Tuy nhiên, từ những bài học lịch sử và kinh nghiệm trong kháng chiến, các phong trào ấy đã để lại những dấu ấn sâu sắc trong giai đoạn chuyển biến đặc biệt của xã hội Việt Nam cuối thế k
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của bản thân dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Vũ Văn Gầu Những tài liệu tham khảo và trích dẫn sử dụng trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng
Tác giả
Lê Thị Ngọc Nữ
Trang 4MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU 1 PHẦN NỘI DUNG 15 Chương 1: BỐI CẢNH LỊCH SỬ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUÁ TRÌNH CHUYỂN BIẾN TƯ TƯỞNG CỨU NƯỚC CỦA PHAN BỘI CHÂU 15 1.1 VÀI NÉT VỀ QUÊ HƯƠNG – GIA ĐÌNH – QUAN HỆ XÃ HỘI CỦA PHAN BỘI CHÂU 15
1.2 BỐI CẢNH LỊCH SỬ CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẦU THẾ KỶ XX TÁC ĐỘNG ĐẾN QUÁ TRÌNH CHUYỂN BIẾN TƯ TƯỞNG CỨU NƯỚC CỦA PHAN BỘI CHÂU 20
1.2.1 Bối cảnh lịch sử trong nước 20 1.2.2 Bối cảnh lịch sử ngoài nước 24 1.3 QUÁ TRÌNH TIẾP NHẬN CỦA SỰ CHUYỂN BIẾN TRONG TƯ TƯỞNG CỨU NƯỚC CỦA PHAN BỘI CHÂU 28
Tiểu kết chương 1 34 Chương 2: NỘI DUNG, GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ CỦA QUÁ TRÌNH CHUYỂN BIẾNTƯ TƯỞNG CỨU NƯỚC CỦA PHAN BỘI CHÂU 37 2.1 KHÁI QUÁT QUÁ TRÌNH CHUYỂN BIẾN TƯ TƯỞNG CỨU NƯỚC CỦA PHAN BỘI CHÂU 37
2.1.1 Từ ý chí đến hoạt động cụ thể của Phan Bội Châu chuẩn bị cho sự nghiệp cứu nước (trước năm 1904) 37 2.1.2 Quá trình xác lập mục tiêu chiến lược trong phương pháp cách mạng của Phan Bội Châu (1905 – 1917) 42 2.1.3 Sự chuyển biến tư tưởng cứu nước của Phan Bội Châu dưới tác động của Chủ nghĩa Mác – Lênin và Cách mạng Tháng Mười Nga (1925 đến cuối đời) 63
Trang 52.2 MỘT SỐ NỘI DUNG CỦA QUÁ TRÌNH CHUYỂN BIẾN TƯ
TƯỞNG CỨU NƯỚC CỦA PHAN BỘI CHÂU 71
2.2.1 Quan niệm về chính thể nhà nước 71
2.2.2 Quan niệm về phương pháp cách mạng 77
2.2.3 Quan niệm về người lãnh đạo cách mạng 93
2.3 GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ CỦA QUÁ TRÌNH CHUYỂN BIẾN TƯ TƯỞNG CỨU NƯỚC CỦA PHAN BỘI CHÂU 98
2.3.1 Giá trị quá trình chuyển biến tư tưởng cứu nước của Phan Bội Châu 98
2.3.2 Một số hạn chế của quá trình chuyển biến tư tưởng cứu nước của Phan Bội Châu 107
Tiểu kết chương 2 114
PHẦN KẾT LUẬN 116
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 120
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cách mạng Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX trải qua giai đoạn biến động to lớn về mọi mặt Thực dân Pháp xâm lược, biến Việt Nam từ một nước phong kiến độc lập, thành một nước thuộc địa nửa phong kiến Sự xáo trộn trong xã hội lúc bấy giờ đã đẩy Việt Nam đến tình thế khủng hoảng trầm trọng về đường lối, mâu thuẫn xã hội liên tiếp nổ ra Trong đó, nổi lên hai mâu thuẫn cơ bản và chủ yếu nhất ở Việt Nam giai đoạn này là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược, giữa nhân dân lao động mà trước hết là giai cấp nông dân với giai cấp địa chủ, phong kiến Giai đoạn này, kinh tế ở Việt Nam chậm phát triển, trình độ sản xuất thấp kém, chủ yếu dựa vào kinh tế nông nghiệp, kéo theo đời sống xã hội lạc hậu, trì trệ và bảo thủ Giai cấp phong kiến,
mà đại diện là vua quan triều Nguyễn và ý thức hệ của nó là tư tưởng chính trị - đạo đức của Nho giáo đã mất hết vai trò lịch sử từ sự thất bại trước những nhiệm
vụ lịch sử của dân tộc Trong khi đó, giai cấp tư sản dân tộc cùng ý thức hệ của
nó còn non yếu, cũng bất lực trước những yêu cầu của thời đại Mặt khác, dưới
sự tác động của nền văn minh phương Tây và các phong trào canh tân, cũng như trước những mâu thuẫn và nhu cầu phát triển nội tại của xã hội Việt Nam Xu thế canh tân, cách mạng trở thành sự đòi hỏi mang tính tất yếu Quá trình biến đổi xã hội sâu sắc ấy đã dẫn đến sự khủng hoảng trầm trọng trong đường lối cứu nước
Sự khủng hoảng ấy đặt ra nhiều vấn đề, trong đó vấn đề bức thiết nhất là tìm tòi, xác định con đường, cách thức để đấu tranh nhằm giải phóng hoàn toàn dân tộc Việt Nam khỏi ách áp bức, bóc lột của thực dân Pháp
Trong bối cảnh rối ren, các chí sĩ yêu nước Việt Nam đã không ngừng vạch ra nhiều hướng khác nhau nhằm tìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc Chính điều kiện lịch sử - xã hội đặc biệt đó đã thôi thúc các nhà tư
Trang 7tưởng lớn đi tìm phương hướng cứu nước Nhìn chung các phong trào yêu nước giai đoạn này nổi lên theo hai xu hướng Xu hướng thứ nhất là các phong trào yêu nước theo tư tưởng phong kiến, tiêu biểu như phong trào Cần Vương (1885 – 1896) do Tôn Thất Thuyết và vua Hàm Nghi đứng đầu, đây là phong trào yêu nước đi theo ý thức hệ phong kiến với khẩu hiệu “phò vua cứu nước”; hay cuộc khởi nghĩa Yên Thế của Hoàng Hoa Thám ở Bắc Kỳ (1885 – 1913), mặc dù cuộc khởi nghĩa nổ ra sôi nổi và lan rộng nhưng cuối cùng vẫn chưa đi đến thành công, chấm dứt thời kỳ đấu tranh phong kiến Xu hướng thứ hai là các phong trào yêu nước theo tư tưởng dân chủ tư sản như: Phong trào Đông Du đi theo xu hướng bạo động (1906 – 1908); phong trào Đông Kinh nghĩa thục (1907) dưới hình thức tuyên truyền cải cách văn hóa – xã hội; phong trào Duy Tân (1906 – 1908) do các sĩ phu yêu nước như Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Phan Bội Châu… lãnh đạo Các phong trào ấy đã thể hiện một tinh thần yêu nước nồng nàn, mặc dù tâm huyết và nỗ lực hết mình nhưng do chưa đáp ứng được nhu cầu của lịch sử, các cuộc cách mạng nổ ra trong giai đoạn này đều đi dần vào thất bại Tuy nhiên, từ những bài học lịch sử và kinh nghiệm trong kháng chiến, các phong trào ấy đã để lại những dấu ấn sâu sắc trong giai đoạn chuyển biến đặc biệt của xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, với những nhà tư tưởng lớn, đại diện tiêu biểu nhất là Phan Bội Châu (1867 – 1940), ông là hiện thân của sự kết hợp chặt chẽ và hài hòa giữa phương diện chính trị và phương diện văn hóa trong phạm vi một nhà yêu nước
Phan Bội Châu – với tất cả con người, cuộc đời và sự nghiệp cứu nước,
Cụ để lại một di sản trước tác đồ sộ Thơ văn, quá trình hoạt động cách mạng bền bỉ của Cụ đã trở thành vũ khí thức tỉnh đồng bào, tiếp lửa yêu nước, gợi lên khí phách anh hùng, kết tội thực dân lang sói Phan Bội Châu được coi là người
có tư tưởng tiến bộ nhất trong số các trí thức Nho học, phân hóa từ giai cấp phong kiến, ý thức được trách nhiệm lịch sử, nổ lực không ngừng vươn lên
Trang 8nhằm đáp ứng nhu cầu của thời đại, tìm đến một phương thức cách mạng mới, một con đường cứu nước mới vượt ra ngoài khuôn khổ ý thức hệ truyền thống Trước những biến động mạnh mẽ trong cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước, tư tưởng cứu nước của Phan Bội Châu không thể tránh khỏi sự chuyển biến theo từng thời điểm và hoàn cảnh lịch sử, Cụ luôn trăn trở, day dứt trước thời cuộc Cụ dường như không bao giờ ngừng nghĩ trước những diễn biến phức tạp của tình thế cách mạng lúc bấy giờ Vì lẽ đó mà tư tưởng cứu nước của Cụ trải qua nhiều bước thăng trầm với những biến động, chuyển biến rõ nét, lúc ôn hòa, khi quyết liệt, mạnh mẽ nhằm tìm ra hướng đi đúng đắn cho dân tộc mình
Không thể phủ nhận rằng, sự thành công của Đảng ta trong cuộc cách mạng dân tộc – dân chủ là có sự đóng góp to lớn của Phan Bội Châu – một sĩ phu yêu nước từng đấu tranh quên mình vì lý tưởng cao đẹp Những đóng góp to lớn của Phan Bội Châu trong hành trình tìm đường cứu nước đã được Hồ Chí Minh từng đánh giá và khẳng định “bậc anh hùng, vị thiên sứ, đấng xả thân vì độc lập, được hai mươi triệu con người trong vòng nô lệ tôn sùng ” (Hồ Chí Minh, 2000, t.1, tr.172) Bởi vì, Phan Bội Châu , cái tên đã chiếu sáng một phần
tư tưởng thế kỷ XX, cùng với cuộc đời hoạt động cách mạng vẻ vang và những tác phẩm thơ văn đầy tâm huyết của Cụ đã vang vọng khắp non sông, cất lên như một hồi kèn giục giã một thế hệ đứng lên chống giặc cứu nước Là một chiến sĩ cách mạng, là lãnh tụ một thế hệ bôn ba hải ngoại tìm đường cứu nước, Phan Bội Châu đã sớm thấy đường lối cứu nước và tiến lên Chủ nghĩa xã hội của Đảng ta là đúng đắn và đã ủng hộ đường lối ấy ngay từ đầu Bên cạnh đó, Phan Bội Châu cũng là một nhà văn hóa lớn mà tầm vóc làm đầy đặn những thập kỷ đầu thế kỷ XX trên lịch sử văn hóa nước nhà
Trong giai đoạn hiện nay, đất nước ta đang trong giai đoạn hội nhập thế giới, nhiều cơ hội mới mở ra, song song đó là vô vàn nguy cơ đang rình rập Một chút chủ quan, dao động cũng có thể đẩy ta đến nguy cơ lúng túng, mất phương
