1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Văn hóa ẩm thực của người việt tây nam bộ qua tác phẩm của sơn nam

118 158 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Văn Hóa Ẩm Thực Của Người Việt Tây Nam Bộ Qua Tác Phẩm Của Sơn Nam
Tác giả Trần Ngọc Duyên
Người hướng dẫn TS. Lê Thị Ngọc Điệp
Trường học Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Văn Hóa Học
Thể loại Luận Văn
Năm xuất bản 2018
Thành phố Thành Phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 2,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các công trình nghiên cứu về Sơn Nam và văn hóa ẩm thực qua tác phẩm Sơn Nam Có nhiều công trình nghiên cứu về tác phẩm của Sơn Nam; phần lớn đều thuộc đối tượng nghiên cứu của ngành văn

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, Luận văn thạc sĩ Văn hóa học với đề tài: “Văn hóa ẩm thực của người Việt Tây Nam Bộ qua tác phầm của Sơn Nam”, là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Lê Thị Ngọc Điệp

Các tư liệu, trích dẫn và tài liệu tham khảo trong luận văn là hoàn toàn trung thực, có nguồn gốc rõ ràng

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2018

Học viên Cao học

Trần Ngọc Duyên

Trang 4

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Lê Thị Ngọc Điệp – người đã tận tình hướng dẫn, khuyến khích tôi trong quá trình thực hiện luận văn

Tôi cũng xin chân thành gửi lời cảm ơn trước sự động viên từ phía gia đình, người thân, bạn bè trong quá trình tôi hoàn thành luận văn

Luận văn đã hoàn thành nhưng chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót, tôi kính mong quý thầy cô và bạn bè góp ý

Tôi xin chân thành cảm ơn!

TP.HCM, tháng 10 năm 2018

Tác giả

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1.Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 4

3 Mục đích nghiên cứu 8

4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9

5.Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 9

6.Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 11

7.Bố cục luận văn 11

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 13

1.1.Cơ sở lý luận 13

1.1.1.Khái quát văn hoá 13

1.1.2.Ẩm thực và văn hóa ẩm thực 14

1.1.3 Mối quan hệ giữa văn hóa - văn học, phương pháp tiếp cận văn hóa học với văn học 17

1.1.4 Một số lý thuyết sử dụng trong nghiên cứu 23

1.2 Cơ sở thực tiễn 24

1.2.1.Tây Nam Bộ nhìn trong hệ tọa độ văn hóa 24

1.2.2.Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của nhà văn Sơn Nam 36

Tiểu kết chương 1 39

CHƯƠNG 2: NHỮNG ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN VỀ ẨM THỰC CỦA NGƯỜI VIỆT TÂY NAM BỘ 40

2.1 Đặc điểm cơ bản của văn hóa ẩm thực Việt Nam 40

2.2 Đặc điểm văn hóa ẩm thực Tây Nam Bộ 43

Tiểu kết chương 2 64

CHƯƠNG 3: NÉT ĐẶC TRƯNG ẨM THỰC TÂY NAM BỘ CỦA NGƯỜI VIỆT

Trang 6

3.1.Mối quan hệ giữa văn hóa - văn học 66

3.2 Văn hóa ẩm thực người Việt Tây Nam Bộ qua tác phẩm 68

Tiểu kết chương 3 82

KẾT LUẬN 83

TÀI LIỆU KHẢO SÁT 87

TÀI LIỆU THAM KHẢO 89

PHỤ LỤC 94

Trang 7

“Món ăn, xét bề ngoài, chỉ là cái đích của sự thỏa mãn vật dục Nhưng đi sâu, ta vô cùng ngạc nhiên thấy nó biểu hiện trình độ văn hóa vật chất thì rất ít, nhưng biểu hiện trình độ văn hóa tinh thần của dân tộc thì rất nhiều”1 Ngay cả nhà Marketing hiện đại

F Koller đã thưởng thức các món ăn của Việt Nam và ông khuyên nên lấy “ẩm

thực” làm khâu đột phá trong chiến dịch truyền bá thương hiệu Việt Nam trên toàn thế giới Do đó, ẩm thực đối với con người ngoài mục đích nuôi sống cơ thể, còn là vấn đề thể hiện bản sắc văn hóa, thể hiện nét đặc trưng của văn hóa từng dân tộc, vùng miền Trong ý nghĩa đó, việc nghiên cứu về văn hóa ẩm thực cũng đồng nghĩa với việc nghiên cứu văn hóa dân tộc

Văn hóa ẩm thực của người Việt vùng Tây Nam Bộ cũng là một yếu tố góp phần cấu thành nên bản sắc văn hóa ẩm thực Việt Nam Món ăn của người dân ở đây

là sản phẩm độc đáo của miền đất mới, mang những đặc trưng riêng biệt của những người một thời đi mở cõi – đó là bản sắc của khẩn hoang, phóng khoáng, không cầu

kỳ, câu nệ là kết quả của quá trình cộng cư lâu đời giữa các người: Kinh, Khmer, Hoa, Chăm, cùng với sự giao lưu luồng văn hóa Đông Tây do vậy yếu tố tiếp biến văn hóa thể hiện rất rõ Song song đó với yếu tố môi trường sinh thái của vùng đã tạo thành sắc thái văn hóa trong việc ăn uống vừa đa dạng, phong phú… Nằm trên lưu vực hai con sông Tiền, sông Hậu, Tây Nam Bộ được biết đến như một vùng sông nước hữu tình, cây lành trái ngọt quanh năm, người dân hiền hòa mến khách với

1 http://tourismcantho.vn/vi/am-thuc-nam-bo-dau-dau-huong-vi-coi-nguon/n2938.html

Trang 8

những địa danh đã được biết đến từ lâu như: cù lao Thới Sơn, trại rắn Đồng Tâm (Tiền Giang), sân chim Ba Tri, Cồn Phụng (Bến Tre), cù lao Bình Hòa Phước (Vĩnh Long), chợ nổi Cái Răng, chợ nổi Phong Điền, vườn cò Bằng Lăng , chợ nổi Ngã Bảy (Cần Thơ, Hậu Giang), Tràm Chim Tam Nông (Đồng Tháp) Một vùng sông nước với hệ thống kinh rạch chằng chịt, những cù lao đầy ắp hoa trái và sản vật chính

là nguồn nguyên liệu dồi dào tại chỗ để chế biến những món ăn độc đáo in đậm chất phương Nam Cá lóc nướng trui, lươn, rắn nướng lèo, cá tai tượng chiên xù ăn cùng với các loại rau, hoa cỏ lạ như lá lụa, lá cách, lá săng máu, kèo nèo, bông điên điển,

so đũa đủ vị thơm, chua, chát, ngọt, bùi Kẹo dừa Bến Tre, nem Lai Vung, vú sữa

Lò Rèn, măng cụt Cái Mơn, bưởi Năm Roi Bình Minh, cam sành Tam Bình, xoài cát Hòa Lộc, bánh phồng Sa Đéc, bánh pía Sóc Trăng, mắm thái Châu Đốc là những hương liệu sẽ mang lại hương vị đậm đà cho bữa tiệc ẩm thực của miền Tây Nam Bộ

Có thể nói ẩm thực của người Việt miền Tây Nam Bộ đã trở thành nét văn hóa, lối sống của cư dân vùng đất này, góp phần làm nên bản sắc văn hóa ẩm thực Việt Nam Chính văn hóa ẩm thực đã góp phần quan trọng trong việc quảng bá hình ảnh vùng Tây Nam Bộ đến các vùng khác trong nước và trên thế giới, làm cho du lịch trong vùng ngày một phát triển

Người gán cho ẩm thực Nam Bộ với đặc trưng là các món ăn “đậm đà phong

vị thời khẩn hoang” không ai khác đó chính là nhà văn Sơn Nam, chẳng phải ngẫu nhiên mà người ta trân trọng gọi Sơn Nam là “Ông già Nam Bộ”, “Pho từ điển sống

về miền Nam” hay “Nhà Nam Bộ học”, là bởi vì ông không chỉ cống hiến trong văn chương, ông còn được xem là người có công khai phá, khảo cứu và sưu tầm văn hóa mảnh đất Nam Bộ, trong đó có Tây Nam Bộ Chính vì thế, nghiên cứu về Sơn Nam cũng là nghiên cứu về những nét đặc trưng, tiếng nói tình cảm của cả một vùng đất Nam Bộ nói chung và Tây Nam Bộ nói riêng; bởi nhắc đến ông người ta người ta nhắc đến những câu chuyện về vùng đất và con người Nam Bộ Sơn Nam được xem

là một trong những nhà văn tiêu biểu của Nam Bộ sau 1945, sau thời kỳ của những nhà văn như Hồ Biểu Chánh, Phi Vân Vào những năm giữa thế kỷ XX, “Ông già

đi bộ” đã đi qua rất nhiều vùng đất khác nhau, gặp gỡ nhiều con người, chứng kiến

Trang 9

nhiều cảnh sinh hoạt khác nhau Tất cả những điều đó cộng với tư chất của một người cầm bút sáng tác, Sơn Nam đã đưa thiên nhiên và con người Tây Nam Bộ vào văn học một cách tự nhiên như chính cuộc sống vốn có và vốn đã diễn ra; giúp cho thế hệ sau tìm thấy trong chính những sáng tác của ông nhiều góc độ khác nhau về văn hóa -

xã hội miền Tây Nam Bộ một cách đáng tin cậy và trân trọng, cùng với một cái tình miền sông nước hiếm nơi nào có được

Sơn Nam đã có khối lượng tác phẩm khá đồ sộ bao gồm nhiều thể loại như tiểu thuyết, truyện dài, truyện vừa, truyện ngắn, bút ký, hồi ký, biên khảo,…về nhiều đề tài thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau như đời sống nhân dân lao động, lịch sử khai khẩn miền Nam, cuộc đổi mới ở Nam Kỳ, văn hóa và tập tục,…Cho dù viết ở thể loại nào

ông viết cũng rất tận tụy, bền sức, và đạt được thành tựu đáng kể Tác phẩm Bắt sấu rừng U Minh hạ của Sơn Nam còn được đưa vào chương trình văn học ở bậc trung học

phổ thông và một số tác phẩm khác đã được chuyển thể thành kịch bản phim truyện

Phim Mùa len trâu chuyển thể từ tác phẩm cùng tên và Một cuộc biển dâu trong tập truyện Hương rừng Cà Mau của ông đã đạt giải Bông sen bạc trong “Liên hoan phim

Có nhiều cách để tiếp cận nghiên cứu văn hóa như lịch sử, nhân học, địa lý,… trong luận văn này chúng tôi chọn cách tiếp cận từ văn học Vì văn học vừa là một bộ phận của văn hóa, vừa chịu sự chi phối ảnh hưởng của văn hóa; thông qua các tác phẩm văn học của từng thời đại, người nghiên cứu có thể tìm hiểu về văn hóa, nhận diện văn hóa ở các thời đại khác nhau Do đó từ cách tiếp cận này, chúng tôi kết hợp

Trang 10

với các dạng tư liệu khác nhằm làm rõ nét đặc trưng của văn hóa ẩm thực Tây Nam

người Ngô Đức Thịnh đã từng nhận định: “Nghiên cứu truyền thống ăn uống của các dân tộc dưới giác độ văn hóa còn là lĩnh vực ít được quan tâm ở nước ta” (2004,

tr.321)

Trên cơ sở nguồn tài liệu tra cứu liên quan đến đề tài, có thể chia thành các nhóm tư liệu sau:

1 Các công trình nghiên cứu về Văn hóa ẩm thực

Việt Nam phong tục của Phan Kế Bính (2014, Nxb Hồng Đức), Việt Nam văn hóa sử cương của Đào Duy Anh (2014 Nxb Thế Giới), Phong tục Việt Nam của Toan

Ánh (2012 Nxb.Trẻ),… các tác giả này đều dành vài trang giới thiệu về đặc điểm ăn uống như một thành tố trong hệ thống văn hóa, phong tục Việt Nam

Thạch Lam với tập tùy bút Hà Nội băm sáu phố phường (1943); Nguyễn Tuân với: Những chiếc ấm đất, Chén trà sương, Hương Cuội in trong tập Vang bóng một thời (1940); Phở, Cốm, Giò lụa in trong tập Cảnh sắc và hương vị đất nước (1988) …

