[Type here] ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN KHOA ĐỊA LÝ CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN CẤP TRƯỜNG NĂM 2018 HÌNH LIÊN KẾT GIỮA
Trang 1[Type here]
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA ĐỊA LÝ
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN CẤP
TRƯỜNG NĂM 2018
HÌNH LIÊN KẾT GIỮA DOANH NGHIỆP VÀ NÔNG DÂN TRONG CHUỖI
CUNG ỨNG NHO VIETGAP TẠI TỈNH NINH THUẬN (ĐIỂN CỨU TẠI DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN SẢN
XUẤT THƯƠNG MẠI
VÀ DỊCH VỤ BA MỌI)
Giảng viên hướng dẫn: TS Nguyễn Thị Phượng Châu
ThS Trần Thị Đoan Trinh
Nhóm sinh viên thực hiện: Nguyễn Văn Toàn (chủ nhiệm)
Nguyễn Thị Anh Thư
Trần Thái Hải Đăng
Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2018
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NHO VIETGAP TẠI TỈNH NINH THUẬN
(ĐIỂN CỨU TẠI DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN SẢN XUẤT THƯƠNG MẠI
VÀ DỊCH VỤ BA MỌI)
Sinh viên thực hiện:
Chủ nhiệm: Nguyễn Văn Toàn Địa Lý K35, khóa 2014 – 2018
Thành viên: Nguyễn Thị Anh Thư Địa Lý K35, khóa 2014 – 2018 Trần Thái Hải Đăng Địa Lý K36, khóa 2015 – 2019
Người hướng dẫn: TS Nguyễn Thị Phượng Châu
ThS Trần Thị Đoan Trinh
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – THÁNG 3/2018
Trang 3NHẬN XÉT CỦA CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Trang 4Nhóm tác giả chân thành cảm ơn Ông Nguyễn Văn Mọi – Giám đốc DNTN SX TM&DV Ba Mọi đã tạo cơ hội cho nhóm tác giả được đến trang trại tham quan, học tập, giải đáp những thắc mắc; cung cấp đầy đủ các thông tin nhằm góp phần cho nhóm hoàn thành bài nghiên cứu
Nhóm tác giả cảm ơn các bạn sinh viên cùng chuyên ngành đã hỗ trợ tài liệu tham khảo, góp ý để nhóm thực hiện đề tài
Cuối cùng, nhóm tác giả xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Thị Phượng Châu và ThS Trần Thị Đoan Trinh đã dành rất nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn nhóm tác giả tận tình, cụ thể và tạo điều kiện tốt nhất để nhóm tác giả hoàn thành bài nghiên cứu một cách hoàn thiện nhất
Mặc dù nhóm tác giả đã có nhiều cố gắng hoàn thiện kết quả nghiên cứu bằng tất cả
sự nhiệt tình và năng lực của mình, tuy nhiên không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được ý kiến đóng góp của quý thầy cô và các bạn
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 15 tháng 5 năm 2018
Chủ nhiệm đề tài
Trang 5GAP Quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt
(tiếng Anh: Good Agricultural Practices)
14, 80
ASEAN Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á
(tiếng Anh: Association of South East Asian Nations)
14, 80
VietGAP Thực hành sản xuất nông nghiệp tốt ở Việt Nam
(tiếng Anh: Vietnamese Good Agricultural Practices)
Nhiều trang
WTO Tổ chức Thương mại Thế giới
(tiếng Anh: World Trade Organization)
14
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
1 Biểu đồ 1.1 Cơ cấu kinh tế của Ninh Thuận năm 2011 27
2 Biểu đồ 3.1 Phần trăm tổng chi phí và giá trị gia tăng 58
3 Biểu đồ 3.2 Phần trăm tổng chi phí và giá trị gia tăng theo giá bán 58
Trang 6DANH MỤC BẢNG
1 Bảng 1.1 Tiêu chuẩn của GAP về thực phẩm an toàn 80
2 Bảng 1.2 Bảng so sánh một số tiêu chí của tiêu chuẩn GAP và
VietGAP
80
3 Bảng 3.1 Các tiêu chuẩn và quy chuẩn liên quan đã được ban hành có
liên quan trong tiêu chuẩn VietGAP
6 Bảng 3.4 Một số văn bản của UBND tỉnh Ninh Thuận về tín dụng 118
7 Bảng 3.5 Giá trị tăng thêm 1kg nho xanh loại 1 của các tác nhân tham
gia vào kênh tiêu thụ 1 của Ba Mọi (theo giá thu mua của DN
Ba Mọi)
57
8 Bảng 3.6 Giá trị tăng thêm 1kg nho xanh loại 1 của các tác nhân tham
gia vào kênh tiêu thụ của Ba Mọi (theo giá bán của DN Ba Mọi)
59
DANH MỤC SƠ ĐỒ
6 Sơ đồ 1.6 Hệ thống chính sách về hợp tác liên kết nông dân 24
8 Sơ đồ 2.1 Quá trình hình thành và phát triển thương hiệu nho Ba Mọi 33
Trang 711 Sơ đồ 2.4 Hình thức tiêu thụ sản phẩm tại DN Ba Mọi 36
12 Sơ đồ 2.5 Chuỗi cung ứng nho VietGAP của DN Ba Mọi 37
13 Sơ đồ 2.6 Kênh tiêu thụ nho VietGAP của DN Ba Mọi 39
14 Sơ đồ 3.1 Quan hệ liên kết giữa DN Ba Mọi với hộ nông dân liên kết 44
15 Sơ đồ 3.2 Quan hệ liên kết DN Ba Mọi, hộ nông dân với các chủ thể
khác
47
16 Sơ đồ 3.3 Vai trò của nhà nước, chính quyền địa phương huyện Ninh
Phước, tỉnh Ninh Thuận với liên kết giữa Ba Mọi và hộ nông dân qua chuỗi cung ứng nho VietGAP
48
17 Sơ đồ 3.4 Vai trò của Nhà khoa học, Sở Khoa học công nghệ tỉnh
Ninh Thuận/ Chi cục Phát triển Nông thôn Ninh Thuận/
Trung tâm Khuyến nông với liên kết giữa Ba Mọi và hộ nông dân qua chuỗi cung ứng nho VietGAP
49
17 Sơ đồ 3.5 Nội dung liên kết giữa DN Ba Mọi với các chủ thể khác 51
18 Sơ đồ 3.6 Quan hệ liên kết giữa DN Ba Mọi với các chủ thể kinh tế 53
19 Sơ đồ 4.1 Mối quan hệ liên kết giữa các hộ nông dân với các chủ thể 69
20 Sơ đồ 4.2 Mô hình năm nhà trong nông nghiệp 70
DANH MỤC HÌNH ẢNH
5 Hình 1.5 Logo Chỉ dẫn địa lý Nho Ninh Thuận 29
Trang 87 Hình 2.1 Không gian tham quan vườn nho của DN Ba Mọi 32
9 Hình 2.3 Giấy chứng nhận VietGAP của DN Ba Mọi 33
15 Hình 2.9 Giống nho rược Cabernet Sauvignon 112
25 Hình 3.1 Bảng hiệu hướng dẫn đến DN Ba Mọi 41
DANH MỤC PHỤ LỤC
2 Phụ lục 2 Nhóm tiêu chí phản ánh liên kết “bốn nhà” 85
Trang 9MỤC LỤC
NHẬN XÉT CỦA CÁN BỘ HƯỚNG DẪN ii
LỜI CẢM ƠN iii
DANH MỤC VIẾT TẮT iv
DANH MỤC BIỂU ĐỒ iv
DANH MỤC BẢNG v
DANH MỤC SƠ ĐỒ v
DANH MỤC HÌNH ẢNH vi
DANH MỤC PHỤ LỤC vii
MỤC LỤC 1
PHẦN MỞ ĐẦU 4
1 Lý do chọn đề tài 4
2 Tổng quan nghiên cứu 5
3 Mục tiêu nghiên cứu 10
3.1 Mục tiêu tổng quát 10
3.2 Mục tiêu cụ thể 10
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10
4.1 Đối tượng nghiên cứu 10
4.2 Phạm vi nghiên cứu 10
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 10
5.1 Ý nghĩa khoa học 10
5.2 Ý nghĩa thực tiễn 11
6 Phương pháp nghiên cứu 11
6.1 Phương pháp thu thập dữ liệu 12
6.2 Phương pháp xử lý dữ liệu 12
7 Khung nghiên cứu 13
8 Bố cục của đề tài 13
PHẦN NỘI DUNG 14
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 14
1.1 Cơ sở lý luận 14
1.1.1 Tổng quan về tiêu chuẩn VietGAP 14
1.1.2 Tổng quan về chuỗi cung ứng 15
Trang 101.1.3 Khái niệm về nông dân, hộ nông dân 19
1.1.4 Tổng quan về liên kết kinh tế 20
1.2 Cở sơ thực tế 25
1.2.1 Tổng quan về tỉnh Ninh Thuận và huyện Ninh Phước 25
1.2.2 Thực trạng và tình hình tiêu thụ nho ở Ninh Thuận 28
1.2.3 Chuỗi các sản phẩm từ nho 30
1.2.4 Khó khăn của người trồng nho ở Ninh Thuận 30
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 31
CHƯƠNG 2: MÔ HÌNH SẢN XUẤT VÀ CHUỖI CUNG ỨNG CỦA DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ BA MỌI 32
2.1 Giới thiệu doanh nghiệp Ba Mọi 32
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 32
2.1.2 Các sản phẩm của doanh nghiệp Ba Mọi 35
2.1.3 Tình hình tiêu thụ nho 35
2.1.4 Khó khăn trong sản xuất VietGAP của doanh nghiệp Ba Mọi 36
2.2 Chuỗi cung ứng nho VietGAP của doanh nghiệp Ba Mọi 37
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 39
CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG MÔ HÌNH LIÊN KẾT GIỮA DOANH NGHIỆP VÀ NÔNG DÂN TRONG CHUỖI CUNG ỨNG NHO VIETGAP TẠI DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN SẢN XUẤT THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ BA MỌI 40
3.1 Quá trình liên kết giữa doanh nghiệp Ba Mọi và nông dân trong chuỗi cung ứng nho VietGAP 40
3.2 Thực trạng liên kết giữa doanh nghiệp Ba Mọi và nông dân trong chuỗi cung ứng nho VietGAP 41
3.3 Phân tích vai trò và mối quan hệ của doanh nghiệp Ba Mọi và nông dân trong chuỗi cung ứng nho VietGAP 43
3.3.1 Hộ nông dân liên kết 44
3.3.2 Doanh nghiệp Ba Mọi 45
3.3.3 Nhà nước, chính quyền huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận 47
3.3.4 Nhà khoa học, Sở Khoa học công nghệ tỉnh Ninh Thuận/ Chi cục Phát triển Nông thôn Ninh Thuận/ Trung tâm Khuyến nông 48
3.3.5 Nhà băng (ngân hàng), ngân hàng Agribank Ninh Thuận 50
3.4 Nội dung liên kết giữa doanh nghiệp Ba Mọi và nông dân trong chuỗi cung ứng nho VietGAP 51
3.5 Các yếu tố tác động quá trình liên kết 54
Trang 113.6 Đánh giá hiệu quả và khả năng ứng dụng mô hình liên kết giữa doanh nghiệp Ba
Mọi và nông dân trong chuỗi cung ứng nho VietGAP 56
3.7 Những hạn chế của mô hình 62
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 65
CHƯƠNG 4: KHUYẾN NGHỊ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN VÀ NHÂN RỘNG MÔ HÌNH LIÊN KẾT 66
4.1 Đính hướng phát triển liên kết kinh tế giữa nông dân và doanh nghiệp: 66
4.2 Giải pháp chung nhân rộng mô hình 67
4.2.1 Định dạng mô hình liên kết trong sản xuất nông nghiệp tỉnh Ninh Thuận 67
4.2.2 Mô hình liên kết giữa doanh nghiệp và hộ nông dân phải theo xu hướng phát triển bền vững 68
4.3 Giải pháp cụ thể phát triển và nhân rộng mô hình liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân trong chuỗi cung ứng nho VietGAP 70
4.3.1 Khuyến nghị đối với hô nông dân liên kết 70
4.3.2 Khuyến nghị đối với doanh nghiệp Ba Mọi 71
4.3.3 Khuyến nghị đối với nhà khoa học 72
4.3.4 Khuyến nghị đối với nhà nước, chính quyền địa phương 72
4.3.5 Khuyến nghị đối với nhà băng (ngân hàng) 73
TIỂU KẾT CHƯƠNG 4 73
KẾT LUẬN 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
PHỤ LỤC 1: Tiêu chuẩn GAP và VietGAP 80
PHỤ LỤC 2: Nhóm chỉ tiêu phản ánh liên kết “bốn nhà” 85
PHỤ LỤC 3: Kết quả phỏng vấn sâu 86
PHỤ LỤC 4: Hình ảnh 112
PHỤ LỤC 5: MỘT SỐ VĂN BẢN 115
Trang 12PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ninh Thuận được cả nước biết đến với những cây, con đặc thù như: cây nho, hành, tỏi; con dê, con cừu; nơi sản xuất ra lượng tôm thẻ, sú sản lượng chiếm lớn nhất cả nước Đây là những cây, con được xác định là chủ lực của ngành nông nghiệp tỉnh trong quá trình phát triển Trong đó, cây nho đang được khẳng định vị trí của nó trong nền nông nghiệp của địa phương Nhiều phương pháp sản xuất được áp dụng theo hướng sản phẩm an toàn
về vệ sinh thực phẩm đã và đang được thực hiện nhằm nâng cao chất lượng nông sản, đảm bảo sức khỏe cho người tiêu dùng như: sản xuất theo hướng an toàn VietGAP Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, bảo vệ thương hiệu hàng Việt Nam, người tiêu dùng nông sản có thể trực tiếp tiếp cận nguồn gốc sản xuất sản phẩm nông sản an toàn, sẽ có niềm tin trong tiêu dùng sản phẩm nông nghiệp của chúng ta
Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh, để cây nho Ninh Thuận có thể trở thành thương hiệu và đem lại giá trị kinh tế cao cho Ninh Thuận, cần phải xây dựng vùng nguyên liệu chất lượng và tập trung đầu ra sản lượng lớn Với qui mô canh tác nhỏ lẻ của nông dân rất khó tiếp cận với các thị trường lớn như hệ thống các siêu thị, các trung tâm thương mại lớn Quy trình sản xuất, thu hoạch, bảo quản và thương mại của nông dân được thiết lập trên cơ sở yêu cầu của doanh nghiệp, thị trường về khối lượng cung ứng, chất lượng hàng hóa Hàng hóa nông sản cần được xác định rõ về số lượng, chất lượng đối với từng thị trường để làm cơ sở xây dựng kế hoạch cung ứng; xác định rõ chất lượng và số lượng sản phẩm nông sản trong sản xuất Yêu cầu chất lượng của thị trường phải làm căn cứ cơ bản
để xây dựng quy trình kỹ thuật cho các mô hình liên kết
Liên kết là hoạt động cần thiết, tất yếu nhằm phát huy vai trò, đảm bảo khả năng phát triển và tính hiệu quả của các đơn vị sản xuất, quản lý trong kinh tế thị trường Quan hệ liên kết về bản chất là quan hệ phối hợp, hợp tác giữa các chủ thể (doanh nghiệp, cơ quan quản lý, ngành, địa phương) nhằm thỏa mãn nhu cầu các bên liên kết Trong đó, doanh nghiệp và nông dân là hai tác nhân chính của các mối liên kết trong sản xuất nông nghiệp
Vì vậy, nhằm cung cấp thực trạng về mô hình liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân
trong chuỗi cung ứng nho theo tiêu chuẩn VietGAP, nhóm tác giả đã chọn đề tài “Nghiên
cứu khả năng ứng dụng mô hình liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân trong chuỗi cung ứng nho VietGAP tại tỉnh Ninh Thuận (Điển cứu tại DNTN SX TM&DV Ba Mọi tại Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận)” Kết quả nghiên cứu sẽ đóng góp thêm những thông tin cần thiết
cho độc giả quan tâm đến vấn đề này, đồng thời, là nguồn tài liệu tham khảo cho sinh viên chuyên ngành các khóa sau
Trang 132 Tổng quan nghiên cứu
Mô hình liên kết giữa doanh nghiệp và hộ nông dân – đây có thể là biện pháp và điển hình quan trọng để nghiên cứu đánh giá và nhằm rút ra các bài học kinh nghiệm, từ đó đề xuất các biện pháp khả thi cho sản xuất và tiêu thụ nho ở Ninh Thuận, giúp giảm thiểu rủi
ro, tăng thu nhập cho nông dân trồng nho Để nghiên cứu vấn đề này, chúng tôi đã kế thừa những nguồn tài liệu của các tác giả, học giả, nhà nghiên cứu, nhà phê bình,… đã được công bố, từ đó có những kinh nghiệm trong việc hoàn thành đề tài Trong nguồn tài liệu đã qua tham khảo, nhóm chúng tôi chia làm hai loại sau:
Thứ nhất, đó là các công trình nghiên cứu trong nước Nhóm nghiên cứu chia thành
3 nhóm chính sau đây:
Nhóm 1: Các công trình nghiên cứu ngành hàng, chuỗi giá trị nông sản
Đỗ Minh Hiền (2006), Phân tích ngành hàng xoài tại tỉnh Tiền Giang và Đồng Tháp,
Viện Nghiên cứu cây ăn quả Miền Nam
Bài phân tích xu hướng và tính cạnh tranh, tiềm năng phát triển, phân tích SWOT của ngành xoài tại hai địa phương Nhóm tác giả đã mô tả và trình bày vai trò các thành viên trong chuỗi cung ứng xoài tại Tiền Giang và Đồng Tháp Tuy nhiên, các thành viên tham gia hoạt động gần như độc lập, chưa liên kết và hợp tác với nhau được dẫn đến giá thành qua các khâu tăng cao Việc mua bán giữa các thành viên với nhau được thực hiện theo thời điểm nhất định, không có hợp đồng chính thức giưa các bên, giá cả được thỏa thuận tùy theo tỷ lệ cung cầu trên thị trường
Nguyễn Phú Sơn (2012), Phân tích chuỗi giá trị các sản phẩm táo, tỏi và nho tỉnh
Ninh Thuận thuộc Dự án Hỗ trợ Tam Nông tỉnh Ninh Thuận
Nghiên cứu này được tiến hành nhằm xem xét hoạt động thị trường của các tác nhân tham gia chuỗi giá trị, thông qua đó phát hiện ra những lỗ hỏng cần thiết được cải thiện nhằm để nâng cao giá trị kinh tế của chuỗi, cũng như để nâng cao thu nhập cho người trồng
và các tác nhân khác trong chuỗi, đặc biệt cho người trồng thuộc diện hộ nghèo và cận nghèo
Nguyễn Phú Son và Nguyễn Thị Thu An (2013), Nghiên cứu chuỗi giá trị sản phẩm
táo tỉnh Ninh Thuận, Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ, Phần D: Khoa học Chính
trị, Kinh tế và Pháp luật số 28, tr 71 – 78
Nghiên cứu khảo sát 126 tác nhân tham gia chuỗi giá trị tại 3 huyện Ninh Hải, Ninh Phước, Phan Rang của tỉnh Ninh Thuận và các chuyên gia trong lĩnh vực này Kết quả cho thấy, chuỗi giá trị hiện tại có 2 kênh phân phối truyền thống đối với sản phẩm táo tươi và
1 kênh phân phối tiềm năng đối với sản phẩm táo sấy Phân phối lợi ích giữa các tác nhân
Trang 14trong chuỗi hiện theo hướng không có lợi cho người trồng Qua phân tích ma trận SWOT nghiên cứu đã đề xuất được 4 nhóm chiến lược, bao gồm 8 nhóm hoạt động cần thực hiện
để gia tăng lợi nhuận của toàn chuỗi nói chung và cho người trồng nói riêng
Nhóm tư vấn thuộc Trung tâm Nghiên cứu chính sách phát triển bền vững (CSDP) liên danh với các chuyên gia đến từ Trung tâm Nghiên cứu và phát triển hệ thống nông
nghiệp (Casrad) và Công ty Rural Food (2014), Báo cáo kết quả nghiên cứu “Phân tích
thực trạng, tài chính, hiệu quả kinh tế và tác động về thu nhập tới các tác nhân tham gia 8 chuỗi giá trị” thực hiện trong khuôn khổ gói “Dịch vụ tư vấn trong nước cập nhật điều chỉnh, bổ sung kế hoạch hành động nâng cấp 8 chuỗi giá trị của tỉnh dựa trên phân tích toàn diện thị trường trong và ngoài tỉnh.”
Nhóm 2: Các công trình nghiên cứu liên kết kinh tế nông nghiệp
Nguyễn Duy Cần (2011), Liên kết “4 nhà” trong sản xuất và tiêu thụ lúa gạo: trường
hợp nghiên cứu ở tỉnh An Giang, Tạp chí Khoa học trường Đại học Cần Thơ 20a, tr 220 –
La Nguyễn Thùy Dung (2015), Phân tích hiệu quả tài chính của hộ sản xuất lúa theo
mô hình liên kết với doanh nghiệp ở Tỉnh An Giang, Tạp chí Khoa học trường Đại học Cần
Thơ, Phần D: Khoa học Chính trị, Kinh tế và Pháp luật, số 36, tr 92 – 1000
Nghiên cứu này tập trung phân tích, so sánh các chỉ tiêu tài chính của nông hộ tham gia mô hình liên kết và không tham gia mô hình liên kết giữa nông hộ sản xuất lúa và doanh nghiệp ở tỉnh An Giang Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc nông hộ tham gia mô hình liên kết với doanh nghiệp đem lại hiệu quả tài chính cao hơn so với nông hộ không tham gia
mô hình liên kết với doanh nghiệp, giúp giảm chi phí và tăng lợi nhuận đồng thời còn giúp nông dân sản xuất tốt hơn và an toàn hơn Đó là cơ sở để nông hộ tham gia mô hình liên kết với doanh nghiệp để nâng cao hiệu quả canh tác trong sản xuất lúa
Hồ Kỳ Minh (2012), Phát triển liên kết kinh tế giữa nông dân với các chủ thể khác ở
thành phố Đà Nẵng, Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh tế - Xã hội Đà Nẵng
Đề tài đã nghiên cứu những mô hình phát triển liên kết giữa các hộ nông dân với các chủ thể khác và đã hệ thống hóa một số kinh nghiệm phát triển mô hình liên kết nông nghiệp của một số quốc gia, vùng lãnh thổ có điều kiện tương đồng với thành phố Đà Nẵng,
Trang 15từ đó rút ra bài học kinh nghiệm có thể tham khảo áp dụng tại địa phương Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển liên kết hộ kinh tế nông dân như hoàn thiện các mối liên kết giữa nông dân với các doanh nghiệp, tổ chức nghiên cứu, cơ quan nhà nước từ đó đưa ra các mối liên kết theo giá trị ngang và dọc nhằm giúp người nông dân phát triển sản xuất theo hướng hiện đại, phù hợp yêu cầu phát triển của xã hội, đồng thời cải tạo lại hệ thống ruộng đồng để sản xuất theo các mô hình tiên tiến
Nguyễn Văn Nên (2016), Phân tích mối liên kết giữa các tác nhân trong chuỗi giá
trị dừa tại Bến Tre, Tạp chí Phát triển và Hội nhập Phát triển Kinh tế Địa Phương, số 26
(36) tháng 01 – 02/2016, tr 84 – 89, Trường Đại học Kinh tế - Luật – Đại học Quốc gia
Thành phố Hồ Chí Minh
Bài viết tập trung phân tích các mối liên kết trong chuỗi giá trị dừa Bến Tre dựa trên hướng dẫn phân tích chuỗi giá trị của M4P1 Sự liên kết ngang trong chuỗi giá trị chưa được hình thành một cách rõ nét, các tác nhân trong cùng một khâu chưa có sự hợp tác lẫn nhau chặt chẽ Sự liên kết dọc trong chuỗi cũng còn rất lỏng lẻo, sự phân bổ giá trị gia tăng trong chuỗi còn quá nhiều thiên lệch không hợp lý, cấu trúc chuỗi giá trị chưa vững chắc Tác giả cho rằng, đẩy mạnh thực hiện mối liên kết giữa các tác nhân trong chuỗi giá trị là giải pháp then chốt nhất trong quá trình nâng cấp chuỗi giá trị
Đỗ Thị Nga (2016), Liên kết hộ nông dân và doanh nghiệp trong sản xuất và tiêu
thụ cà phê ở Tây Nguyên, Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam 2016, tập 14, số 11, tr
1835 – 1845
Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng liên kết giúp nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất
cà phê ở các nông hộ và cải thiện lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp Tuy nhiên, việc duy trì và phát triển liên kết còn nhiều hạn chế và thách thức, đặc biệt là việc tuân thủ quy trình sản xuất, tiêu thụ sản phẩm và tiếp cận chính sách hỗ trợ Để thúc đẩy liên kết bền vững hộ nông dân và doanh nghiệp cần nâng cao năng lực của hộ nông dân, tăng cường hỗ trợ từ phía doanh nghiệp đối với hộ nông dân, cải thiện năng lực nghiên cứu phát triển thị trường cho doanh nghiệp và tăng cường sự hỗ trợ của Nhà nước
Nguyễn Phú Son (2013), Mô hình liên kết “4 nhà” trong sản xuất và tiêu thụ lúa gạo
tại xã Định Hòa, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang, Tạp chí Khoa học trường Đại học Cần
Thơ, Phần D: Khoa học Chính trị, Kinh tế và Pháp luật 26, tr 22 – 30
Mô hình liên kết “4 nhà” được xây dựng thông qua một quy trình gồm 6 bước và dựa trên cơ sở lý thuyết liên kết dọc trong chuỗi giá trị Kết quả của mô hình đã mang lại những lợi ích cho cả “4 nhà” Đối với nông dân, lợi ích lớn nhất mang lại cho họ là việc làm thay
1 Dự án “Nâng cao hiệu quả thị trường cho người nghèo” (M4P) do Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), Cơ quan đại diện Thường trú tại Việt Nam thực hiện
Trang 16đổi hành vi sản xuất theo hướng “Bán cái thị trường cần, chứ không phải bán cái mình có” Đối với công ty, việc tham gia mô hình liên kết này đã góp phần làm gia tăng thương hiệu, cũng như tạo tiền đề cho việc xây dựng vùng nguyên liệu Đối với đị phương, thông qua việc tham gia liên kết đã giúp cho cán bộ địa phương nâng cao được năng lự quản lý, cũng
nh góp phần vào nhiệm vụ xây dựng xã Nông thôn mới Cuối cùng, thông qua liên kết này
đã giúp cho những nhà khoa học bổ sung thêm những cơ sở cho lý thuyết chuỗi giá trị, cũng như làm gia tăng sự trải nghiệm về vấn đề liên kết “4 nhà”
Trương Bá Thanh (2009), Liên kết kinh tế Miền Trung và Tây Nguyên – Từ lý luận
đến thực tiễn, Tạp chí Khoa học công nghệ, Đại học Đã Nẵng, số 3 (32)
Bài viết tập trung nghiên cứu về mặt lý luận và thực tiễn nhằm chứng minh sự cần thiết phải liên kết kinh tế ở miền Trung – Tây Nguyên, từ đó chỉ ra một số việc cần phải làm để thực hiện tốt liên kết kinh tế ở Vùng kinh tế Miền Trung – Tây Nguyên
Nhóm 3: Các công trình nghiên cứu về ứng dụng và giải pháp liên kết kinh tế nông nghiệp
Võ Hữu Phước (2014), Nghiên cứu, ứng dụng mô hình liên kết “4 nhà” vào thực tiễn
sản xuất nông nghiệp nông thôn tỉnh Trà Vinh, Luận án tiến sĩ
Tác giả cho rằng, để mối quan hệ “4 nhà” đi vào thực tiễn và hiệu quả thì cần có một
cơ chế đồng bộ, trong đó, đối với người nông dân phải thật cụ thể, phải coi trọng việc tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, tính tự nguyên, tự giác và tự thấy trách nhiệm và quyền lợi của mình đối với người nông dân Để mối liên kết này bền chặt cần phải làm rõ vai trò của từng nhà và chú trọng đến “lợi ích” kinh tế của từng nhà Trong mô hình này phải đặt “nhà nông” làm vị trí trung tâm, “nhà khoa học” phải khách quan và công tâm,
“nhà nước” và “nhà doanh nghiệp” quyết định sự thành bại trong mối liên kết
Từ Minh Thiện (2016), Các giải pháp để thúc đẩy chuỗi liên kết trong xuất khẩu rau
quả tươi vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, Tạp chí khoa học Đại học Mở TP.HCM, số
50, tr 123 – 127
Theo tác giả, trong ngành nông nghiệp có 2 hình thức chuỗi liên kết: liên kết ngang
và hình thức liên kết dọc Tác giả nhận định rằng, các liên kết dọc và ngang đều còn thiếu hoặc rất yếu, thiếu sự hợp tác giữa các doanh nghiệp cùng một sản phẩm một cách có tổ chức theo chiều ngang mà cũng không có sự kết nối khắng khít giữa các giai đoạn thượng nguồn, trung nguồn và hạ nguồn theo chiều dọc Các hình thức liên kết ngang tăng khả năng cung ứng hàng hóa, kiểm soát an toàn vệ sinh thực phẩm và tận dụng được hiệu quả kinh tế của mô hình sản xuất, các hình thức liên kết dọc theo cơ chế hợp đồng nhằm chia
sẻ kinh phí và rủi ro với các tác nhân với nhau… vẫn còn rất thiếu
Thứ hai, đó là các và công trình nghiên cứu ngoài nước:
Trang 17Do điều kiện về thời gian cũng như khả năng của nhóm chúng tôi có hạn, nên hầu như các tư liệu và công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài, chúng tôi chỉ tham khảo
và tìm hiểu qua:
Nguyễn Thị Phượng Châu (2016), Supply chain analysis in Ba Moi grapevineyard to
the trend of multifunctional agriculture in Ninh Thuan province
Tác giả đã trình bày bối cảnh phát triển cây nho ở tỉnh Ninh Thuận, quá trình trang
trại Ba Mọi đăng ký chứng chỉ VietGAP, Sự đóng góp của trang trại Ba Mọi đối với nền kinh tế nho Ninh Thuận Đặc biệt, nhóm tác giả đã trình bày chuỗi cung ứng của Ba Moi trước và sau khi áp dụng VietGAP, so sánh giữa các chuỗi cung cấp thông thường và các
mô hình cung cấp của Ba Mọi, so sánh giữa các chuỗi giá trị của các phương thức truyền thống và Ba Mọi Ngoài ra, đưa ra mối quan hệ của mô hình Ba Mọi với nông nghiệp đa chức năng Ninh Thuận
Hồ Quế Hậu (2012), Economic integration between agro-product processing
enterprises and farmers in Vietnam, Doctoral thesis in economic
Ngoài những loại hình liên kết đã được biết, tác giả đã bổ sung thêm loại hình liên kết theo chức năng kinh tế: Trao đổi, hợp lực, phân chia và ủy nhiệm; phân chia theo mối quan hệ với môi trường ngoài: đóng và mở và nguyên tắc định trước quá trình phối hợp hành động (kế hoạch hóa) của liên kết kinh tế Ngoài những đặc điểm đã được biết đến về liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp chế biến nông sản với nông dân, tác giả đã bổ sung thêm đặc điểm: Một quan hệ kinh tế quốc tế; một quan hệ kinh tế bất đối xứng; là một loại hình liên kết kinh tế rất đặc thù và là một mâu thuẩn Trên cơ sở điều tra định lượng, tác giả đã xây dựng được hai mô hình kinh tế lượng dự báo chất lượng tổ chức thực hiện hợp đồng của doanh nghiệp và tỉ lệ sản lượng nông dân bán cho doanh nghiệp theo hợp đồng làm cơ
sở cho việc thực hiện hợp đồng
Tóm lại, những công trình trên phần nào đã khái quát chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị,
mô hình liên kết giữa nông dân với các chủ thể khác Mặc dù các công trình nghiên cứu sau này đã có phần bổ sung thêm nhưng vẫn chưa đủ Từ những nghiên cứu nêu trên, có thể thấy, nghiên cứu về khả năng ứng dụng mô hình liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân trong chuỗi cung ứng nho VietGAP tại tỉnh Ninh Thuận (Điển cứu tại DNTN SX TM&DV Ba Mọi tại Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận) là vấn đề còn bỏ ngỏ và cần được làm
rõ Trên cơ sở kế thừa những công trình trên của các tác giả đi trước, nhóm chúng tôi sẽ cố gắng giải quyết những vấn đề đặt ra ở đề tài nghiên cứu khoa học này một cách tương đối đầy đủ nhất
Trang 183 Mục tiêu nghiên cứu
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Các hoạt động trong mô hình liên kết giữa DN Ba Mọi và nông dân trong chuỗi cung ứng nho theo tiêu chuẩn VietGAP
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung nghiên cứu: tập trung nghiên cứu (nội dung, hình thức, vài trò, các nhân
tố tác động) liên kết giữa DN Ba Mọi và nông dân trong chuỗi cung ứng nho VietGAP
Về không gian: Doanh nghiệp tư nhân sản xuất Thương mại và Dịch vụ Ba Mọi ấp Hiệp Hòa, xã Phước Thuận, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận và các nông dân liên kết
Về thời gian nghiên cứu: từ tháng 7/2017 đến tháng 5/2018
Về đối tượng nông dân mà nghiên cứu đề cập đến chủ yếu hộ nông dân tham gia liên kết với DN Ba Mọi, nhưng không đi sâu vào hợp tác xã và các hộ không tham gia liên kết
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
5.1 Ý nghĩa khoa học
Hệ thống hóa cơ sở lý luận về liên kết nông nghiệp;
Kết quả nghiên cứu sẽ là tài liệu tham khảo, nghiên cứu thêm khi xây dựng chiến lược, chính sách phát triển mô hình liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân trong chuỗi cung ứng VietGAP tỉnh Ninh Thuận, một số tỉnh ở Nam Trung Bộ Đồng thời là tài liệu
Trang 19tham khảo bổ sung thêm cho việc quy hoạch, đầu tư mở rộng mô hình liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân trong thời gian tới
tư, sản xuất và phát triển nền nông nghiệp hiện đại chất lượng cao
6 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài là tập hợp các vấn đề nghiên cứu có nhiều nội dung đa chiều với đối tượng nghiên cứu rộng và có tính ứng dụng cao Đề tài tiếp cận và giải quyết vấn đề theo 3 bước:
Bước 1: Nghiên cứu lý thuyết về hoạt động chuỗi cung ứng, liên kết nông nghiệp giữa doanh nghiệp với nông dân
Bước 2: Nghiên cứu và mô tả thực trạng hoạt động liên kết giữa DN Ba Mọi với hộ nông dân trong chuỗi cung ứng nho VietGAP
Bước 3: Từ kết quả nghiên cứu trên, nhóm tác giả đưa ra số liệu để phân tích hiệu quả liên kết Từ đó, tác giả đề xuất một số khuyến nghị nhằm nâng cao và nhân rộng khả năng ứng dụng liên kết vào thực tiễn
Đề tài sử dụng kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng Nhưng đóng vai trò chính là nguyên cứu định tính, nghiên cứu định lượng góp phần giải thích và làm rõ các kết quả nghiên cứu định tính Mục đích của nghiên cứu định tính là để (i) Kiểm chứng
lý luận, hoàn thiện khung phân tích đề tài; (ii) Tìm ra các giải pháp cho những vấn đề về nguyên nhân và giải pháp Đối với nhóm phương pháp định lượng, nghiên cứu áp dụng công cụ phân tích chi phí – doanh thu (cost and return analysis)
Trang 206.1 Phương pháp thu thập dữ liệu
Cụ thể: Phỏng vấn tất cả các đối tượng những câu hỏi như nhau Tuy nhiên thứ tự và cách đặt câu hỏi có thể tuỳ thuộc vào ngữ cảnh và đặc điểm của đối tượng phỏng vấn Bảng câu hỏi với cấu trúc 5 phần, như: tình hình sản xuất hiện nay, hình thức liên kết, các tình huống liên kết, các mối quan hệ trong liên kết, chia sẻ kinh nghiệm
Ngoài ra, còn sử dụng nghiên cứu trường hợp trong cách xử lý tình huống trong liên kết cho cả doanh nghiệp và hộ liên kết
- Dữ liệu thứ cấp: các đề tài, nghiên cứu khoa học, luận văn, luận án, báo – tạp chí khoa học đã được công bố có liên quan đến đề tài nghiên cứu để làm tư liệu nghiên cứu
Cơ sở lý luận, thực tiễn của đề tài
- Tiêu chuẩn VietAGP;
- Chuỗi cung ứng;
- Liên kết kinh tế
Sách báo, internet, luận văn, luận án, các báo cáo, nghiên cứu đã công bố
Đặc điểm địa bàn, tình hình kinh tế - xã hội
của huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận
Trang thông tin điện tử huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận
Trang 217 Khung nghiên cứu
Qua cách tiếp cận của vấn đề nghiên cứu, có thể xây dựng cho nghiên cứu khung phân tích như sau:
Hình: Khung nghiên cứu đề tài
8 Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của bài nghiên cứu gồm 4 chương đó là:
Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan địa bàn nghiên cứu
Chương 2: Mô hình sản xuất và chuỗi cung ứng của DNTN SX TM&DV Ba Mọi Chương 3: Phân tích khả năng ứng dụng mô hình liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân trong chuỗi cung ứng nho VietGAP tại DNTN SX TM&DV Ba Mọi
Chương 4: Khuyến nghị giải pháp duy trì và nhân rộng mô hình liên kết
Trang 22PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Tổng quan về tiêu chuẩn VietGAP
Sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (tiếng Anh: World Trade Organization, viết tắt WTO), ngành xuất khẩu Việt Nam đã có nhiều thay đổi tích cực Tuy nhiên, lượng hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam ra nước ngoài chưa được như kỳ vọng do chúng ta vấp phải các quy định về tiêu chuẩn hàng hóa rất khắt khe của các nước nhập khẩu Hiện nay, thị trường xuất nhập khẩu nông sản – thủy sản – thực phẩm trên thế giới đang được kiểm soát bởi những tiêu chuẩn rất cao về chất lượng sản phẩm cũng như vệ sinh an toàn thực phẩm
Theo định nghĩa của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc2 (2003), Quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt (tiếng Anh: Good Agricultural Practices, viết
tắt là GAP) là “Quy trình sản xuất (của một đơn vị cụ thể) nhằm đảm bảo cho môi trường,
kinh tế xã hội của đơn vị được bền vững, sản phẩm làm ra phải tốt và an toàn”
GAP là những nguyên tắc được thiết lập nhằm đảm bảo một môi trường sản xuất an toàn, sạch sẽ, thực phẩm phải đảm bảo không chứa các tác nhân gây bệnh như chất độc sinh học (vi khuẩn, nấm, virus, ký sinh trùng) và hóa chất (dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, kim loại nặng, hàm lượng nitrat), đồng thời sản phẩm phải đảm bảo an toàn từ ngoài đồng đến khi sử dụng Mục đích của việc đưa ra GAP là để thực hiện những yêu cầu của thị trường và quản lý sản xuất vì mục đích chất lượng và an toàn sản phẩm, phù hợp với từng thị trường Quy trình đó phải được thể hiện xuyên suốt trong dây chuyền cung ứng (supply chain) để thực hiện được một quá trình quản lý chất lượng nông sản (food chain) được tốt cung ứng cho các thị trường tiên tiến, cải thiện môi trường, bảo vệ được sức khỏe và điều kiện làm việc cho người lao động Nhằm phát triển nền nông nghiệp bền vững với mục đích đảm bảo: An toàn cho thực phẩm; An toàn cho người sản xuất; Bảo vệ môi trường;
Truy nguyên được nguồn gốc sản phẩm
1.1.1.1 Tiêu chuẩn VietGAP
Nắm bắt được những khó khăn trên, từ năm 2006, Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (tiếng Anh: Association of South East Asian Nations, viết tắt là ASEAN) đã công
2 Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc viết tắt là FAO (tếng Anh: Food and Agriculture
Organization of the United Nations) được thành lập ngày 16 tháng 10 năm 1945 tại Canada với vai trò là một cơ
quan chuyên môn của Liên Hiệp Quốc (UN)
Trang 23bố bản quy trình GAP chung cho các nước thành viên Ngày 28/1/2008, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam đã ban hành quyết định số 379/QĐ-BNN-KHCN về Quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt cho rau, quả tươi an toàn, có tên
viết tắt là VietGAP (là cụm từ viết tắt của: Vietnamese Good Agricultural Practices)
VietGAP là những nguyên tắc, trình tự, thủ tục hướng dẫn tổ chức, cá nhân sản xuất, thu hoạch, sơ chế nhằm bảo đảm an toàn thực phẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm, đảm bảo sức khoẻ người sản xuất và người tiêu dùng, bảo vệ môi trường và truy nguyên nguồn gốc sản phẩm, trên cơ sở kiểm soát các mối nguy trong quá trình sản xuất, thu hoạch và sơ chế
Tiêu chuẩn của GAP về thực phẩm an toàn (Bảng 1.1 – phục lục 1)
So sánh một số tiêu chí của tiêu chuẩn GAP và VietGAP (Bảng 1.2 – phục lục 1)
1.1.1.2 Lợi ích khi áp dụng VietGAP
Đối với xã hội: Là bằng chứng để khẳng định tên tuổi của các sản phẩm thủy sản,
trồng trọt, chăn nuôi của Việt Nam; tăng kim ngạch xuất khẩu do vượt qua được các rào cản kỹ thuật, không vi phạm các quy định, yêu cầu của các nước nhập khẩu
Đối với nhà sản xuất: VietGAP sẽ mang lại lòng tin cho nhà phân phối, người tiêu
dùng và cơ quan quản lý, giúp người sản xuất xây dựng thương hiệu sản phẩm và tạo thị trường tiêu thụ ổn định
Đối với doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu: giữ được uy tín với khách hàng và nâng
cao doanh thu, các doanh nghiệp có thể giảm bớt chi phí và thời gian cho việc kiểm tra mẫu thủy sản đầu vào
Đối với người tiêu dùng: Người tiêu dùng sẽ được sử dụng những sản phẩm có chất
lượng an toàn vệ sinh thực phẩm, đó cũng là mục tiêu chính và lợi ích lớn nhất mà VietGAP mang lại
1.1.2 Tổng quan về chuỗi cung ứng
1.1.2.1 Khái niệm
Chuỗi cung ứng là hệ thống không chỉ bao gồm các doanh nghiệp, nhà cung cấp, nhà phân phối sản phẩm mà còn bao gồm hệ thống kho vận, hệ thống bán lẻ và khách hàng của
nó
Theo Christopher (1992), chuỗi cung ứng là“Một mạng lưới các tổ chức có mối quan
hệ với nhau thông qua các liên kết trên (upstream) và liên kết dưới (downstream) bao gồm các quá trình và hoạt động khác nhau để tạo giá trị gia tăng cho sản phẩm hoặc dịch vụ đến tay người tiêu dùng cuối cùng”
Trang 24Dưới góc độ D.M Lambert, M.C.Cooper và J D Pagh (1998), “Chuỗi cung ứng
không chỉ là một chuỗi của các doanh nghiệp với nhau, mà là mối quan hệ thương mại giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp, và quan hệ giữa các doanh nghiệp với nhau”
Dưới quan điểm của nhóm nghiên cứu thì “Chuỗi cung ứng là một tập hợp các hoạt động của tất cả các “mắt xích” tham gia chuỗi như nhà cung cấp, nhà sản xuất, nhà kho, các công ty cung cấp dịch vụ, và các cửa hàng bán lẻ, để sản phẩm được sản xuất và phân phối đúng như mong muốn của khách hàng và tổ chức” Mục đích then chốt của bất
kỳ chuỗi cung ứng nào là nhằm thỏa mãn nhu cầu khách hàng, trong tiến trình tạo ra lợi nhuận cho chính doanh nghiệp
Sơ đồ 1.1: Mô hình chuỗi cung ứng đơn giản
(Nguồn: Nguyễn Thị Kim Anh, 2010) Chuỗi cung ứng bao gồm chuỗi cung ứng đầu vào và chuỗi cung ứng đầu ra Chuỗi cung ứng đầu vào (hoạt động cung ứng) là quá trình đảm bảo nguyên vật liệu, máy móc thiết bị, dịch vụ… cho hoạt động của tổ chức/doanh nghiệp được tiến hành liên tục, nhịp nhàng và có hiệu quả Chuỗi cung ứng đầu ra là quá trình đảm bảo sản phẩm của tổ chức/doanh nghiệp đến tay người tiêu dùng, làm người tiêu dùng hài lòng với mức giá hợp
lý và các dịch vụ đi kèm, đảm bảo lợi nhuận cao cho tổ chức/doanh nghiệp
Chuỗi cung ứng điển hình như trong hình 1.1 chúng ta có thể hình dung các doanh nghiệp nằm ở khu vực giữa như doanh nghiệp trung tâm Thực tế, doanh nghiệp trung tâm không chỉ là doanh nghiệp lắp ráp sản phẩm cuối cùng, nó cũng có thể là bất cứ doanh nghiệp nào tham gia trong chuỗi cung ứng, tùy thuộc vào phạm vi tham chiếu và mục tiêu của nhà quản trị khi xem xét mô hình
Hình 1.1: Mô hình chuỗi cung ứng điển hình
(Nguồn: Nguyễn Thị Kim Anh, 2010)
Trang 25Chuỗi cung ứng là sự liên kết với các công ty nhằm đưa sản phẩm hay dịch vụ vào thị trường, bao gồm mọi công đoạn có liên quan, trực tiếp hay gián tiếp, đến việc đáp ứng nhu cầu khách hàng Chuỗi cung ứng không chỉ gồm nhà sản xuất và nhà cung cấp, mà còn nhà vận chuyển, kho, người bán lẻ và bản thân khách hàng Trong chuỗi cung ứng cũng có
sự kết hợp của một số công ty thực hiện những chức năng khác nhau Những công ty đó là nhà sản xuất, nhà phân phối, nhà bán sỉ, nhà bán lẻ và khách hàng cá nhân hay khách hàng
là tổ chức Những công ty thứ cấp này sẽ có nhiều công ty khác nhau cung cấp hàng loạt những dịch vụ cần thiết
Nhà sản xuất: là các tổ chức sản xuất ra sản phẩm, bao gồm những công ty sản xuất
nguyên vật liệu và công ty sản xuất thành phẩm
Nhà phân phối: là những công ty tồn trữ hàng với số lượng lớn từ nhà sản xuất và
phân phối sản phẩm đến khách hàng Nhà phân phối cũng được xem là nhà bán sỉ Nhà phân phối cũng là một tổ chức chỉ đại diện bán hàng giữa nhà sản xuất và khách hàng, không bao giờ sở hữu sản phẩm đó
Nhà bán lẻ: Nhà bán lẻ tồn trữ sản phẩm và bán cho khách hàng với số lượng nhỏ
hơn Nhà bán lẻ trong khi bán hàng cũng nắm bắt ý kiến và nhu cầu của khách hàng rất chi tiết
Khách hàng: Khách hàng hay người tiêu dùng là bất kỳ cá nhân, tổ chức nào mua và
sử dụng sản phẩm Khách hàng là tổ chức có thể mua một sản phẩm để kết hợp với sản phẩm khác rồi bán chúng cho khách hàng khác là người sử dụng sản phẩm sau/ mua sản phẩm về tiêu dùng
Nhà cung cấp dịch vụ: Đó là những tổ chức cung cấp dịch vụ cho nhà sản xuất, nhà
phân phối, nhà bán lẻ và khách hàng như hậu cần, tài chính, nghiên cứu thị trường, thiết kế sản phẩm, công nghệ thông tin
Sơ đồ 1.2: Mô hình chuỗi cung ứng mở rộng
(Nguồn: Nguyễn Thị Kim Anh, 2010) Vai trò của chuỗi cung ứng:
Trang 26Nắm bắt, quản lý các hoạt động cần thiết cho việc điều phối lưu lượng sản phẩm và dịch vụ nhằm phục vụ khách hàng cuối cùng được tốt nhất;
Cải tiến hiệu quả hoạt động của tổ chức;
Gia tăng thị phần;
Đáp ứng chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp;
Đáp ứng nhu cầu và cách thức cạnh tranh của doanh nghiệp
Sơ đồ 1.3: Các hoạt động của chuỗi cung ứng (Nguồn: Viện nghiên cứu và phát triển Logistic Việt Nam) 1.1.2.2 Mối liên hệ giữa chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị
Mọi người sử dụng những tên gọi khác nhau cho các chuỗi hoạt động và tổ chức, khi con người nhấn mạnh đến hoạt động sản xuất, họ xem chúng như là các quy trình sản xuất; khi họ nhấn mạnh đến khía cạnh marketing, họ gọi chúng là kênh phân phối; khi họ nhìn
ở góc độ tạo ra giá trị, họ gọi chúng là chuỗi giá trị; khi học nhìn nhận cề cách thức thỏa mãn nhu cầu của khách hàng, họ gọi là chuỗi nhu cầu ở đây chúng ta tập trung bào sự dịch chuyển nguyên liệu và thuật ngữ chung nhất là chuỗi cung cấp
Một câu hỏi thường đặt ra nhưng chưa có câu trả lởi rõ ràng – liên quan đến việc phân biệt và làm rõ sự khác nhau giữa chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng Michael Porter – người đâu tiên phát biểu khái niệm chuỗi giá trị vào thập niên 1980, biện luận rằng chuỗi giá trị của một doanh nghiệp bao gồm các hoạt động chính và các hoạt động bổ trợ tạo nên lợi thế cạnh tranh khi được cấu hình một cách thích hợp Tuy nhiên, khái niệm chuỗi giá trị cũng
đã được phát triển như là một công cụ để phân tích cạnh tranh và chiến lược
Trang 27Sơ đồ 1.4: Chuỗi giá trị chung (Nguồn: Michael Porter, 1985, Competivite Advantage, New York: The Free
Press, 37)
Porter phân biệt và nhóm gộp thành năm hoạt động chính: hậu cần đến (inbound logistics); sản xuất; hậu cần ra (outbound logistics); marketing và bán hàng; dịch vụ khách hàng Các hoạt động bổ trợ được nhóm thành bốn loại: thu mua; phát triển công nghệ; quản trị nguồn nhân lực và cơ sở hạ tầng công ty
Hình 1.2: Chuỗi cung ứng tổng quát
(Nguồn: Nguyễn Thị Kim Anh, 2010) Như vậy, chúng ta có thể thấy được được mối quan hệ giữa chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị Một phiên bản điều chỉnh về mô hình chuỗi giá trị của Porter cũng xác định một vài chuỗi cung ứng quan trọng Cách thức nhầm xem xét sự khác biệt giữa chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị là khái niệm hóa chuỗi cung ứng như là tập hợp con của chuỗi giá trị Điều này lại không đúng đối với chuỗi cung ứng, vì vậy chúng ta phải mở rộng
mô hình chuỗi giá trị ban đầu
1.1.3 Khái niệm về nông dân, hộ nông dân
Nông dân là một khái niệm đã xuất hiện từ rất lâu và được sử dụng rất phổ biến Thông thường, nông dân được hiểu là những người mà hoạt động sản xuất chính của họ là
nông nghiệp Nông dân có thể được định nghĩa rất đơn giản như: “người sống bằng nghề
làm ruộng” hay là “Người sống bằng hoạt động trồng trọt, chăn nuôi”
Trang 28Theo Bách khoa toàn thư Việt Nam thì “Nông dân là những người lao động cư trú ở
nông thôn, tham gia sản xuất nông nghiệp Nông dân sống chủ yếu bằng ruộng vườn, sau
đó đến các ngành nghề mà tư liệu sản xuất chính là đất đai Tùy từng quốc gia, từng thời
kì lịch sử, người nông dân có quyền sở hữu khác nhau về ruộng đất Họ hình thành nên giai cấp nông dân, có vị trí, vai trò nhất định trong xã hội…”
Dưới góc độ của liên kết kinh tế, nông dân tham gia vào chuỗi liên kết với vai trò là một chủ thể kinh tế, hộ nông dân, là loại hình kinh tế trong đó hoạt động sản xuất chủ yếu của họ là nông nghiệp, dựa vào lao động gia đình (lao động không thuê)3
1.1.4 Tổng quan về liên kết kinh tế
1.1.4.1 Các cách tiếp cận khác nhau về liên kết kinh tế
Theo Michael Porter, liên kết để tăng sức cạnh tranh và chuỗi giá trị gia tăng là nền tảng của sự cạnh tranh và dựa trên tư duy liên kết ngành hàng Liên kết chuỗi giá trị ngành hàng phát triển được phải dựa vào cơ chế, tổ chức, chính sách nhà nước nhằm phát huy sức mạnh cạnh tranh và lợi thế so sánh của từng địa phương, từng ngành hàng
Theo từ điển ngôn ngữ học (1992) thì “liên kết” là “kết lại với nhau từ nhiều thành
phần hoặc tổ chức riêng lẻ”
Trong kinh tế, “liên kết” được hiểu là hình thức hợp tác và phối hợp thường xuyên các hoạt động do các đơn vị kinh tế tự nguyện tiến hành nhằm thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển theo hướng có lợi nhất, được thực hiện trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi thông qua hợp đồng kinh tế ký kết giữa các bên tham gia và trong khuôn khổ pháp luật của nhà nước nhằm mục tiêu tạo ra mối quan hệ kinh tế ổn định thông qua các hợp đồng kinh tế hoặc các quy chế hoạt động Dù phát triển ở hình thức nào, các mối quan hệ liên kết kinh tế đều hướng đến những mục tiêu chung là tạo ra mối quan hệ kinh
tế ổn định
Trong phạm vi nghiên cứu này, chúng tôi sẽ tập trung tìm hiểu mối kết ở tầm vi mô,
cụ thể là mối liên hệ giữa hộ nông dân (hộ tham gia liên kết) và doanh nghiệp (DN Ba Mọi) trong nền kinh tế
1.1.4.2 Liên kết kinh tế trong nông nghiệp
Trong nền nông nghiệp mới, sự liên kết kinh tế là rất cần thiết Sự liên kết kinh tế trong nông nghiệp được hiểu là liên kết giữa các vùng sản xuất nông nghiệp trong những ngành hàng liên vùng, giữa nông nghiệp với công nghiệp, dịch vụ và giữa chính nông dân với nhau để tăng quy mô sản xuất kinh doanh, giảm chi phí giao dịch, tăng cạnh tranh
3 Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Bình, Phát triển kinh tế hộ gia đình
Trang 29Trong phạm vi đề tài nghiên cứu, khái niệm liên kết kinh tế trong nông nghiệp sẽ được cô đọng trong mối quan hệ liên kết kinh tế giữa nông dân liên kết với DN Ba Mọi
Đó có thể là sự liên kết giữa giữa nông dân với doanh nghiệp, ngân hàng, quỹ tín dụng, chính quyền địa phương và nhà khoa học mà thuật ngữ phổ biến hiện nay gọi là “liên kết năm nhà”: nhà nông, nhà nước, nhà khoa học, và nhà doanh nghiệp và nhà băng (ngân hàng)
Xét trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp,thông qua Quyết định 80/2002/QĐ – TTg ngày 24/6/2002 của Thủ tướng chính phủ Chính phủ đã yêu cầu chính quyền, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp phải gắn kết với nông dân trong quá trình sản xuất; đặc biệt là khyến khích các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế kí kết hợp đồng tiêu thụ nông sản hàng hóa với người nông dân (hợp tác xã, hộ nông dân, trang trại, đại diện hộ nông dân) Mục đích của Quyết định 80/2002 của Chính phủ là giải quyết việc tiêu thụ nông sản hàng hóa của nông dân thông qua hợp đồng, nhưng ý nghĩa và tác dụng của nó không dừng ở đó
mà nó có tác dụng rộng lớn, bao trùm là phát triển một nền nông nghiệp hàng hóa theo hướng sản xuất lớn, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn mà các bên tham gia đều thu lợi
1.1.4.3 Vai trò của liên kết kinh tế trong phát triển kinh tế xã hội
Từ khái niệm liên kết kinh tế ở trên cho thấy, cho dù liên kết ở hình thức nào, thì những lợi ích mà liên kết kinh tế mang lại đều có vai trò rất lớn và rất đa dạng Lê Xuân
Bá (2003), Lê Đình Giám (2007) đã chỉ ra trong các nghiên cứu của mình về một số vai trò chủ yếu của liên kết kinh tế đối với sự phát triển kinh tế - xã hội như sau:
Thứ nhất, liên kết kinh tế giúp đạt được hiệu quả kinh tế theo qui mô
Thứ hai, liên kết kinh tế làm giảm chi phí và tiêu hao nguồn lực, tăng hiệu quả đáp ứng nhanh nhạy yêu cầu phát triển
Thứ ba, liên kết kinh tế giúp phản ứng nhanh với những thay đổi của môi trường kinh doanh
Thứ tư, liên kết kinh tế giúp giảm thiểu các rủi ro
Thứ năm, liên kết kinh tế giúp các chủ thể trong thị trường tiếp cận nhanh chóng hơn với các công nghệ mới
Thứ sáu, liên kết kinh tế tạo sức mạnh nội sinh, hạn chế sự tác động tiêu cực từ bên ngoài, đồng thời tạo môi trường thu hút đầu tư có hiệu quả
Thứ bảy, Liên kết kinh tế tăng thêm sự phân công chuyên môn hóa và phát triển kinh
tế tổng hợp, xóa bỏ sự phát triển đơn cực, cục bộ, khép kín, mở rộng sự hợp tác và phân công quốc tế, mở rộng thị trường
Trang 30Tuy nhiên, sự liên kết kinh tế đôi khi cũng có thể gây ra những mặt tiêu cực như là việc tạo ra sự độc quyền Gây ra ảnh hưởng xấu đến sự cạnh tranh giữa các chủ thể tham gia thị trường, dẫn đến gây thiệt hại cho người mua (do độc quyền bán) hoặc người bán (do độc quyền mua) Ngoài ra, liên kết còn có thể dẫn đến tình trạng sụp đổ dây chuyền khi mà một trong những chủ thể tham gia bị phá sản… gây mất ổn định cho cả nền kinh tế
1.1.4.4 Vai trò của liên kết kinh tế trong nông nghiệp qua mô hình “liên kết
năm nhà”
“Liên kết năm nhà” về bản chất là một hình thức liên kết thị trường, thông qua các chính sách giúp điều hòa mâu thuẫn về lợi ích giữa các bên tham gia, đặc biệt khi nhu cầu
và giá cả thị trường biến động mạnh Liên kết giúp đỡ lẫn nhau tạo nên sức mạnh tổng hợp
“Một nhà” là chỗ dựa, là hậu thuẫn, là mốc đầu trong liên hoàn với “các nhà” khác: Nhà nông dựa vào vốn, chính sách, pháp luật của Nhà nước (nhà quản lý) để sản xuất đúng hướng và có hiệu quả Nhà quản lý cung cấp vốn thông qua ngân hàng, cung cấp thông tin, thị trường cho nông dân Nhà quản lý có thể đứng ra tổ chức việc liên kết sản xuất và kinh doanh đi đúng hướng và có hiệu quả Nhà khoa học tạo ra giống, quy trình kỹ thuật và đào tạo, hướng dẫn kỹ thuật sản xuất cho người nông dân Thông qua liên kết, sản xuất mang tính quy mô cao, hiện đại, hạn chế rủi ro và hiệu quả cao
Như vậy, liên kết không chỉ có lợi cho sản xuất của nông dân mà cho cả nhà doanh nghiệp và các chủ thể khác Ngoài ra, giá trị của nông sản cũng được gia tăng sau mỗi công đoạn của quá trình liên kết, tạo nên sức mạnh cạnh tranh trên thị trường và đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng
1.1.4.5 Mối liên hệ giữa hộ nông dân với doanh nghiệp
Liên kết giữa nông dân với doanh nghiệp là sự liên kết giữa nông dân, doanh nghiệp dưới sự hỗ trợ của nhà nước, nhà khoa học và nhà băng nhằm gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông sản hàng hóa; thúc đẩy sản xuất phát triển ổn định, bền vững; tiến tới nền sản xuất hàng hóa quy mô lớn, hiện đại, đủ sức bước vào thời kỳ hội nhập khu vực và thế giới
Sơ đồ 1.5: Mô hình năm nhà trong nông nghiệp
Trang 31(Nguồn: Nhóm tác giả, 5/2018) Bản chất của liên kết cũng là một kiểu hợp tác sản xuất kinh doanh Nếu liên kết chặt chẽ thì thành một tổ chức, còn nếu chỉ bằng hợp đồng thì là một cơ chế, một mối quan hệ
kinh tế được quy định mang tính pháp lý
Một là, phát huy sức mạnh tổng hợp của “các nhà”, tận dụng có hiệu quả nhất tiềm
năng, lợi thế so sánh về sản xuất nông nghiệp của nước ta nhằm tạo ra ngày càng nhiều sản phẩm có giá trị cao, tăng sức cạnh tranh trên thị trường, xuất khẩu nông sản hàng hóa nhằm thu ngoại tệ lớn cho đất nước, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn
Hai là, tăng cường sự liên kết hỗ trợ lẫn nhau giữa các nhà kinh doanh (doanh nghiệp)
hướng vào phục vụ sản xuất nông nghiệp - là nhà nông, và thông qua đó mà tạo điều kiện
để mọi nhà kinh doanh đều có lợi
Ba là, liên kết tác động qua lại giữa các “nhà” với nhau, hỗ trợ cho mỗi nhà thực hiện
tốt vai trò, chức năng hoạt động của mình, từ đó phát triển quan hệ phân công và hợp tác lao động ngày càng tiến bộ và hiệu quả
Bốn là, cải tiến quản lý nhà nước, cải cách nền hành chính quốc gia thực sự vì dân,
hết sức phục vụ dân, từ đó phát triển khoa học công nghệ, gắn khoa học với sản xuất nông nghiệp, đưa các nhà khoa học về trực tiếp phục vụ nông nghiệp, nông dân, nông thôn Phụ lục 2: Nhóm chỉ tiêu phản ánh liên kết “bốn nhà”
1.1.4.6 Cơ chế liên kết kinh tế
Để đảm bảo thành công của các liên kết kinh tế, cần có một cơ chế liên kết hợp lý để tạo môi trường chính sách minh bạch, bình đẳng giữa các chủ thể tham gia Theo
“Mechanism design Theory” (Lý thuyết cơ chế) đã đạt giải Nobel 2007 của Leonid Hurwicz, Eric Maskin và Roger Myerson thì cơ chế có thể là mọi thể chế và “luật chơi” chi phối các sinh hoạt kinh tế, từ việc xây dựng kế hoạch trong một nền kinh tế chỉ huy, tổ chức nội bộ một công ty, đến việc buôn bán nhỏ lẻ trên thị trường Theo quan điểm này, tất cả các cá nhân, tổ chức khi tham gia vào một “cuộc chơi” đều phải tuân theo những quy tắc chung của “cuộc chơi” đó và các chủ thể khi tham gia vào chuỗi giá trị nông sản cũng không nằm ngoài quy luật này Quá trình liên kết giữa các bên mang tính bền vững và thành công đòi hỏi phải có một cơ chế liên kết rõ ràng, phù hợp với năng lực và hoàn cảnh nhất định
Bên cạnh đó, khi nói đến liên kết kinh tế thì chắc chắn sẽ phát sinh nhiều vấn đề mới
vì mỗi chủ thể đều có một lợi ích khác nhau Do vậy, bên cạnh có một cơ quan điều phối thì cần phải có một cơ chế chung để dung hòa lợi ích của các bên tham gia Để đạt được
Trang 32điều đó, cơ chế liên kết kinh tế cần phải đạt được một số đặc điểm sau: Cơ chế liên kết phải được xây dựng dựa trên sự đồng thuận của các bên tham gia trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng, các bên cùng có lợi Xây dựng cơ chế “đa số quyết định”
Như vậy, về mặt lý thuyết cơ chế liên kết kinh tế là một hệ thống các quy định do cơ
quan Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội có thẩm quyền ban hành, nhằm vận hành, điều chỉnh, quản lý hệ thống các quan hệ, các yếu tố trong quá trình liên kết kinh tế giữa các chủ thể kinh tế nhằm đạt tới hiệu quả tối ưu cho sự phát triển kinh tế - xã hội tổng thể của địa phương Ở nước ta, ngoài 03 Luật Hợp tác xã (ban hành 1996, 2003 và 2012), chỉ xét riêng giai đoạn từ 2003 đến nay đã có hàng trăm các chính sách đã được ban hành Nhìn cung, các chính sách đã hình thành nên khung pháp lý cho sự ra đời và phát triển của các mô hình hợp tác liên kết
Sơ đồ 1.6: Hệ thống chính sách về hợp tác liên kết nông dân (Nguồn: Tổ chức Oxfam và Viện Nghiên cứu và Tư vấn Phát triển (RCD), 2014) Các chính sách nhìn chung được đánh giá mang 3 đặc điểm sau: i) Quan niệm và chính sách còn hạn chế, chưa thúc đẩy đúng bản chất, vai trò tổ chức nông dân như đối tác độc lập trong phát triển; thiên lệch trong phát triển hợp tác xã hơn so với tổ hợp tác; ii) Chồng chéo, mâu thuẫn và kém hiệu quả trong thực thi; iii) Thiếu chính sách “đòn bẩy”, chậm bắt kịp với thực tiễn phát triển, thiếu tính đồng bộ và đôt phá
Từ khái niệm về thể chế liên kết kinh tế nói chung, chúng ta có thể khái niệm: Liên
kết kinh tế giữa doanh nghiệp với nông dân là một bộ phận của liên kết kinh tế trong nền kinh tế quốc dân, trong đó các bên tham gia là doanh nghiệp chế biến nông sản và nông dân, thực hiện một kiểu liên kết dọc nông - công nghiệp, để ổn định và nâng cao hiệu quả kinh tế
Theo Hồ Quế Hậu (2011), liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp chế biến nông sản với
nông dân bên cạnh những đặc điểm chung của liên kết kinh tế, có những đặc điểm riêng
của nó, đó là:
Trang 33Là một bộ phận của quan hệ kinh tế giữa công nghiệp với nông nghiệp
Là mắt xích ñầu tiên của chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị và ngược lại chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị là một hình thức cơ bản của liên kết kinh tế trong ngành sản xuất và kinh doanh nông sản
Là một bộ phận của liên kết kinh tế không chỉ trong phạm vi một nước mà còn là trong quan hệ kinh tế quốc tế, nhất là ở các nước ñang phát triển
Là một quan hệ kinh tế bất ñối xứng
1.2 Cở sơ thực tế
1.2.1 Tổng quan về tỉnh Ninh Thuận và huyện Ninh Phước
Hình 1.3: Bản đồ tỉnh Ninh Thuận
(Nguồn: Trang thông tin điện tử tỉnh Ninh Thuận, ngày truy cập 4/4/2018)
Vị trí địa lý: Tỉnh Ninh Thuận thuộc vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, phía Bắc giáp tỉnh Khánh Hòa, phía Nam giáp tỉnh Bình Thuận, phía Tây giáp tỉnh Lâm Đồng và phía Đông giáp Biển Đông Diện tích tự nhiên 3.358 km2, có 7 đơn vị hành chính gồm 1 thành phố và 6 huyện4 TP Phan Rang-Tháp Chàm là thành phố thuộc tỉnh, trung tâm chính trị,
kinh tế và văn hóa của tỉnh
4 Ninh Phước, Ninh Sơn, Ninh Hải, Thuận Bắc, Thuận Nam và Bác Ái
Trang 34Điều kiện tự nhiên:
Địa hình thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam và thế lòng chảo khu vực sống cái, khu vực TP Phan Rang - Tháp Chàm, với 3 dạng địa hình: núi, đồi gò bán sơn địa và đồng bằng ven biển
Ninh Thuận có khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo điển hình với đặc trưng khô nóng, gió nhiều, bốc hơi mạnh; chỉ có 2 mùa đó là mùa mưa (từ tháng 9 đến tháng 11) và mùa khô (từ tháng 12 đến tháng 8) Đây là vùng có lượng mưa thấp nhất trong cả nước Ninh Thuận ít có bão nhưng khi có bão thì thường kết hợp với dông, gây ra mưa lớn và lũ lụt, ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đời sống của nhân dân trong vùng (thường xảy ra vào tháng 10 và 11)
Bờ biển dài 105 km, ngư trường của tỉnh nằm trong vùng nước trồi có nguồn lợi hải sản phong phú và đa dạng với trên 500 loài hải sản các loại, hệ sinh thái san hô phong phú và đa dạng Vùng ven biển có nhiều đầm vịnh phù hợp phát triển du lịch và phát triển nuôi trồng thủy sản và sản xuất tôm giống là một thế mạnh của ngành thủy sản
Khoáng sản kim loại có wonfram, molipđen, thiếc Titan tại khu vực ven biển với trữ lượng nhiều triệu tấn Khoáng sản phi kim loại có thạch anh tinh thể, đá granite, cát thủy tinh, sét gốm… Tiềm năng về khoáng bùn mới được phát hiện ở thôn Suối Đá, xã Lợi Hải, huyện Thuận Bắc
Với những điều kiện tự nhiên như được trình bày ở trên cho thấy rất phù hợp cho Ninh Thuận phát triển 3 loại cây trồng: táo, tỏi và nho Đây là một trong những lợi điểm của 3 loại cây trồng so với các địa phương khác trong cả nước Tuy nhiên, để phát triển tốt chúng, chúng ta cũng cần phải xem xét những điều kiện kinh tế, xã hội có ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của việc sản xuất và kinh doanh các loại sản phẩm này
Dân số trung bình năm 2010 có 571 nghìn người Mật độ dân số trung bình 170 người/km2, phân bố không đều, tập trung chủ yếu vùng đồng bằng ven biển Cộng đồng dân cư gồm 3 dân tộc chính: Kinh (chiếm 76,5%), Chăm, Raglai, còn lại là các dân tộc khác
Tốc độ tăng GDP của tỉnh Ninh Thuận năm 2011 là 10,6%, GDP bình quân đầu người đạt 16,3 triệu đồng/năm
Trang 35Biểu đồ 1.1: Cơ cấu kinh tế của Ninh Thuận năm 2011
(Nguồn: Sở Kế Hoạch và Đầu tư tỉnh Ninh Thuận, Báo cáo KTXH tỉnh Ninh Thuận
năm 2011)
Toàn tỉnh có 27/ 308 trường đạt chuẩn quốc gia (đạt tỷ lệ 12,1%) Hệ thống giáo dục phổ thông và nội trú đã hình thành ở tất cả các huyện, thành phố Toàn tỉnh có 84 cơ sở y
tế khám chữa bệnh với 1.585 giường bệnh, đạt tỷ lệ 27,8 giường bệnh/vạn dân
Những điều kiện kinh tế xã hội của Ninh Thuận, trong tương lai, ít nhất đến 2015 sự đóng góp vào GDP của Tỉnh vẫn phải dựa vào giá trị đóng góp của những sản phẩm nông nghiệp nói chung, và của 3 sản phẩm trên nói riêng Để có cơ sở cho việc phát triển các loại sản phẩm này việc phân tích thực trạng sản xuất, chế biến, tiêu thụ, cũng như tìm những giải pháp nâng cấp chuỗi giá trị của các loại sản phẩm này là những nội dung quan trọng cần thực hiện
Ninh Phước là một huyện của tỉnh Ninh Thuận, gồm 1 thị trấn và 8 xã5 Phía Bắc và Tây Bắc giáp huyện Ninh Sơn Phía Đông Bắc giáp TP Phan Rang - Tháp Chàm Phía Nam và Tây Nam giáp huyện Thuận Nam Phía Đông giáp biển Đông Đây cũng là địa phương có dự án Đường cao tốc Nha Trang – Phan Thiết đi qua đang được xây dựng Ninh Phước hội tụ cả ba điều kiện địa lý: có núi, sông, biển và cả đồng bằng Tuy nhiên nền kinh tế Ninh Phước chưa được phát triển, là một huyện nằm ở hạ lưu dòng sông Dinh nên thường xuyên bị ngập lụt vào khoảng tháng 10 - 11 hằng năm Nền nông nghiệp chủ yếu của Ninh Phước là trồng nho, tuy nhiên trong vài năm gần đây có vài thay đổi trong canh tác nông nghiệp Người dân dần dần chuyển qua các hình thức canh tác khác như trồng táo và thanh long
5 1 thị trấn Phước Dân và 8 xã: An Hải, Phước Hải, Phước Hậu, Phước Hữu, Phước Sơn, Phước Thái, Phước
Thuận, Phước Vinh
43%
22%
35%
Cơ cấu kinh tế của Ninh Thuận năm 2011
Nông, lâm nghiệp và thủy sản
Công nghiệp - xây dựng Dịch vụ
Trang 36Hình 1.4: Bản đồ huyện Ninh Phước (Nguồn: Trang thông tin điện tử huyện Ninh Phước, ngày truy cập 4/4/2018) Huyện Ninh Phước có vị trí giao thương quan trọng không chỉ riêng với huyện mà còn là một trong những vùng thuộc tỉnh Ninh Thuận có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế,
xã hội Điều đó được thể hiện rõ nét với hệ thống giao thông liên khu vực hết sức thuận lợi với sự hiện diện của Quốc lộ 1A và tuyến đường sắt Bắc Nam đi ngang qua địa bàn huyện, việc thông thương với vùng cao nguyên Di Linh, Lâm Viên và ra các tỉnh phía Bắc hoàn toàn thuận lợi Với hệ thống giao thông liên vùng, liên khu vực hiện hữu đã tạo cho huyện các điều kiện hết sức thuận lợi để phát triển kinh tế - văn hoá – xã hội và giữ vững an ninh
quốc phòng
1.2.2 Thực trạng và tình hình tiêu thụ nho ở Ninh Thuận
VietGAP cho nho Ninh Thuận dựa trên cơ sở AseanGAP, EurepGAP/ GlobalGAP
và Freshcare và VietGAP cho rau, quả, chè đã được ban hành, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho nho Ninh Thuận tham gia các thị trường đòi hỏi tiêu chuẩn an toàn cao trong nước cũng như thị trường khu vực ASEAN và thế giới, hướng tới sản xuất nông nghiệp bền vững.6
6 Trích II.2, phần 1: Những quy định chung, Quy trình sản xuất nho theo VietGAP năm 2012 của Sở Phát triển Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Ninh Thuận, BQL Dự án QSEAP
Trang 37Cây nho được du nhập vào Ninh Thuận từ những năm 1960, được trồng thử nghiệm tại Trung tâm nghiên cứu Kỹ thuật nông nghiệp Nam Trung Bộ (Nha Hố - huyện Ninh Sơn) và được sản xuất thành hàng hóa vào những năm 1980
Bình quân khi trồng 1 ha nho, nếu chăm sóc đúng kỹ thuật, sẽ cho thu nhập từ 300 đến
500 triệu đồng Giá trị kinh tế của cây nho chưa kể chế biến và các dịch vụ khác đi kèm chiếm đến 13,6% tổng giá trị sản xuất trong nông nghiệp mặc dù diện tích trồng nho chỉ chiếm khoảng 3% tổng diện tích sản xuất Theo tính toán ban đầu nếu Ninh Thuận phát triển cây nho với diện tích 2.500 ha vào năm 2020, với năng suất 30.000 tấn nho tươi hàng năm thì cây nho sẽ góp phần vào GDP là 125 USD/người/năm Nếu tính trên đầu người cho dân số Ninh Thuận đến năm 2014 là 600.000 dân chưa kể đến chế biến thì gía trị kinh
tế sẽ cao hơn Điều này cho thấy, đối với nông dân Ninh Thuận, cây nho không chỉ góp phần xóa đói, giảm nghèo mà còn là cây có thể làm giàu
Cơ cấu giống nho: nho trồng ở Ninh Thuận chủ yếu vẫn là giống nho đỏ (cardinal thuần), chiếm tỷ lệ gần 70%, giống nho NH.01.48 chiếm 20%, còn lại là các giống nho Black Queen và các giống khác Tỉnh Ninh Thuận đã quy hoạch lại vùng đất sản xuất nho
an toàn, triển khai dự án trồng nho sạch Định hướng cho người trồng sử dụng những loại phân bón sinh học để hạn chế sâu bệnh cho cây nho
Nho Ninh Thuận đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lý “Ninh Thuận” theo Quyết định số 194/QĐ-SHTT ngày 17/2/2012 của Cục Sở hữu trí tuệ Việc các sản phẩm nho được chứng nhận chỉ dẫn địa lý đã góp phần nâng cao vị thế nho Ninh Thuận trên thị trường
Hình 1.5: Logo Chỉ dẫn địa lý Nho Ninh Thuận (Nguồn: Sở khoa học và công nghệ tỉnh Ninh thuận, ngày truy cập: 3/2018) Sản phẩm nho tỉnh Ninh Thuận chủ yếu phục vụ ăn tươi và được tiêu thụ trên cả nước, tập trung nhiều ở một số thành phố lớn như Hà Nội, Hồ Chí Minh, Nghệ An, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Dương, Tuy nhiên, khâu quảng bá sản phẩm còn rất hạn chế nên hình ảnh của nho Ninh Thuận vẫn chưa đi vào được tiềm thức của người tiêu dùng cao
Trang 381.2.3 Chuỗi các sản phẩm từ nho
Ninh Thuận không chỉ nổi tiếng với những trái nho tươi, từ trái nho, nông dân chế biến ra các sản phẩm ấn tượng như: mật nho, si-rô nho, mứt nho, nho khô… Và đặc biệt, vang nho Ninh Thuận đã trở thành thương hiệu và có thế mạnh, đem lại nguồn lợi đáng kể cho người dân địa phương Những sản phẩm này không chỉ góp phần tôn vinh thương hiệu Nho Ninh Thuận, mà còn mở ra cơ hội phát triển các ngành nghề dịch vụ, du lịch, sản phẩm đặc thù của tỉnh, góp phần phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập cho người trồng nho nói riêng và ngành nghề kinh doanh nho nói chung
Sơ đồ 1.7: Chuỗi các sản phẩm từ nho
1.2.4 Khó khăn của người trồng nho ở Ninh Thuận
- Thời tiết thất thường khiến hoa nở không được, trái bị hư, rụng, bị sáp bông
- Giống cũ đang bị thoái hóa, năng suất không cao (red cardinal) Giống mới
NH.10.48 dễ bị sâu bệnh vẫn chưa có thuốc chữa Thiếu các giống thật sự phù hợp với
thổ nhữơng và khí hậu của Ninh Thuận
Trang 39- Đất thoái hóa nhiều, thiếu chất, thiếu chăm bón thường xuyên
- Người dân chưa được tham khảo kinh nghiệm một mô hình thực tế thành đạt ở
nước ngoài Mô hình của Bác Ba khá tốt tuy nhiên ít người quan tâm
- Bên cạnh đó việc bao trái cũng cần thiết phát huy, giúp nâng cao năng suất và phẩm chất nho, ngăn chặn côn trùng xâm nhập gây hư hại trái
- Nông dân chưa ý thức được vấn đề trồng nho an toàn, vẫn tiếp tục sử dụng nhiều loại thuốc hóa học, bơm xịt không có liều lượng, ảnh hưởng đến chất lượng quả nho, tăng
nguy cơ gây hại môi trường và sức khỏe
- Công nghệ bảo quản, chế biến nông dân chưa có điều kiện để ứng dụng các công
nghệ sau thu hoạch như sơ chế, bảo quản, nhất là các sản phảm chế biến (rượu, mật, mứt,
nho khô…)
- Nông dân phụ thuộc nhiều vào thương lái trong việc tiêu thụ và giá cả do không có
thị trường tiêu thụ, thiếu thông tin thị trường
- Thiếu tổ chức, hiệp hội giúp cho việc ổn định giá và đầu ra ổn phân phối, tiêu thụ nho
2 Khái niệm chuỗi cung ứng Mối liên hệ giữa chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị
3 Các cách tiếp cận khác nhau về liên kết kinh tế, liên kết kinh tế nông nghiệp, vai trò của “5 nhà” trong liên kết nông nghiệp và mối liên hệ giữa hộ nông dân với các chủ thể khác với cơ chế liên kết đặc thù
4 Thực trạng và tình hình tiêu thụ nho ở Ninh Thuận, chuỗi các sản phẩm từ nho, chuỗi giá trị nho Ninh Thuận
Đây là cơ sở lý luận giúp nhóm tác giả thực hiện công việc nghiên cứu phân tích thực trạng, tiềm năng và khả năng ứng dụng mô hình liên kết của doanh nghiệp và nông dân trong chuỗi cung ứng nho VietGAP của DN Ba Mọi Từ đó, đề xuất, khuyến nghị một số giải pháp để phát triển, nhân rộng và nâng cao hiệu quả của mô hình liên kết trong thời gian sắp tới
Trang 40CHƯƠNG 2: MÔ HÌNH SẢN XUẤT VÀ CHUỖI CUNG ỨNG CỦA DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ BA MỌI
2.1 Giới thiệu doanh nghiệp Ba Mọi 7
tử DN Ba Mọi8, 6/2017)
Lúc đầu, DN Ba Mọi gọi là trang trại Sản xuất đầu tiên với phương pháp thông thường, chủ yếu sử dụng phân bón hóa học và thuốc trừ sâu tạo ra nhiều sản phẩm nhưng chất lượng thấp, khó tìm được thị trường và hoàn toàn phụ thuộc vào người trung gian;
trong khi thị trường ở các thành phố lớn yêu cầu sản phẩm tươi và chất lượng cao
Với sự giúp đỡ của GS.TS Nguyễn Cơ trong vòng 3 năm, lúc đầu cũng có sự hỗ trợ của các nhà khoa học, các nhà quản lý, DN Ba Mọi là nơi đầu tiên ở Ninh Thuận và nhận được giấy chứng nhận VietGAP năm 2010 và cùng năm này, DN Ba Mọi đã chuyển hướng
mở dịch vụ du lịch sinh thái ngay tại vườn nho nhà mình
7 Doanh nghiệp Ba Mọi là tên mà nhóm tác giả gọi doanh nghiệp sản xuất thương mại và dịch vụ Ba Mọi trong toàn
bộ nghiên cứu của mình
8 http://nhobamoi.com.vn/ , ngày truy cập 6/6/2017