ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ---o0o--- TRẦN VĂN DŨNG VẤN ĐỀ DUNG HỢP PHẬT - NHO TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM CỦA HƯƠNG HẢI THIỀN SƯ LUẬ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-o0o -
TRẦN VĂN DŨNG
VẤN ĐỀ DUNG HỢP PHẬT - NHO TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM CỦA
HƯƠNG HẢI THIỀN SƯ
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2019
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-o0o -
TRẦN VĂN DŨNG
VẤN ĐỀ DUNG HỢP PHẬT - NHO TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM CỦA
HƯƠNG HẢI THIỀN SƯ
Chuyên ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM
Trang 3LỜI CÁM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn thật chân thành và sâu sắc đến
PGS.TS Nguyễn Công Lý, là người đã hết lòng tận tụy hỗ trợ tôi trong suốt quá
trình hoàn thành đề tài này, cô đã rất gần gũi chia sẻ, giúp đỡ, dành cho chúng tôi
những lời khuyên bổ ích, nhận thấy được khuyết điểm của mình và thay đổi là một
điều vinh hạnh lớn lao
Chúng tôi cũng xin gửi lời cám ơn đến các thầy cô trong Khoa Văn học đã
mang đến những kiến thức quý báu, mới mẻ; lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của
học viên và gửi trao những sẻ chia thật chân tình
Một lời cảm ơn xin được gửi tới thầy cô phụ trách ở các phòng ban, thư viện
nhà trường đã đồng hành, giúp đỡ chúng tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài
luận văn này
Xin chân thành tri ân nhị hòa thượng và tăng chúng chùa Đồng Hiệp, nơi đã
tạo điều kiện tu học cho bản thân chúng tôi từ ngày đặt chân đến thành phố Đồng
thời thấm thiết tri ân nhị vị bổn sư và y chỉ sư của chúng tôi: thượng Chúc hạ Tín và
thượng Pháp hạ Lạc cũng như chư huynh đệ, Phật tử ở chùa Bát Nhã, chùa Hưng
Phước ở tp Đà Nẵng và Quảng Nam Luôn luôn mang ơn gia đình, đấy là nguồn
động lực lớn lao để chúng tôi luôn cố gắng, mạnh mẽ nhiều hơn; cùng với đó là
những người bạn đã quan tâm, khích lệ tôi, bền bỉ, nhiệt thành với những điều tốt
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của chính tác giả Mọi kết quả được trình bày trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa được ai công bố
ở bất kỳ công trình nào khác
Tác giả
Trần Văn Dũng
Trang 5MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 6
6 Đóng góp của luận văn 6
7 Kết cấu luận văn 6
NỘI DUNG 8
CHƯƠNG 1 XÃ HỘI ĐẠI VIỆT TRONG CÁC THẾ KỶ XVI, XVII, ĐẦU XVIII VÀ THIỀN SƯ HƯƠNG HẢI 8
1.1 Xã hội Đại Việt trong các thế kỷ XVI, XVII, đầu XVIII 8
1.1.1 Tiền Lê sơ (hậu Lê) 9
1.1.2 Chiến tranh Lê - Mạc, Nam Bắc triều 10
1.1.3 Trịnh - Nguyễn phân tranh 13
1.1.4 Tình hình kinh tế và văn hóa của thế kỷ XVI, XVII, đầu XVIII 15
1.2 Tiểu sử của thiền sư Hương Hải (1628 - 1715) 35
1.2.1 Xuất thân và duyên đạo 35
1.2.2 Quá trình hoằng pháp độ sanh 36
Tiểu kết 40
CHƯƠNG 2 VẤN ĐỀ DUNG HỢP TƯ TƯỞNG PHẬT - NHO TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM CỦA THIỀN SƯ HƯƠNG HẢI NHÌN TỪ NỘI DUNG TƯ TƯỞNG 41
2.1 Vấn đề dung hợp Phật - Nho trong tác phẩm của thiền sư Hương Hải nhìn từ quan niệm Phật tính và bản tính 41
2.2 Vấn đề dung hợp Phật - Nho trong tác phẩm của thiền sư Hương Hải nhìn từ quan niệm giáo dục 50
2.2.1 Duyên khởi của Nho giáo và Phật giáo 50
Trang 62.2.2 Nhìn lại cách giáo dục của Nho giáo để thấy đồng dị trong cách giáo dục của Phật
giáo và sự nhất trí của Phật - Nho trong thơ kệ của thiền sư 52
2.3 Vấn đề dung hợp Phật - Nho trong tác phẩm của thiền sư Hương Hải nhìn từ con người phận vị 68
2.3.1 Đôi chút khác biệt từ xuất phát điểm của hai học thuyết 68
2.3.2 Từ vị trí thành nhân trong học thuyết “nhân” đến địa vị thánh nhân khi giác ngộ triết lý “tâm” 73
2.3.3 Cảm nhận sâu sắc “chữ tâm” nhà Phật thông qua thơ kệ của thiền sư Hương Hải 81
Tiểu kết 94
CHƯƠNG 3 KHẢO SÁT MỘT SỐ HÌNH THỨC NGHỆ THUẬT TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM CỦA THIỀN SƯ HƯƠNG HẢI CÓ BÀN ĐẾN VẤN ĐỀ DUNG HỢP PHẬT – NHO 95
3.1 Văn tự ngôn ngữ được sử dụng trong các tác phẩm 96
3.2 Hệ thống thể loại tác phẩm của thiền sư Hương Hải 104
3.2.1 Kệ và thơ Thiền 105
3.2.2 Ngữ lục 111
3.2.3 Thơ Nôm 114
3.3 Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ trong tác phẩm 117
3.3.1 Nghệ thuật sử dụng điển tích điển cố 118
3.3.2 Nghệ thuật các biện pháp tu từ 126
3.3.3 Nghệ thuật sử dụng tiếng Việt chữ Nôm 138
3.4 Giọng điệu trong các tác phẩm của thiền sư Hương Hải 141
3.4.1 Giọng điệu thi kệ chữ Hán 143
3.4.2 Giọng điệu thi kệ chữ Nôm 148
Tiểu kết 151
TỔNG KẾT 152
TÀI LIỆU THAM KHẢO 157
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trải qua các thời kỳ lịch sử của nước ta, Phật giáo luôn đồng hành cùng dân tộc Vì thế, Phật giáo đã có ảnh hưởng sâu đậm đến các mặt của đời sống xã hội Phật giáo thời Lý - Trần là minh chứng sinh động cho điều đó Với tinh thần rộng
mở và tùy duyên, khi truyền vào nước ta, đạo Phật đã dung hợp với các hệ tư tưởng Nho và Lão - Trang để cùng tồn tại và phát triển Hơn nữa với tư tưởng dung hợp và thái độ hòa hiếu sẵn có của dân tộc ta, Tam giáo đồng nguyên càng sớm được củng
cố và thúc đẩy sự gắn kết hơn để làm phong phú cho đời sống tinh thần của nhân dân Thậm chí Phật và Nho giáo từng thay nhau để trở thành tư tưởng lãnh đạo trong công cuộc xây dựng, giữ gìn và bảo vệ đất nước
Vì vậy, không gì phủ nhận được rằng Phật và Nho giáo đã tô điểm thêm cho bản sắc riêng của dân tộc trên các lĩnh vực văn hóa, văn học, đạo đức, thẩm mỹ, giáo dục và gián tiếp ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực khác của đời sống như chính trị, điêu khắc, hội họa, kiến trúc, v.v Nhưng phải thừa nhận rằng Phật giáo chứ không phải Nho giáo đã đển lại ấn tượng đậm nét hơn cả ngày ấy cho đến bây giờ Trong
đó văn học Phật giáo là một di sản văn hóa vô cùng quí giá, vì trong thời kỳ đầu văn học Phật giáo đã có công rất lớn trong việc hình thành và phát triển nền văn học viết Việt Nam Vậy nên, việc nhìn lại để tìm hiểu sâu triết lý sống của các thiền sư thuở trước là thật sự rất ý nghĩa để hiểu hơn những giá trị nhân văn mà họ đã mang lại dựa trên sự dung hòa cả Phật và Nho giáo
Văn học Việt Nam từ buổi đầu cho đến nay luôn có sự xuất hiện các tác giả là thiền sư, nhất là giai đoạn Phật giáo thời Lý - Trần, lực lượng này đã giữ vai trò nồng cốt trong sáng tác văn học Lượng tác phẩm đồ sộ của họ ở giai đoạn đầu của nền văn học viết Việt Nam mang giá trị định hướng và có nhiều thành tựu đáng kể Tuy Phật giáo ở thế kỷ XVI, XVII, đầu XVIII không còn chiếm ưu thế, nhưng các thế hệ thiền sư sau này vẫn kế thừa tinh thần nghiên cứu và trước tác văn học của các thế hệ cha ông để lại Trong đó, thiền sư Hương Hải là một trong số những tác giả đã có đóng góp đáng kể cho nền văn học, tư tưởng Việt Nam thế kỷ XVII
Trang 8Nối gót các thế hệ thiền sư đi trước đã làm, thiền sư Hương Hải đã mượn ngòi bút văn học để xiển dương những giá trị tu tập thiết thực mà ngài đã chiêm nghiệm trong quá trình sống và hành trì của bản thân Bởi thế, những trước tác của thiền sư đều là những bài học mang tính giáo huấn cao Nghiệp cầm bút của ngài, theo Lê
Mạnh Thát trong Toàn tập Minh Châu Hương Hải, đã để lại 30 quyển và đóng góp
rất lớn trong việc xây dựng nét văn hóa chung cho dân tộc Đó là tiếng nói thống nhất của hai miền tổ quốc được trình bày rõ trong thơ kệ và những tác phẩm văn xuôi Cho nên, việc đặt lại vấn đề nghiên cứu về thiền sư Hương Hải để hiểu thêm quan điểm thiết yếu của thiền sư về cuộc đời và quan niệm tu tập là công việc rất cần thiết Nhờ vậy, một lần nữa khẳng định lại vấn đề dung hợp Phật - Nho là một
tư tưởng sống tích cực đầy từ bi, vị tha và rộng mở của thiền sư và đồng thời khơi gợi lại vẻ đẹp văn học là việc làm đáng quan tâm
Vào thế kỷ XVIII, có lẽ khi nhận thức được những đóng góp quan trọng của thiền sư Hương Hải, nhiều gương mặt trí thức đã tìm hiểu thiền sư Hương Hải và
các tác phẩm của ngài Trong số đó nổi bật nhất là Lê Quý Đôn với tác phẩm Kiến
văn tiểu lục có bàn bạc về vị thiền sư này Do đó, việc lật trở lại những trang sử văn
học giai đoạn thế kỷ XVII, với những câu chữ tỏa sáng tư duy Thiền - Phật mang đậm bản sắc tinh thần Phật giáo và dân tộc Việt Nam của thiền sư là việc làm quan trọng để giữ gìn và học tập những tinh hoa của nó
Nhìn chung, một số công trình viết về thiền sư Hương Hải và giới thiệu thơ, kệ, ngữ lục của ngài Trong số đó có bàn đến vấn đề dung hợp Phật - Nho của Hương Hải thiền sư, nhưng chỉ ở mức độ giới thiệu Vậy nên, với tinh thần nghiên cứu học hỏi và ý thức khơi sáng, cũng như gìn giữ và bảo tồn những tinh hoa về tư tưởng dung hợp Phật - Nho lẫn nét đẹp văn hóa của dân tộc, người viết đã mạnh dạn chọn
đề tài: Vấn đề dung hợp Phật - Nho trong một số tác phẩm của Hương Hải thiền
sư Thật sự là điều hạnh phúc cho những ai tìm về những tác phẩm của thiền sư để
nghiên cứu vấn đề dung hợp Phật - Nho Vì đó là điều đáng quan tâm và thú vị theo tinh thần giữ gìn nét đẹp văn hóa tư tưởng của dân tộc ta Đây quả thật là một món
Trang 9quà tinh thần đầy đạo vị cho những bước chân của bậc thượng sĩ hướng đến an lạc, thảnh thơi
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Xét ở tầm nhìn rộng, mối quan hệ Phật - Nho được bàn bạc không phải là ít trong lịch sử tư tưởng của nước ta Quan điểm dung hòa tôn giáo này thể hiện rõ
nhất từ tác phẩm Lý hoặc luận của Mâu Tử, kể từ đó, nhiều thế hệ con người Việt
Nam từ Thiền sư, Đạo sĩ, Nho sĩ cho đến vua, quan sau này đã tiếp tục xiển dương