Vũ Bằng với ba tập tùy bút: Miếng ngon Hà Nội (1960), Món lạ miền Nam(1969), Thương nhớ mười hai (1972) Đây là những nhà văn viết đã đưa món ăn vào văn hóa

Hà Nội

Trang 11

Văn hóa Việt Nam – tìm tòi và suy ngẫm (2001) của Trần Quốc Vượng, công

trình này chỉ quy tụ những món ăn đặc trưng nhất của dân tộc chứ chưa đưa ra những đặc điểm khác biệt trong văn hóa ẩm thực của mỗi vùng miền

Trong giáo trình Cơ sở văn hóa Việt Nam (1999) và Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam (2006) của Trần Ngọc Thêm đã dành từ 15 đến 25 trang bàn về ẩm thực

trong văn hóa Việt Nam với những dấu ấn truyền thống văn hóa nông nghiệp lúa nước

trong cơ cấu bữa ăn và lối ăn của người Việt Trong Văn hóa vùng và phân vùng văn hóa ở Việt Nam (2004) của Ngô Đức Thịnh, tác giả cũng dành hẳn một chương “các

loại hình bữa ăn truyền thống” trình bày cội rễ truyền thống trong ăn uống Việt Nam, quá trình hình thành và biến đổi các đặc trưng ăn uống dân tộc, các loại hình bữa ăn truyền thống và sự phân bố của chúng ở Việt Nam và Đông Nam Á

Nguyễn Nhã với “Bản sắc ẩm thực Việt Nam” (2009) đã nhận định “ẩm thực

Việt Nam rất phong phú và đa dạng” (Nguyễn Nhã 2009, tr 20)

“Văn hóa ẩm thực Hà Nội qua tư liệu văn chương quốc ngữ (Khảo sát tác phẩm của các tác giả Thạch Lam, Vũ Bằng, Nguyễn Tuân, Nguyễn Hà, Băng Sơn, Mai Khôi)” (2013) : luận văn Thạc sĩ Huỳnh Thị Bích Ngọc Công trình này tiếp cận theo

hướng văn học – văn hóa, việc khai thác và sử dụng nguồn tư liệu văn chương quốc ngữ làm phương tiện để tìm hiểu, nhận diện, nêu bật những đặc trưng của văn hóa ẩm thực Hà Nội theo đặc điểm của vùng văn hóa

Bên cạnh đó, cũng có thể kể một số bài viết liên quan đến văn hóa ẩm thực

đăng trên các tạp chí “Đặc điểm ăn uống của người Việt” (1978 - tạp chí Xưa và Nay) của Trương Chính, “Sự tinh tế trong chế biến món ăn của người Việt” (1998 – tạp chí Văn hóa dân gian )của Đặng Nghiêm Vạn,…các bài nghiên cứu về ẩm thực của GS Trần Văn Khê “Bàn về nghệ thuật nấu bếp và ăn uống của người Việt” (1998- tạp chí

Du lịch Tp Hồ Chí Minh)…

2 Các công trình nghiên cứu về Văn hóa ẩm thực Nam Bộ

Trang 12

“Văn hóa ẩm thực và món ăn Việt Nam”(2004 Nxb Trẻ) của Xuân Huy (sưu

tầm và giới thiệu) giới thiệu các món ăn các vùng miền của Việt Nam, trong đó có giới thiệu những món ăn của vùng Nam Bộ Nhưng ở công trình này chủ yếu là sưu tầm tập hợp những bài báo, bài viết riêng lẻ nên chưa mang tính hệ thống khái quát cao

“Văn hóa ẩm thực Việt Nam – các món ăn miền Nam” (2006 Nxb Thanh Niên) của Mai Khôi – Vũ Bằng – Thượng Hồng (biên khảo và sáng tác) , công trình

này tập hợp những bài nghiên cứu riêng lẻ của nhiều tác giả khác nhau về các món ăn của vùng Nam Bộ, thiên về miêu tả hơn là mang tính nghiên cứu chi tiết hệ thống

“Văn hóa dân gian người Việt ở Nam Bộ” (1992 – Nxb KHXH Hà Nội) của

Thạch Phương, Hồ Lê, Huỳnh Lứa, Nguyễn Quang Vinh, công trình này phác họa những đặc điểm chung nhất của văn hóa dân gian người Việt ở Nam Bộ, trong đó cũng

có một phần nêu lên những đặc trưng cơ bản của ẩm thực người Việt tại vùng Nam Bộ nói chung

“Nhà ở, trang phục và ăn uống của các dân tộc vùng đồng bằng sông Cửu Long” (1993 – Nxb.Khoa học và Kỹ thuật) của Phan Thị Yến Tuyết, đề cập đến ba

dạng thức được xem là cơ bản nhất của văn hoá vật chất: nhà ở, trang phục, ăn uống Tác giả chọn góc độ tiếp cận văn hoá tộc người (Việt, Khmer, Hoa, Chăm) nên có thể thấy được điểm chung và riêng giữa các tộc người này

“Văn hóa ẩm thực của cư dân Việt ở Đông Nam Bộ” (2010) luận văn Thạc sĩ

Ngô Thị Thúy, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Tp

Hồ Chí Minh).Công trình này chủ yếu nhằm làm rõ sự hình thành và phát triển của ăn hóa ẩm thực vùng Đông Nam Bộ

“Văn hóa ẩm thực của người Việt miền Tây Nam Bộ” (2011): luận văn Thạc sĩ:

Lê Thị Mỹ Hạnh Công trình chủ yếu nhằm làm rõ sự hình thành, phát triển và đặc trưng của ăn hóa ẩm thực vùng Tây Nam Bộ

Trang 13

3 Các công trình nghiên cứu về Sơn Nam và văn hóa ẩm thực qua tác phẩm Sơn Nam

Có nhiều công trình nghiên cứu về tác phẩm của Sơn Nam; phần lớn đều thuộc đối tượng nghiên cứu của ngành văn học và ngôn ngữ học, còn văn hóa học thì chủ yếu là văn hóa Nam Bộ, có thể điểm qua các công trình sau:

Đặc điểm truyện ngắn Sơn Nam giai đoạn 1954 – 1975 (2003) :luận văn Thạc

sĩ Lê Thị Thuỳ Trang; Trường Đại học Sư phạm Tp Hồ Chí Minh Với phương pháp lịch sử, hệ thống, so sánh, miêu tả, luận văn trình bày những đặc điểm của truyện ngắn Sơn Nam trên phương diện nội dung và nghệ thuật như: cảm hứng chủ đạo của tác giả; những đặc điểm về nghệ thuật xây dựng nhân vật; phương thức kết cấu; ngôn từ; vị trí của Sơn Nam trong văn học đô thị miền Nam giai đoạn 1954-1975

Đặc trưng truyện ngắn Sơn Nam: Tác giả Trần Phỏng Diều, Trường Đại học sư

phạm Thành Phố Hồ Chí Minh, 2004 Thông qua khảo sát 84 truyện ngắn, tác giả đưa ra những nhận xét về cảm hứng sáng tác (cảm hứng về thiên nhiên, cảm hứng về con người) - trong đó có những phân tích về quan niệm con người,về không thời gian nghệ thuật, ý nghĩa của chúng trong khắc họa tính cách Nam Bộ, thiên nhiên, cảnh vật Nam Bộ Ngoài ra, luận văn còn trình bày những vấn đề về kết cấu, từ vựng, các biện pháp tu từ, giọng điệu người kể chuyện, hình tượng tác giả, phong cách tác giả

Văn hoá và con người Nam Bộ trong truyện của Sơn Nam (2004) : luận văn

Thạc sĩ: Đinh Thị Thanh Thủy; Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Tp

Hồ Chí Minh (Đại học Quốc gia Tp Hồ Chí Minh) Công trình này khai thác toàn bộ truyện (truyện ngắn, truyện vừa, truyện dài) của nhà văn Sơn Nam và có khảo cứu qua các tác phẩm biên khảo, tùy bút, hồi ký, ghi chép tản văn của ông với mục đích khai thác thêm tư liệu và củng cố thêm một số luận điểm mà tác giả trình bày trong luận văn

Văn hóa Nam bộ qua tác phẩm của nhà văn Sơn Nam (2011): luận văn Thạc sĩ

Võ Văn Thành ; Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia

Tp Hồ Chí Minh) Công trình này hệ thống hóa những nội dung liên quan đến văn

Trang 14

hóa Nam Bộ trong các công trình biên khảo và sáng tác của Sơn Nam, làm sáng tỏ những khía cạnh có giá trị đóng góp và những hạn chế tất yếu của Sơn Nam khi viết

về văn hóa – lịch sử vùng đất Nam Bộ với tư cách một nhà văn chuyên nghiệp và một nhà nghiên cứu không chuyên Ở công trình này có cách tiếp cận văn hóa học đối với các công trình biên khảo, sáng tác có nội dung phản ánh văn hóa vùng miền Năm 2013, nhân kỉ niệm 05 năm ngày mất của nhà văn Sơn Nam, nhà xuất

bản Trẻ đã cho xuất bản cuốn Văn hóa Nam Bộ qua cái nhìn của Sơn Nam dựa theo

luận văn thạc sĩ của Võ Văn Thành Nội dung của cuốn sách cuốn sách giúp cho độc giả những hiểu biết về văn hóa Nam Bộ, bao gồm văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể qua cái nhìn của Sơn Nam

Còn những bài viết, đánh giá, nghiên cứu chuyên sâu của ngành văn hóa học

về văn hóa ẩm thực Tây Nam Bộ qua tác phẩm của nhà văn có một bài viết; đó là bài

viết trên tạp chí Xưa và Nay, số 444 tháng 2 năm 2014 với tiêu đề: “ Ẩm thực Nam

Bộ qua trải nghiệm của nhà văn Sơn Nam”, đồng tác giả là Võ Văn Thành và Lê Thị

Thanh Tâm Trong bài viết này chỉ là sự mô tả và đan xem đánh giá của tác giả bài viết về Sơn Nam

Qua một số công trình nghiên cứu về văn hóa ẩm thực, văn hóa ẩm thực Nam

Bộ và ẩm thực Tây Nam Bộ, cũng như những nghiên cứu về tác giả Sơn Nam sẽ là nền tảng giúp cho việc nghiên cứu luận văn dễ dàng và thận lợi hơn, đồng thời luận văn cũng sẽ kế thừa những thành quả mà các công trình nghiên cứu trước đã đạt được

3 Mục đích nghiên cứu

Từ góc nhìn văn hóa học, mục đích của luận văn tập trung tìm hiểu những đặc điểm, những nét đặc trưng của văn hóa ẩm thực cư dân Việt ở Tây Nam Bộ phản ánh qua nội dung trong các tác phẩm của nhà văn Sơn Nam Mặt khác thông qua các tác phẩm cũng đã tái hiện lại văn hóa ẩm thực của cha ông ngày xưa khi vào vùng đất mới khẩn hoang lập nghiệp Từ đó, thấy được sự vận động và phát triển của văn hóa

ẩm thực Tây Nam Bộ theo thời gian

Trang 15

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu chính là văn hóa ẩm thực người Việt Tây Nam Bộ qua tác phẩm của Sơn Nam

Phạm vi nghiên cứu

Chủ thể văn hóa: cộng đồng cư dân người Việt (Kinh) ở vùng Tây Nam Bộ

Lý do mà luận văn chọn người Việt hay còn gọi là người Kinh là chủ thể nghiên cứu vì đây là tộc người chiếm đa số trong các tộc người cùng sinh sống trên dải đất Việt Nam, đồng thời giữ vai trò chủ đạo tạo nên diện mạo chung mang tính thống nhất của văn hóa Việt Nam Song bên cạnh sự thống nhất ấy vẫn có những khác biệt rất tinh tế trong các lĩnh vực của văn hóa của người Việt ở các vùng miền; một trong những nguyên nhân đẫn đến sự khác biệt đó chính là là đặc điểm sinh thái – môi trường cư trú đã tạo nên diện mạo rất riêng trong văn hóa của người Việt ở mỗi vùng miền, điển hình như vùng Tây Nam Bộ mà luận văn nghiên cứu

