1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao nhận thức của phụ huynh về giáo dục giới tính nhằm giảm nguy cơ xâm hại tình dục trẻ em (điển cứu tại xã tân hiệp, huyện hóc môn, thành phố hồ chí minh)

140 29 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 140
Dung lượng 3,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÓM TẮT LUẬN VĂN Đề tài “Nâng cao nhận thức cho phụ huynh về giáo dục giới tính nhằm giảm nguy cơ xâm hại tình dục trẻ em Điển cứu tại xã Tân Hiệp, huyện Hóc Môn, TP.HCM” được tiến hành

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA CÔNG TÁC XÃ HỘI

-

CÁI THỊ XUÂN MAI

NÂNG CAO NHẬN THỨC CỦA PHỤ HUYNH VỀ GIÁO DỤC GIỚI TÍNH NHẰM GIẢM NGUY CƠ

XÂM HẠI TÌNH DỤC TRẺ EM (Điển cứu tại xã Tân Hiệp, huyện Hóc Môn, TP.HCM)

CHUYÊN NGÀNH: CÔNG TÁC XÃ HỘI

MÃ NGÀNH: 60.90.01.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

Thành phố Hồ Chí Minh - năm 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐH KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN



Thành phố Hồ Chí Minh - năm 2018

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Đề thực hiện luận văn này, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban lãnh đạo trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM, quý Thầy Cô giáo của Khoa Công tác xã hội, quý Thầy Cô trực tiếp giảng dạy các môn trong suốt quá trình học tập của em Xin cảm ơn sâu sắc và kính chúc quý Thầy Cô luôn mạnh khỏe, hạnh phúc

Bằng tâm huyết và kinh nghiệm, chuyên môn của mình, Thầy Cô không chỉ là người truyền dạy kiến thức mà còn là những người truyền lửa, tiếp thêm động lực cho em cũng như các bạn trong suốt quá trình học tập và công tác, giúp chúng em thêm yêu ngành học và hoàn thành khóa học của mình Trong khoảng thời gian được học tập tại trường, em đã thật sự trưởng thành hơn rất nhiều, đã học hỏi được thêm nhiều điều hay, bổ ích và nhiều kinh nghiệm quý báu, giúp phục vụ tốt hơn trong công việc

Và hơn hết, em xin gửi lời cảm ơn chân thành, sâu sắc đến cô giáo hướng dẫn – TS.Huỳnh Thị Ngọc Tuyết Xin cảm ơn vì cô đã luôn đồng hành cùng em và hỗ trợ, chỉ dẫn tận tình trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn của em Mặc dù đã có nhiều nỗ lực để thực hiện đề tài một cách tốt nhất tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn chế Em rất mong nhận được sự quan tâm góp ý của quý Thầy Cô để

em hoàn thiện đề tài hơn

Và em xin hứa sẽ cố gắng nhiều hơn trong thời gian tới và vận dụng những kiến thức về Công tác xã hội một cách có hiệu quả

Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2018

Học viên

Cái Thị Xuân Mai

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này do tự tôi thực hiện và không sao chép các công trình nghiên cứu của người khác, có sự hướng dẫn, hỗ trợ từ giáo viên hướng dẫn là TS.Huỳnh Thị Ngọc Tuyết Các nội dung nghiên cứu và kết quả trong luận văn này

là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào trước đây Những số liệu trong các bảng số liệu, số liệu trong các biểu đồ và hội thoại phỏng vấn sâu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá do chính tôi khảo sát, thu thập và xử lý từ thực địa nghiên cứu Ngoài ra, luận văn còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá của một số tác giả, cơ quan, tổ chức khác được trích dẫn

rõ ràng và thể hiện trong phần ghi chú, tài liệu tham khảo theo đúng quy định Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng, cũng như kết quả luận văn của mình

Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2018

Học viên

Cái Thị Xuân Mai

Trang 5

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Đề tài “Nâng cao nhận thức cho phụ huynh về giáo dục giới tính nhằm giảm

nguy cơ xâm hại tình dục trẻ em (Điển cứu tại xã Tân Hiệp, huyện Hóc Môn, TP.HCM)” được tiến hành nghiên cứu nhằm làm rõ nhận thức và quan điểm của

phụ huynh về tình hình xâm hại tình dục trẻ em hiện nay cũng như những khó khăn, hạn chế trong giáo dục giới tính cho trẻ tại gia đình; qua đó, đề xuất một số giải pháp nhằm cải thiện tình hình Đồng thời luận văn còn nhằm làm rõ mối tương quan giữa sự hỗ trợ của các cơ quan chức năng và gia đình, phụ huynh trong giáo dục giới tính cho trẻ, góp phần nâng cao nhận thức của phụ huynh và phòng tránh

có hiệu quả nguy cơ xâm hại tình dục trẻ em

Bằng các phương pháp phân tích định lượng thông qua phỏng vấn bằng bảng hỏi, phương pháp phân tích định tính thông qua hai kỹ thuật phỏng vấn sâu và quan sát, phương pháp phân tích trường hợp điển cứu (case study) và phương pháp phân tích dữ liệu thứ cấp từ địa bàn nghiên cứu và nguồn tài liệu tham khảo, học viên đã phân tích để trả lời các câu hỏi đặt ra trong đề tài Theo kết quả khảo sát, tại xã Tân Hiệp, huyện Hóc Môn, phụ huynh có nhận thức về xâm hại tình dục cũng như diễn biến và sự nguy hiểm của nó, có hiểu biết cơ bản về giáo dục giới tính và tầm quan trọng của giáo dục giới tính trong bảo vệ con cái Tuy nhiên, việc giáo dục giới tính cho con tại gia đình chưa được phụ huynh đề cao và chưa thực hiện thường xuyên Phần lớn phụ huynh không có thời gian, ngại ngùng, không biết dạy con như thế nào và cho rằng con đã được giáo dục giới tính tại trường nên ít khi, thậm chí là không chủ động trao đổi, chia sẻ ý kiến với con cái và chưa thực hiện việc giáo dục giới tính cho con tại nhà Trong khi đó, đối với các em được khảo sát, gia đình - mà

mẹ là chủ thể chính - là người mà các em mong muốn được chỉ dạy, chia sẻ nhiều hơn những kiến thức về giáo dục giới tính để được chăm sóc tốt hơn và biết cách tự bảo vệ bản thân

Với vai trò là một tác viên cộng đồng, từ những kết quả nghiên cứu, học viên đề xuất một số giải pháp với từng đối tượng để nâng cao nhận thức của phụ huynh về giáo dục giới tính nhằm giảm nguy cơ xâm hại tình dục trẻ em Trong đó, giải pháp

chính là triển khai thực hiện mô hình “Vòng tròn yêu thương”, với sự tham gia góp

sức của chính quyền địa phương, các đoàn thể chính trị - xã hội, phụ huynh và chính bản thân trẻ em Kỳ vọng sau khi triển khai thực hiện mô hình sẽ mang lại hiệu quả để có thể nhân rộng và góp phần tích cực trong công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 3

3 Ý nghĩa của nghiên cứu 9

4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 10

5 Phạm vi nghiên cứu 10

6 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 10

7 Câu hỏi nghiên cứu 11

8 Giả thuyết nghiên cứu 11

9 Phương pháp nghiên cứu 11

10 Kết cấu bản luận văn 14

PHẦN NỘI DUNG 16

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về đề tài nghiên cứu 16

1.1 Một số lý thuyết liên quan đến đề tài nghiên cứu 16

1.2 Các khái niệm, thuật ngữ liên quan 17

1.3 Luận giải về nội dung giáo dục giới tính cho trẻ 22

1.4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến nâng cao nhận thức của phụ huynh 26

1.5 Tổng quan về tình hình xâm hại tình dục trên thế giới và tại Việt Nam 27

1.6 Tổng quan về tình hình giáo dục giới tính trên thế giới và tại Việt Nam 33

1.7 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 37

Chương 2: Nhận thức của phụ huynh về xâm hại tình dục trẻ em, giáo dục giới tính cho trẻ và vai trò, trách nhiệm của gia đình trong giáo dục giới tính cho trẻ 42

2.1 Thực trạng về xâm hại tình dục trẻ em ở xã Tân Hiệp 42

2.2 Thực trạng giáo dục giới tính cho trẻ tại xã Tân Hiệp 46

2.3 Vai trò của gia đình trong việc GDGT cho trẻ 60

Trang 7

Chương 3: Một số giải pháp nâng cao nhận thức cho phụ huynh về giáo

dục giới tính nhằm giảm nguy cơ xâm hại tình dục trẻ em 67

3.1 Vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội (hội Liên Hiệp phụ nữ, Đoàn Thanh niên) trong việc nâng cao nhận thức của phụ huynh về giáo dục giới tính 67

3.2 Tăng cường sự liên kết, phối hợp các cơ quan, đoàn thể và nâng cao nhận thức cho phụ huynh về giáo dục giới tính nhằm giảm nguy cơ xâm hại tình dục trẻ em 69

3.3 Mô hình hỗ trợ nâng cao nhận thức cho phụ huynh về giáo dục giới tính thông qua phối kết hợp 3 thiết chế xã hội là gia đình, trường học và xã hội mà chủ thể chính là Đoàn Thanh niên và Hội Liên hiệp Phụ nữ (cấp xã): một số kết quả thực nghiệm bước đầu 73

KẾT LUẬN 83

KHUYẾN NGHỊ 85

TÀI LIỆU THAM KHẢO 86

Trang 9

DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU

1 Bảng 2.1 Bảng so sánh thực trạng về XHTD trẻ gặp phải và

phụ huynh nghe (kết quả khảo sát 100 phụ huynh và 100 trẻ) 44

2 Bảng 2.2 Cách xử lý của phụ huynh khi nghe con chia sẻ

3 Bảng 2.3 Sự chủ động tìm hiểu kiến thức GDGT của phụ

4 Bảng 2.4 Người quan trọng nhất trong GDGT cho trẻ 55

5 Bảng 2.5 Những nội dung cha mẹ và con thường trao đổi về

6 Bảng 2.6 Cha mẹ bắt đầu GDGT cho con khi nào 56

7 Bảng 2.7 Người GDGT cho con hiệu quả nhất 62

8 Bảng 2.8 Nội dung và nguồn thông tin trẻ mong muốn được

9 Bảng 2.9 Mức độ tham gia của phụ huynh trong các tổ chức Đoàn – Hội 68

Trang 10

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

1 Biểu đồ 2.1 Nhận thức của phụ huynh về thế nào là hành vi

XHTD

43

2 Biểu đồ 2.2 Nhận thức của trẻ về thế nào là hành vi XHTD 43

3 Biểu đồ 2.3 Nhận thức của phụ huynh về GDGT 48

4 Biểu đồ 2.4 Các kiến thức GDGT phụ huynh có được từ đâu 49

6 Biểu đồ 2.6 Kiến thức GDGT trẻ em có được từ đâu 51

7 Biểu đồ 2.7 Lý do cha mẹ không GDGT cho con 52

8 Biểu đồ 2.8 Mức độ trao đổi về giới tính giữa phụ huynh và trẻ 56

9 Biểu đồ 2.9 Người quan trọng nhất trong GDGT cho trẻ 61

Trang 11

DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ

4 Sơ đồ 3.2 Sơ đồ mô hình “Vòng tròn yêu thương” 74

Trang 12

xã hội trong thời gian vừa qua khi hàng loạt các sự việc được tố cáo và là dấu hiệu cảnh báo về nguy cơ xâm hại tình dục trẻ em hiện nay

Hiện nay, các vụ việc về xâm hại tình dục được tố cáo, lên án khá nhiều: từ việc người nổi tiếng, người xa lạ và người thân xâm hại tình dục trẻ em; xâm hại tình dục tập thể rồi giết trẻ em; thầy giáo, nhân viên bảo vệ nhà trường xâm hại tình dục nhiều h c sinh; người cao tuổi xâm hại tình dục trẻ em; một số vụ mang tính loạn luân như cha dượng xâm hại con riêng của vợ, cha đẻ xâm hại con gái ruột hay em

A, B, C tự tử hay rối loạn thần kinh vì bị xâm hại tình dục trong một thời gian dài, v.v Hơn nữa, theo công bố của các cơ quan chức năng, các đối tượng có hành vi xâm hại tình dục trẻ em phần lớn là đối tượng chưa có tiền án, tiền sự, có quan hệ gần gũi với nạn nhân, có thể là hàng xóm, những người gần gũi hoặc h hàng của nạn nhân

Vấn đề đặt ra, hiện nay có 17 cơ quan có trách nhiệm chăm sóc, bảo vệ trẻ em, cũng như đấu tranh phòng, chống xâm hại trẻ em (Quốc hội khóa XIII, 2016), tuy các cơ quan chức năng có nhiều nỗ lực trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm xâm hại tình dục, các Hội – Đoàn thể tổ chức các chương trình, hội thảo về bảo vệ trẻ em trước vấn nạn xâm hại tình dục, giáo dục giới tính cho con trẻ, v.v song tình trạng xâm hại tình dục trẻ em vẫn đang diễn biến phức tạp Theo thống kê của Cục Cảnh sát Hình sự, Tổng cục Cảnh sát, Bộ Công an, từ năm 2014 đến năm

2016, toàn quốc đã phát hiện 4.147 vụ xâm hại tình dục trẻ em, với 4.320 đối tượng gây án, xâm hại 4.140 em; riêng 6 tháng đầu năm 2017 đã phát hiện 696 vụ xâm hại tình dục trẻ em, với 716 đối tượng gây án Nạn nhân bị xâm hại chủ yếu là trẻ

em gái (chiếm trên 80%) Tuy nhiên con số này chỉ là những vụ việc được báo cáo, còn rất nhiều vụ nạn nhân bị chính kẻ xâm hại d a dẫm hoặc vì lý do nào đó đã không được thống kê (Tổng cục Cảnh sát - Bộ Công an, 2017) Trong quý I/2017, Bệnh viện Phụ sản Trung ương đã khám và chăm sóc cho 33 trẻ bị xâm hại tình dục, trong đó trẻ ít tuổi nhất là 4 tuổi, ngoài ra còn có 29 trẻ dưới 16 tuổi sinh con (Vụ Pháp chế - Bộ Y tế, 2017) Có nhiều ý kiến và giải pháp được đưa ra cho vấn

đề này, tuy nhiên, hiệu quả mang lại chưa cao và không phải ai cũng đang có cách làm đúng Như vậy, trước sự an toàn của 26 triệu trẻ em trên cả nước hiện nay, cần làm rõ trách nhiệm của gia đình, nhà trường và xã hội trong việc bảo vệ các em Theo các nguồn tài liệu tham khảo, có nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan dẫn đến xâm hại tình dục: do bệnh lý, sự ham muốn, sự thiếu quan tâm từ

Trang 13

2

những người xung quanh, sự mặc cảm, che giấu khi bị xâm hại tình dục, trẻ em thiếu kiến thức và kỹ năng về giáo dục giới tính, phòng tránh xâm hại tình dục, v.v Theo quan điểm của h c viên, một trong những nguyên nhân chính gây nên nhiều

hệ lụy đáng tiếc từ vấn đề xâm hại tình dục đó là việc cha mẹ chưa có nhận thức đúng đắn trong việc giáo dục giới tính cho các con – nguyên nhân sâu xa của sự thiếu hụt hoặc chậm trễ trong việc trang bị kiến thức, kỹ năng cho trẻ em

Việc trang bị các kiến thức về giáo dục giới tính cho trẻ có vai trò quan tr ng và tác động tích cực trong việc giảm nguy cơ bị xâm hại tình dục Từ những kiến thức

và kỹ năng h c được, trẻ có thể nhận diện được các tình huống nguy hiểm và linh hoạt hơn trong xử lý các tình huống để bảo vệ chính mình Bên cạnh vai trò giáo dục của nhà trường, sự quan tâm của cộng đồng xã hội thì vai trò của gia đình, cha

mẹ trong giáo dục giới tính cho trẻ là rất quan tr ng Trong khi xã hội đang lên án hàng loạt những vụ ấu dâm, xâm hại tình dục trẻ em thì cha mẹ đang loay hoay không biết làm cách nào để bảo vệ con mình Theo truyền thống và văn hóa của nước ta, vấn đề về giới tính hay tình dục rất tế nhị và nhạy cảm Do vậy, để có thể thẳng thắn và cởi mở chia sẻ là điều không dễ và không phải ai cũng làm được Có nhiều ý kiến đã được đưa ra cho vấn đề này: Có nên giáo dục giới tính cho trẻ hay không? Nên giáo dục giới tính cho trẻ từ khi nào? Tuổi nào thì nên giáo dục những gì? Cha mẹ có vai trò như thế nào trong giáo dục giới tính cho con?, v.v Tuy nhiều giải pháp hay được đưa ra, nền tảng kiến thức giáo dục giới tính phong phú và thiết thực, nhưng hiện nay nhiều phụ huynh, gia đình vẫn chưa có nhận thức toàn diện

về giáo dục giới tính, chưa thực sự quan tâm giáo dục giới tính cho con Phụ huynh đang kỳ v ng vào sự giáo dục của nhà trường trong khi nhà trường chỉ giúp gợi

mở, giúp trẻ làm quen với vấn đề, chính phụ huynh sẽ phải là người đồng hành với trẻ để dạy trẻ những vấn đề về giáo dục giới tính và thậm chí là kiểm tra lại xem những gì trẻ h c được đã đúng chưa hay trẻ đã tiếp thu được những gì từ nhà trường về vấn đề này Nhà trường liệu còn an toàn chăng khi gần đây, hàng loạt vụ

án được phanh phui và kẻ xâm hại trẻ không phải ai khác mà chính là người trực tiếp dạy dỗ và truyền đạt kiến thức cho trẻ, là những người mà cha mẹ đã kỳ v ng

sẽ thay h chăm sóc và giáo dục cho con cái h

Như vậy, việc chú tr ng giáo dục giới tính để góp phần giảm và ngăn ngừa nguy cơ bị xâm hại tình dục ở trẻ em là cần thiết, cấp bách và cần đặt ra cho người giữ vai trò quan tr ng nhất là cha, mẹ hoặc người chịu trách nhiệm chính nuôi dưỡng các em Với mong muốn có cái nhìn chuyên sâu, đa chiều về quan điểm, cách làm của các bậc phụ huynh trong giáo dục giới tính cho trẻ để từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm thay đổi, nâng cao nhận thức của phụ huynh, góp phần tích cực và hiệu quả trong việc giáo dục giới tính và bảo vệ trẻ em trước xâm hại tình

dục, h c viên ch n đề tài “Nâng cao nhận thức của phụ huynh về giáo dục giới tính

nhằm giảm nguy cơ xâm hại tình dục trẻ em (điển cứu tại xã Tân Hiệp, huyện Hóc Môn, TP.HCM)” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình H c viên hy v ng những

Trang 14

Mỗi một vùng, lãnh thổ, quốc gia khác nhau với những nền văn hóa đặc trưng

có những chuẩn mực giá trị, luật pháp, tập tục, nhận thức, thái độ và cách thức khác nhau về giáo dục giới tính (GDGT) cho trẻ em

Theo Ford & Baech (1951), các công trình nghiên cứu chỉ ra rằng, các nền văn hóa rất khác biệt nhau trong việc GDGT và chuẩn bị cho thanh niên về cuộc sống tình dục Ở một số nơi, GDGT được khuyến khích, dạy cho trẻ từ rất sớm, như: trên đảo Ponape, trẻ em từ 4 đến 5 tuổi được người lớn giáo dục tình dục một cách kỹ lưỡng và khuyến khích thực hành với nhau; Trong tộc người Chewa ở Châu Phi bố

mẹ cho rằng thực hành tình dục sẽ làm cho cá nhân hoàn hảo, với sự đồng ý của bố

mẹ trẻ trai và trẻ gái làm lều chơi trò vợ chồng với nhau Hoặc theo như các hiện vật cổ tìm thấy cho thấy ở Trung Quốc các cô gái khi về nhà chồng thường được

mẹ đặt trong rương quần áo, hay hộp của hồi môn những món quà quý giá nhất Đó

là những quyển sách dạy làm tình, có mô tả hoặc thường là hình vẽ dạy các tư thế làm tình sao cho cả hai vợ chồng đều đạt đến khoái cảm cao nhất (loại hình GDGT

cổ đại) (Lê Thị Thu Hiền, Huỳnh Thị Phấn & Ya Por Ybon, 2015)

Ở các nước Tây Âu và Bắc Âu như Vương quốc Anh, Đan Mạch, Thụy Điển đã tiến hành giáo dục h c sinh khá sớm (1966) Ở Pháp chương trình giáo dục nội dung này thực hiện từ năm 1973 Đặc biệt một số nước ở Châu Á, Châu Phi, Châu

Mỹ Latinh cũng đưa chương trình GDGT vào trường phổ thông và đạt nhiều kết quả tốt Trung Quốc tiến hành GDGT cho h c sinh từ năm 1974 và hiện nay là một trong những nước có nhiều công trình nghiên cứu cũng như có nhiều bước tiến trong phát triển khoa h c về giới tính, nhằm cung cấp cho các em những kiến thức

và kỹ năng liên quan đến sự phát triển về tâm sinh lý của bản thân

Do ngày càng hiểu rõ vai trò và tầm quan tr ng của GDGT nên ở nhiều nước đã

có nhiều dự án, chương trình giáo dục về giới tính cho các em h c sinh Tùy vào điều kiện phát triển của từng vùng miền vào khả năng thực hiện nên có những chương trình riêng như nghiên cứu sức khỏe sinh sản (SKSS) và giáo dục dân số (1984, 1986), các hội nghị UNESCO khu vực đã làm sáng tỏ những yêu cầu về giáo dục đời sống gia đình và GDGT trong quá trình giáo dục dân số ở các nước khu vực Châu Á - Thái Bình Dương Ở Châu Mỹ La tinh có nhiều nước đưa dịch

vụ SKSS cho thanh niên về tình dục, kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ), bệnh lây truyền qua đường tình dục và phá thai Ở Châu Phi, một số nước có chương trình huấn luyện cán bộ giáo dục đồng đẳng để cải thiện công tác giáo dục SKSS và tình

Trang 15

Báo cáo của các chuyên gia thực hiện chương trình Talking Parents, Healthy Teens (là chương trình được phát triển để giúp các bậc cha mẹ cải thiện kỹ năng giao tiếp của mình và con về các chủ đề nhạy cảm) cung cấp nhiều thông tin về kinh nghiệm giáo dục cho cha mẹ Chương trình bao gồm tám buổi (01 giờ/tuần) có

sự tham gia của nhóm 15 cha mẹ của trẻ vị thành niên (gặp các vấn đề về khó khăn trong giao tiếp với các con; thiếu kỹ năng và phương pháp dạy con về chủ đề giới tính, tình dục) và một điều phối viên đã qua đào tạo, nội dung chương trình là dạy các kỹ năng cụ thể của cha mẹ bao gồm lắng nghe tích cực và sử dụng những tình huống thực hành để dạy các con Ngoài ra, phụ huynh được cung cấp thông tin, sự lựa ch n và tư vấn về một loạt các chủ đề liên quan đến tình dục và các mối quan

hệ, cũng như cách thức và thời điểm nói chuyện với trẻ em; các bài h c tương tác

và nâng cao với vai trò chơi, tương tác quay video, trò chơi và thảo luận Kết quả cho thấy, sau quá trình tham gia, hầu hết các thành viên đều có được các kỹ năng

và sự cởi mở khi giao tiếp với con của mình về chủ đề tình dục và giới tính Bên cạnh đó, có 72% cha mẹ xác nhận rằng chắc chắn h sẽ giới thiệu chương trình đến bạn bè và đồng nghiệp (Eastman KL, Corona R & Schuster MA, 2006)

Nhìn chung, các kết quả điều tra, nghiên cứu tại nhiều nơi trên thế giới cho thấy, GDGT ngày càng trở nên quan tr ng, cần thiết và có nhiều chương trình được đưa ra nhằm hỗ trợ, cung cấp các kiến thức về GDGT, SKSS cho trẻ em và thanh niên

* Tại Việt Nam:

Do ảnh hưởng của tư tưởng phong kiến, nhiều người Việt Nam xem tình dục là điều cấm kỵ đối với con trẻ, cho rằng tuyệt đối không được để cho tâm hồn trẻ em vẫn đục bởi những thứ ái tình lục dục, thường thì lớn lên tự chúng sẽ biết Điều này được thể hiện trong câu tục ngữ “Nam nữ thụ thụ bất thân” Những lời nói, cử chỉ của con gái và con trai phải ý tứ, không được tùy tiện, nếu như có sự thắc mắc hay quan tâm đến vấn đề về giới thì không được cha mẹ hưởng ứng, trái lại còn bị xem

là hư hỏng, không đoan chính

Trang 16

5

Từ năm 1985 có nhiều công trình nghiên cứu về giới tính, tình yêu, hôn nhân gia đình đã được công bố Các tác giả Đặng Xuân Hoài, Trần Tr ng Thủy, Phạm Hoàng Gia, Nguyễn Thị Đoan,…đã nghiên cứu nhiều khía cạnh chi tiết của giới tính và GDGT Những công trình này đã nêu lên nhiều vấn đề phong phú đa dạng

về GDGT ở Việt Nam

Từ năm 1988, một đề án quy mô lớn nghiên cứu về giáo dục đời sống gia đình

và giới tính cho h c sinh (g i tắt là giáo dục đời sống gia đình) có kí hiệu VIE/88/P09 (g i tắt là đề án P09) đã được Hội đồng chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Viện khoa h c giáo dục Việt Nam thông qua và cho phép thực hiện với sự tài trợ của UNFPA và UNESCO khu vực Mục tiêu chính của nghiên cứu này là tìm hiểu những quan niệm về tình bạn, tình yêu, hôn nhân và nhận thức và thực trạng về GDGT của giáo viên, h c sinh, phụ huynh,… trong cả nước để chuẩn bị tiến hành cho GDGT cho h c sinh phổ thông từ lớp 9 đến lớp 12

Từ khoảng năm 1990 đến nay, ở Việt Nam đã có nhiều dự án quốc gia, nhiều

đề tài nghiên cứu phối hợp với các tổ chức quốc tế nghiên cứu các vấn đề về giới hay giới tính và các nội dung có liên quan như: giáo dục SKSS, giới tính, tình yêu trong thanh niên, đời sống gia đình,…

Những công trình nghiên cứu trên đã làm rõ được thực trạng, nhận thức, thái độ

về GDGT của giáo viên, h c sinh, phụ huynh; các quan điểm về tình yêu, tình bạn, hôn nhân và gia đình Tuy nhiên, vẫn chưa làm rõ được vai trò, sự cần thiết của GDGT hay những biện pháp nhằm tăng cường hiệu quả của GDGT, nâng cao nhận thức của phụ huynh

Bên cạnh những công trình nghiên cứu của các tác giả, có nhiều quyển sách có tính chất là sách giáo khoa về GDGT như:

Cuốn sách “Giáo dục giới tính” của tác giả Nguyễn Văn Lê & Nguyễn Thị

Đoan (1997) khẳng định tầm quan tr ng của việc GDGT, đó là quá trình rèn luyện cho thế hệ trẻ những phẩm chất, tính cách, hành vi và thái độ cần thiết, đúng đắn trong quan hệ với người khác giới, hình thành ở h những quan hệ đạo đức lành mạnh cũng như tình cảm trong sáng, đẹp đẽ giữa nam và nữ Từ cuốn sách này, người đ c sẽ có ý thức về việc GDGT là một phần quan tr ng trong nội dung giáo dục đời sống gia đình

Cuốn sách “Giáo dục giới tính cho con” của nhóm tác giả Nguyễn Thanh Bình,

Vũ Thị Sơn, Lưu Thu Thủy & Đào Thị Oanh (2001) đề cập đến vai trò của gia đình trong GDGT và những vấn đề chung của gia đình với việc GDGT cho con, những nội dung GDGT cụ thể, những điều cần quan tâm trong GDGT qua từng giai đoạn phát triển tâm lý giới tính, cách giải quyết một số tình huống điển hình có thể xảy

ra trong thực tế

Trang 17

6

Cuốn sách “Nói chuyện giới tính không khó” của tác giả Võ Thị Minh Huệ

(2013) hướng dẫn bậc cha mẹ GDGT cho con một cách ý nhị để có thể trò chuyện với con cái về những vấn đề thay đổi của tuổi mới lớn Nội dung sách gồm những kiến thức cần thiết về y h c, tâm lý, luật lệ và những lời khuyên giải thích hợp liên quan đến m i khía cạnh của vấn đề giới tính và tình dục Bên cạnh đó, sách đề cập tới các vấn đề xung quanh giới tính: sự thay đổi cơ thể khi dậy thì, sự hình thành một con người, em bé ra đời ra sao, tình dục an toàn, rối loạn hành vi tình dục, lạm dụng tình dục Quyển sách có lối trình bày sinh động những kiến thức lý thuyết với kinh nghiệm thực tế, ngôn ngữ giản dị để người đ c hiểu và dễ tiếp cận

Những quyển sách này đã cung cấp các kiến thức cơ bản về vai trò và nội dung GDGT, hướng dẫn cách để cha mẹ GDGT cho trẻ Tuy nhiên, chưa làm rõ được vai trò, trách nhiệm của cha mẹ trong việc GDGT cho con Bên cạnh đó, việc truyền tải các thông tin qua sách có mặt tích cực và mặt hạn chế (ví dụ như đối tượng tiếp cận với các nguồn thông tin từ sách rất hạn chế)

Về nội dung GDGT còn có nhiều nghiên cứu, bài viết của các tác giả:

Nghiên cứu“Vai trò của gia đình nông thôn trong việc giáo dục giới tính cho

trẻ em ở độ tuổi thiếu niên” của tác giả Đặng Thị Lan Anh (2003) nhấn mạnh đến

vai trò của gia đình trong việc GDGT cho trẻ Theo các tác giả, GDGT là một lĩnh vực trong việc nuôi dạy con cái, muốn có kết quả tốt trong việc giáo dục thì vai trò của cha mẹ vừa là cha mẹ, vừa là thầy cô, vừa là những người bạn thân thiết của con cái Vì con cái rất muốn hỏi những thắc mắc với cha mẹ xoay quanh các vấn đề liên quan đến những biểu hiện về tâm sinh lý của bản thân, thậm chí trẻ mượn những vấn đề của bạn bè để thông qua đó nói lên vấn đề của mình Tuy nhiên cha

mẹ thường có xu hướng lờ đi hoặc giải thích sơ qua những vấn đề trẻ thắc mắc, vì thiếu kiến thức, thiếu kỹ năng và vì GDGT là vấn đề tế nhị Cũng chính vì vậy mà trẻ trong giai đoạn mới lớn lại tìm đến những phim ảnh, sách báo với nội dung không lành mạnh và muốn khám phá nhiều hơn vì tò mò Từ đó, các tác giả đề xuất một số giải pháp góp phần thúc đẩy vai trò của cha mẹ trong giáo dục con cái: cung cấp kiến thức để cha mẹ tự tin khi trao đổi với con; khắc phục trạng thái tâm lý ngại ngùng vì cho rằng GDGT là chuyện tế nhị, riêng tư, thậm chí là chuyện “của người lớn”; hướng dẫn cho cha mẹ để hình thành kỹ năng giáo dục cho con; đồng hành, chia sẻ cùng với con cái những thắc mắc không biết nói cùng ai, những khó khăn trong cuộc sống…thông qua nội dung và phương pháp GDGT cho hợp lý để trẻ vị thành niên tránh xa tệ nạn xã hội, có hiểu biết sâu sắc về vấn đề giới tính và phát triển toàn diện về tâm, thể, trí lực

Bài viết “Về vấn đề giáo dục giới tính cho trẻ em trong gia đình” đăng trong

tạp chí Xã hội h c của tác giả Nguyễn Thị Tố Quyên (2005) đề cập đến vấn đề GDGT cho trẻ em trong gia đình Tác giả nêu ra nhiều nguyên nhân dẫn đến việc trẻ em không được GDGT từ cha mẹ và nhà trường do tâm lý ngại ngùng nên

Trang 18

Trong bài viết “Người lớn là rào cản khi giáo dục giới tính” của tác giả Lê

Hiền (2012), bằng việc cung cấp những số liệu nghiên cứu của Trung tâm Sáng kiến sức khỏe và dân số tác giả đã chứng minh việc thiếu hụt kiến thức về giới tính

ở độ tuổi vị thành niên là rất lớn, đồng thời cũng chỉ ra những sai lầm trong quan niệm của cha mẹ và thầy cô trong việc GDGT Theo tác giả việc GDGT trong nhà trường còn mang tính hàn lâm, khô cứng, không thiết thực, khiến cho nó trở nên nhàm chán không thu hút được sự quan tâm và hứng thú của h c sinh Vì thế, các

em có xu hướng tự tìm hiểu, khám phá, đây chính là nguyên nhân dẫn đến những suy nghĩ và hành vi lệch lạc về giới tính Bài viết cũng thể hiện những mong muốn của trẻ trong việc tiếp cận với những thông tin về giới, h mong muốn người lớn quan tâm một cách nghiêm túc về vấn đề tình yêu, tính dục của tuổi vị thành niên Thông qua bài viết tác giả muốn nhấn mạnh tầm quan tr ng của việc giáo dục về giới tính, nhất là vai trò của người lớn đối với vấn đề này

Theo báo cáo kết quả khảo sát trực tuyến dựa trên nhóm người trả lời trực tuyến

về vấn đề GDGT cho trẻ em của Công ty chuyên về khảo sát trực tuyến Vinaresearch, công ty đã khảo sát trực tuyến các bậc cha mẹ độ tuổi từ độ tuổi 20 với 1.100 mẫu hợp lệ và cho ra các kết quả, số liệu khá cụ thể, rõ ràng và chi tiết Cuộc khảo sát gồm những câu hỏi thiết thực liên quan tới vấn đề cha mẹ GDGT cho trẻ Theo đó cha mẹ là người chịu trách nhiệm chính trong việc GDGT cho con, tuy nhiên, tỷ lệ người mẹ áp dụng phương pháp giáo dục con tại nhà nhiều hơn người cha (88.1% và 11.9%) Có 87% cha mẹ ch n giữ thái độ tự nhiên, thẳng thắn trả lời cho con, nhưng trong đó 46.9% trả lời chung chung, không chi tiết và thấu đáo Kết quả khảo sát cho thấy cha mẹ có nhiều xu hướng nhìn nhận tích cực về vấn đề GTGT cho trẻ, hơn 80% cha mẹ ủng hộ việc áp dụng GDGT cho con tại trường với lý do để con được trang bị kiến thức về giới tính một cách đầy đủ, phát triển toàn diện và tránh việc con bị lạm dụng tình dục ngoài ý muốn (58.4%) Bên cạnh đó, có 36.1% cha mẹ không ủng hộ vì lo sợ ảnh hưởng đến tâm lý của trẻ nếu giáo dục về giới tính quá sớm; kích thích tính tò mò/tự tìm hiểu về các vấn đề tình

Trang 19

8

dục quá sớm ở trẻ (35%); lo sợ các bài h c không phù hợp cho trẻ (33.3%) Hơn 80% cha mẹ đồng ý GDGT nên là một phần bắt buộc trong chương trình giảng dạy bậc trung h c và phải tập trung các vấn đề ngăn ngừa, cưỡng bức hoặc bạo lực tình dục và 67% cha mẹ đồng ý GDGT nên là một phần bắt buộc trong chương trình giảng dạy bậc tiểu h c Về độ tuổi phù hợp để GDGT là 10 -16 tuổi, riêng đối với các vấn đề về “định hướng giới tính” và “nhận biết phương pháp phản ứng trong các tình huống bị lạm dụng, cưỡng bức hoặc bạo lực tình dục”, độ tuổi thích hợp để bắt đầu h c là 7 tuổi trở lên, nhiều người cho rằng “thà vẽ cho hươu chạy đúng đường còn hơn là để hươu chạy sai đường”(Vinaresearch, 2016)

Bài viết “Cha mẹ với việc giáo dục giới tính trong gia đình” của tác giả Đào

Thị Vân Anh (2012), Trung tâm Nghiên cứu Giáo dục phổ thông đã đưa ra những dẫn chứng cụ thể cần thiết về việc GDGT cho trẻ, những nguyên nhân khách quan

và chủ quan, hậu quả của việc GDGT không đúng cách Tác giả cho rằng: “Giáo

dục tình dục thật ra có mục đích duy nhất là chuẩn bị cho con cái một tâm lý phù hợp nhất trong cuộc sống yêu đương để rồi có một đời sống tình dục thực sự hài lòng, thực sự hạnh phúc trong quan hệ vợ chồng sau này.” Việc cha mẹ GDGT hay

không GDGT cho con cái và giáo dục thế nào cho đúng và hiệu quả sẽ ảnh hưởng rất lớn tới việc phát triển tâm lý cũng như tình dục của trẻ bị sai lệch, hiểu sai về vấn đề giới tính thì sẽ rất dễ mắc phải những hậu quả khôn lường Tác giả kết luận rằng cần GDGT cho trẻ tự nhiên, bình thường như các chương trình giáo dục khác

và phải có sự nối kết chặt chẽ hai chiều giữa cha mẹ và con cái Những phân tích cụ thể của tác giả cho ta thấy tầm quan tr ng của cha mẹ trong GDGT cho trẻ, giúp trẻ nâng cao kiến thức về giới và giới tính

Trong bài viết “Giáo dục giới tính và thái độ của người lớn” của tác giả

Nguyễn Thụy Anh (2016), tác giả cho rằng ngay từ khi còn rất nhỏ trẻ đã có những thắc mắc, tò mò về vấn đề giới tính thông qua các câu hỏi được đặt ra cho bố mẹ

Đó chính là những tìm hiểu đầu tiên về giới tính chính đáng cần được bố mẹ giải đáp rõ ràng, khéo léo, dễ hiểu chứ không phải lảng tránh hoặc lờ đi Bắt đầu từ những hỏi - đáp như thế, bố mẹ có thể GDGT cho con rất nhẹ nhàng và tự nhiên Nếu bố mẹ có thói quen bỏ qua không đối mặt với những câu hỏi hóc búa của con hoặc những câu hỏi liên quan đến các vấn đề tế nhị, không sớm thì muộn đứa trẻ sẽ tiếp cận nguồn thông tin khác để thỏa mãn tò mò của mình Đây chính là bước đầu tiên cho việc chính các phụ huynh bị sốc sau này khi bé con khoe những kiến thức thu nhặt được bên ngoài, từ các nguồn đáng tin hoặc chưa được kiểm chứng Cũng theo tác giả vai trò của bố mẹ hoặc giáo viên rất quan tr ng H phải vượt qua được cảm giác ngại ngùng khi bàn vấn đề này với trẻ và tỏ ra rất bình thản, đúng mực, không hoảng hốt Thái độ đó khiến trẻ nhìn vấn đề một cách khoa h c hơn và cũng không quá lo sợ khi nhìn ra thế giới bên ngoài Thêm vào đó, người lớn phải có thái

độ chấp nhận và đối mặt với bất kỳ vấn đề gì trẻ nêu ra, cũng lại một cách bình thản, để giữa trẻ và người lớn có thể có những thảo luận thật sự, chân thành, không

Trang 20

9

e ngại, cũng không tự đánh lừa mình rằng “con/h c trò của mình còn quá bé, chưa biết đến điều này đâu” Thái độ tôn tr ng, bình tĩnh, tiếp nhận vấn đề và sẵn sàng cùng giải quyết bất kỳ vấn đề nào của trẻ là thái độ cần có trong GDGT

Trong các nghiên cứu, bài viết trên đã khai thác, phân tích nhiều vấn đề liên quan đến GDGT: nhận thức và thái độ của cha mẹ về vai trò của GDGT; vai trò của cha mẹ trong GDGT cho con; nội dung và độ tuổi GDGT cho con; phương pháp GDGT hiệu quả, sự cần thiết GDGT cho trẻ, kỹ năng và thái độ cần có của cha mẹ trong GDGT, v.v Với tình hình thực tế về XHTD đang diễn ra như hiện nay thì việc GDGT cho con trẻ cần đặc biệt được quan tâm, không phải chỉ là để trang bị cho các em những kiến thức về tâm lý đặc điểm của mỗi giới, để các con có một tâm thế phù hợp nhất trong các mối quan hệ mà hơn hết là bảo vệ các con trẻ trước những nguy cơ

Qua những tìm hiểu về một số công trình nghiên cứu, bài viết và sách về các vấn đề liên quan đến GDGT, trong đề tài của mình, h c viên hướng đến làm rõ vai trò của cha mẹ trong GDGT, xác định các nguồn lực hỗ trợ sẵn có, từ đó đề xuất một số giải pháp nâng cao nhận thức của phụ huynh về GDGT cho trẻ

3 Ý nghĩa của nghiên cứu

3.1 Ý nghĩa lý luận

Trong bối cảnh các bậc phụ huynh có nhiều quan điểm khác biệt về GDGT cho con, đặc biệt trong xã hội ngày nay đang có sự phát triển mạnh mẽ về thông tin, sự giao thoa giữa các nền văn hóa và sự diễn biến phức tạp của vấn nạn XHTD, nghiên cứu góp phần nâng cao nhận thức của phụ huynh về GDGT cho trẻ, giúp phụ huynh đánh giá đúng vai trò của GDGT, có kiến thức để dạy con hiệu quả và giúp trẻ có kiến thức và kỹ năng để tự bảo vệ mình

Dựa vào các lý thuyết để có các cách tiếp cận khác nhau đối với từng đối tượng, trường hợp cụ thể nhằm mục đích tiếp cận và thay đổi, nâng cao nhận thức của phụ huynh về GDGT

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Các luận điểm, dữ liệu của cuộc khảo sát và các đề xuất nêu ra trong luận văn

hy v ng có thể góp phần làm tăng nhận thức và thay đổi hành vi, thái độ của phụ huynh, giúp h biết cách GDGT có hiệu quả hơn cho các con Từ đó, trẻ em sẽ được trang bị để biết cách tự bảo vệ mình, giảm thiểu nguy cơ bị XHTD

Kết quả của đề tài có thể đóng góp dữ liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu

và thực hành có quan tâm H c viên hy v ng các nhà quản lý và các ban ngành có trách nhiệm sẽ có thêm bằng chứng để cải tiến hoặc hình thành các chính sách, chủ trương mới phù hợp với công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, nhất là có

các biện pháp ngăn ngừa nguy cơ xâm hại trẻ em

Trang 21

10

4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Nhận thức về giáo dục giới tính của phụ huynh

4.2 Khách thể nghiên cứu

- Phụ huynh của trẻ trong độ tuổi từ 6 đến 15 tuổi

- Trẻ em từ 6 đến 15 tuổi: là lứa tuổi nhi đồng và thiếu niên, là thời kỳ mà trí nhớ và tư duy của trẻ bắt đầu biến đổi về chất so với giai đoạn trước Hoạt động chủ đạo trong giai đoạn này của trẻ là h c tập; đặc biệt giai đoạn 12 – 15 tuổi là lứa tuổi dậy thì, có nhiều thay đổi về tâm lý, có các nhu cầu về tình bạn và nhu cầu tự khẳng định cao hơn Ở lứa tuổi này trẻ được tiếp cận nhiều hơn, cụ thể hơn các thông tin về giới, giới tính (ở nhà trường, sinh hoạt cộng đồng) Thông qua các thông tin trẻ trả lời, có thể phản ánh được sự giáo dục hiện nay của cha mẹ đối với các con là như thế nào, từ đó có các căn cứ để đề xuất các biện pháp hỗ trợ phù hợp nhất cho phụ huynh

- Các ban ngành, hội – đoàn thể có liên quan trong việc chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em

- Nâng cao nhận thức và thay đổi thái độ, hành vi của phụ huynh trong việc

GDGT nhằm giảm nguy cơ XHTD trẻ em

6.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Làm rõ vai trò, tầm quan tr ng của GDGT cho trẻ em và các yếu tố ảnh

hưởng, tác động đến nhận thức của phụ huynh trong việc GDGT cho trẻ

- Khảo sát và mô tả hiện trạng nhận thức của phụ huynh về GDGT cho con cái; vai trò của phụ huynh, gia đình trong GDGT cho con

- Thông qua các công cụ khảo sát có sự tham gia của cộng đồng, giúp phụ huynh và các bên có liên quan nhận thức được vai trò quan tr ng có tính quyết định của phụ huynh, gia đình trong việc GDGT cho con

Trang 22

11

- Đề xuất một số giải pháp nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi của phụ huynh về GDGT nhằm giảm nguy cơ XHTD trẻ em, không chỉ ở trường hợp xã được ch n nghiên cứu mà còn có thể nhân rộng ở các địa bàn khác ở ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh

7 Câu hỏi nghiên cứu

- Giáo dục giới tính tác động như thế nào đến xâm hại tình dục?

- Việc thực hiện vai trò giáo dục giới tính cho con của phụ huynh hiện nay được thực hiện như thế nào? Phụ huynh nhìn nhận trách nhiệm và vai trò của h ra sao trong việc GDGT cho con?

- Những yếu tố nào ảnh hưởng đến việc giáo dục giới tính cho con của phụ huynh?

- Có mối tương quan nào giữa sự hỗ trợ của các cơ quan chức năng, nhà trường

và gia đình trong GDGT cho trẻ? Nếu có, mối quan hệ đó có vai trò như thế nào trong việc phòng tránh có hiệu quả nguy cơ XHTD trẻ em?

8 Giả thuyết nghiên cứu

- GDGT cho trẻ có tác động tích cực đối với việc phòng, tránh XHTD

- GDGT cho trẻ tại gia đình hiện nay chưa được quan tâm thực hiện, phụ huynh còn trông chờ vào sự giáo dục của nhà trường

- Thời gian, trình độ, nghề nghiệp, mức độ chia sẻ và mối quan hệ của các thành viên là những yếu tố ảnh hưởng đến việc GDGT cho con của phụ huynh

- Có mối liên hệ giữa các nhóm trong cộng đồng, các ban ngành đoàn thể địa phương, nhà trường và gia đình trong GDGT cho trẻ Trong đó, phụ huynh và gia đình giữ vai trò quan tr ng nhất

9 Phương pháp nghiên cứu

9.1 Phương pháp phân tích định lượng thông qua phỏng vấn bằng bảng hỏi

Bảng câu hỏi là công cụ nghiên cứu chính trong việc thu thập các thông số, mức độ, tần số, các ý kiến xoay quanh các vấn đề nghiên cứu, trong đó sử dụng hệ thống các câu hỏi khác nhau như câu hỏi đóng, câu hỏi mở, kết hợp…để thu thập các thông tin nhằm phục vụ cho quá trình nghiên cứu H c viên ch n phương pháp khảo sát, điều tra xã hội h c bằng phiếu phỏng vấn được chuẩn bị sẵn để thu thập thông tin từ phụ huynh và trẻ em về nhận thức, thái độ về XHTD và GDGT Các câu hỏi được sắp xếp theo trật tự hợp lý, logic và từ ngữ rõ ràng, phù hợp với đặc điểm trình độ, chuyên môn, lứa tuổi của người được hỏi nhằm tạo cho phụ huynh

và trẻ em thái độ cởi mở, gợi lên ở h tính tích cực, hợp tác đối với vấn đề nghiên cứu

Trang 23

12

Bảng hỏi được h c viên tiến hành khảo sát đối với 15 phụ huynh, sau đó chỉnh sửa và bổ sung thêm các vấn đề còn thiếu để hoàn thiện bảng hỏi

Quy mô mẫu và cách chọn mẫu khảo sát

Đề tài thực hiện với việc phỏng vấn bằng bảng câu hỏi trực tiếp với 100 phụ huynh có con từ 6 – 15 tuổi và 100 trẻ ở độ tuổi 6 – 15 để thu thập các thông tin phục vụ cho việc nghiên cứu Cha mẹ và trẻ được ch n khảo sát là trong cùng hộ gia đình để thuận lợi trong việc so sánh ý kiến Mẫu được ch n theo phương pháp

ch n mẫu phi xác suất

Ch n mẫu được thực hiện theo các bước:

- Xác định quy mô mẫu

- Lập danh sách mẫu (phân chia theo 6 ấp thuộc xã Tân Hiệp)

- Ch n 100 mẫu từ danh sách mẫu theo tỷ lệ mẫu của từng ấp

Sau khi xác định được danh sách mẫu, h c viên tiến hành khảo sát các mẫu, có

sự hỗ trợ từ đoàn thể, chính quyền địa phương để tăng tính hợp tác và khả năng khác thác thông tin cao hơn

Phương pháp xử lý số liệu

Sau khi phỏng vấn bằng bảng hỏi trực tiếp tại địa bàn nghiên cứu, các thông tin thu được được xử lý qua chương trình SPSS (phiên bản 16.0) để làm rõ thực trạng, nhận thức và thái độ của phụ huynh về GDGT đối với con em h , đồng thời, đo lường hiểu biết, cảm nhận, đánh giá của trẻ em ở lứa tuổi cấp I và cấp II về giới tính, GDGT và vai trò của phụ huynh, các thành viên khác trong gia đình và nhà trường, xã hội

Tuy khảo sát với mẫu đại diện ở quy mô nhỏ (do giới hạn thời gian của h c viên và hoàn cảnh bận rộn sinh kế của nhiều phụ huynh), gồm 100 phụ huynh và

100 trẻ nhưng những số liệu và thông tin thu thập được kỳ v ng sẽ mang tính đại diện phần nào cho tổng khách thể nghiên cứu Tuy nhiên, do ch n mẫu theo phương pháp phi xác suất và ngẫu nhiên đơn giản nên khi phân tích số liệu, h c viên cẩn tr ng hơn khi khái quát kết quả khảo sát, vì tính đại diện có hạn chế

9.2 Phương pháp phân tích định tính thông qua hai kỹ thuật là phỏng vấn sâu và quan sát

9.2.1 Phỏng vấn sâu

H c viên sử dụng kỹ thuật phỏng vấn sâu nhằm thu thập thông tin khách quan

từ phía người trả lời (phụ huynh và trẻ em) nhằm đáp ứng mục tiêu của nghiên cứu Trong quá trình thực hiện phỏng vấn thì vừa có thể kết hợp với phương pháp quan sát để kiểm tra độ tin cậy của thông tin thu được qua hành vi, thái độ và ý thức của

Trang 24

Bằng việc sử dụng kỹ thuật phỏng vấn sâu, h c viên hy v ng sẽ thu thập thông tin sâu hơn, chi tiết hơn về nhận thức, hiểu biết của người được hỏi, nhằm bổ sung cho những khía cạnh mà bản hỏi chưa thể thu thập được Đồng thời, sự tương tác giữa người hỏi và người trả lời được chú tr ng đặc biệt để có thể cùng nhau phân tích các chủ đề được đặt ra như:

- Phụ huynh: nhận thức và thái độ của phụ huynh về XHTD và GDGT cho con, trách nhiệm và vai trò của gia đình trong việc GDGT cho con, những khó khăn trong việc GDGT cho con, những mong muốn và giải pháp để GDGT cho con tốt hơn, v.v

- Trẻ em: Mức độ hiểu biết về GDGT của trẻ, nhận thức và khả năng vận dụng các kiến thức đó vào thực tế; mong muốn và nhu cầu của trẻ về GDGT, v.v

Khác với các kỹ thuật cụ thể khác, việc phỏng vấn sâu được h c viên thực hiện sau quá trình chuẩn bị chu đáo và đảm bảo tuân thủ các nguyên tắc cơ bản như sau:

- Ch n địa điểm, thời lượng và thời điểm của phỏng vấn sao cho thích hợp với sinh hoạt của phụ huynh và các em Thông thường là thực hiện vào giờ trưa và tối tại nhà của người được hỏi Thời gian thực hiện phỏng vấn dao động từ 25 đến 40 phút, không gian được đảm bảo về tính yên tĩnh và riêng tư, không có các tác động

từ bên ngoài

- Có lời nói đầu trước khi phỏng vấn, làm rõ mục đích của buổi phỏng vấn, nhằm tạo sự tham gia tích cực vào cuộc khảo sát H c viên sẵn sàng trả lời phụ huynh và trẻ em những thắc mắc liên quan đến đề tài để tạo sự tin tưởng và thoải mái khi trả lời phỏng vấn

- Không phê phán đúng sai (kể cả bằng ngôn ngữ hoặc cử chỉ), chỉ ghi nhận đúng thực tế

- Giữ nhịp độ phỏng vấn phù hợp với tâm lý, trình độ người được hỏi

- Việc ghi chép và chụp ảnh khi phỏng vấn có xin phép và được sự đồng ý của người được phỏng vấn

9.2.2 Quan sát

Trang 25

14

Trong bài nghiên cứu, h c viên sử dụng phương pháp quan sát nhằm bổ trợ cho các phương pháp khác, giúp khai thác tối đa các thông tin phục vụ cho nghiên cứu Quan sát giúp h c viên có cái nhìn tổng quan, sâu sắc hơn về những thông tin thu thập được và kiểm chứng độ tin cậy của thông tin thông qua hành vi, thái độ, cử chỉ của người trả lời phỏng vấn

9.3 Phương pháp phân tích trường hợp điển cứu (Case study)

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, h c viên sử dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp điển cứu minh h a (Illustrative) nhằm tìm hiểu và mô tả trường hợp

cụ thể tại xã Tân Hiệp, để có được các dữ liệu cung cấp bằng chứng liên quan đến trường hợp nghiên cứu, có thể được vận dụng ở các nơi khác cũng như các nghiên cứu mở rộng trong tương lai

9.4 Phương pháp phân tích dữ liệu thứ cấp

Phương pháp này chú tr ng sử dụng kết quả của khảo sát, các thông tin từ các bài viết và các công trình nghiên cứu đã công bố để phân tích

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài h c viên phân tích các thông tin có sẵn từ các cuộc nghiên cứu trước đó có nội dung gần với vấn đề mà đề tài nghiên cứu Việc sưu tầm và phân tích tài liệu này cung cấp cho đề tài một cơ sở lý luận và thực tiễn vững chắc, là cơ sở cho việc làm rõ vai trò của phụ huynh trong việc GDGT và vai trò của GDGT trong việc giảm XHTD trẻ em hiện nay

10 Kết cấu bản luận văn

Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, bản luận văn gồm có ba chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về đề tài nghiên cứu

- Một số lý thuyết liên quan đến đề tài nghiên cứu

- Giải thích các khái niệm, thuật ngữ liên quan

- Luận giải một số nội dung về giáo dục giới tính cho trẻ

- Một số yếu tố ảnh hưởng đến nâng cao nhận thức của phụ huynh

- Tổng quan về xâm hại tình dục trên thế giới và tại Việt Nam hiện nay

- Tổng quan về tình hình GDGT trên thế giới và tại Việt Nam hiện nay

- Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

Chương 2: Nhận thức của phụ huynh về xâm hại tình dục trẻ em, giáo dục giới tính cho trẻ và vai trò, trách nhiệm của gia đình trong giáo dục giới tính cho trẻ

- Thực trạng về xâm hại tình dục trẻ em ở xã Tân Hiệp

- Thực trạng giáo dục giới tính cho trẻ tại xã Tân Hiệp

Trang 26

15

- Vai trò của gia đình trong việc giáo dục giới tính cho trẻ

Chương 3: Một số giải pháp nâng cao nhận thức cho phụ huynh về giáo dục giới tính nhằm giảm nguy cơ xâm hại tình dục trẻ em

- Vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội (hội Liên Hiệp phụ nữ, Đoàn Thanh niên) trong việc nâng cao nhận thức của phụ huynh về giáo dục giới tính

- Tăng cường sự liên kết, phối hợp các cơ quan, đoàn thể và nâng cao nhận thức cho phụ huynh về giáo dục giới tính nhằm giảm nguy cơ xâm hại tình dục trẻ em

- Mô hình hỗ trợ nâng cao nhận thức cho phụ huynh về giáo dục giới tính thông qua phối kết hợp 3 thiết chế xã hội là gia đình, trường h c và xã hội mà chủ thể chính là Đoàn Thanh niên và Hội Liên hiệp Phụ nữ (cấp xã): một số kết quả thực nghiệm bước đầu

Trang 27

16

PHẦN NỘI DUNG Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về đề tài nghiên cứu

1.1 Một số lý thuyết liên quan đến đề tài nghiên cứu

1.1.1 Lý thuyết vai trò

Lý thuyết vai trò của Perman có tầm quan tr ng trong việc tìm hiểu các mối quan hệ và các nhân cách vì mỗi cá nhân trong cuộc đời mình phải thực hiện rất nhiều vai trò Do vậy, đôi khi các cá nhân có thể sẽ gặp phải việc mơ hồ trong vai trò, xung đột vai trò hoặc sợ hãi vai trò Lý thuyết vai trò có ứng dụng quan tr ng trong công tác xã hội cá nhân và nhóm bởi vì nó giúp cá nhân hoặc nhóm tránh hoặc thay thế những nhận thức, hành vi lệch chuẩn và đáp ứng mong đợi của xã hội

Đề tài ứng dụng lý thuyết vai trò để thấy được những vai trò mà phụ huynh đang đảm nhận trong gia đình và xã hội Từ đó có những sự tác động phù hợp và hiệu quả, giúp phụ huynh và gia đình phát huy tốt vai trò của mình trong chăm sóc

và GDGT cho trẻ

Bên cạnh đó, lý thuyết và cách tiếp cận này còn giúp thấy được những cá nhân,

tổ chức nào là người có uy tín, có tiếng nói trong cộng đồng để tác động vào những

cá nhân, tổ chức đó, góp phần hỗ trợ cho phụ huynh và gia đình phát huy vai trò của mình

1.1.2 Lý thuyết nhu cầu

Lý thuyết nhu cầu của Maslow chia các nhu cầu của con người thành 5 tầng theo hình tháp, từ thấp đến cao: Nhu cầu sống còn (không khí, nước, thức ăn, nghỉ ngơi, tình dục,v.v); nhu cầu an toàn; nhu cầu thuộc vào nhóm nào đó; nhu cầu được tôn tr ng; nhu cầu hoàn thiện (tự khẳng định) Theo đó nhu cầu tình dục là một trong những nhu cầu được xếp ở đáy, là nhu cầu cơ bản của mỗi con người Chính

vì thế, trẻ rất cần được trang bị những kiến thức liên quan về giới và giới tính như quan hệ tình dục, kiến thức sinh sản, nhận diện các nguy cơ nguy hiểm

Đề tài ứng dụng thuyết nhu cầu để xem xét nhu cầu của phụ huynh và trẻ về GDGT, về những điều trẻ và phụ huynh cần được cung cấp Đồng thời, tiếp cận theo nhu cầu giúp h c viên tránh được việc đánh đồng, chủ quan trong quá trình hỗ trợ bởi vì mỗi cá nhân là những cá thể riêng biệt, có những nhu cầu, đặc điểm và hoàn cảnh khác nhau Từ đó, giúp h c viên đề xuất các giải pháp tác động phù hợp

và hiệu quả giúp nâng cao nhận thức của phụ huynh và gia đình trong việc GDGT cho trẻ

Trang 28

17

1.1.3 Lý thuyết hành động xã hội

Theo quan điểm của Max-Weber, những thành tố cấu thành nên hành động xã hội là: Động cơ, mục đích, chủ thể, hoàn cảnh, môi trường, công cụ phương tiện Khởi điểm của phương tiện hành động xã hội là nhu cầu, lợi ích của cá nhân, những yếu tố này tạo ra động cơ thúc đẩy hành động Nhu cầu của chủ thể tạo ra động cơ thúc đẩy hành động để thỏa mãn nó Động cơ này sẽ tạo ra tính tích cực của chủ thể, tham gia định hướng hành động và quy định mục đích hành động Trong đề tài nghiên cứu, việc ứng dụng lý thuyết này giúp h c viên cùng với phụ huynh phân tích con đường đi từ nhu cầu đến nhận thức và hành động của phụ huynh là một trong những thành tố quan tr ng, góp phần vào công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục tốt cho trẻ, nhất là phòng tránh XHTD; đồng thời giúp làm rõ nhu cầu muốn bảo vệ các con, muốn GDGT cho con đúng cách, đúng thời điểm và phương pháp…của phụ huynh để từ đó giúp h có sự thay đổi về nhận thức và hành động thông qua các những người hỗ trợ là các tác viên cộng đồng, chính quyền địa phương và mạng lưới các cơ quan chức năng, các đoàn thể chính trị - xã hội

1.2 Các khái niệm, thuật ngữ liên quan

1.2.1 Giới và giới tính

Khái niệm giới và giới tính giúp ta phân biệt đặc điểm của phụ nữ và nam giới

để hiểu rõ thực chất và cơ chế hình thành các đặc điểm đó Sự khác nhau giữa “giới tính” và “giới”được thể hiện qua các nội dung sau:

- Giới tính là khái niệm chỉ sự khác biệt giữa nam và nữ về phương diện sinh

h c, có sẵn từ khi sinh ra, đồng nhất và không biến đổi (trừ trường hợp có sự can thiệp của y h c) Ví dụ nam giới có thể làm thụ thai, phụ nữ có thể sinh con và cho con bú

- Khác với giới tính, giới không mang tính bẩm sinh mà được hình thành trong quá trình sống, h c tập của con người từ khi còn nhỏ đến lúc trưởng thành Nói cách khác, giới được thể hiện thông qua các hành vi được hình thành từ sự dạy dỗ

và thu nhận từ gia đình, cộng đồng và xã hội, là vị trí, vai trò của nam và nữ mà xã hội mong muốn, kỳ v ng ở phụ nữ và nam giới liên quan đến các đặc điểm và năng lực nhằm xác định thế nào là một người nam giới hay một phụ nữ (hoặc trẻ em trai, trẻ em gái) trong một xã hội hay một nền văn hóa nhất định Ví dụ: nhiều xã hội phân định vai trò phụ nữ là làm nội trợ, thêu may, chăm sóc con cái, nam giới thì xây dựng nhà cửa, làm kinh tế, hoạt động chính trị,… Những hành vi để đảm nhiệm vai trò này không phải là hành vi hay kỹ năng bẩm sinh mà do h được xã hội, gia đình, cộng đồng dạy dỗ để làm việc đó vì xã hội cho rằng như vậy là phù hợp với thiên chức của phụ nữ hoặc nam giới

Trang 29

Giáo dục theo nghĩa chung là hình thức h c tập theo đó kiến thức, kỹ năng và thói quen của một nhóm người được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua giảng dạy, đào tạo hay nghiên cứu Giáo dục thường diễn ra dưới sự hướng dẫn của người khác, nhưng cũng có thể thông qua tự h c Bất cứ trải nghiệm nào có ảnh hưởng đáng kể lên cách mà người ta suy nghĩ, cảm nhận, hay hành động đều có thể được xem là có tính giáo dục Giáo dục thường được chia thành các giai đoạn như giáo dục tuổi ấu thơ, giáo dục tiểu h c, giáo dục trung h c, và giáo dục đại h c (Từ điển Bách khoa toàn thư) Đây cũng là khái niệm h c viên dùng để tiếp cận các nội dung thuộc đề tài nghiên cứu

1.2.3 Giáo dục giới tính

Có nhiều quan điểm, khái niệm khác nhau về giáo dục giới tính:

Theo A.G Khrivcova, D.V Kolexv, “Giáo dục giới tính là một quá trình

hướng vào việc vạch ra những nét, những phẩm chất, những đặc trưng cũng như khuynh hướng phát triển của nhân cách, xác định thái độ xã hội cần thiết của con người đối với người khác” (Phạm Thị Mai Hương, 2014)

Theo Tiến sĩ tâm lý h c Huỳnh Văn Sơn giáo dục giới tính là một bộ phận quan

tr ng trong việc giáo dục và phát triển nhân cách hài hòa, cân đối và toàn diện cho các em h c sinh và không thể thiếu được Giáo dục giới tính bao gồm các nội dung như: tri thức khoa h c về giới tính, gia đình và các mối quan hệ, sự sinh đẻ, giáo

Trang 30

- Những đặc điểm giới tính về đạo đức, về xã hội và thẩm mỹ

- Những quan hệ về bạn khác giới và tình yêu nam nữ

- Những vấn đề về hôn nhân và đời sống gia đình như bản chất của hôn nhân, điều kiện để có một cuộc hôn nhân hạnh phúc, sự chuẩn bị của cuộc sống gia đình Trong bản luận văn này, nội dung của giáo dục giới tính được giới hạn phạm vi nghiên cứu ở các khía cạnh như sau: giáo dục tổng quát về giới tính, giáo dục về giới tính ở tuổi dậy thì, giáo dục về tình bạn - tình yêu, tình dục an toàn, hướng dẫn

kỹ năng phòng vệ, tự bảo vệ bản thân để không bị XHTD và cách xử lý khi bị XHTD để hướng trẻ tới sự phát triển toàn diện và an toàn

1.2.4 Xâm hại tình dục

Theo Điều 4 Luật trẻ em số 102/2016/QH13 được Quốc hội thông qua ngày

5 tháng 4 năm 2016: “Xâm hại tình dục trẻ em là việc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ

lực, ép buộc, lôi kéo, dụ dỗ trẻ em tham gia vào các hành vi liên quan đến tình dục, bao gồm hiếp dâm, cưỡng dâm, giao cấu, dâm ô với trẻ em và sử dụng trẻ em vào mục đích mại dâm, khiêu dâm dưới mọi hình thức.” (Quốc hội khóa XIII, 2016)

XHTD trẻ em là tất cả các hành vi dụ dỗ, lôi kéo, ép buộc trẻ em thực hiện một

số hành vi mang tính chất tính dục không phù hợp với lứa tuổi của các em Hành vi nhìn chỗ kín (thị dâm), nói chuyện về vấn đề liên quan đến hoạt động tình dục, bộ phận sinh dục (khẩu dâm), nghe, động chạm, ôm đều có thể được xem là XHTD Khái niệm XHTD được hiểu rất rộng chứ không chỉ là có hành vi quan hệ tình dục như nhiều người vẫn nghĩ (Trần Thành Nam, 2016)

Theo Bác sĩ Nguyễn Tr ng An, nguyên Phó Cục trưởng Cục Bảo vệ và chăm sóc trẻ em: Từ trước đến nay, nước ta hay dùng từ “lạm dụng tình dục” Tuy nhiên,

ở Việt Nam nghĩa của từ “lạm dụng” không sát nghĩa với khái niệm của quốc tế sử dụng cho nên sau này đã có thay đổi thành “xâm phạm tình dục” Trong quá trình

sử dụng, cụm từ này tiếp tục không phù hợp cho nên sau khi Quốc hội quyết định thay đổi thì cụm từ “xâm hại tình dục” được sử dụng từ năm 2010 Từ đó đến nay, cụm từ “xâm hại tình dục” nhằm nói lên một số hiện tượng từ nhìn, sờ mó vào các chỗ kín của trẻ, rồi đến các việc dụ dỗ, cho trẻ xem phim khiêu dâm, dụ dỗ trẻ không mặc quần áo và cuối cùng là dâm ô, giao cấu, hiếp dâm với trẻ Tất cả các hình thức đó được định nghĩa là XHTD trẻ em

Trang 31

20

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, XHTD được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm các hành vi như: dụ dỗ, lôi kéo hoặc đe d a, ép buộc trẻ em thực hiện một số hành vi mang tính chất tính dục không phù hợp với lứa tuổi của các em; hành vi nhìn chỗ kín; nói chuyện về vấn đề liên quan đến hoạt động tình dục, bộ phận sinh dục; nhìn, sờ mó vào các chỗ kín của trẻ; dụ dỗ, cho trẻ xem phim, ảnh, sách, báo chứa hình ảnh nhạy cảm, thô tục, khiêu dâm; dụ dỗ trẻ không mặc quần áo và hoặc dâm ô, giao cấu, hiếp dâm trẻ

1.2.5 Phụ huynh

Theo từ điển tiếng Việt: Phụ huynh là người có trách nhiệm trong gia đình đối với việc giáo dục con em

Vai trò của phụ huynh:

- Theo Luật trẻ em số 102/2016/QH13 được Quốc hội thông qua ngày 5 tháng 4 năm 2016, từ Điều 96 đến Điều 102 quy định về trách nhiệm của gia đình, cá nhân đối với trẻ em, theo đó: Cha, mẹ, người chăm sóc trẻ em và các thành viên trong gia đình có trách nhiệm trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý, giáo dục trẻ em; dành điều kiện tốt nhất theo khả năng cho sự phát triển liên tục, toàn diện của trẻ

em, đặc biệt là trẻ em dưới 36 tháng tuổi; thường xuyên liên hệ với cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm để được hướng dẫn, trợ giúp trong quá trình thực hiện trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ em; đảm bảo các quyền h c tập, vui chơi, giải trí, phát triển, an toàn, bảo vệ tính mạng, thân thể đối với trẻ em (Quốc hội khóa XIII, 2016)

- Theo Luật hôn nhân gia đình số 52/2014/QH13 được Quốc hội thông qua ngày 19 tháng 6 năm 2014, Chương V, Mục 1 quy định về quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con, theo đó: cha mẹ có nghĩa vụ thương yêu con, tôn tr ng ý kiến của con; chăm lo việc h c tập, giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội; trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình; không được phân biệt đối xử với con trên cơ sở giới hoặc theo tình trạng hôn nhân của cha mẹ; không được lạm dụng sức lao động của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân

sự hoặc không có khả năng lao động; không được xúi giục, ép buộc con làm việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội (Quốc hội khóa XIII, 2014)

Trong phạm vi đề tài nghiên cứu, phụ huynh được hiểu là cha, mẹ hay người trực tiếp nuôi dạy, có quan hệ gần gũi nhất với trẻ trong gia đình Phụ huynh có trách nhiệm trong việc yêu thương, chăm sóc, nuôi dưỡng, bảo về và giáo dục trẻ

em

1.2.6 Nhận thức

Trang 32

21

* Khái niệm nhận thức:

Theo từ điển Triết h c: Nhận thức là quá trình cải tạo lại hiện thực ở trong tư duy của con người, được quyết định bởi quy luật phát triển xã hội và gắn liền cũng như không thể tách rời khỏi thực tiễn, nó phải là mục đích của thực tiễn, phải hướng tới chân lý khách quan

Theo từ điển Giáo dục h c: “Nhận thức là quá trình hay là kết quả phản ảnh và tái tạo hiện thực vào trong tư duy của con người” Như vậy nhận thức được hiểu là một quá trình, là kết quả của phản ánh thế giới khách quan Nhận thức là quá trình con người nhận biết về thế giới, hay là kết quả của quá trình nhận thức đó (nhận biết là mức độ thấp, hiểu biết là mức độ cao hơn) (Nguyễn Văn Tường, 2010)

Nhận thức là hoạt động đặc trưng của con người Nhận thức có các mức độ từ

từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp Mức độ thấp nhất là nhận thức cảm tính, bao gồm cảm giác và tri giác, trong đó con người phản ánh những cái bên ngoài, những cái đang trực tiếp tác động đến giác quan của con người Mức độ cao hơn là nhận thức lý tính, bao gồm tư duy và tưởng tượng, trong đó con người phản ánh những cái bản chất bên trong những mối liên hệ và quan hệ có tính quy luật của các

sự vật và hiện tượng Nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, bổ sung và chi phối lẫn nhau Nhờ có nhận thức mà con người làm chủ được tự nhiên, xã hội và chính bản thân mình (Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Văn Lũy & Đinh Văn Vang, 2007)

Trong phạm vi đề tài nghiên cứu, nhận thức được hiểu là quá trình tâm lý, là sự phản ánh hiện thực khách quan trong ý thức của con người Nhận thức bao gồm nhận thức cảm tính (cảm giác, tri giác) và nhận thức lý tính (tư duy, tưởng tượng), chúng có mối quan hệ biện chứng với nhau Cơ sở, mục đích và tiêu chuẩn của nhận thức là thực tiễn xã hội Nhờ có nhận thức, con người nhận biết được các vấn

đề xã hội đang diễn ra, như vấn nạn xâm hại tình dục trẻ em, các nguy cơ trẻ gặp phải, từ đó chủ động ứng phó (giáo dục giới tính cho trẻ, tố cáo hành vi xâm hại tình dục) nhằm đảm bảo tốt nhất cho cuộc sống của mình

* Thang đo nhận thức của phụ huynh về giáo dục giới tính: Căn cứ vào sự

hiểu biết của phụ huynh về các nội dung của giáo dục giới tính, h c viên chia thành

Trang 33

22

- Mức 4 - Hiểu và có giáo dục cho con: Hiểu các nội dung của GDGT và có thực hiện giáo dục giới tính cho con theo từng giai đoạn phát triển

1.2.7 Nâng cao nhận thức cho phụ huynh về giáo dục giới tính

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, nâng cao nhận thức cho phụ huynh về giáo dục giới tính là cung cấp các thông tin, kiến thức, biện pháp hỗ trợ giúp nâng nhận thức của phụ huynh từ “không biết”, “biết”, “hiểu và nhưng không giáo dục giới tính cho con” lên “hiểu và có giáo dục giới tính cho con”, từ “thỉnh thoảng” lên “thường xuyên” giáo dục giới tính cho con Cụ thể là giúp phụ huynh hiểu được vai trò của mình trong giáo dục con cái; hiểu được nội dung và vai trò của giáo dục giới tính và những nguồn lực hỗ trợ từ cộng đồng để có thể thực hiện giáo dục giới tính cho con một cách tốt nhất

1.3 Luận giải về nội dung giáo dục giới tính cho trẻ

* Quy tắc 5 vòng tròn:

Quy tắc 5 vòng tròn nêu rõ các mức hành vi và mức quan hệ nào được làm với trẻ và hành vi nào không nên làm Cụ thể là: với bố mẹ thì được ôm, được tiếp xúc với những bộ phận riêng tư khi giúp trẻ vệ sinh; ông bà nội, ngoại, anh chị em ruột

có thể được ôm, được khoác tay; còn những người h hàng thân quen chỉ được bắt tay chào, nắm tay một lát; đối với người lạ chỉ vẫy tay chào hoặc khi thấy những người lạ đến gần gây bất an thì hãy xua tay, bỏ chạy

Hình 1.1 Quy tắc 5 vòng tròn

* Quy tắc 5 ngón tay:

- Ngón cái - gần mình nhất - tượng trưng cho những người thân ruột thịt trong gia đình như ông bà, bố mẹ, anh chị em ruột Trẻ có thể ôm hôn những người này

Trang 34

ở đó Còn nếu ai chạm vào “vùng đồ bơi”, trẻ sẽ hét to và g i mẹ

- Ngón giữa - người quen biết nhưng ít khi gặp như hàng xóm, bạn bè của cha

mẹ Những người này, trẻ chỉ nên bắt tay, cười và chào hỏi

- Ngón áp út - người quen của gia đình mà trẻ mới gặp lần đầu Với những người này, trẻ chỉ nên dừng lại ở mức vẫy tay chào

- Ngón út - ngón tay xa trẻ nhất - thể hiện cho những người hoàn toàn xa lạ hoặc người có cử chỉ thân mật, khiến trẻ thấy lo sợ, bất an Với những người này, trẻ hoàn toàn có thể bỏ chạy, hét to để thông báo với m i người xung quanh

Hình 1.2 Quy tắc 5 ngón tay

* Quy tắc quần lót (PANTS rules) mà tổ chức NSPCC kêu gọi các phụ huynh nên dạy cho con của mình:

Trang 35

24

P – Private (Riêng tư): Nói với trẻ rằng không một ai có thể được nhìn hay chạm vào vùng kín của trẻ, trừ một số người như bác sĩ, y tá hay bố mẹ Tuy nhiên, bác sĩ y tá cần phải mặc đồng phục và đang trong giờ khám chữa bệnh, phải giải thích được cho con là h cần chạm vào để làm gì và cần có sự đồng ý của con

A – Always remember your body belongs to you (Luôn nhớ cơ thể con thuộc

về con): Không ai có quyền làm bất cứ điều gì với cơ thể trẻ mà khiến trẻ khó chịu Nếu ai cố tình, trẻ cần biết nói “Không”

N – No means no (Không là không): Giúp trẻ nhận thức được rằng trẻ có quyền nói “không” với những động chạm trẻ không thích từ bất cứ ai

T – Talk (Nói về những điều bí mật khiến con buồn): Cha mẹ giải thích cho trẻ

về sự khác biệt giữa những bí mật “tốt” và “xấu” Những câu như “Đây là bí mật của riêng hai chú cháu mình” thường của những kẻ lạm dụng khiến trẻ con cảm thấy lo lắng và sợ không dám kể cho ai khác nghe Những bí mật “tốt” có thể là món quà hay bữa tiệc Những bí mật “xấu” là cái khiến trẻcảm thấy buồn, lo lắng,

sợ hãi, trẻ cần nói ra

S – Speak up (Lên tiếng): Nói với trẻ khi nào trẻ cảm thấy buồn, lo lắng, sợ hãi, trẻ nên lên tiếng với người trẻtin tưởng, có thể nói với bố mẹ hay chị gái, cô giáo

* Quy tắc ABCD:

A – Am hiểu: Trẻ cần có kiến thức phòng tránh XHTD và kỹ năng phòng vệ

B – Bình tĩnh: Hãy giúp trẻ linh hoạt trong m i tình huống, trẻ cần bình tĩnh và tìm cách thoát hiểm

C – Cẩn thận: Phụ huynh hãy dạy trẻ luôn phòng tránh, đề cao cảnh giác

D – Dám ứng phó: Phụ huynh hãy dạy trẻ dám tự vệ, tấn công kẻ xấu và tìm cách thoát khỏi kẻ xấu

* Theo tác giả Trần Thị Ái Liên - Cố vấn chính sách của Project Vietnam,

thuộc Viện Hàn Lâm Nhi Khoa Hoa Kỳ, chia sẻ nên dạy gì cho con, vào độ tuổi

Trang 36

25

Trẻ từ 2 - 5 tuổi:

- Trẻ cần phải biết những khái niệm cơ bản nhất về sinh sản của con người như việc: “Một người đàn ông và một người phụ nữ cùng với nhau tạo ra trẻ em và trẻ

em đó sẽ hình thành, phát triển bên trong tử cung của người phụ nữ”

- Đặc biệt độ tuổi này bạn cần giáo dục trẻ thế nào là sự riêng tư từ thân thể cho đến các vật dụng cá nhân Trẻ cần phải biết ai, người nào có thể chạm vào trẻ bằng cách này nhưng không thể bằng cách khác

- Ở độ tuổi này, cha mẹ nên quan tâm giáo dục trẻ với các bài h c về tình dục

an toàn và các biện pháp tránh thai đồng thời cũng củng cố những kiến thức mà trẻ

đã h c được ở các độ tuổi trước đó

- Độ tuổi 9 - 12 tuổi là thời kỳ trẻ đã có thể phân biệt được những điều đúng sai

và cũng tự mình đánh giá được các nội dung (hình ảnh, video…) mô tả về tình cảm, giới tính, tình dục trên các phương tiện thông tin, internet là đúng hay sai, thực tế hay không và chúng có lành mạnh hay không

Trẻ từ 13-18 tuổi:

- Độ tuổi này trẻ đã bắt đầu bước vào tuổi thiếu niên, thế nên m i suy nghĩ, tâm

tư là rất kín đáo Tuy nhiên nếu trẻ đã được GDGT từ các độ tuổi trước thì trẻ sẽ cởi mở hơn khi nói chuyện với cha mẹ của mình

- Cha mẹ nên quan tâm đến các mối quan hệ của con ở bên ngoài bởi thời điểm này trẻ bắt đầu có những mối quan hệ rộng hơn nhất là chuyện tình yêu, tình cảm khác giới

- Theo nhiều chuyên gia, thời điểm này cảm xúc cũng thay đổi khá nhiều, sẽ xuất hiện những rung động đầu đời, chuyện tình yêu đơn phương,… cha mẹ nên có những buổi nói chuyện thẳng thắn với con như những người bạn thực thụ để thấu hiểu tâm tư tình cảm của con mình hơn, thường xuyên tâm sự với con và nói chuyện một cách nghiêm túc về các vấn đề người lớn, chuyện vợ chồng, biện pháp

Trang 37

26

tránh thai và phân tích cho con hiểu những việc gì nên làm, không nên làm và tác hại của nó Đồng thời cũng giúp con hiểu và có hướng giải quyết như thế nào khi gặp các vấn đề trong giới tính, trong tình yêu

Bên cạnh đó, trên các trang mạng xã hội, website có rất nhiều bài viết về vấn đề GDGT cho con trẻ Đồng thời hiện nay có rất nhiều quyển sách viết về những phương pháp GDGT cho con trẻ với nhiều nội dung, hình thức đa dạng cha mẹ có thể tìm hiểu và áp dụng tại gia đình để GDGT cho con mình một cách tốt nhất

1.4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến nâng cao nhận thức của phụ huynh

- Trình độ: Trình độ h c vấn của cha mẹ có ảnh hưởng đến nhận thức, cách thức và mức độ tiếp nhận thông tin Với những phụ huynh có trình độ thấp, phổ thông, những thông tin mang tính hàn lâm, chuyên môn sâu, sử dụng các từ ngữ ít thông dụng, khó hiểu sẽ gây khó khăn cho phụ huynh trong việc tiếp nhận thông tin

- Độ tuổi: Độ tuổi của cha mẹ ảnh hưởng đến nhận thức về GDGT Tuổi càng trẻ, càng dễ tiếp cận các thông tin và vấn đề về GDGT, có thể tiếp cận với nhiều nguồn thông tin khác nhau

- Giới tính: Giới tính ảnh hưởng đến nhận thức của cha mẹ trong việc GDGT cho con Mẹ (nữ giới) sẽ dễ dàng, thoải mái hơn trong việc GDGT cho con, đặc biệt là trẻ nữ Và tương tự với cha và con gái sẽ có tâm lý ngại ngùng hơn trong việc chia sẻ về vấn đề này Do vậy, với những gia đình có cha và mẹ đơn thân, hoặc những người chăm sóc thay thế là nam thì sẽ khó khăn hơn trong việc nâng cao nhận thức cho h

- Nghề nghiệp: Nghề nghiệp của cha mẹ có ảnh hưởng đến nhận thức của cha

mẹ về GDGT cho con Những người làm nghề có yêu cầu trình độ tri thức cao, đòi hỏi tiếp cận, cập nhật thông tin thời sự thường xuyên sẽ hiểu biết nhiều hơn về GDGT Ví dụ cha, mẹ làm giáo viên, bác sĩ sẽ có sự nhận thức về GDGT là quan

tr ng, hơn những cha mẹ làm công nhân hay buôn bán

- Văn hóa/truyền thống: Là một trong những yếu tố tác động lớn đến nhận thức của cha mẹ Nhiều người còn xem các vấn đề về giới tính và tình dục là những vấn

đề tế nhị, khó nói Do vậy, nhiều gia đình chưa làm được việc cha mẹ và con ngồi lại cùng nhau và chia sẻ cởi mở những vấn đề về giới tính và tình dục

- Thời gian: Thời gian có ảnh hưởng đến nhận thức và nâng cao nhận thức của phụ huynh Với những cha mẹ có thời gian sẽ có thể tìm hiểu thêm về GDGT, về kiến thức, phương pháp giáo dục cho con và chia sẻ cùng con Với những người đầu tư thời gian cho việc cải thiện kinh tế gia đình hoặc những sở thích cá nhân thì việc tác động để nâng cao nhận thức là khó khăn hơn

- Kinh tế: Tương tự như yếu tố thời gian, những gia đình có kinh tế khó khăn, cha mẹ hầu như sẽ ít tâm đến con cái hơn những gia đình có điều kiện Việc cải

Trang 38

mẹ Bên cạnh đó, nguồn thông tin phụ huynh tiếp cận cần phù hợp với trình độ, lứa tuổi, điều kiện tiếp cận của phụ huynh mới có thể hỗ trợ nâng cao nhận thức cho phụ huynh

- Gia đình: Yếu tố gia đình có ảnh hưởng đến nhận thức của phụ huynh Gia đình tốt, mối quan hệ tốt, nền tảng giáo dục tốt thì phụ huynh sẽ có sự quan tâm đến con cái nhiều hơn so với các gia đình có vấn đề Do vậy, cần chú ý nhiều hơn đến các gia đình có vấn đề để tìm hướng hỗ trợ phù hợp với từng trường hợp cụ thể

Bên cạnh những yêu tố trên thì vẫn còn nhiều yếu tố tác động đến nhận thức và nâng cao nhận thức cho phụ huynh: môi trường sống, sự lây lan tâm lý trong cộng đồng dân cư, pháp luật, các quy định, chính sách của địa phương Dựa vào các yếu

tố này để đề ra những giải pháp phù hợp, tích cực tác động đến nhận thức của phụ huynh, giúp nâng cao nhận thức của phụ huynh về GDGT cho trẻ

1.5 Tổng quan về tình hình xâm hại tình dục trên thế giới và tại Việt Nam

1.5.1 Trên thế giới

Theo báo cáo “Một gương mặt quen thuộc: Bạo lực trong cuộc sống của trẻ em

và vị thành niên” (Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc [UNICEF], 2017):

- Ở 38 Quốc gia có thu nhập thấp và trung bình, gần 17 triệu phụ nữ trưởng thành nói là từng bị ép buộc quan hệ tình dục khi còn nhỏ

- Trong 28 Quốc gia ở Châu Âu, khoảng 2.5 triệu trẻ em gái vị thành niên nói là

đã bị một hình thức bạo lực tình dục trực tiếp hoặc gián tiếp trước 15 tuổi

- Trên thế giới, khoảng 15 triệu trẻ em gái vị thành niên từ 15 – 19 tuổi từng bị

ép buộc quan hệ tình dục; 9 triệu trong số các em gái này là nạn nhân của ép buộc quan hệ tình dục trong năm vừa qua

- Ở 20 Quốc gia, gần 9 trên 10 trẻ em gái vị thành niên là nạn nhân của việc bị

ép buộc quan hệ tình dục nói rằng các em bị ép buộc lần đầu tiên vào độ tuổi vị thành niên

- Dựa vào báo cáo của 30 Quốc gia, chỉ có 1% trẻ em gái bị ép buộc quan hệ tình dục tìm đến trợ giúp chuyên môn

- Số liệu từ 28 Quốc gia cho thấy 9 trên 10 trẻ em gái vị thành niên bị ép buộc quan hệ tình dục nói rằng các em là nạn nhân của chính người thân hoặc người biết

Trang 39

28

Báo Huffington Post dẫn lại chia sẻ của bà Jayneen Sanders (người Úc) - chuyên gia giáo dục về an toàn thân thể cho trẻ em ở cả gia đình lẫn trường h c, cung cấp thông tin từ 12 số liệu thống kê trích từ các báo cáo điều tra, nghiên cứu với mong muốn chuyển tải các thông tin cảnh báo các bậc cha mẹ, những người chăm sóc và các giáo viên về vấn đề XHTD ở trẻ em, với các số liệu như sau: (1) Có khoảng 20% bé gái (1/5) và 8% bé trai (1/12,5) bị XHTD trước tuổi 18

(4) Lứa tuổi dễ bị tổn thương nhất trong các vụ XHTD là từ 3-8 tuổi Phần lớn

các vụ XHTD trẻ em bắt đầu xảy ra trong độ tuổi này (Browne & Lynch, 1994)

(5) Nam giới chiếm 90% trong số các đối tượng gây ra những vụ XHTD, trong

đó nữ giới chiếm 3,9% Ngoài ra khoảng 6% đối tượng xâm hại thuộc về “giới tính

không xác định” (McCloskey & Raphael, 2005)

(6) Khoảng 40% trẻ em bị những đứa trẻ lớn hơn (hoặc khỏe mạnh hơn) XHTD (Finkelhor, 2012) Cùng với việc lan tràn các hình ảnh khiêu dâm hiện nay, người

ta còn thấy các vụ XHTD trẻ em, cụ thể là những vụ việc thủ phạm gây án là những đứa trẻ lớn hơn hoặc là anh/chị em h của nạn nhân, xảy ra ngày càng nhiều Có 23% trẻ em trong độ tuổi 10-17 đã tiếp xúc với các hình ảnh khiêu dâm ngoài ý

muốn (Jones L và các cộng sự, 2012)

(7) 84% các vụ việc trẻ em dưới 12 tuổi bị XHTD xảy ra tại nơi ở (Snyder,

2000)

(8) Trong số các vụ việc trẻ bị XHTD được trình báo với cơ quan chức năng, có

tới 98% các vụ việc lời khai của trẻ em được xác định là sự thật (Hội đồng bảo an

trẻ em bang New South Wales, tổ chức Dympna House trích dẫn năm 1998)

(9) Có 1/3 người lớn không tin nếu trẻ em nói với h về việc chúng bị XHTD

(Quỹ trẻ em Úc, 2010)

(10) Có 73% trẻ em bị XHTD không nói với bất cứ ai về sự việc này trong ít nhất 1 năm 45% sẽ không nói với ai trong 5 năm Một số em sẽ không bao giờ tiết

lộ sự thật (Broman-Fulks và các cộng sự, 2007)

(11) Những trẻ em từng bị XHTD có nguy cơ tự tử cao hơn 10-13 lần so với

những trẻ em bình thường (Plunkett A, O’Toole B, Swanston H, Oates RK,

Shrimpton S, Parkinson P 2001)

Trang 40

29

(12) Trẻ em không sống cùng cha mẹ (trẻ em được nhận làm con nuôi) có nguy

cơ bị XHTD gấp 10 lần so với những đứa trẻ sống cùng cha mẹ ruột.Trẻ em sống cùng với cha/mẹ có một bạn tình khác sống chung trong nhà có nguy cơ bị XHTD cao nhất Nguy cơ này ở chúng cao gấp 20 lần so với những đứa trẻ sống cùng cha

mẹ ruột (Sedlack và các cộng sự, 2010)

Chuyên gia Jayneen Sanders chia sẻ: “Theo kinh nghiệm của tôi, trẻ em không

nói dối về các vụ XHTD và nghiên cứu khoa học cũng đã chứng minh điều đó Hãy giáo dục con bạn về sự an toàn thân thể Tôi thực sự hy vọng có thể chúng sẽ không bao giờ cần phải dùng tới những kiến thức này, nhưng hãy nghĩ về nó như một chiếc phao cứu hộ có tính chất phòng ngừa trong vấn đề này” (Viện khoa h c

thống kê, 2017)

Các chuyên gia nghiên cứu trong lĩnh vực này đều khẳng định tình trạng XHTD trẻ em trên thực tế luôn cao hơn nhiều so với các số liệu thống kê chính thức Tuy nhiên, kết quả thu thập được những thống kê tuy chưa đầy đủ song tương đối phổ quát về vấn đề này là một cảnh báo mạnh mẽ với các bậc phụ huynh và các cơ quan chức năng việc cần chia sẻ thông tin có trách nhiệm hơn nữa với con cái

1.5.2 Tại Việt Nam

Các nguồn tài liệu tham khảo cho thấy tình trạng trẻ em bị XHTD ở nước ta đang có xu hướng gia tăng, với tính chất ngày càng nghiêm tr ng Điều đáng nói là nguy cơ bị xâm hại có thể xảy ra đối với trẻ em ở bất kỳ độ tuổi nào, không phân biệt giới tính, từ thành thị tới nông thôn và trẻ em có thể bị xâm hại ngay dưới mái trường hay trong chính ngôi nhà của mình Tình hình tội phạm xâm hại trẻ em, đặc biệt là XHTD trẻ em có nhiều diễn biến phức tạp và độ tuổi trẻ bị xâm hại ngày càng nhỏ.Nếu như trước đây trẻ bị xâm hại thường là 13 – 18 tuổi, thì nay lại xuất hiện rất nhiều vụ việc ở lứa tuổi 5 – 13 tuổi; phương thức, thủ đoạn phạm tội ngày càng đa dạng hơn Đặc biệt, trẻ em bị XHTD bởi người thân trong gia đình (bố đẻ,

bố dượng, anh, em h ) hơn 21%, bởi thầy giáo, nhân viên nhà trường hơn 6%, bởi người quen, hàng xóm là gần 60%, người lạ là gần 13% Trên diện rộng, theo thống kê hàng năm cho thấy, số vụ XHTD trẻ em của các tỉnh, thành phía Nam chiếm gần 30% so với tổng số vụ XHTD trẻ em của cả nước1

Theo Chánh án Tòa án nhân dân tối cao Nguyễn Hòa Bình, trong giai đoạn

2013 - 2017, ngành tòa án đã xét xử 8.100 tội phạm liên quan XHTD trẻ em và có

549 vụ việc tòa phải trả hồ sơ (chiếm khoảng 6,6%), dù số vụ xét đúng người đúng tội đạt trên 93% còn số vụ trả hồ sơ, hủy sửa không nhiều nhưng vẫn gây bức xúc

cho xã hội, “đây là những vụ không khó trong xét xử nhưng khó trong thu thập

chứng cứ vì không có người làm chứng, thời gian từ khi xảy ra đến khi phát hiện lâu, gia đình có khi che giấu; có loại tội cần giám định nhưng gia đình từ chối…”2

1

Số liệu công bố tại kỳ h p thứ 5 Quốc hội khóa XIV ngày 05/6/2018

2 Số liệu công bố tại kỳ h p thứ 5 Quốc hội khóa XIV ngày 05/6/2018

Ngày đăng: 18/04/2021, 23:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Ng c Oánh (2006), Tâm lý học giới tính và giáo dục giới tính, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học giới tính và giáo dục giới tính
Tác giả: Bùi Ng c Oánh
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
2. Bùi Phương Nga & Lương Việt Thái (2014), Khoa học 5, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học 5
Tác giả: Bùi Phương Nga & Lương Việt Thái
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2014
3. Bùi Thị Xuân Mai (2010), Giáo trình Nhập môn Công tác xã hội, NXB Lao đông – Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Nhập môn Công tác xã hội
Tác giả: Bùi Thị Xuân Mai
Nhà XB: NXB Lao đông – Xã hội
Năm: 2010
7. Đào Thị Vân Anh (2012), “Cha mẹ với việc giáo dục giới tính trong gia đình”, trung tâm Nghiên cứu Giáo dục phổ thông Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Cha mẹ với việc giáo dục giới tính trong gia đình”
Tác giả: Đào Thị Vân Anh
Năm: 2012
8. Đặng Thị Lan Anh (2003), Luận văn Thạc sĩ Xã hội h c “Vai trò của gia đình nông thôn trong việc giáo dục giới tính cho trẻ em ở độ tuổi thiếu niên”, trường Đại h c Khoa h c xã hội và nhân văn Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của gia đình nông thôn trong việc giáo dục giới tính cho trẻ em ở độ tuổi thiếu niên
Tác giả: Đặng Thị Lan Anh
Năm: 2003
9. Hà Thị Thư (2007), Giáo trình tâm lý học phát triển, Nhà xuất bản Lao động – Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tâm lý học phát triển
Tác giả: Hà Thị Thư
Nhà XB: Nhà xuất bản Lao động – Xã hội
Năm: 2007
10. Huỳnh Văn Sơn (1999), Luận văn Thạc sĩ “Thực trạng nhận thức và thái độ của học sinh phổ thông trung học ở một số trường nội thành TP.Hồ Chí Minh đối với nội dung giáo dục giới tính” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng nhận thức và thái độ của học sinh phổ thông trung học ở một số trường nội thành TP.Hồ Chí Minh đối với nội dung giáo dục giới tính
Tác giả: Huỳnh Văn Sơn
Năm: 1999
11. Huỳnh Văn Sơn (2001), Nhận thức và thái độ của học sinh THPT đối với một số nội dung giáo dục giới tính, Tạp chí Tâm lý h c, tháng 8 năm 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận thức và thái độ của học sinh THPT đối với một số nội dung giáo dục giới tính
Tác giả: Huỳnh Văn Sơn
Năm: 2001
12. Lê Hiền (2012), “Người lớn là rào cản...khi giáo dục giới tính” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Người lớn là rào cản...khi giáo dục giới tính
Tác giả: Lê Hiền
Năm: 2012
15. Nguyễn Văn Lê & Nguyễn Thị Đoan (1997), “Giáo dục giới tính”, NXB Đại h c Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Giáo dục giới tính”
Tác giả: Nguyễn Văn Lê & Nguyễn Thị Đoan
Nhà XB: NXB Đại h c Quốc gia Hà Nội
Năm: 1997
16. Nguyễn Văn Tuấn (2007), Tài liệu bài giảng Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục, Đại h c sư phạm kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bài giảng Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục
Tác giả: Nguyễn Văn Tuấn
Năm: 2007
17. Nguyễn Văn Tường (2010), Tài liệu bài giảng Tâm lý học nhận thức, Trung tâm nghiên cứu tâm lý trẻ em Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bài giảng Tâm lý học nhận thức
Tác giả: Nguyễn Văn Tường
Năm: 2010
18. Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Văn Lũy & Đinh Văn Vang (2007), Giáo trình Tâm lý học đại cương, NXB Đại h c Sư Phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Tâm lý học đại cương
Tác giả: Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Văn Lũy & Đinh Văn Vang
Nhà XB: NXB Đại h c Sư Phạm
Năm: 2007
19. Nguyễn Thanh Bình, Vũ Thị Sơn, Lưu Thu Thủy & Đào Thị Oanh (2001), “Giáo dục giới tính cho con”, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Giáo dục giới tính cho con”
Tác giả: Nguyễn Thanh Bình, Vũ Thị Sơn, Lưu Thu Thủy & Đào Thị Oanh
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2001
20. Nguyễn Thị Hồng Nga (2010), Giáo trình Hành vi con người và môi trường xã hội, NXB Lao đông – Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Hành vi con người và môi trường xã hội
Tác giả: Nguyễn Thị Hồng Nga
Nhà XB: NXB Lao đông – Xã hội
Năm: 2010
21. Nguyễn Thị Tố Quyên (2005), Về vấn đề giáo dục giới tính cho trẻ em trong gia đình, Tạp chí Xã hội h c số 1 (89) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về vấn đề giáo dục giới tính cho trẻ em trong gia đình
Tác giả: Nguyễn Thị Tố Quyên
Năm: 2005
22. Nguyễn Thụy Anh (2016), “Giáo dục giới tính và thái độ của người lớn” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Giáo dục giới tính và thái độ của người lớn
Tác giả: Nguyễn Thụy Anh
Năm: 2016
23. Phạm Thị Mai Hương (2014), Luận văn Thạc sĩ Khoa h c giáo dục “Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh trung học cơ sở thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh trung học cơ sở thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh
Tác giả: Phạm Thị Mai Hương
Năm: 2014
27. Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) (2017), báo cáo “Một gương mặt quen thuộc: Bạo lực trong cuộc sống của trẻ em và vị thành niên” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Một gương mặt quen thuộc: Bạo lực trong cuộc sống của trẻ em và vị thành niên
Tác giả: Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF)
Năm: 2017
31. Võ Thị Minh Huệ (2013), “Nói chuyện giới tính không khó”, NXB Tổng hợp Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nói chuyện giới tính không khó”
Tác giả: Võ Thị Minh Huệ
Nhà XB: NXB Tổng hợp
Năm: 2013

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w