại của các động cơ trong lao động sản xuất – được đưa vào ngành dệt Từ đó máy móc đã dần có chỗ đứng trong việc sản xuất bông thô lẫn việc dệt may Tiến bộ nhanh chóng trong ngành dệt, tức ngành công nghiệp nhẹ khiến máy móc được sử dụng ngày càng rộng rãi, quá trình công nghiệp hóa ở Anh đã bắt đầu như thế Bởi nhu cầu dùng máy tăng lên, dẫn đến ngành chế tạo máy cũng ra đời
và phát triển, khiến việc khai thác kim loại, nhất là sắt cũng được chú trọng, làm cho ngành công nghiệp nặng ra đời và phát triển Điều này cũng là một điều kiện
Trang 17thuận lợi cho Anh để tiến hành công nghiệp hóa, bởi Anh không có đồng bằng rộng lớn nhưng lại có nhiều mỏ than và một ít mỏ sắt Và hệ quả là cho đến cuối thế kỉ XVIII, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất diễn ra một cách rầm rộ tại Anh, đưa Anh lên thành một trong những nước tư bản hàng đầu
Cuộc cách mạng công nghiệp xảy ra trước tiên ở Anh quốc, diễn ra từ những năm cuối thế kỉ XVIII đến khoảng giữa thế kỉ XIX, thật sự đã giúp Anh tạo dựng được một vị thế cho riêng mình trong kinh tế ở giai đoạn này Sở dĩ cách mạng công nghiệp được nổ ra đầu tiên ở Anh là vì Anh có đầy đủ các yếu tố tiên quyết cho quá trình công nghiệp hóa: trước hết là do cách mạng tư sản nổ ra sớm nên đã tạo dựng được cơ sở hạ tầng cũng như kiến trúc thượng tầng căn bản cho chủ nghĩa tư bản; thứ hai là trữ lượng nước, than đá, cũng như sắt – vốn là những nguyên liệu nền tảng cho việc ra đời công nghiệp – rất dồi dào (Burns, 2008, tr.616-617) Hàng hóa được sản xuất theo lối công nghiệp giúp Anh càng ngày càng gia tăng sản lượng, không những đủ cho tiêu dùng trong nước mà còn dư để xuất khẩu sang các nước khác thông qua hệ thống đường thủy phát triển của mình Thế là chủ nghĩa tư bản ở Anh có điều kiện để ngày càng khuếch trương sức mạnh
Và như Engels đã nhận xét: “một khi thực tiễn đã chứng minh tác dụng lớn lao của sức cơ giới trong công nghiệp, thì người ta tìm đủ mọi cách để sử dụng sức ấy về mọi mặt và để bắt nó làm cho các nhà phát minh và các chủ xưởng riêng biệt” (Marx & Engels, 1995, t.2, tr.343), các nhà tư bản ngày càng mở rộng các hình thức sản xuất bằng máy móc, ngày càng tạo điều kiện để cải tạo máy móc theo hướng hoàn thiện hơn để tăng hơn nữa lượng sản phẩm được tạo ra Và từ Anh, các nước khác cũng dần dần kế thừa và phát triển, tạo nên một hệ thống các nước
tư bản lớn mạnh; sau đó là những cuộc cách mạng công nghiệp khác dưới những hình thức khác được diễn ra theo tốc độ phát triển ngày càng cao của con người cho đến tận ngày nay và cả trong tương lai
Máy móc trở thành công cụ hỗ trợ đắc lực cho việc sản xuất hàng hóa, điều này đồng nghĩa với việc năng suất lao động tăng Như vậy có hai vấn đề được đặt ra: nơi đâu sẽ là thị trường cho lượng hàng hóa ngày càng nhiều; và nơi đâu sẽ cung cấp nguồn nguyên, nhiên liệu cho quá trình sản xuất ngày càng tăng này?
Trang 18Câu trả lời nằm trong hệ thống thuộc địa của Anh Thuộc địa đối với Anh có một ý nghĩa quan trọng, bởi chính các thuộc địa là nguồn cung cấp lương thực, nguyên liệu rẻ cần thiết cho công nghiệp ở chính quốc Anh và cũng là thị trường tiêu thụ cho những sản phẩm công nghiệp của nó Ngay từ những năm cuối thế kỉ XVI, đầu thế kỉ XVII, Anh đã hình thành cho mình một hệ thống thuộc địa Tính đến 1815, thuộc địa của Anh bao gồm 5 nhóm: “ở châu Mỹ là Canada và một số đảo trong biển Caribe (trong đó có Jamaica), ở phía nam châu Phi là xứ Cape, thuộc địa cũ của Hà Lan, ở châu Á một phần bán đảo Ấn Độ, và đảo Ceylon, ở châu Đại Dương
là phần duyên hải phía đông của đảo Australia” (Bùi Đức Mãn, 2008, tr.340) Từ đầu thế kỉ XIX trở đi, với sự bành trướng của thị trường tư bản, chính phủ Anh đã cải tiến chính sách cai trị ở những lãnh thổ cũ và tích cực xâm chiếm những thuộc địa mới Ví dụ như ở châu Á, Anh tiến tới chinh phục hoàn toàn Ấn Độ và mở rộng xâm lược sang các nước láng giềng của Ấn Độ như Miến Điện (Myanmar) và Afghanistan, ngoài ra Anh còn xâm lược những cứ điểm quan trọng trên con đường từ Anh sang châu Á như Singapore (1819), Yemen (1839); hay ở châu Đại Dương, Anh xâm lược Tân Tây Lan (New Zealand) và tiêu diệt phần lớn người Maori; ở Tây Phi, Anh cũng tiến vào Ghana lập nên thuộc địa Bờ Biển Vàng (Gold Coast) vào năm 1874 (Phạm Gia Hải và các tác giả khác, 1978, tr.32) Bên cạnh việc xâm chiếm các vùng đất, Anh còn tích cực mở rộng thị trường bằng các cuộc chiến tranh, nổi tiếng là chiến tranh thuốc phiện vào năm 1839 ở Trung Quốc, buộc nhà Thanh phải kí những điều ước bất bình đẳng để cho hàng hóa Anh tràn vào thị trường béo bở đầy hứa hẹn ấy
Với lợi ích có được từ những nước thuộc địa, Anh liên tục đẩy mạnh chính sách xâm lược, nên đến giữa thế kỉ XIX không có nước nào lại có hệ thống thuộc địa rộng lớn và giàu có như Anh, điều này tạo thành một cơ sở vững chắc cho sự phát triển của chủ nghĩa tư bản Anh Nhưng những cuộc xâm lược này muốn được diễn ra, phải kể đến vai trò của những cuộc thám hiểm để vẽ các bản đồ Thực chất, việc thám hiểm đã có lịch sử từ lâu, như vào cuối thế kỉ XV, nhờ vào các phát kiến địa lý, các thương thuyền châu Âu dần đi đến các châu lục khác như châu Phi, châu Á, châu Úc, mà đi đầu là Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha; đến thế kỉ
Trang 19XVII, người Hà Lan và Anh, Pháp cũng dần nối tiếp theo đó (Võ Mai Bạch Tuyết,
1998, tr.13) Với sự phát triển rực rỡ của mình về đường thủy, bắt đầu từ thế kỉ XVII Anh cũng đã đưa những con tàu thám hiểm đi khắp nơi để vẽ bản đồ Đó là thời đại của những thuyền trưởng lừng lẫy, như là James Cook (1728 – 1779) Những chuyến thám hiểm trong thời đại khám phá đó khiến người châu Âu mở rộng tầm nhìn của mình ra khắp nơi, ở đó những loài cây lạ, những loài thú mới từ châu Á, châu Phi, châu Đại Dương, châu Mỹ làm người châu Âu ngạc nhiên và thích thú Vậy là như một thông lệ, tàu thám hiểm nào cũng đưa theo một nhà tự nhiên học để thu thập các mẫu vật, mô tả các khám phá mới giúp đem lại những hiểu biết ngày càng sâu rộng hơn về các vùng đất Cho đến thế kỉ XIX, thông lệ này vẫn còn tồn tại, và Darwin cũng đã có cơ hội tham gia một chuyến tàu như vậy với tư cách là nhà tự nhiên học – chuyến tàu HMS Beagle của thuyền trưởng R FitzRoy (1805 – 1865)
Bên cạnh sự ra đời và lớn lên nhanh chóng của công nghiệp, chúng ta không thể bỏ qua những thay đổi trong nông nghiệp, bởi nó là ngành tạo ra cơ sở duy trì cho hoạt động của con người Cùng với sự gia tăng dân số liên tục và nhu cầu từ các thị trường nước ngoài là việc đòi hỏi phải có một sự gia tăng sản lượng nông nghiệp Ở hầu hết các nơi, điều đó được thực hiện dựa trên nhiều sự cải cách, như
là luân canh cây trồng, đưa ra quyền sở hữu độc quyền đất đai, phát triển hệ thống tưới tiêu, chọn giống, Ngoài ra, với sự áp dụng máy móc rộng rãi khắp nơi của cuộc cách mạng công nghiệp, nông nghiệp cũng không thể thoát khỏi quá trình này Và với sự giúp sức của máy móc, tất yếu sản lượng sẽ càng được tăng nhanh hơn Hệ quả của những cải cách này chính là một sự phát triển nông nghiệp ngày càng vượt trội, các giống vật nuôi và cây trồng ngày càng được đa dạng hóa Đây
là một nguồn nguyên liệu quan trọng đối với những quan sát của Darwin trong lĩnh vực sinh học Bởi nghiên cứu của ông về nguồn gốc các loài có điểm xuất phát từ những quan sát trong lĩnh vực nuôi trồng, tức trong điều kiện thuần hóa Do đó, càng nhiều chủng loại, giống loài thì sự quan sát sẽ càng được mở rộng và chính xác hơn Không kể đến Darwin, thì cũng có hàng loạt các công trình nghiên cứu
Trang 20sinh học được dựa trên nền tảng này, như của các nhà điểu học, thực vật học, mà Darwin lấy làm ví dụ trong nghiên cứu của mình
Như vậy là nước Anh ở thế kỉ XIX về kinh tế là một nước cực kì phát triển,
có thể nói là nước đứng đầu thế giới Điều này được xây dựng dựa trên việc hai nền tảng chính: một là cuộc cách mạng công nghiệp từ những năm 60 của thế kỉ XVIII khiến Anh trở thành nơi được mệnh danh là “công xưởng của thế giới”; và hai là nhờ vào hệ thống thuộc địa của Anh, chúng rộng lớn đến nỗi trong thế kỉ XIX Anh là đế quốc mà “mặt trời không bao giờ lặn” Trong đó, quan trọng hơn vẫn là cuộc cách mạng công nghiệp với những phát minh mang tính đột phá, và việc áp dụng chúng rộng rãi vào trong lĩnh vực sản xuất Để nói đến tầm quan trọng của cuộc cách mạng công nghiệp đối với Anh quốc trong thời kì này, có thể
kể đến nhận xét của Engels: “Cuộc cách mạng công nghiệp đối với Anh có ý nghĩa quan trọng ngang với cuộc cách mạng chính trị đối với nước Pháp và cuộc cách mạng triết học đối với nước Đức” (Marx & Engels, 1995, t.2, tr.348)
Với những biến động về kinh tế như thế, không thể nào khiến Anh quốc không có những thay đổi về mặt xã hội Anh trở thành một nước có nền kinh tế tiên tiến phát triển bậc nhất đương thời, sự phát triển và địa vị kinh tế ấy của Anh
đã ảnh hưởng sâu sắc đến tình hình xã hội và chính trị Sau cuộc cách mạng công nghiệp, chủ nghĩa tư bản Anh ngày càng lớn mạnh và xây dựng nên hệ thống bảo
vệ lợi ích của mình Đi cùng với sự phát triển này là một sự đối lập ngày càng gay gắt giữa hai giai cấp phân chia thành hai lực lượng lớn, đối lập nhau về mặt quyền lợi là giai cấp tư sản và giai cấp vô sản Giai cấp tư sản bao gồm những chủ xưởng, chủ nhà máy, chủ hãng buôn, chủ đồn điền, tức những người sở hữu tư liệu sản xuất Còn đội ngũ vô sản bắt nguồn từ những nông dân bị mất đất, phải rời bỏ nông thôn ra thành thị tìm đường sinh sống, làm thuê trong các công xưởng, nhà máy; nhiều thợ thủ công ở thành thị bị phá sản cũng trở thành công nhân Sự lớn mạnh về kinh tế không có nghĩa là không có sự khốn cùng của nhân dân Đặc biệt
ở nước Anh, vì cách mạng tư sản nổ ra sớm, cùng với đó Anh là nước đầu tiên diễn
ra cuộc cách mạng công nghiệp, khiến tình cảnh của họ càng mang tính chất điển hình như Engels đã nhận định: “Song chỉ ở Đại Bri-ten và ở chính tại nước Anh,
Trang 21những điều kiện sinh sống của giai cấp vô sản mới có được hình thức điển hình
toàn vẹn của nó; và đồng thời cũng chỉ có ở nước Anh, những tư liệu cần thiết mới được thu thập khá đầy đủ và được các cuộc điều tra chính thức xác nhận theo yêu cầu của sự trình bày vấn đề một cách khá tường tận” (Marx & Engels, 1995, t.2, tr.325) Như một quy luật tất yếu, không có tư liệu sản xuất trong tay, giai cấp vô sản tất phải bị giai cấp tư sản bóc lột sức lao động để ngày càng đem lại nhiều lợi nhuận hơn cho chủ của mình Đó là vấn đề sống còn, bởi người công nhân không lao động cật lực, anh ta sẽ không có tư liệu phục vụ cho việc sinh sống của mình
và gia đình mình Nhưng điều đáng nói ở đây chính là lòng tham vô đáy của giai cấp tư sản đã khiến cho tình cảnh của người công nhân đã khốn đốn nay lại càng khốn đốn hơn Họ phải làm việc từ 12 đến 18 tiếng một ngày, với một công việc ngày nào cũng lặp lại y chang cùng với những cỗ máy vô tri, khiến họ mất hết tinh thần sáng tạo trong sản xuất Với sức lao động bị kéo căng hoàn toàn, họ còn bị chèn ép bởi tiền công, số tiền họ nhận được hoặc chỉ vừa đủ để ăn hoặc còn không thể đủ no trong tất cả các ngày mà chỉ có thể duy trì để không bị chết đói Không những vậy, giai cấp công nhân Anh phải chen chúc nhau sống trong những khu ổ chuột tồi tàn với điều kiện vật chất kém đến mức “ở trong cái tình trạng không xứng đáng với con người” (Marx & Engels, 1995, t.2, tr.368) Thêm nữa, với sự thay thế của máy móc, công nhân hoàn toàn có thể lâm vào tình trạng thất nghiệp
và chết đói do sự cạnh tranh gay gắt giữa các công nhân với nhau Trong khi đó, giai cấp tư sản vẫn dửng dưng, thờ ơ trước những tình cảnh khắc nghiệt như vậy của người công nhân – những người trực tiếp làm giàu cho họ
Kết quả là, “toàn bộ lịch sử sau đó của nền công nghiệp Anh chỉ là thuật lại tình hình người lao động thủ công đã bị máy móc đánh bật khỏi hết vị trí này đến
vị trí khác như thế nào” (Marx & Engels, 1995, t.2, tr.338) Người ta nói đến việc mỗi ngày máy móc được cải tiến như thế nào, đem lại hiệu quả sản xuất ra sao mà không hề nói đến sự tha hóa của con người trong hoàn cảnh đó Trong một điều kiện hợp lý thì việc cải tiến phải được hoan nghênh, nhưng trong điều kiện lúc đó
ở Anh thì nó là một sự “cướp mất tư liệu sinh hoạt của đại đa số” (Marx & Engels,
1995, t.2, tr.497), đem lại sự túng thiếu và bần cùng “Sự cùng khốn dạy người ta
Trang 22cầu nguyện và – điều quan trọng hơn nhiều – dạy người ta suy nghĩ và hành động” (Marx & Engels, 1995, t.2, tr.470) Với hiện trạng như vậy, người công nhân đứng trước hai lựa chọn: một là tiếp tục chịu đựng hoàn cảnh sống đầy sự tàn bạo ấy, trông chờ vào một tương lai tương sáng hơn; hai là đứng lên lấy lại những gì thuộc
về chính mình bằng những cuộc đấu tranh Do đó, bên cạnh những người chọn cách thứ nhất, thì lịch sử nước Anh vẫn còn in dấu hàng trăm cuộc bạo động phá hoại máy móc, bãi công thể hiện sự phản kháng đối với giai cấp tư sản Anh, đến nỗi vào năm 1812 Anh đã phải ban hành luật xử tử những người phá hoại máy móc (Viện Nghiên cứu lịch sử phát triển Chủ nghĩa Marx – Lenin Trường Đại học Nhân dân Trung Quốc, 2003, t.1, tr.107) Đặc biệt trong những năm 1830 và 1840,
có thể kể đến phong trào Hiến chương – phong trào thể hiện sự tập trung chống đối của toàn bộ giai cấp vô sản đối với giai cấp tư sản Anh về mặt quyền lợi chính trị Phong trào đã yêu cầu thông qua dự luật cải cách “sáu điểm”, trong đó đề cập đến việc bầu cử bình đẳng; đồng thời cũng đã đưa ra những đạo luật như đạo luật năm
1833 về hạn chế lao động của thợ thuyền dưới 18 tuổi, đạo luật năm 1847 về giảm giờ lao động của phụ nữ xuống còn 10 giờ, (Bùi Đức Mãn, 2008, tr.328) Mặc dù sau này phong trào cũng bị lụi tàn, nhưng không thể phủ nhận sức ảnh hưởng của
nó đối với giai cấp vô sản Anh bởi nó có mục tiêu chính trị rõ ràng và được hưởng ứng rộng rãi, thậm chí nó cũng đã tổ chức nên chính đảng độc lập cho công nhân là Đảng Hiến chương (Viện Nghiên cứu lịch sử phát triển Chủ nghĩa Marx – Lenin Trường Đại học Nhân dân Trung Quốc, 2003, t.1, tr.112)
Một đặc điểm nữa của xã hội Anh thế kỉ XIX đó là sự gia tăng dân số một cách nhanh chóng Sự gia tăng dân số này là do tiến bộ y học trong thế kỉ XVIII,
và là kết quả của sự cung cấp lương thực phong phú do mở rộng mậu dịch (Burns, 2008, tr.615) Sự gia tăng dân số này nằm ở các thành phố, bởi sự phát triển của nền công nghiệp khiến cho dân chúng di chuyển từ những vùng nông thôn ở Đông và Nam đến những thành thị ở Tây và Bắc, khiến cư dân thành phố tăng vượt bậc Liverpool, Manchester, Glasgow và Birmingham phát triển nhanh chóng, trở thành những thành phố khổng lồ; trong khi dân số Anh quốc tăng 100% trong 1801 – 1851 từ 8,5 triệu dân lên đến 17 triệu dân, thì dân số của các
Trang 23thành phố Liverpool và Manchester tăng trên 1000% (Kishlansky, Geary & O’Brien, 2005, tr.662) Dân số gia tăng đã gây ra nhiều áp lực lên các vấn đề xã hội Đặc biệt trong vấn đề việc làm, bởi nó tác động lên cuộc cạnh tranh giữa các công nhân trong tìm kiếm công việc Do đó, càng ngày càng nhiều người chịu cảnh chết đói Và nó cũng là hoàn cảnh cho sự ra đời của thuyết nhân khẩu của T
R Malthus (1766 – 1834) Kết luận chủ yếu của thuyết nhân khẩu này là trên thế giới luôn có sự dư thừa con người, bởi vậy luôn tồn tại sự cạnh tranh giữa mọi người với nhau tạo nên những giai cấp khác biệt, bên thì nghèo đói bên thì giàu
có, đó là một quy luật mà con người không thể thoát khỏi; do vậy chúng ta không cần phải làm từ thiện hay trợ giúp người nghèo bởi nó không có nghĩa lý gì cả, chúng ta cần phải thực hiện cắt bớt nhân khẩu thừa bằng cách để họ chết đói hoặc bằng chiến tranh Sự ra đời của thuyết nhân khẩu Malthus đã ảnh hưởng mạnh
mẽ đến giới tư sản bởi nó chính là công cụ biện minh cho sự tồn tại của họ Đồng thời, thuyết nhân khẩu cũng đã ảnh hưởng đến giới khoa học, trong đó có thuyết tiến hóa của Darwin
Thuộc về vấn đề xã hội của Anh cũng không thể không kể đến vấn đề tôn giáo, đặc biệt là Kito giáo Kito giáo được du nhập vào Anh từ rất sớm, đến khoảng thế kỉ thứ VII hầu như toàn bộ dân chúng Anh đều mang đạo Cơ Đốc Nhưng đến thế kỉ XVI, dưới sự cai trị của vua Henry VIII (1491 – 1547), một cuộc cải cách tôn giáo đã diễn ra Trong cuộc cải cách này, vua Henry VIII tuyên bố cắt đứt quan hệ với Giáo hội Công giáo La Mã, tự lập ra Giáo hội Anh quốc Về mặt giáo lý thì Anh giáo cơ bản giống với Công giáo, nhưng thay vì quyền lực tối cao thuộc về Giáo hoàng La Mã thì nay thuộc về vua của nước Anh Cuộc ly khai này ban đầu chỉ mang tính chất thể hiện quyền uy, nhưng sau này nó trở thành cơ hội cho các giáo phái cải cách Đến con gái của vua Henry VIII là Elizabeth I (1533 – 1603) lên ngôi, cuộc ly khai này mang tính dứt khoát hơn, bởi bà ban ra luật tất cả mọi người phải từ bỏ hoàn toàn Giáo hội Công giáo để đi theo Giáo hội Anh giáo Cho đến sau này với những người kế vị mới, Công giáo mới được trở lại công khai
ở Anh Điều này cho thấy, hình thức sinh hoạt tôn giáo ở Anh rất được ưa chuộng, đến thế kỉ XIX hầu hết người dân đều đi theo đức tin Kito (Cook & Stevenson,
Trang 241996, tr.230-237) Chính vì lẽ đó, sự ảnh hưởng của các tín điều tôn giáo lên dân chúng Anh quốc là một điều không cần phải bàn cãi Do vậy, đến thế kỉ XIX người
ta vẫn lưu hành những quan điểm về sự sống được ghi chép theo Kinh Thánh Ở
đó, thế giới và cả con người đều được Chúa sáng tạo một lần và không bị biến đổi cho đến ngày nay Những quan điểm duy tâm vô thần như vậy đè ép lên tất cả các nhà khoa học, cho đến khi thuyết tiến hóa Darwin ra đời, đập tan những luận điệu mang tính thần thánh ấy Thuyết tiến hóa của Darwin đánh dấu cho một thời kì mới đầy triển vọng về sự phát triển của khoa học thật sự, dựa trên nền tảng thế giới quan duy vật tại Anh Dù vậy, những sự đè ép của tôn giáo lên xã hội cũng đã đem đến những sự bài xích cực kì lớn đối với thuyết tiến hóa, đặc biệt nó cũng đè ép lên
tư tưởng của chính Darwin, khi ông chần chừ không dám công khai học thuyết tiến hóa của mình vì sợ dư luận Cho đến năm 1858, với sự thúc ép từ các đồng nghiệp, đặc biệt là bài luận của A R Wallace (1823 – 1913), Darwin mới thật sự công khai quan điểm của mình
Vậy là với những thành tựu về kinh tế, xã hội nước Anh thế kỉ XIX cũng đưa đến một bức tranh với nhiều gam màu phong phú Ở đó, đối chọi với hình ảnh một nước Anh sở hữu nhiều thành phố công xưởng khổng lồ, nền công nghiệp cung cấp hàng hóa cho toàn thế giới và chế tạo hầu hết mọi thứ bằng máy móc; là một mặt tối với tình cảnh người công nhân bần cùng và đầy tuyệt vọng bởi chính cái nền đại công nghiệp mà anh ta là sản phẩm trực tiếp của nó Tuy nhiên, giai cấp công nhân ở đâu thì cũng vẫn luôn tồn tại trong mình một ý thức về sự tự do,
do vậy họ luôn nỗ lực để giải thoát mình khỏi những hoàn cảnh sống như một món hàng hóa, hay còn tệ hơn là tình trạng mà Engels mô tả là như “súc vật” Chính những sự nỗ lực tiến bộ này, dưới sự giúp sức của những lực lượng tiến bộ chính là giá đỡ cho những tư tưởng khoa học ngày càng mang tính chất duy vật hơn, không
bị thế giới quan duy tâm tôn giáo chi phối Và những nhà khoa học, khi xuất hiện tại Anh thì luôn được chào đón bởi những tinh thần cầu thị nhất Ngay từ năm
1734, có một cuốn sách được xuất bản tại Pháp với tên gọi Những lá thư triết học liên quan đến Anh quốc của Voltaire (1694 – 1778) – người đã sống 2 năm tại Anh
và nghiên cứu những khác biệt giữa Anh và Pháp – đã nêu bật những sự vượt trội
Trang 25tại Anh khi nước Anh xem trọng người dân của nó qua những công lao của họ chứ không phải qua tước vị được hưởng khi chào đời, và người Anh tôn vinh các nhà khoa học, nhà thơ và triết gia của họ như những anh hùng dân tộc (Kishlansky và các tác giả khác, 2005, tr.594)
Tóm lại, Anh ở thế kỉ XIX là một đất nước cực kì phát triển Cuộc cách mạng công nghiệp diễn ra trước tiên ở Anh đã đem lại cho Anh nhiều thuận lợi để khuếch trương thế lực của mình thông qua hệ thống thuộc địa Với những điểm sáng về kinh tế, Anh quốc đã tạo ra được rất nhiều điều kiện cho các khám phá khoa học mới hơn nữa được ra đời, bởi các khám phá đó cũng chính là một trong những giá đỡ cho những thành tựu kinh tế của Anh Chẳng hạn như việc các chuyến tàu thám hiểm nhổ neo từ Anh đi khắp nơi trên thế giới đã giúp Anh thu thập được nhiều những tư liệu về các vùng đất mới để thực hiện việc mở rộng lãnh thổ, mở rộng thị trường của mình; hay như những sự cải tiến về máy móc thông qua những phát minh mới đã giúp Anh ngày càng tăng cao năng suất của nền kinh tế, Đây là một mối quan hệ hai chiều, chính cách mạng công nghiệp là kết quả của những phát minh khoa học; và đến phiên mình, cách mạng công nghiệp lại thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của khoa học Bên cạnh đó, xã hội Anh cũng gặp phải nhiều biến chuyển, do sự lớn mạnh nhanh chóng của chủ nghĩa tư bản Anh đã dẫn đến sự chệnh lệch ngày càng tăng giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản Từ
đó, những lực lượng tiến bộ cũng đã xuất hiện để đấu tranh thoát khỏi sự bất công
ấy Và họ chính là những người giúp sức cho những tư tưởng tiến bộ được ra đời
và đứng vững trên mảnh đất thần học đang ngự trị này Chính từ tất cả các điều kiện ấy, những nhà khoa học Anh ngày càng nở rộ, đóng góp rất nhiều tư tưởng vào hệ thống kiến thức mới Trong đó có Darwin, người đã vượt lên trên những định kiến xã hội để đưa ra một học thuyết mới về sinh giới, đánh bại quan điểm loài là bất biến của tôn giáo và những nhà khoa học duy tâm trước đó
1.1.2 Tiền đề lý luận và tiền đề khoa học đối với sự hình thành học thuyết tiến hóa của Charles Darwin
Với tư cách là một học thuyết khoa học, tất yếu học thuyết tiến hóa cũng phải có những tiền đề về lý luận cũng như khoa học của mình Thực chất quan
Trang 26điểm về “tiến hóa” không phải là một thuật ngữ do Darwin đưa ra, mà nó đã có những lịch sử từ trước Con người từ khi xuất hiện, cùng với ý thức ngày càng được trau dồi của mình, đã bắt đầu tìm hiểu về chính bản thân mình, như mình từ đâu đến, nguồn gốc của mình là gì, sự sống bắt đầu như thế nào, Cũng như việc triết học cổ đại phân chia thành hai đường lối duy vật của Democrite và duy tâm của Platon – đại diện cho hai thế giới quan khác nhau, thì quan niệm của con người
về sự sống cũng được chia theo hai đường hướng, một là theo hướng duy tâm, thần thoại, mang màu sắc tôn giáo, và hai là theo hướng duy vật, tiến bộ
Trước hết là những quan niệm duy tâm, thần thoại, tôn giáo về sự sống Những nhà duy tâm, với lập trường thế giới quan của mình, đều thống nhất với nhau ở điểm sự sống là biểu hiện của một nguyên lý tinh thần cao siêu nào đấy, mà được nhắc đến nhiều nhất chính là “ý thức”, “linh hồn”, “lý trí thần linh”, “sức sống” Một cơ thể, nếu chỉ được cấu tạo nên từ những vật liệu vật chất thì mãi mãi
nó không được coi là cơ thể sống, chỉ khi nhận được cho mình một linh hồn, thì nó mới là cơ thể sống và có thể tồn tại được Và khi chết đi, thể xác bị phân hủy nhưng linh hồn thì còn tồn tại mãi Những quan điểm mang tính chất duy tâm triệt
để như vậy, chính là giá đỡ cho những quan điểm tôn giáo Có thể thấy có rất nhiều tôn giáo trên thế giới, tuy chúng khác nhau ở nhiều điểm, nhưng tựu chung lại đều giống nhau ở chỗ cho rằng sự sống là sản phẩm do một đấng tối cao tạo nên Mọi cơ thể sống đều được Thượng đế tạo ra theo ý chí của mình, kể cả con người Do đó, các giống loài đều được sáng tạo một lần và nó giữ nguyên hình hài như vậy cho đến lúc mất đi Như vậy, sự sống dưới cái nhìn của những nhà duy tâm, tôn giáo, là một biểu hiện của thần linh trong thế giới tự nhiên này; và chính
vì thế, con người mãi mãi sẽ không thể nắm bắt được bản chất của sự sống
Ngược lại với những quan điểm mang màu sắc thần bí này là những quan điểm tiến bộ về sự sống, mà những người đầu tiên đưa ra không ai khác ngoài những nhà triết học cổ đại, có thể được xem như tiền đề lý luận sâu xa của học thuyết tiến hóa Sở dĩ những quan điểm về sinh học lại được các nhà triết học cổ đại nhắc đến, là bởi vì đây là giai đoạn mà sinh học hầu như còn gắn bó với triết học Trước hết phải kể đến là Anaximandros (khoảng 610 – 546 TCN) – một nhà
Trang 27triết học thuộc trường phái Miletus vào thời Hy Lạp cổ đại Vốn là một nhà duy vật, ông cũng đã đưa ra những quan điểm rất tiến bộ của mình về sự sống Ông cho rằng mọi hình thức sự sống đều có một nguồn gốc chung, nguồn gốc đó “phát sinh
ở chỗ giáp ranh giữa đại dương và đất liền, tức bùn lầy, dưới tác động của ánh nắng mặt trời Những sinh thể đầu tiên sống ở đại dương; một số sau đó rời đại dương lên đất liền, cởi bỏ lớp vẩy, trở thành động vật trên cạn.” (Đinh Ngọc Thạch
& Doãn Chính, 2018, tr.27) Còn con người thì được phát triển từ những sinh vật dưới nước, mà cụ thể là trong bụng một loài cá khổng lồ, đến lúc trưởng thành mới lên đất liền để sinh sống (Đinh Ngọc Thạch & Doãn Chính, 2018, tr.27) Quan điểm này theo Engels cũng chính là “quan điểm của khoa học tự nhiên hiện đại về tiến hóa” (Marx & Engels, 1995, t.21, tr.713) Như vậy, theo Anaximandros, sự sống không phải là một sự sắp đặt của một vị thần nào cả, mà nó có một quá trình phát sinh từ giới vô cơ; và con người cũng không phải là sản phẩm của bất kì sự thần thánh nào, mà nó có nguồn gốc từ động vật Tuy vẫn còn có sự ấu trĩ trong cách giải thích, nhưng tư tưởng duy vật này cũng đã đánh dấu một sự tiến bộ lớn trong tư duy của con người về sự sống, về thế giới
Nhân vật tiếp theo cũng là một nhà duy vật nổi tiếng thời Hy Lạp cổ đại, chính là Empedocles (490 – 430 TCN) Ông chia giới hữu sinh thành bốn thời kì: một là những sinh vật đơn giản, có giác quan, sống dưới nước; hai là những sinh vật có cơ cấu phức tạp dần, nhưng không hoàn chỉnh như đầu không có cổ, cánh tay không gắn vào vai, mắt không nằm trên trán, ; ba là những sinh vật bị dồn ép, không sinh sôi nảy nở được; và bốn là thực vật, động vật, con người xuất hiện có
tổ chức, hài hòa, bằng con đường hợp nhất cái không đồng nhất và tách rời cái hợp nhất một cách hợp lý, chọn lọc, đào thải và nhân giống lên (Đinh Ngọc Thạch & Doãn Chính, 2018, tr.53) Nếu Anaximandros chỉ nói đến sự sống bắt nguồn từ giới vô cơ, thì đến lượt Empedocles, ông lại nhấn mạnh đến sự phát triển tuần tự từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của các hình thức sự sống
Để nói về tiền đề lý luận cho sinh học nói chung và thuyết tiến hóa nói riêng, không thể không nhắc đến Aristoteles (384 – 322 TCN) – bộ óc bách khoa
Trang 28của nền triết học và khoa học Hy Lạp cổ đại Ông chính là người đã sáng lập ra ngành sinh vật học – tức khoa học về toàn bộ giới hữu sinh, về sự sống, thông qua
một số tác phẩm như Lịch sử động vật, Về các bộ phận của động vật, Nguồn gốc sinh vật, Chính bản thân Darwin cũng đã thừa nhận Aristoteles như là ông tổ của
khoa sinh vật Phương pháp được ông sử dụng trong nghiên cứu sinh vật là phương pháp quy nạp Phương pháp này được thực hiện thông qua việc quan sát trực tiếp nhiều chủng loại sinh vật khác nhau, phân loại chúng để rồi từ đó đưa ra những nhận định mang tính khái quát Ví dụ, sau nhiều quan sát, ông nhận thấy tự nhiên luôn có một sự tương liên, bởi không có gì trong tự nhiên mà thừa thãi cả, tất cả đều có cơ sở hợp lý của mình, như là “tất cả các bộ phận và các chứa năng của cơ thể sinh vật đều nhằm vào mục đích tự vệ để sinh tồn, thông qua con đường trao đổi chất với môi trường xung quanh, sinh hoạt và truyền thống” (Đinh Ngọc Thạch
& Doãn Chính, 2018, tr.152) Do đó, giới tự nhiên bao gồm các bộ phận luôn gắn liền nhau, và không tách rời với cái toàn thể Bên cạnh đó, Aristoteles cũng đưa ra bảng phân loại sinh vật của mình gồm hai nhóm chính là nhóm có máu và nhóm không có máu, tương ứng với loài có xương sống và loài không có xương sống; đồng thời trong mỗi nhóm lại được phân chia thành những loài khác nhau theo một nguyên tắc nhất định, như các loài có máu được phân chia theo cách thức sinh sản
và môi trường sống, còn những loài động vật không có máu được chia theo cấu trúc tổng quát (Boorstin, 2001, tr.437) Sự phân chia này tuy không hoàn toàn chính xác, nhưng thể hiện được sự tiến triển của sự sống từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp Tuy nhiên, quan niệm này của ông không hề mang nghĩa tiến hóa, bởi nó chỉ đơn giản là một sự sắp xếp theo mức độ hoàn thiện Sự sắp xếp này như một trật tự trong tự nhiên được sắp xếp một cách tinh vi, chứ không phải là những sản phẩm của lịch sử Các sinh vật sinh ra đã mang hình hài và đặc điểm như vậy, do đó một số loài sẽ chết nếu không có khả năng đương đầu với thiên nhiên nghiệt ngã Quan điểm này hoàn toàn mang tính mục đích luận, bởi nó chứa đựng sự can thiệp của một “nguyên nhân tối hậu” nào đó khi sắp đặt các dạng tồn tại trong tự nhiên Mặc dù quan điểm này có thể thấy là mang tính chất duy tâm, nhưng không thể không kể đến những nỗ lực của Aristoteles trong việc vượt qua
Trang 29thời đại của mình trong ngành sinh vật, và cả sức ảnh hưởng của những lý thuyết trên đối với những lý thuyết sinh học sau này Phương diện thể hiện điều này rõ nhất chính là mục đích luận của ông đã được lưu truyền một cách mạnh mẽ và tác động tiêu cực đến quan niệm về giới hữu cơ của những người đi sau ông trong suốt
200 năm (Nguyễn Xuân Viết, 2009, tr.17); đồng thời cách phân chia các hình thái sống theo như bảng phân loại của ông đã đặt nền tảng cho những “thang thiên
nhiên” (scala naturae, hay là ladder of being) cho các nhà động vật học trong
nhiều thế kỉ sau (Trần Phương Hạnh, 2006, tr.22)
Nhìn chung, quan niệm của về thế giới hữu cơ của những nhà tư tưởng thời
cổ đại đều mang tính chất sơ khai, xem xét sự sống như là một quá trình và các loài đều có liên hệ với nhau theo nghĩa cần đến nhau để tồn tại Tuy nhiên cũng chỉ dừng lại tại đó, bởi họ vẫn còn quan niệm các loài được tạo hóa sinh ra và mang tính bất biến, chưa thấy được mối quan hệ về nguồn gốc giữa các loài Điều này hoàn toàn dễ hiểu, bởi những nhà triết học cổ đại cũng chỉ là những con người của thời cổ đại, họ chưa có được những dữ liệu mang tính khoa học để làm cơ sở cho
lý luận của mình Và do đó, các khám phá khoa học trong những giai đoạn sau đã
bổ sung lỗ hổng này, đem lại được cơ sở vững chắc hơn cho các lý thuyết về sự sống, đặc biệt là thuyết tiến hóa của Darwin
Thời cổ đại với những tư tưởng duy vật tiến bộ qua đi, nối tiếp sau đó là sự thống trị của nhà thờ trong thời trung cổ đã làm quan niệm về sự sống của con người được hướng theo tôn giáo một cách mạnh mẽ, triết học tự nhiên không còn đất để phát triển Tuy nhiên, giai đoạn đầy sức ỳ đó rồi cũng phải nhường lại cho một thời đại mới, thời cận đại với sự phát triển khoa học như vũ bão Đây cũng là giai đoạn mà sinh học đã tách ra khỏi triết học và trở thành một khoa học độc lập; trong đó còn đưa đến sự phân ngành như cổ sinh vật học, địa chất học, phôi thai học, Từ những khám phá mới dựa trên các phân ngành ấy, thuyết tiến hóa cũng dần được thành hình Trong đó, nhắc đến tiền đề khoa học đầu tiên của nó, phải nhắc đến C Linnaeus (1707 – 1778) – cha đẻ của phân loại học hiện đại Cho đến cuối thế kỉ XVII, với sự khám phá ngày càng sâu rộng đưa đến sự phát hiện ngày càng nhiều các loài sinh vật mới, người ta vẫn nhìn thấy trong tự nhiên là một mớ
Trang 30hỗn độn những sinh vật với những đặc tính khác biệt, là kết quả của sự sáng tạo từ một tinh thần siêu nhiên nào đó Nhưng với sự ra đời của phân loại học, đặc biệt là của Linnaeus, các loài đã được đưa vào trật tự Phân loại học được hình thành dựa trên sự thu thập các sinh vật khác nhau từ nhiều nơi khác nhau, sau đó tiến hành so sánh chúng ở những thời điểm khác nhau Từ đó, những nhà phân loại học nhận thấy được rằng các loài không phải bất biến mà có sự biến hóa theo thời gian và cả không gian Cũng thông qua sự quan sát, so sánh này, họ sắp xếp các sinh vật vào những nhóm khác nhau theo loài (species) và giống (genus), từ đó đi đến quan niệm cho rằng các sinh vật cùng nhóm thì có quan hệ về nguồn gốc Linnaeus đã lập nên hệ thống phân loại gồm hơn 10.000 loài thực vật và hơn 4.200 loài động vật (Nguyễn Xuân Viết, 2009, tr.18) Từ đó, ông nhận thấy các loài có sự biến đổi
do sự tác động của điều kiện khí hậu, đất đai, do vậy một loài có thể biến đổi thành nhiều thứ, nhưng những biến đổi này không bền vững Ban đầu, Linnaeus cho rằng Đấng tối cao đã sáng tạo ra mọi loài, từ lúc khởi thủy có bao nhiêu loài thì ngày nay có bấy nhiêu loài, không có sự xuất hiện của loài mới Nhưng sau này, khi các môn đệ mà ông chiêu sinh để đi khắp nơi trên thế giới sưu tầm mẫu vật mang về ngày càng nhiều các mẫu vật của các loài cây và thú mới, thì ông mới bắt đầu đưa ra khả năng không hẳn mọi loài đều được tạo ra bởi một bàn tay nào
đó, mà có thể “các loài là tác phẩm của thời gian” (Trần Phương Hạnh, 2006, tr.98) Từ đó, các quan điểm về biến hình đã ra đời, góp phần tạo dựng những viên gạch đầu tiên cho thuyết tiến hóa của Lamarck và Darwin sau này Bên cạnh đó, Linnaeus cũng đã gây được tiếng vang ngay tại thời điểm ấy với quan điểm con người nằm trong hệ thống phân loại sinh giới ở bộ linh trưởng, thuộc động vật có
vú, và cũng chính ông đã đặt tên Homo cho giống người Với nhận định này của ông, nhiều nhà khoa học đã khẳng định rằng lịch sử tự nhiên của con người đã bắt đầu từ đây
Tiền đề khoa học tiếp theo là biến hình luận, được đại biểu bởi G L Leclerc (1707 – 1788) hay còn được gọi là Bá tước Buffon Biến hình luận là học thuyết hoàn toàn mâu thuẫn với quan niệm các loài là bất biến, nó cho rằng dưới tác động của ngoại cảnh, sinh vật đã biến đổi từ loài này sang loài khác Trong
Trang 31tác phẩm Lịch sử tự nhiên (Histoire Naturelle) gồm 36 tập của mình, Buffon cho
rằng các phân tử hữu cơ được hình thành từ các chất vô cơ trong đại dương nguyên thủy Và các phân tử hữu cơ này kết hợp theo nhiều cách khác nhau đã tạo ra một số các dạng nguyên thủy khuôn mẫu ban đầu Những dạng nguyên thủy này dưới tác động của điều kiện khí hậu, ánh sáng, đã tạo ra nhiều dạng sinh vật khác nhau Những sinh vật này, một số được bảo tồn không hề thay đổi cho đến ngày nay, nhưng một số khác thì bị thoái hóa Ông cho rằng sự biến đổi của một loài không phải là sự tiến bộ theo hướng hoàn thiện hơn, mà chỉ là dấu hiệu của sự xuống cấp Lý do là bởi ông không hề nghĩ rằng giới hữu cơ có thể biến đổi theo hướng ngày càng phức tạp hơn, và sự sống là một quá trình mà những sinh vật ở trên được bắt nguồn từ những sinh vật ở dưới Tuy quan điểm được ông khẳng định là vậy, nhưng dường như với những khám phá của mình, ông nhận thấy được sự chung nguồn gốc của một số loài, như con lừa và con ngựa, hay con người và con khỉ (Trần Phương Hạnh, 2006, tr.116) Có lẽ Buffon
từ góc nhìn khoa học của mình thực sự là một người đi theo học thuyết tiến hóa, nhưng ông không thể công khai bác bỏ những khẳng định ban đầu của chính mình Mặc dù như vậy, nhưng không thể không nhắc đến công lao của Buffon trong việc khẳng định sự biến đổi của các loài, vốn có ý nghĩa quan trọng trong
sự hình thành học thuyết tiến hóa
Nhắc đến thuyết tiến hóa, một trong những người có công lao nhất phải kể đến là J B Lamarck (1744 – 1829) – người đã xây dựng được học thuyết tiến hóa
một cách có hệ thống, được trình bày trong tác phẩm Triết học động vật học vào
năm 1809 Học thuyết tiến hóa của ông có thể tóm tắt thông qua ba vấn đề được ông làm rõ Đầu tiên, ông cho rằng loài không phải bất biến, mà có sự biến đổi từ
từ và liên tục dưới tác động của ngoại cảnh Sở dĩ biến đổi từ từ là vì hoàn cảnh, môi trường có sự thay đổi rất chậm chạp Thứ hai, ông khẳng định thế giới hữu cơ bao gồm những sinh vật luôn biến đổi từ dạng đơn giản nhất cho đến dạng phức tạp nhất, đó là một sự tiến hóa có tính chất kế thừa mang ý nghĩa tất cả các loài (kể
cả loài người) đều được phát triển từ những loài có trước Đây là một quy luật của
tự nhiên chứ không phải nhờ vào bất kì sự can thiệp thần bí nào Lamarck đã chỉ ra
Trang 32hai nguyên nhân dẫn đến sự tiến hóa này: một là nằm bên trong bản thân sinh vật, bởi mỗi loài đều có xu hướng vươn đến sự hoàn thiện cho nên luôn biến đổi sao cho ngày càng mang một trình độ tổ chức phức tạp hơn, đầy đủ hơn; và hai là do tác động của ngoại cảnh Trong đó, ngoại cảnh có ảnh hưởng rất lớn: đối với sinh vật bậc thấp, chưa có hệ thần kinh phát triển thì thay đổi ngoại cảnh có thể gây nên thay đổi trực tiếp, ví dụ như cây sống trong môi trường khác nhau thì sẽ có hình dạng lá khác nhau; còn đối với sinh vật bậc cao có hệ thần kinh phát triển thì ngoại cảnh có tác dụng gián tiếp, có thể thấy điều này thông qua việc nếu một cơ quan nào đó bởi sự thay đổi môi trường sống mà cần phải được sử dụng ngày càng thường xuyên hơn thì cơ quan đó sẽ phát triển hơn, to hơn, và ngược lại nếu không được sử dụng thường xuyên thì một số cơ quan sẽ bị suy yếu và có thể bị tiêu biến (Nguyễn Xuân Viết, 2009, tr.24) Đây là một sự biến đổi liên quan đến tập tính của loài vật Lamarck cũng đồng thời nhận định rằng những biến đổi này đều sẽ được truyền lại có thế hệ sau, và sẽ ngày càng được củng cố nếu môi trường sống vẫn biến đổi theo chiều hướng cũ, kết quả là sau nhiều thế hệ có thể sẽ tạo ra một chủng loại mới Ông đã minh chứng cho quan điểm này bằng một ví dụ rất nổi tiếng, chính là ví dụ về loài hươu cao cổ, ban đầu nó cũng chỉ như con hươu bình thường cho đến khi lá cây ở dưới thấp đã không còn đủ để ăn, chúng buộc phải ngày càng vươn cổ lên cao để ăn những lá phía trên, dần dà cổ chúng sẽ dài ra và
di truyền cho thế hệ sau cái cổ dài ấy, từ đó biến thành loài hươu cao cổ như ngày nay Thứ ba là về nguồn gốc con người, Lamarck khẳng định con người có nguồn gốc từ nhóm vượn bốn tay, do điều kiện ngoại cảnh đã không còn leo trèo trên cây, chuyển sang đứng thẳng và đi bằng hai chân sau Đồng thời ông cũng cho rằng con người chính là động vật cao cấp nhất của thế giới hữu cơ Có thể thấy, Lamarck đã
có những nghiên cứu hết sức tiến bộ, nhưng lý thuyết của ông cũng còn có nhiều hạn chế, đầu tiên phải nhắc đến là ông viện đến sự cố gắng hoàn thiện của mỗi loài trong quá trình tiến hóa – quan điểm này hoàn toàn mang tính chất duy tâm Bên cạnh đó, ông cũng chỉ mới nhìn thấy được nguyên nhân gây ra tiến hóa là sự thay đổi ngoại cảnh, mà chưa nêu được cơ chế của sự tiến hóa là như thế nào; đồng thời cũng chưa giải thích đúng đắn được tính thích nghi của sinh vật Do vậy, tuy nhìn
Trang 33qua thì thuyết tiến hóa của ông đi theo hướng duy vật, nhưng thực chất vẫn còn mang yếu tố duy tâm, nhị nguyên do ảnh hưởng của thời đại mình Nhưng ông thật
sự đã nỗ lực đưa ra những tư tưởng tiến bộ trong quan điểm về quá trình của sự sống, đặc biệt là việc khắc phục thang thiên nhiên của Aristotles bằng việc đưa chiếc thang ấy vào trong một quá trình lịch sử, ở đó các loài có mối liên hệ với nhau, chuyển tiếp nhau Mặt khác, Lamarck cũng đã cho ra đời thuyết tiến hóa một cách hệ thống và khá hoàn chỉnh, trước hết đã phủ nhận vai trò của Thượng Đế trong tự nhiên, góp phần làm nền tảng cho lý thuyết tiến hóa sau này, đặc biệt là của Darwin
Một tiền đề khoa học có tính chất nền tảng khác chính là tư tưởng của nhà địa chất học C Lyell (1797 – 1875) Ngày đầu tiên trên chuyến hành trình dài 5 năm thám hiểm vòng quanh thế giới của mình, Darwin đã mang theo cuốn sách
đầu tiên trong bộ sách Những nguyên lý địa chất học (1830) của Lyell Sau
chuyến hành trình, ông lại tiếp tục được nhận cuốn thứ hai và thứ ba trong bộ sách Có thể nói đây là bộ sách cung cấp cái khuôn cho những tư tưởng tiến hóa của Darwin Mà nội dung chính của nó là về những biến đổi địa chất liên tục trong các lớp đá của trái đất thông qua sức mạnh đồng đều như sự xói mòn của dòng nước, sự tích lũy của phù sa, các cuộc động đất và núi lửa (Boorstin, 2001, tr.472) Và trong quá trình ấy, có những loài mới được sinh ra và cũng có những loài khác bị biến mất Những quan điểm như vậy đã tác động mạnh mẽ đến Darwin về tư tưởng sự sống của phải có một lịch sử tương tự như sự hình thành các lớp đá của trái đất một cách chậm chạp
Và như đã nhắc đến ở phần trước, lý thuyết tiến hóa của Darwin còn chịu
ảnh hưởng sâu sắc bởi Malthus Năm 1798, với tác phẩm Luận về nguyên tắc dân
số (An essay of the principle of population), Malthus đã đưa ra những quan điểm
rất nổi tiếng, có ảnh hưởng lớn đối với giai cấp tư sản tại thời điểm đó Ngay đầu tác phẩm ông đã nêu lên hai nhu cầu quan trọng nhất đối với sự tồn tại của con người: một là ăn và hai là tình dục Cái đầu tiên thì liên quan đến vấn đề thực phẩm, còn cái thứ hai lại liên quan đến vấn đề dân số Và ông cho rằng nếu không gặp phải trở ngại gì thì dân số có xu hướng tăng theo cấp số nhân, còn thực phẩm
Trang 34dành cho con người lại chỉ tăng theo cấp số cộng Do đó, con người tất yếu vấp phải khó khăn để có thể sống, bởi sự cạn kiệt về thức ăn, nước uống và cả chỗ ở Chính vì vậy sẽ phải có một cuộc đấu tranh để giành lấy cơ hội sống của bản thân, một khi dân số thì bùng nổ và nghèo đói thì gia tăng; và theo Malthus, nó được thể hiện thông qua chiến tranh, bệnh tật và đói kém Đây là một lý thuyết hoàn toàn chịu ảnh hưởng của điều kiện kinh tế - xã hội Anh thời bấy giờ Khi chủ nghĩa tư bản ngày càng mở rộng sức ảnh hưởng của mình thì nó cần có những lý luận để bảo vệ thành trì của mình, và lý thuyết về dân số của Malthus đã làm được điều đó,
vì nó biện hộ cho chiến tranh.Với sức ảnh hưởng lớn thời bấy giờ, cuộc đấu tranh sinh tồn của Malthus cũng đã tác động lên Darwin, gợi nên ý tưởng cho Darwin về một cuộc đấu tranh sinh tồn trong tự nhiên – một trong những lý luận cơ bản của học thuyết tiến hóa Darwin
Ngoài những tiền đề đã kể trên, thực chất còn có những quan điểm tiến hóa khác, đã được Darwin nhắc đến trong mục “Bản tóm tắt lịch sử quá trình nhận thức
về nguồn gốc các loài”, ví dụ như bác sĩ W C Well (1757 – 1817) đã có những nhận biết rõ ràng về nguyên lý chọn lọc tự nhiên, R E Grant (1793 – 1874) tin rằng loài có nguồn gốc từ loài khác và chúng cải thiện dần qua quá trình biến đổi,
P Matthew (1790 – 1874) đã đưa ra chính xác quan điểm về tiến hóa giống Darwin nhưng ở dạng ngắn gọn là những đoạn văn bị phân tán, (Darwin, 2017, tr.467–474) Tuy chúng đều mang tính chất tản mạn và chưa gây được chú ý lớn, nhưng đã góp phần đem lại những cơ sở xác thực cho những quan điểm mà Darwin đưa ra
Như vậy có thể thấy, tiến hóa là một quan điểm không hề mới, mà đã được nhắc đến và đưa đến nhiều tư tưởng khác nhau Tuy nhiên, tất cả hoặc là sai lầm, hoặc là còn nhiều thiếu sót Nguyên nhân của những hạn chế này là do sinh học vào giai đoạn của họ chưa có được những tài liệu đầy đủ và chính xác Đến lượt Darwin, những thành tựu trong khoa học tự nhiên và cả sinh học đã được tích lũy rất nhiều, và đồng thời bằng những quan sát được chính ông thu thập không chỉ ở trong chăn nuôi, trồng trọt mà còn trong cả tự nhiên thông qua cuộc hành trình thám hiểm của bản thân, ông đã đưa thuyết tiến hóa lên một vị thế mới Ở đó, nó
Trang 35đã khắc phục được những hạn chế của tư tưởng tiến hóa cũ, đồng thời cũng đánh
đổ được những quan điểm duy tâm về sự sống
1.1.3 Khái quát cuộc đời và sự nghiệp của Charles Darwin
Charles Robert Darwin sinh ngày 12 tháng 2 năm 1809 tại Shrewsbury, Shropshire, thuộc miền nam nước Anh Ông là người con thứ năm trong số sáu anh chị em, trong một gia đình gồm những học giả và những người làm nghề tự
do Ông nội Erasmus Darwin (1731 – 1802) vừa là một bác sĩ, vừa là một nhà nghiên cứu về động, thực vật; thực ra là một người đã có tư tưởng về tiến hóa, khi ông giả đoán rằng các sinh vật phát triển ngày càng lên cao hơn dựa vào động lực bên trong của chúng vào những năm 1790 (Bowlby, 1990, tr.31) Cha ông là Robert Darwin (1766 – 1848) là một bác sĩ và nhà tài chính; còn mẹ ông là bà Susannah Wedgwood (1765 – 1817) thì mất lúc ông mới hơn tám tuổi Có thể nói, chính cha Darwin là người có ảnh hưởng rất lớn đến cuộc đời ông, bởi ông
rất kính trọng cha mình Trong Tự truyện (Autobiography) của mình, ông nhắc
đến cha mình như một người đàn ông có “khả năng quan sát và sự cảm thông, không ai trong số những người tôi gặp có thể vượt qua hay thậm chí là ngang bằng ông về điều đó” (Appendix & Barlow, 1958, tr.29), do đó hoàn toàn thích hợp với nghề bác sĩ Trong quá trình hành nghề của mình, cha của Darwin đã cho đem đến cho Darwin rất nhiều những bài học quý giá, về cả lối tư duy lẫn phong cách làm việc
Ngay từ nhỏ Darwin đã có niềm đam mê thu thập về tất cả các thể loại như
vỏ sò, con dấu, tem, tiền xu, và đặc biệt là sự yêu thích đối với thực vật, ông luôn tìm cách để biết được tên các loài thực vật mà ông thấy và quan tâm đến sự biến đổi của chúng Do vậy, ở trường học, Darwin là một cậu bé hoàn toàn thờ ơ với các môn học mà chỉ mãi theo đuổi những gì mà mình yêu thích, đến nỗi cha ông đã nhận xét ông là “một nỗi ô nhục đối với bản thân và gia đình” (Appendix & Barlow, 1958, tr.28) Cho nên vào mùa hè năm 1825, ông được cha mình gửi cùng anh trai đến đại học Edinburgh để học y khoa – hướng đến công việc như của ông nội và cha Tuy nhiên, ông tỏ ra không thích việc học hành để trở thành bác sĩ, thậm chí có phần ghét nó vì ông không thể chứng kiến những cuộc phẫu thuật mà
Trang 36thời đó vẫn chưa có thuốc gây mê; cùng với đó, những bài giảng tại trường đối với ông thì rất buồn tẻ Trong thời gian này, ông chuyển sang quan tâm đến các môn khoa học khác nhiều hơn và giao du với những người bạn yêu khoa học như W.F.Ainsworth (1807 – 1896), R.E.Grant (1793 – 1874), và học hỏi được nhiều điều từ họ Darwin trở thành hội viên của Hội Plinian dành cho những người đam
mê nghiên cứu và thảo luận về khoa học tự nhiên vào năm 1826, cũng trong hội đó ông gặp gỡ và được thảo luận về nhiều chủ đề khoa học thú vị Một trong những sở thích khác của ông chính là đi ngao du đây đó, trong hai năm này ở Edinburgh, ông cũng đã đi đến nhiều nơi khác nhau và mở mang tầm mắt của mình với những
sự kỳ lạ xung quanh mình
Tuy nhiên, cha của ông khi thấy con đường học tập y khoa của ông không thể nào hoàn thành, đã gửi ông đến đại học Cambridge để trở thành một mục sư Anh giáo vào năm 1828 Đây là một công việc không hề liên quan đến truyền thống của gia đình, nhưng nó không phải là một công việc tồi bởi thời bấy giờ thần học vẫn có sức ảnh hưởng rất lớn tại Anh Tuy vậy ông vẫn không chú tâm học hành và cảm thấy ở đây “thời gian của tôi bị phung phí một cách đáng buồn, và còn nghiêm trọng hơn là phung phí” (Appendix & Barlow, 1958, tr.60) Cho nên trong vòng 3 năm ở Cambridge, ông chỉ tham dự các lớp học trên danh nghĩa, dành phần lớn thời gian cho việc sưu tập bọ và đi săn Và đến nửa thời gian cuối ở tại Cambridge, ông được tiếp xúc và học hỏi rất nhiều bởi nhà thần học đồng thời là giáo sư thực vật học J S Henslow (1796 – 1861) – người có “ảnh hưởng đến toàn bộ sự nghiệp của tôi hơn bất kì điều gì khác” (Appendix & Barlow, 1958, tr.64) Bên cạnh đó còn có giáo sư địa chất học A Sedwick (1785 – 1873), người
đã giúp Darwin tìm thấy phương pháp cho hoạt động khoa học của mình, chính là bằng “sự tổng hợp lại của các dữ kiện, để có thể suy ra từ đó các định luật phổ quát hay kết luận” (Chu Hảo và các tác giả khác, 2010, tr.270) Và đến năm cuối
ở Cambridge, sau khi đọc quyển sách Câu chuyện cá nhân (Personal Narrative)
kể về những cuộc thám hiểm thế giới của Humboldt (1769 – 1859), và đặc biệt là
cuốn sách Nhập môn nghiên cứu triết học tự nhiên (Introduction to the Study of
Natural Philosophy) của J Herschel (1792 – 1871), đã khiến Darwin mong mỏi
Trang 37được đóng góp công sức của mình vào khoa học tự nhiên Từ đó, ông quyết định hỏi han về các chuyến đi tàu biển, bởi đây chính là cơ hội tốt nhất để có thể vừa khám phá thế giới, vừa được thu thập các tài liệu cho việc nghiên cứu khoa học của mình Chính nhờ giáo sư Henslow, mà ngay sau khi tốt nghiệp vào năm 1831, ông được giới thiệu tham gia vào chuyến tàu HMS Beagle thám hiểm vòng quanh thế giới với tư cách là nhà tự nhiên học tự nguyện mà không cần ăn lương, và ông ngay lập tức đồng ý với lời đề nghị này Ban đầu, chuyến đi này bị cha ông không cho phép vì cho rằng nó không giúp ích gì được cho Darwin, nhưng với sự thuyết phục của người cậu Josiah Wedgwood II (1769 – 1843), cuối cùng cha ông cũng đồng ý Chính cơ hội này đã khiến cuộc đời Darwin bước sang một trang mới, chính ông cũng thừa nhận “chuyến đi của Beagle cho đến này là sự kiện quan trọng nhất cuộc đời tôi và nó đã quyết định đến toàn bộ sự nghiệp của tôi” (Appendix & Barlow, 1958, tr.76)
Chuyến tàu HMS Beagle là một tàu thăm dò, khảo sát được tổ chức bởi Hải quân Hoàng gia Anh Hành trình kéo dài 5 năm, từ năm 1831 đến năm 1836, bắt đầu từ Anh đi qua các nơi như quần đảo Cape Verde, Brazil, Tierra del Feugo, quần đảo Falkland, Argentina, Chile, quần đảo Galapagos, Tahiti, New Zealand, Australia, Tasmania, Mauritius, Cape Town, (Chu Hảo và các tác giả khác, 2010, tr.271) Trong suốt cuộc hành trình, Darwin đều chăm chỉ ghi lại nhật kí và dành nhiều công sức để mô tả sinh động và chân thật những gì mà ông được quan sát
Và cũng nhờ vào chuyến đi này, ông đã nhận thấy được lòng nhiệt tình của mình đối với khoa học, dần vượt qua hẳn những sở thích nhàn rỗi lúc trước như làm thơ, câu cá hay săn bắn Sau chuyến đi, những tư tưởng về tiến hóa đã dần dần manh nha trong đầu ông dù cho trong hành trình này ông phải vượt qua rất nhiều khó khăn từ việc say sóng cho đến nỗi nhớ nhà da diết Đến năm 1836, ông trở về Anh
và bắt đầu viết nhật kí, các bài báo cáo khoa học, cũng như trình bày các mẫu vật
mà mình đã thu thập được cho Hội Địa chất Và đến tháng 7 năm 1837, ông bắt đầu mở cuốn sổ ghi chú đầu tiên của mình dành cho các sự kiên liên quan đến
cuốn sách Nguồn gốc các loài và không ngừng bổ sung cho tác phẩm này trong 20
năm tiếp theo Sau đó 15 tháng, ông tình cờ đọc được thuyết nhân khẩu của
Trang 38Malthus và nhen nhóm ý nghĩ về sự đấu tranh sinh tồn trong tự nhiên và sự hình thành nên các loài mới Vậy là cuối cùng cũng có một lý thuyết để ông có thể nghiên cứu đúng hướng, nhưng vì nó liên quan đến vấn đề tôn giáo nên ông vẫn lẩn tránh nó Năm 1839, ông cưới bà Emma Wedgwood (1808 – 1896) – cũng chính là em họ của ông - làm vợ; và sau đó 3 năm ông rời thành phố cùng bà đến một ngôi làng nhỏ gần London vì ông hay bị bệnh tật quấy rầy Ở ngôi làng nhỏ yên bình này, ông có nhiều thời gian hơn cho việc nghiên cứu của mình, nên đã có nhiều cuốn sách đã được viết tại đây, dựa trên cơ sở những thu thập từ trước và cả những thu thập thông qua những cuộc hành trình ngắn của ông trong giai đoạn này Năm 1842, ông bắt đầu viết “một bản tóm tắt rất ngắn gọn về lý thuyết của tôi bằng bút chì trong 35 trang” (Appendix & Barlow, 1958, tr.120) – chính là phiên
bản đầu tiên của Nguồn gốc các loài Tiếp theo vào năm 1844 nó được mở rộng
lên thành 230 trang Đến năm 1856, với lời khuyên mạnh mẽ từ Lyell và Hooker, ông đã bắt tay vào việc viết đầy đủ và chi tiết về quan điểm của chính mình, nhưng
nó thường bị gián đoạn bởi sức khỏe của ông ngày càng kém Cuối cùng, sau nhiều
đắn đo và cả nhiều tâm huyết, cuốn sách Về nguốn gốc của các loài qua con đường chọn lọc tự nhiên, hay Về sự bảo tồn những nòi ưu thế trong cuộc đấu tranh sinh tồn (On the origin of species by means of natural selection; or, The preservation of favoured races in the struggle for life), viết tắt là Nguồn gốc các loài – tác phẩm
mà ông ấp ủ về một khám phá khoa học làm chấn động cả xã hội – đã được xuất bản vào năm 1859 Điều đáng ngạc nhiên là cuốn sách đã được bán sạch ngay ngày đầu tiên được bày ra Mặc dù sau đó ông còn có nhiều chỉnh sửa và bổ sung cho những ấn bản sau, nhưng nhìn chung nó đều cùng là về một quan điểm duy nhất của ông về sự biến đổi của các loài
Sau khi công trình vĩ đại này được xuất bản, Darwin không hề nghỉ ngơi mà
tiếp tục nghiên cứu và đưa ra những cuốn sách khác; như là Biến thể của động vật
và thực vật trong quá trình thuần hóa (The variation of animals and plants under domestication, 1868), Nguồn gốc con người và sự chọn lọc theo giới tính (The Descent of Man and Selection in Relation to Sex, 1871), Diễn tả cảm xúc ở người
và động vật (Expression of the Emotions in Man and Animals, 1872), và vô số
Trang 39các bài báo về chủ đề sinh học đã được đăng tải Vì những đóng góp rất lớn cho khoa học của mình, ông được nhận ba huy chương vào lúc vẫn còn sống: Royal Medal (1853), Wollaston Medal (1859) và Copley Medal (1864) Nhưng sức khỏe vốn đã kém, cùng với sự miệt mài nghiên cứu đã khiến ông dần không còn chống
đỡ được bệnh tật Vào ngày 19 tháng 4 năm 1882, ông ra đi và được an táng tại nghĩa trang Westminster, gần mộ Newton
Như vậy có thể thấy, ngay trong cuộc đời của Darwin cũng đã ảnh hưởng rất mạnh mẽ đến con đường khoa học của ông Về phía gia đình, ông được thừa hưởng từ cha mình một sự quan sát đầy cẩn thận về các sự vật, hiện tượng xung quanh Điều này rất quan trọng đối với sự nghiệp của ông sau này, bởi chính nhờ những quan sát, thu thập mà ông mới có được những bằng chứng cơ bản nhất cho quan điểm tiến hóa của mình Tuy nhiên nếu chỉ dừng ở đó thì Darwin cũng chỉ có thể là một người bác sĩ hoặc giáo sĩ như cha ông mong muốn Chính cuộc gặp gỡ với những người yêu khoa học, cùng những tranh luận với họ đã giúp Darwin rất nhiều với sự yêu thích đối với khoa học Những người của bạn, người đồng nghiệp như Henslow, Lyell, Hooker, Sedwick thật sự đã giúp ông hiểu rõ hơn về địa chất,
về thực vật, về động vật; và cũng nhờ những người bạn mà ông mới có cơ hội tham gia chuyến tàu Beagle và hình thành cho mình một lý thuyết riêng về tiến hóa Đồng thời ngay trong bản thân Darwin đã có tiềm năng cho một nhà khoa học, bởi ông là một người có niềm yêu thích đối với khám phá, thu thập, đặc biệt
là một sự sắp xếp logic ngay trong trí óc Tất cả những điều này đều có sức ảnh hưởng đến Darwin ở một mức độ nào đó đối với sự nghiệp nghiên cứu khoa học của ông nói chung và đối với sự ra đời học thuyết tiến hóa nói riêng
1.2 NỘI DUNG CƠ BẢN HỌC THUYẾT TIẾN HÓA CỦA CHARLES DARWIN VÀ
SỰ PHÁT TRIỂN HỌC THUYẾT TIẾN HÓA SAU CHARLES DARWIN
1.2.1 Nội dung cơ bản học thuyết tiến hóa của Charles Darwin
Tiến hóa không phải là một đề tài mới, tuy nhiên cách xây dựng lý thuyết như thế nào mới là cái làm cho nó mang tính khoa học hay không Chính Darwin
cũng đã thừa nhận ngay trong phần Dẫn nhập của cuốn sách Nguồn gốc các loài
rằng kết luận không phải là cái cần thiết nhất trong khoa học, mà cái quan trọng hơn phải là nguyên nhân, là cách thức Do đó, cần “có được một cái nhìn thông
Trang 40suốt từ bên trong của sự thích nghi và biến đổi” (Darwin, 2017, tr.49) Và muốn có được cái nhìn này, không gì khác hơn là phải quan sát, thu thập, bởi mọi đánh giá đều bắt đầu từ những quan sát Ở lĩnh vực sinh học, điều này đồng nghĩa với việc phải có một sự tổng hợp tài liệu vô cùng lớn và đầy đủ về giới sinh vật, tức là cả trong môi trường nuôi trồng lẫn trong điều kiện tự nhiên Và với sự phát triển rực
rỡ của nền nông nghiệp nước Anh, những giống cây trồng và vật nuôi là những sản phẩm đa dạng nhất, là tài liệu nghiên cứu phong phú nhất Vì lẽ đó, “ngay từ khi bắt đầu quan sát, tôi thấy có lẽ việc nghiên cứu cẩn thận những cây và con thuần hóa chắc hẳn sẽ là cơ hội tốt nhất để hiểu được vấn đề chưa rõ ràng này” (Darwin,
2017, tr.49) Từ việc xem xét những biến đổi mang tính thuần hóa, tức những biến đổi dưới sự tác động của bàn tay con người, Darwin tiếp tục đi xa hơn với những biến đổi trong tự nhiên, từ đó có cái nhìn mang tính tổng quát nhất về giới sinh vật Với sự nghiên cứu rộng rãi và có logic như vậy đã giúp Darwin nêu ra được kết luận có thể nói là mang tính khoa học nhất về sự tiến hóa trong giới sinh vật: “mỗi loài không thể được tạo ra một cách riêng biệt mà có nguồn gốc từ những loài khác” (Darwin, 2017, tr.48)
Khi xem xét các sản phẩm trong lĩnh vực chăn nuôi và trồng trọt, ông nhận thấy rằng cùng một biến chủng, nhưng trong tự nhiên và trong nuôi trồng lại có những đặc điểm khác nhau rất nhiều Mặt khác, động vật và thực vật đã được thuần hóa lại rất đa dạng và có những điểm sai khác qua nhiều thế hệ trong cùng loài Những biến đổi này, được ông gọi là biến dị (variability), và nó chính là
“nguồn gốc của những sản vật tinh túy trong nghề làm vườn” (Darwin, 2017, tr.55) Vậy, những biến dị này từ đâu mà có? Những nhà sinh học trước Darwin cũng đều quan sát được yếu tố này, nhưng họ quy một cách đơn giản nguồn gốc của biến dị là do sự thay đổi của điều kiện sống Darwin cũng không phủ nhận điều này, ông cho rằng nguyên nhân gây biến dị trong nuôi trồng thường gặp nhất
là do cơ quan sinh dục đực và cái bị ảnh hưởng trước khi thụ thai, sở dĩ bị ảnh hưởng là do chúng nhạy cảm với những thay đổi điều kiện sống hơn những cơ quan khác Nhưng vấn đề đặt ra là: tại sao “các cây con của cùng một quả, các con vật cùng lứa đẻ đôi khi rất khác nhau mặc dù cả con và bố mẹ đều tiếp xúc với