Trang 9hướng, xa rời tinh thần chủ nghĩa xã hội mà Đảng và Nhà nước đã đề ra Do vậy, những giá trị sâu sắc mà quá trình chuyển biến tư tưởng cứu nước của Phan Bội Châu để lại luôn phát huy sức mạnh tích cực, định hướng từng bước đi đúng, vững lòng tin bước tiếp con đường xã hội chủ nghĩa, không nao núng trước những biến đổi và nguy cơ đang rình rập Có được lòng tin vững vàng ấy đều xuất phát từ sức mạnh tinh thần mà Phan Bội Châu đã truyền lại thông qua sự hy sinh cao cả, tinh thần đấu tranh quên mình thể hiện trong từng bước chuyển tư tưởng cứu nước của Cụ
Ngày nay, đất nước Việt Nam không những cần có độc lập dân tộc, mà phải giàu mạnh, có dân chủ và văn minh Chính yêu cầu đó của lịch sử đã khẳng định vai trò quan trọng của phong trào duy tân đổi mới và cải cách đã từng được Phan Bội Châu ấp ủ và khởi xướng Những nội dung cơ bản của quá trình chuyển biến tư tưởng cứu của Phan Bội Châu đặc biệt là những quan điểm về duy tân đất nước, về mô hình nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa là một đóng góp to lớn không những cho phong trào đổi mới và cải cách mà cả cho sự phát triển Việt Nam giai đoạn hội nhập, đầy thách thức như hiện nay
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Là một nhà yêu nước, nhà văn hóa lớn, do vậy tư tưởng Phan Bội Châu là
đề tài nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước với khối lượng lớn, đa dạng nhiều lĩnh vực khác nhau Trong tổng thể tư tưởng Phan Bội Châu, xoay quanh vấn đề mà đề tài nghiên cứu, thì tư tưởng cứu nước của ông cũng là một trong những chủ đề thu hút sự đầu tư, dày công nghiên cứu của các nhà khoa học Điểm qua những công trình này có thể phân loại như sau:
Hướng thứ nhất tập trung đi vào nghiên cứu cuộc đời, sự nghiệp cứu nước của Phan Bội Châu Nghiên cứu về cuộc đời, sự nghiệp của Phan Bội
Châu có rất nhiều tác giả, dành nhiều bút lực khai thác khía cạnh này, tiêu biểu
có: Phan Bội Châu và một số giai đoạn lịch sử chống Pháp của nhân dân Việt
Trang 10Nam do Tôn Quang Phiệt biên soạn, Nxb Văn hóa ấn hành năm 1958 Tác giả đã
phân tích cuộc đời hoạt động cách mạng của Phan Bội Châu, từ đó khẳng định địa vị của Phan Bội Châu trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân
dân Việt Nam; Phan Bội Châu con người và sự nghiệp cứu nước, Luận án Tiến
sĩ Sử học của Chương Thâu, bảo vệ năm 1981 tại Viện Sử học Tác giả đã đi sâu tìm hiểu tư tưởng của Phan Bội Châu trên các lĩnh vực như vấn đề giải phóng dân tộc, về thế giới quan, quân sự, đạo đức, kinh tế và rút ra bài học lịch sử từ
sự nghiệp cứu nước của Phan Bội Châu để lại cho cách mạng Việt Nam; Phan Bội Châu, con người và sự nghiệp, do tập thể tác giả Đinh Xuân Lâm, Nguyễn
Văn Khánh, Trần Ngọc Vương, Trần Kim Đỉnh biên soạn, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội ấn hành năm 1997 Cuốn sách tập hợp các bài viết giới thiệu về cuộc đời hoạt động cứu nước, chỉ rõ những đóng góp về văn hóa và tư tưởng, cung cấp một số tư liệu mới về Phan Bội Châu Đây còn là công trình tập hợp các báo cáo khoa học trong Hội nghị khoa học kỷ niệm 130 năm ngày sinh của Phan Bội Châu Công trình tập trung vào ba chủ đề chính: một là, hoạt động cứu nước của Phan Bội Châu; hai là, những đóng góp về văn hóa, tư tưởng của Phan Bội Châu; và ba là, một số tư liệu mới về Phan Bội Châu Trong đó, các tham luận đã tập trung nghiên cứu những điểm quan trọng trong cuộc đời, sự nghiệp của Phan Bội Châu, đồng thời cho thấy tầm ảnh hưởng
to lớn của Phan Bội Châu đối với thế hệ thanh niên yêu nước đương thời Các bài báo cáo đã chỉ ra tinh thần đổi mới, ý thức duy tân khá đặc sắc trong cuộc đời hoạt động cách mạng của nhà yêu nước Phan Bội Châu
Cùng chủ đề nghiên cứu về cuộc đời, sự nghiệp của Phan Bội Châu còn
có tác phẩm Nghiên cứu Phan Bội Châu của Chương Thâu (chủ biên), Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, xuất bản năm 2004 Cuốn sách là tập hợp hầu hết những chuyên khảo nổi bật viết về đề tài Phan Bội Châu trong gần 50 năm Nội dung tác phẩm được chia làm ba phần: Phần 1: “Thân thế và sự nghiệp cứu nước
Trang 11của Phan Bội Châu”; Phần 2: “Giới thiệu một số tác phẩm của Phan Bội Châu”; Phần 3: “Một số bài chuyên khảo về Phan Bội Châu”; là tập hợp những bài viết, bài trao đổi ý kiến tâm huyết của tác giả qua nhiều mặt như cuộc đời, sự nghiệp,
tư tưởng của Phan Bội Châu Tiếp theo sau cuốn sách trên còn có tác phẩm Phan
Bội Châu về tác gia và tác phẩm của Chương Thâu và Trần Ngọc Vương, Nxb
Giáo dục, Hà Nội, xuất bản năm 2007 Công trình là tập hợp 60 chuyên khảo của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, thông qua đó, các nhà khoa học đã có những đánh giá sâu sắc về tư tưởng của Phan Bội Châu nói chung, đồng thời nêu cao tình yêu nước, khát khao tìm ra con đường cứu nước đúng đắn, giải phóng dân tộc của nhà cách mạng đáng kính Phan Bội Châu
Tiếp đến, tác phẩm Phan Bội Châu – Nhà yêu nước, nhà văn hóa do
PSG.TS Chương Thâu biên soạn, Nxb Văn hóa Thông tin phát hành năm 2012 Tác giả đã khái quát các thời kỳ hoạt động cách mạng, chỉ rõ nội dung tư tưởng chính trị, tư tưởng triết học và giá trị của di sản tư tưởng Phan Bội Châu; Cùng
thời điểm còn có tác phẩm Phong trào yêu nước cách mạng đầu thế kỷ XX nhân vật và sự kiện do GS Đinh Xuân Lâm, PGS.TS Chương Thâu chủ biên, Nxb
Lao động ấn hành năm 2012 Cuốn sách đã giới thiệu nhiều bài viết tập trung phân tích vào những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động cứu nước của Phan Bội
Châu; Hay tác phẩm Tư tưởng Phan Bội Châu về con người do PGS.TS Doãn
Chính, TS Cao Xuân Long viết, Nxb Chính trị quốc gia, phát hành năm 2013 Hai tác giả đã phân tích những điều kiện, tiền đề, quá trình hình thành, nội dung chủ yếu, giá trị, hạn chế và ý nghĩa lịch sử của tử tưởng Phan Bội Châu về con người thông qua đó thể hiện lòng nhiệt thành cách mạng, tình yêu nước thiết tha của Phan Bội Châu trong bối cảnh xã hội đương thời
Nhìn chung, qua những công trình nghiên cứu về Phan Bội Châu xoay quanh vấn đề con người và sự nghiệp, các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đã trình bày khá bao quát về thân thế, cuộc đời, sự nghiệp của ông, trong
Trang 12bối cảnh đặc biệt của lịch sử - xã hội thế giới và Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, thông qua đó giúp chúng ta có cái nhìn bao quát về năng lực
và nhân cách đáng quý của nhà chí sĩ Phan Bội Châu, cũng như cảm nhận được nổi khát khao tìm ra hướng đi đúng đắn mang lại hòa bình tự do cho dân tộc luôn thôi thúc, cháy bỏng trong tâm hồn nhà chí sĩ cách mạng Phan Bội Châu, đó là một nhân tố quan trọng góp phần hình thành nên những chuyển biến trong tư tưởng cứu nước của Phan Bội Châu Tuy nhiên, các công trình trên chưa tập trung trình bày, lý giải một cách hệ thống những đặc điểm về cuộc đời, thân thế, sự nghiệp của Phan Bội Châu đã ảnh hưởng, ghi dấu ấn đến quá trình hình thành và nội dung những chuyển biến trong tư tưởng cứu nước của Cụ Đây là vấn đề mà luận văn sẽ tiếp tục kế thừa, phát triển và làm
rõ trong công trình nghiên cứu của mình
Hướng thứ hai, đó là các công trình nghiên cứu về bối cảnh lịch sử, điều kiện, tiền đề hình thành bước chuyển tư tưởng của Phan Bội Châu trong hành trình tìm đường cứu nước Ở khía cạnh này, có một số công trình
nghiên cứu nổi bật như: Tác phẩm Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh của Tôn
Quang Phiệt, Ban nghiên cứu Văn – Sử - Địa, xuất bản năm 1956 Trong tác phẩm này, nổi bật có nội dung “Nhận định của Phan Bội Châu trong lịch sử chống Pháp”, ở nội dung này, tác giả đã đưa ra cái nhìn khái quát nhất của Phan Bội Châu về tình hình cụ thể ở Việt Nam trong điều kiện là một nước thuộc địa nữa phong kiến, từ đó bước đầu chỉ ra quan điểm chính trị của Phan Bội Châu trong hành trình tìm đường cứu nước
Cùng nghiên cứu về bối cảnh lịch sử xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX
đầu thế kỷ XX, công trình Phan Bội Châu và xã hội Việt Nam ở thời đại của ông
của tác giả G.Boudarel, Nxb.Văn hóa – Thông tin, Hà Nội, xuất bản năm 1997,
do Chương Thâu và Hồ Song dịch Thông qua tác phẩm này, đặc điểm của xã hội Việt Nam trong bối cảnh lịch sử của khu vực Đông Nam Á và thế giới được
Trang 13tác giả đào sâu nghiên cứu, đặc biệt ở các mặt kinh tế, chính trị, xã hội Thông qua đó, G.Boudarel đã làm nổi bật lên quá trình chuyển biến tư tưởng Việt Nam,
từ quân chủ sang dân chủ, cho thấy sự vận động, biến đổi của thực tiễn cách mạng Việt Nam Cũng thông qua công trình này, tác giả đã bàn luận về mục đích cuối cùng của cách mạng và phương pháp để đạt tới mục đích đó bằng cách so sánh sự giống nhau và khác nhau trong phương pháp tiến hành cách mạng của Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh Đồng thời, cho thấy mối quan hệ giữa hai xu hướng bạo động và cải lương, khẳng định tính tất yếu của xu hướng bạo động đối với Việt Nam trong tình thế là một nước thuộc địa nửa phong kiến