tư tưởng này theo xu hướng Tam giáo đồng nguyên, có thể kể ra một số nhân vật tiêu biểu như Trần Thái Tông, Tuệ Trung Thượng Sĩ, Trần Nhân Tông, Hương Hải,
Lê Quý Đôn, hai cha con Ngô Thì Sĩ và Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích, Trịnh Tuệ, Toàn Nhật,… Tất cả đều cho rằng Nho và Phật tuy đi theo hai ngã rẽ khác nhau nhưng chỗ bí yếu khôn cùng của đạo là một không hai
Đặc biệt tác phẩm Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh của Hải Lượng Ngô Thì
Nhậm và pháp hữu đưa ra nhiều cái nhìn sâu sắc về mối quan hệ này Chẳng hạn
như dung hòa cái nghĩa: bình đẳng của Phật gia vào cái nghĩa đại đồng của Nho
gia; dung hòa trong nghĩa chữ nhất; sử dụng lý luận trong phạm trù quân tử và tiểu nhân của Nho gia nhằm giải thích rõ tư tưởng vô ngã, vị tha của Phật giáo; đối sánh
ý nghĩa chính tâm, thành tính của Nho với minh tâm, kiến tính của Phật để chỉ rõ
nghĩa đạo cao cả Nhưng cũng chưa thấy đưa ra một vấn đề dung hợp Nho - Phật
như: Nho - Phật nhất trí thông qua triết lý giáo dục biểu hiện cụ thể ở hành động
và lời nói, con người phận vị từ triết lý “nhân” của Khổng Tử trong Nho giáo đến con người tu tập giác ngộ triết lý “tâm” của Phật giáo, v.v
Bàn riêng về thiền sư Minh Châu Hương Hải và vấn đề dung hợp tư tưởng
Phật - Nho, thì có một số sách như: Toàn tập Minh Châu Hương Hải của Lê Mạnh Thát, Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn, Thiền sư Việt Nam của Thích Thanh Từ,
Việt Nam Phật giáo sử luận của Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử lược của
Mật Thể, Hành trạng chư thiền đức xứ Quảng của Thích Như Tịnh, v.v Tuy
nhiên, nhìn chung chủ yếu nói về lược sử thân thế, trích những bài thơ kệ có tính chất giáo huấn đối với đồ chúng đệ tử, vua quan và lớp đạo hữu cư sĩ Trong số
Trang 10này, tác phẩm chuyên khảo về thiền sư của tác giả Lê Mạnh Thát là một công trình
có giá trị lớn Tác phẩm có bàn đến tư tưởng của thiền sư Hương Hải về quan hệ Phật - Nho, nhưng chỉ ở mức giới thiệu Qua những khảo sát này nhận thấy việc nghiên cứu về vấn đề dung hợp Phật - Nho trong một số tác phẩm của thiền sư Hương Hải vẫn chưa được đào sâu và cho nên nó cần được tiếp tục quan tâm và nghiên cứu sâu hơn
Có thể thấy rằng nếu không có tìm hiểu kỹ lưỡng thì rất dễ mắc sai lầm khi
tiếp cận những bài thơ được in trong tập Hương Hải thiền sư ngữ lục Trong tác phẩm Toàn tập Minh Châu Hương Hải, học giả Lê Mạnh Thát đã cho rằng:“Qua
nghiên cứu bản ngữ lục này, chúng tôi có chép 59 bài thơ và 14 đoạn văn của Minh Châu Hương Hải Tuy nhiên, sau khi nghiên cứu, 47 bài thơ và 5 đoạn văn đều chứng tỏ là của những tác giả Trung Quốc, chứ không phải của vị thiền sư của chúng ta” ( Lê Mạnh Thát, 2000, trang 8) Song, khi nghiên cứu tư tưởng của
Hương Hải, vị thiền sư “vốn ít ưa dùng nhiều ngôn luận” thì dẫu những lời giáo
huấn lúc nhàn đàm với đệ tử là vay mượn phần lớn thơ văn của các thiền sư Trung Quốc, nhưng đó vẫn là chứng cứ tư tưởng của thiền sư Do đó, việc dựa vào những thơ kệ sư đã nói ra để làm căn cứ nghiên cứu tư tưởng của ngài trong đó có tư duy Phật - Nho là một việc làm có cơ sở Điều này được biểu hiện trực tiếp trong tác
phẩm Sự lý dung thông do chính ngài viết Đây là một tác phẩm thơ Nôm song thất
lục bát, gồm 162 câu có đề cập tư tưởng Tam giáo rất rõ ràng Do đó, cần phải
khẳng định rằng Toàn tập Minh Châu Hương Hải và Sự lý dung thông là những tập
thơ kệ có đề xuất những tư tưởng cốt lõi của thiền sư Hương Hải mà nổi bật trong
đó là vấn đề dung hợp Phật - Nho
Qua đó nhận thấy những giá trị nhân văn mang tính giáo dục cao trong mối quan hệ Phật - Nho mà thiền sư Hương Hải kế thừa và phát triển được đề cập trong
các tác phẩm Sự lý dung thông và Hương Hải thiền sư ngữ lục vẫn chưa được khai
thác hết Do đó, tập luận văn này nhắm đến việc triển khai những giá trị văn hóa tư tưởng về Phật - Nho vẫn còn ẩn tàng trong thơ kệ của thiền sư Hương Hải ở thế kỷ XVII Đây là công việc thiết thực cho công tác lưu giữ và truyền thừa gia sản pháp
Trang 11bảo đối với đời sau Cho nên, thông qua mục tiêu này của tập luận văn, chúng tôi sẽ tập trung tìm hiểu tư tưởng dung hợp Phật - Nho chảy ngầm trong những bài thi kệ đặc sắc và tầng nghĩa sâu sắc nương náu trong thơ kệ, ngữ lục của thiền sư
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Tập trung nghiên cứu hai tác phẩm hiện còn của
thiền sư Hương Hải như: Hương Hải thiền sư ngữ lục và Sự lý dung thông Do đó, trong tập luận văn này phần lớn các bài thơ, kệ và ngữ lục của thiền sư Hương Hải thuộc hai tác phẩm này đã được biên soạn và trích dẫn trong những cuốn như Toàn
tập Minh Châu Hương Hải của Lê Mạnh Thát; Thanh Từ toàn tập 28, Thiền tông Việt Nam 5 của Ban văn hóa Thường Chiếu cùng tăng ni Phật tử Trúc Lâm; Việt Nam Phật giáo sử luận của Nguyễn Lang Nên chúng tôi sẽ được những cuốn này
để trích dẫn thơ, kệ và ngữ lục trong tập luận văn Song song với việc trích dẫn thơ
kệ của thiền sư, chúng tôi có dẫn ra những bài thơ kệ nào có ít nhiều khác biệt từ 3
tập sách Cảnh Đức truyền đăng lục tập 1,2, 3 để tiện đối chiếu nếu cần
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài chỉ nghiên cứu vấn đề dung hợp tư tưởng Phật -
Nho trong một số tác phẩm của thiền sư, chẳng hạn trong các tác phẩm như Sự lý
dung thông, Hương Hải thiền sư ngữ lục
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Như tên đề tài thì mục đích của luận văn là chỉ ra sự dung hợp tư tưởng Phật
- Nho trong một số tác phẩm của thiền sư Hương Hải Bởi xu hướng dung hợp ba luồng tư tưởng lớn đã hòa nhập vào văn hóa và tín ngưỡng bản địa từ thời du nhập, rồi phát triển mạnh thời Lý - Trần cho đến các thời đại kế tiếp sau này
Nhiệm vụ nghiên cứu trước tiên là làm sáng tỏ tư tưởng dung hợp Phật - Nho của thiền sư Hương Hải thông qua chứng cứ thơ kệ và ngữ lục trong hai tác phẩm
Hương Hải thiền sư ngữ lục và Sự lý dung thông Muốn làm sáng tỏ được vấn đề
này thì biết tận dụng kiến thức Tam giáo để có những chứng cớ lịch sử chính xác minh chứng cho tư tưởng dung hợp Phật - Nho trong thơ, kệ, ngữ lục của thiền sư Qua đó giúp thấy rõ được giá trị cốt lõi của sự dung hợp tư tưởng Phật - Nho để chúng ta biết ôn cố tri tân, mà có được sự tiếp cận đúng đắn
Trang 125 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: Một trong những đặc trưng của văn học trung đại là giai đoạn văn sử triết bất
phân, cho nên việc sử dụng phương pháp văn học sử là yếu tố cần thiết, vì khảo sát
thiền sư trong bối cảnh xã hội Đại Việt ở hai mốc giai đoạn thời Lê - Mạc, Nam Bắc phân tranh để nắm rõ tình hình thời đại góp phần chi phối tư tưởng và quan điểm
sống của thiền sư Sử dụng phương pháp loại hình (tư tưởng, thể loại, ngôn ngữ) để tìm ra nét đẹp ẩn sâu đằng sau những câu nói đầy tính cách ngôn Sử dụng phương
pháp liên ngành vì đặt văn học Phật giáo thời Lê - Mạc, Nam Bắc phân tranh là thời
kỳ đặc trưng của ba yếu tố văn - sử - triết bất phân Ngoài ra còn sử dụng thêm các phương pháp khác như phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp so sánh - đối chiếu, phương pháp thống kê - phân loại, phương pháp thực chứng - ngữ nghĩa, phương pháp nghiên cứu thực chứng lịch sử, cùng một vài thao tác khoa học khác
6 Đóng góp của luận văn
Thực hiện luận văn đặt trọng tâm vào Vấn đề dung hợp Phật - Nho ở một số
quan điểm như đề cao nhân văn, tư duy sống, giáo dục phẩm cách, đã giúp khơi dậy tinh thần nhân ái, đạo đức để trở về với nguồn tâm đức vốn có nơi mỗi người
mà vô tình bị bỏ rơi nhất là trong thời đại ngày nay Bên cạnh đó, còn nêu bật được một số hình thức thể loại tiêu biểu của dòng văn học Phật giáo
Ngoài ra luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho dòng văn học Phật giáo nói chung, cụ thể là vấn đề dung hợp tư tưởng Phât - Nho trong một số tác phẩm của thiền sư Hương Hải nói riêng, để phục vụ cho công tác bồi dưỡng tư chất, giảng dạy và nghiên cứu cho mọi đối tượng
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, trọng tâm của luận văn
Trang 13sư Hương Hải nhìn từ nội dung tư tưởng
Chương 3: Khảo sát một số hình thức nghệ thuật trong một số tác phẩm của thiền sư Hương Hải có bàn đến ván đề dung hợp
Đây là lối kết cấu luận văn theo kiểu truyền thống có bố cục ba phần: mở đầu,
nội dung và kết luận Đặc biệt phần nội dung được triển khai thành 3 chương căn
bản Trước khi đi vào phần nội dung chính: vấn đề dung hợp Phật - Nho trong một
số tác phẩm của thiền sư Hương Hải ở chương 2, thì chương 1 nêu lên được mốc lịch sử có dấu ấn thời đại ảnh hưởng ít nhiều đến con người và tư tưởng của thiền sư Hương Hải Từ nền tảng lịch sử xã hội cho đến tư tưởng của thiền sư được phản ánh trong thơ, kệ là một chuỗi sự kiện có tính nhân quả, ảnh hưởng lẫn nhau, cho nên ở chương 2 khi triển khai tư tưởng thì dễ giúp cho người đọc dễ nắm bắt và nhận biết
rõ được ý nghĩa sâu sắc của vấn đề dung hợp tư tưởng Phật - Nho là có căn cứ và xuất xứ từ bối cảnh cũng như những yếu tố thời đại Kế tiếp chương 3 sẽ tiến hành
khảo sát hình thức nghệ thuật các tác phẩm của thiền sư Hương Hải
Trang 14NỘI DUNG CHƯƠNG 1
XÃ HỘI ĐẠI VIỆT TRONG CÁC THẾ KỶ XVI, XVII,
ĐẦU XVIII VÀ THIỀN SƯ HƯƠNG HẢI
1.1 Xã hội Đại Việt trong các thế kỷ XVI, XVII, đầu XVIII
Tìm hiểu lịch sử xã hội Đại Việt trong ba thế kỷ có ý nghĩa quan trọng trong việc dẫn luận những chứng cứ đích xác của yếu tố thời đại ảnh hưởng trực tiếp đến
tư tưởng, động thái và hướng đi lý tưởng của thiền sư Hương Hải trước những biến động lớn lao của nước ta vào thời buổi đó Trong đó xã hội Đại Việt thế kỷ XVI là điểm mốc tiền đề trước khi thiền sư chào đời, tất cả sự kiện lịch sử kể từ đây cho đến khi Hương Hải xuất hiện là điều kiện thời đại tác động không nhỏ đến cuộc đời ông, góp phần tạo nên con người, sự nghiệp và lý tưởng của một thiền sư đức cao danh lớn sau này
Ở tập luận văn này khi khảo sát giai đoạn lịch sử Việt Nam từ thế kỷ XVI, thì trước tiên chúng tôi nói đến tiền đề từ thế kỷ XV thời Lê - Mạc và mốc lịch sử được chọn để bắt đầu khảo sát là sự kiện Lê Lợi giành lại độc lập, thống nhất đất nước sau cuộc kháng chiến dũng mãnh trước quân xâm lược nhà Minh Vì đây là điểm mốc quan trọng trong suốt dòng chảy lịch sử nước nhà kể từ đó cho đến cuối thế kỷ XVII và đầu thế kỷ XVIII, tức là những năm cuối đời của thiền sư Hương Hải
Bởi vậy chúng tôi sẽ lần lượt trình bày các phần như: tiền Lê sơ, chiến tranh
Lê -Mạc (Nam Bắc phân tranh), Trịnh - Nguyễn phân tranh (Chiến tranh giữa Đàng
Ngoài và Đàng Trong), sơ lược tình hình kinh tế và văn hóa của các thế kỷ XVI,
XVII, đầu XVIII
Ở chương này, điều cần lưu ý là chỉ ra những yếu tố lịch sử mà Hương Hải đi cùng từ khi sanh ra cho đến khi lớn lên Từ đó tạo nên cách chọn lựa và lối hành xử của ông bằng phương pháp chọn lọc - diễn giải, miêu tả - phân tích những sự kiện lịch sử mà sau này đã tác động mạnh đến tâm tưởng và hành động của ông
Trang 151.1.1 Tiền Lê sơ (hậu Lê)
Nhà Lê sơ (hậu Lê) tồn tại 100 năm (1428 - 1527) trải qua 11 đời vua1, từ vị đầu tiên là Lê Lợi (Lê Thái Tổ) và vị cuối cùng là Lê Cung Hoàng vào những năm cuối cùng của triều đại Lê sơ (1522 - 1527) Giai đoạn thịnh đạt của triều Lê sơ là thời kỳ vẻ vang của Lê Thánh Tông tại vị 1460 - 1497, đây là thời kỳ thịnh trị lâu nhất trong lịch sử Việt Nam; phát triển vượt trội về mọi mặt và vinh dự được gọi là
thời “Hồng Đức thịnh thế” Nước Đại Việt lúc này có vị trí uy tín trong khu vực Đông Á và Đông Nam Á bởi sự hùng mạnh và tạo được thanh thế Dưới sự cai trị
của 6 vị vua đầu của nhà Lê sơ, nước Đại Việt đã nhanh chóng khôi phục và hoàn thiện mọi mặt đời sống sau chiến tranh
Điểm ra một vài nét nổi bật gồm có: chính sách chia cắt quân lính về làm
nông 2 , tạo được sức sản xuất ổn định và giúp phát triển kinh tế; bộ máy chính quyền
dưới thời vua Lê Thánh Tông được coi là hoàn chỉnh nhất trong lịch sử; chính sách
kinh doanh buôn bán bên trong và hợp tác giao thương bên ngoài; về giáo dục các
vua khuyến khích toàn dân học tập và đẩy lùi đáng kể nạn quan liêu dòng tộc, trọng khoa cử, thực hiện chế độ chiêu hiền đãi sĩ, không gò bó trong hoàng tộc và khuôn
mẫu thế tập; lãnh thổ được nới rộng bằng sự sát nhập Bồn Man và Chiêm Thành3 Tuy nhiên, kể từ năm 1504 trở về sau, tức từ triều đại Lê Túc Tông trở đi thì nhà Lê sơ cũng phải bước từ quỹ đạo từ thịnh đến suy Tệ hại nhất là hai đời vua Lê
Uy Mục và Lê Tương Dực, với đường lối điều hành đất nước bất chính bằng những sinh hoạt sai trái, ăn chơi xa xỉ, tham lam vô độ đã làm cho đất nước bị lầm than
1 11 đời vua của nhà Hậu Lê: Thái Tổ (1428 - 1433), Thái Tông (1433 - 1442), Nhân Tông (1442 - 1459), Nghi Dân (1459 - 1460), Thánh Tông (1460 - 1497), Hiến Tông (1497 - 1504), Túc Tông (1504), Uy Mục (1505 -1509), Tương Dực (1510 - 1516), Chiêu Tông (1516 - 1522), Cung Hoàng (1522 - 1527)
quân, tiền quân, hậu quân, tả quân, hữu quân Đến khi đánh dẹp xong rồi, cho 15 vạn về làm ruộng, còn để lại mười vạn chia ra làm 5 đạo gọi là đông đạo, tây đạo, nam đạo, bắc đạo và hải tây đạo” (Trần Trọng Kim,
2017, trang 254)
3
Cao Huy Giu dịch, Đào Duy Anh hiệu đính (tái bản) (2013) nói rõ nguyên cớ vua Lê Thánh Tông đi đánh
Chiêm Thành: “Ngày mồng 6, vua xuống chiếu thân đi đánh Chiêm Thành…dân Chiêm Thành làm phản, Trà
Toàn cũng chẳng nghĩ đến, lại kiêu ngạo không giữ việc công, khinh rẻ làm nhục sứ thần của triều đình, xâm nhiễu dân biên giới,…” (tr 655) Còn với Bồn Man: “Sai tướng quân Kỳ quận công Lê Niệm đem 30 vạn quân đánh Bồn Man, vì cớ doanh chinh tây có thư báo đánh Lão Qua thắng trận bị giặc Bồn Man đón chặn làm mất”
(Cao Huy Giu (dịch), 2013, trang 688)
Trang 16khốn đốn, trật tự bất an từ trung ương đến địa phương, nạn đói hoành hành, sách
chép rằng: “Năm 1517 trong nước đói to, xác người chết đói nằm gối lên nhau”
(Nguyễn Minh Cảnh (chủ biên), Đào Tố Uyên & Võ Xuân Đàm, 2010, trang 11) Đây là nguyên nhân đưa đến ý đồ soán ngôi của Mạc Đăng Dung Năm 1527, xã hội rối bời khi ở trên vua bất tài kém đức, ở dưới lòng dân oán thán cùng với nhiều cuộc khởi nghĩa nổi lên, các thế lực trong triều tranh quyền đoạt lợi, nắm tình thế trong tầm tay, bề tôi Mạc Đăng Dung liền phế vua Lê Cung Hoàng để soán ngôi vua năm
1527 Sau đó một làn sóng phản khán quyết liệt đối với nhà Mạc, đặc biệt là xuất hiện một nhân tố then chốt trong chính quyền nhà Lê đó là Nguyễn Kim Nguyên là một cựu thần nhà Lê, ông đã tìm cách khôi phục nhà Lê sơ, từ đây mở ra cuộc chiến tranh Lê - Mạc
1.1.2 Chiến tranh Lê - Mạc, Nam Bắc triều
Chiến Lê - Mạc có hai giai đoạn:
+ Giai đoạn 1533 - 1592: tương đương với thời Nam - Bắc triều khi nhà Mạc làm chủ vùng Bắc bộ Việt Nam, nhà Lê trung hưng làm chủ từ Thanh Hóa trở vào +Giai đoạn 1593 - 1677: khi tàn dư nhà Mạc rút lên Cao Bằng cát cứ, nhà Lê trung hưng về lại Thăng Long
Giai đoạn 1533 - 1592
Việc soán ngôi đã đẩy nhà Mạc vào những trận binh biến phò Lê diệt Mạc, điển hình nhất là tháng 12 năm 1532, ở Thanh Hóa, Nguyễn Kim đã tìm và lập con của Chiêu Tôn tên là Lê Duy Ninh lên làm vua, tức vua Lê Trang Tông (1533 - 1548), là vị vua đầu tiên của thời kỳ Lê trung hưng Từ đây cuộc chiến giữa Lê -
Mạc nổ ra, sử chép rằng: “Nguyễn Kim đã mang quân về chiếm lại được đất Thanh
- Nghệ và xây dựng vùng đất này thành một căn cứ vẫn chắc để tiến hành cuộc chiến tranh lâu dài với nhà Mạc” ( Viện Sử Học, 2007a, trang 18) Vào năm 1545,
trong lần tiến đánh Sơn Nam, Nguyễn Kim bị tướng nhà Mạc Dương Chấp Nhất đầu độc chết ở huyện Yên Mô Quyền lực giao phó lại cho con rể Trịnh Kiểm4
, sau
4
“Trịnh Kiểm vốn người xã Sóc Sơn, huyện Vĩnh Phúc (nay là huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa), có tài thao
lược và sức khỏe hơn người, từng theo Nguyễn Kim đánh dẹp, lập được nhiều chiến công, Nguyễn Kim thấy
Trang 17đó Trịnh Kiểm rút về cát cứ ở đồn Vạn Lại, Thanh Hoa, tuyển mộ và rèn luyện binh
sĩ, chiêu dụng hào kiệt anh tài, tập trung mọi nguồn lực để đối đầu nhà Mạc Bấy giờ trên vũ đài chính trị sự giằng co giữa đôi bên, đất nước bị chia cắt: từ Thanh Hóa trở vào thuộc nhà Lê trung hưng gọi là Nam triều (Lê - Trịnh), từ Ninh Bình trở ra thuộc nhà Mạc gọi là Bắc triều, hai bên đánh nhau không phân thắng thua, sử
gọi là chiến tranh Nam - Bắc triều Thời kỳ u ám của chiến tranh Nam - Bắc làm
cho xã hội bấy giờ luôn luôn bất an, đời sống muôn dân nhiễu loạn, cơ quẩn Cuộc chiến Lê - Mạc kéo dài hơn nữa thế kỷ, gây nên biết bao tổn thất và phiền lụy Trong 60 năm chiến tranh giữa Lê và Mạc đã diễn ra 38 trận lớn nhỏ, cả hai bên đã huy động hầu như các lực lượng lao động chính trong xã hội vào cuộc chiến cùng với tất cả sức người, sức của trong tay Điển hình nhất là các mốc giai đoạn khi thì Nam triều chủ động tấn công ra Bắc, khi thì Bắc triều chủ động tấn công vào Nam như: giai đoạn 1546 - 1569 có 11 lần Nam triều tấn công Bắc triều và 4 trận Bắc triều chủ động phản công; giai đoạn 1583 - 1592 là chặng mà quân Nam triều
tổ chức nhiều đợt tiến đánh Bắc triều; giai đoạn kịch liệt tàn khốc (1545 - 1580), hai bên lúc thắng lúc thua, tranh nhau từ Ninh Bình cho đến Nghệ An Đỉnh điểm nhất
là những trận đánh cuối cùng mang tính quyết định khi quân của Trịnh Tùng phía Nam triều quyết chiếm Thăng Long Chiều ngày mùng 6 tháng giêng năm 1592 một trận giao chiến lớn diễn ra hết sức gay cấn giữa quân của Trịnh Tùng và quân của Mạc Mậu Hợp
Tuy nhiên, đến năm 1592 thế lực của nhà Mạc đã bị loại khỏi vũ đài chính trị, đến ngày mùng 9 tháng Giêng năm Quý Tỵ (1593) nhà Mạc đã bị vua Lê chúa Trịnh đánh đuổi ra khỏi Thăng Long Nhưng sau này số con cháu còn lại của nhà Mạc đã bỏ trốn đến lập nghiệp và xưng đế ở đất Cao Bằng nhờ sự can thiệp bảo vệ của nhà Minh, Trung Quốc Như thế cuộc chiến Nam - Bắc triều đã kết thúc Nhà
Lê về đóng tại kinh thành Thăng Long, vua Lê Thế Tông được rước đón ở Thăng Long vào tháng 4 năm 1593, như vậy sự nghiệp trung hưng nhà Lê đã được hoàn mãn, sử gọi đó là thời Lê trung hưng Bên cạnh quyền lực của họ Trịnh cũng được đưa lên hàng chúa và được thế tập từ đây
Trang 18Giai đoạn 1593 - 1677
Sau khi những nhân vật chủ chốt của nhà Mạc như Mạc Mậu Hợp và Mạc Kính Chỉ bị tiêu diệt, con cháu nhà Mạc ở ẩn các nơi chờ thời cơ khôi phục Do đó, trong thời gian từ 1593 đến 1623, các vùng như Thái Nguyên, Lạng Sơn, Cao Bằng vẫn nằm trong tầm kiểm soát của con cháu nhà Mạc Lực lượng họ Mạc 2 lần chiếm được kinh thành, uy hiếp vua Lê chạy vào trú tại Thanh Hoa các năm 1600 và 1623 Năm 1596 Mạc Kính Chương bị quan trấn thủ Hải Dương là Phan Ngạn bắt Năm
1621, Mạc Kính Cung đang ở tại Kim Thành bị Trịnh Tùng đánh phải bỏ chạy về Cao Bằng và xưng là Càn Thống Lúc này cháu của Kính Cung là Kính Khoan cũng xưng hiệu Long Thái, nhưng không theo Kính Cung
Đáng chú ý là năm 1625 Trịnh Tráng thân chinh đánh lên Cao Bằng, cuối cùng bắt được Kính Cung và đem về giết tại kinh đô Nhờ vào sự hậu thuẫn của nhà Minh, con cháu họ Mạc đã thay nhau trấn giữ cát cứ Cao Bằng tính từ đời Mạc Kính Khoan Năm 1638 Kính Khoan mất, có con là Kính Vũ tiếp quản cát cứ Cao Bằng và đã đối đầu 3 lần với sự tấn công của quân Trịnh vào các năm 1662,
1666 và 1667 Kính Vũ không địch nổi bèn bỏ chạy sang Long Châu, Trung Quốc, khi quân Trịnh rút về thì Kính Vũ lại trở về Cao Bằng Năm 1677, tận dụng mối quan hệ đổ vỡ giữa Kính Vũ và nhà Thanh, chúa Trịnh liền phái Đinh Văn Tả đem binh dẹp tàn dư quân Mạc Kính Vũ bỏ trốn, chấm dứt chuỗi ngày trấn giữ cát cứ Cao Bằng
Hậu quả của cuộc chiến tranh Lê - Mạc
Cả Nam và Bắc triều đều tập trung nhân lực và mọi điều kiện như kinh tế, chính trị và xã hội phục vụ cho cuộc chiến Để thực hiện mục tiêu triệt hạ lẫn nhau,
cả hai bên không từ một thủ đoạn nào Nhu cầu cấp thiết của hai thế lực phong kiến này là xây dựng một lực lượng quân sự vững chắc Chiến tranh đã ảnh hưởng xấu đến toàn bộ cục diện đời sống, vì dân trong nước làm ra bao nhiêu của cải đều đỗ hết vào việc chém giết lẫn nhau, hoàn toàn không có chính nghĩa hay niềm tin, nhân dân không bao giờ được yên Khi các trận chiến xảy ra đất đai bị giành qua giựt lại, nhân dân của cả hai bên đều chịu vô số hậu quả đau thương và mất mát
Trang 19Kinh tế bị rơi vào khủng hoảng và thất thu nghiêm trọng bởi cuộc chiến như chiếm hầu hết lực lượng lao động chính của xã hội5 Sản xuất nông nghiệp bị ngưng trệ không chỉ vì bị chiến tranh tàn phá mà còn thiếu lực lượng lao động, bởi chính sách tuyển binh cho cả trước và sau các trận chiến Bên cạnh còn có chế độ khắt khe của nô dịch cũng như thuế khóa nặng nề lên các đối tượng nông, công, thương đều tác động tiêu cực đến nền kinh tế không phải là nhỏ Chiến tranh nên việc giao thương kinh tế nhất là mậu dịch hàng hóa và mua bán đổi chác gặp nhiều trở ngại, cản trở giao lưu thương mại giữa các trung tâm đô thị của mỗi khu vực Gây tổn thất kinh tế nặng, vì nó kiềm hãm mọi tiềm lực đẩy mạnh và kết nối kinh tế đa phương Ngoài nạn giặc giã binh đao, người dân phải gánh chịu sự tổn hại nặng nề không kém đó là thiên tai như: do hạn hán, lũ lụt, vỡ đê, v.v
Tựu trung, thực trạng đời sống vào thế kỷ 16 của dân cả hai miền Nam và Bắc đều hứng chịu muôn vàn hậu quả nghiệt ngã và cảnh tượng vừa do thiên tai vừa do con người mà ở đây là các tập đoàn phong kiến Vì mục đích quyền lợi của giai cấp
mà các tập đoàn này đã lao vào các cuộc chiến khốc liệt, gieo rắc khổ đau cho muôn dân, tước mất đời sống yên bình của trăm họ và đối tượng gánh chịu hậu quả tang tóc nhất vẫn là nhân dân Đồng thời sự nguy hại tiềm ẩn nhất vẫn là nhân tố gieo rắc
tư thế sẵn sàng đối kháng, gây chiến và thanh trừng lẫn nhau bởi quyền lực Từ đây đưa đến cuộc nội chiến kế tiếp có sức tàn phá không kém đó là cuộc đối đầu giữa Trịnh ở Đàng Ngoài và Nguyễn ở Đàng Trong
1.1.3 Trịnh - Nguyễn phân tranh
Tiếp theo cuộc chiến tranh Lê - Mạc là cuộc chia đôi quyền lực của hai họ trong một gia đình, tình chung nứt ngã đôi đường của Trịnh - Nguyễn phân tranh kéo dài 45 năm từ 1627 - 1672 Xã hội Đại Việt ngày một tan thương khi cuộc đối đầu giữa Nam - Bắc triều chưa yên, thì sau năm 1558 lại mở ra thế sự giằng co mới
ở ngay Nam triều: Đàng Ngoài và Đàng Trong Năm 1545 khi quyền lực về tay Trịnh Kiểm thì dần cho thấy ý đồ của ông muốn thủ tiêu thế lực họ Nguyễn để tránh nguy cơ tranh giành về sau đã lộ rõ, sách ghi rằng:
Học, 2007a, trang 556)
Trang 20“…theo điển lệ của Nam triều thì Lãng Quận Công Nguyễn Uông sẽ được đưa lên kế nghiệp cha, nhưng chưa kịp diễn ra thì Lãng Quận Công Nguyễn Uông bi Trịnh Kiểm bí mật thủ tiêu còn Hạ Khê Hầu Nguyễn Hoàng thì nhanh chóng bị cô lập và vô hiệu hóa” ( Nguyễn Khắc Thuần, 2012d, trang
cả trấn Thuận Hóa và Quảng Nam, kể từ đây cơ đồ của ông có một thế đứng rõ rệt Buổi sơ khai khi mới đặt chân vào đất Thuận Hóa, ông xây dựng căn cứ vững chắc
bằng chính sách đối ngoại và đối nội khéo léo:
“Thứ nhất là mặt bề ngoài, mặt công khai thì luôn bày tỏ sự thần phục đối với Nam triều, luôn tự coi mình là quan lại đi trấn giữ chốn quan ải xa xôi Thứ hai là mặt bên trong, mặt bí mật thì ngày đêm ra sức chăm lo xây dựng thế lực riêng cho mình” ( Nguyễn Khắc Thuần, 2012d, trang 22)
Kể từ năm 1613 sau khi Nguyễn Hoàng mất, con là Nguyễn Phúc Nguyên tiếp nối sự nghiệp của cha bằng phương án công khai chạm mặt bằng lực lượng vũ trang, chấm dứt chuỗi ngày quan hệ lệ thuộc chính quyền Lê - Trịnh ở phía Bắc, sách chép:
“Năm 1620 bắt đầu bùng nổ cuộc tấn công của quân Trịnh, mở đầu thời kỳ
nội chiến kéo dài Hai tập đoàn phong kiến Trịnh - Nguyễn đã chia cắt đất nước và xô đẩy nhân dân cả nước vào cuộc chiến tranh „huynh đệ tương tàn” ( Viện Sử Học, 2007a, trang 37)
Cuộc chiến tranh nổ ra suốt quãng thời gian 45 năm (1627 - 1672), hai bên đã chạm mặt 7 trận ác liệt Họ Trịnh chủ động tấn công vào Nam trong các năm 1633,
1643, 1648, 1661, 1672; có khi họ Nguyễn lại kéo quân ra Bắc vào các năm 1655,
1660 Hai họ đã lấy việc phò vua Lê như nước cờ đệm cho cuộc chiến tranh giành
Trang 21quyền lực và bảo vệ quyền lợi cho hai tộc Trịnh, Nguyễn Trận chiến gây cứng nhất vào tháng 6 năm Nhâm Tý (1672), cả hai phía giao chiến khốc liệt suốt mấy ngày liền, quân cả hai chết rất nhiều, nỗi đau thương không gì tả xiết Về sau nghe tin Trịnh Căn bệnh phải về Bắc, các tướng phía Trịnh cũng vội vàng rút binh về Từ đây việc binh đao giữa Trịnh và Nguyễn được yên, lấy sông Gianh (Linh Giang) làm giới tuyến: từ bờ bắc sông Gianh trở ra là Đàng Ngoài do vua Lê chúa Trịnh cai quản, và từ bờ nam sông Gianh trở vào gọi là Đàng Trong do chúa Nguyễn cai quản
Hậu quả của cuộc chiến tranh Trịnh - Nguyễn
Cuộc chiến tranh giành quyền lực tàn khốc này đã vắt kiệt biết bao nhiêu tinh thần, sức lực và phương tiện và tài vật của muôn dân, khiến họ nhận lãnh rất nỗi mất mát và đau thương không kể xiết Bất luận cho ai thắng ai thua, hậu quả tàn phá của chiến tranh là hết sức lớn lao và cuối cùng đưa đến cảnh đau thương “máu chảy, đầu rơi”, đời sống bất an, kinh tế kiệt quệ, mọi tài vật bị và sức lực bị hao tổn, giết hại biết bao người dân vô tội Hậu quả của nó không thể nào xem nhẹ vì:
“Kéo cả nước vào cuộc chiến tranh đẫm máu tương tàn để rồi phân chia đất nước ra làm hai, lấy sông Gianh làm giới tuyến, gây ngăn cách cho bao nhân dân hai miền suốt bao năm trời - đó là điều lịch sử phải lên án”
( Viện Sử Học, 2007a, trang 62)
Tóm lại, tác hại tiềm ẩn đáng lo nhất đó là cuộc tranh giành quyền lực giữa Trịnh và Nguyễn về sau trở thành nhân tố chính làm cho tinh thần đoàn kết dân tộc khó thực hiện được Việc lên án cuộc chiến này là điều cần làm và đó là tiếng nói khách quan của mọi con dân chúng ta để gầy dựng lại tinh thần dân tộc xưa nay của
nước ta: “Bầu ơi thương lấy bí cùng, tùy rằng khác giống nhưng chung một giàn” (Ca dao)
1.1.4 Tình hình kinh tế và văn hóa của thế kỷ XVI, XVII, đầu XVIII Sau cuộc chiến tranh Lê - Mạc đầy nguy kịch thì nhân dân lại tiếp tục hứng
chịu cuộc chiến tranh giành quyền lực giữa Trịnh và Nguyễn Mặc dầu hai họ đã thống nhất đi đến hòa hoãn nhưng hậu quả để lại sau chiến tranh là rất lớn Xét tiềm lực tương quan thì Đàng Ngoài của vua Lê chúa Trịnh có xu hướng dần đổ nát
Trang 22thông qua những ẩn số tiêu cực ngầm như sức ép đầu tư quân sự, hệ thống quan lại Nho sĩ tha hóa, tệ tranh giành quyền lực, chạy chức chạy quyền Trong khi đó họ Nguyễn ở Đàng Trong có nhiều tiềm lực phát triển vì đó vùng đất kinh tế mới đầy hứa hẹn cho những con người khát khao vươn lên Chính sách của nhà Nguyễn về phát triển và khai thác mọi lĩnh vực đều là những công trình có tiềm lực Nhưng nhìn chung cách vận hành kinh tế có phần giống nhau
1.1.4.1 Tình hình Kinh tế nông nghiệp
Nông nghiệp ở Đàng Ngoài
Chính quyền họ Trịnh về cơ bản đã kế thừa cơ cấu hành chính đã được vận
hành từ nhà Lê, điều này là tất yếu vì chiến tranh cứ kéo dài liên miên Quân điền
và lộc điền được quy định lại khác như mỗi người lính được cấp từ 5 đến 7 mẫu, trong trường hợp họ tử trận thì vợ con họ sẽ được hỗ trợ đất của chính sách tuất
điền Tuy nhiên, thiếu đất nghiêm trọng cho người dân, quyền lợi của họ như phần
tệ hại và thừa thải sau khi trừ hết những phần tốt đẹp cho hai đối tượng quân đội và địa chủ Thêm vào đó, từ ý thức quan liêu hủ bại, chúa Trịnh tịch thu lộc điền các quan có công của Lê sơ để cho đội ngũ quan lại mới Như vậy, ruộng tư ngày càng lạm phát và thậm chí chiếm đoạt, lấn át cả ruộng công
Ngoài ra sự yếu kém của nông nghiệp còn đến từ những lý do khác như các công trình phục vụ lao động sản xuất nông nghiệp bị hư hỏng do chiến tranh, thiên tai như hạn hán và lũ lụt thường xuyên, thực trạng thuế khóa nặng nề, v.v Nhất là
sự hà khắc của chế độ thuế khóa được họ Trịnh ban hành vào năm 1720 đó là tổng
số thuế thu sẽ được tính theo dự báo về số chi, tức người dân phải gánh chịu sự sách nhiễu một cách vô tội vạ bởi những khoản chi điên rồ của giai cấp thống trị
Hậu quả một lượng lớn dân nghèo bị mất công ăn việc làm, cuộc sống mưu sinh đã khó lại khó thêm Nước đường cùng họ phải phiêu dạt đó đây, tha phương cầu thực Từ bức tranh nhiễu nhương này như mầm mống báo hiệu cho những cuộc khởi nghĩa nổi dậy của nông dân ở Đàng Ngoài trong thế kỷ XVIII
Nông nghiệp ở Đàng Trong
Việc chọn một vị trí cát thịnh an toàn ở Thuận Hóa để đặt nơi hoạt động chính
Trang 23quyền trung tâm của chúa Nguyễn đóng một vai trò rất quan trọng cho sự nghiệp phát triển mọi mặt Do đó, năm 1687, Phú Xuân (Huế) trở thành kinh đô của họ Nguyễn Cũng như họ Trịnh ở Đàng Ngoài, họ Nguyễn áp dụng mô hình chính quyền nhà Lê Tuy nhiên do mới hình thành được không lâu nên mọi thể chế còn thô sơ
Nhưng đổi lại xã hội được yên ổn, chưa có mâu thuẫn đáng lo, nên công cuộc khẩn hoang đã gặp nhiều điều thuận lợi như: các vị quan đứng ra chiêu mộ người dân cùng đi khai khẩn nổi bật có Nguyễn Hữu Cảnh; tận dụng lực lượng di dân của quan binh nhà Minh tìm đến Đàng Trong mưu sinh năm 1679 sau thất bại của phong trào “phản Thanh phục Minh”, nên lập ra được Cù Lao phố (Biên Hòa) và
Mỹ Tho phố (Tiền Giang); sử dụng quân đội đồn trú để khẩn hoang; khuyến khích tầng lớp địa chủ ở Thuận - Quảng chiêu mộ người dân vào khẩn hoang, một phương thức chiến lược, đạt hiệu quả cao; để thu hút người dân đến sinh sống lập nghiệp,
chúa Nguyễn áp dụng chính sách “pháp chế khoan dung giản dị”, v.v Từ đó kinh
tế Đàng Trong phát triển, đời sống nhân dân khá yên ổn
Việc phân bố đất nông nghiệp của Đàng Trong đạt khả quan hơn Đàng Ngoài
do yếu tố khẩn hoang tạo ra Trong quá trình khẩn hoang, ruộng tư được hình thành chứ không như ở Đàng Ngoài phải có việc lấn át ruộng công Do đó, ruộng công chiếm một tỉ lệ rất thấp, phần lớn là ruộng tư
Gánh nặng thuế khóa vẫn là điểm tương đồng dễ thấy nhất giữa Đàng Trong với Đàng Ngoài Tổ chức hành chính của Đàng Trong còn ở mức non trẻ nên các
chế độ thuế có phần phức tạp Thuế được chia ra nhiều hạng mục như: Thuế đất thì
có đất công điền, đồn điền, đất bồi, nhưng đất công điền đóng nhẹ hơn so với hai
loại kia; thuế đinh có qui định khác nhau giữa các huyện, và tùy theo loại đinh để đóng: trẻ khỏe, già cả, làm thuê, làm chủ, v.v ; Thuế sản xuất, lưu thông và buôn
bán, nộp cho các sản phẩm như: ngà voi, tổ yến, sừng tê giác, voi, ngựa, vàng, bạc,
sắt…; thuế chợ, thuế đò ngang và xuồng, thuế quan nội và ngoại; thuế các tàu bè
khi đến đi,… Bất chấp sự nổ lực cải tổ của họ Nguyễn để giảm gánh nặng của thuế lên người dân, “gọng kiềm” quan liêu của lực lượng quan chức trong bộ máy chính
Trang 24quyền vẫn là nguyên nhân chính gây nên tệ nạn này, do đó, tình trạng gánh nặng thuế khóa vẫn duy trì theo năm tháng Đến nổi Lê Quý Đôn thừa nhận:
“Thuế khóa xứ Thuận Hóa, pháp lệnh rất phiền, nhân viên thu thuế rất nhiều,
nên dân cùng nhà nghèo thường khổ về nộp gấp bội, mà trong ty lại, ngoài thì quan bản đường, bớt xén không thể kiểm soát được”
(Lê Thành Khôi, 2014, trang 308)
Riêng vùng Gia Định do còn là vùng đất mới tiếp quản sau này, nên chế độ hành chính nhẹ hơn so với cùng Thuận - Quảng Bên cạnh chính quyền họ Nguyễn khuyến khích óc sáng tạo của dân, nên chính điều này đã biến vùng đất trở thành nơi sản xuất nông nghiệp trù phú và là vựa thóc chính của Việt Nam
1.1.4.2 Thủ công nghiệp và thương mại
Thủ công nghiệp
Sự phát triển của thời đại kéo theo những nhu cầu thủ công nghiệp của cả nước đều phát triển Ở đây cho thấy rõ sức kích thích mạnh từ nhu cầu của các tầng lớp xã hội như lớp quý tộc, địa chủ, thương gia giàu có, người ngoại quốc đến kinh doanh sinh sống Từ đây ngành thủ công nghiệp được đẩy mạnh thoát khỏi khung sườn nhỏ lẻ của mô hình gia đình Đáng chú ý là sự chuyên môn hóa của mỗi làng
về một phân đoạn nhỏ của một dây chuyền sản xuất thành phẩm, tạo sợi dây ràng buộc vô hình giữa các làng liên quan tới cùng một nghề
Bên cạnh các ngành nổi tiếng trước đó như đồ gốm (Bát Tràng, Thổ Hà), nghề nhuộm (Huê Cầu), nghề lụa (Kim Bảng), tơ lụa với sợi dệt chắc (Thanh Oai), nghề dệt (Thuận Hóa), nghề gốm và chế biến đường (Quảng Nam); thì có thêm các nghề mới như nghề thuộc da do Nguyễn Thới Trung đi sứ Trung Quốc những năm 1527 -
1529 mang về, nghề sản xuất lược do Phùng Khắc Khoan giới thiệu vào cuối thế kỷ XVI, nghề khảm xà cừ trên gỗ do Nguyễn Kim chế tác ra vào nửa sau thế kỷ XVIII, đặc biệt kỹ nghệ Bát Tràng ở bờ sông Hồng là nổi tiếng nhất, v.v
Có sự tiến bộ về kiểu lao động làm công ăn lương, thường có cả ngàn nhân công ở các xưởng tư nhân như sản xuất gốm, đường, tơ lụa, trong các xưởng đóng tàu, chế tạo vũ khí Nhưng biểu hiện rõ nhất của chế độ này lại ở nghề khai mỏ, đây
Trang 25là lĩnh vực phát triển mạnh ở thời kỳ này Ở Đàng Ngoài có nhiều mỏ (vàng, bạc, thiếc, đồng chì) ở các tỉnh như Thái Nguyên, Tuyên Quang, Lạng Sơn nên nghề mỏ phát triển rất mạnh Mỏ ở Đàng Trong lại khiêm tốn hơn, chỉ vài mỏ như mỏ vàng, bạc, sắc, cẩm thạch Nổi tiếng nhất là mỏ vàng ở Quảng Nam, được khai thác và sản xuất thành phẩm với quy mô lớn Thời gian đầu người dân được tự do khai thác nhưng nộp thế theo định kỳ Đến nửa sau thế kỷ XVIII, việc khai thác mỏ ở Đàng Trong được vận hành như cách thức ở Đàng Ngoài, tức việc khai thác mỏ huy động hàng trăm thợ, phần lớn là người Hoa, đặt dưới sự giám sát của các quan lại Xét chung, phát triển ngành mỏ dẫn đến xuất hiện các doanh nhân tư bản chủ nghĩa có gốc gác quan lại và kích thích gia tăng số nhân công làm thuê ăn lương Kỹ thuật khai thác mỏ còn thô sơ, vẫn ở giai đoạn đãi cát tìm vàng
Thương mại
Thành phố phát triển, dân số tăng kéo theo lưu thông buôn bán được mở rộng hơn để đáp ứng nhu cầu gia tăng của người tiêu dùng Mọi hoạt động từ kinh doanh nguyên liệu, đóng tàu, ngoại thương đã hình thành thị trường địa phương cũng như của cả nước phát triển vào thế kỷ XVII - XVIII Chợ nhỏ mang tính nhóm họp, chủ yếu phục vu mua bán ở địa phương Nói đến những trung tâm mua bán lớn thì Đàng Ngoài có những trung tâm chợ như Thăng Long va Phố Hiến và Đàng Trong có Hội
An của Quảng Nam
Ở Đàng Ngoài việc trao đổi hàng hóa được hình thành giữa hai bên: châu thổ
và vùng thượng du Sản phẩm được châu thổ mua về như đồng, quế, gỗ và bán ra như gạo, muối, các sản phẩm tiểu thủ công Ở Đàng Trong, Thuận - Quảng lấy từ Gia Định gạo, gia súc, cau và bán ra muối, nước mắm, các lâm sản và vải Riêng đồng bằng ven biển và vùng cao nguyên miền Trung giao dịch giữa các mặt hàng: nước mắm, cá khô, các dụng cụ bằng sắt/thép/đồng, đồ trang sức bằng vàng/bạc để trao đổi với gia súc, voi, sáp, lâm sản Kinh tế thị trường phát triển làm lưu hành tiền tệ, điển hình có đồng cắc giữa có hình vuông để có thể sâu chuổi, cứ 60 đồng làm thành 1 tiền
Trang 26Thế kỷ XVI, XVII kinh tế quốc tế phát triển, đưa đến nhu cầu tiêu thụ hàng hóa và trao đổi mậu dịch của nền kinh tế Châu Âu với các lãnh thổ khác Do đó, các thuyền buôn và thương gia phương Tây đã đến nước ta như Bồ Đào Nha giao thương với Đàng Trong năm 1536 , Hà Lan đặt quan hệ thông thương với Đàng Ngoài năm 1637, thậm chí công ty Đông Ấn của Hà Lan đặt thương điếm tại Phố Hiến và Thăng Long Tiếp theo là thương nhân Anh và Pháp cũng qua nước ta Nhìn chung giao thương với nước ngoài kích thích nền kinh tế của nước ta phát triển, song mặt khác là sự nguy hiểm tiềm ẩn những âm mưu của chủ nghĩa thực dân Bên cạnh sự có mặt của thuyền buôn phương Tây là sự có mặt của đồng tiền gắn liền với kinh tế hàng hóa tư bản để rồi dần làm đảo lộn mọi phép tắc, đạo lý, những truyền thống tốt đẹp bao đời của dân tộc ta Trong khi đó, cả chúa Trịnh và chúa Nguyễn hợp tác với họ duy chỉ muốn mua vũ khí để phục vụ cho mục đích trừ khử nhau, nên cuộc gặp gỡ này chẳng những không phục vụ đúng nhu cầu tăng trưởng, lợi ích kinh tế mà ở đó còn nhiều mầm mống nguy hại
1.1.4.3 Văn hóa
Văn học
Văn học chữ Hán vẫn giữ được vị trí quan trọng vốn có với các thể loại đã có mặt như các truyện kể, các công trình thi ca, sau đó lại có thêm các loại hình mới như phê phán lịch sử, trần thuật, công trình y học Hơn thế nữa, văn học chữ Nôm với các thể loại như thơ, truyện kể, ca dao, truyện tiếu lâm, huyền thoại càng làm văn học có bước tiến bộ mới Những công trình văn học điển hình ở thế kỷ XVI,
XVII, XVIII như: Bạch Vân am thi tập và Bạch Vân quốc ngữ thi tập (Nguyễn Bỉnh Khiêm), Truyền kỳ mạn lục (Nguyễn Dữ), Ngôn chí thi tập (Phùng Khắc Khoan),
Thượng kinh ký sự (Lê Hữu Trác), Truyện Trạng Quỳnh, Thạch Sanh và Quan Âm Thị Kính (khuyết danh), Sự lý dung thông (thiền sư Hương Hải), Truyện Kiều
(Nguyễn Du), v.v…
Tất cả các thể loại thể hiện sự đa giọng điệu từ lối tư duy lạc quan, tin công lý, đến ca ngợi minh quân và hiền thần, những tâm sự khát khao hạnh phúc cá nhân về tình yêu và tự do, phản đối chiến tranh, bác bỏ khuôn phép gò bó thái quá của Nho,
Trang 27cho đến sự chán chường, thất vọng, lời than trách cho số phận Ngoài thể thơ viết theo niêm luật Trung Quốc như trước đây, thì ở giai đoạn này các trước tác thơ văn còn được viết với bằng thể thơ dân tộc được hình thành: lục bát và lục bát gián cách Làm phong phú hình thức thể loại nghệ thuật và nâng cao ý thức dân tộc
Sử học
Tiếp tục kế thừa và hoàn chỉnh thêm bộ sử lớn như Đại Việt sử ký toàn thư,
công trình được nhiều thế hệ tác giả đầu tư mà khởi đầu là Lê Văn Hưu (1230 - 1322) ở đời Trần, những gương mặt tiêu biểu của các thế kỷ sau lại tiếp tục góp công hoàn thiện như: Phan Phu Tiên, Vũ Quỳnh, Lê Trung, nổi bật có Ngô Sĩ Liên thời Lê sơ, rồi Dương Hạo, Hồ Sĩ Dương, Đặng Công Chất, Nguyễn Công Bật, Phạm Công Trứ, Lê Hy ở thế kỷ XVII Năm Chính Hòa thứ 18 (1697), thời vua Lê
Hy Tông (1675 - 1705) bắt đầu cho khắc in tác phẩm này Ngoài ra tác phẩm dạng
biên niên sử các triều đại như Hoàng lê nhất thống chí, Lê triều trung hưng công
nghiệp thực lục (Hồ Sĩ Dương) kiểu phê bình lịch sử thì có Việt sử bị lãm (Nguyễn
Nghiễm), Việt sử tiêu án (Ngô Thì Sĩ) Đặc biệt Lê Quý Đôn có nhiều đóng trong lĩnh vực biên soạn sử như: Đại Việt thông sử, Phủ biên tạp lục, Bắc sử thông lục,
Kiến văn tiểu lục, Vân đài loại ngữ Nói chung, về mặt nhà nước việc biên soạn sử
