- Đánh giá kết quả can thiệp của NVXH với gia đình của trẻ có NCCPT qua kết quả nâng cao năng lực của gia đình: Tâm lý, mối quan hệ trong gia đình và khả năng ứng phó với các vấn đề của
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA CÔNG TÁC XÃ HỘI _
VÕ THỊ THU HÀ
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA
CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI GIA ĐÌNH CỦA
TRẺ CÓ NGUY CƠ CHẬM PHÁT TRIỂN (Trẻ trong độ tuổi từ 2 đến 4 sống trong cộng đồng
tại Thành phố Hồ Chí Minh)
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
Mã ngành: 60.90.01.01
Thành phố Hồ Chí Minh – năm 2018
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA CÔNG TÁC XÃ HỘI _
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
Người hướng dẫn khoa học
TS LÊ VĂN CÔNG
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để thực hiện được nghiên cứu và hoàn thành luận văn này, tôi vô cùng biết
ơn tất cả các gia đình, trẻ và nhân viên xã hội đã đồng ý làm mẫu nghiên cứu và đồng hành cùng tôi trong nghiên cứu cho luận văn này
Tôi chân thành biết ơn Tiến sĩ Lê Văn Công, thầy không những hướng dẫn kinh nghiệm nghiên cứu khoa học cho tôi mà còn khích lệ tôi vượt qua khó khăn cá nhân trong quá trình thực hiện nghiên cứu
Tôi rất cảm kích trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã tổ chức bậc học cao học của ngành Công tác xã hội và xin cám ơn các quý thầy cô đã giảng dạy
và hỗ trợ công tác học tập, nhờ đó mà tôi có điều kiện được học tập phát triển bản thân
Và lời cám ơn sâu sắc này tôi xin gửi đến quý thầy cô đã truyền dạy kiến thức, kinh nghiệm và kiểm huấn tôi trong suốt thời gian từ khi tôi bước chân vào nghề Công tác xã hội đến nay
Tôi xin chân thành cám ơn các bạn đồng học, đồng nghiệp và tổ chức WWO
đã tạo điều kiện và hỗ trợ tôi hoàn thành việc học của mình
Lời sau cùng xin dành cám ơn đại gia đình tôi, xin trân trọng tất cả các sự giúp
đỡ này
Tp.HCM tháng 12 năm 2018
Học viên
Võ Thị Thu Hà
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Lê Văn Công
Các số liệu, các kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này hoàn toàn trung thực
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Tác giả
Võ Thị Thu Hà
Trang 5MỤC LỤC PHẦN 1 MỞ ĐẦU _ 1
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2 MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU _ 42.1 Mục Tiêu nghiên cứu 42.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU _ 53.1 Khách thể nghiên cứu 53.2 Đối tượng nghiên cứu 5
4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 5
5 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 55.1 Thực trạng của gia đình và của trẻ NCCPT thay đổi như thế nào trước và sau can thiệp của NVXH? _ 55.2 Các yếu tố nào tác động và tác động như thế nào đến hiệu quả can thiệp của NVXH với gia đình của trẻ có NCCPT? _ 5
6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 56.1 Nghiên cứu tài liệu 66.2 Nghiên cứu thực tiễn _ 66.3 Mẫu nghiên cứu _ 86.4 Xử lý dữ liệu _ 9
7 Ý NGHĨA CỦA NGHIÊN CỨU _ 97.1 Ý nghĩa khoa học _ 97.2 Ý nghĩa thực tiễn 9
PHẦN 2 NỘI DUNG CHÍNH 11
Trang 6CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA CTXH VỚI GIA ĐÌNH CỦA TRẺ CÓ NCCPT 11
1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU _ 111.1 Gia đình (Tham gia của gia đình, tâm lý gia đình) – Can thiệp sớm _ 111.2 CTXH với gia đình và trẻ trong lĩnh vực khuyết tật 14
2 CÁC LÝ THUYẾT ỨNG DỤNG TRONG NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA CTXH VỚI GIA ĐÌNH CỦA TRẺ CÓ NCCPT 162.1 Các Lý thuyết Hệ thống : Hệ thống (Ludwig Von Bertalanfly) và Hệ thống sinh thái - (Carel Bailey Germain, Alex Gitteman) 162.2 Lý thuyết Phát triển nhận thức (Jean Piaget) _ 182.3 Lý thuyết Cấu trúc chức năng (Talcott Parsons) _ 19
3 CÁC KHÁI NIỆM VỀ GIA ĐÌNH, TRẺ NCCPT VÀ CTXH VỚI GIA ĐÌNH 203.1 Gia đình, trẻ NCCPT, bộ công cụ “Từng bước nhỏ một” và Can thiệp sớm 203.2 CTXH với gia đình có trẻ NCCPT _ 223.3 Đánh giá hiệu quả của CTXH với gia đình _ 263.4 Các yếu tố tác động đến kết quả can thiệp của NVXH với gia đình của trẻ có NCCPT 273.5 Mô hình nghiên cứu 31CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CỦA GIA ĐÌNH VÀ TRẺ TRƯỚC VÀ SAU CAN THIỆP CỦA NVXH 33
1 NĂM CÂU CHUYỆN NGHIÊN CỨU _ 331.1 Câu chuyện của K “CON LÀ TẤT CẢ” _ 331.2 Câu chuyện của S “LỠ NHỊP” 341.3 Câu chuyện của G “MỘT THẾ GIỚI KHÔNG AN TOÀN” _ 361.4 Câu chuyện của N “THEO CON TỪNG BƯỚC” _ 37
Trang 71.5 Câu chuyện của B “BA MẸ ƠI, CON CẦN BA MẸ” 39
2 THỰC TRẠNG TRẺ NCCPT TRƯỚC VÀ SAU CAN THIỆP 402.1 Kết quả từ tài liệu báo cáo đánh giá của NVXH: 412.2 Kết quả từ quan sát tương tác với trẻ trong thời gian nghiên cứu và những chia sẻ từ gia đình và NVXH 422.3 Đánh giá kết quả thay đổi của trẻ NCCPT trước và sau can thiệp của NVXH 47
3 SỰ THAY ĐỔI CỦA GIA ĐÌNH TRƯỚC VÀ SAU CAN THIỆP _ 473.1 Tâm lý _ 483.2 Mối quan hệ trong gia đình _ 523.3 Khả năng ứng phó với các vấn đề gia đình _ 543.4 Các dịch vụ NVXH cung cấp để hỗ trợ giúp tăng năng lực cho gia đình 57
4 ĐÁNH GIÁ SỰ THAY ĐỔI CỦA GIA ĐÌNH VÀ TRẺ SAU CAN THIỆP CỦA NVXH 61CHƯƠNG 3 CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HIỆU QUẢ CAN THIỆP CỦA NVXH VỚI GIA ĐÌNH CỦA TRẺ CÓ NCCPT _ 63
1 CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN KẾT QUẢ CAN THIỆP CỦA NVXH VỚI GIA ĐÌNH CỦA TRẺ CÓ NCCPT 631.1 Tuổi can thiệp của trẻ NCCPT 631.2 Dạng nguy cơ dẫn đến chậm phát triển của trẻ 641.3 Tham gia của gia đình trong quá trình can thiệp 651.4 Năng lực của NVXH 75
2 KẾT QUẢ PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN KẾT QUẢ CAN THIỆP CỦA NVXH _ 772.1 Dạng nguy cơ dẫn đến chậm phát triển – Yếu tố thuộc hệ thống của trẻ 772.2 Tuổi can thiệp của trẻ NCCPT- Yếu tố thuộc hệ thống của trẻ _ 78
Trang 82.3 Tham gia của gia đình – Yếu tố thuộc hệ thống của gia đình 782.4 Năng lực của NVXH – Yếu tố thuộc hệ thống của CTXH _ 80
PHẦN 3 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ _ 85
1 KẾT LUẬN 85
2 CÁC KIẾN NGHỊ DỰA TRÊN CÁC KẾT QUẢ THU THẬP ĐƯỢC NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CỦA CTXH VỚI GIA ĐÌNH VÀ TRẺ NCCPT 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO _ 91 PHỤ LỤC 1
Trang 9TÓM TẮT LUẬN VĂN
Nghiên cứu đánh giá hiệu quả của CTXH với gia đình của trẻ có NCCPT (từ
02 đến 04 tuổi tại TP.HCM) Từ đó đưa ra các kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng của CTXH với gia đình và trẻ NCCPT
Nghiên cứu thực hiện với 05 gia đình có trẻ gặp NCCPT và do 01 NVXH làm việc trực tiếp với cả năm gia đình và trẻ NCCPT 05 trẻ NCCPT đã được can thiệp khi trong độ tuổi từ 02 (24 tháng tuổi) đến 04 tuổi Khi tham gia nghiên cứu này 05 trẻ NCCPT đã vào độ tuổi từ 34 tháng tuổi đến 09 tuổi
Nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính: Nghiên cứu trường hợp (Case study) sử dụng các kỹ thuật thu thập dữ liệu cụ thể: phỏng vấn sâu người chăm sóc, NVXH đã làm việc với gia đình, quan sát trẻ và gia đình
Nghiên cứu thực hiện ba nhiệm vụ: Đánh giá kết quả can thiệp với trẻ và với gia đình của NVXH, phân tích các yếu tố tác động đến kết quả can thiệp của NVXH
và đưa ra các kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng của CTXH với gia đình của trẻ NCCPT Trong nghiên cứu này, hiệu quả của CTXH là kết quả can thiệp của NVXH với trẻ và với gia đình Đánh giá hiệu quả CTXH qua việc:
- Đánh giá kết quả can thiệp của NVXH với trẻ NCCPT qua bốn lĩnh vực phát
triển: Vận động thô, vận động tinh, nhận biết ngôn ngữ, cá nhân và xã hội
- Đánh giá kết quả can thiệp của NVXH với gia đình của trẻ có NCCPT qua
kết quả nâng cao năng lực của gia đình: Tâm lý, mối quan hệ trong gia đình và khả năng ứng phó với các vấn đề của gia đình
- Phân tích các yếu tố tác động đến kết quả can thiệp của NVXH với gia đình
của trẻ có NCCPT: Tham gia của gia đình, dạng nguy cơ dẫn đến CPT ở trẻ, tuổi can thiệp và năng lực của NVXH
Tham gia của gia đình và Năng lực NVXH là hai thành phần chính tác động đến hiệu quả CTXH với gia đình của trẻ có NCCPT Trong đó yếu tố Tham gia của gia đình mang tính trọng yếu trong việc hỗ trợ sự phát triển của trẻ NCCPT Đây là yếu tố có ý nghĩa quan trọng tác động mạnh mẽ đến hiệu quả CTXH với gia đình của trẻ NCCPT
