1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khả năng ứng phó trước tác động của biến đổi khí hậu của những hộ sản xuất nông nghiệp huyên châu thành, tỉnh bến tre

118 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khả năng ứng phó trước tác động của biến đổi khí hậu của những hộ sản xuất nông nghiệp huyện châu thành, tỉnh bến tre
Tác giả Huỳnh Thị Bạch Tuyết
Trường học Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Xã hội học
Thể loại Công trình nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2018
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 2,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh đó, tác giả còn tìm hiểu các biện pháp ứng phó của những hộ sản xuất nông nghiệp trước những tác động của BĐKH trong nhiều khía cạnh khác nhau như: sản xuất, sinh hoạt, công việ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN HỒ CHÍ MINH

LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU: XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

CHUYÊN NGÀNH: XÃ HỘI HỌC

Mã số công trình: ………

Trang 3

ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN HỒ CHÍ MINH

LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU: XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

CHUYÊN NGÀNH: XÃ HỘI HỌC

Mã số công trình: ………

Trang 4

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 5

DANH MỤC BẢNG/BIỂU 6

TÓM TẮT 6

PHẦN MỞ ĐẦU 10

1 Lý do chọn đề tài 10

2 Mục đích nghiên cứu 11

3 Mục tiêu nghiên cứu 11

4 Nội dung nghiên cứu 11

5 Đối tượng nghiên cứu 12

6 Khách thể nghiên cứu 12

7 Phạm vi nghiên cứu 12

8 Ý nghĩa nghiên cứu 12

8.1 Ý nghĩa lý luận 12

8.2 Ý nghĩa thực tiễn 13

PHẦN 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 14

1.1 Tổng quan về biểu hiện của biến đổi khí hậu 14

1.2 Tổng quan về tác động của biến đổi khí hậu 17

1.3 Tổng quan về các biện pháp ứng phó trước tác động của biến đổi khí hậu 19

PHẦN 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24

2.1 Phương pháp thu thập thông tin 24

2.2 Xử lý số liệu 28

2.3 Cơ sở lý luận và phương pháp luận 28

2.3.1 Các khái niệm trong đề tài 28

2.3.1.1 Biến đổi khí hậu 28

2.3.1.2 Khả năng ứng phó với biến đổi khí hậu 29

Trang 5

2.3.2 Lý thuyết áp dụng 30

2.3.2.1 Thuyết phân tầng xã hội 30

2.3.2.2 Thuyết lựa chọn hợp lý 33

2.3.3 Giả thuyết nghiên cứu 34

PHẦN 3: KẾT QUẢ - THẢO LUẬN 36

CHƯƠNG 1: THỰC TRẠNG, ĐẶC ĐIỂM CỦA HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP Ở ĐỊA PHƯƠNG VÀ TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN ĐỜI SỐNG CỦA NHỮNG HỘ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP 36

1.1 Thực trạng, đặc điểm của hoạt động sản xuất nông nghiệp ở địa phương 36

1.1.1 Thực trạng và các yếu tố tác động đến hoạt động sản xuất nông nghiệp ở địa phương 36

1.1.2 Vai trò của hoạt động sản xuất nông nghiệp trong đời sống của người dân địa phương 41 1.2 Tác động của biến đổi khí hậu những hộ sản xuất nông nghiệp huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre 44

1.2.1 Tác động của biến đổi khí hậu đến sản xuất 49

a) Ảnh hưởng đến cây trồng 51

b) Ảnh hưởng đến vật nuôi 53

c) Ảnh hưởng đến công việc, thu nhập 54

1.2.2 Tác động của biến đổi khí hậu đến sinh hoạt 55

1.2.3 Tác động của biến đổi khí hậu đến sức khỏe 58

CHƯƠNG 2: CÁC BIỆN PHÁP ỨNG PHÓ VÀ HIỆU QUẢ CỦA CÁC BIỆN PHÁP ỨNG PHÓ CỦA NHỮNG HỘ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP 63

2.1 Những biện pháp ứng phó của những hộ sản xuất nông nghiệp trước biến đổi khí hậu 63

2.1.1 Những biện pháp ứng phó trong sản xuất 63

a) Trong trồng trọt 63

b) Trong chăn nuôi 72

2.1.2 Những biện pháp ứng phó trong sinh hoạt 78

a) Những vật dụng chuẩn bị để ứng phó với biến đổi khí hậu 78

b) Những biện pháp ứng phó trong sinh hoạt 82

2.1.3 Những biện pháp ứng phó về công việc, thu nhập, sức khỏe 86

2.2 Hiệu quả của các biện pháp ứng phó trước tác động của biến đổi khí hậu 91

2.2.1 Hiệu quả của các biện pháp ứng phó của những hộ sản xuất nông nghiệp 91

Trang 6

2.2.2 Hiệu quả của các chính sách, chương trình ứng phó với tác động của biến đổi khí hậu ở

địa phương 94

PHẦN 4: KẾT LUẬN – ĐỀ NGHỊ 100

TÀI LIỆU THAM KHẢO 104

PHỤ LỤC 110

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

- BĐKH: Biến đổi khí hậu

- ĐBSCL: Đồng bằng sông Cửu Long

Trang 8

DANH MỤC BẢNG/BIỂU

Biểu đồ 2 - Mức độ hiểu biết về BĐKH của những hộ gia đình sản xuất nông

nghiệp

26

Bảng 3 – Mức độ thường xuyên của các biểu hiện thời tiết thất thường phân theo

mức sống

45

Bảng 4 – Mức độ nghiêm trọng của các biểu hiện thời tiết bất thường 46

Trang 9

Bảng 5 – Mức độ nghiêm trọng của các hiện tượng 48

Bảng 6 - Tác động của BĐKH đến đời sống của những hộ sản xuất nông nghiệp 61

Bảng 7 – Những biện pháp ứng phó trong trồng trọt phân theo mức sống 67

Bảng 8 – Những biện pháp ứng phó trong trồng trọt phân theo mức độ hiểu biết

về BĐKH

70

Bảng 10 – Những biện pháp ứng phó trong chăn nuôi phân theo mức sống 75

Bảng 11 – Những biện pháp sử dụng trong chăn nuôi phân theo mức độ hiểu biết

về BĐKH

77

Bảng 12 – Những vật dụng chuẩn bị để ứng phó với BĐKH phân theo mức sống 81

Bảng 13 – Những biện pháp ứng phó trong sinh hoạt phân theo mức sống 85

Bảng 14 – Biện pháp ứng phó về công việc, thu nhập, phân theo mức sống 87

Bảng 16 – Mức độ hiệu quả của các biện pháp ứng phó phân theo mức sống 93

Bảng 17 – Mức độ hiệu quả của các biện pháp ứng phó phân theo mức độ hiểu

biết về BĐKH

94

Trang 10

Bảng 18 – Những chính sách chương trình ở địa phương 98

Bảng 20 – Mức độ hiểu biết về BĐKH của những hộ gia đình sản xuất nông

nghiệp

110

Trang 11

TÓM TẮT

Thông qua việc phân tích những số liệu định lượng và dữ liệu định tính nghiên cứu tại địa bàn huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre, tác giả chỉ ra những biểu hiện của BĐKH tại địa bàn, tác động của BĐKH đến đời sống những hộ gia đình, cụ thể là những hộ sản xuất nông nghiệp huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre Bên cạnh đó, tác giả còn tìm hiểu các biện pháp ứng phó của những hộ sản xuất nông nghiệp trước những tác động của BĐKH trong nhiều khía cạnh khác nhau như: sản xuất, sinh hoạt, công việc, thu nhập và sức khỏe Thêm vào đó, tác giả cũng chỉ ra một số yếu tố tác động đến việc lựa chọn các biện pháp ứng phó của những hộ sản xuất nông nghiệp Từ đó, tác giả đề xuất một số khuyến nghị để chính quyền địa phương có những biện pháp hỗ trợ những hộ sản xuất nông nghiệp ứng phó hiệu quả hơn trước tác động của BĐKH

Trang 12

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hiện nay, BĐKH là một hiện tượng toàn cầu, là mối quan tâm hàng đầu của nhân loại BĐKH đã và đang gây ra những ảnh hưởng nhất định đến nhiều khu vực trên thế giới, trong đó đồng bằng sông Cửu Long được nhận diện là một trong ba đồng bằng trên thế giới bị ảnh hưởng nặng nề Nhiệt độ ở đồng bằng sông Cửu Long tăng khá nhiều, lượng mưa tăng ít nhất cả nước, mùa khô rõ rệt và chế độ nước trở nên thất thường Những điều này đã tác động rất lớn đến sinh hoạt và sản xuất của người dân ở ĐBSCL (Nguyễn Văn Thắng và cộng sự, 2010)

Bến Tre có điều kiện khí hậu, đất đai, nguồn nước thuận lợi và đây chính là tiền

đề cho sự phát triển hoạt động sản xuất nông nghiệp Trong những năm gần đây, hoạt động sản xuất nông nghiệp ở địa phương đã có những bước phát triển đáng kể Tuy nhiên, là một tỉnh của ĐBSCL, Bến Tre cũng đang bị tác động rất lớn bởi BĐKH BĐKH đang gây ảnh hưởng nhất định đến hoạt động sản xuất nông nghiệp của các hộ gia đình ở Bến Tre Trước những tác động của BĐKH, những hộ sản xuất nông nghiệp tỉnh Bến Tre đã có những cách thức ứng phó để giảm thiểu tác động của BĐKH đến đời sống của họ