được các triều đại coi trọng, còn về mặt cá nhân bản thân những học giả lỗi lạc cũng luôn ý thức được tầm quan trọng về việc để lại các văn cứ lịch sử cho dân tộc
Ngôn ngữ
Ở thế kỷ XVII việc sử dụng ngôn ngữ Việt chữ Nôm đang trên đà phát triển rầm rộ như một khí thế nâng cao ý thức dân tộc hóa các sinh hoạt hằng ngày của nhân dân mình Tiếng nói dân tộc đã được sử dụng trong lĩnh vực sáng tác văn học
ở những tác phẩm đã được gọi tên ở trên cũng minh chứng cho tinh thần giữ gìn bản sắc văn hóa của dân mình Trong số đó có sự góp mặt của thiền sư Minh Châu với
ba bản giải kinh: Giải Kim Cang kinh lý nghĩa, Giải Di Đà kinh, Giải Tâm kinh ngũ
chỉ, đặc biệt tác phẩm thơ chữ Nôm, một sáng tác thơ duy nhất và không kém phần
đặc sắc đó là Sự lý dung thông Kể từ sau thiền sư, một số những tác phẩm chữ Nôm xuất sắc đã xuất hiện ở thế kỷ XVIII, XIX như: Cung oán ngâm khúc của Nguyễn
Trang 28Gia Thiều, Chinh phụ ngâm của Phan Huy Ích, thơ của Hồ Xuân Hương, đặc trưng nhất là Truyện Kiều của Nguyễn Du
Thế kỷ XVI và những thế kỷ sau, các giáo sĩ phương Tây đã theo tàu buôn tư bản vào nước ta để truyền đạo Kitô giáo Vì mục đích này, họ đã dùng mẫu tự la tinh để ghi âm và học tiếng Việt Thế là đến thế kỷ XVII, những công trình ngôn ngữ Việt được La - tinh hóa như thành tựu rất lớn lao về mặt cải tiến ngôn ngữ đã
được trình làng như: Từ điển Việt - Bồ của giáo sĩ Gaspar de Amaral, Từ điển Bồ -
Việt do Antoine de Barbosa soạn, nổi bật nhất có công trình Từ điển Việt - Bồ - La Tinh của Alexandre Rhode (1591 - 1660) xuất bản tại La Mã, năm 1651 Rõ ràng,
ngôn ngữ Việt mà chúng ta đang sử dụng trong thời hiện đại ngày nay đã ghi nhận phần công lao rất lớn của các giáo sĩ phương Tây, bất luận sự hạn chế trong mục đích ban đầu của họ Bên cạnh cũng không thể phủ nhận sự dày công của các lớp trí giả của nước ta cho quá trình hoàn thiện ngôn ngữ của dân tộc bằng khả năng nhạy bén, mẫn cảm và cởi mở để tiếp thu cái mới
Kiến trúc và điêu khắc
Ở thế kỷ XVII, XVIII cả Đàng Ngoài và Đàng Trong đều có những công trình kiến trúc mang đậm dấu ấn tâm linh Phật giáo Đàng Ngoài có một số danh lam bề thế có dấu ấn của đạo Phật, ở nổi lên vẻ kiến trúc đặc sắc được mọi người ca tụng mỗi khi viếng thăm Chẳng hạn như chùa Hương Tích với hang có Phật Bà Quán
Âm nổi tiếng và được mệnh danh “Nam thiên đệ nhất động”, do đó, nơi đây được các thi sĩ lớn của thời đại đến đề thơ để khắc lên bia đá; tháp Báo Nghiêm ở chùa
Ninh Phúc do nhà sư Minh Hạnh dựng năm 1647, là một trong những bảo tháp đẹp
nhất Việt Nam, v.v
Trong khi đó sau khi vào trấn đất Thuận Hóa Năm 1558, chúa Nguyễn Hoàng
đã lệnh chọn địa thế tụ khí thiêng trên một mảnh đất xã Hà Khê (thuộc Hương Trà ngày nay) để xây dựng chùa Thiên Mụ vào năm 1601 Với ý thức lấy đạo Phật làm
ý thức hệ tư tưởng xã hội cũng như cốt lõi cho đời sống tâm linh, các chúa Nguyễn
đã cho xây dựng và trùng tu nhiều chùa nổi tiếng như: chùa Sùng Hóa, chùa Long
Trang 29Hưng, chùa Quốc Ân, chùa Giác Hoàng, v.v Bên cạnh sự nổi tiếng về kiến trúc của chùa còn có kiến trúc của Đình như Đình Bảng được xây dựng năm 1736
Song song với sự phát triển của lĩnh vực kiến trúc thì điêu khắc cũng phát triển rực rỡ, chảng hạn như hai bức tượng gỗ nổi tiếng thế kỷ XVII: tượng Quan Âm nghìn mắt nghìn tay trên cái bệ hoa sen có nét đẹp thu hút và tượng đức Phật gầy
ốm lúc thu khổ hạnh 6 năm Ngoài ra còn có bộ tượng các vị La - hán chùa Tây Phương, nghệ thuật điêu khắc đã làm nổi bật thần thái của các vị La - hán, mỗi vị mỗi nét tâm trạng như trầm tư, hài hước, tươi vui, mơ màng Nổi tiếng nhất vẫn là tượng điêu khắc nhà sư Minh Hạnh với nét mặt từ hòa, bình lặng đến thanh thản được đọng lại cùng nụ cười kín đáo từ bi của nhà Phật Kiệt tác được thực hiện năm
1660 và được trưng bày trong tháp Phật stupa ở Thanh Hóa Còn có các công trình đáng chú ý khác như: bức tượng thần Trấn Vũ, những chiếc vạc đồng bắt mắt do chúa Nguyễn Phúc Tần đã lệnh đúc, hai mươi sáu bức phù điêu ở Ninh Phúc, các tấm bia ở đàn Nam Giao, v.v
Tư tưởng tôn giáo
Ở thời Lê sơ Nho giáo đã dần bước từ địa vị giáo dục khoa cử sang vị trí độc tôn trên trường chính trị Nhưng kể từ đầu thế kỷ XVI có thể thấy Nho giáo dần bị tha hóa, suy yếu với hình ảnh sự mục nát của tập quyền phong kiến họ Lê sơ và sự băng hoại đạo đức của giai cấp thống trị Nổi bật có sự kiện tranh quyền đoạt vị mang tội phản chủ của Mạc Đăng Dung năm 1527 Kể từ đây, mặc cho Nho giáo được nhà nước bảo vệ và đề cao, vẫn giữ địa vị chi phối xã hội, nhưng Nho giáo không còn được tôn trọng như trước nữa Nhìn tổng thể, lúc này đạo đức bị tha hóa, đưa đến xã hội bất ổn, chiến tranh quyền lực giữa các dòng tộc làm chia rẽ Nam Bắc, Đàng Trong và Đàng Ngoài
Từ thực trạng xuống cấp chung, quy mô giáo dục thi cử Nho giáo ở Đàng Ngoài tuy vẫn được mở rộng và duy trì đều đặn, nhưng đều thể hiện sự xuống cấp
rõ rệt Chẳng hạn việc mua bán chức tước học vị, sự gian lận trong thi cử, và còn nhiều tệ nạn rất đáng lên án của xã hội đương thời Riêng ở Đàng Trong do mới tạo
Trang 30dựng nên việc tổ chức thi cử vẫn chưa hình thành, bên cạnh sức ảnh hưởng của Nho giáo nơi đây khá mờ nhạt, không giống như ở Đàng Ngoài
Ở thời Lê sơ Phật và Lão giáo chỉ là yếu tố phụ, có nghĩa là tư tưởng Tam giáo đồng nguyên giai đoạn này đã bị bóc mẽ mang tính kĩ cương và cục bộ của Nho Phật giáo và Đạo giáo mặc dù có suy yếu rõ rệt nhưng không hề đánh mất vị thế trong lòng xã hội Cả hai giáo đã cắm rễ sâu trong tín ngưỡng dân gian mà thăng trầm với dân tộc Rõ nhất vai trò của Phật giáo lúc này là nơi trở về để dỗ dành những đau thương của cuộc đời, chỗ xoa dịu và an ủi lớn nhất cho đời sống tinh thần và là nơi biểu cảm thấu đạt nhất của chiều sâu tâm hồn mà Nho giáo không thể đáp ứng được Ngay các nhà Nho đã mượn thơ ca để trang trải và sẻ chia những khoảng lặng tâm hồn sâu lắng chứa chan những cung bậc tâm linh huyền ẩn khi rơi vào cuộc thế hỗn loạn nhiễu nhương Chẳng hạn như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Lê Quý Đôn, Lê Thánh Tông, Lương Thế Vinh, v.v Đặc biệt
có những con người vốn xuất thân từ Nho nhưng xuất gia tu Phật như trường hợp của thiền sư Minh Châu Hương Hải Thời kỳ nội chiến giữa Đàng Ngoài và Đàng Trong, Phật giáo có cơ hội hồi sinh thông qua hình ảnh di cư của các nhà sư Trung Quốc, đồng thời có sự ủng hộ nhiệt tình từ các chúa cả ở hai miền tổ quốc Xin nói
rõ là phần Phật giáo phục hưng chúng tôi sẽ trình bày riêng một mục để thấy rõ tình hình Phật giáo diễn biến ở thế kỷ XVII đã trực tiếp ảnh hưởng đến cuộc đời của thiền sư Minh Châu Hương Hải
Đặc biệt trong đời sống xã hội thế kỷ XVI có sự thâm nhập truyền bá đạo Thiên chúa (Kitô giáo) mà khởi đầu là các cha ở các nước phương Tây Đi cùng với mối quan hệ giao thương buôn bán là sự có mặt của các giáo sĩ đến từ Bồ Đào Nha, Anh, Pháp, Ý, v.v Sau thời gian người Bồ Đào Nha mất dần vị trí vào tay người Pháp Những sự kiện đánh dấu bước đệm truyền bá đạo Kitô mạnh mẽ của Pháp như công ty Đông Ấn thành lập năm 1664, Hội truyền giáo nước ngoài được ra đời năm 1668, từ đây Pháp đã quảng bá đạo khắp ở các nước châu Á Một lần nữa lại thấy mặt trái từ cuộc giao thương giữa ta với nền kinh tế tư bản đó là mặt trái của đồng tiền Sức mạnh của đồng tiền đã len lỏi và làm ảnh hưởng tiêu cực mọi mối
Trang 31quan hệ Cho nên, cả chức tước học vị cũng được mua bán6, sau khi đạt được chức
vị, bọn quan lại tìm đủ cách tước đoạt của cải của dân Chức vị được đem ra mua bán thì việc học hành thi cử bị coi rẻ, do đó, chế độ khoa cử Đàng Ngoài không ổn
định
1.1.4.4 Phật giáo phục hƣng ở thế kỷ XVII, đầu XVIII
Sự kiện Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa năm 1558, đất nước vô hình
đã phân chia Bắc - Nam, tính phân chia này thể hiện mạnh nhất vào năm 1627 khi
họ Nguyễn chính thức công khai đối đầu với họ Trịnh, từ đây tạo thành hai vùng lãnh thổ đối trọng nhau: Đàng Ngoài - Đàng Trong Điều kiện của mọi mặt trong xã hội khác nhau nên tình hình Phật giáo cũng có hướng đi không giống nhau ở cả hai miền Phật giáo ở Đàng Trong và Đàng Ngoài có cơ duyên phục hưng vào thế kỷ XVII mà sự khởi sắc chính là sự có mặt của các thiền sư danh tiếng Trung Quốc đến ở và truyền đạo ở nước ta
Phật giáo ở Đàng Ngoài
Phật giáo trở nên suy yếu từ đầu thế XV, rồi rút hẳn khỏi vũ đài tư tưởng chính trị, chỉ củng cố và hoạt động lặng lẽ trong lòng xã hội Do đó, mỗi khi những người đứng trong hàng ngũ lãnh đạo chính quyền có dịp viếng chùa thì họ đến với
tư cách như vị khách đặc biệt Có khi họ đến vì một hoạt động nào đó gắn bó với chùa phổ biến như việc đề thơ, có trường hợp như vua Lê cho chữ ở chùa Hương và chúa Trịnh Sâm (1767 - 1782) đề tặng hai thơ Riêng tuyệt đại bộ phận còn lại thì
có thể điểm qua tình hình Phật giáo Đàng Ngoài như sau:
Thứ nhất là, một số dòng Thiền cũ được hồi sinh và dòng Thiền mới xuất hiện
Dòng thiền hồi sinh nổi bật có dòng Lâm Tế, dù đã có mặt ở nước ta vào thế kỷ XIII, nhưng vẫn khá mờ nhạt trước những dòng thiền có mặt trước nó như Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông, Thảo Đường, Trúc Lâm Yên Tử Thời điểm này dòng Lâm
Tế lại có cơ hưng khởi, hồi phục nhanh chóng mà mạnh mẽ Liền sau đó, một dòng mới lại ra đời trên cơ sở dòng Lâm Tế đó là dòng Lân Giác Như thế mới thấy được
rõ sự phát triển của Phật giáo Đàng Ngoài, dẫu hai dòng này vẫn có thể coi là một
6 Chúa Trịnh Doanh ba lần hạ lệnh bán quan chức vào các năm 1741, 1748, 1760