Không gian văn hóa: trong phạm vi các tỉnh miền Tây Nam Bộ

Thời gian văn hóa: xuyên suốt quá trình từ thế kỷ XVII - khi những nhóm cư dân người Việt đầu tiên bắt đầu đến đây sinh sống đến giai đoạn hiện nay

5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

Phương pháp tiếp cận và nghiên cứu

Luận văn chủ yếu sử dụng các cách tiếp cận của văn hóa học, bao gồm:

Để làm rõ vấn đề “Văn hóa ẩm thực Tây Nam Bộ của người Việt qua tác phẩm của Sơn Nam”, luận văn sẽ sử dụng các phương pháp sau: phương pháp hệ thống - cấu

trúc, phương pháp so sánh, phương pháp lịch sử

Phương pháp hệ thống – cấu trúc: là phương pháp tổng hợp, sắp xếp các phần

tử theo một cấu trúc nhất định để tạo thành hệ thống Đặc điểm quan trọng nhất của

hệ thống là nó tạo nên những thuộc tính mới mà từng yếu tố riêng lẻ, tập hợp của

Trang 16

chúng hoặc mạng lưới quan hệ thuần túy không thể có Để có cái nhìn toàn diện hơn

về ẩm thực Tây Nam Bộ từ thời khẩn hoang đến hiện đại qua tác phẩm của nhà văn Sơn Nam, luận văn này đặt văn hóa ẩm thực trong hệ tọa độ ba chiều của văn hóa Tây Nam Bộ: Không gian – chủ thể - thời gian Tất cả những tài liệu sẽ được tổng hợp phân chia theo cấu trúc trên và sắp xếp lại theo hệ thống nhất định

Phương pháp so sánh: là sự so sánh giữa đối tượng này với đối tượng khác trong những điều kiện, hoàn cảnh xác định chi phối chúng Phương pháp này cho phép nhìn rõ nét tương đồng và sự khác biệt, nhận rõ những cái riêng có cùng một cái chung bản chất hoặc những dấu hiệu phân biệt cái riêng này với cái riêng khác Phân tích so sánh cũng có thể dựa trên những cái mốc của sự kiện và thời gian của cùng một cái trục vận động lịch sử để tìm ra sự phát triển khác nhau của cùng một đối tượng, chỉnh thể trong những thời điểm và hoàn cảnh khác nhau Nhằm so sánh văn hóa ẩm thực Tây Nam Bộ trong thực tại với văn hóa ẩm thực qua lăng kính của nhà văn Sơn Nam thể hiện trong những tác phẩm của ông

Phương pháp lịch sử: giúp bổ sung cái nhìn hệ thống từ lịch đại đến đồng đại để xem xét vấn đề một cách hệ thống, trình tự Nhằm làm rõ quá trình hình thành và phát triển của văn hóa ẩm thực Tây Nam Bộ từ thời khẩn hoang đến hiện đại

Nhằm có cái nhìn toàn diện về hóa ẩm thực của Việt Tây Nam Bộ, chúng tôi

còn vận dụng cách tiếp cận liên ngành: sử dụng thành tựu của các ngành khoa học

khác:sử học, địa lí học, văn học, xã hội học, ngôn ngữ học,…

Các lý thuyết được sử dụng trong nghiên cứu bao gồm lý thuyết vùng văn hóa,

lý thuyết giao lưu tiếp biến văn hóa, lý thuyết sinh thái văn hóa

Nguồn tư liệu: Trong khuôn khổ luận văn này, do hướng tiếp cận là văn học

– văn hóa nên nguồn tư liệu chủ yếu là toàn bộ các tác phẩm của nhà văn Sơn Nam

có liên quan đến văn hóa ẩm thực và đồng thời kế thừa các công trình nghiên cứu liên quan trước đó Song song, là dựa vào bài viết có liên quan đến văn hóa ẩm thực Tây Nam Bộ từ nguồn tài liệu trong các bài báo, các tạp chí, các website…

Trang 17

6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn

7 Bố cục của Luận văn

Ngoài phần dẫn nhập, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn

Trong nội dung này chúng tôi trình bày định nghĩa ẩm thực và văn hóa ẩm thực, đưa ra những lý thuyết của một số nhà nghiên cứu làm nền tảng lý luận cho công việc nghiên cứu; trình bày những nét khái quát về bối cảnh văn hoá Tây Nam

Bộ và thân thế, sự nghiệp của tác giả

Chương 2 Những đặc trưng cơ bản về ẩm thực của người Việt Tây Nam

Bộ

Trình bày những đặc điểm của văn hóa ẩm thực Tây Nam Bộ trên các bình diện như: cơ cấu bữa ăn, cách chế biến món ăn, khẩu vị…Qua đó rút ra được những

Trang 18

nét đặc trưng tiêu biểu cho văn hóa ẩm thực Tây Nam Bộ, nét đặc trưng của miền sông nước

Chương 3 Nét đặc trưng ẩm thực Tây Nam Bộ của người Việt trong tác phẩm của Sơn Nam

Từ văn hóa ẩm thực Tây Nam Bộ qua tác tác phẩm của nhà văn Sơn Nam, đối chiếu lại văn hóa ẩm thực Tây Nam Bộ với hiện thực Nhằm thấy rõ nét đặc sắc của

ẩm thực Tây Nam Bộ đi từ thực tế bước vô ánh nhìn của nhà văn

Trang 19

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN

1 1 Cơ sở lý luận

1.1 1 Khái quát Văn hóa

Khái niệm văn hóa là một khái nhiệm rộng, tùy theo cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu, khuynh hướng nghiên cứu mà từ đó các khái niệm về văn hóa được trình bày với nội hàm khác nhau Tuy những định nghĩa về văn hóa là khác nhau, nhưng những quan niệm nhận thức về văn hóa lại không hoàn toàn mâu thuẫn nhau mà còn

bổ sung cho nhau, làm cho cái nhìn hiểu biết về văn hóa toàn diện, phong phú, đầy

đủ hơn, có được cái nhìn đa chiều về văn hóa Nhưng cho dù định nghĩa theo phương diện nào cũng không nằm ngoài việc xác văn hóa là toàn bộ những giá trị do con người sáng tạo ra trong tiến trình lịch sử để phục vụ sự tồn tại của mình

Trong luận văn này vận dụng định nghĩa văn hóa của Trần Ngọc Thêm để tìm hiểu và nghiên cứu văn hóa ẩm thực của Việt Tây Nam Bộ; trong công trình nghiên

cứu của mình nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm đã định nghĩa văn hóa như sau: “ Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sang tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội của mình.” (Trần Ngọc Thêm 1996/2004: tr 25)

Định nghĩa của Trần Ngọc Thêm đã chỉ ra những đặc trưng cơ bản của văn hóa

là hệ thống giá trị vật chất và hệ thống giá trị tinh thần mà chủ thể tạo nên hệ thống giá trị đó là con người; thông qua hoạt động thực tiễn họ kế thừa, tích lũy, dung hợp, tiếp biến, sáng tạo nên hệ thống giá trị vật chất và tinh thần nhằm thỏa mãn nhu cầu cuộc sống của mình Hệ thống giá trị văn hóa ẩm thực của người Việt Tây Bộ cũng được tạo nên từ phương thức đó

Về sự khác biệt trong văn hóa,Trần Ngọc Thêm cho rằng “nguồn gốc sâu xa của mọi sự khác biệt vềvăn hóa chính là sự khác biệt vềđiều kiện tự nhiên (khí hậu– địa lý) và điều kiện xã hội (lịch sử - kinh tế) quy định.” (Trần Ngọc Thêm 1996/2004:

tr.36) Vậy khi một hằng số môi trường tự nhiên và môi trường xã hội thay đổi thì lập

Trang 20

tức con người sẽ tìm cách sáng tạo cho mình một hệ giá trị mới phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh mới Từ đó cho thấy nghiên cứu văn hóa ẩm thực của người Việt Tây Nam Bộ qua tác phẩm Sơn Nam phải dựa trên cơ sở chủ thể, điều kiện tự nhiên, hoàn cảnh lịch sử trong quá trình vận động biến đổi của nó

1.1.2 Ẩm thực và văn hóa ẩm thực

Khái niệm ẩm thực trong Hán Việt tự điển của tác giả Thiều Chửu nghĩa

từ ẩm (Thiều Chửu 2003: tr 957) có các lớp nghĩa sau : 1 Đồ uống như rượu,

nước gọi là ẩm; 2 Uống , như ẩm tửu ( uống rượu ), ẩm thủy ( uống nước ); 3

Ngậm, nuốt Nghĩa từ thực (Thiều Chủ 2003: tr 955) có các lớp nghĩa sau: 1

Đồ để ăn, các loại thóc gạo để ăn gọi là thực Nói rộng ra thì hết thảy các cái

có thể ăn cho no bụng đều được gọi là thực; 2 Ăn, như thực phạn là ăn cơm;

3 Lộc, bổng lộc Hai từ Hán cổ đơn tiết “ẩm” và “thực” sau này phát triển, kết

hợp thành từ song tiết ẩm thực.Người Việt sử dụng khái niệm ẩm thực là từ

Hán Việt, tồn tại song song với từ Hán Việt còn có từ thuần Việt với khái niệm

ăn uống có ý nghĩa tương tự với ẩm thực: ẩm = uống, thực = ăn Tựu trung lại,

ăn uống là một hoạt động cung cấp năng lượng cho cơ thể nhằm duy trì sự sống

Con người muốn tồn tại không thể thiếu hoạt động này đó là một hành động bản năng; chính F Engels khi đọc điếu văn trước mộ K Marx ngày 17/03/1883

đã nói: “Giống như Darwin đã tìm ra quy luật phát triển của thế giới hữu cơ, Marx đã tìm ra quy luật phát triển của lịch sử loài người: cái sự thật giản đơn

đã bị những tầng tầng lớp lớp của tư tưởng phủ kín cho đến ngày nay là: con người cần phải ăn, uống, chỗ ở, mặc đã rồi mới có thể làm chính trị, khoa học,

nghệ thuật, tôn giáo,…” Hay nói như Ngô Đức Thịnh “ăn uống là một nhu cầu thường xuyên nhất, bản năng nhất đối với sự sinh tồn và hưởng thụ của con người” (Ngô Đức Thịnh 2010: tr.410); tuy nhiên hoạt động ăn uống ở mỗi thời

kỳ có những nhu cầu khác nhau

Trang 21

Từ buổi sơ khai của loài người ăn uống chỉ là hoạt động sinh học, ăn theo bản năng như các loài sinh vật khác; thời kỳ này ăn chưa có sự chọn lọc, ăn tất

cả những gì tìm kiếm được, đặc trưng của thời kỳ này trong việc ăn uống hoàn toàn không qua một khâu chế biến nào mà là ăn sống, uống sống Việc phát hiện ra lửa đánh dấu một tiến dài trong lịch sử của loài người; tạo bước chuyển đổi từ ăn sống uống sống sang ăn chín uống sôi Chính điều này đã tạo cho việc

ăn uống thêm đa dạng, phong phú hơn Lúc trước miếng ăn chủ yếu là no lòng, ngày nay hành vi ấy còn thể hiện một triết lý nhân sinh, một nét ứng xử trong cộng đồng Có thể thấy con người đã biết quan tâm đến tính thẩm mỹ của món

ăn, ăn bằng tất cả các giác quan, thức uống được chế biến, trình bày một cách cầu kỳ, tinh tế Ẩm thực không còn là giá trị vật chất đơn thuần mà nó trở thành yếu tố văn hóa Như Trần Quốc Vượng đã phát biểu: “Tôi không chỉ đơn giản xếp ăn uống vào phạm trù văn hóa vật chất hay văn hóa vật thể của UNESCO

mà lại xếp ăn uống vào văn hóa nói chung, bao gồm cả cái hữu thể và cái vô thể, cái nhận thức và cái tâm linh.” (Nguyễn Thị Bảy 2000: tr 258); cũng trong bài phát biểu này ông nói “cái hữu thể và cái vô thể xoắn xuýt với nhau Miếng

