Có thể kể đến như: Lý Lăng luận văn thạc sỹ 2008,Trường ĐH KHXH & NV Hà Nội với công trình “So sánh hiện tượng kiêng kị trong tiếng Hán và tiếng Việt”.Luận văn giới thiệu những hiện tư
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
*****
LÊ HOÀNG NGỌC VY
HIỆN TƯỢNG HÀI ÂM TIẾNG HÁN DƯỚI GÓC NHÌN NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÂU Á HỌC
MÃ SỐ: 60.31.06.01
TP Hồ Chí Minh - 2018
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
*****
LÊ HOÀNG NGỌC VY
HIỆN TƯỢNG HÀI ÂM TIẾNG HÁN DƯỚI GÓC NHÌN NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÂU Á HỌC
MÃ SỐ: 60.31.06.01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS Nguyễn Phước Lộc
TP.Hồ Chí Minh - 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Luận văn này là kết quả của một quá trình học tập và nghiên cứu khoa học của tác giả tại khoa Đông Phương học – Đại học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn - Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Trước tiên tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Phước Lộc , người đã tận tình hướng dẫn, góp ý cho tôi trong quá trình hoàn thành luận văn này
Xin chân thành cảm ơn các Thầy Cô trong Khoa Đông Phương học, phòng Sau Đại học và các anh chị học viên cao học Châu Á học khóa 2014 đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập
Xin cảm ơn gia đình và bạn bè thân hữu đã luôn giúp đỡ, động viên và là chỗ
dựa tinh thần vững chắc để tôi có thể đạt được kết quả ngày hôm nay
Trân trọng cảm ơn!
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 8 tháng 10 năm 2018
Lê Hoàng Ngọc Vy
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC HÌNH 5
DẪN NHẬP 7
1 Lý do chọn đề tài 7
2 Mục đích nghiên cứu 7
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 8
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11
5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 11
6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 12
7 Bố cục luận văn 13
NỘI DUNG 14
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 14
1.1 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa 14
1.2 Định nghĩa hài âm 16
1.3 Tiếng Hán và cơ sở hình thành hiện tượng hài âm trong tiếng Hán 19
1.3.1 Khái lược về tiếng Hán 19
1.3.2 Cơ sở về ngôn ngữ 20
1.3.3 Cơ sở về văn hoá 21
Tiểu kết chương 1 27
Chương 2: HIỆN TƯỢNG HÀI ÂM DƯỚI GÓC NHÌN NGÔN NGỮ 28
2.1 Phân loại dựa trên cơ sở ngữ âm 28
2.1.1 Hài âm theo kiểu đồng âm đồng hình 28
2.1.2 Hài âm theo kiểu đồng âm dị hình 29
2.1.3 Hài âm theo kiểu cận âm dị hình 30
2.2 Phân loại theo biện pháp tu từ 31
2.3 Đặc điểm về ngữ dụng của hiện tượng hài âm tiếng Hán 35
2.3.1 Biểu thị ý uyển chuyển, linh hoạt 37
2.3.2 Biểu thị lời lẽ lễ phép, lịch sự 43
2.3.3 Biểu thị tính thẩm mỹ 44
2.4 Hài âm trong thành ngữ và yết hậu ngữ 52
2.4.1 Hài âm trong thành ngữ 53
2.4.2 Hài âm trong yết hậu ngữ 58
2.5 So sánh với hiện tượng hài âm của tiếng Việt 61
Tiểu kết chương 2 61
Chương 3: HIỆN TƯỢNG HÀI ÂM DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HOÁ 64
3.1 Hài âm trong văn hoá nhận thức 64
3.1.1 Tâm lý mưu cầu sự may mắn 64
3.1.2 Tâm lý kiêng kỵ 83
3.1.3 Lòng tự tôn về ngôn ngữ dân tộc 90
3.2 Hài âm trong văn hoá ứng xử 91
3.2.1 Trong văn hoá mạng 92
3.2.2 Trong văn hoá quảng cáo 96
Tiểu kết chương 3 99
KẾT LUẬN 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO 102
PHỤ LỤC 108
Trang 5DANH MỤC HÌNH
Hình 2 1 54
Hình 2 2 55
Hình 2 3 56
Hình 2 4 57
Hình 3 1 65
Hình 3 2 66
Hình 3 3 67
Hình 3 4 68
Hình 3 5 68
Hình 3 6 69
Hình 3 7 70
Hình 3 8 70
Hình 3 9 71
Hình 3 10 72
Hình 3 11 72
Hình 3 12 72
Hình 3 13 73
Hình 3 14 75
Hình 3 15 76
Hình 3 16 77
Hình 3 17 78
Hình 3 18 79
Hình 3 19 79
Hình 3 20 80
Hình 3 21 81
Hình 3 22 81
Hình 3 23 82
Trang 6DẪN NHẬP
1 Lý do chọn đề tài
Trong quá trình hội nhập và toàn cầu hoá hiện nay, tiếp xúc và giao lưu văn hoá giữa các quốc gia, các dân tộc là nhu cầu tất yếu Trong đó ngoại ngữ là công cụ mềm để việc giao lưu văn hoá trở nên thuận lợi hơn.Ngược lại, một khi tìm rõ về văn hoá thì bức tường ngăn cách ngôn ngữ sẽ không còn là rào cản mà là hành lang cho sự giao lưu giữa các quốc gia lãnh thổ Với tầm ảnh hưởng về kinh tế - văn hoá của một quốc gia lớn như Trung Quốc thì ngôn ngữ và văn hoá của đất nước này luôn là đề tài hấp dẫn
Trong quá trình học tập ngôn ngữ tiếng Hán, người viết có sự quan tâm đến hiện tượng hài âm của tiếng Hán Vì trong thực tiễn ngôn ngữ, hài âm là một hiện tượng ngôn ngữ xuất hiện trên rất nhiều bình diện của cuộc sống người Trung Quốc từ ngôn ngữ nói, thơ ca, văn chương đến ngôn ngữ mạng, ngôn ngữ quảng cáo Tuy nhiên trong các công trình nghiên cứu ở trong và ngoài nước phần lớn chỉ nghiên cứu
về hài âm dưới góc độ ngôn ngữ nên chưa làm bật lên nội hàm văn hoá của hiện tượng này Ngôn ngữ là phương tiện chuyên chở văn hoá; ngược lại, để sử dụng một ngôn ngữ cũng phải có tri thức về lịch sử và văn hoá của người bản ngữ Vì vậy, tìm hiểu về hiện tượng hài âm sẽ giải thích được nguyên nhân của những thói quen, kiêng kị vốn tồn tại từ bao đời nay trong cuộc sống của người Trung Quốc Một lý do nữa khiến người viết rất tâm đắc khi chọn đề tài này chính là muốn tìm hiểu đặc trưng văn hoá của người Trung Quốc từ một hiện tượng ngôn ngữ Với những lí do trên, người viết
chọn đề tài “Hiện tượng hài âm tiếng Hán dưới góc nhì n ngôn ngữ và văn hoá” để
tiến hành nghiên cứu
2 Mục đí ch nghiên cứu
Nghiên cứu hiện tượng hài âm để biết được những thói quen cũng như kiêng kị trong giao tiếp của người Trung Quốc, trong các nghi thức tổ chức tang lễ, cưới hỏi, góp phần điều chỉnh, hướng dẫn người đọc khi muốn tiếp xúc với người trung Quốc, tránh những hiểu lầm trong giao tiếp
Trang 73 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Vấn đề hài âm trong tiếng Hán đã được các nhà nghiên cứu ngôn ngữ quan tâm
từ rất lâu Các tài liệu liên quan đến đề tài có thể chia thành hai nhóm chính: nhóm tài liệu trong nước và ngoài nước liên quan đến hiện tượng hài âm của tiếng Hán
Tài liệu liên quan đến hiện tượng hài âm được nghiên cứu ở Việt Nam:
Ở Việt Nam, chúng tôi chưa thấy công trình nghiên cứu nào tập trung nghiên cứu hài âm của tiếng Hán, đa số chỉ là những luận văn cao học, các bài đăng trên các tạp chí nghiên cứu về đồng âm, uyển ngữ Có thể kể đến như:
Lý Lăng (luận văn thạc sỹ 2008,Trường ĐH KHXH & NV Hà Nội) với công trình “So sánh hiện tượng kiêng kị trong tiếng Hán và tiếng Việt”.Luận văn giới thiệu những hiện tượng kiêng kị trong ngôn ngữ giữa tiếng Hán và tiếng Việt, trong đó phần lớn nguyên nhân của hiện tượng kiêng kị này là vì có các các từ đồng âm, như việc kiêng gọi tên, việc kiêng những từ thô tục, việc kiêng sử dụng các từ có nghĩa không tốt lành; kiêng kị theo cách dùng uyển ngữ
Huỳnh Thị Thuỳ Nhân (luận văn thạc sỹ 2009, Trường ĐH KHXH & NV TP
HCM): “ Tìm hiểu lớp từ hài âm, tượng trưng trong tiếng Hán và dấu ấn của nó trong
tiếng Việt” Luận văn đề cập đến hai hiện tượng là hài âm và tượng trưng, đồng thời
tìm hiểu mức độ ảnh hưởng của các hiện tượng đó khi từ ngữ Hán có mặt trong tiếng Việt
Hà Hội Tiên (luận án tiến sỹ 2010, Trường ĐH KHXH & NV Hà Nội): với đề
tài: “Đặc điểm của uyển ngữ trong tiếng Hán” Luận án đã nghiên cứu, khảo sát đặc
điểm của uyển ngữ trong tiếng Hán, có liên hệ với tiếng Việt, đồng thời xây dựng được các tiêu chí xác định uyển ngữ, các mô hình cấu tạo, đặc điểm ngữ nghĩa của uyển ngữ cũng như cách sử dụng của chúng Đồng thời, luận án khảo sát trường hợp dịch các uyển ngữ từ tiếng Hán sang tiếng Việt qua tác phẩm “Hồng Lâu Mộng bằng tiếng Hán và tiếng Việt”, từ đó chỉ ra các kiểu dịch uyển ngữ Hán-Việt Trong đó, tác giả dành mục “1.2.6 Chức năng của uyển ngữ” để nói về chức năng kiêng kị của tiếng Hán xuất phát từ hiện tượng hài âm
Trang 8 Nguyễn Tuyết Hạnh (luận văn thạc sỹ 2011, Trường ĐH KHXH & NV TP
HCM) : “Uyển ngữ trong tiếng Hán” Luận văn tập trung làm rõ uyển ngữ trong tiếng
Hán và ảnh hưởng của nó trong tiếng Việt Trong đó, luận văn dành mục “ 2.2 Uyển ngữ trong văn hoá đồng âm ” để khai thác hiện tượng hài âm với góc nhìn uyển ngữ, đây cũng được xem là điểm mới của đề tài Tuy nhiên, cũng giống như những đề tài khác, luận văn chưa làm rõ cơ sở hình thành của hài âm tiếng Hán cũng như những đặc trưng văn hoá của người Trung Quốc từ hiện tượng ngôn ngữ này
Năm 1999, Bùi Minh Toán trong công trình nghiên cứu “ Từ trong hoạt động giao tiếp tiếng Việt” trình bày quan điểm của mình về từ đồng âm và đa nghĩa trong tiếng việt và cũng có so sánh với tiếng Hán, nhưng cũng chỉ là nghiên cứu về đồng âm, không phải là hài âm