Trang 32Dòng Lâm Tế được hồi sinh là nhân duyên từ Hòa Thượng Chuyết Công7, Ngài xuất gia với trưởng lão Tiên Sơn, sau cầu pháp với hòa thượng Tăng Đà Đà ở Nam Sơn (Phúc Kiến, Trung Quốc), thiền sư thuộc đời thứ 34 của dòng Lâm Tế Năm 1630 Ngài cùng với đệ tử đi thuyền đến xứ Đàng Trong, năm 1633 lại ra Đàng Ngoài giảng đạo ở chùa Khán Sơn ở Thăng Long, rồi về chùa Phật Tích, huyện Tiên Du, Bắc Ninh Ngài có đệ tử gồm cả Hoa lẫn Việt, nhưng trong số đó nổi tiếng nhất có thiền sư Minh Hành (người Hoa)8 và Minh Lương9 Tại chùa Phật Tích thiền sư theo yêu cầu của Trịnh Tráng (1623 - 1657) đã sai đệ tử Minh Hành về Trung Quốc thỉnh kinh mang về để ở chùa này Ngày rằm tháng 7 năm 1644 thiền
sư viên tịch và thiền sư Minh Hành nối pháp trụ trì chùa Phật Tích
Đời thứ 35 có hai vị là Minh Hành và Minh Lương Đời thứ 36 có hai vị nổi tiếng khác đó là thiền sư Chân Trú10 và Chân Nguyên11 Đời thứ 37 có ba thiền sư nổi tiếng là thiền sư Như Tùy, Lân Giác và Như Hiện12 Đời thứ 38 có thiền sư Tính Tĩnh, họ Trần, sinh 1692, viên tịch 1773 Ngài là đệ tử của thiền sư Như Hiện, là vị nối pháp cuối cùng của dòng của dòng Lâm Tế thuộc giai đoạn lịch sử này
Dòng Lân Giác là một phái phân hóa từ dòng Lâm Tế, nhưng lại được thiền
sư Như Trừng Lân Giác thổi vào nó một tâm hồn mới chứ không thể rời nguồn gốc
mà có được Ngài thường được gọi là thiền sư Lân Giác, thuộc đời thứ 37 dòng Lâm
Tế, là đệ tử của thiền sư Chân Nguyên Do xu hướng nhìn nhận khác với các bạn đồng tu cùng thời, nên thiền sư đã thực hành theo một hướng mới Theo thế thứ của dòng Lân Giác, thiền sư là đời thứ nhất Ngài có tên đời là Trịnh Thập sinh năm
1686, là con trai thứ 13 của Tấn Quang Vương Trịnh Bính, thuộc hàng chắt của Trịnh Căn (1682 - 1709) Từng làm Phò Mã của vua Lê Hy Tông (1675 - 1705),
7
Hòa Thượng Chuyết Công (1590 - 1644), quê quán người Tiệm Sơn, Phúc Kiến, Trung Quốc
8 Thiền sư Minh Hành người Phủ Kiến Xương, tỉnh Giang Tây, Trung Quốc, theo thiền sư Chuyết Công sang nước ta vào năm 1630 Thiền sư sinh năm 1596, viên tịch 1659
9 Thiền sư Minh Lương chưa rõ năm sinh và mất, theo cầu pháp Ngài Chuyết Công và được truyền tâm ấn
Trang 33nhưng thấy đời loạn lạc, chán cảnh phú quý nên xin xuất gia, sau đó về trụ trì chùa Liên Phái (nay ở phố Bạch Mai, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội) Thiền sư tịch năm
1733, ngài có hai đệ tử là thiền sư Tính Dược và Tính Ngạn
Đời thứ hai của dòng Lân Giác Thiền sư Tính Dược được sư phụ cho trụ trì
chùa Liên Tông, đây là tên gọi khác của chùa Liên Phái Thiền sư Tính Ngạn được
sư phụ cho trụ trì chùa Hàm Long, ở phường Phục Cổ, Thăng Long (nay thuộc phố Hàm Long, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội)
Đời thứ ba là thiền sư Tính Tuyền (1674 - 1744), là người họ Huỳnh, quê ở
Nam Định, có công rất lớn đối với Phật giáo ở Đàng Ngoài thế kỷ thứ XVIII Thuở niên thiếu, ngài xin thọ giới với thiền sư Lân Giác Vâng lời ngài Lân Giác, thiền sư sang Quảng Châu, Trung Quốc để thỉnh kinh Năm 1736, thiền sư về nước mang theo một ngàn quyển kinh
Đời thứ tư là thiền sư Hải Quýnh và Vũ Hoa Vũ Hoa là đệ tử của thiền sư
Tính Ngạn, lai lịch vẫn chưa được sử ghi rõ Hải Quýnh là đệ tử của thiền sư Tính Tuyền, sinh năm 1728, tịch năm 1811, thuộc họ Nguyễn, quê ở Quế Dương (nay thuộc tỉnh Bắc Ninh), có hiệu là Từ Phong, thi thoảng được gọi là thiền sư Từ Phong
Đời thứ năm là thiền sư Tịch Truyền (1745 - 1816), người làng Trình Viên,
huyên Thượng Phúc (nay thuộc tỉnh Hà Tây) Thiền sư là đệ tử của thiền sư Hải Quýnh Còn có thiền sư Tịch Dự, tuy nhiên hiện vẫn chưa có lí lịch rõ ràng Sau năm đời này, dòng Lân Giác còn được truyền tiếp nhiều đời nữa, ở đây chỉ trình bày những đời đầu
Dòng Tào Động là dòng thiền lớn có nguồn gốc từ Trung Quốc, đời thứ 35 là
thiền sư Nhất Cú Tri Giáo và bắt đầu truyền vào nước ta, lúc này chính thiền sư là chiếc cầu nối liên hệ trực tiếp với các thiền sư của ta Đệ tử được truyền tâm ấn là thiền sư Thủy Nguyệt người Việt Vậy theo thế thứ thiền sư thuộc đời thứ 36 và là đời thứ nhất dòng Tào Động ở Việt Nam, có thể ghi 1/36 Và các thiền sư Việt của dòng Tào Động gồm có:
Trang 34Đời thứ nhất 1/36: Thiền sư Thủy Nguyệt họ Đặng (1673 - 1704), hiệu là
Thông Giác, quê ở Ngự Thiên, phủ Tiên Hưng (nay thuộc huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình) Ngài thi đỗ Hương Cống (cử nhân) nhưng không thi tiếp, cũng không làm quan mà quyết chí đi tu Năm 1644 ngài sang Trung Quốc cùng hai đệ tử tìm thầy học đạo với Ngài Nhất Cú Tri Giáo Sau khi về nước truyền pháp Tào Động đến năm 1704 thiền sư tịch, thọ 67 tuổi
Đời thứ hai 2/37: Thiền sư Tông Diễn (1640 - 1711), hiệu là Chân Dung, quê
ở Cẩm Giàng (nay thuộc tỉnh Hải Dương), là đệ tử thiền sư Thủy Nguyệt Ngài trụ trì chùa Hồng Phúc nay thuộc phố Hàng Than, quận Ba Đình, Hà Nội Thời gian ở lâu tại Hồng Phúc ngài được triều đình mời vào giảng đạo một số lần
Đời thứ ba 3/38 có thiền sư Tĩnh Giác, đời thứ 4/39 có thiền sư Bản Lai Thiện
Thuận, đời thứ 5/40 có các thiền sư: Viên Thông Lại Nguyên, Tự Tại và Thanh Từ, những lí lịch của những vị này chưa rõ Sau năm đời này còn khá nhiều đời nối tiếp Giai đoạn này ở Đàng Ngoài xã hội vẫn còn nhiễu nhương, bất ổn, cho nên Phật giáo chỉ nắm được đà phục hưng thông qua việc có mặt các dòng thiền, chứ
không thể nói là phát triển mạnh Vì thực tiễn đã cho thấy “các dòng Thiền - tông
hình thành tại chỗ hoặc giả là được truyền bá từ nước ngoài tới, cũng vì thế mà không dễ gì gây được ảnh hưởng đồng nhất trên phạm vi cả nước” ( Nguyễn Khắc
Thuần, 2012b, trang 160)
Thứ hai là, một số lượng lớn chùa được xây dựng và trùng tu, số người xuất
gia ngày một đông Ở đây không liệt kê hết các chùa mà chỉ nêu điển hình Theo tài
liệu Việt Nam sử lược của Mật Thể cho thấy từ năm 1719 đến năm 1737, chỉ thấy
các chúa làm chùa như:
Năm 1719 nhân dân ba huyện Gia Định, Lương Tài, Quế Dương được lệnh của chúa Trịnh Cương ra sức trùng tu chùa Phúc Long Chùa được dựng từ năm
1648 ở làng Lãng Ngâm, huyện Gia Định (Gia Bình) Năm 1727, chúa lại cho lập chùa Thiên Tây ở làng Sơn Đình, huyện Tam Dương về địa phận núi Tam Đảo và chùa Độc Tôn ở làng Cát Nô, huyện Phổ An, tỉnh Thái Nguyên
Trang 35Còn chúa Trịnh Giang lại có những đóng góp như trùng tu chùa Quỳnh Lâm
và Sùng Nghiên năm 1730, dựng chùa Hồ Thiên ở chóp núi huyện Bảo Lộc, trấn Kinh Bắc, tức Bắc Giang ngày nay và chùa Hương Hải ở làng Phụ Vệ, huyện Chí Linh
Theo tài liệu Đại cương lịch sử văn hóa Việt Nam tập 2 từ trang 144 - 153 của
Nguyễn Khắc Thuần cũng dẫn ra rất nhiều chùa được xây dựng hoặc trùng tu, xin
dẫn ra đây một vài chùa tiêu biểu
Năm 1654 hai cung tần của chúa Trịnh Tráng là Nguyễn Thị Ngọc Tuyền và Trần Thị Yến cùng với Quận chúa Trịnh Thị Ngọc Thuyên đã bỏ tiền ra trùng tu chùa Bản Tịch ở huyện Mỹ Văn, tỉnh Hưng Yên, đây từng là nơi tu hành của thiền
sư Từ Đạo Hạnh
Trong thế kỷ XVII - XVIII có hai lần đại trùng tu chùa Bút Tháp tức là chùa Ninh Phúc hay chùa Nhạn Pháp, ở làng Bút Tháp, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh Lần đầu vào năm 1644 và lần thứ hai vào năm 1739
Chùa Dâu có tên gọi khác là chùa Pháp Vân, Thiền Định hay Diên Ứng, ở xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, được đại trùng tu 3 lần vào các năm 1675, 1727 và 1793
Chùa Đậu có tên gọi khác là chùa Pháp Vũ hay Thành Đạo, ở xã Nguyễn Trại, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây, được 2 lần đại trùng tu, lần thứ nhất là năm 1636
do Cung Tần Ngô Thị Ngọc Nguyên hỗ trợ kinh phí và lần thứ hai vào năm 1742 do Thái Phi Trương Thị Ngọc Chử hỗ trợ kinh phí, v.v Còn rất nhiều chùa khác nữa, trên đây chỉ đơn cử vài chùa tiêu biểu
Bức tranh trùng tu và xây dựng chùa chiền ở Đàng Ngoài cho thấy số lượng người xuất gia rất đông, bao gồm mọi tầng lớp, điển hình hơn cả vẫn những người xuất thân từ gia đình quyền thế như ngài Lân Giác Thượng Sĩ là một minh chứng Thêm nữa là các Quận chúa và Cung phi bỏ tiền lo việc xây cất chùa chiền cho thấy đạo Phật ở Đàng Ngoài có cơ hội tái phát triển Nhiều vị vua Lê, chúa Trịnh cũng như các vị đại khoa bảng đến chùa để đề thơ cho thấy sức hấp dẫn mạnh mẽ của chùa chiền đối với việc xuất gia tu hành của các tầng lớp trong xã hội
Trang 36Thứ Ba là, những quy phạm về đạo đức có nguồn gốc từ Phật giáo càng được
đề cao trong xã hội Đàng Ngoài, chùa thực sự là những trung tâm sinh hoạt văn hóa
có sức thu hút mạnh mẽ đối với mọi tầng lớp Với xã hội Đàng Ngoài thời bấy giờ chùa chiền là nơi quay về của mọi tầng lớp Tất cả đến chùa không chỉ vì nhu cầu tâm linh mà còn tham gia các lễ hội tại chùa, đây là cơ hội mở ra cho họ nhiều học hỏi và chiêm nghiệm quý giá từ nghe tới nhìn:
Cảnh chùa nghi ngút khói hương,
Trống chiên nhộn nhịp cờ giăng ngập trời
Hội làng mở lắm trò chơi,
Hát tuồng, đánh vật, có người thả chim
Thi dệt vải, thi nấu cơm,
Thi hát Quan Họ, bơi thuyền dưới ao
(ca dao) ( Nguyễn Khắc Thuần, 2012b, trang 160) Qua lời ca dao trên đã cho thấy vị trí của ngôi chùa trong đời sống của xã hội đương thời, càng nhấn mạnh tầm quan trọng của chùa trong đời sống tinh thần của người dân
Phần Nho giáo từ sự kiện năm 1527 trở về sau, các Nho sĩ dầu có nguyện vọng
gì, ở đâu, họ cũng tỏ thái độ chán ngấy với thời cuộc biến loạn, lòng người trái quấy