ăn (vật thể) cũng có thể là miếng nhục (tinh thần), rất nhiều khi “ăn một miếng, tiếng để đời” (Nguyễn Thị Bảy 2000: tr 293)

Ẩm thực dần dần để lại dấu ấn mà qua đó khi nghiên cứu mới thấy thú vị trước sự phong phú đa dạng của các món ăn, cách chế biến bảo quản, cách trình bày, cùng với những triết lý nhân sinh, tôn giáo trong văn hóa ẩm thực của mỗi vùng miền, mỗi dân tộc, mỗi thời đại

Ẩm thực với chức năng cơ bản là đáp ứng nhu cầu sinh học cho con người,

còn là phương tiện giao tiếp ứng xử trong xã hội; bên cạnh đó nó còn thể hiện

cả yếu tố kinh tế, y học trong việc ăn uống để chữa bệnh qua nguồn nguyên liệu

từ thiên nhiên tại chỗ hoặc theo mùa…Vậy nên ẩm thực không chỉ là sự tiếp

cận về góc độ văn hóa vật chất (các món ăn, chất liệu, số lượng, mùi vị, màu

Trang 22

sắc…) mà còn chứa đựng trong đó văn hóa tinh thần (cách ứng xử, giao tiếp trong ăn uống, nghệ thuật chế biến món ăn cùng ý nghĩa, biểu tượng, tâm linh… của các món ăn đó) và bản sắc của từng dân tộc Trong cuốn sách “Phân tích khẩu vị” của luật sư người Pháp Jean Anthelme Brillat Savarin được xuất bản

lần đầu ở Paris vào năm 1825, ông cho rằng: “Văn hóa ẩm thực là một biểu hiện quan trọng trong đời sống con người, nó cũng hàm chứa những ý nghĩa triết lý, là những gì chính tạo hóa giúp con người kiếm thức ăn, nuôi sống họ lại còn cho họ nếm mùi khoái lạc với các món ăn ngon, có thể đoán biết hồn của dân tộc thông qua văn hóa ẩm thực của họ” Trong “Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam” (2004), Trần Ngọc Thêm đã khẳng định “ăn uống là văn hóa – đó là văn

hóa tận dụng môi trường tự nhiên” (tr 343)

Giống như văn hóa, văn hóa ẩm thực sẽ có rất nhiều khái niệm khác nhau,

vì mỗi học giả, mỗi nhà nghiên cứu đều xuất phát từ những góc nhìn riêng, mục đích riêng phù hợp với vấn đề mình cần nghiên cứu để đưa ra các khái niệm; trong luận văn này khái niệm văn hóa ẩm thực theo quan điểm của tác giả Nguyễn Nguyệt Cầm Tác giả này quy văn hóa ẩm thực với hai cách hiểu: nghĩa hẹp và nghĩa rộng

Theo nghĩa hẹp, “văn hóa ẩm thực là những tập quán và khẩu vị của con người, những ứng xử của con người trong ăn uống; những tập tục kiêng kỵ trong ăn uống, những phương thức chế biến bày biện trong ăn uống và cách thưởng thức món ăn.” (Nguyễn Nguyệt Cầm 2006: tr 12)

Theo nghĩa rộng, “Văn hóa ẩm thực là một phần văn hóa nằm trong tổng thể, phức thể các đặc trưng diện mạo về vật chất, tinh thần, tri thức, tình cảm… khắc họa một số nét cơ bản, đặc sắc của một cộng đồng, gia đình, làng xóm, vùng miền, quốc gia…Nó chi phối một phần không nhỏ trong cách ứng xử

và giao tiếp của một cộng đồng, tạo nên đặc thù của cộng đồng ấy Trên bình diện văn hóa tinh thần, văn hóa ẩm thực là cách ứng xử, giao tiếp trong ăn uống và

Trang 23

nghệ thuật chế biến thức ăn, ý nghĩa, biểu tượng tâm linh trong món ăn đó.”

(Nguyễn Nguyệt Cầm 2006: tr 12)

Từ đó cho thấy, dưới góc độ văn hóa, ẩm thực được xem như là những nét truyền thống lịch sử, truyền thống văn hóa của dân tộc, của địa phương Ẩm thực là một thành tố văn hóa quan trọng tạo nên phong vị dân tộc, phong vị quê hương, nó lưu giữ và tạo nên những nét riêng của vùng miền Món ăn của vùng miền nào thì mang đặc điểm văn hóa truyền thống của vùng miền đó và có tác động không nhỏ đến tâm tư, tình cảm và cách ứng xử của mỗi cộng đồng, mỗi con người bởi đặc trưng món ăn, lối ăn được tạo nên từ những điều kiện địa lý, lịch sử, xã hội… của từng quốc gia, từng vùng, miền Vậy, có thể khẳng định văn hóa ẩm thực được xem là một thành tố văn hóa quan trọng trong việc góp phần làm phong phú bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia Đây cũng chính là mấu chốt của vấn đề mà luận văn cần tìm đó là những yếu tố đặc trưng riêng của văn hóa ẩm thực Tây Nam Bộ, đặc trưng miền sông nước

1.1.3 Mối quan hệ giữa văn học - văn hóa, phương pháp tiếp cận văn hóa học với văn học

1.1.3.1 Mối quan hệ văn học – văn hóa

Đối với mỗi dân tộc, điều quan trọng, quý giá nhất chính là giá trị văn hóa Văn hóa phản ánh mọi mặt đời sống của một dân tộc Yếu tố trội của văn hóa chính là văn học; đây là yếu tố quan trọng bậc nhất làm nên bản sắc văn

hóa dân tộc Do vậy: “Văn học nếu có chức năng phản ánh hiện thực thì cũng không thể phản ánh trực tiếp được mà chỉ có thể phản ánh thông qua lăng kính văn hóa, thông qua “bộ lọc” của cả giá trị văn hóa (Đỗ Lai Thúy 2006: tr 67)

“Văn học, trong ý nghĩa chung nhất là sản phẩm tinh thần dân tộc Khi nói đến văn học của một dân tộc người ta hay nghĩ đến văn hóa của dân tộc đó Và khi nói đến văn hóa của dân tộc người ta cũng quan tâm hàng đầu đến văn học Những

Trang 24

tác phẩm văn học có giá trị, được cộng đồng chấp nhận, trường tồn cùng thời gian thì đó cũng là sản phẩm văn hóa của dân tộc” (Đặng Văn Vũ 2011, tr 20)

Cũng như văn hóa, văn học có rất nhiều định nghĩa nhưng tựu trung lại có thể nóivăn học là một loại hình sáng tác nghệ thuật, phương tiện thể hiện nội dung các đề tài chính là ngôn ngữ

Đối tượng chính của văn học cũng như văn hóa chính là con người; con người trong cuộc sống hàng ngày, cùng với các mối quan hệ xã hội, kinh tế, chính trị … vừa đa dạng, phong phú và phức tạp, chính là nguồn tư liệu vô tận cho văn học khai thác, hình thành và sinh sôi Văn học hướng tới con người, quan tâm đến số phận của con người, miêu tả cuộc sống, cuộc đấu tranh không mệt mỏi của con người với

tự nhiên, với xã hội và với chính bản thân con người trong tiến trình lịch sử phát triển của mình… Dầu có miêu tả bất cứ điều gì thì cái đích cuối cùng của văn học cũng chỉ nói đến con người Mà theo nhà văn M Gorki: “Văn học là nhân học” Như vậy, có thể nói, con người sáng tạo ra văn học, thông qua văn học mà phản ánh văn hóa Văn học là công cụ thể hiện văn hóa và ghi lại bóng dáng con người qua các thời đại Văn học còn góp phần quan trọng trong việc bổ sung những giá trị văn hóa làm cho cuộc sống ngày càng phong phú hơn Tác phẩm văn học có thể giúp con người nhận thức rõ hơn về cuộc sống, ý thức đồng, truyền thống

lịch sử Trong quy luật phản ánh, văn học không phản ánh toàn bộ đời sống

mà phản ánh một cách có chọn lọc Chính ở đây, văn học còn có vai trò điều chỉnh

và định hướng văn hoá

Nhìn vào mối quan hệ giữa văn học với văn hóa, văn học là một bộ phận của văn hóa, nó nằm trong cái tổng thể văn hóa Quan hệ giữa văn học với văn hóa là quan hệ có tính biện chứng giữa cái tổng thể và cái bộ phận Vũ Khiêu đã nhấn mạnh

trong mối quan hệ này thì “văn học mặc dù là cái bộ phận nhưng lại có vai trò rất quan trọng”2 Trong công trình Mối quan hệ giữa văn hóa và văn học của tác

2 Dẫn theo Phan Ngọc (1998), Về mối quan hệ giữa văn học và văn hóa, TCVH Số 6 Tr.09

Trang 25

giả Đỗ Thị Minh Thúy (1997) tác giả đã nhận định: “Nói đến vị trí văn học trong văn hóa là nói đến hai mặt của một vấn đề: Thứ nhất, bản thân văn học trong văn hóa là một bộ phận của văn hóa, nó chịu sự chi phối mang tính quyết định của văn hóa Thứ hai, là nói đến tính đại diện cho văn hóa của văn học, sự tác động tính cực trở lại của văn học đối với văn hóa” (Đỗ Thị Minh Thúy 1997: tr.100) Cũng trong phần này, tác giả cũng đã khẳng định: “ Vì thế, nghiên cứu sự tác động của văn hóa đối với văn học và ngược lại, không thể không chú ý tới mối quan hệ trực tiếp của các lĩnh vực tinh thần đối với văn học, và văn học đối với các lĩnh vực tinh thần khác” (Đỗ Thị Minh Thúy 1997: tr 105)

Bàn về mối quan hệ giữa văn hóa và văn học, Trần Đình Sử đã viết: “Nội dung văn hóa trong văn học mang tính chất toàn bộ Nó bao gồm mọi phương diện văn hóa cụ thể như chính trị, kinh tế, pháp luật, tôn giáo, thị hiếu, ẩm thực, trang phục, tập quán, cử chỉ… Đọc bất cứ tác phẩm văn học nào ta đều có thể bắt gặp vô vàn biểu hiện văn hóa trong đó.” (Trần Đình Sử 2001: tr 09)

Tác giả Cao Kim Lan, khi đặt văn học vào ngữ cảnh của văn hóa để nghiên

cứu cũng đã viết: “Theo tôi một phương pháp phê bình thống nhất những yếu tố khả thi của hai xu hướng này, nghĩa là phải đặt tác phẩm văn học vào ngữ cảnh văn hóa đồng thời vẫn phải thừa nhận / tìm kiếm trong bản thân nó “một cái gì đó” sẽ

là một hướng đi có khả năng tạo ra những cách nhìn mới” 3

Có thể thấy các quan niệm dù có khác nhau nhưng đều thống nhất ở một điểm chung đó là khẳng định mối quan hệ mật thiết giữa văn học và văn hóa Nghiên cứu văn học trong mối quan hệ với văn hóa, và ngược lại, nghiên cứu văn hóa trong mối quan hệ với văn học đều đưa lại những kết quả mà ở đó các giá trị văn hóa hay văn học đều được làm nổi bật trong sự thống nhất với nhau

3 Cao Kim Lan 2011: Văn học và ngữ cảnh văn hóa,

http://vanhocquenha.vn/view.asp?n_id=3979&n_muctin=24

Trang 26

Ngành nghiên cứu văn hóa ra đời và phát triển sau ngành nghiên cứu văn học khá lâu Khi lý luận về nghiên cứu văn hóa được du nhập vào nước ta, thì đồng thời với nó lý luận về sự giao thoa giữa văn hóa và văn học cũng được giới thiệu Cùng với mối liên hệ nội tại của văn hóa và văn học, nghiên cứu văn học ở phương diện văn hóa đã nhanh chóng phát triển nhờ vào ưu thế nổi bật của nó trong việc khám phá nhiều giá trị sâu sắc và phong phú của văn chương Nếu con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội thì văn học là tổng hòa các hình thái ý thức của con người Nếu con người có ý thức vượt thoát những giới hạn của sự hiểu biết thì nghiên cứu văn học cũng có xu hướng thoát khỏi những ràng buộc có tính truyền thống của mình để khám phá những chiều kích mới, đó là cơ sở để chúng ta tiếp nhận nhiều trường phái

lý luận văn học mới Nghiên cứu văn học không chỉ giới hạn trong tính nghệ thuật, chức năng thẩm mỹ, cấu trúc ngôn từ nghệ thuật, hệ thống thi pháp, cá tính sáng tạo,

tư duy hình tượng v.v… mà luôn mở rộng phạm vi của lý thuyết hệ thống để đi vào những khu vườn tri thức mới Nghiên cứu văn hóa trong văn học cũng nằm trong xu hướng ấy