Bài viết của tác giả Đoàn Tiến Lực: “Về phương thức cấu tạo uyển ngữ” đăng
trên Tạp chí Ngôn ngữ, số 2(285), 2013 có đề cập đến trường hợp dùng từ ngữ đồng
âm đề tạo nên uyển ngữ
Tài liệu liên quan đến hiện tượng hài âm được nghiên cứu ở Trung Quốc:
Ở Trung Quốc, đã có rất nhiều nhà ngôn ngữ học nghiên cứu các vấn đề thuộc phạm trù ngữ dụng học, trong đó có hiện tượng hài âm Các công trình nghiên cứu chủ yếu là các luận văn thạc sỹ, luận án tiến sỹ, các bài viết đăng trên các tạp chí ngôn ngữ
郑勇 2013 ,《汉语谐音修辞多维研究》,安徽大学(Trịnh Dũng 2013,
“ Nghiên cứu về tu từ hài âm tiếng Hán”,Luận văn thạc sỹ, Trường Đại học An Huy)
tập trung nghiên cứu về hài âm là một biện pháp tu từ phổ biến trong đời sống hằng ngày của người Trung Quốc Trong bài luận văn này, chương 2 là chương quan trọng khi tác giả tập trung làm rõ được nguyên nhân hình thành biện pháp tu từ tiếng Hán Tác giả cho rằng số lượng từ đồng âm trong tiếng Hán rất nhiều chính là cơ sở vật chất dẫn đến việc sử dụng tu từ hài âm tiếng Hán
胡光美 2007,《汉语谐音现象研究》,长春大学(Hồ Quang Mỹ 2007
“ Nghiên cứu về hiện tượng hài âm tiếng Hán”, luận văn thạc sỹ, Trường Đại học
Trường Xuân) là một công trình dày công nghiên cứu về hiện tượng hài âm Tuy
Trang 9nhiên tác giả chỉ tập trung nghiên cứu về cơ sở ngôn ngữ của hài âm mà chưa nghiên cứu sâu về văn hóa hài âm
Luận văn thạc sỹ “ Ý nghĩa và cách thức giảng dạy văn hóa hòa âm trong tiếng
Hán” của tác giả Cốc Tử Huyên năm 2010 (谷子暄 2010,《关于在对外汉语中高级阶段开展谐音文化教学的意义和措施》,复旦大学) nghiên cứu về phương pháp giảng dạy văn hóa hài âm trong giảng dạy tiếng Hán, đồng thời giới thiệu và phân tích việc ứng dụng văn hóa hài âm trong các kì thi trình độ Hán ngữ ( gọi tắt là kì thi HSK)
Còn Cao Văn Đạt và Vương Lập Thích trong công trình Tri thức từ vựng( 高文
达, 王立适 (1982),《词汇知识》) thì cho rằng: “con người khi tiến hành giao tiếp, đặc biệt là trong khẩu ngữ thì việc sử dụng từ đồng âm có khi tạo ra những trường hợp không rõ ràng […] nhưng không thể phủ nhận những khả năng gây ra nhầm lẫn do từ đồng âm tạo nên”
1998, Hán ngữ từ hội dữ văn hoá, NXB Đại học Bắc Kinh) Đây là một trong những
quyển sách đầu tiên ở Trung Quốc đề cập đến ý nghĩa văn hoá trong từ vựng tiếng Hán, trong đó có đề cập đến văn hóa hài âm
杨梅茹 2013,《从关联理论看谐音文化在交际中的重要性》,贵州师范大
学 (Dương Mỹ Như 2013, Tí nh quan trọng của văn hóa hài âm trong giao tiếp ) tập
trung làm rõ những khái niệm như văn hóa, hài âm, sau đó giới thiệu những phong tục, thơ ca hay những thói quen hằng ngày của người Trung Quốc có sử dụng từ hài âm
王雅军 2005,《 使用委婉语词典》,上海辞书出版社(Vương Nhã
Quân 2005, Từ điển sử dụng uyển ngữ)đề cập đến các nhóm từ, ngữ uyển chuyển
được sử dụng trong giao tiếp hằng ngày, trong đó phần lớn khi sử dụng uyển ngữ chính là sử dụng từ hài âm
任沙沙 2013 ,《网络语言的谐音现象》,南昌大学(Nhiệm Sa Sa 2013,
“ Hiện tượng hài âm trong ngôn ngữ mạng”,Luận văn thạc sỹ, Trường Đại học Nam
Xương) với nội dung chủ yếu là tập trung khai thác yếu tố hài âm được dùng trong ngôn ngữ mạng mà không đề cập đến những thói quen, kiêng kị của người Trung Quốc từ hiện tượng hài âm
Trang 10 Luận văn thạc sỹ “Hài âm tiếng Hán trong nghiên cứu giảng dạy tiếng Hán”
của tác giả Nhan Giai Gia năm 2016 ( 颜佳椰 2016,《汉语谐音的对外汉语教学研究》,湖南师范大学) nghiên cứu về hài âm tiếng Hán và những vấn đề liên quan đến việc giảng dạy tiếng Hán, đồng thời tiến hành điều tra, khảo sát mức độ hiểu biết
và nắm vững về hài âm, văn hóa hài âm của sinh viên học tiếng Hán
Qua quá trình thu thập ngữ liệu trong và ngoài nước, chúng tôi nhận thấy các công trình nghiên cứu tiếp cận hiện tượng hài âm trong tiếng Hán với những nhận xét như sau:
- Chưa có nhiều tài liệu nghiên cứu hiện tượng hài âm trong tiếng Hán kết hợp giữa góc nhìn ngôn ngữ và văn hoá
- Chưa có công trình nghiên cứu nào tập trung về hài âm tiếng Hán được viết bằng Tiếng Việt
- Đa số những công trình nghiên cứu ở trong nước chỉ nghiên cứu hài âm Tiếng Hán và so sánh với hài âm trong Tiếng Việt, vì vậy chưa thấy được nội hàm văn hoá của người Trung Quốc nhìn từ hiện tượng hài âm Như vậy, nghiên cứu về hài âm dưới góc nhìn ngôn ngữ và văn hoá là một đề tài khá thú vị và mới mẻ
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: hiện tượng hài âm của tiếng Hán là đối tượng nghiên cứu của đề tài
Phạm vi nghiên cứu:
-Không gian: luận văn nghiên cứu trong phạm vi Trung Quốc lục địa
-Thời gian: hiện tương hài âm trong ngôn ngữ của người Trung Quốc mang
tính liên tục, do đó đề tài nghiên cứu hiện tượng hài âm từ cổ đại đến nay, nhưng luận văn tập trung phân tích sâu ở thời hiện đại
5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
Để thực hiện đề tài, người viết thực hiện các phương pháp sau:
Trang 11- Phương pháp thống kê ngôn ngữ học để khảo sát, định lượng sự lặp lại của các thanh mẫu, vận mẫu trong âm tiết tiếng Hán; ngoài ra còn định lượng việc ứng dụng hiện tượng hài âm trong ngôn ngữ, từ đó rút ra những nhận định đặc trưng văn hoá của hành vi ngôn ngữ
-Phương pháp đối chiếu trường từ vựng-ngữ nghĩa để làm rõ đặc trưng văn hoá dân tộc của hành vi ngôn ngữ ở người bản ngữ
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: vì hài âm là một hiện tượng ngôn ngữ nên cần phải kết hợp nghiên cứu hài âm với các ngành khoa học có liên quan như: ngôn ngữ học, tâm lý học, văn học, văn hoá học, nhân học
- Phương pháp miêu tả ngôn ngữ: người viết sử dụng thủ pháp tập hợp trong miêu tả ngôn ngữ để khảo sát sự lặp lại của các vận mẫu trong âm tiết tiếng Hán, từ đó chỉ ra cơ sở ngôn ngữ hình thành hiện tượng hài âm tiếng Hán Ngoài ra người viết còn sử dụng thủ pháp phân tích ngôn cảnh để chứng minh rằng tuỳ theo văn cảnh, từ
có thể có những ý nghĩa khác nhau Người Trung Quốc đã tận dụng đặc điểm ngôn ngữ này để tạo ra những hình thức chơi chữ trong văn thơ, chuyện cười, thành ngữ…
Nguồn tư liệu sử dụng trong luận văn gồm các tài liệu thành văn như sách, từ điển (tiếng Trung Quốc, tiếng Việt), các luận văn thạc sỹ, các bài báo khoa học, bài viết trên internet Nguồn tài liệu này được lưu trữ tại Thư viện Tổng hợp Thành phố
Hồ Chí Minh, Thư viện Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn Thành phố Hồ Chí Minh
6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
Về khoa học: Đề tài nghiên cứu một cách tổng quát, đưa ra cái nhìn tổng thể về hài âm bao gồm: khái niệm, cơ sở hình thành, phân loại, chức năng Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ đóng góp một số kiến thức trong ngành khoa học ngôn ngữ
Về thực tiễn: Thông qua việc giới thiệu các thói quen, kiêng kỵ của người Trung Quốc từ hiện tượng hài âm sẽ giúp ích cho sự giao lưu ngôn ngữ có sử dụng tiếng Hán Cụ thể hơn, kết quả của đề tài có thể là nguồn tài liệu tham khảo cho những người đang học tập tiếng Trung Quốc, hoặc dành cho người Việt sống và làm việc ở
Trang 12Trung Quốc, giúp họ hiểu rõ về văn hoá của người Trung Quốc để dễ dàng trong tiếp xúc với người bản địa, không gây hiểu lầm trong giao tiếp
Chương 2: HIỆN TƯỢNG HÀI ÂM DƯỚI GÓC NHÌN NGÔN NGỮ
Chương hai trình bày những vấn đề ngôn ngữ của hiện tượng hài âm trong tiếng Hán như: phân loại, các phương diện khác nhau của lớp từ hài âm trong tiếng Hán Trong chương này, luận văn chú trọng đến khía cạnh lời nói của hài âm tiếng Hán, xem hài âm như một hiện tượng ngôn ngữ đặt trong những tình huống giao tiếp
cụ thể
Chương 3: HIỆN TƯỢNG HÀI ÂM DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HOÁ
Chương ba lấy điểm tựa là văn hoá nhận thức và văn hoá ứng xử để tìm hiểu vai trò của hiện tượng hài âm nói riêng trong văn hoá Trung Hoa Trong chương này, luận văn đi sâu vào phân tích các nét văn hoá thể hiện ở những ngữ vực mà hài âm thường xuyên hoạt động Trên cơ sở đó sẽ làm rõ được nguyên nhân của những thói quen, kiêng kị vốn tồn tại từ bao đời nay trong cuộc sống của người Trung Quốc; cũng như thấy được mức độ ảnh hưởng của hài âm trong các hoạt động văn hoá truyền thông ở Trung Quốc Qua đó nêu lên những nét văn hoá đặc trưng của người Trung Quốc, góp phần xác định loại hình văn hoá Trung Quốc dưới góc độ nghiên cứu một hiện tượng ngôn ngữ
Trang 13NỘI DUNG
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa
Ngôn ngữ và văn hóa có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau trong quá trình phát triển để cùng tồn tại Ngôn ngữ là phương tiện chuyên chở văn hóa và văn hóa chứa đựng trong ngôn ngữ Ngôn ngữ là một trong những thành tố quan trọng hàng đầu của bất kì nền văn hóa dân tộc nào vì nó là nơi lưu giữ và thể hiện rõ nhất các đặc điểm của nền văn hóa dân tộc Đồng thời, sự hình thành ngôn ngữ cũng là tiền đề nhiều mặt cho sự hình thành văn hóa Ngược lại, đặc trưng văn hóa dân tộc được thể hiện ở ngôn ngữ Ngoài chức năng quan trọng nhất là công cụ tư duy và giao tiếp của con người, ngôn ngữ còn có chức năng đặc biệt, đó là chức năng phản ánh, chức năng lưu giữ những cái liên quan đến nền văn hóa, phong tục, tập quán của mỗi cộng đồng Sự biến đổi và phát triển ngôn ngữ luôn đi song song với sự biến đổi
và phát triển văn hóa Chính vì vậy, muốn nghiên cứu về văn hóa phải nghiên cứu về ngôn ngữ, ngược lại muốn tìm hiểu về ngôn ngữ phải chú tâm vào văn hóa
Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa từ lâu đã là mối quan tâm đặc biệt của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ Nhà ngôn ngữ học người Mỹ Sapir đã viết: “ Ngôn ngữ
là một sản phẩm văn hóa mà không phải là một thực thể chức năng.” Tác giả Nguyễn
Văn Chiến trong Tiến tới xác lập vốn từ vựng văn hóa Việt cho rằng: “ Ngôn ngữ nói
chính xác là một hiện tượng văn hóa [ Nguyễn Văn Chiến 2004: 51] Văn hóa có ngoại diên lớn, trong khi đó, ngôn ngữ có ngoại diên hẹp hơn, nhưng có nội hàm rộng hơn Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa là mối quan hệ bao nhau Giữa chúng có những chỗ khác nhau, giao nhau và giống nhau.” Nhà văn hóa người Đức F.de Saussure thì cho rằng : “ngôn ngữ là linh hồn dân tộc”, “ phong tục của một dân tộc
có tác động đến ngôn ngữ , và mặt khác, trong một chừng mực khá quan trọng, chính ngôn ngữ làm nên dân tộc.” Tác giả Nguyễn Huy Cẩn cho rằng: “có hai cách tiếp cận văn hóa từ ngôn ngữ: một là, tiếp cận nội quan, nghĩa là xem xét yếu tố văn hóa từ trong ngôn ngữ của một dân tộc; hai là, tiếp cận theo diện rộng Bằng hình thức so sánh văn hóa, ngôn ngữ của nhiều nền văn hóa và tiểu vùng văn hóa, từ đó giúp phát hiện ra những đặc thù văn hóa và ngôn ngữ của các dân tộc.” [Trung tâm khoa học Xã
Trang 14hội và Nhân văn quốc gia- Viện thông tin Khoa học xã hội 2002: 17] Tác giả Nguyễn Đức Tồn thì nhận định: “ ngôn ngữ là hình thức tồn tại kinh nghiệm lịch sử xã hội của nhân loại Chúng ta có thể nhận thấy những điểm chung trong ngữ nghĩa của các ngôn ngữ Song, bên cạnh những yếu tố kinh nghiệm-lịch sử xã hội chung, trong ý nghĩa ngôn ngữ còn có cả những yếu tố chỉ của riêng của một nền văn hóa nhất định.” [Nguyễn Đức Tồn 2002: 26]
Theo người viết, mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa được thể hiện trên hai góc độ chính, đó là ngôn ngữ quy định văn hóa và văn hóa quy định ngôn ngữ
♦ Ngôn ngữ quy định văn hoá
Ngôn ngữ quy định văn hóa có nghĩa là ngôn ngữ là phương tiện tất yếu, là điều kiện cho sự nảy sinh, phát triển và hoạt động của các thành tố trong nền văn hóa Theo giả thuyết của Sapir-worf, ý thức của mỗi con người được quyết định hoàn toàn bởi ngôn ngữ mẹ đẻ Giả thuyết của ông được diễn đạt bằng một câu điển hình: “ Nếu
Aristof nói tiếng Hán thì logic của ông có thể đã khác” [Theo Nguyễn Thiện Giáp
2008 : 63] Có nghĩa là con người nhận thức thế giới qua ngôn ngữ, ngôn ngữ tác
động đến tư duy và mặc nhiên sẽ quy định tính cách văn hoá của một con người hay một cộng đồng
Chẳng hạn như cùng diễn đạt một ý “ chết ”, trong tiếng Anh chỉ có từ “die”,
mà trong tiếng Hán với nhiều từ như: 死 sǐ,去世 qù shì , hay trong tiếng Việt thì ý nghĩa này còn được diễn đạt với rất nhiều cách khác nhau như: mất, về, từ trần, giang hồ mê chơi quên quê hương, nửa chừng xuân thoát gãy cành thiên hương Tuỳ vào những hoàn cảnh cụ thể mà con người lựa chọn cách sử dụng sao cho phù hợp, qua đó đánh giá được tính cách văn hoá của con người
Sự hình thành ngôn ngữ là tiền đề nhiều mặt của sự hình thành văn hoá Nói một cách tổng quát, hệ thống hoá ý nghĩa liên hội trong ngôn ngữ là một thủ pháp phát hiện tình cảm, cảm xúc và thái độ văn hoá ẩn chìm trong ngôn ngữ Một khi đã lập được một trường nghĩa văn hoá, các hệ thống đồng nhất về nét nghĩa, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ - văn hoá học có thể bắt đầu tìm hiểu cơ sở văn hoá ẩn sau các hiện tượng ngôn ngữ đó, tức là có thể bắt đầu lí giải nguyên nhân văn hoá của chúng
Trang 15♦ Văn hoá quy định ngôn ngữ
Nếu như ngôn ngữ quy định và là tiền đề cho sự phát triển văn hoá thì văn hoá quy định trở lại và là tiền đề cho ngôn ngữ phát triển
Ngôn ngữ không tồn tại ngoài văn hoá, nghĩa là sự tập hợp những phong tục và tín ngưỡng có tính kế thừa trong xã hội, quy định các sinh hoạt trong đời sống chúng
ta Ngôn ngữ gắn rất chặt với hiện thực xã hội bởi nó tìm thấy sự sử dụng trong các tình huống xã hội Nó có một vị trí thật sự trong quá trình hợp tác giao tiếp và được thể hiện ra dưới dạng các phát ngôn cụ thể trong các hoạt động khác nhau [Nguyễn
Huy Cẩn (cb) 2002: 344] Ngôn ngữ là sản phẩm của văn hoá, đồng thời nó cũng là
một hợp phần, thậm chí là hợp phần quan trọng nhất của văn hoá
Tóm lại, ngôn ngữ và văn hóa có mối quan hệ biện chứng với nhau Ngôn ngữ
là một phần của văn hóa, ngôn ngữ là một chỉ số của văn hóa, và ngôn ngữ là biểu trưng của văn hóa Ngược lại, đặc trưng văn hóa dân tộc của ngôn ngữ và tư duy ngôn ngữ được thể hiện ở tất cả các quá trình ngôn ngữ Ngoài chức năng quan trọng nhất là công cụ tư duy và giao tiếp của con người, ngôn ngữ còn có chức năng đặc biệt nữa
đó là chức năng phản ánh, chức năng lưu trữ những cái liên quan đến nền văn hóa, phong tục tập quán của mỗi cộng đồng
1.2 Định nghĩa hài âm
Thuật ngữ “hài âm” trong tiếng Hán là 谐音 xié yīn 谐 xié (HÀI) có nghĩa
là hài hoà, cân đối, 谐音 có nghĩa là âm đọc gần giống nhau hoặc giống nhau
Có nhiều định nghĩa khác nhau về khái niệm hài âm Tác giả Trương Vĩnh
Miên trong Một số hiểu biết về văn hóa hài âm đã định nghĩa về hài âm như sau: “ Hài
âm là một hiện tượng ngôn ngữ, tất cả các hiện tượng ngôn ngữ có sự tương đồng hoặc tương cận về âm thanh đều được gọi là hài âm.” [Trương Vĩnh Miên 1999]
Trong tác phẩm Hán ngữ từ hội dữ văn hóa, tác giả Thường Kính Vũ đã định
nghĩa về hài âm: “Hài âm trong tiếng Hán là sử dụng phương thức sử dụng đặc điểm
đồng âm, gần âm.” [Thường Kính Vũ 1998 ]
Tác gải Hạ Lợi trong Ý nghĩa về văn hóa và việc vận dụng hài âm tiếng Hán
quan niệm: “ Hài âm là một hiện tượng ngôn ngữ, tồn tại phổ biến trong tất cả các
Trang 16ngôn ngữ, hài âm tiếng Hán được xem là một phong tục tập quán phổ biến được sử dụng rộng rãi trong các sáng tác nghệ thuật của người Trung Quốc.” [ Hạ Lợi 2003]
Trong ngôn ngữ học, còn một khái niệm dễ gây sự lầm tưởng với hài âm là đồng âm Từ đồng âm là các từ trùng với nhau về hình thức ngữ âm nhưng lại khác nhau về nghĩa của từ
Theo người viết, “Hài âm là một trong những biệp pháp tu từ sử dụng sự tương đồng về ngữ âm của những âm tiết nhằm biểu đạt ý của người nói.”
Một vài ví dụ về hiện tượng hài âm trong tiếng Hán:
●禄 lù (LỘC) nghĩa là bổng lộ, phúc lộc hài âm với 鹿 lù (LỘC) chỉ con hươu,
vì vậy hình ảnh con hươu luôn được sử dụng để thể hiện cho sự may mắn
●碟 dié (ĐIỆP) nghĩa là bươm bướm hài âm với 耋 dié (ĐIỆT) nghĩa là thọ, ý
chỉ người già trên 70 tuổi Vì vậy, hình ảnh con bươm bướm cũng rất phổ biến trong tranh ảnh, phong thủy, món quà của người Trung Quốc
●伞 sǎn (TẢN) và 散 sàn (TẢN) là một cặp hài âm 伞 sǎn chỉ cây dù, 散 sàn có nghĩa là phân tán, xa lìa, chia li Người Trung Quốc cho rằng nếu tặng dù cho người khác thì sẽ đem đến sự chia lìa, phân tán trong gia đình
●鱼 yú (NGƯ) và 玉 yù (NGỌC) là một cặp hài âm 鱼 yú là “con cá”, còn 玉
yù (kim ngọc, vàng bạc), như vậy nếu như trong nhà nuôi cá vàng, nghĩa là 鱼金 yú jīn (cá vàng) thì cũng có nghĩa là 玉金 yù jīn (vàng bạc, châu báu)
●蝠 fú (BỨC) và 福 fú (PHÚC) là một cặp hài âm 蝠 fú nghĩa là con dơi, còn 福 fú chỉ phúc, hạnh phúc Chính vì vậy, người Trung Quốc từ bao đời nay luôn xem dơi như loài tượng trưng cho sự may mắn, giàu có, hạnh phúc, sung túc
●嫂 sǎo (TẨU) và 扫 sǎo (TẢO) là cặp hài âm 嫂 sǎo là “chị dâu”, 扫 sǎo trong 扫帚星 sào zhōu xīng là “sao chổi” Một trong những kiêng kỵ của người Trung Quốc trong tập tục cưới hỏi là cô dâu không dẫn theo chị dâu trong ngày về nhà chồng Chị dâu trong tiếng Hán có nghĩa là 嫂子 sǎo zi TẨU TỬ, khi đọc lên sẽ giống như chữ 扫帚星 sào zhou xīng (TẢO TRỬU TINH) có nghĩa là sao chổi, với người phương Đông lâu nay luôn xem là điềm xui, kém may mắn
Trang 17● 鞋 xié và 谐 xié là cặp hài âm 鞋 xié (HÀI) là “đôi hài”, 谐 xié(HÀI) là
“hài hòa, hòa thuận” nên 夫妻同鞋 fù qī tóng xié (vợ chồng cùng mang giày) thìcũng có nghĩa là夫妻同谐 fù qī tóng xié (vợ chồng hòa hợp, thuận vợ thuận chồng), với ý cầu mong tân lang tân nương có một cuộc sống hòa thuận sau này Một vài ví dụ về hiện tượng hài âm trong tiếng Việt:
Hiện tượng hài âm trong tiếng Việt gọi là “chơi chữ” Chơi chữ là lợi dụng hiện tượng đồng âm đa nghĩa,… trong ngôn ngữ nhằm gây một tác dụng nhất định (như bóng gió, châm biếm, hài hước) trong lời nói ( Hoàng Phê ( chủ biên)- Từ điển Tiềng Việt-NXB Giáo dục.H.1994) Chơi chữ là một nghệ thuật độc đáo trong ngôn ngữ nói chung và trong ca dao dân ca Việt Nam nói riêng có sử dụng hiện tượng hài âm Nghệ thuật chơi chữ trong ngôn ngữ phần lớn là sử dụng các từ đồng âm để tạo ra tiếng cười cho người đọc Ví dụ như phê phán "bà già" còn muốn chồng được tác giả dân gian mỉa mai bằng cách chơi chữ "lợi" trong một bài ca dao quen thuộc:
Bà già đi chợ Cầu Đông Xem bói một quẻ lấy chồng lợi chăng Thầy bói gieo quẻ nói rằng
Lợi thì có lợi nhưng răng không còn
“Lợi” vừa là tính từ chỉ việc có ích, vừa chỉ một bộ phận trong vòm họng con người: cái " nướu răng"! Đây là một cách chơi chữ đồng âm Chỉ khi nhận ra ý nghĩa của các chữ (từ) đồng âm nhưng khác nghĩa, người nghe mới bật cười, vui tếu, nên không nỡ giận
● Trong tập quán trang trí mâm ngũ quả ngày Tết của người Việt: Vận dụng hiện tượng hài âm của ngôn ngữ, người Việt có tập quán rất đặc biệt, thể hiện rõ nét văn hóa dân tộc Việt đã được lưu truyền từ bao đời nay Đó là trên bàn thờ tổ tiên ngày Tết, người Việt bày trí năm loại quả: mãng cầu, dừa, đu đủ, xoài, sung
Chữ “cầu” trong mãng cầu hài âm với chữ “cầu” ( cầu nguyện)
Chữ “dừa” trong quả dừa hài âm với chữ “vừa” ( chỉ vừa phải, vừa đủ)
Chữ “đủ” trong quả đu đủ hài âm với chữ “đủ” ( chỉ độ đủ, vừa phải)
Trang 18Chữ “xoài” trong quả xoài hài âm với chữ “xài” (chỉ tiêu xài)
Chữ “sung” trong quả sung hài âm với chữ “sung” ( chỉ sung túc)
Một vài ví dụ về hiện tượng hài âm trong tiếng Anh:
●“steel” (n) /stiːl/ (thép) hài âm với từ “steal” (v) /stiːl/ (ăn trộm)
●“sea” (n) /siː/ (biển) hài âm với từ “see” (n) /siː/ (thấy)
●“ rock” (v) /rɒk/ (đu đưa, lúc lắc) hài âm với từ rock (n) /rɒk/ (hòn đá)
1.3 Tiếng Hán và cơ sở hình thành hiện tượng hài âm trong tiếng Hán 1.3.1 Khái lược về tiếng Hán
Tiếng Hán là tiếng nói của dân tộc Hán, là công cụ giao tiếp giữa các dân tộc ở Trung Hoa Tiếng Hán có một lịch sử phát triển rất lâu đời Lịch sử tiếng Hán gắn bó mật thiết với lịch sử dân tộc Hán về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và cũng gắn bó với cảnh quan thiên nhiên của Trung Hoa, nơi cư trú của dân tộc Hán và hơn 50 dân tộc khác Qúa trình hình thành dân tộc Hán chính là quá trình dung hợp các dân tộc thiểu số đồng thời hấp thu những nhân tố văn hóa ưu tú của các dân tộc này dần dần phát triển thành dân tộc Hán chủ thể Những biến động về chính trị, khó khăn về kinh
tế đã tạo ra những làn sóng di dân của người Hán mở rộng về phương Nam Cho đến nay người Hán đã trải qua bốn đợt di dân lớn về phía Nam của đất nước Vì vậy, sự trải rộng dân cư trên một bề mặt bao la, xuyên suốt một chiều dài thời gian, sự tiếp xúc, pha trộn giữa người Hán và các dân tộc khác đã hình thành nên các vùng phương ngôn khác nhau tạo nên sự đa dạng trong ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng của tiếng Hán
Về văn tự Hán, theo những điều đã được ghi chép trong sử sách, chữ Hán lúc đầu đặt
ra theo lối tượng hình Theo thời gian cùng với sự thay đổi của con người, hình dáng của các văn tự Hán đã khác đi hình dáng của vật thật rất nhiều Chữ Hán đang dùng, một vài chữ đã không còn thấy ý nghĩa ý nghĩa tượng hình của thời xưa nữa, bên cạnh
đó là nhiều chữ thuộc về các lối chữ chỉ sự, hình thanh, hội ý, giả tá, chuyển chú Văn
tự Hán là một hệ thống chữ viết dựa trên cơ sở tượng hình, ghi ý nên có sự kết hợp gắn bó chặt chẽ giữa ba mặt hình – âm – nghĩa Chữ được viết theo lối tượng hình nên những hình ảnh trung thực và đầy tính nghệ thuật, mang dấu ấn nhân sinh quan, thế giới quan của người Trung Quốc Bên cạnh sáng tạo chữ Hán, người Trung Quốc còn sáng tạo ra cách viết chữ thể hiện ở nghệ thuật thư pháp, hay như áp dụng văn tự Hán
Trang 19vào thuật phong thủy, hoặc kiểu kiến trúc hình chữ Hán Điều này đã thể hiện một đặc điểm khác của chữ Hán đó chính là khả năng hấp dẫn, luôn tiềm ẩn khả năng vượt qua bên ngoài “chức năng ghi chép lời nói”
Khác với các quốc gia Âu-Mỹ và người Âu-Mỹ, do các điều kiện về địa lý-lịch sử-xã hội, tiếng Hán (và chữ Hán) từ rất sớm đã trở nên quen thuộc với đất nước và con người Việt Nam Ngay cả giờ đây, khi mà sự hòa nhập thế giới, tính giao lưu toàn cầu đang mạnh mẽ với sự xuất hiện của các ngôn ngữ khác như tiếng Hàn, tiếng Nhật, tiếng Đức thì tiếng Hán vẫn có một vị trí đặc biệt ở Việt Nam nói chung và trong tâm thức của người Việt Nam nói riêng Một trong những nguyên nhân chủ yếu đó là
do lịch sử đã để lại các di sản Việt Nam gắn liền với chữ Hán Đó là những bức liễn, những pho tượng, các quyển sách được lưu giữ trong các đình chùa, miếu hay trên bàn thờ tổ tiên của mỗi gia đình Việt Nam Và tất nhiên để đọc được và lý giải ý nghĩa sâu
xa của những Hán ấy phải có những kiến thức nhất định về chữ Hán Bên cạnh yếu tố
về lịch sử, yếu tố văn hóa-chính trị-kinh tế cũng góp phần quan trọng thúc đẩy số lượng người học tiếng Hán trên thế giới và ở Việt Nam tăng lên trong thời gian qua; khi mà Trung Quốc ngày càng vươn lên chứng tỏ vị trí cường quốc của mình Bàn về
tình hình học tập và sử dụng tiếng Hán ở Việt Nam, Nguyễn Văn Khang trong Tiếng
Hán ở Việt Nam hiện nay với tư cách là một ngoại ngữ nhận xét: “người Việt Nam
học tiếng Hán có mục đích và động cơ rõ ràng Người Việt Nam học tiếng Hán với tư cách là một ngoại ngữ trước hết là vì công việc “ Vì công việc” tất cả bao chứa cả niềm say mê, sự hứng thú và dụng công học tập, trong đó: trực tiếp là nắm được tiếng Hán như một nghề để kiếm sống và gián tiếp là coi tiếng Hán như một công cụ để phục vụ công việc chuyên môn Gọi là “nghề”, tức là muốn nói đến hai công việc phiên dịch và dạy học (tiếng Hán) Gọi là phục vụ, tức là sử dụng tiếng Hán để đọc sách chuyên môn hoặc trực tiếp giao dịch công việc bằng tiếng Hán.” [Nguyễn Văn Khang 1999:48]
1.3.2 Cơ sở về ngôn ngữ
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến xuất hiện hiện tượng hài âm trong tiếng Hán Thứ nhất là do số lượng âm tiết sử dụng không nhiều Tiếng Hán có 21 thanh mẫu, 39 vận mẫu, với quy luật giữa các thanh mẫu và vận mẫu có thể hình thành khoảng 400
Trang 20âm tiết 400 âm tiết này cùng với 4 thanh điệu và 1 khinh thanh tạo ra chưa đến 1200
âm tiết Đối với một ngôn ngữ chỉ chưa đến 1200 âm tiết để diễn giải tất cả những ý nghĩa trong giao tiếp thì việc sử dụng từ hài âm là điều không thể tránh khỏi Thứ hai
là do biến đổi về ngữ âm trong lịch sử, do sự du nhập và phiên chuyển các yếu tố ngoại lai vào tiếng Hán hoặc do sự du nhập ngôn ngữ địa phương vào ngôn ngữ toàn dân, do quá trình phân ly cả nét nghĩa của từ hài âm…
Cũng giống như những loại hình ngôn ngữ đơn lập khác, âm tiết của tiếng Hán
là đơn vị cơ sở của ngữ âm Âm tiết tiếng Hán có cấu tạo đơn giản, ở dạng đầy đủ gồm có 3 thành tố: thanh mẫu, vận mẫu, thanh điệu Ở dạng tối thiểu bao gồm 2 thành tố: vận mẫu và thanh điệu Số lượng âm tiết chưa tính thanh điệu trong tiếng Hán là
400, số lượng âm tiết có thanh điệu thực sử dụng là khoảng 1200 Vì vậy trong tiếng Hán sẽ xuất hiện những đơn vị từ có âm đọc giống nhau nhau hoàn toàn (cả thanh mẫu, vận mẫu và thanh điệu) hoặc giống nhau một phần (có thể giống nhau hoặc vận mẫu, hoặc thanh mẫu) Điều này đã giúp chúng ta lý giải tại sao trong tiếng Hán hay gặp những đơn vị hài âm đơn âm tiết hoặc song âm tiết hoặc có khi là ba âm tiết Chẳng hạn như: 鹌 ān trong 鹌 鹑 ānchún (AM THUẦN) nghĩa là con chim cút, hài âm với
安 ān trong 安居 ānjù (AN CƯ) có nghĩa là cư trú, sinh sống bình yên 送钟 sòng zhōng (TỐNG CHUNG) nghĩa là tặng đồng hồ hài âm với từ 送终 sòng zhōng (TỐNG CHUNG) có nghĩa là đưa người về nơi an nghỉ cuối cùng 气管炎 qì guǎn y
án (KHÍ QUẢN VIÊM) nghĩa là bị viêm khí quản hài âm với từ 妻管严 qī guǎn yá
n (THÊ QUẢN NGHIÊM) ý chỉ bị vợ quản thúc nghiêm ngặt
1.3.3 Cơ sở về văn hoá
Trung Quốc là một đất nước rộng lớn về diện tích và cũng là một đất nước có nhiều sắc tộc Trong quá trình phát triển, đất nước này phải chứng kiến sự tách, nhập của nhiều vùng lãnh thổ Đây chính là nguyên nhân hình thành nên một nền văn hóa Trung Hoa với rất nhiều đặc điểm độc đáo
Về không gian văn hóa
Thông thường, không gian văn hóa khác với không gian lãnh thổ Nhưng Trung Quốc là một quốc gia có lãnh thổ rộng lớn nên không gian văn hóa cũng chính là
Trang 21không gian lãnh thổ Trung Quốc là đất nước rộng lớn với diện tích 9,6 triệu km2, chiều dài Nam- Bắc khoảng 5500 km, chiều rộng Đông-Tây khoảng 5200 km Trung Quốc nằm ở phía Đông lục địa Âu- Á, bên bờ Tây Thái Bình Dương; phía Bắc và Đông Bắc giáp vơi Mông Cổ, Nga, phía Nam giáp Myanmar, Lào, Việt Nam; phía Tây Bắc giáp Apganitxtan, Ấn Độ, Nepan, Sikkim, Butan; phía Đông và Đông Nam là biển[ Đặng Đức Siêu 2007: 21] Lãnh thổ Trung Quốc gồm bốn loại hình chính: đồng bằng, long chảo,sa mạc, đồi núi-cao nguyên Đồng bằng chiếm 1/10 diện tích cả nước, chủ yếu phân bố ở vùng duyên hải miền Đông Ở Trung Quốc có các đồng bằng lớn như: vùng đồng bằng Đông Bắc, là vùng đồng bằng rộng lớn nhất Trung Quốc, vùng đồng bằng phía Bắc, vùng đồng bằng ở trung và hạ lưu song Dương Tử, vùng đồng bằng châu thổ sông Châu Giang, vùng đồng bằng Hetao Núi và cao nguyên chiếm 60% diện tích lãnh thổ Các dãy núi chính gồm Thiên Sơn, Yên Sơn, Côn Luân, Tần Lĩnh, Nam Lĩnh, Himalaya, các cao nguyên như cao nguyên Thanh Tạng, Vân Quý, Nội Mông, Hoàng Thổ
Dựa theo mô hình phân vùng tổng quát không gian văn hóa Trung Hoa của
Trần Ngọc Thêm trong Những vấn đề văn hóa học lý luận và ứng dụng thì cách phân chia thành bảy vùng là cách phân chia hợp lý nhất và ở bình diện khái quát bảy vùng văn hóa Trung Hoa, đó là Tây Bắc, Tây Nam, Hoa Bắc, Hoa Nam, Hoa Đông và Hoa Bắc,về cơ bản có thể quy về 3 miền: miền Tây, miền Bắc và miền Nam Ông cho rằng : “đây là một mô hình đẹp vì Trung Quốc vốn tọa Bắc mà nhìn về Nam nên cục diện địa văn hóa Trung Hoa thành ra nở hậu.”[Trần Ngọc Thêm 2005: 16] Trong ba miền thì miền Tây tuy đất rộng nhưng nghèo tài nguyên sản vật, dân ít nên cũng ít có ảnh hưởng đến lịch sử phát triển của văn hóa Trung Hoa Miền Bắc và miền Nam là hai miền quan trọng và phức tạp nhất trong lịch sử Sự khác biệt về vị trí địa lý, địa
hình, khí hậu giữa các khu vực, vùng miền cũng tạo nên sự khác biệt về phong tục, tập quán, trang phục, ẩm thực và cả tính cách của người Hán ở hai vùng Nam Bắc Nếu như người miền Nam có tính cách ôn hòa, tư duy thiên về tình cảm thì người miền Nam phóng khoáng, cương trực, mạnh mẽ, tư duy thiên về lý trí Về lương thực, người dân miền Bắc Trung Hoa ưa thích lúa mì trong khi người miền Nam thì thích gạo Về trang phục, người miền Bắc chủ yếu sử dụng đồ da, đồ lông để giữ ấm, người miền Nam thì hay mặc những trang phục bằng len, mỏng để tạo cảm giác mát mẻ
Trang 22Tóm lại, Trung Quốc với địa hình đa dạng, phức tạp và đủ loại hình cũng đã tạo nên sự đa dạng về văn hóa, phong tục tập quán, tính cách và lối sống của người dân ở các vùng khác nhau trên lãnh thổ Trung Quốc Lãnh thổ Trung Quốc là một khối thống nhất nhưng đồng thời cũng phân ra thành những vùng lãnh thổ khác nhau,
có cách trở về mặt tự nhiên Sự cách trở, cô lập tương đối về mặt địa lí đã tạo nên những màu sắc địa phương của các vùng về các mặt kinh tế xã hội và cả về ngôn ngữ [Lê Xuân Thại 1992:1]
Về chủ thể văn hóa
Nói đến dân tộc Trung Hoa là nói đến các dân tộc xưa và nay sống trên một lĩnh vực địa lý gần bằng cả Châu Âu, dân số bằng một phần tư thế giới [Đặng Thai
Mai 1994: 24] Do hình thành bằng con đường bành trướng và chiếm lĩnh lãnh thổ, qua
đó có rất nhiều tộc người khác nhau được sát nhập lại vì vậy mà ở Trung Quốc đa tộc người và đa nguồn gốc với 56 tộc người, trong đó người Hoa (Hán) nhiều nhất, chiếm khoảng 92% dân số cả nước, dân tộc Choang có hơn 15 triệu người, tiếp sau là Mãn, Hồi, Duy Ngô Nhĩ (số liệu trích theo Đại sứ quán nước CHXHCN Việt Nam tại Trung Quốc năm 2005) [http://www.vnemba.org.cn/ ] Nguồn gốc của dân tộc Hán xuất phát từ 4 thành phần tham gia Hai thành phần chính là Viêm Hoàng và Đông Di, hai thành phần phụ là Bách Việt và Nhung Địch Viêm Hoàng và Đông Di là các bộ tộc cư trú ở phía Bắc sông Hoàng Hà, Bách Việt và Nhung Địch phân bố ở phía Nam sông Hoàng Hà
Trong lịch sử hình thành dân tộc Hán, thành phần dân tộc Hán đã trải qua ba
lần dung hợp lớn, đó là từ thời Xuân Thu-Chiến Quốc, từ thời Hán đến Nam Bắc triều
và từ Tống đền Nguyên Trong lịch sử, miền Bắc là khu vực của người Hoa Hạ, cũng
là nơi giao lưu và dung hợp với các dân tộc du mục phía bắc như Hung Nô, Tiên Ti, Đột Quyết, Khương, Mông Cổ và miền Nam là khu vực cư trú của người Bách Việt [Trần Ngọc Thêm 2013: 458] Từ Tần Hán về sau, chiến tranh liên miên, người Hán dần di chuyển xuống phương Nam, có 3 đợt di chuyển lớn đó là thời Nam Bắc Triều, cuối đời Đường và Lưỡng Tống Và từ đời Tống trở đi mới bắt đầu có nhiều cuộc đi dân người Hán với quy mô lớn về phương Nam, dân số người Hán bắt đầu tăng nhanh
Ở phương Nam, ban đầu do địa hình phức tạp cùng với nền nông nghiệp lúa nước điển hình nên người địa phương hay cụ thể là người Bách Việt sống tương đối độc lập,
Trang 23khép kín ít giao lưu với người Hán nên quá trình Hán hóa diễn ra khá chậm nhờ vậy vẫn giữ được văn hóa của mình nhưng tộc Hán miền bắc vẫn liên tục di chuyển xuống phía nam và thực hiện chính sách đồng hóa, đến thời Nguyên Mông thì bị Mông Cổ đồng hóa một cách cưỡng bức vì vậy mà từ đời Nguyên trở đi người Bách Việt ở phương nam phần lớn bị đồng hóa, đây là quá trình rất dài suốt từ thời Tần đến tận thời Nguyên Mông mới được xem là hoàn tất Trong sự giao lưu giữa người Hán và người Bách Việt, một bộ phận Bách Việt bị đồng hóa thành người Hán, một bộ phận thì rút vào rừng không chịu bị đồng hóa trở thành dân tộc ít người nhưng cũng có một
bộ phận người Hán bị Việt hóa thành tộc Việt, quá trình cộng cư dung hợp lẫn nhau giữa cộng đồng các dân tộc Sau này người Hán dần dần phát triển và làm chủ tất cả các vùng, đồng hóa các dân tộc bản địa, trong số 56 tộc ít người của Trung Hoa thì số lượng đông nhất chính là thuộc về khối Bách Việt [Trần Ngọc Thêm 2013:459] Có thể nói quá trình hình thành tộc Hán là quá trình dung hợp các dân tộc thiểu số đồng thời hấp thu những nhân tố văn hóa ưu tú của các dân tộc này dần dần phát triển thành dân tộc Hán-chủ thể Hôn nhân, di cư và chiến tranh đã mở rộng mối quan hệ và sự giao lưu về chính trị, kinh tế, văn hóa, ngôn ngữ giữa các dân tộc có sự phát triển lẫn nhau; họ học tập, trao đổi và tiếp thu lẫn nhau Tóm lại, quá trình giao lưu giữa các tộc người ở Trung Quốc rộng lớn trải qua quá trình lịch sử lâu dài và đầy những biến động không chỉ tiếp nhận và ảnh hưởng một chiều mà còn ảnh hưởng trở lại, làm biến đổi các tộc người cả về thể chất lẫn văn hóa, tuy nhiên chủ thể chính trong văn hóa Trung Hoa vẫn chính là dân tộc Hán
Về thời gian văn hóa
Giai đoạn hình thành nền văn hóa Trung Hoa gắn liền với các truyền thuyết
hình thành dân tộc, những điều mà sử sách ghi lại phần lớn đều là huyền thoại nhưng đều phản ánh được một giai đoạn lịch sử khi mà các dân tộc ở thuở ban đầu cùng nhau khai thiên lập địa, phản ánh một thời kì quan trọng trong lịch sử các dân tộc của nền văn hóa Trung Hoa
Giai đoạn lịch sử bắt đầu từ thời Tam Hoàng, bao gồm Thiên hoàng thị, Địa hoàng thị, Nhân hoàng thị, Hữu sào thị, Hữu toại thị dạy dân cách làm nhà, Phục Hy thị dạy dân đan lưới, đánh cá, Thần nông thị dạy dân trồng trọt Đến thời đại ngũ đế:
Trang 24Hoàng Đế, Chuyên Húc, Đế Cốc, Đế Nghêu, Đế Thuấn, đều là những nhân vật có nhiều công lao và sử sách đã có rất nhiều truyền thuyết về họ
Sau thời kì Tam Hoàng Ngữ Đế, xã hội Trung Hoa cổ đại bước vào giai đoạn lịch sử được gọi là thời kì Tam Đại, bao gồm nhà Hạ, nhà Chu, nhà Thương
Nhà Hạ (Từ thế kỉ XXI đến thế kỉ XVI TCN): nhà Hạ đã mở đầu cho việc xây dựng một nhà nước với giai cấp thống trị và chế độ nô lệ đầu tiên của xã hội Trung Hoa Nhà Hạ truyền ngôi được hơn 10 đời, cho đến khi Thương Thang diệt Hạ, lập nên nhà Thương (Từ thế kỉ XVI đến thế kỉ XI TCN) Dựa trên nền móng của nhà Hạ, triều Thương xây dựng một bộ máy chính quyền hoàn chỉnh hơn, vua thời nhà Thương cũng có tiếng là đối xử với dân rất tốt là biết trọng người tài Thời kì này thương nghiệp và thủ công nghiệp phát triển, đỉnh cao là thời đại đồ đồng Sau khi đánh bại nhà Thương, Vũ Vương lên ngôi, mở ra thời kì nhà Chu, đó là Tây Chu, và sau đó là Đông Chu Đông Chu với hai thời kì Xuân Thu- Chiến Quốc là thời kì quan trọng trong lịch sử Trung Quốc cổ đại Thời Xuân Thu, người thống trị cao nhất trong
cả nước là thiên tử nhà Chu Quyền lực của nhà vua rất lớn, được miêu tả là “tấn thiên chi hạ, mạc phi vương thổ Xuất thổ chi tân, mạc phi vương thần”, có nghĩa là dưới gầm trời này không có chỗ nào không phải là đất đai của vua, trong bốn bể này, không
có người nào không phải là thần dân của vua Sau thời Xuân Thu là thời kì Chiến Quốc, bắt đầu từ năm 475 đến 221 TCN, năm Tần Thủy Hoàng thống nhất thiên hạ Thời kì Xuân Thu-Chiến Quốc là một thời kì lịch sử với nhiều biến động nhưng cũng
mở ra thời kì phát triển mới cho đất nước Trung Quốc Nhà Tần chỉ tồn tại trong khoảng thời gian 14 năm cho đến khi Lưu Bang đứng lên lật đổ nhà nhà Tần, thống nhất đất nước Trung Quốc năm 202 TCN, xưng Hán Cao Tổ, bao gồm Tây Hán (206 TCN- 23 SCN) và Đông Hán (25-20) Đến cuối thời Đông Hán thì vương triều Đông Hán sụp đổ và mở ra thời kì Tam Quốc Tiếp sau lịch sử Trung Quốc ghi nhận sự thay đổi qua các triều đại kế tiếp là nhà Tấn (265-420), Nam Bắc Triều (420-581), nhà Tùy (581-618), Đường (618-907), thời kì Ngũ đại Thập quốc (907-960), nhà Tống (960-1279), nhà Nguyên (1271-1368), nhà Minh (1368-1644), nhà Thanh (1644-1911) Đến năm 1911, cuộc cách mạng Tân Hợi do Tôn Dật Tiên lãnh đạo giúp nhân dân Trung Quốc thoát khỏi ách thống trị của triều đại Mãn Thanh Ngày 1 tháng 10 năm 1949, tại
Trang 25Quảng trường Thiên An Môn, Mao Trạch Đông tuyên bố thành lập nước Cộng hòa Nhân Dân Trung Hoa
Trung Hoa là một đất nước có bề dày lịch sử Trải qua hơn 5000 năm lịch sử
hình thành và phát triển, trải qua nhiều giai đoạn lịch sử với nhiều hình thái kinh tế khác nhau và luôn có sự đóng góp của người Hán, trở thành dân tộc chiếm vị trí quan
trọng
Trang 262 Hài âm là một trong những biện pháp tu từ sử dụng sự tương đồng về ngữ
âm của những âm tiết nhằm biểu đạt tâm ý của người nói
3 Hiện tượng hài âm trong tiếng Hán được hình thành dựa trên hai cơ sở: cơ sở ngôn ngữ và văn hóa Về cơ sở ngôn ngữ, có nhiều nguyên nhân dẫn đến hiện tượng hài âm, nhưng nguyên nhân chủ yếu nhất là là do do số lượng âm tiết sử dụng không nhiều Về cơ sở văn hóa, trong lịch sử hình thành và quá trình phát triển, người Hán với tư cách là chủ thể, chiếm đại đa số thành phần dân cư, phân bố rộng rãi trên lãnh thổ Trung Hoa Qua nhiều đợt biến đổi, lịch sử và văn hóa Trung Quốc ghi nhận sự tách, nhập của nhiều vùng lãnh thổ, trong lúc đó người Hán đã từng bước hội nhập, tiếp thu, tiếp biến, dung hợp, và đồng hóa các nền văn hóa của các dân tộc thiểu số bản địa, tạo nên một nền văn hóa phong phú, đa dạng và độc đáo
Trang 27Chương 2: HIỆN TƯỢNG HÀI ÂM DƯỚI GÓC NHÌN NGÔN NGỮ
Như đã trình bày ở chương 1, ngôn ngữ và văn hóa có mối quan hệ biện chứng với nhau, ngôn ngữ quy định văn hóa và văn hóa quy định ngôn ngữ Vì vậy để tìm hiểu về một số nét văn hóa của người Trung Quốc có nguyên nhân từ hiện tượng hài
âm thì phải tìm hiểu về hài âm là gì cũng như các kiến thức liên quan đến hiện tượng ngôn ngữ này Chương 2 tác giả sẽ trình bày các đặc điểm về ngôn ngữ của hài âm trong tiếng Hán, đó là: phân loại hài âm, đặc trưng ngữ dụng của hiện tượng hài âm Dưới góc nhìn nhìn ngôn ngữ, chúng tôi phân loại hài âm dựa trên cơ sở ngữ âm (với tiêu chí về ngữ âm, tiêu chí văn tự) và phân loại theo biện pháp tu từ (với tiêu chí về nghĩa, tiêu chí quan hệ)
2.1 Phân loại dựa trên cơ sở ngữ âm
2.1.1 Hài âm theo kiểu đồng âm đồng hì nh
Hài âm theo kiểu đồng âm đồng hình là những đơn vị có âm đọc (thanh mẫu, vận mẫu, thanh điệu) và hình chữ hoàn toàn giống nhau nhưng có ý nghĩa khác nhau
Ví dụ 1: 子 zǐ (TỬ) trong 石榴多子儿 shíliú duō zǐ ér có nghĩa là hạt lựu (quả
lựu có rất nhiều hạt) hài âm với 子 zi (TỬ) trong 儿子 ér zi (NHI TỬ) nghĩa là con trai,
vì vậy trong cuộc sống của người Trung Quốc, quả lựu hay những vật có liên quan đến quả lựu đều tượng trưng cho sự sung túc, con đàn cháu đống, và luôn được ưu tiên hàng đầu trong danh sách những món quà được tặng trong dịp hỏi cưới
Ví dụ 2: 关门 guān mén (QUAN MÔN)có nghĩa là đóng cửa hài âm với 关门 guān mén có nghĩa là đình chỉ kinh doanh, vì vậy người làm kinh doanh luôn tránh sử dụng
từ 关门, mà thay vào đó là dùng những từ như 上门 shàng mén hay 打烊 dǎ yáng để thay thế
Ví dụ 3: 桃 táo (ĐÀO) trong 桃树 táo shù (ĐÀO THỤ) có nghĩa là cây đào hài
âm với 桃 táo trong 桃色 táo sè (ĐÀO SẮC) nghĩa là mối quan hệ nam nữ bất chí nh,
người Trung Quốc kiêng kị trồng cây đào trước cửa nhà với mong muốn không có những chuyện tình duyên không tốt đẹp
Trang 28Ví dụ 4: 管 guǎn (QUẢN) trong 气管炎 qì guǎn yán có nghĩa là bệnh viêm khí
quản hài âm với 管 guǎn (QUẢN) trong 妻管严 qī guǎn yán (THÊ QUẢN NGHIÊM)
chỉ những người đàn ông sợ vợ
Ví dụ 5: 圆 yuán (VIÊN) trong 汤圆 tāng yuán có nghĩa là bánh trôi nước hài âm với 圆 yuán (VIÊN) trong 圆满 yuán mǎn (VIÊN MÃN) nghĩa là viên mãn, hoàn hảo, tốt
đẹp, vì vậy trong các dịp Lễ Tết, người Trung Quốc có phong tục làm bánh trôi nước để thể
hiện mong ước cuộc sống tốt đẹp, viên mãn
Ví dụ 6: 领 lǐng (LĨNH) trong 领子 lǐng zi có nghĩa là cổ áo hài âm với 领 lǐng (LĨNH) trong 领带 lǐng dài (LĨNH ĐỚI) nghĩa là dẫn theo,mang theo, vì vậy theo phong tục của người Trung Quốc, khi khâm liệm người chết không nên cài cổ áo cho người chết, nếu không sẽ có “điềm gở” là người chết sẽ “dẫn con cái họ theo”
2.1.2 Hài âm theo kiểu đồng âm dị hì nh
Hài âm theo kiểu đồng âm dị hình là những âm đọc giống nhau, hình thức văn
tự có điểm khác nhau hoặc hoàn toàn khác nhau, có ý nghĩa khác nhau Nghĩa là các từ hài âm với nhau theo kiểu này sẽ cùng thanh mẫu, vận mẫu, thanh điệu nhưng khác chữ viết
Ví dụ 1: 禄 lù (LỘC) nghĩa là bổng lộ, phúc lộc hài âm với 鹿 lù (LỘC) chỉ con
hươu, vì vậy hình ảnh con hươu luôn được sử dụng để thể hiện cho sự may mắn
Ví dụ 2: 碟 dié (ĐIỆP) nghĩa là bươm bướm hài âm với 耋 dié (ĐIỆT) nghĩa là
thọ, ý chỉ người già trên 70 tuổi Vì vậy, hình ảnh con bươm bướm cũng rất phổ biến
trong tranh ảnh, phong thủy, món quà của người Trung Quốc
Ví dụ 3: 嫂 sǎo (TẨU) nghĩa là chị dâu hài âm với 扫 sǎo (TẢO) trong 扫帚
星 sào zhōu xīng nghĩa là sao chổi
Ví dụ 4: 年糕 nián gāo (NIÊN CAO) chỉ bánh ngọt hài âm với 年高 nián gāo (NIÊN CAO) chỉ sự lớn tuổi
Ví dụ 5: 有鱼 yǒu yú (HỮU NGƯ) nghĩa là có cá hài âm với 有余 yǒuyú (HỮU DƯ) chỉ sự dư thừa
Trang 29Ví dụ 6: 桑 sāng (TANG) trong 桑树 sāng shù (TANG THỤ) có nghĩa là cây dâu hài âm với 丧 sāng (TANG) nghĩa là tang, có tang, vì vậy trong lĩnh vực trồng trọt, người nông dân kiêng kị trồng cây dâu trước cửa nhà với mong muốn không có chuyện xui rủi, hay
“chết chóc” xảy ra trong nhà mình
Ví dụ 7: 碎 suì (TOÁI) có nghĩa là rơi, vỡ, đánh rơi hài âm với 岁 suì (TUẾ) nghĩa
là tuổi, tuổi tác Trong phong tục của người Trung Quốc, trong những ngày đầu năm mới,
nếu những người trong gia đình lỡ tay làm rớt dụng cụ trong gia đình như chén, ly…, thì những người khác trong gia đình sẽ nói câu 岁岁平安 suì suì píng ān , nghĩa là năm nào cũng bình an
2.1.3 Hài âm theo kiểu cận âm dị hì nh
2.1.3.1 Cùng thanh mẫu, vận mẫu, khác thanh điệu
Hài âm theo kiểu cùng thanh mẫu, vận mẫu, thanh điệu nghĩa là các từ hài âm với nhau khác chữ viết nhưng giống nhau về thanh mẫu, vận mẫu, khác thanh điệu
Ví dụ 1: 三 sān (TAM) trong 十三 shísān (THẬP TAM) có nghĩa là số 13 hài âm với 散 sān (TÁN) trong 失散 shīsàn (THẤT TÁN) nghĩa là mất mát, li tán, vì vậy trong quan niệm về các ngày để xuất hành, người Trung Quốc kiêng kị xuất hành vào ngày 13 để tránh gặp phải sự kém may mắn
Ví dụ 2: 死 sǐ(TỬ) nghĩa là chết, mất hài âm với 四 sì(TỨ) chỉ số 4
Ví dụ 3 : 六 liù(LỤC) chỉ số 6 hài âm với 流 liú(LƯU) chỉ sự trôi chảy
2.1.3.2 Cùng vận mẫu, thanh điệu, khác thanh mẫu
Ví dụ : 八 bā (BÁT) có nghĩa là số 8 hài âm với 发 fā (PHÁT) trong 发达 fā dá nghĩa là phát đạt, vì vậy người Trung Quốc rất thích những gì có liên quan đến số 8 như: số
điện thoại, số nhà, biển số xe…
2.1.3.3 Cùng thanh mẫu, thanh điệu, khác vận mẫu
Ví dụ: 舌 shé (THIỆT) nghĩa là cái lưỡi hài âm với 蚀 shí (THỰC) trong 蚀本 shíběn nghĩa là lỗ vốn, vì vậy người làm kinh doanh không thích dùng những từ có舌
Trang 30shé , người Bắc Kinh, người Thiên Tân đều đem món ăn lưỡi heo 猪舌 zhū shé khi
ăn sửa thành 口条 kǒu tiáo , người Quảng Đông thì sửa thành 猪痢 zhū lì ;còn trong tiếng Thượng Hải thì đọc thành 门腔 mén qiāng
2.2 Phân loại theo biện pháp tu từ
Dựa vào cách sử dụng các biện pháp tu từ, có thể phân thành 6 loại hài âm; đó là: hài âm “SONG QUAN” (双关), hài âm “PHI BẠCH” (飞白), hài âm “TÍCH TỰ” (析字), hài âm “PHỎNG TỪ” (仿词), hài âm “TÀNG TỪ” (藏词), hài âm “HỒI VĂN” (回文)
Hài âm “SONG QUAN” (双关): là biện pháp tu từ sử dụng những từ có cách đọc giống nhau hoặc gần giống nhau để biểu thị nhiều ý nghĩa khác nhau, sử dụng từ này nhưng trên thực tế là muốn nói từ khác Biện pháp tu từ theo kiểu hài âm song quan này thường được dùng trong câu đối, trong thơ ca, yết hậu ngữ để biểu thị ý nói tránh, tạo nên những ý nghĩa sâu xa, bất ngờ thú vị Trong tất cả các loại hài âm thìhài âm song quan là loại hài âm phổ biến nhất, và người Trung Quốc cũng rất thích
sử dụng hài âm song quan trong các câu nói trong cuộc sống hằng ngày Tác giả Vương Hi Kiệt có nhắc đến sự phổ biến của hài âm song quan trong tiếng Hán: “中国人一向比较喜欢双关,大概是因为我们是一个比较含蓄的民族”(Tạm dịch:
“Người Trung Quốc luôn thích sử dụng “song quan”, có lẽ là vì chúng ta là một dân tộc mang tính cách kín đáo”.)
Ví dụ 1: Trong bài thơ Trúc Chi Từ của nhà thơ Lưu Vũ Tích, tác giả không hề nhắc đến chữ 情 qíng TÌNH ( tình cảm), nhưng lại sử dụng chữ 晴 qíng TINH (trời trong xanh, có nắng), hài âm với 情 qíng,hữu tình là có nắng, hài âm với hữu tình
là có tình ý.Với dụng ý sử dụng từ hài âm thú vị của tác giả , có nghĩa là "nói là vô
Trang 31âm với 怜 lián (LIÊN) ý chỉ sự thương yêu, 梨 lí (LÊ) nghĩa là quả lê hài âm với 离
lí (LI) ý chỉ sự biệt li Như vậy, sử dụng những từ để nói lên sự thật hiển nhiên,
nhưng thực tế sâu xa bên trong là chỉ sự đau khổ trong tình cảm, sự chua xót đến tột cùng khi phải chia xa
Hài âm “PHI BẠCH” (飞白): trong những trường hợp muốn biểu đạt ý đặc biệt
mà không muốn dùng từ ngữ đó mà lại dùng từ khác có cách đọc gần giống với từ muốn diễn đạt, và điều đặc biệt là người nói cố tình dùng sai từ, biết là đọc sai, viết sai những vẫn dùng, vì cách dùng sai như thế nhằm ám chỉ một ý nghĩa khác để đem lại hiệu quả biểu đạt cao
Ví dụ 1: Trong tác phẩm “红楼梦 Hồng lâu mộng”, nhân vật Lâm Đại Ngọc gọi người anh hai là爱哥哥 ài gē ge Vì 二哥哥 èr gē ge hài âm với 爱哥哥ài
gē ge
Ví dụ 2: Trong câu nói: “你真是个笨蛋!连个吃酒战 chījiǔ zhàn 也不知道。“(Nhà ngươi thật là đần độn, uống rượu mà chũng chẳng biết nữa) sử dụng
biện pháp tu từ hài âm phi bạch Đó là 吃酒战 chī jiǔ zhàn nghĩa là uống rượu hài
âm với 持久战 chī jiǔ zhàn ý chỉ trường kì kháng chiến (một chiến thuật trong chiến đấu)
Ví dụ 3: Trong tác phẩm《太阳从西边出来》của 曾益得 có câu: “ 告诉你,要是跟榴花湾哪个后生谈乱爱,看我打断你的脚手!” Đây là câu nói của người phụ nữ tên Hỉ Lan Nương dạy dỗ đứa con của mình, ý bà muốn dặn dò con gái của mình là không được tự do yêu đương, nhưng tác giả lại tận dụng biện pháp tu từ
hài âm của 乱爱 luàn ài nghĩa là quan hệ nam nữ bất chí nh hài âm với 恋爱 liàn
ài nghĩa là yêu đương, tạo nên tiếng cười cho đọc giả
Hài âm “TÍCH TỰ” (析字): Tích tự có nghĩa dựa trên 3 yếu tố của một chữ Hán là phần hình, phần âm đọc và ý nghĩa để xem xét xem có từ nào khác giống nhau về phần âm đọc để thể hiện ý muốn nói đến Loại hài âm này thường được sử dụng trong thơ, thể loại văn biền ngẫu
Trang 32Ví dụ 1: Trong một lần biểu diễn kịch với tựa đề “ 贵妃醉酒 guìfēizuìjiǔ Quý phi say rượu” của các học sinh người Mỹ (người nước ngoài trong tiếng Hán có thể gọi là 洋人 yáng rén) ở trường đại học Nam Kinh (Trung Quốc) Các du học sinh này đã đổi từ 杨贵妃 yáng guì fēi (quý phi họ Dương) thành 洋贵妃 yáng guì fēi(quý phi người nước ngoài).Từ 杨 yáng (DƯƠNG) là họ Dương hài âm
với từ 洋 yáng(DƯƠNG) chỉ người nước ngoài
Ví dụ 2: Trong hồi 4 của tác phẩm《红楼梦》Hồng Lâu Mộng có câu: “贾不
王请来金陵王,丰年好大雪,珍珠如土金如铁。” Tác giả sử dụng biện pháp hài âm
tích tự, đó là 雪 xuě (TUYẾT) hài âm với 薛 xuē (TIẾT) , ý tác giả muốn nhắc đến 4
kẻ giàu có quyền thế trong gia tộc chế độ phong kiến lúc bấy giờ, đó là 贾 gǔ (CỔ) ,史shǐ(SỬ ),王 wáng (VƯƠNG) ,薛 xuē (TIẾT)
Hài âm “PHỎNG TỪ” (仿词): dựa trên những cụm từ cố định, những câu thành ngữ, câu chuyện đã có sẵn trong dân gian, vận dụng những từ ngữ hài âm để sáng tạo ra những cụm từ, câu thành ngữ, câu chuyện để đạt hiệu quả biểu đạt cao Loại hài âm mô phỏng này thường dùng trong những câu thành ngữ, câu chuyện cười để châm biếm, phê phán người khác
Ví dụ 1: Hài âm trong câu đối: 民 国 万 税 mín guó wàn shuì, 天 下
太 贫!tiān xià tài pín.Câu đối trên mượn ý nghĩa từ câu “ 皇上万岁,天下太
平“ Từ hài âm 万岁 wàn suì(VẠN TUẾ) nghĩa là muôn tuổi, sống lâu hài âm với
từ 万 税 wàn shuì(VẠN THUẾ) ý chỉ người dân phải đóng rất nhiều loại thuế, 太
平 tài píng (THÁI BÌNH) nghĩa là sự bình yên hài âm với từ 太 贫 tài pín (THÁI BẦN) ý chỉ sự nghèo khó Câu trên sử dụng từ 万 税 wàn shuì ý muốn nói
là Quốc dân Đảng có rất nhiều thuế, tiền bạc trong khi có người dân thì lại nghèo khó
太 贫 tài pín, ý chỉ thời kì đen tối khi Quốc dân Đảng thống trị
Trang 33Ví dụ 2:
“今天的“爱资病 ài zī bìng” 患者已经比那些人走得更远,他们正在煽动人们起来破坏生产。”(Những người mắc chứng bệnh cuồng tư bản ngày hôm nay đã đi quá xa, họ đang kích động người dân đứng dậy phá hoại sản xuất.)
“爱资病” ài zī bìng có nghĩa là bệnh cuồng tư bản được lấy từ cụm từ cố định 爱资病 ài zī bìng nghĩa là bệnh AIDS
Hài âm “TÀNG TỪ” (藏词): sử dụng những từ ngữ hoặc câu chuyện đã cũ mà ai cũng biết, sau đó giấu đi những từ ẩn ý, để người đọc tự liên tưởng và lí giải những từ được giấu đi
Ví dụ 1:
一 二 三 四 五六 七八 九 缺十 shí (食) shí
1,2,3,4,5,6,7,8,9 – Thiếu 10 ( THẬP) = Cái gì cũng có chỉ trừ lương thực
Trong câu đầu sử dụng hài âm 十 shí( THẬP) chỉ số 10 và 食 shí (THỰC) nghĩa là lương thực , chữ 食 shí (THỰC) đã bị giấu đi nhưng người để người đọc có
thể tự đoán ra được ý của câu nói (缺十 quē shí không có số 10 cũng tức là không
có lương thực) mang ý đả kích, nói lên thực trạng nghèo đói của nhân dân trong xã hội
cũ
Ví dụ 2: Trong câu đối
Câu trên: 二三四五 Câu dưới: 六七八九 Hoành phi:南北
Ở câu trên lẽ ra phải có chữ 一 yī , câu dưới lẽ ra phải có chữ 十 shí , và trong hoành phi phải chữ 东西 dōngxī Nhưng các chữ đó đã được giấu đi 一 yī Nghĩa là
số 1 hài âm với 衣 yī trong 衣服 yīfú chỉ quần áo, 十 shí hài âm 食 shí nghĩa là lương thực, thực phẩm, 东西 dōngxī chỉ hai hướng Đông và Nam hài âm với từ 东西dōng xi chỉ đồ đạc, vật dụng hằng ngày Câu đối trên sử dụng các từ hài âm để nói lên sự thiếu thốn những vật dụng rất cơ bản cần cho cuộc sống con người như quần áo,
Trang 34thực phẩm, ngụ ý sâu xa chính là nói lên thực trạng nghèo khó của người dân trong xã hội cũ
Hài âm “HỒI VĂN” (回文): Hồi văn là một từ, một cụm từ, một ngữ, một câu
hay một đoạn văn mà đọc xuôi hay ngược đều giống nhau Hài âm hồi văn chính là lợi
dụng những từ ngữ đồng âm để tạo nên những câu hồi văn
Ví dụ: Trong câu đối
画上荷花和尚画 huà shàng hé shàng huà 书临汉帖翰林书 shū lín hàn tiē hàn lín shū
Từ 上 shàng (THƯỢNG) hài âm với 尚 shàng (THƯỢNG),荷 hé (HÀ) hài
âm với 和 hé (HÒA),临 lín (LÂM) hài âm với 林 lín (LÂM) ,汉 hàn (HÁN) hài âm với 翰 hàn (HÀN)
2.3 Đặc điểm về ngữ dụng của hiện tượng hài âm tiếng Hán
Ngữ dụng là cách sử dụng ngôn ngữ trong những ngữ cảnh khác nhau để đạt được những mục đích cụ thể Ngôn ngữ nào cũng chỉ giới hạn số lượng từ ngữ, cấu trúc ngữ pháp hay các hình thức kết hợp câu chữ Nhưng việc vận dụng ngôn ngữ vào thực tế giao tiếp của cả cộng đồng ngôn ngữ đó thì sản sinh ra vô vàn những biến thể với những ý nghĩa khác nhau Ngữ dụng khác với ngữ cảnh tình huống, ngữ cảnh văn hoá Ngữ cảnh tình huống là ngữ cảnh của một hiện tượng ngôn ngữ, của một văn bản, của một trường hợp cụ thể của ngôn ngữ Ngữ cảnh văn hoá là ngữ cảnh của ngôn ngữ với tư cách là một hệ thống Như vậy, ngữ dụng có nghĩa là cách sử dụng ngôn ngữ sao cho ý nghĩa không chỉ được thể hiện trên cấu trúc, ngữ pháp, từ vựng mà còn qua
cả ngữ cảnh của phát ngôn; qua đó thể hiện ý đồ của người nói
Ngữ dụng học phân biệt với ngữ nghĩa học về các mặt sau:
Ngữ dụng học nghiên cứu nghĩa với tư cách là cái được thông báo bởi người nói (người viết) và là cái được giải thích người nghe (người đọc) Do đó, nó phải chú
ý phân tích cái mà người ta muốn nói qua phát ngôn của họ hơn là cái mà tự thân ý nghĩa các từ và các cú đoạn trong phát ngôn đó có thể có Ngữ dụng học phải nghiên
Trang 35cứu những ý nghĩa trong dự định của con người, những điều mà họ cho là đúng, mục đích hoặc ý định của họ và các kiểu hành động của họ khi nói Như thế, ngữ dụng học nghiên cứu ý nghĩa của người nói Nó đòi hỏi phải nghiên cứu xem người nói tổ chức cái họ muốn nói như thế nào cho phù hợp với ngữ cảnh: nói với ai, ở đâu, bao
giờ và trong hoàn cảnh nào [Nguyễn Thiện Giáp 2010: 321] Ngữ dụng học xem xét
những gì mà ngữ cảnh đóng góp vào việc hiểu nghĩa của câu nói Nói là tác động Tác động bằng công cụ ngôn ngữ là tác động trong quá trình dùng ngôn ngữ Chúng
ta sử dụng ngôn ngữ như thế nào? Ông cha ta đã khái quát một đặc điểm của ngôn ngữ văn chương là “ý tại ngôn ngoại - ý ở ngoài lời; ý không hẳn như những điều đã nói ra ” Suy rộng ra, lời thì hữu hạn mà ý thì vô cùng.” [Nguyễn Đức Dân 1988]
Trong các nền văn hóa khác nhau, các hành động ngôn từ được thể hiện bằng ngôn ngữ theo những cách khác nhau Không hiểu sự khác biệt này có thể dẫn đến sự hiểu lầm lẫn nhau trong sự tương tác giữa các nền văn hóa
Trong phạm vi của đề tài, ngữ dụng của hiện tượng hài âm có nghĩa là cách sử dụng yếu tố hài âm trong ngôn ngữ để thể hiện tâm ý, nguyện vọng của của người nói
Đó là sự lịch sự trong giao tiếp, sự uyển chuyển linh hoạt trong những lời lẽ giao tiếp, hoặc thể hiện nét đẹp trong các hình thức ngôn ngữ như thơ ca, chuyện cười, câu đối
Như vậy, khi nói đặc trưng về ngữ dụng của hiện tượng hài âm tức là chúng ta quan tâm đến việc phân tích cái mà người ta muốn nói qua phát ngôn của họ hơn là cái mà tự thân ý nghĩa các từ và các cú đoạn trong phát ngôn đó có thể có Chẳng hạn như trong những dịp lễ, Tết hay tham dự tiệc ăn mừng bạn bè, người thân có nhà mới, người Trung Quốc thường chuẩn bị quà tặng là bức tranh vẽ con chim cút, hoa cúc và cây phong
菊 jú (CÚC) chỉ hoa cúc hài âm với 居 jù (CƯ) có nghĩa là cư trú
鹌 ān (AM) trong 鹌 鹑 ān chún nghĩa là con chim cút, hài âm với 安 ān (AN) trong 安居 ān jù có nghĩa là cư trú, sinh sống bì nh yên
Trong cụm từ 枫树落叶 fēng shù luò yè ( nếu vẽ hình ảnh cây phong) có từ
落叶 luò yè (LẠC DIỆP) hài âm với từ 乐业 lè yè (LẠC NGHIỆP) có nghĩa là sự nghiệp ổn định Thay vì trực tiếp chúc gia chủ là安居乐业 ān jù lè yè, người ta sẽ
Trang 36tặng là bức tranh vẽ con chim cút, hoa cúc và cây phong với hàm ý vừa là mang tính thẩm mỹ vừa là muốn chúc các thành viên trong gia đình có cuộc sống ổn định, sự nghiệp vững vàng
Trong ví dụ đã nêu trên thì đặc điểm về ngữ dụng của hiện tượng hài âm chính
là chỉ trong hoàn cảnh tặng quà cho người khác thì người ta mới mang theo bức tranh
vẽ con chim cút, hoa cúc và cây phong; nhưng người khác không cần quan tâm đến con chim cút, cũng chẳng cần xem hoa cúc có đẹp không hay cây phong như thế nào;
mà người khác chỉ cần biết người tặng muốn chúc được an cư lạc nghiệp mà thôi
Hiểu theo cách khác, tìm hiểu về đặc trưng ngữ dụng của hiện tượng hài âm có nghĩa là quan tâm tới việc người nghe làm thế nào mà nắm bắt được cái ý nghĩa mà người nói có ý định nói ra Chẳng hạn như khi nghe câu nói “五幺八 wǔ yāo bā”, người nghe phải hiểu rằng mục đích của người nói không chỉ đưa ra một thông tin đơn giản là con số 518; mà là mượn cách sử dụng hiện tượng hài âm trong ngôn ngữ để chuyển tải ý muốn phát đạt trong kinh doanh, vì五幺八 wǔ yāo bā hài âm với câu 我
要发 wǒ yào fā (tôi muốn phát tài)
Tóm lại, đặc điểm về ngữ dụng của hiện tượng hài âm tiếng Hán thể hiện ở những điểm sau: biểu hiện ý uyển chuyển linh hoạt, biểu thị lời lẽ lễ phép, biểu thị
tính thẩm mỹ
2.3.1 Biểu thị ý uyển chuyển, linh hoạt
Người Trung Quốc đã vận dụng hài âm như một biện pháp tu từ để biểu đạt rất nhiều ý nghĩa của lời nói.Với đặc điểm giống nhau về phát âm làm cho người ta
có cảm giác về một ý nghĩa đặc biệt hàm chứa bên trong câu chữ ấy.Tức là dựa vào những khả năng tiềm tàng của ngôn ngữ, mà cụ thể là hài âm, để vận dụng linh hoạt đơn vị cơ bản của tu từ học, đặt nó trong mối quan hệ nhiều chiều, nhiều phía với các đơn vị cùng bậc và khác bậc, nhằm khai thác tính chất nước đôi của các đơn vị ngôn ngữ dựa vào sự hiện diện của văn cảnh Từ đây người Trung Quốc đã sáng tạo ra rất nhiều câu chuyện cười cũng là do hiện tượng hài âm mà thành
Trang 37Ví dụ 1:
老董是河南人,来到南方吃早点,一进门就问: "小姐,睡觉 shuì jiào (水饺 shuǐjiǎo) 多少钱一晚 wǎn(碗 wǎn)?" 服务员很不高兴,就 说: "没有,只有 馒头。"老董说了: "哦, 摸摸 mō mō(馍馍 mó mó)也行。
" 服务员极为恼怒,骂到: "流氓 liú máng!" 老董极为惊讶:"六毛 liù máo? 太便宜了!"。
Tạm dịch:
Có một ông lão người Hà Nam, khi ông đến một nơi ở miền Nam dùng bữa sáng, ông bước vào quán ăn liền hỏi: “ Cô ơi, bao nhiêu tiền 1 chén vậy?” (Ngủ 1 đêm bao nhiêu tiền?) Cô nhân viên nghe xong không vui trả lời: “không, chỉ có màn thầu” Ông lão nói: “Ồ, bánh bao không nhân cũng được mà.”( Sờ một chút cũng được mà”)
Cô nhân viên liền tức giận chửi ông ấy: “Đồ lưu manh” Ông lão ngạc nhiên nói: “6 hào, rẻ quá.”
水饺 shuǐjiǎo nghĩa là bánh màn thầu hài âm với 睡觉 shuìjiào nghĩa là đi
ngủ, 一碗 yì wǎn nghĩa là một chén hài âm với 一晚 yìwǎn nghĩa một đêm, 馍馍 mó
mó nghĩa là bánh bao không nhân hài âm với 摸摸 mō mō chỉ hành động sờ, “mò
mẫm”, 六毛 liù máo nghĩa là 6 hào hài âm với 流氓 liú máng nghĩa là tên lưu
manh, côn đồ
Ví dụ 2: 甲:你会跳舞 tiào wǔ吗?(Anh có biết nhảy không?)
乙:我只会跳六 tiào liù。( Tôi chỉ biết nhảy “ LỤC sáu” thôi)
舞 wǔ (VŨ) nghĩa là khiêu vũ hài âm với 五 wǔ (NGŨ) nghĩa là số 5,thay vì
người trả lời phải nói là 跳舞 tiào wǔ (KHIÊU VŨ) thì lại nói là 跳六 tiào liù (nhảy đến thứ 6) , nhằm gia tăng sự hài hước cho câu chuyện
Ví dụ 3: 甲:最起码,最根本,最必要,最基础,最…
乙:你别 “最”啦,我都快醉啊!
Trang 38最 zuì (TỐI) nghĩa là nhất ( trong câu chuyện trên là nghĩa mức thấp nhất, căn
bản nhất, cần thiết nhất, nền tảng nhất) hài âm với 醉 zuì (TÚY) nghĩa là say, say
rượu, người nói trong câu chuyện trên dùng từ hài âm để làm tăng sự hài hước, muốn
“chọc ghẹo” người bạn của mình
Ví dụ 4: 甲:美国有导弹吗 dǎo dàn?(Nước Mỹ có tên lửa không?)
乙:导弹?(Tên lửa?)
甲:啊!( ừm ) 乙:美国有哇,你知道杜勒斯吗?(Nước Mỹ có chứ, thế anh có biết John Foster không?)
甲: 知道。(Tôi biết) 乙:这小子就够“捣蛋 dǎo dàn”的。( Tên đó mới chính là “ kẻ gây chuyện” đấy)
Câu chuyện cười trên sử dụng các từ hài âm là: 导弹 dǎo dàn có nghĩa là tên
lửa, hỏa tiễn hài âm với 捣蛋 dǎo dàn nghĩa là gây sự, gây chuyện.杜勒斯 dù lè sī chính là John Foster Dulles, là một nhà ngoại giao Mỹ, ông là một đảng viên từ năm
1953 đến năm 1959 của đảng Cộng hòa Hoa Kỳ, ông từng là Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ dưới thời Tổng thống Dwight D Eisenhower 9 Ông là một nhân vật quan trọng trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, ủng hộ một lập trường hung hăng chống chủ nghĩa cộng sản trên toàn thế giới, ông cho rằng Hoa Kỳ nên công khai thể hiện có tiềm lực và sẵn sàng sử dụng kho vũ khí hạt nhân khổng lồ của mình để chống lại những mối đe dọa tới lợi ích của Mỹ trên toàn cầu Tác giả chuyện cười trên sử dụng từ hài
âm để tạo nên tiếng cười đột ngột, làm gia tăng tính hấp dẫn cho câu chuyện
Ví dụ 5: 终身禁驾
今天上驾校理论课,老师说:“造成严重交通事故,并且逃逸的,终身
禁驾 zhōng shēn jìn jià 。”
Trang 39后边一妹子举手说到:“那我一辈子 yí bèi zi 都嫁 jià 不出去了啊?”大家都快笑晕了……
Tạm dịch:
‘Trong một buổi học lý thuyết về lái xe, thầy giáo nói: “ Khi gây ra tai nạn giao thông nghiêm trọng, đồng thời còn chạy trốn, sẽ bị phạt cấm lái xe trong suốt cuộc đời”
Lúc này một cô học trò ngồi ở phía dưới chợt giơ tay phát biểu: “ Vây em suốt đời này cũng không được gả đi cho ai hay sao Thầy ạ?” Mọi người trong lớp đều phá lên cười…”
终身禁驾 zhōng shēn jìn jià có nghĩa là phạt cấm lái xe trong suốt cuộc
đời hài âm với 嫁 jià có nghĩa là gả, lấy chồng
Ví dụ 6: 有“机”可乘
有一个商品推销员去广州出差,到北京后,由于想乘飞机前往,因怕经理不同意报销,便给经理发了一封电报:“有机可乘 chéng ,乘否?” 经理接到电报,以为是成交之“机 jī ”已到,便立即回电:“可乘 chéng 就乘。” 这个推销员出差回来报销旅差费时,经理以不够级别,乘坐飞机不予报销的规定条款,不同意报销飞机票费。推销员拿出经理回电,经理目瞪口呆。
Tạm dịch:
“Có một nhân viên kinh doanh đi đến Quảng Châu để công tác, sau khi đến Bắc Kinh, vì muốn tiếp tục đi bằng máy bay, nhưng lại sợ giám đốc không đồng ý chi trả cho khoản chi phí mua vé máy bay này, nên đã gửi điện báo cho giám đốc nói rằng:
“ Dạ thưa có máy bay, em có thể đi bằng máy bay được không ạ?.” Giám đốc sau khi nhận được điện báo, cứ tưởng là đã có cơ hội giao hàng, liền lập tức gửi lại điện báo nói rằng: “ Có cơ hội đi máy bay thì cứ đi đi nhé.”
Anh nhân viên sau khi trở về, muốn thanh toán chi phí vé máy bay, nhưng ông giám đốc lại không đồng ý chi trả do số tiền quá lớn mà lại không xin phép ông ấy
Trang 40trước Anh nhân viên liền lấy đoạn điện báo đã gửi cho giám đốc xem Lúc này, ông giám đốc chỉ biết đứng sững người “ mắt chữ O mồm chữ A” mà thôi.”
乘 chéng có nghĩa là đi máy bay (乘飞机 chéngfēijī đi máy bay) hài âm
với 乘 chéng có nghĩa là tận dụng cơ hội (乘机会 chéng jī huì tận dụng cơ hội)
块地 kuàidì có nghĩa là đất đai hài âm với 快递 kuàidì có nghĩa là giao
hàng nhanh
Ví dụ 8:
甲:听说你很有才华 cái huá ?(A: Nghe nói anh là một người rất tài hoa à?) 乙:现在都用电气儿了。 哪儿有什么柴禾 chái hé 呀!
(B: Bây giờ người ta dùng điện cả rồi, đâu còn ai dùng củi nữa đâu anh!)
才华 cái huá nghĩa là sự tài hoa hài âm với 柴禾 chái hé nghĩa là củi, cây