Khả năng ứng phó của những hộ sản xuất nông nghiệp là một trong những chủ đề được rất nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu Phần lớn những nghiên cứu của các tác giả

về chủ đề này chỉ ra những biện pháp mà những hộ sản xuất nông nghiệp sử dụng để ứng phó trong từng lĩnh vực cụ thể cũng như đưa ra những yếu ảnh hưởng đến việc lựa chọn các biện pháp ứng phó của những hộ sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên, hầu hết các tác giả chỉ mới đề cập đến tên của những yếu tố này chứ chưa phân tích những tác động cụ thể của các yếu tố này đến việc lựa chọn các biện pháp ứng phó trước tác động

của BĐKH của người dân Chính vì thế, tác giả quyết định chọn đề tài: “Khả năng ứng

phó trước những tác động của biến đổi khí hậu của những hộ sản xuất nông nghiệp huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre” để làm rõ hơn, phân tích sâu hơn về vấn đề này

Trang 13

2 Mục đích nghiên cứu

Đề tài này hướng đến mục đích nghiên cứu các biện pháp ứng phó trước tác động của BĐKH của những hộ sản xuất nông nghiệp và các yếu tố tác động đến việc lựa chọn các biện pháp ứng phó của họ Từ đó, đưa ra định hướng cho việc thực hiện các biện pháp hỗ trợ, giúp đỡ những hộ nông nghiệp ứng phó tốt hơn với BĐKH

3 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu của đề tài là:

Phân tích thực trạng và đặc điểm của hoạt động sản xuất nông nghiệp ở địa phương

Tìm hiểu tác động của BĐKH đến đời sống của những hộ sản xuất nông nghiệp

và các biện pháp ứng phó trước tác động của BĐKH cũng như phân tích một số yếu tố tác động đến hoạt động ứng phó của họ

Đánh giá hiệu quả của các biện pháp ứng phó trước những tác động của BĐKH của hộ sản xuất nông nghiệp và những chính sách, chương trình ở địa phương

4 Nội dung nghiên cứu

Tìm hiểu về thực trạng cũng như sự thay đổi của hoạt động sản xuất nông nghiệp

ở huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre so với những năm trước đây và phân tích các yếu tố tác động đến hoạt động sản xuất nông nghiệp nhằm mục đích chỉ ra những tác động của BĐKH đến hoạt động sản xuất nông nghiệp Đồng thời, phân tích vai trò của hoạt động sản xuất nông nghiệp trong đời sống người dân và xác định các tác động của BĐKH đến đời sống của những hộ sản xuất nông nghiệp

Phân tích các biện pháp ứng phó của những hộ sản xuất nông nghiệp trước tác động của BĐKH trong sản xuất, sinh hoạt và sức khỏe Đồng thời, chỉ ra sự tác động của các yếu tố như mức sống, mức độ hiểu biết về BĐKH đến hoạt động ứng phó của

họ

Trang 14

Đánh giá hiệu quả của các biện pháp ứng phó trước tác động của BĐKH của những hộ sản xuất nông nghiệp ở hai cấp độ: cấp độ hộ gia đình và cấp độ các chính sách, chương trình ở địa phương

5 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là khả năng ứng phó của những hộ sản xuất nông nghiệp trước tác động của BĐKH

6 Khách thể nghiên cứu

Các hộ sản xuất nông nghiệp hiện đang sống ở hai xã An Hóa và xã Hữu Định, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre

7 Phạm vi nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu này, tác giả đã có sử dụng dữ liệu

khảo sát từ đề tài: “Tác động kinh tế - xã hội của BĐKH tại khu vực đồng bằng sông

Cửu Long (Nghiên cứu trường hợp huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre)” để phân tích

và viết báo cáo Đề tài được thực hiện vào:

Thời gian: Từ ngày 16/08/2017 đến ngày 19/08/2017

Không gian: Tại xã An Hóa và xã Hữu Định, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre

8 Ý nghĩa nghiên cứu

Trang 15

8.2 Ý nghĩa thực tiễn

Nghiên cứu là một cơ hội để sinh viên trực tiếp thực hiện một đề tài nghiên cứu khoa học phù hợp với chuyên ngành cũng như áp dụng những kiến thức đã học trên lớp

ở các môn như: phương pháp nghiên cứu xã hội học, xã hội học môi trường, lý thuyết

xã hội học, vào trong thực tiễn cuộc sống Thêm vào đó, nghiên cứu còn giúp định hướng cho những chương trình, chính sách về BĐKH ở địa phương

Trang 16

PHẦN 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Để phục vụ cho đề tài nghiên cứu, tác giả đã đọc và phân tích một số đề tài nghiên cứu vềBĐKH Những đề tài nghiên cứu về BĐKH thường chỉ ra ba khía cạnh chính là biểu hiện của BĐKH, tác động của BĐKH và các biện pháp ứng phó trước tác động của BĐKH

1.1 Tổng quan về biểu hiện của biến đổi khí hậu

Biểu hiện của BĐKH là một khía cạnh được khá nhiều các tác giả quan tâm Những nghiên cứu về khía cạnh này bao gồm những nghiên cứu về biểu hiện BĐKH trên toàn thế giới, những nghiên cứu về biểu hiện của BĐKH trên một đất nước, một khu vực hay một tỉnh cụ thể nào đó

Về biểu hiện của BĐKH trên thế giới, tác giả Kỳ Quang Vinh (2013) trong bài

viết: “Báo cáo đánh giá lần thứ 5 của Ủy ban liên minh về biến đổi khí hậu (IPCC) và

một số thông tin liên quan” đưa ra những số liệu: từ những năm 1950, nhiều thay đổi

quan sát được chưa từng có trong nhiều thập kỷ hoặc thiên niên kỷ Khí quyển và đại dương đã ấm lên, mực nước biển đã dâng lên, lượng tuyết và băng đã giảm do nồng độ khí nhà kính trong khí quyển ngày càng cao hơn Ngoài ra, tác giả còn đề cập, trong ba thập kỷ vừa qua, cứ sau mỗi thập kỷ bề mặt trái đất đã liên tục nóng lên hơn bất kỳ thập kỷ nào trước đó kể từ năm 1850 Ở Bắc bán cầu, giai đoạn từ 1983 đến 2012 dường như là khoảng thời gian 30 năm ấm nhất trong 1.400 năm qua Đại dương tích lủy phần lớn năng lượng trong hệ thống khí hậu và nóng lên Hầu như chắc chắn rằng phần nước mặt của đại dương (từ 0-700m sâu) ấm lên trong giai đoạn 1971-2010 và có khả năng nó đã bắt đầu ấm từ giai đọan 1870 và 1971 Bên cạnh đó, trong hai thập kỷ qua, lớp băng bao phủ Greenland và Nam Cực đã mất đi hàng loạt Trên toàn thế giới các sông băng tiếp tục co lại và vào mùa xuân lượng tuyết phủ trên Bắc băng dương và Bắc bán cầu đã tiếp tục giảm Tốc độ nước biển dâng từ giữa thế kỷ 19 đã lớn hơn so với tốc độ nước biển dâng trung bình trong hai ngàn năm trước đó Trong hơn 100 năm

từ 1901 đến 2010, mực nước biển trung bình toàn cầu tăng 0,19m

Trang 17

Đối với khu vực Đông Nam Á, Tổ chức Môi trường Thế giới dự báo nhiệt độ sẽ gia tăng 10C vào các năm 2010-2039, và từ 30C đến 40C vào các năm 2070 đến 2099 Trong giai đoạn từ 2010 đến 2039 lượng mưa sẽ giảm 20mm/năm, rồi sau đó từ năm

2070 đến năm 2099 sẽ tăng 60mm/năm; mực mước biển dâng cao 6cm/năm, đạt mức

20 cm vào 2030, và gầm 100 cm vào năm 2100

Kết quả nghiên cứu về biểu hiện BĐKH ở Việt Nam cũng cho thấy những điều tương tự so với thế giới và Đông Nam Á Theo số liệu của Bộ Tài nguyên và Môi

trường (2016) về “Kịch bản BĐKH và nước biển dâng cho Việt Nam”, ở Việt Nam,

nhiệt độ có xu thế tăng ở hầu hết các trạm quan trắc, tăng nhanh trong những thập kỷ gần đây Trung bình cả nước, nhiệt độ trung bình năm thời kỳ 1958-2014 tăng khoảng 0,62oC, riêng giai đoạn (1985-2014) nhiệt độ tăng khoảng 0,42oC Lượng mưa trung bình năm có xu thế giảm ở hầu hết các trạm phía Bắc; tăng ở hầu hết các trạm phía Nam Cực trị nhiệt độ tăng ở hầu hết các vùng, ngoại trừ nhiệt độ tối cao có xu thế giảm ở một số trạm phía Nam Hạn hán xuất hiện thường xuyên hơn trong mùa khô Mưa cực đoan giảm đáng kể ở vùng Đồng Bằng Bắc Bộ, tăng mạnh ở Nam Trung Bộ

và Tây Nguyên Số lượng bão mạnh có xu hướng tăng Số ngày rét đậm, rét hại có xu thế giảm nhưng xuất hiện những đợt rét dị thường và ảnh hưởng của El Nino và La Nina có xu thế tăng