“Trong các thể loại văn học thì văn xuôi có sức khái quát đời sống xã hội vô cùng rộng sâu, cho nên nó có ưu thế rất lớn trong việc đi vào các nguồn mạch văn hóa, phản ánh các giá trị văn hóa một cách toàn diện và đầy đủ nhất” (Đặng Văn

Vũ 2011, tr 22) Tác phẩm văn xuôi của Sơn Nam chính là chiếc cầu nối giúp người đọc có thể đến với một vùng văn hóa đặc sắc riêng biệt ở Việt Nam Sự đặc sắc ấy của văn hóa Tây Nam Bộ được thể hiện khá đầy đủ trong các tác phẩm văn xuôi nghệ thuật Ở đó chúng ta sẽ được tiếp xúc với một nền văn hóa mà đặc tính “mới” là nét bao trùm lên cả hai phương diện địa lý và lịch sử của vùng So với cả nước, đây là khu vực có lịch sử khai phá trẻ nhất Vì vậy văn hóa vùng miền của khu vực này cũng chính là văn hóa của vùng đất mới với những nét tiếp thu và bảo tồn truyền thống dân tộc và những nét đặc sắc riêng biệt phù hợp với những điều kiện tự nhiên

và xã hội trên địa bàn Quá trình Nam tiến được phản ánh rất rõ trong văn học từ những sáng tác dân gian cho đến văn chương bác học Trong kho tàng văn học dân gian Tây Nam Bộ, ca dao, thành ngữ, truyền thuyết, giai thoại về đất và người trong quá trình khai phá mở đất chiếm số lượng khá lớn và được xem là đặc sắc, hấp dẫn nhất Đa số truyện kể, truyền thuyết dân gian đều thể hiện những đặc tính mới của vùng miền trên nhiều biểu hiện khác nhau của văn hóa Ngay cả truyện cười Bác

Ba Phi cũng tiếp nối truyền thống ấy bằng cách tái hiện lại thiên nhiên hoang dã nơi cực nam tổ quốc với một trí tưởng tượng phong phú Văn chương bác học cũng đã có

Trang 27

không ít những tác phẩm tập trung khai thác mảng đề tài này một cách thành công; trong số ấy không thể không nhắc đến nhà văn Sơn Nam Từ đây càng khẳng định được đặc trưng của các sáng tác văn học trong việc tái hiện cuộc sống và vai trò của

nó trong việc lưu giữ và truyền tải những giá trị văn hóa dân tộc

1.1.3.2 Hướng tiếp cận văn hóa học với văn học

Ngày nay nghiên cứu liên ngành ngày càng phổ biến, như đã trình bày ở phần trên, văn học luôn được đặt trong cấu trúc tổng thể của văn hóa Vì vậy, tiếp cận văn hóa học đối với văn học là đi tìm hiểu hệ thống các giá trị văn hóa ở bên trong tác phẩm Song, cũng cần tìm hiểu văn hóa như là các chất liệu để văn học lấy đó làm nguồn cảm hứng, sáng tạo nên tác phẩm, để rồi sau đó tác phẩm lại trở lại đời sống

xã hội với tư cách của văn hóa Vậy nên, tiếp cận văn hóa học đối với văn học cần phải có tư duy mở mang tính đa chiều

Một trong những lý thuyết nghiên cứu văn hóa sớm được các nhà nghiên cứu văn học trên thế giới quan tâm là lý thuyết Văn hóa - Lịch sử của Hippolyte Taine

(1828-1893) Bàn về mối quan hệ giữa văn học và văn hóa, Taine viết: “Người ta đã vạch ra rằng, tác phẩm văn học không đơn thuần là trò chơi của trí tưởng tượng, một cách kỳ quặc, tùy tiện của một tâm hồn sôi sục mà là bức ảnh chụp của các tính cách

và là nhân chứng của một trạng thái nhất định của trí tuệ Từ đây rút ra kết luận rằng: Các nhà nghiên cứu văn học qua các tượng đài văn học có thể bàn luận về việc con người của nhiều thế kỷ trước đã cảm nhận và suy nghĩ như thế nào” (Đỗ Lai

Thúy 2004: tr 47) Hippolyte Taine là người đã đưa ra khái niệm “Ba động lực đầu tiên” có vai trò quyết định đối với đặc điểm một nền văn hóa cũng như tính cách con người trong nền văn hóa đó, là (1) chủng tộc, (2) môi trường và (3) thời điểm Với ba động lực này, Taine đã nhấn mạnh những điểm quan trọng về (1) chủ thể văn hóa, (2) không gian văn hóa và (3) môi trường văn hóa

Trường phái Văn hóa và Nhân cách mà đại diện tiêu biểu là Ruth Fulton Benedict (1887-1948), Margaret Mead… chú ý tới kiểu thức (pattern)/ cấu hình (configuration) văn hóa Quan điểm lý thuyết này có ảnh hưởng đến hướng tiếp cận bản sắc văn hóa cũng như đặc điểm tính cách con người được thể hiện trong văn học Nổi tiếng hơn cả trong số các nhà nghiên cứu thành công với hướng tiếp cận văn hóa học - văn học phải kể đến Ia.V Propp ( 8 -1970) và M M.Bakhtin (1895-1975) Qua hai công trình Hình thái học truyện cổ tích và Những nguồn gốc lịch sử của truyện cổ tích thần kỳ, Propp đã soi sáng cấu trúc chung của vô vàn những truyện

Trang 28

cổ tích thần kỳ và cho thấy gốc rễ của cấu trúc này trong quan hệ với văn hóa truyền thống, cụ thể với nghi lễ thành đinh Trong những vấn đề thi pháp Dostoievski, Bakhtin đã lấy nguyên lý đối thoại để cắt nghĩa phương diện tổ chức ngôn từ cũng như xây dựng hệ thống nhân vật thể hiện những quan niệm về thế giới trong tác phẩm văn học

Ở Việt Nam, nghiên cứu văn hóa học - văn học là một hướng nghiên cứu tuy không mới mẻ nhưng nó chưa thực sự sâu rộng Việc nghiên cứu văn hóa học - văn học ở Việt Nam chưa có nhiều tác giả, nhiều công trình nghiên cứu lớn Một trong số

ít các nhà nghiên cứu có công trình tương đối thành công, nổi trội là tác giả Đỗ Lai

Thúy với tác phẩm Từ cái nhìn văn hóa (NXB Văn hóa dân tộc, HN, 1999) Trong

tác phẩm này, tác giả đã đề cập một số vấn đề khá đặc sắc như: vấn đề tín ngưỡng phồn thực; hiện tượng dâm - tục trong tác phẩm văn học; một số gương mặt các nhà nghiên cứu văn hóa như Đoàn Văn Chúc, Nguyễn Khắc Viện, Từ Chi, Trần Quốc Vượng… cùng một số nhà thơ, nhà văn với tác phẩm nổi tiếng của họ như: Bà Huyện

Thanh Quan (Qua đèo Ngang), Thâm Tâm (Tống biệt hành), Nguyễn Duy (Đò Lèn)…Trong đó, từ cái nhìn văn hóa, tác giả Đỗ Lai Thúy đã có những nhận xét khá

sắc sảo, lý thú về những vấn đề mà từ trước tới nay vẫn còn nhiều tranh cãi Chẳng

hạn, ở bài Hồ Xuân Hương hoài niệm phồn thực, tác giả viết: “Bằng con mắt văn hóa

học, người ta dễ tìm ra mối quan hệ của thơ Hồ Xuân Hương, là khía cạnh dâm, tục,

với các sáng tác của văn hóa dân gian như Tiếu lâm, Đố tục giảng thanh, Chuyện Trạng …” Hoặc, ở một đoạn khác: “Thơ Hồ Xuân Hương là sự kết hợp ở đỉnh cao

của cơ sở sâu xa là tín ngưỡng phồn thực – một sự gặp gỡ thiên tài giữa dân gian và bác học, giữa cá nhân và cộng đồng, giữa bản ngã và bản thể” (Đỗ Lai Thúy 1989: tr 26) Có được những thành quả đó là do tác giả đã vận dụng thành công phương pháp nghiên cứu văn hóa thông qua tác phẩm văn học Có thể nói, hướng tiếp cận văn hóa đối với văn học giúp các nhà nghiên cứu không chỉ tìm ra nền tảng văn hóa của thời đại được văn học đề cập; suy rộng hơn khi thông qua văn học để có thể chỉ ra, bản chất của văn hóa cùng các bước phát triển mang tính quy luật của văn hóa

Trang 29

Vận dụng hướng nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa học trong đề tài luận văn này, tập trung vào tìm hiểu đặc trưng văn hóa ẩm thực Tây Nam Bộ đã được Sơn Nam lựa chọn phản ánh trong các tác phẩm của ông

1.1.4 Một số lý thuyết sử dụng trong nghiên cứu

- Lý thuyết vùng văn hóa (Cultural area)

Lý thuyết “vùng văn hóa” ra đời vào cuối thế kỷ XIX, nghiên cứu thời gian tồn tại và không gian phân bố của các hiện tượng văn hóa; sau lý thuyết “Khuyết tán văn hóa” (truyền bá luận), “vòng văn hóa” của các nhà khoa học Tây Âu, lý thuyết “vùng văn hóa” của các nhà Nhân học Mỹ đã phát triển mạnh mẽ và tiếp nối là lý thuyết

“Khu vực văn hóa - lịch sử” của các nhà dân tộc học Xô Viết

Vùng văn hóa được Ngô Đức Thịnh định nghĩa như sau: “Vùng văn hóa là một vùng lãnh thổ có những tương đồng về mặt hoàn cảnh tự nhiên, dân cư sinh sống ở

đó từ lâu đã có những mối quan hệ nguồn gốc và lịch sử, có những tương đồng về trình độ phát triển kinh tế xã hội, giữa họ đã diễn ra những giao lưu, ảnh hưởng văn hóa qua lại, nên trong vùng đã hình thành những đặc trưng chung thể hiện trong sinh hoạt văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của cư dân, có thể phân biệt với vùng văn hóa khác.” (Ngô Đức Thịnh 2004: tr 64)

Về việc phân vùng văn hóa ở Việt Nam, có nhiều quan điểm và nhiều cách phân vùng khác nhau: Huỳnh Khái Vinh và Nguyễn Thanh Tuấn (1995) phân thành 08 vùng, Đinh Gia Khánh và Cù Huy Cận (1995) phân thành 9 vùng; Trần Quốc Vượng (1997), Chu Xuân Diên (2003), Trần Ngọc Thêm (2004) phân thành 6 vùng Hầu hết các cách chia nêu trên đều xem Nam Bộ là một vùng văn hoá Tuy nhiên, Tây Nam

Bộ được nhìn nhận khá sớm thể hiện qua tên gọi trong so sánh với Đông Nam Bộ

như: Đồng bằng sông Cửu Long, Châu thổ sông Mekong, hay miền Tây Nam Bộ (Southwestern Region) hay ngắn gọn hơn là miền Tây Về mặt khoa học, có thể thấy

vùng văn hóa Tây Nam bộ có những đặc điểm khác biệt cơ bản so với vùng văn hóa Đông Nam bộ

Trang 30

Do đó, trong luận văn này chọn cách phân chia theo quan niệm của tác giả Trần Ngọc Thêm “Văn hóa người Việt vùng Tây Nam Bộ” (2014) chia cả nước thành 08 vùng văn hóa, và cho rằng Tây Nam bộ với những đặc trưng riêng biệt, là một vùng văn hóa bên cạnh vùng văn hóa Đông Nam bộ