Từ thực trạng tranh quyền đoạt vị, phân chia phe cánh càng cho thấy sự hủ bại và thoái hóa của Nho giáo Cho nên, Nho sĩ đánh mất niềm tin đối với mọi người ngay chính nơi cửa trường khoa cử và cửa quan Đó là lí do những người đi ở ẩn chủ động tách mình khỏi chính trường, thậm chí tách khỏi những khuôn phép của Nho gia để đến với cửa chùa kinh Phật, mà thiền sư Hương Hải cũng xuất phát từ tình thế đó Thiền sư Minh Châu Hương Hải (1628 - 1715), nhân vật đang được khảo cứu chính trong tập tập luận văn này, sống ở cả hai miền Nam (Đàng Trong: 1628 - 1682) và Bắc (Đàng Ngoài: 1682 - 1715) Vào thời nội chiến Trịnh - Nguyễn tang thương ấy ngài đã chọn theo khuynh hướng xuất13
Sau thời gian thi cử đỗ đạt, ngài
13 Khuynh hướng này gồm có 2 tình huống chính: Thứ nhất, những có kiến thức quảng bác, uyên thâm nhưng
Trang 37có ra làm quan, nhưng rồi nhận thấy chính sự điên đảo, cuộc thế nhiêu khê, lòng người đối với nhau mất hẳn niềm tin, nên ông đã từ quan để đi tu
Phật giáo ở Đàng Trong
Sau cái chết của anh trai, lịch sử đã đưa đẩy Nguyễn Hoàng tìm về cõi phương
nam và nhờ vào câu nói “Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân” của Nguyễn
Bỉnh Khiêm mà Nguyễn Hoàng đã xây dựng cơ nghiệp trên đất Thuận - Quảng kể
từ ngày đặt chân đến xứ này năm 1558 Bắt đầu đánh dấu sự nghiệp Nam tiến, mở rộng bờ cõi, khai khẩn đất đai của dòng họ Nguyễn Ngay từ đầu Nguyễn Hoàng đã
ý thức rất rõ việc hướng về giá trị Phật giáo như là một hệ tư tưởng sống với ý nghĩa đầy ân đức, tùy duyên và dung hợp Thái độ ưa chuộng và cởi mở đối với Phật giáo rất hợp với xu thế tư tưởng đương thời của vùng đất mới này Một vùng đất khởi đầu bằng những cái đơn sơ, bình dị, phóng khoáng từ vật chất cho đến tinh thần Điều này cho thấy không một cái gì khác nổi bật cho bằng sự kiện xây dựng chùa Thiên Mụ nổi tiếng ở Thuận Hóa (Huế ngày nay) Sự nghiệp cai trị của các đời chúa nối truyền nhau đều tôn sùng Phật giáo Chính nhờ thế mà tổ tiên của thiền sư Hương Hải kể từ khi nối gót theo Nguyễn Hoàng vào Nam đã bén duyên với Phật
giáo Điều này là một cơ duyên rất lớn cho cánh cửa giác ngộ tu Phật của thiền sư
Hương Hải sau này, bất chấp dòng dõi của sư vốn xuất thân từ Nho giáo Thật vậy,
Phật giáo ở Đàng Trong được hưng thịnh thêm nhiều là nhờ sự quan tâm đặc biệt của các đời chúa Nguyễn Do đó, một loạt chùa chiền được xây dựng và sửa sang với tâm huyết và công đức rất nồng hậu của các chúa
Chẳng hạn chúa Nguyễn Hoàng xây dựng chùa Thiên Mụ năm 1601, chùa Bửu Châu ở Quảng Nam năm 1607, chùa Kính Thiên ở Quảng Bình năm 1609, chúa Nguyễn Phúc Tần xây dựng chùa Vĩnh Hòa ở Thuận Hóa năm 1667, chúa Nguyễn Phúc Chu xây dựng chùa Mỹ An và chùa Giác Hoàng ở Thuận Hóa vào các năm 1692 và 1721,v.v Đặc biệt nhất là chùa Thiên Mụ được nhiều đợt trùng tu vào các năm 1665 (chúa Nguyễn Phúc Tần), 1714 (chúa Nguyễn Phúc Chu), đây là năm chùa Thiên Mụ được trùng tu lớn nhất, 1738 và 1744 (chúa Nguyễn Phúc Khoát)
thi cử đỗ đạt, từng làm quan, nhưng được thời gian thì chán nản, trao lại chức cho triều đình rồi về ẩn cư hoặc xuất gia Số này đông hơn và ảnh hưởng của họ đối với xã hội cũng lớn hơn
Trang 38Chùa Thiên Mụ từ khi thành lập trên vùng đất Thuận Hóa thời các chúa Nguyễn
thật sự đã “trở thành biểu tượng của sự thiêng liêng, biểu tượng của sự hòa hợp các
loại hình tôn giáo tín ngưỡng tại địa phương, và cũng là biểu tượng cho sự ủng hộ của thần linh bản địa đối với họ Nguyễn” (Thích Đồng Bổn và Nguyễn Quốc Tuấn
(đồng chủ biên) , 2015, trang 101) Cho đến ngày nay, khi nhắc đến Phật giáo xứ
Huế, trung tâm Phật giáo thời chúa Nguyễn, thì biểu tượng Phật giáo đặc trưng nhất
để nhắm đến đó là chùa Thiên Mụ
Từ đây, ta có thể thấy được so với Phật giáo ở Đàng Ngoài thì Phật giáo ở Đàng Trong có phần ưu việt và phát triển hơn Đây là điều kiện thuận lợi và là thắng duyên cho những vị xuất gia đầu Phật ở xứ Đàng Trong trong đó có thiền sư Hương Hải sau này
Dấu ấn lớn làm cho Phật giáo ở Đàng Trong hưng khởi mạnh mẽ đó chính là
sự nhất quán trong tư tưởng đến hành động, giúp Phật giáo có chỗ đứng vững chắc ngay từ đầu dưới sự ủng hộ của các chúa Nguyễn Cụ thể hơn là việc dễ dàng tiếp nhận một số dòng thiền mới thông qua các thiền sư Trung Quốc truyền vào Đàng Trong để truyền bá Phật pháp ở giai đoạn này Rõ ràng, ngay từ đầu Nguyễn Hoàng rất tôn kính và quan tâm sâu sắc đến việc tiếp đón các nhà sư thập phương, kể cả sư Trung Quốc, đến hoằng pháp lợi sanh ở xứ này Đáng chú ý nhất là sự kiện thiền sư Nguyên Thiều nhận ý nguyện của chúa Nguyễn Phúc Chu sang Trung Quốc để thỉnh các cao tăng về xứ Đàng Trong ban duyên pháp độ Trong số này phải kể đến thiền sư Thạch Liêm và Minh Hoằng Nhờ vậy, Phật giáo Đàng Trong mang màu sắc tươi mới quang huy hơn Phật giáo ở Đàng Ngoài, do đó Mật Thể (2004) đã
nhấn mạnh rằng: “Trong lúc Phật giáo ở ngoài Bắc được phục hưng, đồng thời
trong Nam cũng có cơ xương thạnh Nhất là khi ngoài Bắc bị đình đốn, trong Nam lại phát đạt thêm nhiều.” ( Mật Thể, 2004, trang 189)
Đóng góp cho công tác hoằng pháp ở Đàng Trong đều có dấu ấn của các thiền
sư Trung Quốc sang lẫn thiền sư Việt Nam Điển hình nhất trong số này có thiền sư Nguyên Thiều người Trung Quốc và thiền sư Liễu Quán người Việt của dòng Lâm
Tế, còn có thiền sư Thạch Liêm người Trung Quốc của dòng Tào động Năm 1665
Trang 39thiền sư Tạ Nguyên Thiều từ Quảng Châu theo thuyền buôn đến Qui Nhơn, Bình Định, lập chùa Thập Tháp Di Đà Sau ngài ra Thuận Hóa xây dựng chuà Hà Trung
và chùa Quốc Ân, dựng tháp Phổ Đồng dưới thời chúa Nguyễn Phúc Tần (1620 - 1687) Vị nối pháp sáng đạo, nổi tiếng của dòng Lâm Tế ở Đàng Trong sau này phải
kể đến thiền sư Liễu Quán, ngài được thiền sư Minh Hoằng Tử Dung ấn chứng và truyền tâm ấn Sau đó, thiền sư thường ra vào Huế - Phú Yên để hóa duyên mà chẳng quản xa ngại khó Nhờ vậy, dòng Lâm Tế ở Đàng Trong trở nên hưng thịnh rất nhanh, thiền sư Liễu Quán là người khai sơn chùa Thiền Tôn ở Thuận Hóa - Huế ngày nay Nhiều chùa khác được các thiền sư lập lên như: thiền sư Minh Hoằng Tử Dung khai sơn chùa Từ Đàm và chùa Ấn Tôn, thiền sư Hưng Liên lập chùa Tam Thai ở Đà Nẵng và thiền sư Pháp Bảo lập chùa Chúc Thánh ở Quảng Nam dưới thời chúa Nguyễn Phúc Trăn, thiền sư Pháp Hóa lập chùa Thiên Ấn ở Quảng Ngãi, thiền
sư Viên Quang lập chùa Giác Lâm tại Gia Định - Tp.Hồ Chí Minh ngày nay, thiền
sư Đạt Bản lập chùa Thiên Trường, thiền sư Đạo Trung lập chùa Linh Sơn ở Tây Ninh, v.v
Thiền sư Nguyên Thiều là người mở đầu cho dòng Lâm Tế xứ Đàng Trong,
nhưng xét về phía Trung Quốc thì ngài là đời thứ 33, nên viết 1/33 Dòng này còn được tiếp nối bởi các thiền sư như: Minh Hoằng Tử Dung, Minh Vật Nhất Tri, Thành Đẳng Minh Hà và Nhạc Ẩn Sương đời thứ 2/34, Liễu Quán, Phật Ý, Linh Nhạc, Quảng Đức, Phật Chiếu, Phật Bửu, Phật Định là đời thứ 3/35, còn nhiều đời tiếp nối nữa, ở đây chỉ đưa ra ba đời
Thiền sư Thạch Liêm, hiệu là Đại Sán là người khai sáng dòng Tào Động ở Đàng Trong Thiền sư vốn là người Giang Tây, Trung Quốc Năm 1695, sau khi yết
kiến thiền sư Nguyên Thiều và đáp lại lời mời của chúa Nguyễn Phúc Chu, thiền sư
đã đến xứ Đàng Trong Khi đến nơi, chúa Nguyễn tiếp đón long trọng và thỉnh thiền
sư trụ trì chùa Thiên Mụ Sau này sư khai sơn chùa Khánh Vân gần chùa Thiên Mụ Sau khi ở đây được hai năm, năm 1697 sư trở về Trung Quốc, sau đó có viết tác
phẩm Hải ngoại kí sự Sau thiền sư Thạch Liêm, dòng Tào Động đã phát triển và
Trang 40truyền nối được nhiều đời nữa, tuy không được mạnh như dòng Lâm Tế Tuy nhiên,
tư liệu của dòng Tào Động còn thiếu sót, nên lí lịch các đời truyền thừa chưa được rõ
Nho giáo ở Đàng ngoài rơi vào thế thời đình đốn, được biểu hiện rõ thông qua
sự băng hoại về đạo đức và nhân cách của giai cấp cầm quyền, thì Nho giáo ở Đàng Trong chỉ mang tính kế thừa hình thành từ thành phần Nho sĩ di dân từ Bắc vào Nam14, do đó, vị trí của Nho giáo tồn tại theo dạng thức khác hẳn Đàng Ngoài Rõ ràng số Nho gia theo chân Nguyễn Hoàng vào lập nghiệp trên vùng đất mới, nơi mang đậm màu sắc văn hóa Ấn Độ của dân tộc Chăm Ở đây rất đa dạng văn hóa, tín ngưỡng bởi các dân tộc như Việt, Hoa, Chăm thì Nho giáo thì không thể nào có chỗ
đứng như Đàng Ngoài nếu không muốn nói là lu mờ, bởi vì “ngoài lực lượng người
Việt di cư vào ngày một đông, xã hội Đàng Trong còn có đông đảo cư dân bản địa chưa từng biết Nho giáo” ( Nguyễn Khắc Thuần, 2012b, trang 166) Trong yêu cầu
buổi đầu gầy dựng lực lượng khối đoàn kết nơi đất mới thì sự chọn lựa tất yếu phù hợp nhất chỉ có Phật giáo, chứ Nho giáo không đáp ứng nổi như cầu đó Chúa Nguyễn Hoàng khéo léo lấy đạo Phật làm chỗ dựa tinh thần cho mọi hoạt động sống
là nhằm một mặt kế thừa và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc với hệ tư tưởng Tam giáo Nho - Phật - Đạo, mặt khác phải tiếp nhận, hòa nhập với văn hóa bản địa15, thì Phật giáo điển hình là Phật giáo Đại Thừa vẫn là lựa chọn ưu tiên hàng đầu, chứ không phải Nho giáo Bởi Phật giáo Đại Thừa một mặt có tư tưởng sống từ bi hỷ xả, dung hợp, phóng khoáng đã đáp ứng yêu cầu cộng sinh của đa tôn giáo, và không quan tâm đến tính chính thống của họ Nguyễn, mặt còn lại đó là sự lắng đọng của tín ngưỡng bản địa đa thần Theo đà phục hưng của Phật giáo, lúc này Đạo giáo vốn có nhiều điểm gần gũi với Phật giáo trong tư tưởng và tín ngưỡng, nên đã có phần khởi sắc trở lại Bằng chứng là số lượng chùa chiền, đền miếu nhiều hơn hẳn trước đó Nhìn chung việc tạo lập thể chế chính trị ổn định trong buổi đầu gầy dựng sự nghiệp mở rộng lãnh thổ, các chúa Nguyễn đã linh hoạt dùng nhiều biện pháp mềm
Hoàng và đầu đời con ông là Nguyễn Phúc Nguyên, số Nho sĩ di cư vào đã nhiều hơn trước…” (Nguyễn
Khắc Thuần, 2012c, trang 121)