ĐBSCL là đồng bằng có diện tích lớn nhất trong ba đồng bằng ở Việt Nam Trước giờ, ĐBSCL nổi tiếng là vùng đất có khí hậu ôn hòa, thiên nhiên ưu đãi Tuy nhiên, trong những năm gần đây, biểu hiện cực đoan của BĐKH đã và đang diễn ra ở đây Số liệu thống kê trong những năm gần đây cho thấy, nhiệt độ ở đồng bằng sông Cửu Long tăng khá nhiều, lượng mưa tăng ít nhất cả nước song tác động của nước biển dâng vượt xa các vùng khác Nhiệt độ trung bình năm tăng lên 0,4oC vào năm 2020; 1,0oC vào năm 2050 và 2,0oC vào năm 2100 Kỷ lục cao của nhiệt độ có thể lên đến 42,5 oC vào năm 2020; 43oC vào năm 2050 và 44oC vào năm 2100 Lượng mưa mùa hè tăng lên không đến 2% trong các thập kỷ sắp tới song lượng mưa mùa thu tăng lên 2,6% vào năm 2020; 6,8% vào năm 2050 và 13% vào năm 2100 Lượng mưa ngày,

Trang 18

lượng mưa tháng, lượng mưa năm tăng lên không đáng kể Mùa khô rõ rệt hơn, hạn hán trong vụ đông – xuân trở lên khốc liệt hơn Lượng bốc hơi có thể tăng lên với mức không quá mức tăng của lượng mưa, độ ẩm tương đối giảm đi, chỉ số khô hạn cao hơn Dòng chảy sông Tiền và sông Hậu có xu thế giảm dần trong mùa lũ lẫn mùa khô Chế

độ mưa thất thường hơn, nguồn nước mùa khô trở nên khan hiếm hơn Hạn hán tăng cường trong mùa khô và cả trong một số thời điểm nhất định của mùa mưa Vào khoảng năm 2050, với mực nước biển dâng 30cm, diện tích ngập là 17,6% và đến năm

2100, với mực nước biển dâng 75 cm, diện tích ngập lên tới 52% theo kịch bản trung bình (Nguyễn Văn Thắng và cộng sự, 2010)

Trung tâm START vùng Đông Nam Á (Đại học Chulalongkorn, Thái Lan) và Viện Nghiên cứu Biến đổi Khí hậu - Đại học Cần Thơ đã phối hợp chạy mô hình khí hậu vùng PRECIS với kịch bản A2 và B2, dựa vào chuỗi số liệu khí hậu giai đoạn

1980 - 2000 để phỏng đoán giai đoạn 2030-2040 Kết quả mô hình cho thấy nhiều khu vực của vùng Đồng bằng sông Cửu Long sẽ bị tác động sau: Nhiệt độ cao nhất trung bình trong mùa khô sẽ gia tăng từ 33-35°C lên 35-37°C Lượng mưa đầu vụ Hè Thu sẽ giảm chừng 10 - 20%, đồng thời thời kỳ bắt đầu mùa mưa sẽ trễ hơn khoảng 2 tuần lễ

Sự phân bố mưa tháng sẽ có khuynh hướng giảm vào đầu và giữa vụ Hè Thu nhưng gia tăng vào cuối mùa mưa Diện tích ngập ở ĐBSCL do lũ sẽ gia tăng Biên ngập lũ vào tháng 9 – tháng 10 có xu thế mở rộng về phía bán đảo Cà Mau và áp thấp nhiệt đới và bão có khuynh hướng gia tăng vào cuối năm và số trận bão lốc đổ bộ trực tiếp vào vùng ven biển ĐBSCL sẽ có xu thế gia tăng (Tuan and Supparkorn, 2009, 2011)

Biểu hiện BĐKH ở Bến Tre cũng phản ánh những xu hướng chung với biểu hiện BĐKH ở ĐBSCL Cụ thể là, thống kê sự thay đổi nhiệt độ năm từ 1977 – 2010 cho thấy xu thế nhiệt độ trung bình năm ở tỉnh Bến Tre gia tăng rõ rệt, riêng năm 2010 được xem là năm có nhiệt độ trung bình cao một cách bất thường, đạt 29,6°C Nhiệt độ không khí của tỉnh trong khoảng 30 năm qua có đã tăng 0,5°C trong vòng 35 năm trở lại đây Dựa vào 3 kịch bản phát thải khí nhà kính của IPCC là B1 (kịch bản thấp), B2 (kịch bản vừa) và A2 (kịch bản cao), mô hình toán học cho kết quả phỏng đoán diễn

Trang 19

biến sự thay đổi nhiệt độ trung bình năm được dự đoán đạt 27,9oC vào năm 2050 và trong khoảng 28,3oC và 29,3oC vào năm 2100 Số liệu ghi nhận từ năm 1998 tới 2010 cho thấy lượng mưa tăng không đáng kể Tuy nhiên, điều đáng lo ngại là sự thay đổi về thời điểm bắt đầu mùa mưa trong năm Thêm vào đó, thời điểm mưa dữ dội nhất sẽ vào khoảng cuối mùa mưa Do địa hình thấp; nằm ở vị trí gần biển Đông, và địa hình bị bao vây với nhiều nhánh sông liên thông với nhau nên tác động nước biển dâng ở tỉnh Bến Tre sẽ rõ rệt hơn Theo số liệu của MoNRE (2009) dự đoán rằng mực nước biển dâng sẽ tăng từ 65 – 100 cm vào năm 2100 Bão và xói mòn là hai nguyên nhân gây ra tác động nghiêm trọng cho cộng đồng địa phương ven biển Trung bình, tỉnh Bến Tre nhận đón nhận 6-9 cơn bão mỗi năm từ Biển Đông, dẫn đến mưa lớn trong suốt toàn bộ khu vực và gây xói mòn bờ biển (Lê Anh Tuấn và cộng sự, 2012)

Như vậy, các nghiên cứu trên đã chỉ ra rằng biểu hiện BĐKH rất đa dạng và nó đang trở thành một trong những mối đe dọa rất lớn đến sự an toàn của nhân loại

1.2 Tổng quan về tác động của biến đổi khí hậu

Tác động của BĐKH cũng là một khía cạnh được nhiều tác giả đề cập khi nghiên cứu về BĐKH Có nhiều vấn đề khác nhau được đề cập đến khi nghiên cứu về khía cạnh này như tác động của BĐKH đến nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, công nghiệp, du lịch, sức khỏe,…Tuy nhiên, để phục cho đề tài nghiên cứu của mình, tác giả chủ yếu phân tích những đề tài nghiên cứu về tác động của BĐKH đến hoạt động sản xuất nông nghiệp và đời sống những hộ sản xuất nông nghiệp Với đặc thù là hoạt động gắn liền trực tiếp với các điều kiện tự nhiên nên những biểu hiện cực đoạn của BĐKH

sẽ tác động rất lớn đến hoạt động sản xuất nông nghiệp Những nghiên cứu gần đây của nhiều tác giả đã chứng minh cho điều này

Một số nghiên cứu về tác động BĐKH đến hoạt động sản xuất nông nghiệp Việt Nam nói chung phần lớn đã chỉ ra rằng, BĐKH gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đất nông nghiệp Cụ thể là, mất diện tích đất do nước biển dâng hay bị tổn thất do các tác động trực tiếp và gián tiếp của BĐKH như hạn hán, lũ lụt, sạt lở, hoang mạc hóa,

Trang 20

Ngoài ra, BĐKH dẫn đến sự thay đổi thời tiết từ đó ảnh hưởng đến mùa vụ sản xuất nông nghiệp và sự đa dạng cây trồng, vật nuôi Bên cạnh đó, BĐKH gây nhiều khó khăn cho công tác thủy lợi, ảnh hưởng đến nguồn nước tưới tiêu (Nguyễn Văn Thắng

và cộng sự, 2010; Lê Thị Thanh Hà, 2014; Đặng Thị Bé Thơ, 2013) Thêm vào đó, tác giả Đặng Thị Bé Thơ (2013) còn cho rằng BĐKH làm tăng khả năng sâu bệnh, dịch bệnh dẫn đến giảm năng suất và sản lượng, tăng nguy cơ rủi ro đối với nông nghiệp Không những thế, Ngân hàng Thế giới (2016) còn chỉ ra rằng BĐKH mà cụ thể là nước biển dâng và xâm nhập mặn sẽ làm thay đổi địa bàn trồng lúa của nước ta

Một số tác giả khác chỉ ra tác động của BĐKH đến hoạt động sản xuất nông nghiệp của một khu vực cụ thể và ĐBSCL là khu vực được các tác giả đề cập đến nhiều nhất khi nghiên cứu về vấn đề này ĐBSCL có gần 4 triệu hecta đất tự nhiên với 32% là đất nông nghiệp, hàng năm đã đóng góp hơn 50% sản lượng lúa cho đất nước, khoảng 70% sản lượng trái cây cho tiêu dùng nội địa và xuất khẩu, gần 90% sản lượng gạo xuất khẩu và gần 70% kim ngạch xuất khẩu thủy sản mà chủ yếu là các loại cá ba

sa, tra, tôm, nghêu,…(Nguyễn Thế Biên, 2009) Vì vậy, ĐBSCL được xem là vựa lúa

và trái cây của cả nước Tuy nhiên, những nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng BĐKH đang tác động rất lớn đến hoạt động sản xuất nông nghiệp của người dân ĐBSCL Những nghiên cứu này chỉ ra tác động của BĐKH ở ba lĩnh vực chính: tác động của BĐKH đến trồng trọt, đến chăn nuôi và đến hoạt động nuôi trồng thủy sản Về những tác động của BĐKH đến trồng trọt, phần lớn các tác giả thấy rằng BĐKH cụ thể là các hiện tượng: nước biển dâng, các biểu hiện thời tiết cực đoan: bão, lũ lụt, sẽ giảm diện tích canh tác, ảnh hưởng đến sự tăng trưởng cây trồng đặc biệt là cây lúa, làm giảm sản lượng, năng suất cây trồng, ảnh hưởng nguồn nước tưới, tăng nguy cơ dịch bệnh trên cây trồng (SRD, 2012; Lương Thị Thúy, Phan Đức Nam, 2015) Về những tác động của BĐKH đến chăn nuôi, phần lớn các giả chỉ ra rằng BĐKH sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe vật nuôi, làm vật nuôi dễ bị dịch bệnh, chết (Phạm Trọng Thịnh, 2010; Lương Thị Thúy, Phan Đức Nam, 2015) Cũng tương tự như đối với vật nuôi, BĐKH sẽ làm cho việc nuôi trồng thủy sản gặp khó khăn, thủy sản bị bệnh chết (Lương Thị Thúy, Phan

Trang 21

Đức Nam, 2015) Ngoài ra, một số tác giả còn thấy được rằng BĐKH cũng gây ra những tác động nhất định đến thu nhập và sức khỏe của người nông dân (SRD, 2012; Lương Thị Thúy, Phan Đức Nam, 2015)

Bên cạnh những nghiên cứu của các tác giả về tác động của BĐKH đến hoạt động sản xuất nông nghiệp Việt Nam, đến khu vực ĐBSCL, một số tác giả khác còn nghiên cứu tác động của BĐKH đến một số tỉnh cụ thể ở BĐSCL và Bến Tre là một trong những tỉnh đó Cụ thể là, trong trồng trọt, BĐKH làm tăng dịch bệnh, sâu bệnh trên cây trồng, ảnh hưởng đến phân bố cây trồng, thời vụ gieo trồng, sinh trưởng, năng suất cây trồng cũng như diện tích trồng trọt Trong chăn nuôi, BĐKH làm giảm sản lượng lương thực, thiếu hụt nguồn cung cấp nước và làm mất cân bằng môi trường sinh thái Hậu quả của sự thay đổi này là làm giảm sức đề kháng của vật nuôi, tăng khả năng bùng phát lây lan dịch bệnh và giảm năng suất sinh trưởng và sinh sản ở vật nuôi kéo theo hiệu quả chăn nuôi thấp thậm chí vật nuôi có thể chết nếu không có giải pháp thích hợp

để phòng chống (Đặng Thị Bé Thơ, 2013)

Tóm lại, những bài viết và nghiên cứu trên đều chỉ ra một xu hướng chung là BĐKH tác động rất lớn đến hoạt động sản xuất nông nghiệp Trong trồng trọt, BĐKH làm giảm diện tích canh tác, giảm năng suất, sản lượng cây trồng, ảnh hưởng đến nguồn nước tưới tiêu, Trong chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản, BĐKH làm gia tăng dịch bệnh trên vật nuôi, thủy sản, gây chết hàng loạt Ngoài ra, BĐKH cũng gây ra những khó khăn về thu nhập, sức khỏe cho những hộ sản xuất nông nghiệp

1.3 Tổng quan về các biện pháp ứng phó trước tác động của biến đổi khí hậu

Những nghiên cứu về các biện pháp ứng phó trước tác động của BĐKH thường chỉ ra hai khía cạnh chính là những biện pháp cụ thể mà người dân sử dụng để ứng phó trước tác động của BĐKH và những yếu tố tác động đến việc lựa chọn các biện pháp ứng phó của người dân

Trang 22

Về những biện pháp ứng phó của những hộ sản xuất nông nghiệp, tác giả Đặng

Thị Hoa và Quyền Đình Hà (2014) trong bài viết: “Thích ứng với biến đổi khí hậu

trong sản xuất nông nghiệp của người dân ven biển huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định”

đã chỉ ra các biện pháp ứng phó của những hộ sản xuất nông nghiệp ở ba lĩnh vực: trồng trọt, chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản Trong trồng trọt, để giảm thiểu thiệt hại do BĐKH gây ra, các nhóm hộ sản xuất nông nghiệp đã có các biện pháp thích ứng như thay đổi giống cây Ngoài hai biện pháp chủ đạo là thay đổi giống cây trồng và thay đổi

kỹ thuật canh tác, các nhóm hộ phân theo mức độ giàu, nghèo có xu hướng lựa chọn các biện pháp thích ứng khác nhau Một số biện pháp khác cũng được một số ít hộ lựa chọn rải rác đó là thay đổi cơ cấu cây trồng theo hướng đa dạng hóa, thử nghiệm xen canh lúa - cá hoặc luân canh cây trồng, rửa mặn ruộng đồng bằng thủy lợi Trong chăn nuôi, đa số các hộ chăn nuôi ở Giao Thủy chọn biện pháp thích ứng là thay đổi giống vật nuôi và nâng cấp tu sửa chồng trại Sử dụng giống vật nuôi có sức đề kháng cao, thích nghi hơn với điều kiện thay đổi của thời tiết được lựa chọn nhiều hơn như lợn lai Móng cái, vịt đàn lai Nâng cấp tu sửa chuồng trại tránh mưa, bão, gió, ngập nước cũng là biện pháp được nhiều hộ dân quan tâm Trong nuôi trồng thủy sản, kết quả nghiên cứu cho thấy người dân đã có một số biện pháp thích ứng với BĐKH để đảm bảo ổn định thu nhập từ nuôi trồng thủy sản trong điều kiện khó khăn hơn về điều kiện thời tiết, khí hậu Các biện pháp được sử dụng chủ yếu là thay đổi kĩ thuật nuôi trồng, thay đổi giống, thực hiện tôn cao bờ bao ngăn, xây dựng cống điều tiết nước, gia cố bờ

ao nuôi trước mùa mưa bão xảy ra nhằm giảm thiệt hại khi có biến cố thiên tai

Ngoài ra, di cư cũng là một trong những giải pháp quan trọng góp phần đa dạng hóa thu nhập và cải thiện năng lực chung cho hộ dân và cộng đồng để ứng phó và giảm nhẹ các tác động tiêu cực của BĐKH (IOM, 2010, dẫn lại từ UNDP, 2014) Theo tác giả Nguyễn Công Thảo (2012), nghiên cứu của CARE tại Đồng Tháp, BĐKH ảnh hưởng đến hoạt động sinh kế, nhất là đối với những hộ không có đất và dễ bị tổn thương Một biện pháp ứng phó với tình trạng lũ lụt và thiếu đất sản xuất của người nông dân là di dời để kiếm cơ hội ở những miền đất khác, những “cánh đồng xanh

Trang 23

giơn”, nhất là đến các khu công nghiệp và thành phố Hồ Chí Minh (UNDP, 2014) Di

cư được xem là một chiến lược thích nghi hiệu quả với BĐKH, giúp mọi người chuẩn

bị và phục hồi sau các tác động của sự BĐKH (CARE, 2007; UNISDR, 2011) Ngoài

ra, tác giả Vũ Văn Cương (2017) còn cho rằng tri thức bản địa - một thành tố văn hóa quan trọng trong cộng đồng của các dân tộc thiểu số, được người dân không ngừng sáng tạo, bồi đắp và trao truyền tiếp nói giữa các thế hệ thông qua hoạt động sản xuất, ứng xử với tự nhiên và các quan hệ xã hội trong cộng đồng, cũng đóng vai trò quan trọng trong các biện pháp ứng phó của người dân trước BĐKH

Tác giả Lê Anh Tuấn và cộng sự (2012), trong đề tài: “Đánh giá nhanh, tổng hợp

tính tổn thương với biến đổi khí hậu tại ba huyện ven biển, tỉnh Bến Tre”, đã đề cập

đến các hành động ứng phó trước BĐKH của cộng đồng dân cư ba xã: Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre Cụ thể là, có rất nhiều các sáng kiến của cộng đồng đã và đang được áp dụng để ứng phó với sự đa dạng về khí hậu ven và cảnh quan ven biển đa dạng Các sáng kiến này bao gồm thành lập các hợp tác xã quản lý và sản xuất nghêu bền vững; sử dụng lưới chống nắng để chống nắng bảo vệ các khu nuôi ươm sò huyết Nuôi nghêu rải rác trên các địa hình khác nhau để giảm tình trạng chết hàng loạt do nắng nóng kéo dài; chuyển đổi giống cây trồng (rau màu, dưa hấu) thích hợp trên giồng cát; đa dạng hóa các loại rau màu để giảm thiểu tình trạng mất mùa; hay thay đổi giống cây ngập mặn trong điều kiện khí hậu thay đổi Đối với những hộ nuôi tôm, một trong những giải pháp hiện đang được người dân thực hiện để khắc phục những rủi ro từ nghề nuôi tôm đó là chuyển mô hình nuôi tôm sú sang nuôi tôm thẻ chân trắng

Ngoài việc chỉ ra những biện pháp ứng phó trước tác động của BĐKH, trong vài nghiên cứu, một số tác giả còn đề cập đến yếu tố tác động đến việc lựa chọn các biện pháp ứng phó của những hộ sản xuất nông nghiệp

Thông qua việc phân tích những nghiên cứu về thích ứng với BĐKH của một số nước trên thế giới, tác giả Nguyễn Hà Đông và tác giả Đặng Thanh Nhàn (2016) đã chỉ

ra rằng nhận thức về BĐKH có tác động đến việc lựa chọn các biện pháp ứng phó với

Trang 24

BĐKH, tuy nhiên, tác giả lưu ý rằng mối quan hệ này cần phải xem xét lại Ngoài ra, một tác giả khác còn thấy được rằng trình độ học vấn, khả năng tiếp cận tín dụng, kinh nghiệm nông nghiệp, quy mô hộ gia đình và khả năng tiếp cận các dịch vụ mở rộng cũng là những nguyên nhân ảnh hưởng đến nhận thức và hành động thích ứng BĐKH của người dân (Dương Thị Minh Phượng, 2014)

Một số bài viết, nghiên cứu ở Việt Nam cũng chỉ ra những yếu tố tác động đến việc lựa chọn các biện pháp ứng phó của người dân Cụ thể là, tác giả Lê Anh Tuấn (2011) cho rằng khả năng ứng phó với BĐKH đối với một người, một cộng đồng hay một xã hội rộng hơn sẽ phụ thuộc vào nhiều yếu tố liên quan đến những nguồn lực, phương tiện và các thể chế liên quan giúp các hộ gia đình và cộng đồng có đủ sức để đối phó, chống chịu, phòng tránh, ngăn ngừa, giảm nhẹ hoặc nhanh chóng phục hồi sau các thảm họa, thiên tai hoặc các điều kiện bất lợi do thời tiết bất thường gây ra Các nguồn lực của hộ gia đình, cộng đồng hoặc quốc gia bao gồm: Đầu tiên là nguồn tài nguyên thiên nhiên có thể khai thác được từ đất đai, nguồn nước, rừng núi, khoáng sản, môi trường không khí,… Thêm vào đó là các cơ sở hạ tầng như hệ thống cầu đường, công trình thủy lợi, nhà máy điện, trạm cấp nước, hệ thống thông tin liên lạc, bệnh viện, trường học, và phương tiện vật chất như xe thuyền, thiết bị thông tin, nghe nhìn, dụng cụ phòng cháy, cứu nạn,… Hơn nữa, nguồn tài chính, tín dụng có thể huy động

và sử dụng hiệu quả cũng như nguồn nhân lực có thể tập hợp, đội ngũ chuyên gia có kỹ năng và những cá nhân trong cộng đồng có kinh nghiệm thực tế, kiến thức bản địa, cũng có tác động đến khả năng ứng phó của người dân Bên cạnh các yếu tố trên, tác giả Lê Anh Tuấn còn đề cập đến một số yếu tố khác có tác động đến khả năng ứng phó của người dân như: điều kiện kinh tế - xã hội, bao gồm cả các yếu tố sản xuất, sinh kế, liên kết cộng đồng, hoạt động văn hóa, truyền thống và nền tảng đạo đức, tôn giáo và tín ngưỡng và các thể chế, chính sách và pháp luật hiện hành và điều kiện thực thi

Ngoài ra, một số tác giả khác cũng chỉ ra rằng khả năng thích ứng với BĐKH cũng phụ thuộc vào các yếu tố như sự tăng trưởng kinh tế, phát triển công nghệ và các yếu tố xã hội như thu nhập bình quân đầu người và thể chế nhà nước (Nguyễn Thị Hảo

Trang 25

và cộng sự, 2016) Thêm vào đó, tác giả Đặng Thị Hoa và Quyền Đình Hà (2014) cũng chỉ ra rằng có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự thích ứng với BĐKH trong sản xuất nông nghiệp của người dân ven biển bao gồm cả yếu tố khách quan và yếu tố chủ quan Các yếu tố khách quan bao gồm: chính sách của Nhà nước; giải pháp phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; điều kiện tự nhiên của vùng; công nghệ và khoa học kỹ thuật; thị trường; cơ sở hạ tầng Các yếu tố chủ quan bao gồm: nhận thức của người dân về thích ứng với BĐKH; kinh nghiệm của người dân trong sản xuất nông nghiệp; các nguồn lực được sử dụng trong sản xuất nông nghiệp; trình độ học vấn của chủ hộ; giới tính; phong tục, tập quán sản xuất nông nghiệp của địa phương Tuy nhiên, trong bài viết của mình tác giả vẫn chưa làm rõ sự tác động của các yếu tố này đến việc lựa chọn các biện pháp ứng phó với BĐKH của người dân

Như vậy, các nghiên cứu và bài viết bên trên đã chỉ ra rằng các hộ dân đã áp dụng rất nhiều biện pháp nhau trước tác động của BĐKH và việc lựa chọn các biện pháp ứng phó của người dân bị chi phối bởi rất nhiều yếu tố Tuy nhiên, những yếu tố này chỉ mới được chỉ ra chứ chưa được phân tích rõ ràng về những tác động cụ thể của nó đến việc lựa chọn các biện pháp ứng phó Ngoài ra, tác giả còn thấy được rằng phần lớn những nghiên cứu về biện pháp ứng phó với tác động của BĐKH thường tập trung nghiên cứu nhiều ở những vùng ven biển, chưa có nhiều nghiên cứu ở những vùng nội

thành Chính vì thế, tác giả quyết định chọn đề tài: “Khả năng ứng phó trước tác động

của biến đổi khí hậu của những hộ sản xuất nông nghiệp huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre” để nghiên cứu về các biện pháp ứng phó trước tác động của BĐKH của một

huyện nội thành ở tỉnh Bến Tre Đồng thời, tác giả cũng phân tích cụ thể hơn về tác động của một số yếu tố đến khả năng ứng phó của những hộ sản xuất nông nghiệp

Trang 26

PHẦN 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Cuộc nghiên cứu trên đã sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính Trong đó, phương pháp nghiên cứu định lượng chủ yếu tìm hiểu về: biểu hiện và tác động của BĐKH, khả năng ứng phó của người dân trước tác động của BĐKH và tác động của các chính sách và chương trình can thiệp Cũng theo hướng tiếp cận đó, nghiên cứu định tính được thực hiện để phân tích cho những nội dung mà nghiên cứu định lượng chưa có số liệu để chứng minh hoặc chưa làm rõ được và đồng thời làm tăng luận cứ cho các kết quả nghiên cứu định lượng

2.1 Phương pháp thu thập thông tin

+ Về phương pháp thu thập thông tin định lượng

Số liệu thứ cấp: Đề tài sử dụng nguồn thông tin bằng tư liệu sẵn có lấy được từ

một số nguồn như: sách, báo, tạp chí, thuộc ba thư viện: thư viện Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn; thư viện Trung tâm Đại học Quốc gia, thư viện Tổng Hợp cùng một

số trang web

Bên cạnh đó, thông qua nhóm tư liệu sẵn có, tác giả đã có thêm hướng tiếp cận thông tin từ Phòng NN PT NN, Bộ NN PT NT huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre; UBND huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre; UBND xã An Hóa và UBND xã Hữu Định

Số liệu sơ cấp: Đề tài sử dụng số liệu thu thập của nhóm bảng hỏi về đề tài: “Tác động kinh tế - xã hội của BĐKH tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long (Nghiên cứu trường hợp huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre)” Cụ thể là tác giả sử dụng số liệu

khảo sát từ 646 bảng hỏi của hộ sản xuất nông nghiệp trên tổng 1096 bảng hỏi thực hiện được Trong số 646 hộ sản xuất nông nghiệp được khảo sát bằng bảng hỏi, số hộ

có mức sống trung bình chiếm tỷ lệ cao nhất (80%); số hộ nghèo/cận nghèo và số hộ khá giả có tỷ lệ phần trăm bằng nhau, đều là 10% (biểu đồ 1, bảng 19 – phụ lục)

Trang 27

Biểu đồ 1 - Mức sống của những hộ gia đình sản xuất nông nghiệp

Nguồn: Kết quả khảo sát số liệu định lượng tại tỉnh Bến Tre, tháng 8/2017

Nếu xét theo mức độ hiểu biết về BĐKH thì trong số 646 hộ sản xuất nông nghiệp được khảo sát, số hộ có nghe và hiểu về BĐKH chiếm 49%, số hộ có nghe nhưng không hiểu về BĐKH chiếm 18% và số hộ có nghe và hiểu về BĐKH chiếm 33% (biểu đồ 2, bảng 20 - phụ lục)

Trang 28

Biểu đồ 2 - Mức độ hiểu biết về BĐKH của những hộ gia đình sản xuất nông

nghiệp

Nguồn: Kết quả khảo sát số liệu định lượng tại tỉnh Bến Tre, tháng 8/2017

+Về phương pháp thu thập thông tin định tính

Đề tài chủ yếu sử dụng các dữ liệu định tính của đề tài: “Tác động kinh tế - xã

hội của BĐKH tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long (Nghiên cứu trường hợp huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre)” mà nhóm phỏng vấn sâu Cụ thể, tác giả sử dụng

dữ liệu của 23 cuộc phỏng vấn sâu những hộ sản xuất nông nghiệp trên 73 cuộc phỏng vấn sâu đã thực hiện Cụ thể là:

1 Hộ gia đình giàu, trồng cây ăn trái và cây kiểng, xã An Hóa 1

2 Hộ gia đình khá giả, trồng dừa, nuôi gà và nấu rượu, xã An Hóa 1

3 Hộ gia đình khá giả, làm vườn và buôn bán, xã An Hóa 1

Trang 29

4 Hộ gia đình khá giả, trồng dừa, xã An Hóa 1

5 Hộ gia đình khá giả, trồng trọt và chăn nuôi, xã An Hóa 1

6 Hộ gia đình trung bình, làm nông và thợ hồ, xã An Hóa 1

7 Hộ gia đình trung bình, trồng dừa và nuôi gà, xã An Hóa 1

8 Hộ gia đình trung bình, trồng dừa và trồng bưởi, xã An Hóa 3

9 Hộ gia đình trung bình, trồng dừa và nuôi cá, xã An Hóa 1

10 Hộ gia đình trung bình, chăn nuôi, xã An Hóa 1

11 Hộ gia đình trung bình, trồng dừa, chăn nuôi gà vịt và làm mướn, xã

An Hóa

1

12 Hộ gia đình trung bình, trồng dừa, xã An Hóa 1

13 Hộ gia đình trung bình, trồng dừa và chăn nuôi vịt gà, xã An Hóa 1

14 Hộ gia đình thoát nghèo, trồng bưởi và nuôi gà, xã An Hóa 1

15 Hộ gia đình khá giả, trồng trọt, chăn nuôi, xã Hữu Định 1

16 Hộ gia đình khá giả, trồng dừa và làm cơ khí, xã Hữu Định 1

17 Hộ gia đình trung bình, trồng dừa và nuôi gà vịt, xã Hữu Định 1

18 Hộ gia đình trung bình, trồng dừa và bưởi, xã Hữu Định 1

19 Hộ gia đình trung bình, trồng dừa, trồng bưởi và nuôi dê, xã Hữu Định 1

Trang 30

20 Hộ gia đình trung bình, nuôi gà, nuôi heo và trồng bưởi, xã Hữu Định 1

21 Hộ gia đình trung bình, trồng dừa và trồng bưởi, xã Hữu Định 1

Tổng: 23 cuộc phỏng vấn sâu

2.2 Xử lý số liệu

Về số liệu thứ cấp, tác giả đã đọc, phân tích, so sánh và tổng quan những đề tài, nghiên cứu, bài viết,… và đồng thời, chọn lọc những nội dung báo cáo, kế hoạch, chương trình,…của UBND các cấp và bộ ngành có liên quan của tỉnh Bến Tre có thể phục vụ, làm rõ cho đề tài nghiên cứu

Về số liệu sơ cấp, tác giả sử dụng phần mềm IBM SPSS Statistic 22 để phân tích

số liệu định lượng thu thập được từ 646 bảng hỏi của hộ sản xuất nông nghiệp Việc xử

lý thông tin đơn biến, đa biến, các thống kê mô tả và bảng chéo giúp tác giả đưa ra các kết quả nổi bật cho đề tài Đồng thời, tác giả còn mã hóa và phân loại những thông tin thu thập được từ các cuộc phỏng vấn sâu nhằm mục đích bổ sung những thông tin mà phương pháp định lượng chưa có và giải thích, làm rõ một số vấn đề cho phương pháp định lượng

2.3 Cơ sở lý luận và phương pháp luận

2.3.1 Các khái niệm trong đề tài

2.3.1.1 Biến đổi khí hậu

Theo điều 1, điểm 2 của Công ước chung của Liên hợp quốc về BĐKH – UNFCCC năm 1992, BĐKH là sự biến đổi của khí hậu do hoạt động của con người gây ra một cách trực tiếp hoặc gián tiếp nhằm thay đổi thành phần của khí quyển toàn cầu và do sự biến động tự nhiên của khí hậu quan sát được trong những thời kỳ có thể

so sánh được

Trang 31

Ở Việt Nam, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã định nghĩa BĐKH là sự biến đổi

trạng thái của khí hậu so với trung bình và/hoặc dao động của khí hậu duy trì trong một

khoảng thời gian dài, thường là vài thập kỷ hoặc dài hơn

Như vậy, có thể hiểu BĐKH là các hiện tượng thời tiết thất thường, hiện tượng thời tiết không tuân thủ theo quy luật vốn có của nó như: nắng nóng kéo dài, mưa nắng thất thường, nước mặn kéo dài,….gây ra những ảnh hưởng, tác động đến đời sống của những hộ gia đình Trong đề tài này, tác giả xem xét mức độ thường xuyên và mức độ nghiêm trọng của BĐKH cũng như những đánh giá của những hộ gia đình sản xuất nông nghiệp về tác động của BĐKH đến đời sống của họ Bên cạnh đó, tác giả cũng tập trung phân tích những biện pháp ứng phó với tác động của BĐKH và sự tác động của mức sống và mức độ hiểu biết về BĐKH đến việc lựa chọn các biện pháp ứng phó của những hộ sản xuất nông nghiệp

2.3.1.2 Khả năng ứng phó với biến đổi khí hậu

Theo những tài liệu về phòng ngừa, giảm nhẹ rủi ro thiên tai và thích ứng với

biến đổi khí hậu, khả năng là những nguồn lực, phương tiện và điểm mạnh tại các hộ

gia đình và cộng đồng có thể giúp họ đối phó, chống chịu, phòng ngừa, ngăn ngừa, giảm nhẹ hoặc nhanh chóng phục hồi sau thảm họa Khả năng được nhận định ở trên nhiều góc độ Thứ nhất là về khả năng tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực trong thời điểm bình thường, và trong thời điểm bất thường của thiên tai, khí hậu Các nguồn lực này bao gồm: nguồn lực tài chính, tín dụng; tài nguyên thiên nhiên: đất, nước, không khí, rừng; cơ sở vật chất, cơ sở hạ tầng, v.v; điều kiện kinh tế: các nguồn thu nhập, các nguồn chi sản xuất sinh hoạt; điều kiện phát triển con người: y tế, giáo dục, dân số; điều kiện phát triển đời sống văn hóa xã hội: liên kết xã hội, văn hóa truyền thống, tôn giáo, Thứ hai là về khả năng tham gia quyết định trong các quy trình, quá trình xây dựng và phát triển của cộng đồng, quá trình xây dụng cơ chế, tổ chức thể chế, luật, và các chính sách, đặc biệt liên quan đến các khâu quản lý rủi ro thiên tai, khí hậu Thứ

Trang 32

ba, là thái độ và động cơ của cá nhân, đơn vị, tổ chức, v.v liên quan đến công tác giảm

rủi ro thiên tai, khí hậu…

Theo Văn phòng ban chỉ đạo ứng phó BĐKH và nước biển dâng và theo những

tài liệu về phòng ngừa, giảm nhẹ rủi ro thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu, ứng

phó với BĐKH bao gồm 2 mảng: thích ứng và giảm nhẹ Thích ứng với BĐKH là sự điều chỉnh hệ thống tự nhiên hay con người đối với hoàn cảnh hoặc môi trường thay đổi, nhằm mục đích giảm khả năng bị tổn thương do các tác động của BĐKH và tận dụng các cơ hội thuận lợi mà mỗi khí hậu mang lại Giảm nhẹ BĐKH là các hoạt động nhằm giảm mức độ hoặc cường độ phát thải nhà kính và tăng bề hấp thụ, bề chứ khí nhà kính như: sử dụng năng lượng hiệu quả và tiết kiệm năng lượng, sử dụng năng lượng carbon thấp hoặc năng lượng không carbon (mặt trời, thủy điện, năng lượng gió…), thu và lưu trữ carbon (biogas) hoặc tăng bề hấp thu carbon (cây xanh, rừng), lối sống và lựa chọn tiêu dùng carbon thấp (chuyển sang khí đốt tự nhiên, nhiên liệu sinh học…, đi tàu hỏa, xe bus)

Như vậy, có thể hiểu đơn giản khả năng ứng phó với BĐKH là những điều kiện

về kinh tế, kiến thức, hiểu biết mà con người có thể sử dụng trong việc chủ động, sẵn sàng đáp lại trước những tác động của BĐKH

2.3.2 Lý thuyết áp dụng

2.3.2.1 Thuyết phân tầng xã hội

Trong đề tài này tác giả áp dụng thuyết phân tầng xã hội để làm cơ sở cho những phân tích của mình

Theo Từ điển Xã hội học Oxford, phân tầng xã hội là sự phân hóa xã hội, sự sắp xếp các cá nhân, các nhóm người thành những tầng bậc khác nhau về những dấu hiệu, những đặc điểm cơ bản của xã hội Còn theo tác giả Trần Thị Kim Xuyến và tác giả Nguyễn Thị Hồng Xoan (2009), phân tầng xã hội nghĩa là các nhóm người trong xã hội hiện đại được phân chia thành những tầng khác nhau, xét trong tương quan với một số

Trang 33

đặc trưng như quy mô thu nhập, mức độ giàu có, uy tín nghề nghiệp, tuổi tác, chủng tộc, lứa tuổi, giới tính,…

Phân tầng xã hội tạo ra các tầng lớp trên dưới, cao thấp khác nhau về kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục, y tế, xã hội và nhiều đặc điểm, tính chất khác Trong đó, phân tầng xã hội về mặt kinh tế là sự sắp xếp các cá nhân, hộ gia đình, các nhóm người thành những tầng lớp khác nhau về thu nhập, chi tiêu hoặc của cải của họ (Lê Hữu Nghĩa, Lê Ngọc Hùng, 2012)

Phân tầng xã hội là một chủ đề được rất nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu tại Việt Nam, trong đó sự phân tầng về kinh tế hay phân tầng về mức sống là một trong những chủ đề được quan tâm nhất Dựa trên những số liệu thống kê về mức sống hộ gia đình qua các năm, nhiều tác giả đã đưa ra những quan điểm, những nhận định của mình về tình trạng phân tầng mức sống trong xã hội Việt Nam hiện nay

Phần lớn các tác giả nghiên cứu về vấn đề này đều chỉ ra rằng nhóm hộ giàu có điều kiện tiêu dùng cho nhu cầu cuộc sống vật chất lớn hơn nhiều nhóm hộ nghèo về cả nhà ở, đồ dùng sinh hoạt và tiêu dùng (Lê Văn Toàn, 2008; Lê Hữu Nghĩa, Lê Ngọc Hùng, 2012; Đỗ Thiên Kính, 2003) Những gia đình thuộc nhóm nghèo chi tiêu phần lớn cho nhu cầu ăn uống Còn các gia đình thuộc nhóm hộ trung bình, hộ khá và hộ giàu chi tiêu nhiều hơn cho các nhu cầu ngoài ăn uống như chi mua sắm thiết bị và đồ dùng gia đình Những hộ thuộc nhóm giàu có điều kiện nhà ở, phương tiện đi lại, đồ dùng trong sinh hoạt tốt hơn những hộ nghèo Phần lớn những đồ dùng sinh hoạt đắt tiền: máy giặt, máy vi tính, máy điều hòa, chỉ có ở những hộ giàu (Lê Văn Toàn, 2008)

Thêm vào đó, tác giả Nguyễn Thị Minh Hòa (2007) trong bài viết: “Tính chất bền

vững thấp của giảm nghèo ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp” còn thấy được rằng,

những hộ nghèo có mức độ tích lũy dự phòng rất thấp, có thể là bằng không Nhóm người này chỉ đủ ăn, không dư dả để tích lũy dự phòng nên thường thiếu hụt phải vay

Trang 34

mượn Họ không có khả năng chống đỡ với rủi ro cũng như tự cải thiện cuộc sống nếu như không có sự trợ giúp từ bên ngoài

Không những thế, tác giả Đỗ Thiên Kính (2003) còn nhận thấy rằng, những hộ nghèo có ít tài sản ban đầu, dễ bị tổn thương do thiếu nguồn vốn tài sản trong khi đó,

hộ giàu có nhiều tài sản ban đầu: đất, vốn,…Thêm vào đó, hộ nghèo lại không có việc làm ổn định, kinh tế chỉ đủ để trang trải các nhu cầu tiêu dùng cơ bản nhất, không có vốn đầu tư và ngược lại, hộ giàu có thu nhập ổn định, có nguồn vốn đầu tư cho sản xuất Hơn thế nữa, hộ nghèo lại ít có mối quan hệ xã hội, ít tham gia các hoạt động cộng đồng, xã hội trong khi đó người giàu có các mối quan hệ xã hội, quan hệ với địa phương tốt hơn

Chính sự phân tầng về mức sống đã dẫn đến hàng loạt những sự phân tầng trong những lĩnh vực khác như: giáo dục, y tế, vui chơi, giải trí,… Về giáo dục, mức độ giàu lên thì trình độ học vấn cũng tăng lên, ngược lại mức sống càng giảm đến nghèo thì trình độ học vấn càng giảm Phân hóa giàu nghèo chính là nguyên nhân của phân hóa

về giáo dục (Lê Hữu Nghĩa, Lê Ngọc Hùng, 2012) Những hộ giàu có điều kiện đầu tư cho bản thân cũng như con em học hành để nâng cao trình độ trong khi những hộ nghèo lại thiếu điều kiện để cho con em học lên cấp bậc cao hơn (Lê Văn Toàn, 2008;

Lê Văn Thành, 2007) Thêm vào đó, tác giả Đỗ Thiên Kính (2003) còn thấy được rằng,

hộ giàu có điều kiện tiếp cận với thông tin (sách, báo, tạp chí, ), kỹ năng, kỹ thuật nhiều hơn những hộ nghèo Kết quả của những điều này là, những hộ giàu có trình độ, kiến thức, kỹ năng cao hơn những hộ nghèo Về y tế, phân tầng xã hội nhất là về kinh

tế có ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận dịch vụ y tế của các nhóm xã hội Người giàu có khả năng được chăm sóc sức khỏe nhiều hơn người nghèo, những người nghèo thường

sử dụng nhiều dịch vụ y tế cũng như thuốc chữa bệnh rẻ tiền hơn (Lê Hữu Nghĩa, Lê Ngọc Hùng, 2012, Lê Văn Thành, 2007)

Trong bài viết này, tác giả sử dụng những kết quả nghiên cứu trên để làm cơ sở lý luận lý giải cho việc lựa chọn những biện pháp ứng phó với tác động của BĐKH của

Trang 35

những hộ sản xuất nông nghiệp có mức sống khác nhau, cụ thể là trong các khía cạnh như: trồng trọt, chăn nuôi, sinh hoạt, công việc, thu nhập và sức khỏe Cụ thể là, những

hộ khá giả/giàu có thu nhập ổn định, có nguồn vốn, điều kiện tài chính để đầu tư cho sản xuất và họ còn có điều kiện tiếp cận với các nguồn thông tin (sách, báo, tạp chí, ), khoa học, kỹ thuật Vì thế, những hộ khá giả/giàu có thể thực hiện nhiều biện pháp ứng phó khác nhau, trong đó có cả các biện pháp đòi hỏi vốn, kĩ thuật cao Ngược lại, những hộ nghèo/cận nghèo với những khó khăn về tài chính, không có vốn để đầu tư cho sản xuất cũng như cơ hội tiếp cận với các nguồn thông tin, kỹ năng, kỹ thuật Những điều này dẫn đến kết quả, những hộ nghèo/cận nghèo chỉ có thể lựa chọn những biện pháp thông thường, ít tốn kém chi phí

Theo Friedman và Hechter, các cá nhân luôn hành động có mục đích, có chủ ý, hành động được thực hiện để đạt được mục đích mà cá nhân đặt ra Nguồn tài nguyên

và tổ chức xã hội là hai tiêu chí để cá nhân hành động Các cá nhân luôn cân nhắc để thu được lợi ích cao nhất Ngoài ra, Friedman và Hechter còn cho rằng hành động của

cá nhân cũng phụ thuộc vào sự ban thưởng, nếu sự ban thưởng có giá trị thì cá nhân có

xu hướng hành động

Theo G Homans, con người mang tính xã hội và nằm trong mối quan hệ với các

cá nhân khác Các sự kiện xã hội bao gồm các chuẩn mực, cá giá trị có tác dụng kiểm soát hành vi ứng xử của các thành viên trong cộng đồng Các cá nhân ứng xử theo cách

Trang 36

mà họ có thể nhận được sự khen thưởng, sự cân nhắc giữa lợi ích và chi phí được xem

là nguyên tắc ứng xử của các cá nhân

Nhà xã hội học, P Blau tập trung tìm hiểu cuộc sống xã hội được tổ chức như thế nào trong một cấu trúc phức tạp của các cá nhân Ông cho rằng con người gắn kết với nhau vì nhiều nguyên nhân nhưng khi hành động ông cho rằng các cá nhân luôn hướng tới lợi ích Khả năng thực hiện cũng ảnh hưởng đến hành động của cá nhân Tương tự như Friedman và Hechter, P Blau cũng cho rằng có sự liên hệ giữa khả năng đạt được

và mức độ của sự ban thưởng

Trong bài viết này tác giả sử dụng thuyết lựa chọn hợp lý P Blau kết hợp với những kết quả nghiên cứu về phân tầng xã hội ở Việt Nam để làm rõ những vấn đề được phân tích trong bài viết Theo đó, tác giả lý giải hành động lựa chọn các biện pháp ứng phó của những hộ sản xuất nông nghiệp trong trồng trọt, chăn nuôi, sinh hoạt, thu nhập, công việc và sức khỏe phụ thuộc vào khả năng thực hiện các biện pháp ứng phó của họ Như đã phân tích ở thuyết phân tầng xã hội, những hộ nghèo/cận nghèo với những khó khăn về tài chính, nguồn vốn cũng như việc thiếu kiến thức, kỹ năng, kĩ thuật nên họ chỉ có thể lựa chọn những biện pháp thông thường, ít tốn kém chi phí, dễ thực hiện, phù hợp với khả năng thực hiện của họ Ngược lại với nguồn tài chính ổn định, nhiều cơ hội tiếp xúc với những kiến thức, kỹ năng, kỹ thuật nên những

hộ khá giả/giàu có thể thực hiện nhiều biện pháp thậm chí là các biện pháp tốn kém nhiều vốn, kỹ thuật vì họ có khả năng thực hiện những biện pháp đó

2.3.3 Giả thuyết nghiên cứu

BĐKH đang tác động đến đời sống của những hộ gia đình sản xuất nông nghiệp huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre

Mức sống có tác động đến việc lựa chọn các biện pháp ứng phó của những hộ sản xuất nông nghiệp

Trang 37

Việc lựa chọn các biện pháp ứng phó của những hộ sản xuất nông nghiệp phù hợp với mức sống và mức độ hiểu biết của họ về BĐKH

Trang 38

PHẦN 3: KẾT QUẢ - THẢO LUẬN

CHƯƠNG 1: THỰC TRẠNG, ĐẶC ĐIỂM CỦA HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP Ở ĐỊA PHƯƠNG VÀ TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN ĐỜI SỐNG CỦA NHỮNG HỘ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP

1.1 Thực trạng, đặc điểm của hoạt động sản xuất nông nghiệp ở địa phương

1.1.1 Thực trạng và các yếu tố tác động đến hoạt động sản xuất nông nghiệp ở địa phương

Hoạt động sản xuất nông nghiệp ở huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre bao gồm ba loại hình chính là trồng trọt, chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản Trong đó, hoạt động trồng trọt chiếm tỷ lệ cao hơn so với hoạt động chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản Cụ thể là, trong 849 câu trả lời về loại hình sản xuất của 646 hộ sản xuất nông nghiệp được khảo sát, loại hình trồng trọt chiếm đến 69,5% và loại hình chăn nuôi chỉ chiếm 30,5% Ngoài ra, những số liệu này còn cho thấy rằng, phần lớn những hộ sản xuất nông nghiệp ở địa phương không chuyên một loại hình sản xuất nông nghiệp nhất định mà

họ kết hợp các loại hình sản xuất lại với nhau (biểu đồ 3, bảng 21 - phụ lục)

Trang 39

Biểu đồ 3 - Loại hình sản xuất nông nghiệp

Nguồn: Kết quả khảo sát số liệu định lượng tại tỉnh Bến Tre, tháng 8/2017

Trong những năm gần đây, hoạt động sản xuất nông nghiệp của huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre đã có những bước phát triển đáng kể Cụ thể là, theo báo cáo về việc thực hiện nhiệm vụ phát triển KT-XH giai đoạn 2011 - 2015 và kế hoạch phát triển KT-XH giai đoạn 2016 - 2020 của huyện Châu Thành, giá trị sản xuất nông thủy sản giai đoạn 2011 – 2015 ước đạt 6.159 tỷ đồng, trong đó năm 2015 ước đạt 1.222 tỷ đồng Tập trung cho mũi nhọn kinh tế vườn và nuôi thủy sản Áp dụng các tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệp như thâm canh, ứng dụng giống mới, trồng xen, nuôi xen, sử dụng các chế phẩm sinh học góp phần tăng năng suất, sản lượng cây trồng Diện tích lúa gieo trồng giai đoạn 2011-2015 là 12.818 ha, năm 2011 là 3.950 ha (03 vụ), đến 2015 còn 1.227 ha, giảm 2.723 ha, năng suất bình quân 4,67 tấn/ha Diện tích lúa giảm nguyên nhân do người dân chuyển sang trồng dừa, cây ăn trái, xây dựng khu công nghiệp, cụm công nghiệp, nhà ở và giao thông Diện tích trồng dừa hiện nay

là 7.947ha, tăng 2.494 ha so với cuối năm 2010 và đến năm 2015 là 7.947 ha (trong đó diện tích cho trái 6.220 ha); sản lượng 241.300 tấn Diện tích cây ăn trái năm 2011 là 9.120 ha, đến cuối năm 2015 chỉ còn 7.700 ha, trong đó diện tích thu hoạch 6.500 ha, sản lượng giai đoạn 2011 - 2015 là 463.724 tấn, diện tích cây ăn trái có giảm so với

69,5%

30,5%

Trồng trọt Chăn nuôi

Trang 40

năm 2011 là 1.420 ha Nguyên nhân giảm, do người dân đốn bỏ cây nhãn (bị bệnh chổi rồng) và măng cụt (năng suất không có hiệu quả) Chăn nuôi gia súc, gia cầm ổn định

và không có dịch bệnh xảy ra; diện tích nuôi thủy sản giữ ổn định xuống giống hàng năm là 1.100 ha/năm, từng bước tăng diện tích nuôi theo hình thức công nghiệp; sản lượng thủy sản giai đoạn 2011-2015 đạt 157.650 tấn; mô hình nuôi cá lồng bè trên sông hiện nay có 390 lồng tương ứng 44.000m3.1

Cuối năm 2016, diện tích cây ăn trái trên địa bàn huyện Châu Thành là 7.700 ha, trong đó diện tích thu hoạch 6.600 ha, sản lượng ước đạt 55.000 tấn, đạt 68,32% so với

kế hoạch năm Diện tích cây chôm chôm có chiều hướng bị giảm khoảng 20 ha do bị ảnh hưởng hạn, mặn nên người dân đốn chuyển sang trồng bưởi da xanh và cây trồng khác Cây bưởi da xanh có diện tích là 2.250 ha, trong đó diện tích thu hoạch 1.800 ha, sản lượng ước đạt 23.400 tấn Diện tích bưởi da xanh đang có chiều hướng tăng mạnh

do điều kiện thổ nhưỡng phù hợp cho cây bưởi, có khả năng chịu mặn tốt và giá bán luôn ở mức cao Diện tích cây chôm chôm ước tính đến cuối năm 2016 sẽ giảm khoảng

50 ha, diện tích còn lại 2.192 ha/2.242 ha, đạt 97,76% so với kế hoạch; năng suất thu hoạch ước đạt 15.000 tấn/42.400 tấn, đạt 35,37% so với kế hoạch

Trong năm 2016 tình hình chăn nuôi không có dịch bệnh nguy hiểm xảy ra, tổng đàn gia súc, gia cầm tăng hơn so với cùng kỳ, qui mô nuôi hình thức gia trại, trang trại được mở rộng; thị trường tiêu thụ gặp nhiều thuận lợi, giá bán gia súc, gia cầm luôn ổn định ở mức khá dẫn đến người chăn nuôi có lợi nhuận Tuy nhiên, do ảnh hưởng xâm nhập mặn nên cũng làm hạn chế phát triển tăng đàn heo Trong lĩnh vực thủy sản, ước diện tích thủy sản xuống giống công nghiệp và bán công nghiệp thực hiện trong năm

2016 là 565 ha, đạt 100% so với kế hoạch của năm; diện tích cá tra công nghiệp là 165

1 UBND huyện Châu Thành 2015 Báo cáo về việc thực hiện nhiệm vụ phát triển KT-XH giai đoạn 2011-2015

và kế hoạch phát triển KT-XH giai đoạn 2016-2020 của huyện Châu Thành

Ngày đăng: 18/04/2021, 23:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Brooks, N., Adger W.N., and Kelly P.M. 2005. “The determinants of vulnerability and adaptive capacity at the national level and the implications for adaptation”.Global Environmental Change, Part A Sách, tạp chí
Tiêu đề: The determinants of vulnerability and adaptive capacity at the national level and the implications for adaptation”
2. Eriksen, S. and Kelly, P.M. 2007. “Developing Credible Vulnerability Indicators for Climate Adaptation Policy Assessment, Mitigation and Adaptation Strategies for Global Change” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Developing Credible Vulnerability Indicators for Climate Adaptation Policy Assessment, Mitigation and Adaptation Strategies for Global Change
3. IOM. 2010. “Disaster Risk Reduction, Climate Change Adaption and Enviromental Migration: a Policy Perspective”. Geneva Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Disaster Risk Reduction, Climate Change Adaption and Enviromental Migration: a Policy Perspective
4. Tuan, L.A. and Suppakorn C. 2009. 2011. Climate Change in the Mekong River Delta and Key Concerns on Future Climate Threats. Oral presentation in DRAGON Asia Summit, Seam Riep, Cambodia. 2009. Book Chapter in: Mart A.Stewart and Peter A. Coclanis (Eds), Environmental Change and Agricultural Sustainability in the Mekong Delta, Advances in Global Change Research. 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Climate Change in the Mekong River Delta and Key Concerns on Future Climate Threats
45(3): 207-217. DOI: 10.1007/978-94-007-0934-8_12, Available connection in web-link: http://www.springerlink.com/content/mg1v6303605k025k/ Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w