Tây Nam Bộ là một trong 08 vùng văn hóa của nước ta với phạm vi nghiên cứu của đề tài luận văn thực hiện phân tích nội dung ẩm thực trên cơ sở lý luận văn hóa, vùng văn hóa đã nêu trên trong việc đánh giá, xem xét những giá trị đặc trưng của ẩm thực người Việt Tây Nam Bộ

- Lý thuyết sinh thái văn hóa (Cultural ecology)

Theo quan điểm “sinh thái văn hóa” của nhà nhân học Mỹ Julian Steward cho rằng: “Nhân học sinh thái là sự tương tác giữa tự nhiên và văn hóa Nghiên cứu sinh thái văn hóa là phân tích mối quan hệ giữa một nền văn hóa và môi trường của nó Mục đích là để tìm hiểu những biến đổi xã hội bên trong mang tính chất tiến hóa bắt đầu từ sự thích nghi với môi trường để biến thành một nền văn hóa Vận dụng lý thuyết này để nghiên cứu mối quan hệ giữa văn hóa với môi trường, trong đó thể hiện

sự tương tác của môi trường văn hóa và sự tác động ngược lại của văn hóa với cách thức con người tác động đến môi trường tự nhiên.” (Bộ môn Nhân học 2010: tr 31)4

Từ cơ sở lý thuyết sinh thái văn hóa luận văn nhận diện ra những đặc trưng khả biến

của văn hóa thông qua việc cư dân người Việt Tây Nam Bộ tận dụng môi trường tự nhiên bằng cách thích ứng và cải tạo nó để phục vụ cho con người Nhận diện mối quan hệ hai chiều giữa cư dân Việt Tây Nam Bộ với hoàn cảnh tự nhiên nơi họ sinh sống và lập nghiệp, để qua đó lý giải sự tương tác hai chiều giữa cư dân với vùng đất

Trang 31

“Vị trí của một nền văn hóa trong xã hội, một vùng hay một miền nào đó …

phải được xác định bởi một hệ tọa độ, một hệ tọa độ ba chiều: thời gian văn hóa,

không gian văn hóa và chủ thể văn hóa” (Trần Ngọc Thêm, 1996, tr 33)

Thời gian văn hóa được xác định từ khi một nền văn hóa hình thành cho đến

khi kết thúc Thời gian văn hóa không thể có ranh giới rạch ròi, do vậy khởi đầu của

một nền văn hóa là thời điểm hình thành dân tộc (chủ thể văn hóa) quy định Không gian văn hóa có phần phức tạp hơn: bởi văn hóa có tính lịch sử, nên

trong không gian văn hóa có yếu tố thời gian, tuy không gian văn hóa liên quan đến

lãnh thổ nhưng không đồng nhất với không gian lãnh thổ Nó bao quát tất cả những

vùng lãnh thổ mà ở đó dân tộc đã tồn tại qua các thời đại Vì thế, không gian văn hóa

bao giờ cũng rộng hơn lãnh thổ

1.2.1 1 Không gian văn hóa

Tây Nam Bộ là vùng đồng bằng châu thổ do phù sa sông Cửu Long tạo nên

(còn được gọi là đồng bằng sông Cửu Long), miền Tây là cách gọi ngắn gọn phi

chính thức vùng Tây Nam Bộ của người dân Nam Bộ; cụm từ “người miền Tây” hàm

ý dùng để chỉ các tộc người hiện đang sống ở vùng Tây Nam Bộ bao gồm: người

Khmer, người Hoa, người Chăm, người Việt

Vùng Tây Nam Bộ bao gồm 12 tỉnh, 01 thành phố trực thuộc trung ương: Long

An, Tiền Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long, thành phố Cần Thơ, Hậu Giang, Trà Vinh,

Sóc Trăng, An Giang, Bến Tre, Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau Theo cách phân chia

theo đặc tính,đặc trưng địa lý thổ nhưỡng mà người Việt đầu tiên đến đây đặt ra được

Sơn Nam (2005) ghi lại thì vùng này gồm các “Miệt”:

- Miệt Cao Lãnh: vùng chợ Cao Lãnh ngày nay, trước kia là quận lỵ của Sa Đéc

- Miệt Đồng Tháp Mười: gồm lòng chảo Đồng Tháp Mười

- Mỹ, Vãng: Mỹ Tho, Vĩnh Long

- Miệt Dưới: vùng Rạch Giá, Cà Mau

- Miệt chợ Thủ, Miệt Ông Chưởng, theo lòng Ông Chưởng, nối sông Hậu qua

sông Tiền, tỉnh Long Xuyên

Trang 32

- Miệt Xà Tón, Bảy Núi, tức là vùng Thất Sơn và quận lỵ Tri Tôn (Châu Đốc)

- Miệt Hai Huyện (cũng là miệt Chợ Thủ, Ông Chưởng)

- Miệt Vườn, gọi tổng quát những vùng cao ráo, có vườn cam vườn quýt ở ven

sông Tiền, sông Hậu, thuộc tỉnh Sa Đéc, Vĩnh Long, Mỹ Tho, Cần Thơ (tr 241, 242)

Sự xuất hiện của các tiểu vùng thiên nhiên này hay còn gọi là miệt đó là kết

quả của “sự tranh chấp” giữa sông và biển, giữa vùng đất cũ và vùng đất mới

Tây Nam Bộ là vùng tận cùng phía Tây Nam của Việt Nam, về phía Đông Bắc giáp với Đông Nam Bộ, phía Bắc giáp với nước Campuchia, phía Tây giáp với Vịnh Thái Lan, phía Nam và Đông Nam giáp biển Đông Ngoài ra còn có các đảo tiền tiêu của Tổ quốc như quần đảo Phú Quốc, quần đảo Thổ Chu, đảo Hòn Khoai,… Đây là khu vực có nhiều đường giao thông hàng hải quốc tế quan trọng, nối Nam Á với Đông

Á, châu Úc và các quần đảo trong Thái Bình Dương; với vị thế nằm ở ngã tư quốc tế

là tâm điểm của khu vực Đông Nam Á nên Tây Nam Bộ sớm có sự tiếp xúc với các nền văn hóa bên ngoài

Vùng có diện tích là 39.734 km² và chiếm 12% diện tích cả nước (Nguồn từ:

Trung tâm nghiên cứu kinh tế miền Nam)5

Tây Nam Bộ là vùng đồng bằng phù sa mới, tương đối thấpvà bằng phẳng; nơi đây được đặc trưng bởi mạng lưới sông ngòi kênh rạch chằng chịt (2.500 km sông rạch tự nhiên và 2.500 km kênh đào)kết hợp với đường bờ biển dài trên 797km/3.260

km (Phan Thị Yến Tuyết 2014, tr.20) nên rất thuận lợi phát triển giao thông đường thủy Điều này đã được đề cập đến từ cách đây gần 200 năm trong những quyển sách đầu tiên tìm hiểu về địa lý, phong tục ở miền Tây Nam Bộ Đây được xem như một

nơi có “nhiều sông kinh, cù lao, bãi cát, nên trong 10 người đã có 9 người biết nghề bơi lội chèo thuyền (Trịnh Hoài Đức 1972: tr.12) Đặc biệt hệ thống sông Cửu Long

5

nam-2012-cua-cac-tinh-nam-bo-17/

Trang 33

http://svec.org.vn/index.php/tai-nguyen/Vung-Nam-bo/Dien-tich-dan-so-va-mat-do-dan-so-với chiều dài 4.220 km, tổng lượng nước gần 4.000 tỷ m3 cung cấp khoảng 100 triệu tấn phù sa mỗi năm đã bồi đắp nên những vùng đồng bằng phì nhiêu như Đồng Tháp Mười, tứ giác Long Xuyên, tây nam sông Hậu và bán đảo Cà Mau

“Đặc trưng văn hóa dễ nhận thấy nhất ở vùng Tây Nam bộ là thái độ và sự ứng xử của chủ thể với nguồn nước của vùng đó là: Tận dụng nguồn nước mưa tạo nên quỹ nước Tận dụng mùa nước nổi để dành nước cho mùa kiệt và với sự linh hoạt đó người dân Tây Nam bộ giữ được mức thủy cấp, ém phèn … (Đinh

Thị Dung, 2011)6”

Chế độ khí hậu và điều kiện thủy văn ở miền Tây Nam Bộ khá điều hòa Vùng này nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa điển hình với tính chất nóng ẩm, mưa nhiều, nắng đủ quanh năm Nhiệt độ trung bình hằng năm là 24-27oC, lượng mưa trung bình

từ 1.700 - 2.000 mm/năm Không có đủ bốn mùa xuân, hạ, thu, đông như đồng bằng Bắc Bộ, người Nam Bộ hầu như chỉ biết đến hai mùa mưa nắng Tuy nhiên, điều kiện khí hậu ở đây lại có những thuận lợi riêng: mùa hè không quá nóng, khô và oi bức; mùa mưa không có cái rét thấu xương và những ngày âm u như ở Bắc Bộ nên người Nam Bộ ít khi cảm thấy cái khó chịu của sự đột ngột chuyển mùa Không quá lạnh

và cũng không quá nóng, miền Tây Nam Bộ so với những nơi khác trong cả nước là

khu vực ít chịu ảnh hưởng của thiên tai nhất Ít có bão lớn, “bão ở Nam Bộ có sức gió yếu, đồng thời gây ra mưa không dữ dội như ở Bắc Bộ và Trung Bộ.” (Phạm

Ngọc Toàn và Nguyễn Tấn Đắc, 1993, tr 226) Ở đây có lũ lớn (mùa nước nổi, nước lên hàng năm) nhưng nhờ sự điều tiết, phân bố đều khắp của các dòng chảy nên không có ảnh hưởng đáng kể Nhìn chung so với cả nước, khí hậu miền Tây Nam Bộ

có những ưu điểm nổi trội với đặc tính ổn định,ít xảy ra những diễn biến bất thường qua từng năm Đây còn là vùng đã hình thành và phát triển các hệ sinh thái rừng ngập mặn, rừng tràm với nguồn lợi động - thực vật vô cùng phong phú, tạo nên sự đa dạng

6

dung-tay-nam-bo-voi-tu-cach-la-mot-vung-van-hoa-va-cac-tieu-vung-cua-no.html

Trang 34

http://www.vanhoahoc.vn/nghien-cuu/van-hoa-viet-nam/van-hoa-nam-bo/2014-dinh-thi-sinh học cao Từ những điều kiện tự nhiên, khí hậu, đất đai thuận lợi như trên đã biến miền Tây Nam Bộ thành một vùng châu thổ phì nhiêu, phát triển mạnh trong các lĩnh vực nông nghiệp, sản xuất lương thực và trồng cây ăn trái Nói đến miền Tây Nam

Bộ, không thể không nhắc đến những lời ca ngợi sự giàu có, trù phú của vùng đất

“lạc thổ” này:

“Đồng bằng làm ruộng nuôi tằm, ven biển thì phơi muối làm mắm Thổ sản rất nhiều, thức nhắm tuyệt ngon Sơn hào hải vị có thừa, của lắm vật nhiều phong phú Cá tôm bắt ở hồ, ở biển, chẳng chốn nào không; tre gỗ chặt trên rừng, trên núi, đủ dùng tùy thích… Xóm làng đông đúc, chung nghe tiếng gà tiếng chó Cỏ nước tốt tươi, đầy đồng chăn trâu chăn bò Trong công điền có cả tư điền, ngoài thuế ruộng còn nhiều thuế khác Sông hồ đầy nước, đi thuyền tiện hơn đi bộ, đất đai màu mỡ, cấy lúa tốn ít sức người.” (Dương Văn An, 1997: tr 44 – 45)

Điều kiện tự nhiên ở Tây Nam bộ rất thuận lợi cho sự sinh trưởng của các loài sinh vật “toàn bộ 900 loài thực vật phát hiện ở đồng bằng này đều nằm trong giới hạn thực vật nhiệt đới; nguồn lợi sinh vật chủ yếu là sinh vật ưa nước; hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển là nét tiêu biểu của thiên nhiên nhiệt đới, gió mùa” (Nguyễn Công Bình, Lê Xuân Diệm & Mạc Đường, 1990, tr 20)