Tập trung vào khía cạnh này, nổi bật còn có tác phẩm Tư tưởng cải cách ở Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX của Lê Thị Lan, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội,
xuất bản năm 2002 Nội dung cuốn sách đi sâu phân tích điều kiện ra đời tư tưởng cải cách ở Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX, từ đó nêu bật lên những nội dung và ảnh hưởng của tư tưởng cải cách ở Việt Nam giai đoạn này, đồng thời chỉ ra nguyên nhân các tư tưởng cải cách ở Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX không được thực hiện và ý nghĩa của các tư tưởng ấy Thông qua đó, tiền đề tư tưởng ảnh hưởng đến quá trình hình thành, phát triển và nội dung tư tưởng duy tân của Phan Bội Châu được tác phẩm làm sáng tỏ Cùng với chủ đề này, nhưng
ở bình diện và nội dung rộng hơn là đề tài khoa học công nghệ cấp Bộ: Tư tưởng Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX qua một số chân dung tiêu biểu (Mã số:
B2004 – 18b – 06 do PGS.TS Vũ Văn Gàu làm chủ nhiệm Nội dung cơ bản của công trình nghiên cứu này đề cập và làm rõ tiền đề xuất hiện cũng như nội dung, đặc điểm và bài học lịch sử của tư tưởng yêu nước Việt Nam giai đoạn cuối thế
kỷ XIX đầu thề kỷ XX thông qua một số nhà tưởng tiêu biểu như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn An Ninh…
Cùng chủ đề nghiên cứu này còn có cuốn Tư tưởng triết học và chính trị Phan Bội Châu của Nguyễn Văn Hòa, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, xuất bản
Trang 14năm 2006 Nội dung tác phẩm tập trung làm rõ ba vấn đề trọng yếu: một là, điều kiện hình thành và phát triển tư tưởng triết học và chính trị của Phan Bội Châu; hai là, tư tưởng triết học của Phan Bội Châu; ba là, tư tưởng chính trị của Phan Bội Châu Đặc biệt ở nội dung thứ nhất, tác giả đã đầu tư nghiên cứu về các điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội trong và ngoài nước đã tác động trực tiếp đến tư tưởng cứu nước của Phan Bội Châu
Tiếp theo là tác phẩm Đại cương lịch sử Việt Nam của các tác giả Trương
Hữu Quýnh, Đinh Xuân Lâm, Lê Mậu Hãn (chủ biên), Nxb Giáo dục, Hà Nội,
xuất bản năm 2010 Trong giới hạn nội dung tác phẩm, nổi lên phần Lịch sử Việt Nam 1858 – 1945 Cụ thể, phần hai, chương IV và chương V của công trình này,
các tác giả đã trình bày một cách khá hệ thống điều kiện lịch sử, kinh tế, chính trị
- xã hội và văn hóa Việt Nam giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, từ đó có cái nhìn khá bao quát bối cảnh lịch sử tác động đến sự hình thành tư tưởng cứu nước của bậc sĩ phu yêu nước giai đoạn này trong đó có Phan Bội Châu Đặc biệt, ở mục II, các tác giả đã chỉ ra khuynh hướng chính trị và tư tưởng cứu nước của Phan Bội Châu, nổi bật là xu hướng bạo động – từ Duy Tân hội đến phong trào Đông du, từ những hoạt động yêu nước đầu tiên, đến việc thành lập Duy tân hội (năm 1904) và phong trào Đông du (năm 1905)
Về cơ bản, các công trình nghiên cứu ở khía cạnh này đã khai thác các góc độ khác nhau về đặc điểm, yêu cầu của tình hình lịch sử - xã hội thế giới
và Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX với quá trình hình thành tư tưởng cứu nước của Phan Bội Châu; về tiền đề lý luận mà Phan Bội Châu kế thừa, tiếp thu; về những tư tưởng tiến bộ bước đầu nảy sinh trong quan điểm của Phan Bội Châu về duy tân đất nước và cách mạng giải phóng dân tộc, làm nền tảng cho những bước chuyển trong tư tưởng cứu nước của Phan Bội Châu
về sau này Tuy nhiên những công trình nghiên cứu nói trên mới chỉ chủ yếu tập trung nghiên cứu về điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội Việt Nam và thế
Trang 15giới giai đoạn Phan Bội Châu sống và hoạt động cách mạng, mà chưa thật sự
đi sâu phân tích, chỉ ra Phan Bội Châu đã tiếp thu, kế thừa những tiền đề lý luận trước đó cũng như sự tác động của hoàn cảnh kinh tế, chính trị - xã hội đương thời đến sự hình thành quá trình biến đổi trong tư tưởng cứu nước của Phan Bội Châu Đây chính là một trong những vấn đề trọng tâm mà luận văn tập trung trình bày, lý giải và làm rõ
Hướng thứ ba, đó là các công trình nghiên cứu, phân tích, nhận định, đánh giá về tư tưởng Phan Bội Châu nói chung, đặc biệt là những nhận định, đánh giá về giá trị và hạn chế của những chuyển biến trong tư tưởng cứu nước của Phan Bội Châu nói riêng
Trước hết, ở góc độ này phải kể đến công trình Sự phát triển của tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XIX đến cách mạng tháng Tám”, tập I, II, III, Nxb Chính trị
quốc gia Hà Nội, 1996, của Giáo sư Trần Văn Giàu Đây được xem là một công trình nghiên cứu đồ sộ, trong đó làm rõ quá trình chuyển biến của ba hệ tư tưởng nối tiếp, xen kẽ và đấu tranh với nhau, đó là ý thức hệ phong kiến, tư sản và vô sản; Các công trình nghiên cứu về tư tưởng Phan Bội Châu đã thể hiện quá trình chuyển biến tư tưởng của Phan Bội Châu dần dần thay đổi theo từng bước đường hoạt động cách mạng của ông Đáng chú ý là nội dung chương hai, trong
tập 2 của công trình này, với tiêu đề Phan Bội Châu – nhà tư tưởng tiêu biểu ở đầu thế kỷ XX, tác giả đã trình bày, đánh giá khá khái quát mà sâu sắc những nội
dung tư tưởng chính trị của Phan Bội Châu, qua đó nêu bật lên những quan điểm tiến bộ trong tư tưởng cứu nước của Cụ
Đặc biệt sự chuyển biến tư tưởng của Phan Bội Châu thể hiện rõ nét
sau khi tiếp nhận cội nguồn tư tưởng phương Tây qua: “Tân thư”, “Tân văn”,
do vậy xuất hiện một số công trình nghiên cứu tư tưởng Phan Bội Châu trong
khía cạnh này tiêu biểu có: Tân thư và xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX do Đinh Xuân Lâm chủ biên, NXb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
Trang 161997; Ảnh hưởng của “Tân thư” trong tư tưởng của Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh của Lê Sỹ Thắng , Tạp chí Triết học số 12, 1997 Hay Bước chuyển tư tưởng Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Nxb Chính trị quốc
gia Hà Nội, 2005 của tập thể tác giả, do PGS.TS Trương Văn Chung và PGS.TS Doãn Chính (đồng chủ biên) Công trình đã vạch ra những tiền đề của bước chuyển, nội dung quan điểm của các nhà tư tưởng như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn An Ninh để lý giải bước chuyển tư tưởng
Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX; Sự chuyển biến trong tư tưởng chính thể của Phan Bội Châu trước năm 1917, Luận văn Thạc sĩ triết học của
Nguyễn Vinh Phú, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học quốc gia Hà Nội, năm 2006 Tác giả đã tập trung phân tích, đánh giá về những nhân tố hình thành và làm rõ sự chuyển biến trong tư tưởng Phan Bội Châu về chính thể nhà nước giai đoạn trước năm 1917
Cùng chủ đề này phải kể đến tác phẩm Quá trình chuyển biến tư tưởng chính trị Việt Nam cuối thế kẻ XIX đầu thế kỷ XX qua các nhân vật tiêu biểu
của các tác giả Doãn Chính và Phạm Đào Thịnh, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, xuất bản năm 2007 Một số vấn đề chính được tác phẩm tập trung làm sáng rõ như: Tiền đề hình thành quá trình chuyển biến tư tưởng chính trị Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX; Nội dung và đặc điểm tư tưởng chính trị Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX thông qua các nhân vật tiêu biểu như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn An Ninh; Xuất phát từ nội dung và đặc điểm ấy, tác phẩm bước đầu rút ra những giá trị lịch sử của bước chuyển tư tưởng Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đối với công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay Đặc biệt trong phần Phan Bội Châu với bước chuyển từ tư tưởng quân chủ sang dân chủ tư sản, ở nội dung này các tác giả
đã trình bày một cách tổng hợp nội dung tư tưởng của Phan Bội Châu, bao gồm triết học, chính trị, đạo đức, kinh tế, văn hóa, trong đó tư tưởng chính trị
Trang 17là bộ phận được Phan Bội Châu đặt nhiều tâm huyết với bước chuyển từ tính chất quân chủ sang tính dân chủ, từ Duy tân hội và phong trào Đông du đến Quang phục hội, trên nền tảng của chủ nghĩa yêu nước
Tiếp đến là bài viết về Sự chuyển biến tư tưởng của Phan Bội Châu từ bạo động cách mạng sang đấu tranh ôn hòa của tác giả Đỗ Minh Tứ và Hoàng Thị
Thu Huyền đăng trên tạp chí triết học năm 2011 Bài viết đã phân tích những điều kiện ảnh hưởng đến bước chuyển tư tưởng của Phan Bội Châu từ bạo động cách mạng sang đấu tranh ôn hòa, một số biểu hiện cụ thể của đường lối ôn hòa trong tư tưởng Phan Bội Châu
Nhìn chung, khi nghiên cứu về Phan Bội Châu, các nhà khoa học đã nghiên cứu một cách tổng thể, bao quát về sự nghiệp hoạt động cách mạng, về những đóng góp to lớn của Phan Bội Châu với tư cách “bậc anh hùng, vị thiên
sứ, đấng xã thân vì độc lập” (Hồ Chí Minh, 2000, t.1, tr.172), các tác giả đã phân tích và đưa ra những nhận định, đánh giá khá sâu sắc khác nhau về đặc điểm, khuynh hướng và ý nghĩa lịch sử to lớn trong tư tưởng của Cụ Tuy nhiên, những nhận định, đánh giá trên thường được các nhà nghiên cứu tập trung vào nội dung tư tưởng của Phan Bội Châu mà chưa đi vào phân tích, nhận định, đánh giá cụ thể về quá trình chuyển biến trong tư tưởng cứu nước của Phan Bội Châu thành một chủ đề riêng biệt Những công trình nghiên cứu này từ các mức độ đậm nhạt khác nhau đều là sự khám phá có sức gợi ý lớn đối với bản thân khi triển khai nội dung nghiên cứu của luận văn Trong chú
ý của mình, luận văn sẽ tập trung đào sâu tìm hiểu quá trình chuyển biến tư tưởng cứu nước Phan Bội Châu trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc
Từ đó rút ra ý nghĩa và bài học lịch sử một cách khái quát và hệ thống, cả về mặt lý luận và thực tiễn, nhất là với thực tiễn xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX cũng như thực tiễn công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo
vệ đất nước hiện nay
Trang 183 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích
Mục đích của luận văn là làm rõ quá trình chuyển biến và thực trạng từng bước chuyển trong tư tưởng cứu nước của Phan Bội Châu Từ đó đánh giá về những giá trị và hạn chế của sự chuyển biến trong tư tưởng cứu nước của Ông trong quá trình cách mạng Việt Nam
3.2 Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích trên, luận văn cần thực hiện những nhiệm vụ như sau: Thứ nhất, phân tích bối cảnh lịch sử trong nước và thế giới cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX và các yếu tố tác động tạo nên quá trình chuyển biến tư tưởng cứu nước của Phan Bội Châu trong hành trình tìm đường cứu nước
Thứ hai, làm rõ nội dung, giá trị và hạn chế của quá trình chuyển biến tư tưởng cứu nước của Phan Bội Châu trong từng giai đoạn cách mạng cụ thể
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn được xây dựng trên cơ sở những nguyên lý khoa học cơ bản của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng về vấn đề nghiên cứu, kế thừa và phát huy các di sản tư tưởng truyền thống trong lịch sử dân tộc
Trong quá trình nghiên cứu và trình bày đề tài, tác giả sử dụng tổng hợp các phương pháp như: sử học, lịch sử và logic, phân tích và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch, so sánh và hệ thống hóa, kết hợp kết quả nghiên cứu trong khoa học lịch sử và triết học
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
5.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần hệ thống hóa và làm rõ tư tưởng cứu nước của Phan Bội Châu Tham gia tích cực vào quá trình nghiên cứu, luận giải sự chuyển biến tư tưởng cứu nước của một giai đoạn lịch sử đầy
Trang 19biến động mà Phan Bội Châu là người tiêu biểu nhất Qua đó làm bật lên những cống hiến của ông đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc và sự chuyển biến tư duy chính trị Việt Nam lúc bấy giờ
5.2 Ý nghĩa thực tiễn
Việc phân tích làm nổi bật quá trình chuyển biến tư tưởng cứu nước của Phan Bội Châu đã làm cho bao thế hệ dân tộc Việt Nam cảm nhận được sự hy sinh cao cả và lòng yêu nước nồng nàn, từ đó khơi dậy lòng yêu nước, tiếp thêm sức mạnh phấn đấu và xây dựng đất nước trong giai đoạn cách mạng mới Đồng thời, ý nghĩa lịch sử rút ra từ việc phân tích quá trình chuyển biến tư tưởng cứu nước của Phan Bội Châu góp phần nâng cao nhận thức và niềm tin của tầng lớp thanh niên Việt Nam hiện nay về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, với tư duy chính trị đúng đắn, đang và sẽ lãnh đạo cách mạng Việt Nam đạt được mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo luận văn gồm 2 chương:
Chương 1: Bối cảnh lịch sử tác động đến quá trình chuyển biến tư tưởng cứu nước của Phan Bội Châu
Chương 2: Nội dung, giá trị và hạn chế của quá trình chuyển biến tư tưởng cứu nước của Phan Bội Châu
Trang 20PHẦN NỘI DUNG Chương 1 BỐI CẢNH LỊCH SỬ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUÁ TRÌNH CHUYỂN BIẾN
TƯ TƯỞNG CỨU NƯỚC CỦA PHAN BỘI CHÂU
1.1 VÀI NÉT VỀ QUÊ HƯƠNG – GIA ĐÌNH – QUAN HỆ XÃ HỘI CỦA PHAN BỘI CHÂU
Ai biết nước sông Lam răng là trong là đục,
Thì biết cuộc đời răng là nhục là vinh
Thuyền em lên thác xuống ghềnh,
Nước non là nghĩa, là tình … ai ơi!
Sinh ra trên mảnh đất ấy – mảnh đất nằm trên tả ngạn sông Lam dọc theo hướng Đông Nam của con đê 42 thuộc huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An Hoan Diễn (Nghệ An) là một góc rừng biển xa xôi đối với kinh đô Thăng Long Nghệ Tĩnh dân nghèo, con người cần kiệm mà hiếu học Cũng có người bảo rằng
“Nghệ Tĩnh là Yên, Triệu của Việt Nam” với hàm ý rằng đất này sản sinh nhiều anh hùng, nhiều bậc kì tài về văn cũng như võ Phan Bội Châu đã được nuôi lớn bởi truyền thống đấu tranh bất khuất và dòng sữa thơm ngọt của quê hương với tất cả cái “cốt tính xứ Nghệ” nhiều ưu điểm mà cũng không khỏi những nhược điểm và hạn chế Gần khu vực quê hương Phan Bội Châu, có đền Mai Hắc Đế, dưới chân núi Đụn, có đền Nguyễn Biểu trên bờ sông Lam Từ núi Vụ Quang bên Hà Tĩnh kéo dài qua dải Đại Ngàn bên Nghệ An, là căn cứ địa mười năm hiển hách của Phan Đình Phùng Cảnh vật Nghệ Tĩnh, từ cổ chí kim, nơi nơi tràn đầy hạo nhiên chính khí Trải qua các triều đại phong kiến, Nghệ An giữ vị trí chiến lược quan trọng Nơi đây từng là địa bàn chiến lược của nhà Trần thời chống Nguyên Mông, là căn cứ địa của Trần Quý Khoáng và của Lê Lợi trong cuộc kháng chiến chống Minh Vốn là vùng đất giàu truyền thống đấu tranh cách
Trang 21mạng, đặc biệt sau khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, phong trào đấu tranh chống Pháp phát triển mạnh mẽ trên vùng quê này và ngày càng lớn mạnh trong thời gian dài Dưới sự lãnh đạo của Nguyễn Xuân Ôn rồi đến Phan Đình Phùng, huyện nào cũng lập quân thứ và tổ chức kháng chiến Ngay trên các cánh đồng
và thôn xóm vùng Sa Nam và Đan Nhiễm, năm 1847, nghĩa quân của Trần Tấn, Đặng Như Mai và sau đó của Trần Xuân, Vương Thúc Mậu cũng từng mấy phen
đọ sức với giặc Pháp Trải qua bao khó khăn, đến lúc Phan Đình Phùng mất, phong trào chống Pháp ở Nghệ An không vì thế mà bị dập tắt Một số người bất chấp, chống Pháp bằng mọi biện pháp: không làm cho Pháp, không học chữ Pháp, không dùng đồ Pháp… Tinh thần yêu nước nhờ thế vẫn sôi sục, kiên trì chống Pháp kéo dài cho đến Cách mạng Tháng Tám
Cùng với lòng yêu nước nồng nàn, chính trong hoàn cảnh nghèo khó đã dạy cho dân xứ Nghệ lối sống tiết kiệm, nhưng trọng danh dự, nặng ân tình, đối với bà con, làng xóm, bạn bè họ lại trọng nghĩa, hào hiệp, rộng rãi, sẵn sàng hy sinh tài sản, tính mệnh nhất là đối với việc bảo vệ quyền lợi quốc gia, dân tộc mình Con người cần cù làm ăn, quyết chí học hành, ân tình sâu đậm, yêu nước nồng nàn… Chính những đức tính cao đẹp ấy đã ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng Phan Bội Châu
Phan Bội Châu sinh ngày 26 tháng 12 năm Đinh Mão (1867) Đây là năm
mà sau khi tạo được bàn đạp ở ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ, quân Pháp bất ngờ dùng vũ lực tấn công ba tỉnh miền Tây Phan Bội Châu trước tên là Phan Văn San Năm 1900 mới lấy tên là Phan Bội Châu, biệt hiệu là Sào Nam (do câu cổ văn: Việt điểu sào nam chi – chim Việt làm tổ cành Nam, tỏ ý luôn luôn hướng
về Tổ quốc) Phan Bội Châu còn có tên hiệu nữa là Thị Hán, ngụ ý là một hảo hán, một đấng nam nhi lỗi lạc ở đời theo lối hào hiệp, ngang tàng như những nhân vật trong tiểu thuyết Thủy Hử của Trung Quốc Khi viết bài luận Pháp Việt
đề huề, Phan Bội Châu lại ký tên Độc Tỉnh Tử, có nghĩa là người đều sai cả, chỉ
Trang 22một người tỉnh như Khuất Nguyên nhà Sở ngày xưa Về sau mới đổi lại là Phan Bội Châu, Bội Châu có nghĩa là đeo ngọc
Thân mẫu Phan Bội Châu là bà Nguyễn Thị Nhàn, quê làng Sa Nam (nay
là thị trấn Nam Đàn), là một bà mẹ Việt Nam rất mực nhân hậu, dòng dõi Nho học Sống trong cảnh nghèo khó, ngày ngày bà phải tất bật chợ sớm chợ trưa nuôi con Bà lại có tính vốn thương người, hay giúp đỡ những kẻ khốn khó Đối với mọi người bà luôn giữ thái độ hòa nhã, không bao giờ nói ai nặng lời Đặc biệt, riêng với Phan Bội Châu bà hết sức chú ý dạy bảo cho những điều hay lẽ phải, truyền dạy những câu ca, câu thơ mà bà có dịp “học mót” được từ các anh của bà Nhờ vậy, chẳng bao lâu, khi lên bốn, lên năm Phan Bội Châu đã có thể
nhớ thuộc lòng được mấy thiên Chu Nam trong Kinh Thi, tức là quyển sách chép
nhiều thơ ca dân gian của Trung Quốc thời xưa Bà mất lúc Phan Bội Châu mới
18 tuổi, nhưng ảnh hưởng tình cảm của bà đối với Phan Bội Châu thật sâu đậm
Sinh ra trên quê mẹ, năm lên ba tuổi, Phan Bội Châu cùng gia đình chuyển về quê nội thuộc làng Đan Nhiễm (nay là xã Xuân Hòa, cùng huyện) sinh sống Ông thuộc dòng dõi “thế nghiệp độc thư, tố thanh hàn” tức là gia đình thuộc nhà nho nghèo đời này qua đời khác nhưng sống thanh bạch, gần gũi với mọi người Thân phụ Phan Bội Châu là Phan Văn Phổ, một người thâm nho, thông hiểu kinh truyện, nhưng không đỗ đạt gì, suốt đời làm nghề dạy học để sinh nhai Gia đình Phan Bội Châu vốn ít anh em, Phan Bội Châu chỉ có hai em gái, tình cảm gia đình vì thế càng thêm khăng khít
Sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống hiếu học, lên 8 tuổi, Phan
Bội Châu đã học xong Tứ thư, Ngũ kinh, đã làm được những bài văn ngắn theo
thể thức đương thời và trong các kỳ “tiểu thí” ở làng hay ở tổng, huyện đều đạt loại ưu và có khi đỗ đầu Năm 13 tuổi, Phan Bội Châu đã biết làm các thứ văn cử
tử như thơ, phú, kinh nghĩa… là những thể văn dùng trong các khoa thi
Trang 23Thời niên thiếu, Phan Bội Châu may mắn được tiếp thu tri thức từ những bậc tiền bối có lòng yêu nước nồng nàn như thầy Đinh Văn Uyển, một người mà sau này tham gia tích cực trong phong trào Cần Vương, bị triều đình phản động kết án tử hình Chính từ người thầy này đã có ảnh hưởng tốt đến tư tưởng yêu nước của Phan Bội Châu Nhưng chịu ảnh hưởng sâu sắc hơn đó là thầy Nguyễn Thúc Kiều, người xã Xuân Liễu Phan Bội Châu được cựu Huấn kiều quý mến, dạy bảo ân cần nên tiến bộ rất nhanh về mặt văn chương Thời gian sau, Phan Bội Châu đến học ở trường cụ Đông Khê Nguyễn Thức Tự thường gọi là cụ Sơn, vì cụ từng làm sơn phòng sứ dưới triều đình Tự Đức Cụ Sơn là người có khí tiết cao, danh vọng lớn, là một mẫu mực điển hình được các sĩ phu thời bấy giờ hết sức hâm mộ Chính người thầy đáng kính này đã có công hướng Phan Bội Châu phối hợp hài hòa cả văn chương lẫn trong tư tưởng yêu nước Về sau,
cụ Sơn đã cho hai người con trai lớn của mình đi theo Phan Bội Châu hoạt động cứu nước là Nguyễn Thức Canh và Nguyễn Thức Đường
Bên cạnh mối quan hệ gắn bó thầy trò, trong quan hệ xã hội của Phan Bội Châu không thể không kể đến những người bạn thân kề vai sát cánh từ thuở thiếu thời Đó là những người bạn đồng hương, đồng song và đồng chí với nhau Những người bạn cùng ông gắn bó từ những buổi học đầu tiên, cũng là những người học giỏi nhất thời đó và được mệnh danh là “Nam Đàn tứ hổ” Ở đây thường được lưu truyền câu vè:
Uyên bác bất như San,
Thông minh bất như Sắc,
Tài hoa bất như Quý,
Cường ký bất như Lương
(Học rộng không ai bằng Phan Văn San,
Thông minh không ai bằng Nguyễn Sinh Sắc,
Tài hoa không ai bằng Vương Thúc Quý,
Trang 24Nhớ dai không ai bằng Trần Văn Lương)
Vượt lên trên tình bạn thông thường, sâu sắc hơn, gắn bó hơn bởi tình
“đồng chí” Cả bốn người đều chung chí hướng, sớm thấy được nỗi đau mất nước nhà tan, dân tộc làm than khổ cực Cả bốn người với mức độ khác nhau nhưng đều nung nấu ý chí chống Pháp Đặc biệt tình bạn giữa Phan Bội Châu và Nguyễn Sinh Sắc (thân sinh chủ tịch Hồ Chí Minh) keo sơn gắn bó Tháng 10 –
1929, khi được tin bạn từ trần ở Sa Đéc, Phan Bội Châu đã có câu đối viếng xót
thương bạn hiền: Trùng tuyền hạ, đối án hàn huyên, cầm sắt hữu thanh giai quốc tháo (Dưới suối vàng, cùng nhau trò chuyện, tình bạn sắc son đều vì việc nước)
Là người có lối sống chan hòa, giản dị, gần gũi, Phan Bội Châu không những có bằng hữu chung đèn chung sách, Phan Bội Châu còn có thêm những người bạn “thanh khí” trong nhóm bình dân lam lũ ở khắp các xóm thôn nghèo khó Phan Bội Châu và họ thường tiếp xúc với nhau qua những buổi hát phường vải, một hình thức sinh hoạt văn nghệ dân gian rất hấp dẫn tuổi trẻ Chính nhờ gắn bó với những người bạn lam lũ, nghèo khó này mà Phan Bội Châu càng thấm thía hơn nổi thống khổ của dân tộc chìm đắm trong cảnh nước mất nhà tan, từ đó hun đúc ý chí căm thù giặc sâu sắc trong Phan Bội Châu ngày càng lớn mạnh
Từ những lý giải trên nhận thấy rằng chính nhờ được sinh ra trong gia đình gia giáo, trên mảnh đất quê hương có truyền thống yêu nước nồng nàn
“Phan Bội Châu sinh ra trên mảnh đất ấy, được nuôi lớn bởi truyền thống đấu tranh bất khuất và dòng sữa ngọt thơm của quê hương với tất cả cái “cốt xứ Nghệ” nhiều ưu điểm mà cũng không khỏi những nhược điểm và hạn chế” (Chương Thâu, 2005, tr.18), cộng với sự giáo dục tận tình của nhà trường, của thầy học, của bạn bè, chịu những tác động từ tình hình thực tế của đất nước, nên
ở Phan Bôi Châu đã bước đầu hình thành tư tưởng yêu nước Tư tưởng này sẽ
Trang 25ngày càng phát triển từ chỗ phôi thai đến hoàn thiện trong quá trình hoạt động của Phan Bội Châu
1.2 BỐI CẢNH LỊCH SỬ CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẦU THẾ KỶ XX TÁC ĐỘNG ĐẾN QUÁ TRÌNH CHUYỂN BIẾN TƯ TƯỞNG CỨU NƯỚC CỦA PHAN BỘI CHÂU
1.2.1 Bối cảnh lịch sử trong nước
Cùng với trào lưu xâm lược thuộc địa của chủ nghĩa tư bản phương Tây, năm 1858 thực dân Pháp bắt đầu tiến hành những bước đầu tiên trong âm mưu xâm chiếm Việt Nam, biến Việt Nam từ đất nước độc lập trở thành một nước thuộc địa nửa phong kiến Dưới tác động của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, tình hình kinh tế, xã hội Việt Nam có nhiều biến đổi:
Về chính trị, một mặt thực dân Pháp thẳng tay đàn áp phong trào cách
mạng của nhân dân ta, vua quan Nam triều trở thành bù nhìn, tay sai cho Pháp Mặt khác, chúng bóp nghẹt tự do, dân chủ, đẩy mạnh âm mưu chia cắt nước ta, hòng xóa tên Việt Nam trên bản đồ thế giới
Về văn hóa, thực dân Pháp liên tục mở ra những trường học mới nhằm
mục đích đào tạo tay sai cho chúng, thi hành triệt để chính sách văn hóa nô dịch
Ở Bắc kỳ, Trung kỳ trong khi phong trào học chữ Hán vẫn còn thịnh hành thì các sách “Tân thư” của Trung Quốc cũng du nhập vào nước ta, truyền bá tư tưởng “phú quốc cường binh của châu Âu” Bên cạnh đó có cả các sách nói về Nhật Bản, Trung Quốc, nhiều sách khác nói về châu Âu, có cả sách dịch của Mông - texkiơ, Rút - xô của Pháp Chính ảnh hưởng của cách mạng Tân Hợi và cuộc duy tân của Nhật hoàng Minh Trị đã có tiếng vang lớn, ảnh hưởng đến các
sĩ phu yêu nước của Việt Nam, làm cho thấy sự cần thiết phải canh tân đất nước theo con đường Trung Quốc và Nhật Bản Hai quốc gia ấy là quốc gia dân chủ
đã mạnh dạn cải cách guồng máy chính quyền, cải cách chính thể tạo ra tiếng vang trên thế giới Sự ảnh hưởng đó đã
Trang 26“thúc đẩy các văn thân nước ta nổi dậy, yêu cầu Chính phủ Pháp cải cách chính trị và nền hành chính qua phong trào Đông Du và phong trào Đông Kinh nghĩa thục” (Doãn Chính, Trương Văn Chung, 2005, tr.78)
Dưới chính sách cai trị của thực dân Pháp, sự phân hóa trong xã hội Việt Nam ngày càng sâu sắc hơn, khoảng cách giữa giai cấp địa chủ phong kiến, giai cấp nông dân, giai cấp tư sản, giai cấp tiểu tư sản, giai cấp nông dân ngày càng
rõ rệt, xa rời và tinh thần đoàn kết vốn có của dân tộc ta từ bao đời nay đã phần nào bị lung lay, dao động dưới chính sách tàn bạo của thực dân pháp Tuy vậy, trong số đó một bộ phận không nhỏ tiểu trung địa chủ, nông dân và công nhân không chịu nỗi nhục mất nước, tiếp thu tinh hoa văn hóa tiên tiến các nước nên
đã không ngừng đứng lên mạnh mẽ, tham gia đấu tranh chống thực dân và bọn phản động tay sai
Nhân dân ta tuy đã
“bị quật xuống dưới quyền thống trị… Nhưng chưa phải đã thấm nhuần tính chất vĩnh viễn của nền đô hộ Pháp….sẵn sàng nắm lấy một thời cơ thuận lợi… để lật nhào cái gánh nặng trên cổ ấy” (Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Văn Huyên, Đặng Hữu Toàn, 1997, tr.16)
Chính vì vậy mà dẫn đến nhiều phong trào yêu nước, đấu tranh chống Pháp nổi lên theo nhiều khuynh hướng khác nhau
“Một trong những thay đổi lớn nhất đó là sự tách bạch giữa tư tưởng trung quân ái quốc Điều đó đã làm cho các phong trào yêu nước Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX xuất hiện với tính chất và màu sắc khác nhau hết sức phong phú” (Đổng Trọng Chi, 1968, tr.21)
Tuy nhiên, hầu hết các cuộc đấu tranh trong giai đoạn này đều đi dần vào thất bại, sự thất bại ấy đặt ra cho những nhà cách mạng Việt Nam phải nhận thức lại một cách toàn diện về con đường đấu tranh vì nền độc lập tự do của dân tộc, trước một tên đế quốc sừng sỏ là Pháp Chính trong quá trình đó,
Trang 27đã xuất hiện một số nỗ lực tìm hướng đi mới cho phong trào yêu nước Chẳng hạn như:
Xu hướng cải cách, canh tân, đổi mới đất nước cuối thế kỷ XIX
Ngay trong lúc chính sự đang rối ren, nhiều thách thức do chính sách bảo thủ, lạc hậu, thủ cựu, thậm chí là phản động của nhà Nguyễn Chính sự không nhạy bén trước sự đổi thay nhanh chóng của thế giới, nhà Nguyễn đã
tự suy yếu chính mình, ngày càng lún sâu vào con đường thất bại cầu hòa và bất lực trước nhiệm vụ lịch sử là bảo vệ chủ quyền đất nước Tuy nhiên, ngay
từ những năm 60 của thế kỷ XIX, sự thành công của Nhật Bản trong quá trình đổi mới, duy tân đất nước trở thành bài học, hình mẫu lý tưởng đối với các nước trong khu vực như Thái Lan, Trung Quốc… trên con đường khôi phục sức mạnh đất nước, ra sức bảo vệ nền độc lập dân tộc Nằm trong quỹ đạo đó, Việt Nam xuất hiện những đề nghị cải cách nhằm nâng cao sức mạnh nội lực, bảo vệ chủ quyền của các nhân sĩ, quan lại thức thời được đệ trình lên triều đình Đây chính là xu hướng mới trong lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam Các kiến nghị dù mang tính chất tương đối hệ thống như trong các điều trần của Nguyễn Trường Tộ, Đặng Huy Trứ, Nguyễn Lộ Trạch hay lẻ tẻ, rải rác trong các kiến nghị của Nguyễn Tư Giản, Trần Đình Túc, Phạm Phú Thứ…song có thể tựu trung thành các nhóm vấn đề chính như: Cải cách về giáo dục, chú trọng việc học hỏi khoa học kỹ thuật theo mô hình giáo dục các nước phương Tây Về kinh tế, khuyến khích phát triển thương mại và tiểu thủ công nghiệp Về quân sự, huấn luyện chiến thuật, trang bị vũ khí hiện đại, có chính sách đãi ngộ hợp lý với binh sĩ Về chính trị, củng cố năng lực quản lý đất nước, ổn định lòng dân và từ bỏ chính sách “bế quan tỏa cảng”,
mở cửa thông thương, tranh thủ sự ủng hộ của nước ngoài, từ đó củng cố được chính quyền
Trang 28Mặc dù các tư tưởng cải cách nửa cuối thế kỷ XIX không đem lại một thay đổi đáng kể nào đối với thực tiễn xã hội Việt Nam khi đó, song không thể phủ nhận vai trò của chúng trong lịch sử dân tộc Nó “chứng tỏ năng lực tư duy của người Việt trước các vấn đề mới mẻ của thời đại” (Vũ Dương Ninh,
2007, tr.323), một trong “những kiểu phản ứng của người Việt Nam trước sự xâm lược của nước ngoài”, một sự phản ứng đầy chất trí tuệ Những đề nghị cải cách trên đã thể hiện một sự đổi mới tư duy nhằm đáp ứng yêu cầu lịch sử đặt ra vì sự tồn vong của chính dân tộc Việt Nam
“Sự xuất hiện của các tư tưởng cải cách này là sự đột phá đầu tiên trong đời sống tinh thần của xã hội phong kiến, nhưng lại không có một lực lượng vật chất xã hội nào ủng hộ, thậm chí còn vấp phải sự phản kháng quyết liệt từ phía phe thủ cựu trong triều đình nhà Nguyễn, cho nên việc thất bại là điều khó tránh khỏi” (Vũ Dương Ninh, 2007, tr.319)
Chính nhờ các tư tưởng canh tân này đã bước đầu thức tỉnh tầng lớp trí thức Việt Nam hướng tới các giá trị mới Từ những viên gạch mới mẻ đầu tiên này, cộng với làn sóng văn minh phương Tây tràn vào, các nhân sĩ trí thức Việt như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn Thượng Hiền dần dần tiếp nhận ảnh hưởng của một nền văn hóa mới với những giá trị mới khác với truyền thống, để từ đó mở ra một hướng đi mới, đầy hứa hẹn cho phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở thời kỳ sau
Xu hướng cải cách mang tính chất dân chủ tư sản đầu thế kỷ XX
Những năm cuối thế kỷ XIX sang đầu thế kỷ XX, luồng tư tưởng tư sản phương Tây đã được đưa vào Việt Nam theo hai con đường Trung Quốc và Nhật Bản Giai đoạn này, “Tân thư” được ví như là chất men kích thích, có tác dụng giải tỏa những ràng buộc cũ trong suy nghĩ và hành động, hâm nóng thêm bầu máu của những người yêu nước thức thời để bước vào thời kỳ mới Trong số luồng tư tưởng “Tân thư” đó, nổi bật phải kể đến Phan Bội Châu và
Trang 29Phan Châu Trinh Điều đáng chú ý ở hai ông chính là cùng chịu ảnh hưởng của luồng tư tưởng tư sản, nhưng theo hai xu hướng trái ngược nhau (Phan Bội Châu chủ trương bạo động, đoàn kết nhân dân, đánh Pháp rồi tiến hành canh tân đất nước; Phan Chu Trinh theo đường lối cải lương, đoàn kết nhân dân tiến hành canh tân đất nước, dựa vào Pháp để đánh đổ phong kiến, noi gương phương Tây, khi nào có thực lực thì ép Pháp trao trả lại nền độc lập cho dân tộc), cùng song song tồn tại và phát triển trong cùng một thời kỳ, cả hai xu hướng đã có sự phối hợp, bổ túc cho nhau, đã làm dấy lên một cao trào yêu nước vô cùng đặc sắc, để lại dấu ấn không thể phai mờ trên vũ đài chính trị Việt Nam hồi đầu thế kỷ XX như phong trào Đông Du, Đông Kinh nghĩa thục, phong trào đấu tranh chống thuế ở Trung kỳ…
Xét về mặt lịch sử, những xu hướng cải cách đầu thế kỷ XX là sự tiếp nối và phát triển của xu hướng cải cách mới được đặt ra trong nửa cuối thế
kỷ trước
“Mặc dù thất bại nhưng các xu hướng cải cách yêu nước mang tính chất dân chủ tư sản đầu thế kỷ XX đã có vị trí và ý nghĩa hết sức to lớn trong phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc ở thời kỳ này nói riêng và với lịch
sử dân tộc nói chung” (Vũ Dương Ninh, 2007, tr.341)
Nó là một sự chứng thực rằng con đường cách mạng theo đường lối dân chủ tư sản, mặc dù đã có tính chất của thời đại, tiến bộ hơn kiểu khởi nghĩa vũ trang phong kiến, vẫn không đáp ứng được mâu thuẫn cơ bản của toàn thể dân tộc Việt Nam đối với đế quốc Pháp Tuy nhiên, đây chính là tiền đề để các nhà cách mạng Việt Nam về sau rút kinh nghiệm, tìm ra con đường cứu nước đúng đắn nhất, đáp ứng nhu cầu cách mạng trong điều kiện mới
1.2.2 Bối cảnh lịch sử ngoài nước
Cuối thế kỷ XIX, trước sự tàn bạo của chủ nghĩa đế quốc, mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa với chủ nghĩa thực dân ngày càng gay gắt, phong
Trang 30trào đấu tranh giải phóng dân tộc diễn ra sôi nổi ở các nước thuộc địa Ở một
số quốc gia như Philippin, Inđônêxia, Campuchia đã dễ dàng chấp nhận ách chiếm đóng của thực dân phương Tây Số đông quốc gia khác kiên quyết chống lại cuộc xâm lược của chủ nghĩa tư bản phương Tây bằng biện pháp kháng chiến, đây là phương thức đấu tranh được sự ủng hộ mạnh mẽ của đông đảo quần chúng Tuy kháng chiến quyết liệt, anh dũng song cuối cùng các dân tộc Đông Á đều đi vào thất bại trước sự tàn bạo cùng hàng loạt vũ khí tối tân hiện đại của đế quốc phương Tây Điều đó chứng tỏ trong bối cảnh thế kỷ XIX, phương thức kháng chiến theo kiểu truyền thống không phải là sự lựa chọn phù hợp để đối phó với chủ nghĩa thực dân Phương Tây Thấy được hạn chế đó, một số quốc gia khác đã tiến hành cải cách, duy tân theo mô hình phát triển phương Tây Đây là một phương thức đặc biệt được lựa chọn không những để ứng phó với nguy cơ xâm lược của chủ nghĩa tư bản phương Tây
mà còn giúp cho các dân tộc ở Đông Á thay đổi mô hình và quỹ đạo phát triển, tự giải thoát khỏi sự trì trệ và bế tắc của lịch sử Ở Việt Nam, ủng hộ đường lối này tiêu biểu có một số nhà cách mạng lỗi lạc như Nguyễn Trường
Tộ, Phạm Phú Thứ, Nguyễn Lộ Trạch, sau là có phong trào Duy tân của các lãnh tụ như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh,… Các phong trào này dù diễn ra sôi nổi nhưng vẫn chưa vượt qua được những khó khăn và thách thức của thời đại, và rồi cũng dần thất bại do vấp phải sự chống đối quyết liệt từ phía các lực lượng thủ cựu, song đã thể hiện được mục đích cứu nguy dân tộc, giải trừ tai ách bị nô dịch bởi chủ nghĩa thực dân phương Tây
Đầu thế kỷ XX, sự thắng lợi của Nhật Bản trên hành trình đấu tranh giải phóng dân tộc đã thức tỉnh phong trào cách mạng ở các nước phương Đông “Tấm gương của Nhật Bản thực sự đã có sức thu hút mạnh mẽ đối với suy nghĩ của các sĩ phu yêu nước, tiến bộ lúc bấy giờ” (Trần Thị Hạnh, 2012, tr.22) Họ
Trang 31“không chú ý mấy đến việc rất cơ bản là Nhật chiếm Lưu cầu, Đài Loan, sát nhập Triều Tiên, tỏ ra là một đế quốc có tham vọng đất đai lớn, mà chú ý nhiều đến việc một cường quốc da vàng đánh bại một cường quốc da trắng và như thế đáng làm anh cả, làm đầu đàn cho Á châu vùng dậy” (Trần Văn Giàu, 1975, tr.22)
Lúc này xuất hiện
“một khuynh hướng mong chờ Nhật Bản giúp đỡ đã xảy ra và phát triển trong hầu khắp phong trào đấu tranh giải phóng của Trung Quốc, Triều Tiên, Ấn
Độ, Mianma, Thái Lan, Philippin và Việt Nam” (Đinh Xuân Lâm, Chương Thâu, Phạm Xanh, 2005, tr.270)
Sự kiện đó tác động rất lớn đến hướng đi cứu nước của Phan Bội Châu:
“Trận Nga – Nhật chiến tranh mà Nhật đại thắng thật có chỗ hay cho chúng tôi rất lớn Trong óc chúng tôi đến đây có một thế giới mới lạ mở ra” (Phan Bội Châu, 2000, t.3, tr.371) Các nhà tư tưởng Việt Nam đầu thế kỷ XX “đã coi Nhật Bản như một tấm gương của các dân tộc Châu Á đã tự tìm con đường để độc lập, phú cường, đứng ngang hàng với phương Tây” (Trần Thị Hạnh, 2012, tr.47) Vì
lẽ đó mà Phan Bội Châu đã tổ chức ra phong trào Đông Du nhằm cầu sự viện trợ, giúp đỡ của người Nhật để đánh đuổi sự xâm lăng của Pháp, giành lại nền độc lập cho dân tộc
Sau ảnh hưởng từ Nhật Bản, đến năm 1911, cách mạng Tân Hợi Trung Quốc cũng tác động mạnh mẽ đến tư tưởng của các nhà nho yêu nước Việt Nam lúc bấy giờ, trong đó có Phan Bội Châu
“Vụ Mậu Tuất chính biến 1898 đó đã ảnh hưởng đến các nhà Nho yêu nước và tiến bộ ở Việt Nam và từ đó nhà Nho Việt Nam rủ nhau đi nếm mùi
“Tân thư”, “tân văn” và tư tưởng tư sản Tây phương qua sách báo Trung Quốc đặt biệt là những tác phẩm của Lương Khải Siêu” (Trần Văn Giàu, 1975, tr.24)
Trang 32Sự thắng lợi của cách mạng Tân Hợi (1911) với sự ra đời của nhà nước Trung Hoa dân quốc đã làm cho “Châu Á thức tỉnh”
“Sự kiện này đã có tác động tích cực đối với sự tiến triển mạnh mẽ hơn trong tư tưởng, tình cảm của Phan Bội Châu trên con đường dân chủ tư sản và tạo điều kiện thuận lợi cho sự ra đời của Việt Nam Quang phục hội (1912)” (Nguyễn Văn Hòa, 2006, tr.23)
Việt Nam Quang Phục hội ra đời đánh dấu một bước tiến quan trọng về tư tưởng chính trị của các nhà cách mạng Việt Nam xuất thân từ tầng lớp phong kiến hồi đầu thế kỷ XX Với việc tổ chức Việt Nam Quang Phục hội ra đời ngay sau cách mạng Tân Hợi thành công
“khẳng định một sự thật lịch sử là giữa cách mạng hai nước từ sớm đã có mối quan hệ mật thiết, một mối quan hệ hai chiều… Cách mạng Tân Hợi đã mở màn cho một thời kỳ cận đại, một mối quan hệ mà các thế hệ sau có nghĩa vụ tăng cường và phát triển một cách đúng đắn vì lợi ích chung của cả hai nước và hai dân tộc” (Đinh Xuân Lâm, Chương Thâu, Phạm Xanh, 2005, tr.62)
Năm 1917, Cách mạng Tháng Mười Nga thành công, đã nêu tấm gương sáng về sự giải phóng dân tộc bị áp bức “mở ra trước mắt họ thời đại cách mạng chống đế quốc, thời đại giải phóng dân tộc” (Hồ Chí Minh, 2000, t.6, 562) Thắng lợi của cách mạng tháng Mười Nga đã làm cho
“Cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở Châu Á mặc dù còn phải trải qua một thời kỳ đầy khó khăn nhưng tiền đề lịch sử cho sự thắng lợi đã trở thành khả năng hiện thực” (Nguyễn Văn Hồng, 1997, tr.12)
Đón nhận luồng tư tưởng mới của cách mạng tháng Mười, Phan Bội Châu dường như “bừng tỉnh sau một giấc ngủ dài” và hiểu ra rằng chỉ có
“chủ nghĩa xã hội nghĩa là xe tăng của nhà triết học để xông vào thành lũy của chủ nghĩa quốc gia, mà cũng là toán quân vô địch của nhà nhân từ để phá tan
đồ đảng của chủ nghĩa tư bản” (Phan Bội Châu, 2000, t.7, tr.127)
Trang 33Ảnh hưởng của cách mạng tháng Mười Nga đã tạo nên sự chuyển biến mới trong tư tưởng của Phan Bội Châu theo hướng ngày càng tiệm cận đến với chủ nghĩa Lênin, nhen nhóm trong Phan Bội Châu một niềm hy vọng mới, một lối thoát mới cho sự bế tắc của cách mạng Việt Nam lúc bấy giờ
Trước tình hình thế giới đầy biến động đó đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến tư tưởng của các nhà cách mạng Việt Nam trong đó nổi bật có tư tưởng cứu nước của Phan Bội Châu
1.3 QUÁ TRÌNH TIẾP NHẬN CỦA SỰ CHUYỂN BIẾN TRONG TƯ TƯỞNG CỨU NƯỚC CỦA PHAN BỘI CHÂU
Trên hành trình cứu nước đầy chông gai với những biến đổi phức tạp của thời cuộc, tư tưởng cứu nước của Phan Bội Châu không tránh khỏi những biến động, đấu tranh và lựa chọn trước nhiều hướng đi nhằm tìm ra lối đi đúng đắn nhất cho sự nghiệp giải phóng nước nhà Khi nói về quá trình chuyển biến trong
tư tưởng cứu nước của Phan Bội Châu, nhà nghiên cứu Lê Sĩ Thắng đã khái quát
“Phan Bội Châu đã đi từ Nho giáo đến chỗ tiếp thu và truyền bá hệ tư tưởng tư sản, rồi đến chỗ tiếp cận chủ nghĩa xã hội Cụ đã góp phần vào bước tiến của lịch sử tư tưởng Việt Nam hồi đầu thế kỷ Nhưng bị lịch sử và bản thân
sự hình thành của cụ về mặt hệ tư tưởng hạn chế, lại bị chính quyền thực dân giam lỏng và bao vây, cô lập trong suốt mười lăm năm cuối đời, Phan Bội Châu
đã sa vào sự bế tắc về mặt tâm lý và tư tưởng Cho nên, việc cụ quay trở về Nho giáo (và cả Phật giáo nữa) là điều có thể giải thích và thông cảm được” (Shiraishi Masaya, t.2, tr.225)
Sinh ra và lớn lên trong cảnh nước mất nhà tan, Phan Bội Châu thấu hiểu nỗi đau mất nước, bản thân lại được tiếp nhận truyền thống yêu nước từ gia đình, quê hương xứ sở Phan Bội Châu ý thức rất rõ trách nhiệm của mình đối với dân tộc, “nhưng khốn thay, thân còn ty tiện, hơi tiếng hèn bé” (Phan Bội Châu, 1971,
tr 18), do vậy trước hết cần phải “cố sức theo đuổi lối văn chương theo thời,
Trang 34mong sao có tiếng tăm với đời để làm chỗ bay nhảy mai sau” (Phan Bội Châu,
1971, tr 28) Vì lẽ đó, ở giai đoạn đầu của quá trình tìm đường cứu nước, Phan Bội Châu xác định hướng đi cho mình từ con đường công danh, bởi theo Cụ có
vị trí nhất định trong xã hội thì mới có thể tuyên truyền, hướng mọi người đi theo đường lối mà mình vạch ra Tuy nhiên, con đường khoa cử của Cụ cũng lắm gian truân, Phan Bội Châu nhiều lần tham gia các kỳ thi do nhà Nguyễn tổ chức nhưng mãi đến năm 1900, Cụ mới đỗ giải nguyên kỳ thi hương, từ đây ông đã có cái “hư danh”, “được một cái mặt nạ, tiện mượn để đó che lấp mắt đời” (Thu Trang, 2000, tr.25), lúc đó lại không còn nặng gánh chuyện gia đình, toàn tâm toàn ý “bắt tay vào những kế hoạch thực hành cách mạng” (Thu Trang, 2000, tr.25), để được phát triển chí nguyện của mình
Phong trào đấu tranh vũ trang chống Pháp từ khi Pháp bắt đầu xâm lược đến cuối thế kỷ XIX trước sau đều bị quân Pháp đánh bại Thất bại trong cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp đã “thể hiện sự thất bại của thế giới quan Nho giáo”, “gây nên cuộc khủng hoảng về ý thức hệ và tạo nên sự phân hóa đội ngũ của trí thức Nho học” (Trần Thị Hạnh, 2012, tr.37), “thôi thúc các sĩ phu yêu nước của các thế hệ tiếp theo tìm hệ tư tưởng mới, chủ trương mới, con đường mới giải phóng dân tộc” (Trần Thị Hạnh, 2012, tr.38) Trong bối cảnh rối ren ấy, với nỗi khát khao dành độc lập cho dân tộc mình Chính mục đích và lý tưởng cao đẹp ấy, đã thôi thúc Phan Bội Châu vượt qua mọi khó khăn, đánh bại thử thách, để vươn lên tìm con đường bảo vệ, giành lại độc lập tự do cho đồng bào Bằng tư duy nhạy bén, Phan Bội Châu đã vượt qua giới hạn của một nhà Nho truyền thống, đón nhận những luồng tư tưởng mới: tư tưởng dân chủ tư sản thông qua Tân thư… Tân thư “đã góp phần tạo nên một luồng sinh khí, một sự lên men mới về mặt tư tưởng đối với các sĩ phu yêu nước lúc bấy giờ, trong đó
có Phan Bội Châu” (Nguyễn Văn Hòa, 2006, tr.43), “trở thành cơ sở tư tưởng cho sự nghiệp cứu nước của họ” (Nguyễn Tài Thư, 1997, tr.24)
Trang 35Trước tình thế lịch sử dân tộc đang đứng trước những khó khăn thách thức mới Nhiều câu hỏi được đặt ra: ai, giai cấp nào sẽ lãnh đạo công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở nước ta, con đường đấu tranh đó sẽ đi theo hướng nào, các biện pháp đấu tranh là gì Lúc này, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc Châu Á đang diễn ra mạnh mẽ và đã tác động vào Việt Nam, theo đó các tư tưởng tiến bộ dội vào nước ta, nó đang hướng cả dân theo con đường đấu tranh cứu nước mới Sớm nhận thấy sự chuyển biến của thời cuộc và tư tưởng tiến bộ
từ các nước văn minh trên thế giới Phan Bội Châu đã quyết tâm tìm hiểu, học hỏi kinh nghiệm đấu tranh từ các nước tiên tiến trên thế giới Trong khoảng 20 năm bôn ba nước ngoài là điều kiện để Phan Bội Châu tìm hiểu, học tập, mong muốn tìm ra con đường cứu nước giải phóng dân tộc và canh tân đất nước Ông thấy “đầu óc tai mắt mình mới bắt đầu biến đổi” (Phan Bội Châu, 2000, t.3, tr.71), Cụ say sưa tiếp nhận và nghiên cứu vận dụng những luồng tư tưởng mới vào điều kiện cụ thể của nước nhà, đặc biệt những tư tưởng bác ái, bình đẳng, dân quyền… của các nhà tư tưởng như Vônte, Rút xô… “Phan Bội Châu đã tiếp thu tư tưởng triết học Tây phương để bồi đắp cho thế giới quan của mình thêm khoa học và cách mạng” (Đinh Xuân Lâm, 1997, tr.496)
Trong khi cuộc khai thác thuộc địa của Pháp đã tác động một cách toàn diện lên xã hội Việt Nam, dù muốn hay không muốn, nó làm cho xã hội chuyển biến, tạo nên những cơ sở xã hội cho công cuộc giải phóng dân tộc Nhờ tư duy nhạy bén, Phan Bội Châu nhanh chóng đứng vào hàng các sĩ phu Nho học trẻ tiến bộ, Cụ là người được đào tạo trong nền giáo dục cũ , nhưng đã tự mình thoát khỏi những tư tưởng phong kiến lỗi thời, nỗ lực vươn lên bắt kịp theo tiến bộ của thời đại Phan Bội Châu đã tiếp nhận tư tưởng tiến bộ và khuynh hướng cứu nước mới, lãnh sứ mệnh lãnh đạo công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam Cụ khởi xướng tư tưởng canh tân và tiến hành một cuộc vận động yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản ở Việt Nam đầu thế kỉ XX
Trang 36Ngay thời gian đầu khi vạch ra con đường cứu nước cho dân tộc, Phan Bội Châu xác định kẻ thù trước mắt là thực dân Pháp
“nói tóm lại, chính sách của người Pháp dùng để cai trị thật độc ác, có nhiều điều, bút không thể tả xiết Chỉ có thể nói gọn một câu: họ không cai trị người Việt Nam bằng nhân đạo, mà bằng quỷ đạo, thú đạo” (Phan Bội Châu,
Do vậy
“xuất phát từ thuyết cạnh tranh sinh tồn, Phan Bội Châu xác định phải dùng bạo lực để lật đổ ách thống trị của chủ nghĩa thực dân Xuất phát từ thuyết dân chủ, Phan Châu Trinh xác định trước hết phải lật đổ vua quan “Ỷ Pháp cầu tiến”, đấu tranh bằng phương pháp hòa bình” (Lê Sĩ Thắng, 1997, tr.30)
Để phục vụ cho mục đích chính trị của mình, Phan Bội Châu nhận thấy muốn đánh được kẻ địch cần phải có một sức mạnh lớn hơn kẻ địch Sức mạnh đó, Phan Bội Châu tìm ở trong nước không thấy, nên ông đã vượt ra phạm vi của đất nước, mà tìm một nguồn sức mạnh ở một nước khác, một nước đồng văn đồng chủng vừa mới đánh thắng một cường quốc Châu Âu to như nước Nga, nước ấy chính là Nhật Bản Chính vì vậy, Phan Bội Châu đã đưa Kỳ ngoại hầu Cường Để làm hội chủ hội Duy tân nhằm thu phục nhân tâm, hô hào kêu gọi sự ủng hộ về vật chất của nhân dân trong nước; đồng thời lấy danh nghĩa đó để đi đặt vấn đề cầu viện với nước ngoài Mục đích chính của Duy tân hội chính là “đánh đổ chính phủ Pháp, khôi phục Việt Nam, kiến
Trang 37thiết quân chủ lập hiến” (Phan Bội Châu, 1971, tr.70) Nhờ sự giúp sức từ phía Nhật, Phan Bội Châu sáng lập nên phong trào Duy Tân, phong trào Đông
Du đào tạo, bồi dưỡng người tài Tuy nhiên, sau thời gian hoạt động, 2 phong trào này lần lượt vấp phải nhiều khó khăn, thử thách trước tình hình diễn biến phức tạp, nhiều phe phái và sự đàn áp dã man của kẻ thù lúc bấy giờ Sau khi phong trào Duy Tân và Đông Du lần lượt thất bại, Phan Bội Châu sang Trung Quốc và thành lập Việt Nam Quang Phục hội với tôn chỉ độc nhất là “Khôi phục Việt Nam, kiến lập Việt Nam cộng hòa dân quốc” (Phan Bội Châu,
1971, tr.151) Khi thành lập, ông “chỉ ước ao cho có võ trang cách mạng được thực hiện, làm oanh liệt một phen gọi bằng tìm được một cách chết là được” (Phan Bội Châu, 1971, tr.159), cho nên “Kịch liệt bạo động cũng từ đây mà thực hiện” (Phan Bội Châu, 1971, tr.165) Mấy người hội viên của Việt Nam Quang phục hội theo lệnh của ông mang bom đạn về nước để trị những tên cường quyền, ác bá để kích động nhân tâm Tuy nhiên, sau bao nỗ lực, phong trào cứu nước của Phan Bội Châu lần lượt đi từ thất bại này đến thất bại khác, lúc này, Phan Bội Châu không tránh khỏi đau xót và hoang mang Chính trong lúc khủng hoảng đó, thực dân Pháp nhân cơ hội đưa cái thuyết của phái
tư sản cải lương hòng thỏa thuận với ta, Phan Bội Châu cũng muốn tạm thời
“tương kế, tựu kế” nghĩ rằng nếu vì chính sách đuề huề mà thực dân Pháp đối
xử với nhân dân Việt Nam cho bình đẳng hơn trước, thì cũng là một việc làm
có lợi ích chung Ông
“tính đổi phương châm, chú lực vào phương diện làm sao cho quốc dân ngày càng thêm tiến bộ, nhưng nghĩ rằng nếu muốn cho trình độ quốc dân ngày càng thêm tiến bộ, thời phải bắt tay lo về đường giáo dục mới được, mà muốn cải lương sự giáo dục, nếu không có thợ hay thầy giỏi, thời cậy ai chỉ vẽ? Người Đại Pháp chính là những bậc thầy thợ tình cờ gặp ở cõi Á Đông này” (Chương Thâu, 2005, tr.166)
Trang 38Tuy nhiên, đây được coi là bước tụt lùi, thể hiện sự dao động về lập trường tư tưởng của Phan Bội Châu, ít nhiều cũng đã gây ra những tác hại nhất định cho phong trào cách mạng Ông đã đề ra thuyết “Pháp Việt đuề huề” Khi biết được dã tâm thực sự của thực dân Pháp, ông đã kiên quyết cự tuyệt bởi “ý nghĩa đuề huề mà tôi đưa ra, đối với cái đuề huề của người Pháp, hai bên khác nhau như nước với lửa” (Phan Bội Châu, 1971, tr.188)
Đang lúc Phan Bội Châu rối ren thì tình hình thế giới có nhiều chuyển biến Thành công của Cách mạng Tháng Mười Nga đã thức tỉnh Phan Bội Châu
“may thay, đương giữ lúc khói đục mây mù mà thình lình có một trận gió xuân thổi tới; chính giữa lúc trời khuya đất ngủ, thình lình có một tia thái dương mọc ra Trận gió xuân ấy, tia thái dương ấy chính là chủ nghĩa xã hội” (Phan Bội Châu, 2000, t.6, tr.132)
Phan Bội Châu bắt đầu nghiên cứu về lý tưởng Đảng Cộng sản và quyết tâm ủng hộ con đường đi theo Chủ nghĩa xã hội Phan Bội Châu nhận thấy
“chủ nghĩa xã hội là một chủ nghĩa muốn cho tất cả loài người ai ai cũng được tự do và hạnh phúc Mục đích của chủ nghĩa xã hội tóm tắt chỉ có bấy nhiêu mà thôi” (Phan Bội Châu, 2000, t.7, tr.134)
Dưới ảnh hưởng của cách mạng tháng Mười Nga, tư tưởng cứu nước của Phan Bội Châu đã có những chuyển biến mới đầy hứa hẹn, ngày càng tiệm cận với chủ nghĩa Mác Lê nin Tiếc rằng khi chưa kịp vươn tới hệ tư tưởng mới phù hợp với yêu cầu thực tiễn của Việt Nam thì Phan Bội Châu bị bắt cóc ở Thượng Hải và áp giải về nước Sự kiện đó
“Chấm dứt một thời kỳ hoạt động cứu nước sôi nổi, đồng thời chặn đứng khả năng vươn tới hệ tư tưởng mới mang đầy sức sống của thời đại, hệ
tư tưởng Mác Lê nin” (Chương Thâu, 1981, tr 186)
Trang 39Tuy rất thiện chí trong việc tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin song điều
đó là chưa đủ, bởi Phan Bội Châu còn thiếu “một quá trình nghiên cứu, rèn luyện trong thực tế, phải thể nghiệm trong đấu tranh cách mạng gian khổ của giai cấp công nhân” (Chương Thâu, 2007, tr 141) Cho nên
“tư tưởng Phan Bội Châu về căn bản vẫn nằm trong phạm trù tư tưởng dân tộc tư sản kiểu cũ Tư tưởng này ở Phan Bội Châu đã phát triển ở mức hoàn thiện vào những năm trước đại chiến tranh thế giới lần thứ nhất, sau đó trải qua một thời gian dao động, đi đến bế tắc, tưởng chừng không có lối thoát thì bắt gặp ảnh hưởng của làn gió xuân, của tia thái dương xã hội chủ nghĩa,
đã hồi sinh trở lại” (Chương Thâu, 2007, tr 142)
Tiểu kết chương 1
Trong giới hạn nội dung chương 1, tác giả tập trung đi sâu vào tìm hiểu, phân tích bối cảnh lịch sử tác động đến quá trình chuyển biến tư tưởng cứu nước của Phan Bội Châu Đó là những điều kiện về gia đình, quê hương, các mối quan
hệ và tính cách con người Phan Bội Châu; tình hình chuyển biến thế giới và trong nước tác động đến sự biến đổi trong xã hội Việt Nam dưới ảnh hưởng của công cuộc khai thác, bóc lột của Pháp Cụ thể, Việt Nam từ một xã hội phong kiến đã trở thành một xã hội thuộc địa nửa phong kiến Nhân dân Việt Nam phải chịu đồng thời hai tầng áp bức, bóc lột của thực dân Pháp và giai cấp địa chủ, quý tộc phong kiến triều Nguyễn Trước tình hình đó, nhiệm vụ cấp bách lúc bấy giờ của dân tộc Việt Nam là đánh đỗ ách thống trị của thực dân phong kiến Xuất phát từ yêu cầu trên, nhiều sĩ phu tiến bộ đã nỗ lực tìm hướng đi mới cho phong trào yêu nước với các quan điểm, chủ trương và biện pháp theo các khuynh hướng khác nhau Tuy nhiên, do hạn chế bởi điều kiện lịch sử và lập trường giai cấp, nên các phong trào đấu tranh của họ mặc dù tràn đầy nhiệt huyết nhưng đều
đi dần vào thất bại Mặc dù vậy, tinh thần yêu nước quật cường, lòng yêu nước
Trang 40thiết tha của các bậc anh hùng cứu nước đã làm nên những nhà tư tưởng lớn, để lại những giá trị nhất định, hành trình cách mạng của họ trở thành bài học kinh nghiệm quý báo cho thế hệ sau nối tiếp
Cùng với sự nỗ lực đấu tranh giành độc lập trong nước, giai đoạn này, trên thế giới cũng nhiều phong trào cách mạng liên tiếp nổ ra Một số sự kiện lịch sử diễn ra và gặt hái được những thành tựu đáng ghi nhận như: Cách mạng Tân Hợi (Trung Quốc), cách mạng Tháng Mười Nga… Trước những diễn biến trong nước và thế giới giai đoạn này đã tác động đến phương hướng cứu nước của các bậc tiền bối đang nỗ lực tìm ra con đường sáng cho dân tộc mình Trong số đó tiêu biểu có nhà chí sĩ cách mạng Phan Bội Châu Từ việc được thừa hưởng cái truyền thống của gia đình, quê hương, Phan Bội Châu đã sớm hình thành cái chí hướng yêu nước, cứu nước cứu dân Chính vì cái chí hướng bất biến ấy, Phan Bội Châu đã không ngần ngại vượt qua những hạn chế về ý thức hệ và đường lối cứu nước của các thế hệ đi trước; tiếp thu tư tưởng dân chủ tư sản phương Tây (thông qua Tân văn, tân thư); chuyển từ một nhà Nho yêu nước truyền thống trở thành một nhà Nho duy tân, chủ động tiếp thu những cái mới, tiến bộ của thời đại để mưu cầu tự do của dân tộc, hạnh phúc của quốc dân đồng bào Với chủ trương duy tân đất nước, tự cường dân tộc, bạo động cách mạng nhằm lật đổ chế
độ thực dân và phong kiến, giải phóng cho nhân dân và dân tộc Việt Nam, xây dựng một nước Việt Nam độc lập, ấm no, hạnh phúc Đây chính là tư tưởng xuyên suốt tạo nên quá trình chuyển biến trong tư tưởng cứu nước của Phan Bội Châu, là cơ sở từ đó nhìn nhận, đánh giá một cách chính xác, khách quan vai trò của Phan Bội Châu đối với lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam
Bên cạnh đó, trong nội dung chương 1, tác giả đã khái quát lại con đường tiếp nhận của quá trình chuyển biến tư tưởng cứu nước của nhà yêu nước Phan Bội Châu Phan Bội Châu đã đi từ Nho giáo đến chỗ tiếp thu và truyền bá hệ tư