Vì vậy, nghiên cứu văn hóa ứng xử của các bậc hiền nhân trong lịch sử nói chung và của Phật hoàng Trần Nhân Tông nói riêng là một trong những cách “học cũ biết mới” để có thể học tập nhữ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN TRỌNG ÂN
VĂN HOÁ ỨNG XỬ CỦA PHẬT HOÀNG TRẦN NHÂN TÔNG
QUA CUỘC ĐỜI VÀ THƠ VĂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH VĂN HÓA HỌC
MÃ SỐ: 60.31.06.40
Thành phố Hồ Chí Minh – 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN TRỌNG ÂN
VĂN HOÁ ỨNG XỬ CỦA PHẬT HOÀNG TRẦN NHÂN TÔNG
QUA CUỘC ĐỜI VÀ THƠ VĂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH VĂN HÓA HỌC
MÃ SỐ: 60.31.06.40
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS NGUYỄN CÔNG LÝ
Thành phố Hồ Chí Minh – 2018
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Công Lý Các kết quả nêu trong luận văn là trung thực, đảm bảo độ chuẩn xác cao nhất có thể Các tài liệu tham khảo, các trích dẫn đều có ghi xuất xứ rõ ràng
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình
Tác giả luận văn
Nguyễn Trọng Ân
Trang 4Để hoàn thành luận văn này, tôi chân thành cám ơn:
- Ban Giám hiệu, Phòng Sau Đại học, Khoa Văn hóa học, Thư viện Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố
Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện cho tôi trong thời gian học tập và nghiên cứu
- Xin được tri ân Quý Thầy Cô đã giảng dạy các chuyên đề thuộc chuyên ngành đào tạo Cao học Văn hóa học
- Xin tri ân Quý GS, PGS, TS trong Hội đồng chấm luận văn đã đóng góp nhiều ý kiến quý báu để em có điều kiện chỉnh sửa, nâng cấp luận văn
- Đặc biệt xin được tri ân PGS.TS Nguyễn Công Lý, người thầy đã gợi
mở đề tài, định hướng nghiên cứu và tận tình hướng dẫn, góp ý và động viên
em trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn này
- Xin ghi ơn những người thân trong gia đình và bạn bè luôn tạo điều kiện
và động viên tôi hoàn thành nhiệm vụ học tập, nghiên cứu
Xin trân trọng cảm ơn tất cả
Tác giả luận văn
Nguyễn Trọng Ân
Trang 5Lời cam đoan ……… i
Lời cảm ơn ……… ii
Mục lục ……… iii
MỞ ĐẦU ………1
1 Tính cấp thiết của đề tài …….……… 1
2 Tình hình nghiên cứu vấn đề ……… 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ……… 7
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ………7
5 Phương pháp nghiên cứu ……… 8
6 Đóng góp mới của đề tài ……… 9
7 Kết cấu của luận văn ……… 9
Chương 1 NHỮNG TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG ….……….10
1.1 Cơ sở lý luận ………10
1.1.1 Cơ sở tiếp cận ……… 13
1.1.2 Một số vấn đề về văn hóa và văn hóa ứng xử ……….13
1.1.3 Danh nhân văn hóa và ý nghĩa của việc nghiên cứu danh nhân văn hóa ……18
1.2 Cơ sở hình thành văn hóa ứng xử của Trần Nhân Tông ………22
1.2.1 Thời đại xã hội và tư tưởng Đại Việt thế kỷ XIII ……… 22
1.2.2 Cuộc đời và sự nghiệp Phật hoàng Trần Nhân Tông ……… 34
Tiểu kết chương 1 ……… 42
Chương 2 VĂN HÓA ỨNG XỬ CỦA PHẬT HOÀNG TRẦN NHÂN TÔNG TRONG QUAN HỆ ĐỐI NỘI ………43
2.1 Củng cố bộ máy hành chính ở triều đình trung ương và địa phương …….43
2.1.1 Bộ máy triều đình trung ương ……… 43
2.1.2 Bộ máy tổ chức ở địa phương …….……… 46
2.2 Các chủ trương chính sách trị nước an dân ……… 48
2.2.1 Khoan thư sức dân ………48
Trang 62.3 Sáng lập Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử ……… 55
2.3.1 Quá trình Phật hoàng sáng lập Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử ……….55
2.3.2 Sự sáp nhập ba Thiền phái: Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông, Thảo Đường để thành lập Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử ………58
2.3.3 Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử - một Thiền phái mang bản sắc văn hóa tư tưởng Việt ……….61
2.3.4 Một Đạo Phật nhập thế, hộ quốc an dân ……… 65
Tiểu kết chương 2 ……….68
Chương 3 VĂN HÓA ỨNG XỬ CỦA PHẬT HOÀNG TRẦN NHÂN TÔNG TRONG QUAN HỆ ĐỐI NGOẠI ………69
3.1 Văn hóa ứng xử của Phật hoàng Trần Nhân Tông trong quan hệ với Trung Quốc ……… 70
3.1.1 Sách lược văn hóa tư tưởng ……… 70
3.1.2 Chiến lược quân sự ……… 73
3.1.3 Sách lược ngoại giao ………79
3.1.4 Sách lược thể hiện quan thơ văn ………… .81
3.2 Văn hóa ứng xử của Phật hoàng Trần Nhân Tông trong quan hệ với Champa ……….88
3.2.1 Sách lược văn hóa tư tưởng ……… 88
3.2.2 Chiến lược quân sự ……… 89
3.2.3 Sách lược ngoại giao ……… ……91
3.3 Văn hóa ứng xử của Phật hoàng Trần Nhân Tông trong quan hệ với Ai Lao (Lão Qua, Bồn Man cũ) ……… 94
Tiểu kết chương 3 ……… 99
KẾT LUẬN ……….100
TÀI LIỆU THAM KHẢO ……….104
Trang 7MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Văn hóa luôn là một trong những lĩnh vực được quan tâm hàng đầu đối với bất
kỳ quốc gia dân tộc nào trên thế giới, kể cả trong quá khứ, hiện tại và tương lai Bởi văn hóa luôn thể hiện sức sống, sức sáng tạo, sức mạnh tiềm tàng và vị thế, tầm vóc của dân tộc Lịch sử tồn tại và phát triển của dân tộc Việt Nam luôn gắn liền với quá trình giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Trong dòng chảy văn hóa ấy, văn hóa ứng xử của người Việt đã được hình thành, củng cố, phát triển và được cha ông
ta lưu giữ, truyền lại từ đời này sang đời khác
Trải qua mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước, nền văn hóa Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu rực rỡ và một trong những thời kỳ rực rỡ và huy hoàng nhất của lịch sử dân tộc xét trên nhiều khía cạnh, trong đó có khía cạnh văn hóa là triều đại nhà Trần Đây là triều đại có những chiến công hiển hách trong lịch sử phong kiến Việt Nam với ba lần đánh bại các cuộc xâm lược của quân Nguyên - Mông; thời đại này đã sản sinh nhiều nhân vật xuất chúng về quân sự, ngoại giao và văn hóa Đặc biệt, nhắc tới triều đại nhà Trần, không thể không nhắc đến Phật hoàng Trần Nhân
Tông Trong Đại Việt sử ký toàn thư ghi rằng: “Vua nhân từ hòa nhã, cố kết lòng dân, sự nghiệp trùng hưng sáng ngời thuở trước, thực là bậc vua hiền của nhà Trần”
[Ngô Sĩ Liên, bản dịch, 1998] Trần Nhân Tông là vị vua anh hùng cứu nước, vị vua thân dân, nhà chiến lược tài ba, nhà chính trị, quân sự, ngoại giao xuất sắc, là nhà thơ, nhà văn hóa tư tưởng lớn, vị thiền sư lỗi lạc - vị Tổ của Phật giáo Thiền tông Việt Nam Chính cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng và thơ văn của Người đã hội tụ đầy đủ nhất văn hóa nói chung và ứng xử văn hóa nói riêng đối với các quan hệ đối nội và đối ngoại của Nhà nước và dân tộc Việt Nam
Ngày nay, trong xã hội không khó để chúng ta nhận ra những dấu hiệu suy thoái
về văn hóa, nhất là văn hóa ứng xử trong cộng đồng dân cư Văn hóa ứng xử có phần
sa sút, một số thành phần có lối sống, lối suy nghĩ, ứng xử thiếu văn hóa, đi ngược
Trang 8lại truyền thống và bản sắc văn hóa tốt đẹp của dân tộc ta Nó là hệ quả của lối sống gấp, lối sống hưởng thụ của nền kinh tế thị trường Vì vậy, nghiên cứu văn hóa ứng
xử của các bậc hiền nhân trong lịch sử nói chung và của Phật hoàng Trần Nhân Tông
nói riêng là một trong những cách “học cũ biết mới” để có thể học tập những nét ứng
xử của cổ nhân, từ đó lưu giữ và phát huy lối ứng xử tinh tế của cha ông ngày xưa và loại bỏ lối ứng xử thiếu văn hóa hôm nay của một nhóm người nào đó
Toàn tập Trần Nhân Tông của Lê Mạnh Phát (2000/2006/2010) giới thuyết về
vị vua Trần Nhân Tông lãnh đạo dân tộc Việt Nam hai lần đẩy lùi quân Nguyên Mông xâm lược, sau đó rời xa thế tục tu hành và trở thành một nhà sư để lại một di sản Thiền tông lớn nhất Việt Nam Đây là công trình được giới nghiên cứu đánh giá cao với nhiều phát hiện mới về nguồn sử liệu, sự tổng hợp, phân tích đánh giá của tác giả
về cuộc đời và sự nghiệp của Trần Nhân Tông một cách khá toàn diện
Trần Nhân Tông Con người và tác phẩm của Lê Mạnh Phát (1999) đã nghiên
cứu một cách tổng quát nhất về cuộc đời của Trần Nhân Tông từ tuổi trẻ cho đến khi ông lên làm vua, với các cuộc chiến tranh bảo vệ đất nước; sự nghiệp xây dựng hòa bình thời hậu chiến rồi xuất gia và các tư tưởng của nhà vua qua các tác phẩm thơ văn của ông
Trong tập 1 của tác phẩm Việt Nam Phật giáo sử luận của Nguyễn Lang, tác giả
đã trình bày về Phật giáo đời Trần nói chung và Thiền phái Trúc Lâm nói riêng; đây
là một tác phẩm có giá trị về cuộc đời và sự nghiệp Trần Nhân Tông
Trang 9Việt Nam Phật giáo sử lược (1942/2004) của Mật Thể; Thiền tông bản hạnh giảng giải (1998) của Thích Thanh Từ; Thánh đăng lục giảng giải (1999) của Thích Thanh Từ; Hai quãng đời của Sơ Tổ Trúc Lâm (2002) của Thích Thanh Từ; Vua Trần Nhân Tông với Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử (2010) của Thích Thông Phương; Phật giáo đời Trần (2010) do Thích Đồng Bổn chủ biên; Từ đạo hạnh Trần Nhân Tông (những trái chiều lịch sử) (2011) của Nguyễn Mạnh Cường và tác giả khác… Đây là
những công trình nghiên cứu về về cuộc đời và sự nghiệt Phật Hoàng Trần Nhân Tông liên hệ với Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử của Phật giáo Việt Nam
Đại Việt sử ký toàn thư, tập 1, của Ngô Sĩ Liên (Cao Huy Giu dịch, Đào Duy Anh hiệu đính 1998/2004); Các triều đại Việt Nam (2001) của Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng; Việt Nam sử lược (2002) của Trần Trọng Kim; Việt Nam: Các nhân vật lịch
sử văn hóa của Đinh Xuân Lâm, Trần Hữu Quýnh… là những công trình lịch sử cung
cấp nhiều nguồn sử liệu về cuộc đời và sự nghiệp của vị vua anh minh, có nhiều đóng góp cho sự phát triển bền vững đất nước cũng như việc chống quân xâm lược, bảo vệ lãnh thổ đất nước; là vị thiền sư lớn của Phật giáo Việt Nam thời trung đại
Ngoài ra còn có một số luận văn nghiên cứu có đôi nét liên quan như:
Luận văn “Văn hóa ứng xử người Việt trong truyện thơ Nôm” của Triệu Thùy
Dương, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã nghiên cứu văn hóa ứng xử của người Việt qua một số truyện thơ Nôm tiêu biểu thế kỷ XVIII - XIX Từ
đó, tìm ra ảnh hưởng của thế ứng xử với tư cách là quan niệm sống, lối sống, nếp sống, lối hành động của một cộng đồng người trong thực tế đời sống đến văn học Đây là một trong những công trình nghiên cứu khá cụ thể văn hóa ứng xử của người Việt trong quan hệ với môi trường tự nhiên, xã hội và gia đình thông qua nghiên cứu truyện thơ Nôm
Luận văn “Văn hóa ứng xử trong thơ chữ Hán của Nguyễn Du” của Cao Thị
Liên Hương, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh tìm hiểu về văn hóa ứng xử, những nét cư xử trong cuộc sống hàng ngày của ông cha ta đã đi vào thơ chữ Hán của Nguyễn Du Qua khảo sát, thống kê, tìm hiểu thơ chữ Hán của Nguyễn Du,
Trang 10tác giả nhận thấy văn hóa ứng xử của Nguyễn Du thể hiện trong bốn quan hệ chính: ứng xử với bản thân, ứng xử với môi trường tự nhiên, ứng xử với môi trường xã hội
và ứng xử với gia đình
Luận văn “Văn hóa ứng xử trong thơ Nguyễn Khuyến” của Thân Thị Minh
Trang, Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên nghiên cứu văn hóa ứng xử trong thơ Nguyễn Khuyến thông qua các mối quan hệ vua - tôi, quan hệ với quan lại, quan hệ bạn bè, quan hệ làng xóm, quan hệ vợ - chồng, quan hệ cha - con, quan hệ với cha
mẹ, anh em, họ hàng Qua việc nghiên cứu văn hóa ứng xử trong các tác phẩm văn học của Nguyễn Khuyến, tác giả đã liên hệ với việc học tập những nét ứng xử của cổ nhân đối với phát triển văn hóa ứng xử hiện nay
Gần đây có luận văn “Văn hóa ứng xử của Hoàng đế - Phật hoàng Trần Nhân Tông” do học viên Tôn Nữ Minh Hồng thực hiện, bảo vệ vào tháng 5/2018 tại Trường
Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Gần đây có Kỷ yếu Hội thảo khoa học kỷ niệm 700 năm Phật hoàng Trần Nhân Tông tịch diệt (1308 – 2008) do Giáo hội Phật giáo Việt Nam và Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam đồng tổ chức tại Quảng Ninh, từ ngày 25 đến 27 tháng 11 năm
2008 với chủ đề “Đức vua - Phật hoàng Trần Nhân Tông: cuộc đời và sự nghiệp”
Trong đó, có rất nhiều bài nghiên cứu khá sâu sắc về cuộc đời và sự nghiệp của Hoàng
đế - Phật hoàng Trần Nhân Tông, điển hình như: “Tinh thần hòa quang đồng trần của vua Trần Nhân Tông” (Thích Hải Ấn); “Đức vua Phật Hoàng Trần Nhân Tông – Anh hùng dân tộc, nhà văn hóa lớn” (Anh Chi); “Trần Nhân Tông tầm vóc thời đại” (Nguyễn Huệ Chi - Trần Thị Băng Thanh); “Bàn thêm về sự nghiệp của Trần Nhân Tông” (Lê Cung); “Phát huy những giá trị tư tưởng của Đức vua - Phật hoàng Trần Nhân Tông (Bùi Hữu Dược); “Trần Nhân Tông: Một Hoàng đế anh hùng, một vua Phật, một nhà văn hóa lớn” (Phan Huy Lê); “Đức vua - Phật hoàng Trần Nhân Tông – Vị Tổ người Việt Nam của Phật giáo Việt Nam” (Thích Trí Quảng); “Trần Nhân Tông sở đắc giải thoát và tư tưởng Phật học” (Thích Chơn Thiện); “Vua Trần Nhân Tông: Vị anh hùng dân tộc, vị Phật Việt Nam” (Hoàng Quang Thuận); “Đức vua -
Trang 11Phật hoàng Trần Nhân Tông: Hiện thân của sự kết hợp giữa đạo và đời để bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước” (Nguyễn Phú Trọng), v.v Nói chung, đây là nguồn tài liệu rất có giá trị cho những ai khi quan tâm nghiên cứu về văn hóa ứng xử của Trần Nhân Tông
Đặc biệt công trình của Lê Mạnh Thát, Toàn tập Trần Nhân Tông, Nxb Tổng
hợp TP.HCM, 2000, tái bản 2006, có thể nói là đã nghiên cứu đầy đủ và sâu rộng về Phật hoàng ở nhiều phương diện khác nhau từ cuộc đời hành trạng, lịch sử, tư tưởng đến sáng tác thơ văn
Riêng nghiên cứu về thơ văn của Trần Nhân Tông thì trong các bộ văn học sử, các chuyên khảo đã có giới thiệu với mức độ đậm nhạt khác nhau như: Nguyễn Đổng
Chi, Việt Nam cổ văn học sử, Nxb Hàn Thuyên, Hà Nội, 1942; Bùi Văn Nguyên (chủ biên), Lịch sử văn học Việt Nam, tập 2, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1962, tái bản 1970,
1976, 1978; Đinh Gia Khánh - Bùi Duy Tân, Văn học cổ Việt Nam, Nxb Giáo dục,
Hà Nội, 1964; Đinh Gia Khánh - Bùi Duy Tân - Mai Cao Chương, Văn học Việt Nam
từ thế kỷ X đến nửa đầu thế kỷ XVIII, tập 1, Nxb Đại học và THCN, Hà Nội, 1977, Nxb Giáo dục tái bản nhiều lần; Bùi Văn Nguyên (chủ biên), Văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến giữa thế kỷ XVIII, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1989; Nguyễn Công Lý, Bản sắc dân tộc trong văn học Thiền tông thời Lý - Trần, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 1997; Đoàn Thị Thu Vân, Khảo sát nghệ thuật thơ Thiền Việt Nam thế kỷ XI – XIV, Luận án Tiến sĩ, bảo vệ tại Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh,
1996; in thành sách Nxb Văn học và Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, Thành phố
Hồ Chí Minh, 1998; Nguyễn Công Lý, Văn học Phật giáo thời Lý - Trần: diện mạo
và đặc điểm, Nxb Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, 2002; tái bản lần 5 có
bổ sung, 2016; Nguyễn Đăng Na (chủ biên), Văn học trung đại Việt Nam, tập 1, Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội, 2005; Đoàn Thị Thu Vân (chủ biên), Văn học trung đại Việt Nam, Nxb Giáo dục, Thành phố Hồ Chí Minh, 2008; Trần Lý Trai (Thích Phước Đạt) với luận án Tiến sĩ Giá trị văn học trong tác phẩm của Thiền phái Trúc Lâm, do
Nguyễn Công Lý hướng dẫn, bảo vệ tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, 2008; sau đó in sách bởi Nxb Hồng
Trang 12Đức, 2013; Nguyễn Công Lý, Văn học Việt Nam thời Lý - Trần: những vấn đề về khuynh hướng cảm hứng, thể loại, tác gia tiêu biểu, Nxb ĐHQG TP.HCM, 2018, đây
là công trình này có một mục riêng viết về thơ văn của Phật hoàng Trần Nhân Tông với dung lượng số trang khá dày dặn
Ngoài ra, còn có nhiều bài nghiên cứu công bố trên các tạp chí, các Hội thảo khoa học có liên quan đến Trần Nhân Tông như: “Trúc Lâm Trần Nhân Tông – Vị vua của thuyết Tam hợp” (Thích Đồng Bổn, 2008), “Bàn thêm về sự nghiệp của Trần Nhân Tông” (Lê Cung, 2008), “Về Phật Hoàng Trần Nhân Tông – danh nhân văn hóa” (Trần Hồng Liên, 2008), “Chất Phật và chất vua trong con người của Phật Hoàng Trần Nhân Tông” (Pháp Đăng, 2008), “Tìm hiểu giá trị ‘Cư trần lạc đạo phú’ của Trần Nhân Tông” (Trần Lý Trai, 2009), “Cội nguồn triết học của tinh thần thiền nhập thế Trần Nhân Tông” (Nguyễn Kim Sơn, 2009), “Phật Hoàng Trần Nhân Tông – Linh hồn của Thiền phái Trúc Lâm” (Thích Nhật Quang, 2010), “Trần Nhân Tông: Trí giả
anh minh, nhà văn hóa kiệt xuất” (Trần Ngọc Vương, 2012) Trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế “Việt Nam – Giao lưu văn hóa tư tưởng phương Đông” bài của
Thích Bổn Huân “Phật Hoàng Trần Nhân Tông và Tuệ Trung Thượng Sĩ” và bài của Trương Thị Thủy “Phật Hoàng Trần Nhân Tông và Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử qua một số văn bia khu vực vòng cung Đông Triều” (Nguyễn Công Lý - Đoàn Lê Giang
- Lê Quang Trường (đồng chủ biên), 2017) viết về Trần Nhân Tông
Những công trình khoa học trên đã trình bày và phân tích khá khái quát và sâu sắc điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội cũng như tiền đề lý luận hình thành tư tưởng triết học Trần Nhân Tông như: Hình thái kinh tế thời Lý - Trần, thể chế chính trị và kết cấu đẳng cấp thời Lý - Trần, văn hóa và tư tưởng thời Lý - Trần với các vấn đề nghiên cứu khá sâu sắc như: Tư tưởng chính trị và xã hội thời Lý - Trần, Nho giáo ở Việt Nam, các yếu tố Phật, Nho, Đạo được tiếp thu và chuyển hóa như thế nào trong thời đại Lý - Trần, ý nghĩa xã hội của phái Trúc Lâm thời Trần… Các công trình trên cũng đã nghiên cứu khá kỹ về cuộc đời, sự nghiệp và văn chương của Trần Nhân Tông gắn liền với các biến cố lịch sử Việt Nam giai đoạn thế kỷ XIII – XIV Tất cả
đã giúp người đọc có cái nhìn sâu rộng và toàn diện về một vị minh quân, một nhà
Trang 13văn hóa tư tưởng lớn của Việt Nam sống vào đời Trần Đồng thời đây chính là nền tảng để người viết luận văn này kế thừa, tiếp thu để triển khai các ý tưởng khi thực
hiện đề tài Văn hóa ứng xử của Phật hoàng Trần Nhân Tông qua cuộc đời và thơ văn
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu văn hóa ứng xử của Phật hoàng Trần Nhân Tông qua cuộc đời và thơ văn, từ đó đánh giá được ý nghĩa của vấn đề này đối với văn hóa ứng xử của người Việt
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích, làm rõ những tiền đề lý luận chung của việc nghiên cứu văn hóa ứng xử, bao gồm: cơ sở lý luận và cơ sở hình thành văn hóa ứng xử của Phật hoàng Trần Nhân Tông
- Phân tích, đánh giá về văn hóa ứng xử của Phật hoàng Trần Nhân Tông trong quan hệ đối nội về củng cố bộ máy hành chính ở triều đình trung ương và địa phương;
về các chủ trương, chính sách trị nước an dân; về sáng lập Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử
- Phân tích, đánh giá về văn hóa ứng xử của Phật hoàng Trần Nhân Tông trong quan hệ đối ngoại với các nước láng giềng của Đại Việt
- Liên hệ và phát huy những giá trị tốt đẹp từ văn hóa ứng xử của Phật hoàng Trần Nhân Tông đối với văn hóa ứng xử của người Việt hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Văn hóa ứng xử của Phật hoàng Trần Nhân Tông trong những mối quan hệ cơ bản qua cuộc đời và thơ ca
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: cuộc đời và các tác phẩm của Phật hoàng Trần Nhân Tông
Trang 14- Về thời gian: cuối thế kỷ XIII đầu thế kỷ XIV
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Đề tài nghiên cứu dựa trên hệ thống phương pháp luận duy vật biện chứng của Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, đồng thời đi sâu áp dụng phương pháp luận nghiên cứu văn hóa, gồm: phương pháp luận coi văn hóa là sản phẩm của hoạt động và phương pháp luận coi văn hóa là nhân tố bên trong của
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã tiến hành so sánh văn hóa ứng xử của đối tượng nghiên cứu với các đối tượng khác nhằm làm nổi bật những đặc sắc của văn hóa ứng xử của Phật hoàng Trần Nhân Tông
- Phương pháp phân tích: Tìm hiểu, khám phá và làm rõ đặc điểm văn hóa ứng
xử của Phật hoàng Trần Nhân Tông
- Phương pháp tổng hợp: Khái quát hóa và tóm tắt những đặc điểm cơ bản của vấn đề nghiên cứu, qua đó nêu ra nhận xét, đánh giá chung
- Phương pháp liên ngành: Liên hệ và kết hợp sử dụng một cách hợp lý kiến thức của các ngành lịch sử, xã hội học, văn học, văn hóa học, tâm lý học, triết học… nhằm giúp cho việc nghiên cứu vấn đề được toàn diện và sâu sắc hơn
Trang 156 Đóng góp mới của đề tài
- Đây là công trình đầu tiên khảo sát có hệ thống về văn hóa ứng xử của Phật hoàng Trần Nhân Tông qua cuộc đời và thơ ca trên khía cạnh các mối quan hệ cơ bản
về đối nội và đối ngoại
- Qua việc đánh giá và tìm hiểu về “Văn hóa ứng xử của Phật hoàng Trần Nhân Tông qua cuộc đời và thơ ca”, đề tài đã cung cấp, làm rõ hệ thống các khái niệm, đặc
điểm về văn hóa ứng xử trong một thời kỳ lịch sử của dân tộc; từ đó chứng minh tầm quan trọng của văn hóa ứng xử đối với đời sống văn hóa của dân tộc
- Đề tài đã góp phần khẳng định tài năng, nhân cách, tư tưởng của Phật hoàng Trần Nhân Tông
- Đề tài là một trong những nguồn tư liệu hữu ích phục vụ cho việc học tập, giảng dạy và nghiên cứu về cuộc đời, tư tưởng của Phật hoàng Trần Nhân Tông
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung trọng tâm của luận văn được triển khai 03 chương như sau:
Chương 1 Những tiền đề lý luận chung
Tiếp cận một số lý thuyết làm cơ sở lý luận cho luận văn như lý thuyết hệ thống, văn hóa, giao lưu và tiếp biến văn hóa, danh nhân,…
Thời đại, cuộc đời và sự nghiệp của Phật Hoàng Trần Nhân Tông làm cơ sở hình thành nên văn hóa ứng xử của ông
Chương 2 Văn hóa ứng xử của Phật hoàng Trần Nhân Tông trong quan hệ đối nội
Chương 3 Văn hóa ứng xử của Phật hoàng Trần Nhân Tông trong quan hệ đối ngoại
Trang 16CHƯƠNG 1 NHỮNG TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG
đó những thành tố và liên hệ đều có thể thay đổi vị trí và chuyển hóa tác động
Lý thuyết hệ thống nghiên cứu văn hóa dựa trên quan điểm coi văn hóa như một
hệ thống hợp nhất cao và tương đối ổn định qua thời gian Trong hệ thống này, mỗi yếu tố hay đặc điểm văn hóa được hiểu theo nghĩa sự đóng góp chức năng đối với các hoạt động và duy trì văn hóa nói chung Một hệ thống văn hóa tạo nên các đặc trưng nhờ tổ chức đặc thù bên trong của nó Hệ thống văn hóa khác với hệ thống xã hội, vì
có tính chất bao quát hơn, gồm có bốn yếu tố: kiến thức, kỹ thuật, tín ngưỡng và không gian Đây cũng là bốn cực hay bốn trụ cột của hệ thống văn hóa, cụ thể:
- Di sản kiến thức: Văn hóa trước hết là di sản kiến thức Đó là sự hiểu biết về thế giới, làm cho văn hóa mang tính khoa học Bên cạnh khoa học phương Tây có tính phổ quát, còn có các khoa học trong mỗi nền văn minh khác nhau, tạo nên tính
đa dạng của văn hóa
- Di sản kỹ thuật: Gồm các kỹ năng và công cụ Đó là các lối sống, dựa vào các
kỹ thuật cơ bản, đáp ứng các nhu cầu đầu tiên của đời sống để sinh tồn, để phân biệt con người với loài vật Đó còn là nghệ thuật sống, một lý lẽ để sống
- Tín ngưỡng: Thể hiện một cách nhìn về thế giới, thường được coi là tầng cao của văn hóa, biểu hiện mối liên hệ cơ bản giữa các giá trị và kỹ thuật Văn hóa mang
Trang 17lại ý nghĩa, đưa ra cách nhìn về thế giới, tức là cách giải thích thế giới Đó được coi
là các biểu hiện của văn hóa dựa trên tín ngưỡng, huyền thoại và các giá trị
- Không gian: Các nền văn hóa được xây dựng và định vị trong một không gian
cụ thể, không gian văn hóa tương ứng với một nền văn hóa riêng và một khu vực lãnh thổ riêng Không gian văn hóa dùng để phân biệt các địa điểm và cái nôi văn hóa, các khu vực, các vùng văn hóa và các thế giới văn hóa
Nhìn chung, lý thuyết hệ thống khi nghiên cứu về văn hóa luôn chú trọng tính
ổn định của văn hóa và coi các giá trị là nền tảng của hệ thống văn hóa Theo lý thuyết này, hệ thống văn hóa phải được sắp xếp để có thể đáp ứng nhu cầu của con người và
vì thế nên phải có nhiều điểm chung dẫn đến tính phổ biến văn hóa
* Về vấn đề giao lưu và tiếp biến văn hóa
Vấn đề giao lưu văn hóa
Giao lưu văn hóa là toàn thể các hiện tượng do việc tiếp xúc liên tục và trực tiếp giữa các nhóm cá thể có văn hóa khác nhau, dẫn đến những biến đổi trong các mô thức văn hóa ban đầu của một hoặc của hai nhóm này Quá trình giao lưu văn hóa gồm có: Các phương thức “chọn lọc” các yếu tố vay mượn hoặc “phản ứng” lại sự vay mượn; các hình thức hội nhập các yếu tố này vào mô thức văn hóa gốc; các cơ chế tâm lý tạo điều kiện dễ dàng hay không cho việc hội nhập văn hóa; và cuối cùng
là các hậu quả chủ yếu của giao lưu văn hóa, bao gồm các phản ứng tiêu cực, đôi lúc
có thể xảy ra với các phong trào “chống lại giao lưu văn hóa”
Giao lưu văn hóa bao hàm trong đó sự chung sống của ít nhất hai nền văn hóa (của hai cộng đồng, hai dân tộc, hai đất nước) Giao lưu văn hóa là hình thức quan hệ trao đổi văn hóa cùng có lợi, giúp đáp ứng một số nhu cầu không thể tự thỏa mãn của mỗi bên, giúp tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa các nền văn hóa để từ đó làm nảy sinh những nhu cầu mới thúc đẩy mỗi nền văn hóa phát triển Do đó, giao lưu văn hóa là dạng cộng sinh giữa các nền văn hóa, đồng thời là một nhu cầu bắt buộc cho sự tồn tại và phát triển của mỗi cộng đồng, mỗi quốc gia dân tộc
Trang 18Tóm lại, giao lưu văn hóa là một hiện tượng động, một quá trình đang xảy ra hoặc đang thực hiện Trong các biến đổi của quá trình giao lưu văn hóa, có thể rút ra quy luật chung là các yếu tố không mang tính biểu trưng của một nền văn hóa biến chuyển dễ dàng hơn các yếu tố biểu trưng văn hóa
Vấn đề tiếp biến văn hóa
Tiếp biến văn hóa là một lý thuyết được sử dụng đầu tiên vào cuối thế kỷ XIX
ở phương Tây Hai nội dung cơ bản của lý thuyết này là “tiếp xúc” và “biến đổi” về văn hóa Xét từ góc nhìn của lý thuyết hệ thống, có thể nghiên cứu tiếp biến văn hóa dưới góc độ là sự tác động của những mối liên hệ tương hỗ diễn ra trong những hệ thống cấu trúc văn hóa vĩ mô và vi mô, cùng những kết quả đem lại cho những thành
tố bởi những tác động ấy
Tiếp biến văn hóa chính là một hình thức biến nhiều lợi ích tiềm năng mà giao lưu văn hóa đem lại thành những lợi ích thực tế, là hiện tượng tiếp nhận có chọn lựa một số yếu tố văn hóa ngoại lai và biến đổi chúng cho phù hợp với điều kiện sử dụng bản địa, tức phù hợp với văn hóa bản địa, và sau một thời gian sử dụng và biến đổi tiếp theo thì chúng trở thành những yếu tố văn hóa bản địa ngoại sinh Từ đó cho thấy những yếu tố ngoại sinh trong một nền văn hóa là yếu tố tuy có gốc tích từ bên ngoài nhưng đã qua công đoạn tiếp biến văn hóa và do đó không còn thuộc về nền văn hóa bên ngoài mà đã trở thành một bộ phận của nền văn hóa bản địa, góp phần làm giàu cho nền văn hóa này Từ đây có thể khẳng định rằng quá trình giao lưu văn hóa chỉ
là điều kiện cần, phải có thêm quá trình tiếp biến văn hóa là điều kiện đủ để làm phong phú thêm, mạnh thêm nền văn hóa bản địa, nâng nó lên tầm cao phát triển chung của văn hóa nhân loại
Sự tiếp nối giữa giao lưu, cộng sinh và tiếp biến văn hóa
Trong thực tế, sự cộng sinh giữa những yếu tố của hai nền văn hóa xảy ra như
là giai đoạn trung gian giữa giao lưu và tiếp biến văn hóa Từ chỗ nhận biết qua giao lưu văn hóa, các yếu tố văn hóa ngoại lai có ích lợi để sử dụng, và qua quá trình sử
Trang 19dụng theo điều kiện sống và lề thói văn hóa của mình, dân tộc bản địa đã dần dần cải biến chúng thành những yếu tố bản địa ngoại sinh thích hợp, tiện dụng
Như vậy, quy luật là quá trình tiếp nhận thô ban đầu cái ngoại lai để sử dụng rồi chọn lọc và tinh chế về sau thành cái bản địa ngoại sinh cho mình Do đó, để có được
và duy trì tính hiện đại dân tộc trong văn hóa cần có sự giao lưu giữa văn hóa dân tộc
và văn hóa quốc tế, từ đó quá trình cộng sinh và sau đó là quá trình tiếp biến văn hóa
sẽ giúp nền văn hóa dân tộc phát triển, làm cho văn hóa dân tộc mang tính hiện đại
1.1.2 Một số vấn đề về văn hóa và văn hóa ứng xử
* Quan niệm về văn hóa
Với vai trò vô cùng quan trọng của mình, văn hóa đã trở thành một trong những
đối tượng nghiên cứu chính của khoa học nhân văn và là một trong những khái niệm tạo nên sự tranh luận hết sức phong phú Xung quanh khái niệm văn hóa, hiện nay còn có nhiều cách định nghĩa khác nhau, bởi lẽ văn hóa là sản phẩm do lao động của con người tạo ra mà hoạt động của con người rất đa dạng, thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau
Theo quan niệm phương Tây, “văn hóa lúc đầu được hiểu là canh tác, trồng trọt (culltus) Có hai loại trồng trọt, một là trồng trọt ngoài đồng (culltusgri) và hai là trồng trọt tinh thần, tức là sự giáo dục, bồi dưỡng tâm hồn con người” Theo quan điểm này, văn hóa gắn liền với quá trình con người tạo ra các sản phẩm về vật chất
và tinh thần, gắn liền với quá trình giáo dục con người” [Dẫn lại: Nguyễn Thanh Tuấn, 2008, tr.91]
Theo quan niệm phương Đông, “văn” được hiểu là vẻ đẹp, “hóa” được hiểu là biến đổi, và hai chữ “văn hóa” ghép lại là sự biến cải, thay đổi làm cho đẹp ra Quan niệm về văn hóa này của người phương Đông khác so với quan niệm của người phương Tây Nếu người phương Tây thiên về ứng xử với tự nhiên thì người phương Đông thiên về ứng xử với xã hội
Trang 20Theo thời gian, khái niệm văn hóa được mở rộng và được UNESCO đưa ra một
định nghĩa mang tính khái quát cao: “Văn hóa là tổng hợp các hệ thống bao gồm các mặt tình cảm, tri thức, vật chất, tinh thần của xã hội Văn hóa không thuần túy bó hẹp trong hoạt động sáng tạo nghệ thuật mà còn bao hàm cả phương thức sống, những quyền cơ bản của con người, truyền thống, tín ngưỡng” Đây là định nghĩa mang tính
tổng quát, nhấn mạnh đến tính riêng biệt của mỗi nền văn hóa nhưng vẫn đảm bảo mang đầy đủ nội hàm định nghĩa về văn hóa [Đoàn Văn Chúc, 1997: tr.43]
Tuy được dùng theo nhiều nghĩa khác nhau, nhưng suy cho cùng, khái niệm văn hoá bao giờ cũng có thể quy về hai cách hiểu chính: theo nghĩa hẹp và theo nghĩa rộng
Theo nghĩa hẹp, văn hoá được giới hạn theo chiều sâu hoặc theo chiều rộng, theo không gian hoặc theo thời gian… Giới hạn theo chiều sâu, văn hóa được hiểu là những giá trị tinh hoa của nó (nếp sống văn hoá, văn hoá nghệ thuật…) Giới hạn theo chiều rộng, văn hoá được dùng để chỉ những giá trị trong từng lĩnh vực (văn hoá giao tiếp, văn hoá kinh doanh…) Giới hạn theo không gian, văn hoá được dùng để chỉ những giá trị đặc thù của từng vùng (văn hoá Tây Nguyên, văn hoá Nam Bộ…) Giới hạn theo thời gian, văn hoá được dùng để chỉ những giá trị trong từng giai đoạn (văn hoá Hoà Bình, văn hoá Đông Sơn…)…
Theo nghĩa rộng, văn hoá thường được xem là bao gồm tất cả những gì do con người sáng tạo ra Năm 1940, Hồ Chí Minh đã viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” Federico Mayor, Tổng giám đốc UNESCO, cho biết: “Đối với một số người, văn hóa chỉ bao gồm những kiệt tác tuyệt vời trong các lĩnh vực tư duy và sáng tạo; đối với những người khác, văn hóa bao gồm tất cả
Trang 21những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống và lao động Cách hiểu thứ hai này đã được cộng đồng quốc tế chấp nhận tại Hội nghị liên chính phủ về các chính sách văn hoá họp năm 1970 tại Venise”
Mặc dù văn hóa là một khái niệm có nội hàm hết sức phong phú và phức tạp, với nhiều đặc trưng (do vậy mà có nhiều cách hiểu, cách định nghĩa khác nhau), ta
vẫn có thể thấy ở văn hóa nổi lên bốn đặc trưng cơ bản nhất là tính nhân sinh, tính giá trị, tính hệ thống và tính lịch sử - đây là những đặc trưng cần và đủ cho phép phân
biệt văn hóa với những khái niệm có liên quan
Trên cơ sở bốn đặc trưng này, nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm đã đưa ra định
nghĩa văn hóa như sau: Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị (vật chất và tinh thần, tĩnh và động, vật thể và phi vật thể…) do con người sáng tạo ra và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội của mình [Trần Ngọc Thêm, 2002: tr.132] Cách định nghĩa này không những có khả
năng bao quát được khá nhiều cách tiếp cận khác nhau, cách hiểu khác nhau về văn hóa, mà còn có thể cho phép ta nhận diện được một hiện tượng văn hóa và phân biệt
nó với những hiện tượng khác không phải là văn hóa - từ những hiện tượng phi giá trị, những giá trị tự nhiên thiên tạo, cho đến những giá trị nhân tạo chưa có tính lịch sử…
Trang 22vi trước sự tác động của các yếu tố bên ngoài [Nguyễn Thanh Tuấn, 2008: tr.33] Từ quan niệm trên, có thể rút ra những điểm cơ bản về ứng xử của con người như sau: Một là, ứng xử là những phản ứng của con người đáp lại đối với tự nhiên; là điều chủ thể cảm thấy, nhận thấy, hiểu mình đang đứng trước tình huống nào để tổ chức hoạt động đáp trả lại tình huống đó
Hai là, trong ứng xử những suy nghĩ của chủ thể luôn được thể hiện ra bên ngoài thông qua hành động, cử chỉ, ngôn ngữ, sắc thái tình cảm,… mà đối tác và những người xung quanh có thể quan sát và nhận biết được
Ba là, ứng xử không diễn ra một cách tùy tiện mà thường tuân theo khuôn mẫu nhất định nào đó, do cộng đồng người quy định
Bốn là, ứng xử thể hiện ở chỗ con người không chỉ chủ động trong giao tiếp mà còn chủ động trong phản ứng có sự lựa chọn, có tính toán Sự lựa chọn đó có được là dựa trên cơ sở tri thức, kinh nghiệm của mỗi cá nhân
Xét trên bình diện nhân cách thì bản chất của ứng xử chính là những đặc điểm tính cách của cá nhân được thể hiện qua thái độ, hành vi, cử chỉ và cách nói năng của
cá nhân với những người xung quanh và yếu tố bên ngoài tác động vào con người
* Quan niệm về văn hóa ứng xử
Xuất phát từ tầm quan trọng của văn hóa ứng xử nên có nhiều nghiên cứu đề cập đến vấn đề này, nổi bật là:
Nguyễn Thanh Tuấn (2008) đã cho rằng: “Văn hóa ứng xử là một hệ thống thái
độ hành vi được xác định để xử lý các mối quan hệ giữa người với người trên các căn
cứ pháp luật, đạo lý nhằm thúc đẩy nhanh sự phát triển của cộng đồng người, của xã hội” [Nguyễn Thanh Tuấn, 2008: tr.23]
Nhà nghiên cứu Phạm Minh Hạc trong công trình “Văn hóa và giáo dục, giáo dục và văn hóa” đã đưa ra định nghĩa: “Văn hóa ứng xử là hệ thống ứng xử giữa con người và thế giới tự nhiên - vũ trụ và hệ thống ứng xử giữa con người với nhau hay trong xã hội con người” [Phạm Minh Hạc (chủ biên) 1998]
Trang 23Phạm Vũ Dũng trong “Văn hóa giao tiếp” định nghĩa như sau: “Văn hóa ứng
xử là hệ thống tinh tuyển những nếp ứng xử, chuẩn mực ứng xử, trong mối quan hệ giữa con người và các đối tượng khác nhau, thể hiện qua ngôn ngữ, hành vi, nếp sống, tâm sinh lý… trong quá trình phát triển và hoàn thiện đời sống, đã đươc tiêu chuẩn hóa, xã hội hóa, trở thành các chuẩn mực của cá nhân, nhóm xã hội và toàn
bộ xã hội; phù hợp với đời sống xã hội, với đặc trưng, bản sắc của văn hóa một dân tộc, một quốc gia… được cá nhân, nhóm xã hội, cộng đồng, toàn bộ xã hội thừa nhận
và làm theo” [Phạm Vũ Dũng, 1996: tr.46]
Các khái niệm nêu trên đều có điểm thống nhất chung khi thừa nhận văn hóa ứng xử là tập hợp những nét đẹp thể hiện qua thái độ, hành vi, hành động phân xử, đối xử với một thái độ, hành vi khác hoặc một đối tượng khác Nó là khía cạnh giá trị mang yếu tố tích cực, được chắt lọc thành các kinh nghiệm, quy tắc xã hội, chuẩn mực đạo đức thể hiện ở các tình huống ứng xử văn hóa trong đời sống của một cộng đồng, dân tộc
Trên cơ sở đó, có thể nghiên cứu văn hóa ứng xử trên các phương diện chính sau:
Thứ nhất, văn hóa ứng xử thể hiện trước hết ở hành vi ứng xử Hành vi ứng xử
là sự thực hiện và thể hiện các khuôn mẫu mang tính lý tưởng kết tinh những giá trị
và chuẩn mực mà cá nhân và cộng đồng hướng tới Văn hóa ứng xử là một phương diện để thể hiện nhân cách và bản lĩnh của con người trong hoạt động thực tiễn gắn với trình độ văn hóa
Thứ hai, văn hóa ứng xử còn thể hiện qua kỹ năng ứng xử Kỹ năng ứng xử không phải tự nhiên mà có, cũng không phải do di truyền Một người muốn có được
kỹ năng ứng xử đạt đến chuẩn mực văn hóa thì phải thông qua quá trình học tập, rèn luyện kỹ năng ứng xử từ hoạt động thực tiễn, bồi dưỡng tư tưởng, đạo đức, lối sống
có văn hóa
Thứ ba, văn hóa ứng xử thể hiện qua cách nói, cách viết của con người Ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết là ngôn ngữ của cử chỉ, là phương tiện thể hiện văn hóa của
Trang 24con người, nó phản ánh quá trình hoạt động tạo ra lối suy nghĩ của con người Ngôn ngữ gắn liền với học vấn và tính cách của con người, nó cho phép chia sẻ xúc cảm, tình cảm, ý nghĩa, kinh nghiệm, khát vọng, trí nhớ, nhu cầu, tư tưởng của con người Thứ tư, văn hóa ứng xử thể hiện qua thái độ ứng xử Thái độ ứng xử của con người là một vấn đề có tính chất định hướng cơ bản và thường xuyên cho văn hóa ứng xử (thái độ lựa chọn các khuôn mẫu ứng xử, thái độ thể hiện kỹ năng ứng xử…) Văn hóa ứng xử là một bộ phận cấu thành nên tổng thể văn hóa, do dó nội hàm khái niệm này cũng rất rộng lớn Vì vậy, để tìm hiểu, đánh giá được văn hóa ứng xử của một cộng đồng người một cách đầy đủ, cần nhìn nhận văn hóa ứng xử theo bốn chiều: chiều cao - quan hệ với thiên nhiên; chiều rộng - quan hệ với xã hội; chiều sâu - quan
hệ với chính mình; chiều lịch sử - quan hệ với tổ tiên và con cháu mai sau Ngoài ra,
để tìm hiểu văn hóa ứng xử của một cá nhân trong cộng đồng người cần nhìn nhận từ bốn phương thức ứng xử: ứng xử giữa cá nhân đó với thiên nhiên, ứng xử giữa cá nhân đó với người khác, ứng xử giữa cá nhân đó với chính mình và ứng xử giữa cá nhân đó với công việc
Tóm lại, văn hóa ứng xử là một bộ phận cấu thành của văn hóa Đó là hệ thống giá trị, chuẩn mực quy định phương thức ứng xử của mỗi cá nhân trong cộng đồng
Ở góc độ cá nhân, văn hóa ứng xử là thái độ, lời nói, hành vi của con người trước sự tác động của con người hay các yếu tố khác thể hiện trình độ văn hóa, sự hiểu biết, bản chất nhân cách của mỗi cá nhân trong các tình huống giao tiếp nhất định Xét trên phạm vi rộng, văn hóa ứng xử của cộng đồng là tổng hòa những khuôn mẫu ứng xử được lặp đi lặp lại, được đa số người trong cộng đồng thừa nhận và thực hiện một cách thống nhất, được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác; chịu sự chi phối của những điều kiện, môi trường nhất định, nhất là điều kiện kinh tế - xã hội, và khi những điều kiện đó thay đổi thì nó cũng có sự điều chỉnh cần thiết cho phù hợp
1.1.3 Danh nhân văn hóa và ý nghĩa của việc nghiên cứu danh nhân văn hóa
* Khái niệm danh nhân
Trang 25Quan niệm về danh nhân theo nhà bách khoa Phan Huy Chú (1762-1840) trong
tác phẩm Lịch triều hiến chương loại chí, (Lời án trong phần Nhân vật chí, mục Nhà nho có đức nghiệp, quyển XI) như sau: “Các danh nho xưa nay rất nhiều, dường như không thể kể xiết Nhưng những người đọc sách, đỗ đạt, mà đức vọng văn chương không rõ rệt để kê cứu, đều không chép Chỉ nhặt lấy những người hơn cả, trước sau vài chục ông Hoặc đạo đức nổi tiếng, hoặc khí tiết rõ rệt, hoặc giỏi về trước thuật, hoặc chuyên về văn chương, tuy tài giỏi không như nhau, nhưng đều có tiếng trên đời Tóm lại, những người ấy không hổ là bậc danh nho cho nên chép rõ hành trạng các bậc đó” [Phan Huy Chú, bản dịch, 1961]
Theo Từ điển Tiếng Việt: “Danh nhân là người có danh tiếng và được xã hội công nhận” Theo cách định nghĩa này thì danh nhân là người tài giỏi, nhân vật kiệt
xuất, vừa có tài vừa có đức
Trên cơ sở các quan niệm trên, có thể khẳng định: Danh nhân là khái niệm chỉ những cá nhân có tài năng xuất chúng, đạo đức cao cả, có thân thế và sự nghiệp lừng lẫy, đóng góp to lớn và xuất sắc vào tiến trình lịch sử - xã hội, có ảnh hưởng rộng lớn trong cộng đồng, được cộng đồng khâm phục, kính trọng, thừa nhận và noi theo
* Khái niệm danh nhân văn hóa
Quan niệm về danh nhân văn hóa là một vấn đề không mới, nhưng lại rất phong phú và khá phức tạp, ranh giới không dễ phân định rạch ròi; bởi lẽ nó liên quan đến nhiều địa hạt khác nhau, nhất là nó gắn liền với lòng người, với công luận, với quá trình lịch sử phát triển xã hội, thời đại và không tách rời các quy ước đạo đức, phong tục tập quán của cộng đồng, của dân tộc
Theo cách hiểu phổ biến nhất thì những danh nhân có hoạt động, công trình, tác phẩm kiệt xuất trong lĩnh vực văn hóa được gọi là danh nhân văn hóa Văn hóa ở đây được hiểu trên nghĩa rộng bao gồm cả văn học nghệ thuật, giáo dục, khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật, khoa học xã hội và nhân văn
Nếu nhìn ở tầm vĩ mô thế giới, chúng ta có thể lấy bức tranh “Những người làm nên thế kỷ XX” (Ils ont fait le XX siecle) tại Paris làm chuẩn tham khảo Nơi đây có
Trang 26hình ảnh nhiều danh nhân, trong đó có Chủ tịch Hồ Chí Minh Cũng từ đây, chúng ta thấy có mối liên hệ giữa danh nhân thế giới và trong nước Tổ chức Giáo dục - Khoa học - Văn hóa (UNESCO) của Liên Hợp Quốc đã phong tặng 03 danh nhân của Việt Nam (Hồ Chí Minh, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du) là danh nhân văn hóa Trong phạm vi đất nước ta, danh nhân thời nào cũng có; đó là những người đã làm nên cái “thiện”, cái đẹp trong bất kỳ lĩnh vực nào Nói đến danh nhân văn hóa dân tộc là nói đến những con người có các hoạt động, công trình, tác phẩm kiệt xuất trong lĩnh vực văn hóa
Theo định nghĩa của Tổ chức UNESCO của Liên Hợp Quốc và Từ điển Bách khoa toàn thư của Mỹ: “Danh nhân văn hóa - một con người như là hiện thân của những nét đặc thù của trí tuệ và của nhân cách” Theo quy chế, UNESCO chỉ tôn
vinh các danh nhân trên thế giới thuộc lĩnh vực văn hóa, khoa học, giáo dục của tất
cả các quốc gia và tổ chức thành viên Các ứng viên được lựa chọn và giới thiệu để UNESCO tôn vinh được gọi là danh nhân văn hóa Danh nhân văn hóa là người kiệt xuất, có những hoạt động, những công trình, những tác phẩm kiệt xuất, có giá trị làm phong phú thêm cho nền văn hóa của nhân loại, có tác dụng động viên khuyến khích lòng khoan dung, độ lượng và tính vị tha của con người, làm cho con người thêm hiểu biết nhau, thêm gần gũi, gắn bó với nhau, gắn bó với hòa bình hữu nghị Các từ “danh nhân”, “danh nhân văn hóa” hay “vĩ nhân văn hóa” không phải là tước hiệu hay danh hiệu để chỉ đẳng cấp danh nhân mà chỉ là những từ danh xưng để gọi, xưng hô [Đào Duy Anh, tái bản 1992, tr.28]
Trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm trên, có thể đưa ra kết luận: Danh nhân văn hóa là những con người, những nhân vật kiệt xuất có tiếng tăm, cống hiến lớn lao cho nền văn hóa dân tộc, được lịch sử, dân tộc, người dân biết đến, ghi nhận và đánh giá cao, đại diện, tiêu biểu, biểu trưng cho một nền văn hóa
* Ý nghĩa của việc nghiên cứu danh nhân văn hóa
Nghiên cứu danh nhân văn hóa là một họat động nghiên cứu khoa học nhằm tìm kiếm, xem xét, điều tra, hoặc kiểm định các giả thuyết được dựa trên những số liệu,
Trang 27thông tin, tài liệu, tác phẩm… để tôn vinh, lưu giữ và phát huy những giá trị tốt đẹp của các danh nhân văn hóa
Trên cơ sở đó, việc nghiên cứu danh nhân văn hóa có ý nghĩa như sau:
Thứ nhất, để tri ân và tôn vinh công lao to lớn của các danh nhân văn hóa: tìm
về quá khứ để trả lời cho hiện tại và tương lai là yêu cầu chính đáng của việc tìm hiểu
và xác định danh nhân văn hóa Nếu ngày nay chúng ta không nghiên cứu chính xác
về các danh nhân văn hóa và đánh giá khách quan về những đóng góp của họ thì mai sau hậu thế sẽ gặp khó khăn, lâm vào cảnh sương mù trong việc đoán định và sẽ gặp rắc rối xung quanh việc tri ân, tôn vinh các bậc tiền bối, tất yếu là ý nghĩa giáo dục
sẽ bị giảm sút rất nhiều đối với con cháu
Thứ hai, để lưu giữ những giá trị tinh hoa văn hóa của các danh nhân văn hóa
và làm phong phú thêm kho tàng văn hóa dân tộc: nghiên cứu về các danh nhân văn hóa nói chung và các công trình, tác phẩm của họ giúp chúng ta sưu tập được các nguồn tư liệu quý để bảo quản, gìn giữ, nghiên cứu và đánh giá khách quan về những đóng góp của họ đối với lịch sử và văn hóa dân tộc Đồng thời, việc khảo cứu, biên tập và hệ thống các công trình, tác phẩm của các danh nhân văn hóa cũng góp phần làm phong phú và đa dạng kho tàng văn hóa của dân tộc Việt Nam
Thứ ba, để hậu thế noi gương sáng ngời của các danh nhân văn hóa, nhằm kế
tục và phát triển hơn nữa: thông qua các tư liệu, tài liệu, công trình mà các danh nhân văn hóa để lại và các tư liệu, tài liệu viết, nghiên cứu về các danh nhân văn hóa của
các nhà nghiên cứu nhằm góp phần lan tỏa và phát huy những giá trị tinh hoa văn hóa
của các danh nhân văn hóa trong sự nghiệp xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Ngày nay trong bối cảnh toàn cầu hoá về nhiều mặt, trong
đó có văn hoá, chúng ta cần thiết phải giữ gìn những giá trị nhân văn tốt đẹp mà tổ tiên đã để lại Bởi lẽ, ngoài mặt tích cực, quá trình toàn cầu hoá chứa đựng rất nhiều mâu thuẫn phức tạp, trong đó ẩn chứa những nguy cơ có thể làm phát triển phiến diện con người Hơn nữa, trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, khi cá nhân và lợi ích cá nhân được đề cao, thậm chí phát triển thái quá thành chủ nghĩa cá nhân cực
Trang 28đoan thì những giá trị nhân văn trong văn hoá truyền thống nói chung không tránh khỏi những thách thức Quan trọng hơn, gìn giữ và phát huy các giá trị văn hoá Việt Nam nói chung và của các danh nhân văn hóa thực chất là để bồi dưỡng và phát triển nhân tố con người Việt Nam, một nguồn nội lực rất quan trọng và có ý nghĩa quyết định chống mọi sự tha hoá nhân cách và xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa
Thứ tư, việc nghiên cứu các danh nhân văn hóa nhằm cung cấp cơ sở khoa học
góp phần đề xuất, hoàn thiện các chính sách về văn hóa của Đảng và Nhà nước: Đất nước đang hội nhập sâu rộng trên các lĩnh vực, cùng với đó là những ảnh hưởng giao thoa về văn hóa, vì vậy việc nghiên cứu danh nhân văn hóa góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc; trên cơ sở đó đề xuất, kiến nghị Nhà nước có chính sách đầu tư, chính sách sử dụng di sản, phát triển các nguồn lực kinh tế du lịch văn hóa một cách bền vững, nhằm đẩy mạnh quảng bá hình ảnh và ý nghĩa nhân văn của di sản văn hóa do các danh nhân văn hóa truyền lại trên khắp cả nước và đến bạn bè quốc tế, qua đó góp phần quảng bá hình ảnh dân tộc Việt Nam là một dân tộc văn hóa và yêu chuộng hòa bình
1.2 CƠ SỞ HÌNH THÀNH VĂN HÓA ỨNG XỬ CỦA PHẬT HOÀNG TRẦN NHÂN TÔNG
1.2.1 Thời đại xã hội và tư tưởng Đại Việt thế kỷ XIII - đầu thế kỷ XIV
1.2.1.1 Thời đại xã hội
* Tình hình chính trị, kinh tế, xã hội nước Đại Việt thế kỷ XIII - đầu thế kỷ XIV
Năm 1010, Lý Công Uẩn lên ngôi Hoàng đế (Lý Thái Tổ), đặt niên hiệu là Thuận Thiên, cho dời đô từ Hoa Lư về thành Đại La, sau đó đổi thành Thăng Long (rồng bay) Sau đó, Lý Thánh Tông chính thức đặt quốc hiệu là Đại Việt Cuối thế kỷ XII, nhà Lý bắt đầu bước vào thời kỳ suy tàn, vua quan bê tha, không chăm lo đời sống nhân dân; hạn hán lụt lội xảy ra liên miên, nhân dân cực khổ; dân chúng nhiều nơi nổi dậy đấu tranh, các thế lực phong kiến chống lại triều đình Trước tình hình
đó, nhà Lý đã dựa vào họ Trần để dẹp loạn và duy trì quyền lực Đến cuối năm 1225,
Trang 29vua Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh, nước Đại Việt bước vào một giai đoạn lịch sử mới - thời đại nhà Trần (1225-1400) Từ đó, trải qua các triều vua, nhà Trần ra sức xây dựng, làm hoàn thiện dần bộ máy nhà nuớc quân chủ trung ương tập quyền, xây dựng và củng cố kinh tế, củng cố lực lượng quốc phòng vững mạnh, xây dựng và củng cố khối đoàn kết dân tộc, lãnh đạo nhân dân chống ngoại xâm thắng lợi trong ba lần chống Nguyên - Mông vào các năm 1258, 1285, 1288
- Tổ chức hành chính và bộ máy quan lại
Quan chế của nhà nước triều nhà Lý (1009-1225) được tổ chức tương đối có quy củ, chặt chẽ hơn các triều đại Ngô, Đinh, Tiền Lê nhưng khi sang đời Trần, tổ chức bộ máy quan lại ở trung ương có bước hoàn thiện hơn nếu so với đời Lý Nhà Trần đặt ra chế độ Thái thượng hoàng nghĩa là vua cha truyền ngôi cho con trai trưởng (hoàng thái tử) nhưng vẫn cùng với vua (con) trông coi chính sự Chế độ Thái thượng hoàng đời Trần là để ngăn chặn tình trạng các đại thần chuyên quyền, cướp ngôi khi vua còn ít tuổi
“Ngoài bộ, có các cơ quan chuyên trách như ở thời Lý, nhưng nhiều hơn, tổ
chức chặt chẽ hơn như: các Cục (Nội thư hoả cục, Chi hậu cục); các Đài (Ngự sử đài
với các chức Tả hữu Gián nghị đại phu, Thị ngự sử, Giám sát ngự sử v.v.);
các Viện (Khu mật viện với các chức Tri mật viện sự, Khu mật tham chính, Thiêm tri
Mật viện sự, Giám sự, v.v.), Hàn lâm viện (với các chức Hàn lâm học sĩ, Hàn lâm phụng chỉ, ), Quốc sử viện, Thâm hình viện, Quốc tử giám, v.v
Nhìn chung, bộ máy quan lại ở trung ương thời Lý - Trần cấu trúc theo ba cấp: trung ương, cấp hành chính trung gian (Trấn, Lộ, Phủ); cấp hành chính cơ sở (tổng,
xã, hương) Bộ máy Nhà nước từ đời Lý sang đời Trần được tổ chức ngày càng có hệ thống, đầy đủ hơn
Nhà Trần đổi 24 lộ thành 12 lộ (từ năm 1242): Lộ Thiên Trường (gồm Xuân Trường, Mỹ Lộc thuộc tỉnh Hà Nam ngày nay), Long Hưng (Tiên Hưng, Thái Bình), Quốc Oai (Hà Tây), Bắc Giang (nay là Bắc Giang), Hải Đông (Quảng Ninh), Trường Yên (Hà Nam), Kiến Xương (Thái Bình), Hồng (Hải Dương), Khoái (Hưng Yên),
Trang 30Hoàng Giang (Hà Nam), Lạng Giang (Lạng Sơn), Thanh Hoá Dưới lộ, là phủ và châu, huyện ; dưới nữa có tổng, xã, hương Đứng đầu các lộ là An phủ sử, ở các phủ
là Tri phủ, rồi đến các viên chức Thông phán, Thiên phán, Tào vận, Lệnh uý v.v Các châu do Chuyển vận sứ, Thông phán quản lý, ở huyện do Lệnh uý, Chủ bạ coi giữ Chế độ xã quan được phổ biến ở các xã Đứng đầu các xã là Đại tư xã và Tiểu tư xã Các viên xã quan được tuyển chọn trong hàng ngũ những người có phẩm hàm, từ ngũ phẩm trở lên làm Đại tư xã, từ lục phẩm trở xuống giữ chức Tiểu tư xã (xã nhỏ) Dưới đại, Tiểu tư xã có các chức Xã trưởng, Xã giám giúp việc sổ sách
Nhà Trần còn đặt thêm một tổ chức phụ trách về dòng họ nhà vua gọi là Tông chính phủ Năm 1230, nhà Trần cho ban hành bộ sách Thông chế gồm 20 quyển, lại
cho soạn sách Quốc triều thường lễ, ghi chép công việc của triều đình Việc cai quản
đất nước dưới đời Trần theo quy chế rõ ràng, có bước tiến bộ, phát triển hơn đời Lý Nhà Trần cũng thực hiện chế độ ban phong thái ấp cho vương hầu, tôn thất và cho phép họ được xây dựng phủ đệ riêng.”1
Đời Trần, tất cả các chức vụ quan trọng trong triều cũng đều giao cho vương hầu quý tộc nhà Trần nắm giữ, nên toàn bộ công việc chủ chốt trong triều, quyền lực tập trung trong tay nhà nước trung ương; chế độ quân chủ trung ương tập quyền được củng cố thêm một bước Điều này đã phản ánh rõ nét tính đẳng cấp sâu sắc, nhất là dưới đời Trần
- Tổ chức quân đội và quốc phòng
Bởi luôn bị quân Nguyên Mông dòm ngó nên nhà Trần rất chú trọng xây dựng lực lượng quốc phòng vững mạnh, tổ chức quân đội có quy củ, chặt chẽ Tất cả con trai đến tuổi 18 (gọi là hoàng nam) đều phải đăng lính Với chính sách "ngụ binh ư nông", quân lính luân phiên nhau cày cấy nhằm vừa bảo đảm sản xuất nông nghiệp, vừa bảo đảm số quân cần thiết, đã có ý nghĩa tích cực trong công cuộc dựng nước và giữ nước
1 Tình hình chính trị, kinh tế, xã hội thời Lý – Trần (thế kỷ XI-XIV)
http://www.lichsuvietnam.vn/home.php?option=com_content&task=view&id=700&Itemid=99999999 , truy cập ngày 06/12/2018
Trang 31Chỉ huy quân đội hồi này có Đô thống, Nguyên soái, Tổng quản, Thượng tướng,
Đại tướng, Đô tướng Quân đội cũng chia làm hai bộ phận như đời Lý là cấm quân
và quân các lộ Cấm quân được tuyển chọn kỹ, gồm những thanh niên khoẻ mạnh, thông thạo võ nghệ Cấm quân chia thành đội ngũ, mỗi quân gồm 30 đô, mỗi đô 80 người, tổng số có 10 quân Khác với đời Lý, nhà Trần cho phép các vương hầu được
mộ dân làm gia thuộc, gia đồng, lập thành đội quân riêng và trực tiếp chỉ huy, tạo nên một bộ phận ‘quân đội vương hầu’ Đội quân này đã góp phần tích cực và có hiệu quả trong các cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên - Mông Ngoài lục quân, thuỷ quân đời Trần là một lực lượng hùng mạnh gồm nhiều thuyền chiến, được luyện tập binh pháp, giỏi bơi lội, thiện chiến [Tình hình chính trị, kinh tế, xã hội thời
Hình thư, đây là bộ luật thành văn đầu tiên của nhà nước quân chủ Việt Nam Bộ
Hình thư ra đời thay thế cho các quy chế, luật lệ, chiếu chỉ trước đó Các triều vua Lý
về sau
Đến đời Trần, pháp luật từng bước được đổi mới Hoạt động pháp chế được tăng cường Gốc nhân ái của pháp luật vẫn được giữ gìn, nhưng tinh thần pháp trị ngày
càng được đề cao Năm 1230, Trần Thái Tông đã cho soạn Quốc triều Hình luật Năm
1341, Trần Dụ Tông sai Nguyễn Trung Ngạn và Trương Hán Siêu soạn Hình thư Tên Hình luật và Hình thư đã nói rõ tính chất của các bộ luật đó Việc xử án, thi hành
án cũng được chú ý [Trương Hữu Quýnh - Đinh Xuân Lâm - Lê Mậu Hãn chủ biên,
2008, tr.34]
Trang 32Luật của nhà Trần bảo vệ địa vị và quyền lợi kinh tế của vua quan, quý tộc; đặc biệt của nhà vua và đưa ra những hình phạt rất tàn khốc đối với những ai phạm tội
Có thể nói, nếu nhà Lý mở đầu cho thời kỳ pháp luật thành văn và đưa pháp luật chính thức đi vào cuộc sống, thì nhà Trần đã kế thừa di sản tích cực đó, nâng cao hơn một bước để thúc đẩy sự phát triển về mọi mặt của đất nước, có tác dụng góp phần bảo vệ thành công nền độc lập, thống nhất quốc gia Nét đặc sắc của pháp luật thời
Lý - Trần là tinh thần pháp chế ngày càng được đề cao nhưng cái gốc của đạo trị nước
là nhân và đức vẫn được chú trọng trong thực thi pháp luật, mặc dù tính giai cấp và đẳng cấp trong pháp luật vẫn rất đậm nét.1
- Hoạt động đối ngoại
Triều Trần tiếp tục thực hiện chính sách ngoại giao tích cực, chủ trương giao hảo với các nước lân bang như thời Đinh -Lê, nhưng kiên quyết chống trả các thế lực ngoại xâm để bảo vệ độc lập, toàn vẹn lãnh thổ
Nhà Trần tiếp tục chính sách của nhà Lý trong việc giữ yên biên cương, bảo toàn lãnh thổ Dù có sự việc xảy ra vào năm 1252, quân Champa đã cướp bóc vùng ven biển phía nam nước ta và đã bị quân Đại Việt, dưới sự chỉ huy của vua Trần Thái Tông, tiến quân vào đánh bại, nhưng nổi bật lên vẫn là quan hệ hoà hiếu rất tốt đẹp giữa nhà Trần với vương triều Indravarman IV của Champa, nhất là trong và sau cuộc phối hợp kháng chiến chống quân Nguyên xâm lược Trong quan hệ ngoại giao với Mông Cổ, nhà Trần tỏ thái độ khéo léo mềm dẻo nhưng rất kiên quyết tìm mọi cách
để giữ vững độc lập, tự chủ, mặc dù vẫn chịu nộp cống cho chúng theo lệ thường từ trước với nhà Tống, làm cho nhà Nguyên phải kính nể Khi quân Nguyên - Mông xâm lược nước ta, nhờ chính sách ‘khoan thư sức dân’ cùng chủ trương đại đoàn kết toàn dân mà nhà Trần đã lãnh đạo và huy động toàn thể nhân dân để tạo nên sức mạnh tổng hợp, cả nước đứng lên đánh thắng đội quân xâm lược Nguyên Mông hung hãn
1 Tình hình chính trị, kinh tế, xã hội thời Lý – Trần (thế kỷ XI-XIV)
http://www.lichsuvietnam.vn/home.php?option=com_content&task=view&id=700&Itemid=99999999 , truy cập ngày 06/12/2018
Trang 33và hùng hậu nhất thế giới lúc bấy giờ vào các năm 1258, 1285, 1288, bảo vệ toàn vẹn chủ quyền và độc lập của đất nước1
* Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên - Mông 2
- Cuộc kháng chiến lần thứ nhất (1257)
Năm 1257, vua nhà Nguyên (Mông Cổ) quyết định tấn công với quy mô lớn nhằm tiêu diệt nước Nam Tống Trong đợt tấn công xâm lược này, một đạo quân gồm ba vạn do tướng Uryangkhađai (Ngột Lương Hợp Thai) chỉ huy được lệnh đánh thẳng vào Đại Việt rồi từ đây tiến vào miền Quảng Tây phối hợp với các đạo khác Trước khi xâm nhập biên giới nước ta, tướng Mông Cổ cho sứ giả sang dụ hàng vua nhà Trần Vua Trần bắt trói sứ giặc, ra lệnh cho nhân dân chuẩn bị kháng chiến Chờ mãi không thấy sứ giả về, quân Mông Cổ chia 2 đường dọc sông Thao tiến vào Ngày 17-01-1258 giặc kéo đến Bình Lệ Nguyên (thuộc Tam Đảo, Vĩnh Yên) Cuộc giao chiến lớn đầu tiên xảy ra, sau đó quân nhà Trần rút về Phù Lỗ Tiếp đó, nhà Trần cho phá cầu Phù Lỗ, dàn quân phòng ngự bên bờ sông, quân giặc tấn công đuổi theo quân Trần đến Đông Bộ Đầu Triều đình nhà Trần chủ trương rút khỏi Thăng Long, về đóng ở Thiên Mạc (Khoái Châu, Hưng Yên) Nhân dân thực hiện chủ trương "vườn không nhà trống" của nhà vua, quân giặc vào Thăng Long không người, chỉ thấy các sứ giả của chúng bị trói nằm trong ngục tối Chiếm được kinh thành bỏ trống, không có lương thực, quân Mông Cổ lúng túng Lợi dụng thời cơ, ngày 29-01-
1258 quân Trần phản công đánh tan quân địch ở Đông Bộ Đầu Quân địch bị đánh bật khỏi Thăng Long, tháo chạy về Vân Nam Cuộc kháng chiến kết thúc thắng lợi
- Cuộc kháng chiến lần thứ hai (1285)
1 Tình hình chính trị, kinh tế, xã hội thời Lý – Trần (thế kỷ XI-XIV)
http://www.lichsuvietnam.vn/home.php?option=com_content&task=view&id=700&Itemid=99999999 , truy cập ngày 06/12/2018
2 Tình hình chính trị, kinh tế, xã hội thời Lý – Trần (thế kỷ XI-XIV)
http://www.lichsuvietnam.vn/home.php?option=com_content&task=view&id=700&Itemid=99999999 , truy cập ngày 06/12/2018
Trang 34Cuối tháng 01-1285, năm mươi vạn quân Nguyên do thái tử Thoát Hoan, con trai của vua Hốt Tất Liệt cùng với tướng Aric Khaya (A Lý Hải Nha) cầm đầu
ồ ạt tràn vào xâm lược Đại Việt Các trận đánh diễn ra quyết liệt ở nhiều nơi trên vùng biên giới Thấy thế giặc đang mạnh, Trần Hưng Đạo quyết định rút quân về Vạn Kiếp (Chí Linh, Hải Hưng) Sau một vài trận đánh nhằm tiêu hao sinh lực địch, quân chủ lực nhà Trần rút khỏi Thăng Long Nhân dân lại thực hiện "vườn không nhà trống" để chống giặc Quân giặc hùng hổ kéo vào Thăng Long vắng lặng, chúng vội rút về đóng ở phía bắc sông Hồng
Cùng thời gian này, Toa Đô từ Champa chỉ huy một đạo quân đánh ra Nghệ An thực hiện thế hai gọng kìm hòng siết chặt quân ta lại để tiêu diệt Trần Quốc Tuấn và vua Trần lui quân ra các lộ miền biển rồi rút vào Thanh Hoá (tháng 4- 1285) Tháng 4 năm Ất Dậu (tháng 5-1285) không bắt được vua Trần và không tiêu diệt được quân chủ lực nhà Trần, quân giặc lâm vào một tình thế khó khăn lớn, thiếu lương thực, ốm đau, bệnh tật Nắm đúng thời cơ đó, quân đội nhà Trần liên tiếp tấn công quân giặc và tiêu diệt chúng ở bến Tây Kết (Khoái Châu
- Hưng Yên), Hàm Tử (Khoái Châu), Chương Dương (Thường Tín - Hà Tây), Thăng Long Ngày 10-6-1285, Thoát Hoan cùng quân giặc tháo chạy, trên đường chạy trốn, Thoát Hoan phải chui vào ống đồng mới thoát thân, Toa Đô
bị chém đầu ở Tây Kết, Ô Mã Nhi tháo chạy nhưng bị quan ta bắt sống Đất nước Đại Việt sạch bóng quân xâm lược
- Cuộc kháng chiến lần thứ ba (1287-1288)
Thất bại nặng nề, nhục nhã ở Đại Việt đã làm cho vua nhà Nguyên hết sức căm giận Y hạ lệnh điều động hàng chục vạn quân, hàng trăm chiến thuyền lớn, thuyền lương thực để xâm lược Đại Việt lần thứ 3 Tháng 12-1287, quân Nguyên
ồ ạt tràn vào nước ta Quân bộ do Thoát Hoan trực tiếp chỉ huy vượt biên giới, đánh vào Lạng Sơn, rồi tiến xuống phía nam, đóng quân tại Vạn Kiếp, xây dựng căn cứ vững chắc Cùng lúc đó, đạo thuỷ quân gồm 600 chiếc thuyền lớn do tướng Ô Mã Nhi cầm đầu theo đường biển tiến vào cửa sông Bạch Đằng Quân
Trang 35nhà Trần bố trí trận phục kích ở Vân Đồn, phần lớn thuyền địch bị đắm, số còn lại bị quân Trần chiếm Tháng 01-1288, đội quân do Thoát Hoan chỉ huy tiến vào Thăng Long nhưng lại rơi vào tình thế tiến thoái lưỡng nan, thiếu lương ăn, không hợp thủy thổ Đầu tháng 4-1288, đoàn thuyền do Ô Mã Nhi chỉ huy có kỵ binh hộ tống rút về trước theo hướng sông Bạch Đằng Đại quân Nguyên - Mông lại bị quân dân nhà Trần mai phục và tiêu diệt tại cửa sông Bạch Đằng Cùng thời gian đó, đạo quân bộ do Thoát Hoan chỉ huy rút chạy theo hướng Lạng Sơn, bị quân dân ta phục kích đánh tan tác Ngày 18-4-1288, nhà Trần làm lễ
tế mừng thắng trận (lễ Hiến tiệp) trước lăng mộ Trần Thái Tông ở phủ Thiên Trường (Nam Định)
Thắng lợi to lớn trong cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông ở thế kỷ XIII đã chứng minh chân lý: khi một nước nhỏ, dân không đông nhưng biết đoàn kết, quyết tâm cầm vũ khí và mưu trí đánh giặc thì có thể đánh bại những kẻ thù mạnh và hung hãn nhất Trần Hưng Đạo, người có công lớn nhất trong kháng chiến (lần thứ 2, thứ 3), nhà chỉ huy quân sự thiên tài, người anh hùng của dân tộc đã khẳng định nguồn gốc của sức mạnh để chiến thắng kẻ thù là "cả nước
ra sức đánh giặc" nên "bọn giặc phải bị bắt"
1.2.1.2 Tư tưởng Đại Việt thế kỷ XIII - đầu thế kỷ XIV
Thực tiễn nước ta vào thế kỷ XIII - đầu thề kỷ XIV đòi hỏi giai cấp thống trị nhà Trần một mặt phải xây dựng và hoàn thiện tư tưởng chính trị đáp ứng nhu cầu xã hội: bảo vệ địa vị, quyền lợi của giai cấp thống trị phong kiến, đấu tranh chống giặc ngoại xâm, xây dựng và phát triển Đại Việt hùng mạnh trên mọi phương diện Trước nhu cầu thực tiễn của đất nước ta lúc bấy giờ, việc giữ vững truyền thống văn hóa dân tộc và sự tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại du nhập nước ta, tiêu biểu là Phật giáo, Nho giáo và Đạo giáo là điều tất yếu Những nội dung cơ bản của tư tưởng chính trị đời Trần thể hiện trong quan điểm chính trị, xã hội, quan điểm
đối nội và đối ngoại của vương triều nhà Trần “Trong đó, quan điểm về thể chế chính trị và tổ chức xã hội được cụ thể hóa thành quan điểm về cơ cấu xã hội, quan hệ giai
Trang 36cấp xã hội, quyền lực chính trị của các giai tầng trong xã hội, quan điểm về cách thức tổ chức chính quyền nhà nước đời Trần và quan điểm về tổ chức và quản lý xã hội bằng pháp luật, bằng sự kết hợp hài hòa giữa pháp trị và đức trị Phân tích tư tưởng đối nội và đối ngoại trong tư tưởng chính trị đời Trần, có thể thấy bật lên tư tưởng yêu nước, ý thức độc lập tự chủ, tinh thần đoàn kết dân tộc, tư tưởng vương quyền và thần quyền, tư tưởng thân dân, khoan thư sức dân, quan điểm về đường lối
tổ chức quân sự và quan điểm ngoại giao khéo léo của nhà Trần với chính quyền phong kiến phương Bắc và các nước láng giềng, cận bang Tư tưởng ấy đã chỉ đạo nhà Trần xây dựng và củng cố một bộ máy chính quyền phong kiến tập trung quan liêu có quy củ và hoàn thiện hơn so với các triều đại trước kia, thực hiện thành công
sứ mệnh lịch sử của triều đại” [Ngô Sĩ Liên (1998), Đại Việt sử ký toàn thư, bản dịch,
tái bản, tr.154]
Tư tưởng chính trị đời Trần có thể tóm lược qua ba đặc điểm cơ bản sau:
Về tính tiếp biến, đời Trần đã học tập, kế thừa, tiếp thu một cách chọn lọc những quan điểm tư tưởng, chính trị của các triều đại trước, những học thuyết chính trị được
du nhập trên tinh thần Tam giáo đồng nguyên, kết hợp hài hòa với văn hóa bản địa
của dân tộc Việt, để cải biến nó thành những quan điểm chính trị phù hợp với tư tưởng, chính trị, văn hóa xã hội triều đại Trần
Về tính thực tiễn, tư tưởng chính trị đời Trần phản ánh trực tiếp thực tiễn xã hội Việt Nam lúc bấy giờ, đồng thời biết cách biến lòng yêu nước, ý chí độc lập dân tộc mạnh mẽ, chủ quyền lãnh thổ của dân tộc thành hành động cụ thể trong quá trình đấu tranh chống ngoại xâm và xây dựng, phát triển đất nước
Về tính nhân bản sâu sắc, tư tưởng chính trị đời Trần đã phản ánh rõ nét quan điểm thân dân, khoan thư sức dân, lấy dân làm gốc, quan điểm chính trị lấy đạo đức làm nền tảng nhằm thu phục nhân tâm, củng cố xã hội, chống giặc ngoại xâm, ổn định chính trị để phát triển kinh tế, văn hóa, an ninh quốc phòng
Dưới đây là nghiên cứu về những đặc điểm điển hình của tư tưởng Đại Việt thế
kỷ XIII, gắn với thời kỳ huy hoàng trong lịch sử dân tộc:
Trang 37- Tư tưởng “lấy dân làm gốc”, chủ trương thân dân
Quá trình dựng nước và giữ nước lịch sử Việt Nam đã có rất nhiều bài học về lòng dân, lấy dân làm gốc, một trong những bài học sâu sắc, dường như còn nóng hổi
và khắc nghiệt nhất, đó là bài học về lòng dân vào thời đại nhà Trần, ở nửa cuối thế
kỷ XIII Từ việc cố kết lòng dân một lòng để hưng thế nước, nhà Trần bắt đầu từ việc
chăm lo đời sống cho toàn dân Nước ta thời đó dân sống thuần về nông nghiệp, nên
từ năm Tân Mão (1231) triều đình đã cho đào, vét các kênh Trầm, kênh Hào thuộc huyện Ngọc Sơn (nay là Tĩnh Gia) Thanh Hóa chạy suốt đến phía nam Châu Diễn (Diễn Châu, Nghệ An ngày nay) để dân có nước cày cấy Để có nhiều nhân lực làm ruộng, để dân yên tâm cày cấy, để bớt chi phí cho việc quân và cũng bớt cho việc dân phải đóng góp, nhà Trần vẫn giữ chính sách “ngụ binh ư nông” khởi phát từ nhà Lý [Đào Duy Anh 1992, Việt Nam văn hóa sử cương, tái bản, tr.182]
Trong khi đó, các vị tướng lĩnh của triều đình lại chia sớt gian nan cùng binh sĩ,
sẵn sàng xả thân để cứu nước Tấc lòng này được thể hiện trong Dụ chư tỳ tướng hịch văn của Tiết chế Quốc công Trần Hưng Đạo: “Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm
vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa; chỉ căm tức chưa xả thịt lột da, nuốt gan, uống máu quân thù Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa ta cũng vui lòng” [Viện Văn học, Thơ văn Lý – Trần, Tập 2, 1988, tr.391] Vị chỉ huy tối cao đã trăn trở quặn thắt tâm can như thế, nên mới truyền được
nhiệt huyết cho toàn quân Trần Hưng Đạo đã khích lệ được lòng yêu nước, lòng tự hào sẵn có ở mỗi con người, và thổi vào đó hào khí của thời đại để tạo nên phẩm chất cao thượng và đức hy sinh của toàn quân
Sở dĩ nhà Trần tạo được sức mạnh siêu thần nhập hóa để giữ nước, là bởi triều đình đã cố kết được lòng dân, tạo được khối đại đoàn kết dân tộc vững chắc Trong nhà thì anh em hòa mục; triều đình thì trên dưới thuận hòa; tướng sĩ như cha con; cả
xã hội thì thực hành Thập thiện Lòng dân có thể ví như nước, bao la, vô tận Sức dân như sức nước Nước có những hạt bé li ti như hạt sương trên ngọn cỏ, nắng lên là tan biến Nhưng nước hợp lại có thể làm nên cường lực, tạo ra những trận sóng thần ghê
Trang 38gớm hoặc cơn đại hồng thủy thì không một thành trì kiên cố nào ngăn chặn được, không một sức mạnh bạo tàn nào có thể cưỡng lại nổi
- Chủ nghĩa yêu nước
Vào thế kỷ XIII, trong vòng 30 năm (1258-1288) quân dân nhà Trần đã ba lần chiến đấu và ba lần đại thắng quân Nguyên – Mông xâm lược, viết nên trang sử vàng chói lọi của dân tộc Nước Đại Việt nhỏ bé, quân ít, dân không đông, tiềm lực có hạn nhưng đã đánh thắng một đội quân xâm lược khổng lồ, hùng mạnh và tàn bạo nhất trong lịch sử thế giới bấy giờ, có trang bị đầy đủ, từng chinh phục đại bộ phận lục địa
từ Á sang Âu Đó là nhờ nhà Trần đã biết cách phát huy cao độ chủ nghĩa yêu nước của quân và dân Đại Việt Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam mang đậm tư tưởng dân chủ và tính nhân văn sâu sắc, yêu nước gắn liền với yêu dân và ý thức cộng đồng, phản ánh tư tưởng chủ đạo “Nước lấy dân làm gốc” Trong thế kỷ XIII, với tư tưởng
tiến bộ của Trần Hưng Đạo “khoan thư sức dân, làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách để giữ nước”, nhà Trần đã thực hiện tư tưởng “cử quốc nghênh địch”, “Dĩ đoản (binh), chế trường (trận)”, định hướng và phát huy cao độ lòng yêu nước của toàn
dân để ba lần đánh thắng quân xâm lược Nguyên - Mông [Lê Mạnh Thát 2000, tr.132]
Thực chất của tư tưởng quân sự “dĩ đoản chế trường” của Trần Quốc Tuấn là dùng nhỏ đánh lớn, lấy ít địch nhiều, lấy yếu đánh mạnh, dùng trang bị kém đánh đối phương có trang bị mạnh, phát huy mặt mạnh của ta, hạn chế mặt mạnh của địch để đánh thắng chúng Đồng thời, muốn đánh thắng giặc Nguyên, phải “khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc”, phải đề cao tinh thần cố kết dân tộc, quân với dân một ý chí, tướng sĩ như cha con, toàn dân đánh giặc Tư tưởng “dĩ đoản chế trường” không chỉ là những tri thức quân sự thuần tuý, mà nó được bảo đảm chắc thắng dựa trên lĩnh vực chính trị “dân là gốc”, “toàn quốc đánh giặc”, “anh em hoà mục”, “tướng sĩ như cha con” [Lê Mạnh Thát 2000, tr.159]
- Tư tưởng “Tam giáo đồng nguyên” dựa trên cơ sở Phật giáo được coi như là quốc giáo
Trang 39Nhà Trần đã chủ trương một chính sách khoan dung hòa hợp và chung sống hòa bình giữa các tín ngưỡng tôn giáo như tín ngưỡng dân gian, Phật, Đạo, Nho Đó chính
là hiện tượng Tam giáo đồng nguyên, Tam giáo tịnh tồn ở thời kỳ này Nói như Phan Huy Chú, “thời Lý - Trần, dù là chính đạo hay dị đoan đều được tôn chuộng, không phân biệt” Trên nền tảng đó, nhìn chung các tín ngưỡng dân gian, Đạo giáo và đặc biệt là Phật giáo đã được tôn sùng Hiện tượng hội nhập ba thành tố Phật, Nho và Đạo
là một hiện tượng đặc sắc hiếm có trong sinh hoạt của cộng đồng người Việt dưới thế
kỷ XIII, nó là nét riêng góp phần tạo nên một bầu không khí về sau dường như không còn tìm thấy lại; cũng chính nó đã góp phần tạo nên bản sắc ưu mĩ của văn hóa Việt Nam trong năm thế kỷ tự chủ buổi đầu này Trong bối cảnh của sự khoan dung, hòa hợp tôn giáo “Tam giáo đồng nguyên” đó, nhà Trần chủ yếu kết hợp giữa Phật và Nho, giữa giáo lý và thực tiễn đời sống trong thực hiện chính sách cai trị, xây dựng đất nước và chống giặc ngoại xâm [Ngô Sĩ Liên, bản dịch 1998, tái bản, tr.60]
Bên cạnh tư tưởng “Tam giáo đồng nguyên”, nhà Trần coi đạo Phật như quốc giáo, là tôn giáo thịnh đạt nhất trong xã hội thời Lý - Trần Hầu hết các vua nhà Lý (Thái Tổ, Thái Tông, Thánh Tông, Nhân Tông, Thần Tông, Anh Tông) và nhiều vua Trần (Thái Tông, Thánh Tông, Nhân Tông, Anh Tông, Minh Tông) đều sùng mộ đạo Phật, sai xây dựng trùng tu chùa tháp, tô tượng đúc chuông, dịch kinh Phật, soạn sách Phật… Như năm 1031, vua Lý xuống chiếu phát tiền, thuê thợ làm chùa quán ở các hương ấp, tất cả 150 chỗ Nhiều quý tộc tôn thất đã quy y Phật như Hoàng hậu Ỷ Lan, Trần Thái Tông, Tuệ Trung Thượng sĩ Trần Tung, Trần Thánh Tông Còn Trần Nhân Tông thì sau khi nhường ngôi cho con, lên làm Thái thượng hoàng, rồi sau đó, Ngài xuất gia và sáng lập Thiền phát Trúc Lâm Yên Tử
Khắp nơi trên đất nước, nhiều chùa chiền đã được xây dựng như các chùa Diên Hựu (Một Cột), Phật Tích, Long Đội, Báo Thiên, Bối Khê, Thái Lạc, Phổ Minh, cụm quần thể chùa tháp ở Yên Tử Phần lớn các công trình này đã được nhà nước tài trợ Đông đảo quần chúng bình dân trong làng xã nô nức theo đạo Phật Lê Quát sống vào
cuối đời Trần, nhận xét: “Cho nên từ trong kinh thành cho đến ngoài châu phủ, kể cả những nơi thôn cùng ngõ hẻm, không bảo mà người ta cứ theo, không hẹn mà người
Trang 40ta cứ tin” [Viện Văn học, Tập 3, 1978, tr.145] Trần Thái Tông viết: “Vì vậy, phương tiện dẫn dụ đám người mê muội, con đướng tắt sáng tỏ lẽ tử sinh, ấy là đạo giáo của đức Phật Đặt mực thước cho hậu thế, làm khuôn mẫu cho tương lai, ấy là trách nhiệm của bậc tiên thánh” [Viện Văn học, Tập 2, 1988, tr.27] Trần Nhân Tông thì chủ trương “Sống giữa cuộc đời vẫn vui với đạo” (Cư trần lạc đạo) [Viện Văn học,
Tập 2, 1988, tr.497] Có thể nói ‘Đạo Phật đời Trần đã ảnh hưởng đến đường lối cai trị của Nhà nước (chính sách thân dân, khoan dung), là đối trọng tư tưởng của Nho giáo, tạo nên thế cân bằng tôn giáo’ [Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam, 1995]
1.2.2 Cuộc đời và sự nghiệp Phật hoàng Trần Nhân Tông
Lịch sử mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta là những bản trường ca bất hủ, những trang vàng chói lọi để lại cho con cháu muôn đời, là hành trang cho những thế hệ sau tự hào bước tiếp Nhìn vào những trang sử vẻ vang ấy của lịch sử dân tộc, tất cả chúng ta đều thừa nhận triều đại nhà Trần là một trong những triều đại hưng thịnh và vẻ vang nhất trong lịch sử nước ta Đóng góp vào thành công của triều đại nhà Trần không thể không nói đến vai trò nổi bật của vua Trần Nhân Tông - mẫu hình tác giả Hoàng đế - Thiền sư - Thi sĩ tiêu biểu cho cả một thời đại huy hoàng trong lịch sử dân tộc
đời, Ngài có màu da vàng bóng, bên vai trái của Trần Nhân Tông có nốt ruồi đen,
mọi người cho rằng đó là tướng tốt, có thể cáng đáng được những việc lớn: “tinh anh thánh nhân, thuần tuý đạo mạo, sắc thái như vàng, thể chất hoàn hảo, thần khí tươi sáng [Dẫn lại: Lê Mạnh Thát 1999, tr.14] Khi còn nhỏ, Trần Nhân Tông được vua
cha là Thánh Tông đặt tên là Phật Kim, còn có tên là Nhật Tôn, rồi Trần Khâm Thuở nhỏ, Ngài từng bày tỏ nguyện vọng nhường ngôi Thái tử cho em, và mong muốn xuất