Nhờ vào hệ thống sông MeKong, Đồng bằng sông Cửu Long đa dạng sinh học

hơn hẳn Đồng bằng sông Hồng Rừng ở Tây Nam bộ cũng mang một diện mạo riêng

Không như rừng Tây Nguyên, hay rừng Trung bộ, rừng ở đây là rừng ngập mặn (tập

trung chủ yếu ở Cà Mau và Bạc Liêu), rừng tràm đặc thù.… Chính môi trường sinh

thái này đã đưa tới một sắc thái địa - văn hóa tiêu biểu của vùng Tây Nam Bộ Đó là văn hóa hồ - rừng, người dân đã dùng rừng làm hồ chứa nước (U Minh hạ, Đồng Tháp

Mười, Tứ giác Long Xuyên…) để canh tác vào mùa khô Đặc biệt là hệ thống sinh

thái cửa sông ven biển với phong phú tôm, cá nước ngọt, nước lợ… Nơi đây còn có hệ sinh thái thủy sinh rất phong phú ở khu vực nội địa vùng biển Tây Nam Bộ Bên cạnh đó là hàng chục sân chim, nhiều nhất là tỉnh Cà Mau”

Trang 35

Từ môi trường tự nhiên đặc thù của vùng, nhiều làng nghề văn hóa độc đáo xuất hiện như: làng nghề dừa, làm đay, làm cói,… Sinh thái thủy vực dẫn đến nghề đánh bắt, nuôi trồng thuỷ sản: nghề cá ven sông, nghề cá dùng đay, lưới…

Với đặc điểm về địa hình, chế độ thủy văn như trên, từ góc nhìn địa – văn hóa, Đinh Thị Dung đã chia Tây Nam Bộ ra làm 5 tiểu vùng và tất cả các tiểu vùng đó đều cho thấy sự hiện hữu sự tác động của nhân tố sông nước (Đinh Thị Dung, 2010)

- Tiểu vùng Đồng lũ kín (Đồng Tháp Mười): có địa hình đồng trũng, thường ngập nước

- Tiểu vùng Đồng lũ hở (Tứ giác Long Xuyên): có địa hình thấp trũng, khi xổ

lũ lại đem triều mặn vào, thích hợp cho dừa nước và bạch đàn phát triển

- Tiểu vùng Phù sa ngọt: có địa hình bằng phẳng, tạo nên văn minh miệt vườn và cũng thể hiện rõ văn hoá sông nước với chợ nổi, nhà sàn ven sông, cầu khỉ

- Tiểu vùng Giồng duyên hải: là vùng chịu ảnh hưởng nhật triều với hiện tượng độc đáo là lúc con nước chưa xuống hết thì lại bắt đầu lên lại, người dân gọi là con nước lửng

- Tiểu vùng ngập mặn (Bán đảo Cà Mau): vùng đất thấp, địa hình cao ở phía biển thấp dần về phía nội địa, vùng đất phèn mặn, nổi bật với đặc trưng sinh thái hồ - rừng độc đáo” (Tr 10 – 12)

Đến đây có thể nói môi trường thiên nhiên luôn khơi dậy và đòi hỏi con người

sự thích nghi, tìm tòi, và khám phá vì nó vừa mang đến cho con người những thuận lợi nhưng mặt khác nó lại mang những khó khăn nhằm thách thức và thử thách con người … Thành quả chinh phục thiên nhiên vùng Tây Nam Bộ là một minh chứng cho thấy việc tận dụng những thuận lợi và ứng phó được với những khó khăn đã giúp con người tạo ra môi trường sống hài hòa với môi trường thiên và cân bằng được cuộc sống Không gian văn hóa với những điều kiện địa lý tự nhiên có ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành tính cách,tâm lý, phong tục tập quán, phong cách ứng xử,…của chủ thể văn hóa, mà chủ thể trong luận văn này chính là người Việt vùng Tây Nam

Bộ nên dẫn đến việc cần tìm hiểu chủ thể văn hóa vùng Tây Nam Bộ

Trang 36

1.2.1.2 Chủ thể văn hóa

Trong phạm vi nghiên cứu đề tài của luận văn chủ yếu đề cập đến chủ thể là người Việt vùng Tây Nam Bộ (bao gồm bộ phận người Kinh trong tập hợp tộc người Việt Nam, sinh sống ở khu vực Tây Nam Bộ)

Tây Nam Bộ là địa bàn sinh sống của nhiều tộc người, dân số là 17.390 triệu người, chiếm 19% dân số cả nước7 Về thành phần tộc người chủ yếu là người Việt (Kinh) chiếm 92%, người Khmer chiếm 6,88%, người Hoa chiếm 1,03%, người Chăm chiếm 0,09%, còn lại các tộc người còn lại chiếm 0,2% (Như trích dẫn ở Trần Ngọc Thêm (cb), 2014: tr 80,82,83,84)

Người Việt ở miền Tây Nam Bộ vốn là những lưu dân từ miền Bắc, miền Trung di cư vào Họ bao gồm ba nhóm chính: Thứ nhất là lớp cư dân nghèo đã đến bước đường cùng phải ra đi vì lý do kinh tế Thứ hai là những người bị kết án lưu đày hoặc tù nhân bị truy nã phải trốn đi tìm chốn náu thân Thứ ba là nhóm trí thức bất đắc chí, có tài nhưng ngang ngược, không chịu phục tùng Mặc dù là giới bình dân, học vấn thấp (như hai nhóm đầu) hay quý tộc có trình độ (nhóm thứ ba) thì họ đều có một đặc điểm chung là những người có bản lĩnh, mạnh mẽ và hết sức dương tính Trong tổng thể, văn hóa Việt Nam mang đặc trưng âm tính, hướng nội, ít di chuyển

và vốn ưa sự bảo tồn chứ không thích thay đổi, như dân gian vẫn có câu:

“Ta về ta tắm ao ta

Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn.”

Với quan niệm rời khỏi làng là gánh kiếp tha hương cầu thực,“sống là thân phận ngụ cư, là kiếm ăn quê người, chết là chết đường chết chợ, là ma lạc ma trơi, đói khát, lạnh lẽo, đến đâu cũng bị xua đuổi…”(Hồ Liên, 2008: tr.192) Bởi vậy lưu

dân đến đất Nam Bộ phải là những người hết sức bản lĩnh mới dám mạo hiểm chấp

nhận những khó khăn mà họ sắp phải đương đầu Mang theo nền văn minh lúa nước

sẵn có từ lâu đời và đi thành từng nhóm có tổ chức, người Việt đã khai sơn phá thạch

7

nam-2012-cua-cac-tinh-nam-bo-17/

Trang 37

http://svec.org.vn/index.php/tai-nguyen/Vung-Nam-bo/Dien-tich-dan-so-va-mat-do-dan-so-và trở thành những chủ thể văn hóa của miền đồng bằng hoang vu, tiềm ẩn nhiều hiểm nguy rình rập nhưng cũng chứa đựng những kho báu mà thiên nhiên ban tặng nếu con người biết tìm cách khai thác Những lưu dân này mặc dù sống trong cảnh khổ cực giữa rừng thiêng nước độc nhưng được tự do thoải mái về tinh thần, không phải chịu cảnh một ách nhiều tròng áp bức của vua chúa, quan lại như hồi còn ở nơi chốn cũ

Bên cạnh người Việt thì còn có người Khmer với dân số 1.183.476 người, chiếm 6,88% dân số toàn vùng Tây Nam Bộ Họ tập trung sinh sống chủ yếu ở các giồng đất cao từ Sóc Trăng đến những nơi khác như Trà Vinh, Kiên Giang, An Giang, Bạc Liêu, Cà Mau, Vĩnh Long, Cần Thơ, Hậu Giang

Người Hoa có số dân tuy chỉ 177.178 người chiếm 1,03% dân số ở Tây Nam

Bộ (xếp ở vị trí thứ ba, sau người Việt và người Khmer) nhưng họ cũng đã đóng một vai trò hết sức quan trọng trong tiến trình khai hoang lập làng, phát triển kinh tế Nam

Bộ trở thành một miền đất trù phú Người Hoa đến Nam Bộ bắt đầu từ khoảng năm

1671 theo phong trào bài Mãn phục Minh, bao gồm ba nhóm chính của Dương Ngạn

Địch đến khẩn hoang vùng Định Tường (Mỹ Tho, Tiền Giang); Trần Thượng Xuyên đến Cù Lao Phố (Biên Hòa, Đồng Nai) lo nghề thương mãi, canh nông; và nhóm Mạc Cửu đến Hà Tiên mở rộng thành một khu vực buôn bán sầm uất, giàu có Chỉ sau vài thế hệ, họ lập gia đình với người Việt, sinh con cháu và trở thành những người Việt Nam (Lê Thị Diễm Thúy, 2014: tr 30, 31)

Ngoài ra còn có một bộ phận người Chăm theo Islam sinh sống chủ yếu ở các tỉnh An Giang và Đồng Tháp Do biến động của Vương quốc Chămpa ở miền Trung Việt Nam đã di cư sang Champuchia, tại đây họ ảnh hưởng đạo Islam từ những thương nhân Ả rập đến buôn bán Khoảng cuối thế kỷ XIX, một bộ phận người Chăm ở Campuchia do mâu thuẫn với người Khmer bản địa và do sự ngược đãi của chính quyền Campuchia nên đã về cư trú ở vùng Tây Nam Bộ Theo tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Chăm ở Tây Nam Bộ có 15.823 người, chiếm 0,09% dân

Trang 38

số toàn vùng Tây Nam Bộ, trong đó đông nhất là ở An Giang với 14.209 người8(tr.143 -136)

Tính chất tứ xứ như một đặc trưng của chủ thể văn hóa Tây Nam Bộ, do có cùng cảnh ngộ tha hương cầu thực, có một mục đích chung là mưu cầu cuộc sống ổn định và phát triển trên vùng đất mới; chính là điều kiện nảy sinh cho sự tương trợ, tương thân tương ái của các cộng đồng dân cư chung sống trên vùng Tây Nam Bộ

Từ nguồn gốc lịch sử, hoàn cảnh sống và môi trường thiên nhiên nơi đây đã tác động đến việc hình thành những nét tính cách đặc trưng của người Việt vùng Tây

Nam Bộ Nhà văn Sơn Nam trong cuốn Văn minh miệt vườn có dẫn lại lời của nhà

văn Dương Nghiễm Mậu đã viết trong tạp chí Văn, số 80, ngày 15/04/1967, có thể

xem như là lời đúc kết về tính cách của người Tây Nam Bộ như sau: “Nhưng con người miền Nam cũng đáng yêu,đáng yêu ở nơi chất phác, hào sảng, đơn giản, thẳng thắn, hiếu khách, không hình thức lễ nghi ràng buộc một cách khe khắt Cái tinh thần bao dung rộng rãi đó hiện ra từ những lối đi, những bờ rào sơ sài, những ngôi nhà kiến trúc đơn giản như mở ra, những vườn cây trái không sắp xếp cho đến cách ăn mặc, câu nói, xưng hô Với một tấm lòng, đến bất cứ nơi đâu trong vùng sông Cửu Long, chúng ta cũng gặp được những tri âm hào sảng một cách dễ dàng.” (tr.238)

1.2.1.3 Thời gian văn hóa

Từ cách đây hàng chục vạn năm, khảo cổ học chứng minh đất Nam Bộ đã có người sinh sống.Đầu công nguyên từ khoảng thế kỷ I đến thế kỷ VII là giai đoạn xuất hiện và phát triển mạnh mẽ của nhà nước Phù Nam, chủ nhân của nền văn hóa Óc Eo (Lưu Phương Thảo, 2011, tr.20) Trong giai đoạn phồn thịnh (từ khoảng thế kỷ II

đến đầu thế kỷ VII) vương quốc Phù Nam đã “chiếm một vùng rộng lớn từ ĐBSCL

đến Nam Trung Bộ, cả vùng trung lưu sông Mekong, qua thung lũng sông Menam,

8

Dân số và nhà ở (2001), Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009, kết quả toàn bộ