Trang 11DANH MỤC BẢNG
BẢNG TÊN BẢNG TRANG
Bảng 3 1 THÔNG TIN CAN THIỆP 64
Bảng 3 2 TÓM TẮT QUÁ TRÌNH THAM GIA CỦA GIA ĐÌNH TRONG QUÁ TRÌNH CAN THIỆP 73
Trang 12DANH MỤC BIỂU ĐỒ
BIỂU ĐỒ TÊN BIỂU ĐỒ TRANG
Biểu đồ 2 1 CÁC HỖ TRỢ GIA ĐÌNH NHẬN TỪ NVXH 61
Trang 13DANH MỤC SƠ ĐỒ
SƠ ĐỒ TÊN SƠ ĐỒ TRANG
Sơ đồ 1 1 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 31
Sơ đồ 2.1 NĂNG LỰC GIA ĐÌNH 48
Sơ đồ 3 1 HIỆU QUẢ CỦA CTXH VỚI GIA ĐÌNH CỦA TRẺ NCCPT 63
Sơ đồ 4 1 HIỆU QUẢ CỦA CTXH VỚI GIA ĐÌNH CỦA TRẺ NCCPT 84
Trang 14PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Theo số liệu từ tổng điều tra Dân số và Nhà ở Việt Nam 2009 (Quỹ dân số Liên hiệp quốc [UNFPA], 2011): “Trong số 6.074.543 người khuyết tật, có 219.375 người, tương đương 3,6%, là trẻ em trong độ tuổi từ 5 đến dưới 16 tuổi; 283.733 người hay 4,7% số người khuyết tật là trẻ em và vị thành niên trong độ tuổi từ 5 đến dưới 18 tuổi” Điều cần nói là chưa có số liệu thống kê toàn diện về trẻ nhỏ có những nguy cơ hoặc các rối loạn về phát triển, trong khi các dịch vụ và chuyên môn chẩn đoán cho các trẻ này vẫn là vấn đề nhiều trăn trở suốt thập niên nay (Thanh Hương, 2011).Trong những năm gần đây, vấn đề nổi lên liên quan đến hội chứng tự kỷ như
“Nhiều trẻ bị kết luận tự kỷ … oan do bác sỹ ít thời gian tiếp xúc” (Nguyễn Trang, 2017), “Hàng trăm trẻ được chẩn đoán mắc bệnh tự kỷ mỗi ngày” (Hà Quyên, 2018),
“Tự kỷ - Hội chứng rối loạn phát triển dễ gây nhầm lẫn!” (Trần Phương, 2018) Nhiều trẻ được chẩn đoán liên quan hội chứng tự kỷ nhưng thực chất bao nhiêu trẻ trong số
đó là NCCPT, bao nhiêu là tự kỷ điều này cần có số liệu thống kê cụ thể và cần thực hiện các nghiên cứu Trong thực tế các dấu hiệu CPT thường dễ bị chẩn đoán là rối loạn phổ tự kỷ bởi sự giao thoa các dấu hiệu của hai dạng này khá lớn Tuy nhiên, khác với trẻ gặp hội chứng tự kỷ, trẻ gặp NCCPT vẫn có thể mất dần các dấu hiệu CPT, phát triển theo kịp các trẻ khác nếu được can thiệp sớm ở độ tuổi từ bốn tuổi trở xuống Theo Dân trí (Trần Phương, 2018):“Tỉ lệ trẻ gặp rối loạn về phát triển như
tự kỷ, tăng động giảm chú ý, chậm phát triển… tăng theo thời gian Theo thống kê năm 2012 tỷ lệ này là 1/68 và hiện nay là 1/38 trẻ Trong đó, tự kỷ dễ bị nhầm lẫn với chậm nói, tăng động giảm chú ý…” Khách quan mà nói trong những lý do nhầm lẫn của việc phát hiện sớm, lý do quan trọng là các tiêu chí định nghĩa, phương pháp
và kỹ thuật đánh giá Nước Mỹ cũng đã từng gặp phải hạn chế của các tiêu chí đánh giá NCCPT ở trẻ tại nước này trong việc chẩn đoán xác định giữa NCCPT và hội chứng tự kỷ Theo trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ (Managed Care, 2018) tỷ lệ khuyết tật phát triển ở trẻ em Mỹ từ 03 đến 17 tuổi đã tăng từ 5,76% (2014) lên 6,99% (2016) Tỷ lệ trẻ em được chẩn đoán chậm phát triển (không phải
là rối loạn phổ tự kỷ hoặc thiểu năng trí tuệ) cũng tăng từ 3,57% lên 4,55% Tuy
Trang 15nhiên, tỷ lệ rối loạn phổ tự kỷ và chẩn đoán khuyết tật trí tuệ được giữ ổn định trong cùng thời gian Đây là kết quả của việc cải thiện sàng lọc chậm phát triển và việc nhận thức về vấn đề này đã cao hơn trước Trước đó đã có nghiên cứu (Coker, Shaikh,
& Chung, 2012) so sánh chất lượng chăm sóc ngăn ngừa các nguy cơ về chậm phát triển (CPT), hành vi, xã hội ở trẻ có nguy cơ chậm phát triển (NCCPT) từ 10 tháng đến 05 tuổi Nghiên cứu cho biết chất lượng chăm sóc phòng ngừa được cung cấp cho trẻ em Hoa Kỳ có nguy cơ bị CPT rất đa dạng Tuy nhiên, các tiêu chí (đã được chuẩn hóa) để sàng lọc chẩn đoán sự phát triển ở trẻ NCCPT và thăm dò sự quan tâm của cha mẹ về sự phát triển ở các mức độ nguy cơ CPT của trẻ là rất thấp Đặc biệt
là những trẻ có mức độ rủi ro CPT ở mức trung bình và cao ít hơn đáng kể so với trẻ không có NCCPT Vấn đề trong việc chẩn đoán phát hiện sớm NCCPT ở trẻ nhỏ là các tiêu chí định nghĩa, phương pháp và kỹ thuật đánh giá dẫn đến sự nhập nhằng giữa NCCPT và rối loạn phổ tự kỷ Và đây cũng là vấn đề cấp thiết của xã hội cần được quan tâm giải quyết, bởi hơn ai hết, trẻ NCCPT và gia đình là những người phải chịu đựng những hậu quả trực tiếp và nặng nề nhất
Trẻ em phát triển theo từng lứa tuổi và các giai đoạn về các mặt thể lý, trí tuệ, ngôn ngữ Hầu hết trẻ phát triển các lĩnh vực này theo một tiến trình nhất định trong khoảng thời gian nhất định, các nhà chuyên môn gọi đó là mốc phát triển Tuy nhiên, một số trẻ gặp khó khăn để học các kỹ năng cần có ở độ tuổi thích hợp làm cho trẻ
có những dấu hiệu chậm phát triển Trong một số trường hợp, điều này có thể cải thiện với sự can thiệp kịp thời của gia đình và của các nhà chuyên môn Việc chậm trễ này có thể mất dần khi đứa trẻ bắt đầu học được những kỹ năng mới và có sự phát triển (Nguyễn Kim Thanh, 2011; Visser, Vlaskamp, Emde, Ruiter, & Timmerman, 2017) Ngược lại, NCCPT gia tăng sẽ khiến trẻ thực sự trở nên CPT Năm năm đầu đời là giai đoạn rất quan trọng đối với sự phát triển của một đứa trẻ (Unicef, 2017), trong đó ba năm đầu là giai đoạn lý tưởng đối với trẻ NCCPT Trong khoảng thời gian này, việc phát hiện và can thiệp kịp thời các NCCPT sẽ giúp trẻ có thể phát triển phù hợp với lứa tuổi Chính vì vậy việc phát hiện sớm và can thiệp sớm để trẻ NCCPT theo kịp mốc phát triển của độ tuổi là quan trọng và cần thiết cho giai đoạn phát triển sau này của trẻ (Campbell, 1998)vì mang tính quyết định ảnh hưởng đến tương lai của trẻ
Trang 16Gia đình là nền tảng cho sự phát triển lành mạnh của con trẻ, cha mẹ đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển thể trí và thể chất khỏe mạnh của trẻ Gia đình thường mong đợi con họ sẽ là những đứa trẻ khỏe mạnh, thông minh, xinh đẹp nên
họ đã gặp phải cú sốc khi đối diện với việc con họ có NCCPT hơn những đứa trẻ cùng tuổi khác Bên cạnh đó, gia đình còn gặp phải những khó khăn và áp lực từ nhận thức của các thành viên trong gia đình, nhận thức bản thân cha mẹ khi nhìn nhận đứa trẻ, những quan niệm của xã hội, năng lực ứng phó v.v… Nếu gia đình không nhận biết sớm NCCPT ở trẻ, không chấp nhận tình trạng của trẻ, hoặc không tiếp cận được các trợ giúp từ xã hội sẽ khiến cho đứa trẻ mất dần đi cơ hội cải thiện tình trạng CPT Tại Việt Nam có nhiều tổ chức xã hội ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu trợ giúp cho trẻ em Có nghiên cứu về trẻ em CPT, nghiên cứu về những khó khăn, nhu cầu của gia đình có trẻ khuyết tật phát triển (Đỗ Hạnh Nga, 2011) Tuy nhiên, nhiều bậc cha mẹ dù đã phát hiện sớm tình trạng của con họ nhưng họ không biết đến đâu để tìm kiếm nhà chuyên môn hỗ trợ con họ Nếu chỉ quan tâm từ góc độ bệnh lý hay giáo dục người ta chỉ chú trọng vào đứa trẻ Nhìn từ góc độ xã hội, gia đình là nguồn lực chính của trẻ NCCPT nhưng họ rất cần sự nâng đỡ, trợ giúp của các nhà chuyên môn, của chính sách để giúp họ giải quyết những khó khăn trong việc tìm kiếm đúng nhà chuyên môn hỗ trợ con họ khi NCCPT của trẻ được phát hiện
Công tác xã hội (CTXH) tại Việt Nam mới được công nhận là một nghề chuyên nghiệp từ năm 2010 Việc triển khai và phát triển CTXH trên cả nước kéo theo nhu cầu về lực lượng nhân sự nhân viên xã hội (NVXH) chuyên nghiệp Tuy nhiên, để một sinh viên ngành CTXH có đủ năng lực hành nghề sau khi tốt nghiệp là vấn đề rất cần được quan tâm đối với ngành khoa học non trẻ này ở Việt Nam NVXH làm việc với đa dạng đối tượng trong nhiều lĩnh vực khuyết tật, bệnh viện, học đường, trẻ em, người cao tuổi, thanh thiếu niên phạm pháp v.v… nên nghề cũng đòi hỏi ở NVXH có nền tảng kiến thức và kinh nghiệm chuyên môn phù hợp trong từng lĩnh vực Trong CTXH với gia đình có trẻ CPT, đặc biệt là trẻ có NCCPT, để có đủ năng lực tham vấn và hỗ trợ gia đình, ngoài chuyên ngành CTXH được đào tạo, NVXH cũng cần có những am hiểu và kinh nghiệm về khuyết tật, có sự hiểu biết về giáo dục đặc biệt, về y tế liên quan trong chuyên ngành hẹp họ đang làm việc Nói tóm lại, đó
Trang 17là năng lực chuyên môn NVXH cần có khi làm việc với gia đình và trẻ NCCPT nói riêng, trẻ khuyết tật nói chung
Với giá trị nhân quyền và công bằng xã hội, CTXH góp phần tạo ra sự thay đổi và phát triển của xã hội trên thế giới Để cải thiện và nâng cao chất lượng thực hành của ngành khoa học ứng dụng này, đặc biệt là thực hành với gia đình và trẻ em,
đã có những nghiên cứu về hiệu quả của CTXH với gia đình và trẻ em trong các lĩnh vực khác nhau của NVXH Nghiên cứu hiệu quả đạt được của chương trình can thiệp sớm với trẻ CPT, NCCPT và gia đình (Nguyễn Kim Thanh, 2011) , những yếu tố làm giảm hiệu quả các dịch vụ của CTXH với các gia đình có con bị tạm giữ, hạn chế khả năng làm việc của NVXH (R Bardauskiene, 2016), hoặc những đúc kết kinh nghiệm vượt qua những thách thức trong nghề, hướng dẫn cách tự đánh giá kết quả làm việc của NVXH (Unwin & Hogg, 2012) Với vai trò NVXH đã có những trải nghiệm khi làm việc với gia đình và trẻ, tác giả mong muốn được góp phần nhỏ trong
việc nâng cao chất lượng CTXH với gia đình và trẻ NCCPT thông qua đề tài “Đánh giá hiệu quả của công tác xã hội với gia đình của trẻ có nguy cơ chậm phát triển
(trẻ trong độ tuổi từ 2 đến 4 sống trong cộng đồng tại TPHCM)” Đề tài nghiên cứu đánh giá hiệu quả của CTXH với gia đình của trẻ có NCCPT, từ đó đưa ra các kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng của CTXH với gia đình và trẻ NCCPT nhằm giúp cải thiện chất lượng sống của trẻ NCCPT và của gia đình, góp phần vào sự phát triển toàn diện của thế hệ tương lai Việt Nam
2 MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
2.1 Mục Tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài nhằm đánh giá hiệu quả của CTXH với gia đình của trẻ có NCCPT, từ đó đưa ra các kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng của CTXH với gia đình và trẻ NCCPT
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Đánh giá kết quả can thiệp với trẻ và với gia đình của NVXH
- Phân tích các yếu tố tác động đến kết quả can thiệp của NVXH
Trang 18- Đưa ra các kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng của CTXH với gia đình của trẻ NCCPT
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU
3.1 Khách thể nghiên cứu
- Công tác xã hội với gia đình của trẻ có nguy cơ chậm phát triển
3.2 Đối tượng nghiên cứu
- Đánh giá hiệu quả của CTXH với gia đình của trẻ có NCCPT
4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu đánh giá hiệu quả của CTXH với gia đình của trẻ có NCCPT được tiến hành với 05 gia đình có trẻ NCCPT đang sống tại TPHCM (mỗi gia đình
có một trẻ có NCCPT) và 01 NVXH đã trực tiếp hỗ trợ năm gia đình này
Thời điểm NVXH can thiệp, 05 trẻ NCCPT đang trong độ tuổi từ 02 tuổi (27 tháng tuổi) đến 04 tuổi Tại thời điểm nghiên cứu này, 05 trẻ NCCPT này đang trong
độ tuổi gần 03 tuổi (34 tháng tuổi) đến 09 tuổi
Mỗi gia đình, tác giả chọn 01 trẻ NCCPT và chọn đại diện gia đình gồm 02 người chăm sóc của trẻ để thu thập thông tin cho việc đánh giá hiệu quả của CTXH với gia đình của trẻ có NCCPT
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 11/2017 đến 09/2018 tại TPHCM
5 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
5.1 Thực trạng của gia đình và của trẻ NCCPT thay đổi như thế nào trước và
sau can thiệp của NVXH?
5.2 Các yếu tố nào tác động và tác động như thế nào đến hiệu quả can thiệp
của NVXH với gia đình của trẻ có NCCPT?
6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính, tiếp cận nghiên cứu trường hợp (còn gọi là “Case study”) Case study là một trong các phương pháp nghiên cứu
Trang 19định tính chuyên sâu về trường hợp một cá nhân, gia đình, nhóm, hoặc sự kiện v.v… Mỗi trường hợp được phân tích giúp hiểu sâu và toàn diện vấn đề trong bối cảnh của trường hợp đó, đây cũng là nét độc đáo đặc trưng riêng của phương pháp Case study (Faulkner, 2014)
Đề tài sử dụng Case study cùng với các kỹ thuật thu thập dữ liệu như phỏng vấn sâu các đại diện gia đình và NVXH, quan sát trẻ và gia đình nhằm tìm hiểu và phân tích các yếu tố tác động đến hiệu quả của CTXH với gia đình của trẻ NCCPT Qua đó đánh giá hiệu quả của CTXH với gia đình của trẻ NCCPT và đưa ra các kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng của CTXH với gia đình của trẻ NCCPT Các trường hợp nghiên cứu được sử dụng trong đề tài nhằm minh chứng cho các kết quả can thiệp của NVXH với gia đình và trẻ, đồng thời hỗ trợ cho việc đánh giá hiệu quả can thiệp của NVXH với gia đình của trẻ NCCPT
6.1 Nghiên cứu tài liệu
Tác giả thu thập và tìm hiểu các tài liệu có nội dung liên quan đến đề tài về khuyết tật (như trẻ CPT, NCCPT, tự kỷ), gia đình, trẻ em và CTXH trong các lĩnh vực này Việc phân tích, tổng hợp và hệ thống hóa tài liệu tạo nền tảng giúp xây dựng
cơ sở lý luận, nội dung phỏng vấn cũng như định hướng thực hiện nghiên cứu của đề tài Nguồn tài liệu được thu thập từ thư viện trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Mở TPHCM, từ các chuyên viên làm việc trong lĩnh vực khuyết tật và trong ngành CTXH, ứng dụng công cụ freefullpdf để tìm kiếm các bài báo khoa học
Ngoài các tài liệu được thu thập qua sách, báo, công trình nghiên cứu, báo cáo, tài liệu giảng dạy v.v… tác giả còn tham khảo và sử dụng kết quả các báo cáo đánh giá trẻ của NVXH trong quá trình làm việc với gia đình còn lưu trữ lại Nguồn tài liệu này hỗ trợ cho việc thu thập thông tin phục vụ cho mục tiêu chỉ đánh giá kết quả can thiệp của trẻ trước và sau can thiệp của CTXH với gia đình, tiến trình làm việc của NVXH
6.2 Nghiên cứu thực tiễn
Để có được thông tin qua phỏng vấn sâu gia đình và quan sát trẻ, tác giả tiến hành tiếp cận gia đình qua ba giai đoạn sau:
Trang 20Giai đoạn đầu: Để tiếp cận đối tượng, tác giả thiết lập mối quan hệ với gia
đình và trẻ, thu thập thông tin chủ yếu qua quan sát không tham gia Việc thiết lập mối quan hệ với gia đình và trẻ mất khoảng 03 đến 05 tháng (tùy theo trường hợp) gia đình mới giảm đi sự phòng vệ và những e ngại (mặc dù gia đình đã đồng ý tham gia nghiên cứu) Để làm quen với các gia đình và được trẻ chấp nhận sự có mặt của mình, hàng tuần tác giả vãng gia dự giờ làm việc của NVXH với trẻ, giờ học của trẻ
Giai đoạn hai: Thực hiện quan sát có sự tham gia tương tác với trẻ bằng kỹ
thuật chơi mà học có chủ đích để thu thập thông tin phục vụ cho việc đánh giá sự phát triển hiện tại của trẻ
Giai đoạn ba: Nhận thấy gia đình đã bắt đầu cởi mở hơn, tác giả thực hiện các
cuộc phỏng vấn sâu không cấu trúc
Tùy theo trẻ, tác giả sử dụng các kỹ thuật làm việc khác nhau như chơi có chủ đích với nội dung liên quan kỹ năng xã hội, kỹ năng tiền học đường, ôn tập tiếng Anh qua trò chơi, tập làm quen với sách truyện có tranh ảnh hoặc tham gia với trẻ một số trò chơi trong giờ học của trẻ mầm non
Cấu trúc quan sát gồm quan sát trực tiếp không tham gia, tiến đến quan sát có tham gia tương tác với trẻ Quan sát nhiều lần trong thời gian dài nhằm tăng độ tin cậy của các nhận định về các thông tin có được từ phương pháp quan sát nhất là quan sát có tương tác Thời gian đầu tác giả trực tiếp quan sát không tham gia trong các buổi làm việc của NVXH với trẻ, giờ học ở nhà của trẻ Khi trẻ đã quen với việc có người quan sát, tác giả thực hiện quan sát có tương tác với trẻ Quan sát tương tác
Trang 21chuẩn bị cho các bước tiếp cận phỏng vấn gia đình Tần suất quan sát tùy theo trẻ: mỗi tuần 01 hoặc 02 buổi, mỗi buổi 45 phút
Địa điểm thực hiện quan sát tại trường với trẻ B và tại nhà với bốn trẻ còn lại
6.2.2 Phỏng vấn sâu
Vì cần tạo tâm lý thoải mái tự nhiên cho gia đình, phỏng vấn sâu không cấu trúc được thực hiện nhiều lần và linh hoạt qua cách thức trò chuyện tự nhiên Cách thức này nhằm giúp người được phỏng vấn giảm đi tâm lý mặc cảm, ngần ngạị khiến
họ không muốn chia sẻ sâu về trường hợp của con mình cũng như những vấn đề trong gia đình
Các nội dung thông tin thu thập từ phỏng vấn đại diện gia đình, phỏng vấn NVXH được phân theo từng chủ đề đã được xác định dựa trên mô hình nghiên cứu như tình trạng của trẻ, của gia đình trước và sau khi CTXH can thiệp, các can thiệp của NVXH Nội dung theo từng chủ đề cần phỏng vấn không nhất thiết theo trình tự hoặc riêng lẻ mà chúng có thể lồng ghép với nhau tùy theo bối cảnh và tâm lý của gia đình khi phỏng vấn Dữ liệu được thu thập và tích lũy từ nhiều lần làm việc
Phỏng vấn sâu gia đình được thực hiện trong những buổi làm việc giữa NVXH
và gia đình trẻ Phỏng vấn NVXH được thực hiện ở các thời điểm khác nhau trong các giai đoạn thu thập thông tin trên Tùy theo sự tham gia của từng gia đình mà thời gian của mỗi giai đoạn, tần suất tiếp cận và thời gian nghiên cứu có sự khác nhau Trong quá trình phỏng vấn, tác giả thực hiện ghi âm đối với những đại diện gia đình đồng ý
6.3 Mẫu nghiên cứu
Mẫu nghiên cứu gồm 05 gia đình có trẻ gặp NCCPT và 01 NVXH làm việc trực tiếp với cả năm gia đình và trẻ NCCPT Khi NVXH tiếp cận hỗ trợ gia đình và trẻ, 05 trẻ này đang trong khoảng từ 02 tuổi (27 tháng tuổi) đến 04 tuổi gồm 03 trẻ nam (tên K, S, B) và 02 trẻ nữ (tên G và N) Tại thời điểm nghiên cứu này, 05 trẻ NCCPT này đang trong độ tuổi gần 03 tuổi (34 tháng tuổi) đến 09 tuổi
Mỗi gia đình có 02 NCS đại diện Đại diện 05 gia đình có tổng cộng 10 NCS của trẻ (gồm 03 nam và 07 nữ) tham gia phỏng vấn Trong đó ba gia đình K, G và N
Trang 22có đại diện NCS là cha mẹ Gia đình của S có đại diện NCS là mẹ và bà nội Và gia đình B có đại diện NCS là mẹ và vú nuôi
6.4 Xử lý dữ liệu
Việc xử lý và phân tích dữ liệu được tập hợp theo nhóm nội dung dựa trên mô hình nghiên cứu tương tự như việc thu thập Dữ liệu được thu thập từ các phỏng vấn trao đổi với NCS và NVXH, từ quan sát trẻ và gia đình, từ một số báo cáo đánh giá trẻ của NVXH còn lưu trữ sau khi làm việc với gia đình Các bước xử lý thông tin:
- Sàng lọc dữ liệu (gỡ băng đối với các trường hợp thu âm.)
- Chọn lọc các dữ liệu có giá trị sử dụng, sắp xếp, tổ chức lại từng nhóm nội
dung theo mục tiêu nghiên cứu
- Trình bày câu chuyện của các trường hợp nghiên cứu
- Phân tích và tái cấu trúc dữ liệu
7 Ý NGHĨA CỦA NGHIÊN CỨU
7.1 Ý nghĩa khoa học
Hướng nghiên cứu về CTXH với gia đình của trẻ có NCCPT đánh giá tác động của CTXH trong lĩnh vực này, đồng thời làm rõ hơn thực trạng gia đình của trẻ NCCPT khi họ phải đối mặt với những khó khăn để giải quyết những vấn đề liên quan đến tình trạng phát triển của trẻ Nghiên cứu này góp phần bổ sung vào cơ sở
lý luận nhằm nâng cao chất lượng CTXH trong lĩnh vực CTXH với gia đình trẻ có NCCPT Nghiên cứu này cũng đóng góp thông tin cho các nhà nghiên cứu quan tâm tìm hiểu sâu quá trình phát triển và hòa nhập xã hội của trẻ NCCPT ở các lứa tuổi thanh thiếu niên sau khi đã được hỗ trợ can thiệp ở lứa tuổi từ 02 đến 04 tuổi
7.2 Ý nghĩa thực tiễn
Đối với ngành CTXH, nghiên cứu chia sẻ những kinh nghiệm thực tiễn về quá trình thực hiện nghiên cứu và kết quả nghiên cứu đánh giá hiệu quả của CTXH với gia đình của trẻ NCCPT giúp nâng cao chất lượng dịch vụ CTXH
Đối với NVXH, nghiên cứu giúp tăng nhận thức của NVXH trong công tác đánh giá và tự đánh giá giúp NVXH tự nâng cao tay nghề và chất lượng dịch vụ của
Trang 23bản thân Đồng thời chia sẻ với NVXH kinh nghiệm thực tiễn trong quá trình làm việc với gia đình và trẻ NCCPT
Đối với gia đình trẻ, nghiên cứu giúp gia đình nhận thức tầm quan trọng của việc gia đình chủ động trong phát hiện sớm NCCPT ở trẻ và biết cách tìm kiếm giải pháp giải quyết các nhu cầu của gia đình và trẻ NCCPT
Đối với trẻ, kết quả nghiên cứu lưu ý xã hội, cộng đồng, đặc biệt là gia đình
là các hệ thống cần có sự phối hợp, liên kết và tương trợ hiệu quả để có những dịch
vụ chất lượng, sự chăm sóc, giáo dục tốt nhất để trẻ NCCPT được hưởng lợi, được phát triển và sống hòa nhập như bao trẻ em khác
Quá trình nghiên cứu là cơ hội lớn cho tác giả tích lũy thêm nhiều kiến thức, kinh nghiệm trong nghề nghiệp và trong nghiên cứu khoa học Kết quả nghiên cứu
là tiền đề giúp tác giả xác định hướng phát triển nghề nghiệp và bản thân trong thời gian sắp tới
Trang 241 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Để tiến hành nghiên cứu, tác giả tìm hiểu những tài liệu, nghiên cứu trước đó liên quan đến CTXH với trẻ và gia đình trong lĩnh vực khuyết tật CTXH với gia đình của trẻ NCCPT và CPT là một trong những lĩnh vực đặc thù trong CTXH Tác giả quan tâm tìm hiểu lĩnh vực trẻ khuyết tật và lĩnh vực CTXH trong lĩnh vực này với các yếu tố trọng tâm là trẻ NCCPT và CPT, gia đình và sự tham gia của gia đình, can thiệp sớm, năng lực của NVXH
1.1 Gia đình (Tham gia của gia đình, tâm lý gia đình) – Can thiệp sớm
Liên quan đến yếu tố gia đình của trẻ CPT và NCCPT, nghiên cứu “Parent
Training for Children With or at Risk for Developmental Delay”: The Role of
Parental Homework Completion” (Ros, Hernandez, Graziano, & Bagner, 2016) nhóm tác giả nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tham gia thực hành tại nhà của cha mẹ của trẻ CPT hoặc NCCPT Mức độ hoàn thành bài tập về nhà của cha mẹ cao đã góp phần làm giảm các vấn đề hành vi ở trẻ NCCPT và gián tiếp làm giảm stress ở cả cha mẹ và trẻ
Nghiên cứu “Parents' psychosocial problems influencing the continuity of
early intervention treatment in children with developmental delay” (Wang & Jong,
2000) xác định các vấn đề tâm lý xã hội của phụ huynh trẻ CPT và xem xét các biến tâm lý xã hội nào ảnh hưởng mạnh đến việc phân biệt đối xử với trẻ CPT đang tham gia chương trình can thiệp sớm Sáu yếu tố tâm lý xã hội của cha mẹ được xác định
là thu nhập gia đình, mối quan hệ của các thành viên gia đình, kỹ năng chăm sóc, tài nguyên hỗ trợ, chấp nhận trẻ CPT và tâm lý tự thích nghi Phân tích cho thấy thu
Trang 25nhập của gia đình là rất quan trọng đối với năng lực của cha mẹ để đáp ứng nhu cầu điều trị
Trong “Preschool children with and without developmental delay: behaviour
problems, parents' optimism and well-being” (Baker, Blacher, & Olsson, 2005), trẻ
khuyết tật trí tuệ có nguy cơ cao về các vấn đề về hành vi, điều này làm gia tăng stress ở cha mẹ trong quá trình nuôi dạy con cái Nghiên cứu đã khám phá mối quan
hệ của các vấn đề hành vi của cha mẹ (trầm cảm và điều chỉnh hôn nhân) Nghiên cứu đề xuất trường mầm non nên có chương trình can thiệp cho các bậc cha mẹ nhằm mục đích giúp họ vừa nâng cao kỹ năng nuôi dạy con cái và vừa giúp họ có tâm trạng tốt hơn
Phát hiện sớm và can thiệp sớm đóng vai trò hỗ trợ quan trọng trong quá trình phát triển của các trẻ có nguy cơ hoặc chậm phát triển Đã có nhiều nghiên cứu đánh giá về hiệu quả can thiệp sớm ở trẻ
Nghiên cứu “The evaluation of the Small Steps in early education
program”(ÖZABACI, 2001) lượng giá chương trình giáo dục sớm “Từng bước nhỏ một” - đây là chương trình của trường Macquarie của Úc dành cho trẻ từ 0 đến 04 tuổi, được ứng dụng tại Thổ Nhĩ Kỳ Mỗi gia đình có con khuyết tật tham gia, họ được một hướng dẫn viên của chương trình đồng hành giúp nhận biết về tình trạng con họ tốt hơn, tạo điều kiện cho sự giao tiếp giữa trẻ và gia đình một cách tích cực hơn Mỗi hướng dẫn viên cũng có một tư vấn viên hỗ trợ Gia đình được hướng dẫn một số phương pháp về quản lý các vấn đề về hành vi của trẻ em dễ dàng hơn và phải thực hành các bài tập đã được hướng dẫn viên hàng tuần đến nhà làm mẫu Các gia đình tham gia và những người hướng dẫn cho gia đình trong chương trình này đều cho rằng chương trình rất hữu ích, rất cần thiết ứng dụng rộng rãi trong giáo dục sớm cho trẻ Tuy nhiên, nhiều gia đình không thực hành như yêu cầu của chương trình, nhiều người cha trong gia đình không tham gia nhiều như người mẹ Gia đình cũng chưa nhận thấy rằng nhiệm vụ của các hỗ trợ viên chương trình là giúp đỡ họ Về phía các hỗ trợ viên hướng dẫn cho gia đình cảm thấy bản thân họ thiếu sự thúc đẩy gia đình cố gắng hơn
Trang 26Nghiên cứu “ Efficacy of an Early Intervention Program for At-Risk
Preschool Boys: A Two-Group Control Study” (Anat Golos, 2011) báo cáo hiệu quả
của chương trình can thiệp sớm đa ngành dựa trên trường mầm non Mục đích tăng cường hiệu quả tham gia vào các lĩnh vực khác nhau như các kỹ năng cơ bản, chơi, học tập Kết quả sau tám tháng can thiệp cho nhóm trẻ trai mầm non có NCCPT, các trẻ đã thực hiện tốt các kỹ năng cơ bản, chơi, học tập… Các giáo viên được đào tạo
từ nhóm chuyên gia đa ngành như nhà vật lý trị liệu, nhà trị liệu ngôn ngữ, cố vấn giáo dục… Nội dung đào tạo này phối hợp với các hoạt động giáo viên thường dạy trong lớp
Nghiên cứu “The effect of early intervention program for children at-Risk
with developmental delays or disabilities and their families at Tu Du hospital, Ho Chi Minh city, Viet Nam”(Nguyễn Kim Thanh, 2011) đã mô tả và phân tích hiệu quả của chương trình can thiệp sớm cho trẻ NCCPT hoặc trẻ khuyết tật và gia đình trẻ tại bệnh viện Từ Dũ, TPHCM Chương trình can thiệp sớm này chú trọng vào nhu cầu của trẻ NCCPT và trẻ khuyết tật, giáo dục đặc biệt và điều chỉnh hành vi trang bị cho trẻ nhiều kỹ năng để giảm sự lệ thuộc và chuẩn bị tiền học đường cho trẻ Nghiên cứu cũng nhận định gia đình đóng vai trò quan trọng trong quá trình phục hồi chức năng cho trẻ cũng như trong việc cung cấp hiệu quả các dịch vụ của chương trình can thiệp sớm Nghiên cứu cho thấy rằng trong suốt quá trình can thiệp ở giai đoạn đầu cho trẻ, sự hỗ trợ của gia đình rất quan trọng không chỉ về vấn đề tài chính mà còn
cả thời gian, sự chăm sóc và yêu thương
Nghiên cứu “Các vấn đề về phát triển của trẻ nhỏ và các yếu tố liên quan”
(Đào Thị Bích Thuỷ & Nguyễn Thị Tuyết Mai, 05/09/2016) tìm hiểu và phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến quá trình phát triển của các trẻ đã có những dấu hiệu bất thường trong quá trình phát triển được phát hiện Nghiên cứu thực hiện trên 521
hồ sơ trẻ được kiểm tra đánh giá tại Đại học Sư Phạm Hà Nội đưa ra các số liệu các yếu tố được tổng hợp như giới tính, nơi sinh sống của trẻ, các thông tin tuổi tác, nghề nghiệp của cha mẹ trẻ, tuổi thực và chỉ số phát triển của trẻ Kết quả nghiên cứu giúp cha mẹ, NCS, giáo viên của trẻ nhận thức đúng vấn đề của trẻ, điều này hỗ trợ cho quá trình can thiệp và cải thiện các dấu hiệu bất thường ở trẻ
Trang 271.2 CTXH với gia đình và trẻ trong lĩnh vực khuyết tật
Gia đình được xem là một nhóm đặc biệt bởi mối quan hệ huyết thống giữa các thành viên NVXH làm việc với gia đình cần hiểu môi trường, cấu trúc gia đình (với các mối quan hệ, vai trò, chức năng, quyền lực, chuẩn mực, ranh giới, …), nhu cầu và các nguồn lực gia đình cùng với các thế mạnh, hạn chế của gia đình CTXH với gia đình đòi hỏi NVXH sử dụng linh hoạt các kỹ thuật, kỹ năng làm việc với nhóm, với cá nhân trong việc xây dựng mối quan hệ tin tưởng, giải quyết vấn đề
Điều này được thể hiện rõ trong tài liệu “Supporting Families”(O'Sullivan, 2016),
thông qua các trường hợp điển cứu, những ví dụ thực hành khác nhau, nội dung sách đưa ra cách tiếp cận thực hành hỗ trợ gia đình cùng với kỹ năng, kiến thức và thái độ cần có của NVXH khi làm việc với gia đình như giúp đỡ gia đình, hiểu gia đình, gia đình dưới áp lực căng thẳng, can thiệp hỗ trợ, hợp tác, giám sát
Một trong các trở ngại cho NVXH đó là kiến thức và kinh nghiệm chuyên
môn trong lĩnh vực đang hoạt động, “Social work early intervention for young
children with developmental disabilities” (D Michael Malone, 2000) nhấn mạnh về
vai trò chức năng của NVXH trong đội ngũ can thiệp sớm cũng như vai trò điều phối các dịch vụ can thiệp sớm Nhóm tác giả thảo luận về vai trò và các thách thức đối với CTXH trong công tác can thiệp sớm cho trẻ nhỏ khuyết tật phát triển
Với “Children with disabilities” (Batshaw, Pellegrino & Roizen, 2008) nhóm
tác giả Mark L Batshaw cung cấp cái nhìn toàn diện các vấn đề về trẻ khuyết tật từ trước khi sinh đến khi trưởng thành với quá trình phát triển của trẻ về sinh học, y học, các dấu hiệu, các hội chứng v.v… Nhóm tác giả cũng đề cập đến các nội dung gần với các nội dung mà đề tài này quan tâm: Về các dạng khuyết tật bao gồm chậm phát triển và khuyết tật trí tuệ; từ phát hiện sớm đến can thiệp sớm Chương trình can thiệp sớm vào những năm đầu đời của trẻ NCCPT được xem là sự đầu tư hiệu quả cho tương lai vì sự phát triển nhanh và bền vững ở trẻ đồng thời giảm các tổn thất cho gia đình và xã hội Bên cạnh các nội dung về các dịch vụ, nguồn lực từ gia đình đến xã hội và cộng đồng, từ khoa học đến chính sách, công bằng xã hội; cách thức NVXH đồng hành và hỗ trợ gia đình ứng phó với vấn đề của con họ cũng được nhóm tác giả minh họa trong ca điển hình
Trang 28Nhóm tác giả Ivan Brown & Maire Percy cũng phân tích cùng các nội dung
của nhóm tác giả trên về khuyết tật phát triển và trí tuệ trong “A Comprehensive
guide to Intellectual & Developmental disabilities”(Brow & Percy, 2007) Tuy nhiên
họ mở rộng thêm lĩnh vực tâm lý – xã hội và làm rõ về hệ thống gia đình có trẻ khuyết tật Trên nền tảng lý thuyết hệ thống, các tác giả nhấn mạnh đến bốn thành tố: Đặc tính, sự tương tác, chức năng và vòng đời của gia đình Đặc tính gia đình được xem
là đầu vào Sự tương tác của gia đình là một quá trình tạo lập sự gắn kết và khả năng thích ứng của các hệ thống phụ trong gia đình xuyên suốt các giai đoạn của vòng đời gia đình Chức năng của gia đình được mô tả là các giá trị của quá trình gia đình vận hành nhằm đáp ứng các nhu cầu cá nhân và nhu cầu chung của gia đình Theo các tác giả, chức năng gia đình giải quyết các nhu cầu về tình cảm, lòng tự trọng, tâm linh, kinh tế, chăm sóc hàng ngày, xã hội hóa, giải trí và giáo dục Ngoài ra, một điểm cần chú ý đó là vai trò “Nhà trị liệu” của gia đình vì nó liên quan đến cha, mẹ và những thành viên khác trong gia đình thường tham gia hỗ trợ trẻ Nhà chuyên môn làm việc với gia đình với thời gian có hạn, chính gia đình mới hiểu rõ gia đình họ và trẻ của họ nhất Gia đình tiếp nhận hướng dẫn của nhà chuyên môn và duy trì can thiệp cho trẻ của họ tại nhà làm nâng cao hiệu quả can thiệp Tuy nhiên vì lý do nào
đó gia đình không thực hiện được vai trò này, để can thiệp hiệu quả, gia đình có thể tìm kiếm các nguồn lực trong cộng đồng giúp họ thực hiện vai trò nhà trị liệu này
Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội với sự hỗ trợ của Quỹ Nhi Đồng Liên
Hợp Quốc (UNICEF) đã thực hiện nghiên cứu “Tình hình trẻ em khuyết tật ở việt
nam” vào năm 2003 nhằm tiếp cận toàn diện trẻ khuyết tật từ 18 tuổi trở xuống
Ngoài ra một trong những khó khăn mà tác giả gặp phải trong quá trình tìm hiểu thu thập dữ liệu về trẻ khuyết tật cho đề tài, đặc biệt là số liệu thống kê về trẻ
NCCPT Bài viết “Giáo dục đặc biệt tại Việt Nam: Một số vấn đề còn tồn tại và giải
pháp”(Hoàng Thị Nga, 2016) đề cập việc số liệu về người khuyết tật và trẻ khuyết tật trong các độ tuổi chưa chính xác và không thống nhất
Tổng quan tình hình nghiên cứu đã cung cấp cho tác giả các thông tin, sự hiểu biết làm cơ sở lý luận giúp tác giả hiểu thêm về:
Trang 29- Trẻ khuyết tật: các chiều kích, quá trình phát triển, tầm quan trọng của phát
hiện sớm và can thiệp sớm, hiệu quả của chương trình can thiệp sớm
- Gia đình: Các yếu tố tâm lý – xã hội, sự tham gia của gia đình
- CTXH với gia đình và trẻ NCCPT, CPT và khuyết tật: Cách NVXH tiếp
cận và làm việc với gia đình, năng lực chuyên môn của NVXH
Tương tự với các nghiên cứu trên, đề tài này cũng quan tâm tìm hiểu và phân tích các yếu tố tham gia của gia đình, trong đó năng lực của gia đình được xem xét trên các khía cạnh như tâm lý gia đình, mối quan hệ trong gia đình và khả năng ứng phó của gia đình Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng quan tâm đến tuổi can thiệp của trẻ
từ 02 đến 04 tuổi (đây là điểm trọng tâm trong việc can thiệp sớm giúp trẻ vượt qua NCCPT) và các dạng nguy cơ dẫn đến CPT ở trẻ Một nhân tố quan trọng để thực hiện tiến trình CTXH đó là NVXH, nghiên cứu cũng phân tích yếu tố năng lực của NVXH trong CTXH với gia đình và trẻ NCCPT Các yếu tố trên được nghiên cứu trong các bối cảnh khác so với các nghiên cứu trước sẽ giúp tác giả có cơ sở tìm hiểu
và phân tích các tương quan của chúng để phục vụ cho mục đích nghiên cứu trong
Gia đình theo cách tiếp cận hệ thống là một tổng thể gồm các tiểu hệ thống là những thành viên gia đình với mối quan hệ ảnh hưởng và tương tác qua lại, chi phối lẫn nhau Trẻ NCCPT cũng là một tiểu hệ thống của gia đình, cơ thể của trẻ được xem như một hệ thống, trong đó các bộ phận có các chức năng khác nhau Một trong
Trang 30những bộ phận không thực hiện được chức năng sẽ làm ảnh hưởng đến cấu trúc cơ thể khiến sự phát triển của trẻ bị chậm lại so với trẻ cùng lứa tuổi Điều này gây ra những trở ngại không chỉ trong chính bản thân trẻ mà còn tạo ra khó khăn, những căng thẳng, mâu thuẫn; thậm chí xáo trộn trong gia đình Cân bằng của gia đình bị phá vỡ khi một hay nhiều thành viên trong gia đình gặp khó khăn Bất cứ sự thay đổi của thành viên trong gia đình đều ảnh hưởng đến hệ thống gia đình
Ba thành tố: tâm lý, mối quan hệ trong gia đình và khả năng ứng phó của gia đình là nền tảng vận hành hệ thống “Năng lực gia đình” Tâm trạng, nhận thức, cảm xúc… của gia đình thay đổi tích cực là động lực để gia đình kiên trì hơn trong việc đồng hành cùng con họ Sự hợp tác, đồng thuận giữa cha mẹ, giữa thành viên trong gia đình là một trong những yếu tố làm cho hệ thống gia đình liên hết chặt chẽ hơn tạo sức mạnh giúp gia đình ứng phó với các vấn đề của họ tốt hơn Điều này đưa đến kết quả là đứa trẻ được quan tâm, chăm sóc tốt hơn Năng lực gia đình được củng cố
và nâng cao là lực đẩy tích cực cho sự phát triển của trẻ Ngược lại, trẻ NCCPT cũng
là một nhân tố tích cực tác động đến sự gắn kết các thành viên và sự tự điểu chỉnh các mối quan hệ trong gia đình để gia đình thích ứng với hoàn cảnh mới, từ đó cùng hợp sức chung tay giải quyết vấn đề của gia đình
Ứng dụng lý thuyết hệ thống, bên cạnh việc can thiệp cải thiện NCCPT ở trẻ, NVXH giúp nâng cao năng lực cho gia đình qua việc tham vấn, cung cấp kiến thức, hướng dẫn thực hành, trị liệu gia đình, chuyển gửi và kết nối mạng lưới Nhờ đó cải thiện môi trường gia đình và tình trạng của trẻ
Lý thuyết hệ thống sinh thái đề cập đến mối quan hệ và sự thích ứng giữa con người với môi trường sống và việc sử dụng nguồn lực Sự bất ổn bên trong hệ thống
cá nhân gây trở ngại cho trẻ trong việc thích ứng được với môi trường sống, mà môi trường đầu tiên trẻ tiếp cận chính là gia đình Đứa trẻ NCCPT bị tách ra khỏi hệ thống gia đình của nó bởi những trở ngại cá nhân do NCCPT, vì thế trẻ gặp khó khăn trong việc thiết lập mối tương quan với các thành viên trong gia đình và xã hội Không thể
tự lực giải quyết vấn đề, gia đình cần sự trợ giúp từ môi trường bên ngoài
Ứng dụng lý thuyết hệ thống sinh thái, NVXH vừa trực tiếp hỗ trợ gia đình và trẻ, vừa chuyển gửi và kết nối gia đình với các dịch vụ khác theo nhu cầu của gia
Trang 31đình NVXH vừa là một nguồn lực của gia đình vừa là người trung gian kết nối gia đình với các nguồn lực của xã hội bên ngoài Sự hợp tác tham gia của cha mẹ với NVXH, với giáo viên, nhà trường, với các nhà chuyên môn khác là cách thức gia đình sử dụng tài nguyên từ môi trường bên ngoài Theo lý thuyết hệ thống sinh thái, đây chính là việc kết nối nguồn lực của xã hội nhằm giúp giải quyết vấn đề bên trong
hệ thống, giữa các hệ thống nhỏ trong gia đình, với kết nối chặt chẽ như vậy thì vấn
đề của trẻ và của gia đình giải quyết càng nhanh hơn
Tuy nhiên, hiệu quả can thiệp của NVXH cần xem xét những tác động nào có thể ảnh hưởng làm thay đổi hiệu quả can thiệp Trong nghiên cứu này, các tác động cần quan tâm là bốn yếu tố “Tham gia của gia đình”, “Dạng nguy cơ chậm phát triển”, “Độ tuổi can thiệp” và “Năng lực của NVXH”
2.2 Lý thuyết Phát triển nhận thức (Jean Piaget)
Lý thuyết Phát triển nhận thức của Jean Piaget giúp hiểu thêm về sự phát triển nhận thức của trẻ em Lý thuyết đề cập đến bốn giai đoạn phát triển nhận thức: Giai đoạn Cảm giác vận động (độ tuổi từ mới sinh đến 02), giai đoạn Tiền thao tác (độ tuổi từ 02 đến 07), giai đoạn Thao tác cụ thể (độ tuổi từ 07 đến 11) và giai đoạn Thao tác chính thức (từ 11 tuổi trở lên) Độ tuổi của trẻ được nghiên cứu này quan tâm nằm trong 02 giai đoạn tiền thao tác và giai đoạn thao tác cụ thể
Ở giai đoạn tiền thao tác từ 2-7 tuổi, theo Piaget, tư duy của trẻ không giống như tư duy của người lớn, chúng tư duy biểu tượng, tư duy bán logic nên có thể hiểu kiến thức một cách logic, học cách sử dụng hình ảnh, ngôn ngữ để diễn đạt, thường hay thắc mắc muốn biết về mọi thứ “như thế nào”, “tại sao” Trong đó, ở độ tuổi từ
02 đến 04, trẻ tư duy thông qua các hoạt động bởi các kinh nghiệm trực tiếp của bản thân Vì thế việc chơi và sự tương tác với môi trường xung quanh càng nhiều sẽ giúp trẻ học hỏi và phát triển tốt qua sự trải nghiệm của bản thân Trẻ bị chậm phát triển một số kỹ năng nào đó sẽ bị cản trở trong việc tương tác, trải nghiệm và học hỏi Việc phát hiện sớm các dấu hiệu chậm phát triển của trẻ ở độ tuổi dưới 04 này cùng với sự can thiệp kịp thời của các nhà chuyên môn là cơ hội tốt nhất giúp phục hồi và cải thiện tình trạng của trẻ, nhằm giúp trẻ theo kịp mốc phát triển như với các trẻ khác
Trang 32Ở giai đoạn thao tác cụ thể từ 07 đến 11 tuổi, trẻ có khả năng tư duy trừu tượng, tư duy bắc cầu, khả năng nắm được nhiều khía cạnh của vấn đề để giải quyết vấn đề, am hiểu nguyên lý bảo tồn và các khái niệm nghịch đảo v.v… Học tập là hoạt động chủ đạo trong độ tuổi này, các môn học giúp trẻ phát triển các khả năng tư duy như đã nói trên, việc trẻ NCCPT học tập theo kịp các bạn đồng lứa trong lớp chứng minh NCCPT đã được cải thiện (Ashford, 2010)
Ứng dụng lý thuyết Phát triển nhận thức để đánh giá sự phát triển của trẻ phù hợp với độ tuổi của trẻ từ 34 tháng tuổi (02 tuổi 10 tháng) đến 09 tuổi tại thời điểm nghiên cứu Đánh giá thực trạng phát triển của trẻ trên bốn lĩnh vực vận động thô, vận động tinh, nhận biết ngôn ngữ, cá nhân và xã hội Đối với trẻ trên 04 tuổi, khảo sát khả năng học tập, đạt được một số kỹ năng sống, kỹ năng xã hội tương ứng với
độ tuổi của trẻ
2.3 Lý thuyết Cấu trúc chức năng (Talcott Parsons)
Theo T Parsons (Lê Ngọc Hùng, 2016), để một hệ thống thống nhất và tồn tại cần duy trì sự liên kết bên trong đồng thời nối kết hiệu quả và thích nghi được với môi trường bên ngoài thông qua việc sử dụng nguồn lực Điểm nổi bật của lý thuyết này là sơ đồ chức năng AGIL thể hiện bốn yêu cầu đối với một hệ thống gồm:
- Adaption- Thích ứng (A)
- Goal attainment – Hướng đích (G)
- Integration - Hòa nhập (I)
- Latent pattern maintenance- Duy trì khuôn mẫu ẩn (L)
Nghiên cứu này ứng dụng bốn yêu cầu của lý thuyết Cấu trúc chức năng là một trong các nội dung đánh giá năng lực chuyên môn của NVXH
Ứng dụng lý thuyết Cấu trúc chức năng, NVXH thực hiện bốn nhiệm vụ:
A- Thích ứng : NVXH là phương tiện, nguồn lực và là năng lượng giúp trẻ
và gia đình thích ứng với môi trường thông qua việc cung cấp các dịch vụ và kết nối gia đình với tài nguyên bên ngoài Bản thân NVXH cũng tự thích nghi với các hệ thống thân chủ và linh hoạt các kỹ thuật can thiệp phù hợp với từng hệ thống thân chủ
Trang 33G-Hướng đích: NVXH giúp gia đình định hướng, xác định và hoàn thành
mục tiêu để giải quyết vấn đề Đồng thời NVXH cũng đảm bảo mục đích của CTXH với gia đình được hoàn thành
I- Hòa nhập: NVXH thực hiện chức năng gắn kết, hòa giải và điều phối thông
qua một số dịch vụ giúp hệ thống thân chủ cải thiện mối quan hệ trong gia đình, tham gia các hệ thống khác trong xã hội
L-Duy trì khuôn mẫu ẩn: NVXH là tiểu hệ thống thuộc hệ thống CTXH,
được đào tạo trong ngành CTXH, đảm bảo các giá trị, nguyên tắc nghề, duy trì sự cân bằng và ổn định của cá nhân, hệ thống CTXH và hệ thống thân chủ
3 CÁC KHÁI NIỆM VỀ GIA ĐÌNH, TRẺ NCCPT VÀ CTXH VỚI GIA ĐÌNH
3.1 Gia đình, trẻ NCCPT, bộ công cụ “Từng bước nhỏ một” và Can thiệp sớm
Gia đình được trình bày trong đề tài này là gia đình có trẻ NCCPT Với trẻ NCCPT việc can thiệp ở trẻ nhỏ càng sớm thì khả năng vượt qua NCCPT, hòa nhập với gia đình và xã hội của trẻ càng cao Trong nghiên cứu này, trẻ NCCPT được can thiệp với bộ công cụ “Từng bước nhỏ một”
3.1.1 Gia đình
Theo Huỳnh Minh Hiền (2016):‘‘Gia đình về mặt pháp luật: Các thành viên trong gia đình được quy định bởi pháp luật nhà nước Gia đình về mặt xã hội: Những thành viên mà cá nhân xem là gia đình là một mạng lưới bao gồm cả hàng xóm, đồng nghiệp,… Những người này không có quan hệ về mặt huyết thống nhưng lại có mối quan hệ và hỗ trợ thực sự hiệu quả cho thân chủ và gia đình."
Khái niệm gia đình trong nghiên cứu này dưới góc độ xã hội vượt qua ranh giới của gia đình có quan hệ về mặt huyết thống Gia đình không chỉ có ông bà, bố
mẹ và con mà gồm cả vú nuôi Họ là những người thường gần gũi chăm sóc trực tiếp trẻ gọi chung là người chăm sóc Đại diện gia đình trong nghiên cứu này là những
người chăm sóc trẻ Người chăm sóc là người thường xuyên gần gũi trực tiếp chăm
sóc, nuôi dưỡng trẻ, biết rõ quá trình phát triển của trẻ Hoặc là người tuy không
Trang 34thường xuyên, không trực tiếp chăm sóc cho trẻ nhưng có theo dõi sự phát triển của trẻ và đánh giá được sự thay đổi của trẻ
3.1.2 Trẻ có nguy cơ chậm phát triển
Trong nghiên cứu này, trẻ có NCCPT là 05 trẻ trong độ tuổi từ 02 đến 04 tuổi vào thời điểm NVXH can thiệp Khi đó các trẻ có các dấu hiệu như chậm phát triển ngôn ngữ (như chậm hiểu, chậm nói), khả năng tập trung kém, gặp khó khăn trong giao tiếp hơn các trẻ khác so với mốc phát triển Khi NVXH tiếp nhận, các gia đình cho biết các trẻ đã được đưa đến bệnh viện hoặc gặp các nhà chuyên môn khác và có các chẩn đoán như tự kỷ, có dấu hiệu chậm phát triển, chậm phát triển, có dấu hiệu
tự kỷ …
3.1.3 Bộ công cụ “Từng bước nhỏ một” (Small steps) và can thiệp sớm
“Từng bước nhỏ một” (Small steps) (Treola, Pieterse, & Cairns, 1998) là bộ công cụ đánh giá sự phát triển của trẻ được sử dụng trong can thiệp sớm cho trẻ có NCCPT trí tuệ có tuổi tối đa là bốn Đây là tài liệu của chương trình Can thiệp sớm của Trung tâm Nghiên cứu giáo dục trẻ khuyết tật TPHCM từ 11/1998 đến 04/2001 Thạc sĩ Marja Hodes, nhà Tâm lý trẻ em, tư vấn chương trình Can thiệp sớm trẻ khuyết tật trí tuệ phụ trách
Nguyên bản là “Small steps” của các tác giả Moira Pieterse, Robin Treloar, Sue Cairns (1989) “Small Steps and Early Intervention Program for Children vith Developmental Delays” là chương trình Macquaria do trường đại học Macquaria, Sydney thực hiện Bản dịch của Tôn Nữ Thùy Nhung
Theo bộ công cụ “Từng bước nhỏ một” (Treola et al., 1998):“Can thiệp sớm
là cách thức giúp đỡ trẻ khuyết tật nhỏ tuổi, hay trẻ có NCCPT, vận dụng được hết mọi tiềm năng của chúng, bằng cách dạy cho chúng những kỹ năng phù hợp vào khoảng thời gian thích hợp nhất” Độ tuổi can thiệp sớm trong bộ công cụ này thực hiện với trẻ từ 0 đến 4 tuổi Cũng theo “Từng bước nhỏ một”: “Những năm đầu tiên
là những năm quan trọng nhất cho việc học Việc dạy trẻ phải được bắt đầu càng sớm càng tốt ngay sau khi phát hiện sự khiếm khuyết hay dấu hiệu của việc CPT ở trẻ vì vậy mà thuật ngữ “can thiệp sớm” được sử dụng Việc đánh giá đúng dạng tật và khó
Trang 35khăn của trẻ và việc sử dụng các kỹ thuật giảng dạy thích hợp sẽ đưa đến hiệu quả học tập cao.”
3.2 CTXH với gia đình có trẻ NCCPT
CTXH với gia đình, theo Huỳnh Minh Hiền (2016), là một dịch vụ của ngành CTXH nhằm hỗ trợ ngăn ngừa, giải quyết các vấn đề trong gia đình, giúp gia đình vượt qua khó khăn, đồng thời hỗ trợ sự trưởng thành của các thành viên trong gia đình Bên cạnh đó, CTXH với gia đình giúp duy trì và phục hồi các chức năng của gia đình qua việc sử dụng hiệu quả các nguồn lực trong cộng đồng
Trong nghiên cứu này, CTXH với gia đình thông qua NVXH hỗ trợ gia đình
và hỗ trợ trẻ theo tiến trình CTXH
3.2.1 Nhân viên xã hội
Tài liệu hướng dẫn thực hành dành cho cán bộ xã hội cấp cơ sở của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội và tổ chức Unicef (2016) có đưa ra định nghĩa của Hiệp hội các nhà công tác xã hội chuyên nghiệp Quốc tế – IASW về nhân viên xã hội (NASW,2002) như sau: “Nhân viên xã hội là người được đào tạo và trang bị các kiến thức và kỹ năng trong công tác xã hội, họ có nhiệm vụ: Trợ giúp các đối tượng nâng cao khả năng giải quyết và đối phó với vấn đề trong cuộc sống; tạo cơ hội để các đối tượng tiếp cận được nguồn lực cần thiết; thúc đẩy sự tương tác giữa các cá nhân, giữa
cá nhân với môi trường, tạo ảnh hưởng tới chính sách xã hội, các cơ quan, tổ chức vì lợi ích của cá nhân, gia đình, nhóm và cộng đồng thông qua hoạt động nghiên cứu
và hoạt động thực tiễn” NVXH trong nghiên cứu này là người được đào tạo chuyên ngành CTXH và là người trực tiếp làm việc với các gia đình và trẻ theo tiến trình CTXH
3.2.2 Hỗ trợ gia đình
Mục tiêu hỗ trợ nhằm giúp gia đình được nâng cao năng lực để họ có thể giải quyết những nhu cầu liên quan đến trẻ NCCPT của gia đình Năng lực gia đình được thể hiện qua ba thành tố tâm lý, mối quan hệ trong gia đình và khả năng ứng phó với các vấn đề của gia đình NVXH cung cấp các dịch vụ cho gia đình như tham vấn,
Trang 36cung cấp kiến thức, hướng dẫn thực hành, trị liệu gia đình, chuyển gửi và kết nối mạng lưới nhằm tăng năng lực cho gia đình
- Năng lực của gia đình: Nghiên cứu đề cập đến sự thay đổi của gia đình
qua ba yếu tố :
a Tâm lý: đề cập tâm trạng, suy nghĩ, cảm nhận của NCS
b Mối quan hệ trong gia đình: đề cập đến mối quan hệ giữa các thành viên
trong gia đình như giữa trẻ với mẹ, trẻ với cha, giữa cha mẹ với nhau việc cha mẹ, NCS hiểu trẻ và đồng hành cùng trẻ, nuôi dạy, kiểm soát, điều chỉnh hành vi của trẻ, lấy quyết định,…
c Khả năng ứng phó với các vấn đề của gia đình: là khả năng gia đình tự
giải quyết vấn đề liên quan đến trẻ
Sự gắn kết và điều chỉnh linh hoạt của ba yếu tố trên trong quá trình vận hành của gia đình là nền tảng tạo nên năng lực của gia đình NVXH hỗ trợ tác động vào
ba yếu tố này để nâng cao năng lực cho gia đình hay còn gọi là tăng năng lực cho gia đình
3.2.3 Hỗ trợ trẻ có NCCPT
Mục tiêu hỗ trợ nhằm giúp trẻ được cải thiện NCCPT NCCPT được cải thiện giúp trẻ phát triển và hòa nhập với môi trường gia đình và xã hội NVXH sử dụng công cụ “Từng bước nhỏ một” (Treola et al., 1998) giúp cải thiện NCCPT trên bốn lĩnh vực phát triển của trẻ
- Bốn lĩnh vực phát triển của trẻ
Sự phát triển của trẻ được khảo sát trên bốn lĩnh vực dựa trên bộ công cụ
“Từng bước nhỏ một”:
a Vận động thô: Lĩnh vực phát triển liên quan đến việc kiểm soát và điều
khiển các hoạt động của cơ thể như ngồi, bò, đi, đứng, phối hợp thao tác tay mắt v.v…
b Vận động tinh: Lĩnh vực phát triển liên quan các cơ bắp nhỏ của cơ thể
và bao gồm khả năng nhận thức, kỹ năng tiền học đường v.v…
Trang 37c Nhận biết ngôn ngữ: Lĩnh vực phát triển liên quan đến khả năng trẻ hiểu
ngôn ngữ và đáp ứng lại
d Cá nhân và xã hội: Lĩnh vực phát triển liên quan đến khả năng chơi đùa,
thích ứng, giao tiếp với người khác, tự chăm sóc, v.v…
Các mốc phát triển của trẻ trong bốn lĩnh vực này được thể hiện cụ thể trong
bộ công cụ “Từng bước nhỏ một” về những kỹ năng trẻ đạt được tương ứng với từng tháng tuổi (xem phụ lục)
3.2.4 Tiến trình công tác xã hội
Theo Thelma Lee- Mendoza, tiến trình công tác xã hội gồm năm bước chung
và luôn có sự tham gia của khách hàng trong suốt tiến trình này
1 Đánh giá (xác định vấn đề)
2 Lập kế hoạch (can thiệp)
3 Can thiệp / thực hiện kế hoạch
4 Lượng giá
5 Kết thúc
Tiến trình CTXH là tiến trình giải quyết vấn đề, được thực hiện với các hệ thống khách hàng như cá nhân, gia đình, nhóm nhỏ, cộng đồng Việc đánh giá được thực hiện sau khi tiếp cận và thu thập thông tin, dữ liệu của khách hàng để phân tích,
xử lý nhằm xác định vấn đề Đánh giá và lập kế hoạch là hai bước nền tảng thiết lập mục tiêu và phương pháp can thiệp cho cả quá trình làm việc của NVXH Trong quá trình làm việc, NVXH thực hiện nhiều vai trò và cung cấp các dịch vụ tham vấn, trị liệu, tư vấn, hòa giải, chuyển gửi, biện hộ, v.v… Theo dõi và đánh giá được diễn ra trong suốt tiến trình CTXH giúp NVXH kịp thời điều chỉnh kế hoạch hoặc giải quyết các phát sinh Bước lượng giá thực hiện khi mục tiêu đã đạt được, hoặc thực hiện theo từng giai đoạn của kế hoạch thực hiện, hoặc theo yêu cầu của khách hàng v.v Thông thường kết thúc tiến trình diễn ra khi vấn đề đã giải quyết, mục tiêu can thiệp
đã đạt được, hoặc một trong các yếu tố tham gia như NVXH, khách hàng tự kết thúc (Mendoza &Thelma , 2008)
Trang 38Mục đích của CTXH với gia đình của trẻ NCCPT là hỗ trợ trẻ cải thiện NCCPT, phát triển, hòa nhập với gia đình, xã hội và giúp nâng cao năng lực gia đình
để họ có thể giải quyết những nhu cầu liên quan đến trẻ NCCPT của gia đình
Can thiệp của NVXH được thực hiện theo tiến trình thực hiện CTXH và NVXH luôn đồng hành cùng gia đình trong suốt quá trình can thiệp với hai nhiệm
vụ hỗ trợ trẻ và hỗ trợ gia đình
- Đánh giá
Tiếp nhận khách hàng và đánh giá ban đầu, NVXH lắng nghe và cùng làm việc với gia đình trong việc thu thập thông tin, phân tích các sự kiện liên quan đến gia đình và trẻ để chọn ra các mục, theo thứ tự ưu tiên nên làm gì trước, làm gì sau Thực hiện việc đánh giá sự phát triển của trẻ, các khó khăn và tiềm năng của trẻ và của gia đình Việc đánh giá đúng các mức độ phát triển và các khó khăn trẻ gặp phải
là một trong những bước quan trọng của tiến trình can thiệp Dựa vào đó, NVXH xây dựng kế hoạch hỗ trợ và áp dụng các kỹ thuật thích hợp với từng trẻ Mục tiêu can thiệp cho trẻ giúp cải thiện tình trạng phát triển của trẻ và giúp trẻ hoàn thiện các kỹ năng theo lứa tuổi Kết quả cuối cùng mà gia đình và NVXH nhắm đến là trẻ theo kịp mốc phát triển của lứa tuổi và có khả năng theo lớp một
- Lập kế hoạch can thiệp và thực hiện kế hoạch
NVXH tiến hành xây dựng chương trình can thiệp cho trẻ sau đánh giá ban đầu và cùng gia đình nhìn lại mong đợi của gia đình trong việc hỗ trợ trẻ để xây dựng mục tiêu can thiệp cụ thể Suốt tiến trình CTXH, NVXH thực hiện nhiều vai trò khác nhau
Hỗ trợ trẻ: Can thiệp theo kế hoạch nhằm cải thiện NCCPT trẻ, giúp trẻ
phát triển và hòa nhập trong chính gia đình trẻ và xã hội, chuẩn bị kỹ năng tiền học đường cho mục tiêu vào lớp một
Hỗ trợ gia đình:
Tham vấn: Hỗ trợ tâm lý cho các thành viên trong gia đình, đặc biệt với cha
mẹ, giúp định hướng giải quyết một số vấn đề trong cuộc sống Giúp gia đình hiểu trẻ, hiểu những nhu cầu đặc biệt của trẻ, nhận ra tiềm năng và khó khăn của trẻ, của
Trang 39gia đình và những vấn để phát sinh khác Tham vấn cha mẹ lấy quyết định về việc trẻ vào lớp một, chọn trường, chuyển trường, v.v
Cung cấp kiến thức: Cung cấp kiến thức về tâm sinh lý của trẻ cho cha mẹ,
NCS đặc điểm trẻ NCCPT, về việc nuôi dưỡng, chăm sóc và dạy trẻ
Hướng dẫn thực hành: Hướng dẫn kỹ năng nhằm giúp tăng năng lực cho gia
đình để họ xử lý tình huống của trẻ Hướng dẫn cách làm việc với trẻ và chuyển giao
kỹ thuật làm việc với trẻ cho gia đình
Trị liệu gia đình: Giải quyết căng thẳng và hòa giải các mâu thuẫn trong các
mối quan hệ của gia đình Hỗ trợ trao quyền
Chuyển gửi và kết nối mạng lưới: Đánh giá các dịch vụ xã hội và giới thiệu dịch vụ y tế, tâm lý, giáo dục cho gia đình Phối hợp với bên liên quan hỗ trợ trẻ Khuyến khích và thúc đẩy gia đình trao đổi và tham gia hoạt động nhà trường Chia
sẻ kinh nghiệm với các phụ huynh có cùng cảnh ngộ
- Lượng giá và kết thúc:
Việc đánh giá được thực hiện với tần suất khác nhau ở từng trẻ NVXH có bản tóm tắt nội dung làm việc hoặc bài tập để gia đình tiếp tục thực hiện ở nhà, hàng tháng làm việc với gia đình về thay đổi của trẻ v.v Lượng giá sự phát triển của trẻ mỗi 6 tháng, hoặc lượng giá khi gia đình yêu cầu, và lượng giá khi kết thúc can thiệp
3.3 Đánh giá hiệu quả của CTXH với gia đình
Theo tài liệu hướng dẫn thực hành của Bộ Lao Động Thương Binh và Xã Hội, Unicef Viet Nam, mục đích của CTXH với cá nhân và gia đình:
“Giúp cho các cá nhân và gia đình ngăn ngừa hoặc cải thiện những vấn đề khó khăn của họ Những khó khăn này có thể do họ không thể tự thích nghi được với những thay đổi trong môi trường sống của họ hoặc trong mối quan hệ của họ với môi trường xã hội xung quanh
Giúp cho các cá nhân và gia đình xác định và giải quyết các vấn đề trong mối quan hệ của họ hoặc giúp giảm thiểu các tác động tiêu cực đến cuộc sống hoặc đến những mối quan hệ xã hội của họ với môi trường xung quanh bằng cách tự điều chỉnh
Trang 40những suy nghĩ của bản thân họ và những hành vi ứng xử của họ sao cho thích nghi với môi trường.” (Bộ Lao Động Thương Binh và Xã Hội & Unicef Viet Nam, 2017)
Trong nghiên cứu này, mục đích của CTXH với gia đình của trẻ NCCPT là
hỗ trợ trẻ cải thiện NCCPT, phát triển, hòa nhập với gia đình, xã hội và giúp nâng cao năng lực gia đình để họ có thể giải quyết những nhu cầu liên quan đến trẻ NCCPT của gia đình
Trong nghiên cứu này, hiệu quả của CTXH là kết quả can thiệp của NVXH với trẻ và với gia đình Đánh giá hiệu quả CTXH qua việc:
- Đánh giá kết quả can thiệp của NVXH với trẻ NCCPT qua bốn lĩnh vực phát
triển: Vận động thô, vận động tinh, nhận biết ngôn ngữ, cá nhân và xã hội
- Đánh giá kết quả can thiệp của NVXH với gia đình của trẻ có NCCPT qua
kết quả nâng cao năng lực của gia đình: Tâm lý, mối quan hệ trong gia đình và khả năng ứng phó với các vấn đề của gia đình
- Phân tích các yếu tố tác động đến kết quả can thiệp của NVXH với gia đình
của trẻ có NCCPT: Tham gia của gia đình, dạng nguy cơ dẫn đến CPT ở trẻ, tuổi can thiệp và năng lực của NVXH
3.4 Các yếu tố tác động đến kết quả can thiệp của NVXH với gia đình của trẻ có NCCPT
04 thành tố trong CTXH với cá nhân gồm con người, vấn đề, nơi chốn, tiến trình (Bộ Lao Động Thương Binh và Xã Hội & Unicef Viet Nam, 2017) là cơ sở của bốn yếu tố tác động đến kết quả can thiệp của NVXH: “Tuổi can thiệp của trẻ”,
“Dạng nguy cơ dẫn đến chậm phát triển”, “Tham gia của gia đình” và “Năng lực của NVXH”
Gia đình gặp khó khăn khi con họ có NCCPT và tìm đến nơi hỗ trợ NVXH với năng lực chuyên môn của mình thực hiện tiến trình CTXH để hỗ trợ gia đình vượt qua khó khăn Trường hợp này thể hiện 04 thành tố trong CTXH với cá nhân
và gia đình như sau:
- Thành tố con người: Thân chủ là gia đình trẻ NCCPT (là người gặp vấn đề)
và NVXH (là người hỗ trợ gia đình giải quyết vấn đề) Thân chủ thuộc hệ thống gia