NXB Thống Kê, Hà Nội

Trang 39

xuống tận bán đảo Mã Lai.” (Nguyễn Công Bình, Lê Xuân Diêm & Mạc Đường,

1990, tr 24-25)

Đến cuối thế kỷ VI, nền văn hóa Óc Eo lụi tàn, vương quốc Phù Nam suy yếu

và bắt đầu tan rã thành nhiều tiểu quốc nhỏ, trong đó có nhà nước Chân Lạp (do người Khmer xây dựng) đã nhanh chóng phát triển và thôn tính Phù Nam Từ thế kỷ

VII đến thế kỷ XV, đất Nam Bộ trở thành “vùng đệm” nơi diễn ra những cuộc tranh

chấp liên miên giữa các tiểu quốc mới trỗi dậy: giữa Chân Lạp và Champa, giữa nước Srivijaya của người Java và Thủy Chân Lạp, giữa vương triều Ayuthaya của người Thái với Chân Lạp Chiến tranh liên tục đã khiến Nam Bộ trở thành vùng đất kiệt quệ, triều đình Chân Lạp bị chia rẽ sâu sắc và bước vào thời suy vong, thậm chí không còn đủ sức kiểm soát vùng đất phía Nam Nam Bộ lúc bấy giờ bị bỏ hoang và bao phủ bởi rừng rậm hoang vu… Điều này đã được sứ thần nhà Nguyên của Trung

Quốc là Chu Đạt Quan ghi lại trong sách Chân Lạp phong thổ ký vào thế kỷ thứ XIII: “Từ chỗ Chân Bồ trở đi, phần lớn là rừng thấp cây rậm Sông dài cảng rộng, kéo dài mấy trăm dặm cổ thụ rậm rạp, mây leo um tùm, tiếng chim muông chen lẫn nhau ở đó Đến nửa cảng mới thấy ruộng đồng rộng rãi, tuyệt không có một tấc cây Nhìn ra xa thấy cây lúa rờn rờn mà thôi Trâu rừng họp thành từng đàn trăm ngàn con, tụ tập ở đấy Lại có giồng đất đầy tre dài dằng dặc mấy trăm năm Loại tre đó đốt có gai, măng rất đắng, bốn mặt đều núi cao.” (Chu Đạt Quan, 2006, tr 45-46)

Đến cuối thế kỷ XVI mới xuất hiện những người Việt đầu tiên đến khai phá đất hoang, trước hết ở Mô Xoài (Bà Rịa), Đồng Nai (Biên Hòa) - lịch sử khẩn hoang vùng đất Nam Bộ lúc bấy giờ mới thực sự bắt đầu Từ giữa thế kỷ XVII đến giữa thế kỷ XIX

là giai đoạn người Việt ra sức khai hoang lập ấp ở vùng Đồng Nai - Gia Định, từng bước cải tạo vùng đất hoang hóa, xây dựng nên cảnh quang xóm làng trù mật, đồng ruộng phì nhiêu Các nhóm quan quân triều Minh thất thế ở Trung Quốc cũng đến đây xin mở đất lập phố, làm ăn buôn bán dưới quyền chúa Nguyễn

Năm 1698, chúa Nguyễn Phúc Chu sai Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh đi kinh lý miền Nam Nguyễn Hữu Cảnh đem theo hơn bốn chục ngàn dân từ Ngũ Quảng

Trang 40

vào khai hoang, lập phủ Gia Định bao gồm hai dinh Trấn Biên, Phiên Trấn với hai huyện Phước Long, Tân Bình; đất đai lúc bấy giờ đã mở rộng ra trên 1.000 dặm Đến năm 1779 thì các chúa Nguyễn đã hoàn thành cuộc Nam tiến, thống nhất toàn lãnh thổ Nam Bộ Như vậy là chỉ sau hơn một thế kỷ, từ đầu XVII đến giữa XVIII toàn bộ khu vực Nam Bộ đã thuộc quyền cai quản của chúa Nguyễn Đến đầu thế kỷ XIX, các nước láng giềng như Cambodia, Thailand… đã kí các văn bản có giá trị pháp lý quốc tế thừa nhận chủ quyền của Nam Bộ thuộc về Việt Nam

Trong giai đoạn thực dân Pháp xâm lược, trước sức ép quân sự và vũ lực, năm

1874, nhà Nguyễn ký hiệp ước nhượng toàn bộ đất Nam Kỳ cho Pháp Sang thế kỷ

XX, với cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ thắng lợi khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, năm 1949, Pháp ký Hiệp ước Elysée trao trả Nam Kỳ cho Việt Nam - đây trở thành văn kiện có giá trị pháp lý khẳng định chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam Trải qua nhiều biến động thăng trầm: tám lần thay tên đổi họ9, những cuộc đấu tranh chống xâm lược đô hộ của thực dân Pháp, phát xít Nhật, đế quốc Mỹ, vùng đất Nam Bộ đã tạo nên một diện mạo riêng, một sắc thái riêng trong tính cách của mình, góp phần đáng kể vào sự đa dạng và phong phú của văn hóa Việt Nam

Có thể nói, với đặc thù lịch sử, vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, dân số, …đã tạo cho vùng Tây Nam Bộ, những nét văn hóa độc đáo Trong quá trình cộng cư, khai hoang, lập ấp ở vùng Tây Nam Bộ, các tộc người đã tạo nên một mối quan hệ keo sơn gắn bó, dựa vào điều kiện tự nhiên sinh sống, tạo thành một chỉnh thể văn hóa vùng

1.2.2 Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của nhà văn Sơn Nam

1.2.2.1 Cuộc đời của nhà văn

9 Gia Định Phủ (1698-1802), Gia Định Trấn (1802-1808), Gia Định Thành (1808-1832), Nam Kỳ 1867), Cochinchine tức Nam Kỳ thuộc Pháp (1867-1945), Nam Phần (1945-1975) và Nam Bộ (1945 đến nay)

Ngày đăng: 18/04/2021, 23:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Chu Đạt Quan. (2006). Chân Lạp phong thổ ký (Hà Văn Tấn dịch). Hà Nội: Nxb. Thế Giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chân Lạp phong thổ ký (Hà Văn Tấn dịch)
Tác giả: Chu Đạt Quan
Nhà XB: Nxb. Thế Giới
Năm: 2006
2. Dương Văn An. (1997). Ô châu cận lục (Trịnh Khắc Mạnh, nguyễn Văn Nguyên dịch nghĩa và chú thích). Hà Nội: Nxb Khoa Học Xã Hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ô châu cận lục (Trịnh Khắc Mạnh, nguyễn Văn Nguyên dịch nghĩa và chú thích)
Tác giả: Dương Văn An
Nhà XB: Nxb Khoa Học Xã Hội
Năm: 1997
3. Đào Duy Anh. (2014). Việt Nam văn hóa sử cương. Hà Nội: Nxb. Thế Giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hóa sử cương
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb. Thế Giới
Năm: 2014
4. Đào Tăng (2009). Đi và sống với Sơn Nam. Hồ Chí Minh: Nxb.Thanh Niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đi và sống với Sơn Nam
Tác giả: Đào Tăng
Nhà XB: Nxb.Thanh Niên
Năm: 2009
5. Đặng Văn Vũ (2011). Văn hóa và con người Tây Nguyên trong văn xuôi nghệ thuật 1945-2000. Luận án Tiến sĩ chuyên ngành Văn học Việt Nam Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa và con người Tây Nguyên trong văn xuôi nghệ thuật 1945-2000
Tác giả: Đặng Văn Vũ
Năm: 2011
6. Đoàn Giỏi (2005). Tuyển tập Đoàn Giỏi. Hà Nội: Nxb. Văn Hóa Thông Tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập Đoàn Giỏi
Tác giả: Đoàn Giỏi
Nhà XB: Nxb. Văn Hóa Thông Tin
Năm: 2005
7. Đỗ Thị Minh Thúy. (1997). Mối quan hệ giữa văn hóa- văn học. Hà Nội. Nxb. Văn Hóa Thông Tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mối quan hệ giữa văn hóa- văn học
Tác giả: Đỗ Thị Minh Thúy
Nhà XB: Nxb. Văn Hóa Thông Tin
Năm: 1997
8. Đỗ Lai Thúy. (1999). Từ cái nhìn văn hóa. Hà Nội: Nxb.Văn Hóa Dân Tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ cái nhìn văn hóa
Tác giả: Đỗ Lai Thúy
Nhà XB: Nxb.Văn Hóa Dân Tộc
Năm: 1999
9. Đỗ Lai Thúy. (2004). Sự đỏng đảnh của phương pháp. Hà Nội: Nxb. Văn Hóa Thông Tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự đỏng đảnh của phương pháp
Tác giả: Đỗ Lai Thúy
Nhà XB: Nxb. Văn Hóa Thông Tin
Năm: 2004
10. Đỗ Lai Thúy. (2006). Mối quan hệ văn hóa văn học nhìn từ lý thuyết hệ thống. Tạp chí Văn Hóa Nghệ Thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: quan hệ văn hóa văn học nhìn từ lý thuyết hệ thống
Tác giả: Đỗ Lai Thúy
Năm: 2006
11. Đặng Nghiêm Vạn. (1998). Sự tinh tế trong chế biến món ăn của người Việt. Tạp chí Văn Hóa Dân Gian Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự tinh tế trong chế biến món ăn của người Việt
Tác giả: Đặng Nghiêm Vạn
Năm: 1998
12. Đinh Thị Thanh Thủy. (2004). Văn hoá và con người Nam Bộ trong truyện của Sơn Nam. Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ chuyên ngành Văn học Việt NamTrường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá và con người Nam Bộ trong truyện của Sơn Nam
Tác giả: Đinh Thị Thanh Thủy
Năm: 2004
13. Hồ Liên. (2008). Một hướng tiếp cận văn hóa Việt Nam. Hà Nội: Nxb.Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một hướng tiếp cận văn hóa Việt Nam
Tác giả: Hồ Liên
Nhà XB: Nxb.Văn học
Năm: 2008
14. Huỳnh Công Tín (2007), Từ điển từ ngữ Nam Bộ, Hà Nội: Nxb. Khoa học Xã Hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển từ ngữ Nam Bộ
Tác giả: Huỳnh Công Tín
Nhà XB: Nxb. Khoa học Xã Hội
Năm: 2007
15. Huỳnh Lứa (cb) (1987): Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ. Hồ Chí Minh: Nxb TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ
Tác giả: Huỳnh Lứa (cb)
Nhà XB: Nxb TP. Hồ Chí Minh
Năm: 1987
17. Lê Thị Mỹ Hạnh. (2011). Văn hóa ẩm thực của người Việt miền Tây Nam Bộ. Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ chuyên ngành Văn hóa học Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa ẩm thực của người Việt miền Tây Nam Bộ
Tác giả: Lê Thị Mỹ Hạnh
Năm: 2011
18. Lê Thị Diễm Thúy. (2014). Tiến trình văn hóa của các dân tộc Khmer, Chăm, Hoa ở vùng Tây Nam Bộ từ năm 1802 đến nay. Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử Trường Đại học Sư phạm Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiến trình văn hóa của các dân tộc Khmer, Chăm, Hoa ở vùng Tây Nam Bộ từ năm 1802 đến nay
Tác giả: Lê Thị Diễm Thúy
Năm: 2014
19. Lê Thị Thuỳ Trang. (2003). Đặc điểm truyện ngắn Sơn Nam giai đoạn 1954 – 1975. Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ chuyên ngành Văn học Việt Nam Trường Đại học Sư Phạm Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm truyện ngắn Sơn Nam giai đoạn 1954 – 1975
Tác giả: Lê Thị Thuỳ Trang
Năm: 2003
20. Lý Tùng Hiếu (2009a): Đại cương ngôn ngữ - văn hóa vùng đất Sài Gòn và Nam Bộ. bản thảo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ - văn hóa vùng đất Sài Gòn và Nam Bộ
22. Lý Tùng Hiếu (2010): Các vùng văn hóa và văn hóa tộc người Việt Nam, bản thảo giáo trình đại học. trường ĐHKHXH & NV TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các vùng văn hóa và văn hóa tộc người Việt Nam
Tác giả: Lý Tùng Hiếu
Năm: 2010

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm