Cho đến nay, tín ngưỡng Tổ nghiệp của ngành Hát bội, Cải lương có rất nhiều ý kiến khác nhau, thậm chí sai lệch về lịch sử, nguồn gốc, về đối tượng thờ cúng, về những ngành nghề nào tham
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Thành phố Hồ Chí Minh – 2019
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ, hỗ trợ của rất nhiều cá nhân và
tổ chức Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến người hướng dẫn khoa học của tôi trong luận văn này là Phó giáo sư – Tiến sĩ Phan Thị Yến Tuyết Cô là người thầy tận tâm, mẫu mực với kinh nghiệm và chuyên môn sâu rộng, những góp ý, nhận xét của cô luôn là nguồn động lực để tôi cố gắng hoàn thiện bản thân không những trong quá trình thực hiện luận văn mà còn trong suốt hoạt động nghiên cứu sau này
Tôi chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo, các thầy cô, cán bộ chuyên viên Khoa Việt Nam học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện cho tôi trang bị đầy đủ kiến thức, kỹ năng để thực hiện đề tài Đặc biệt, từ lúc hình thành đề cương đến khi hoàn thành luận văn, tôi luôn được tham dự các buổi seminar do Khoa Việt Nam học
tổ chức, rất thiết thực và hữu ích đối với cá nhân tôi cũng như các học viên cao học
Luận văn này cũng không thể thực hiện được nếu thiếu sự hỗ trợ của các thông tín viên gồm các nghệ sĩ tiền bối, diễn viên, nhân viên đoàn hát, thầy cô, sinh viên Khoa Kịch hát dân tộc, Ban Quý tế Hội đình, miếu và những người liên quan đến ngành hát bội, cải lương mà tôi được gặp gỡ và phỏng vấn Tôi xin gửi lời biết ơn chân thành đến họ vì đã tin tưởng, cho phép tôi được quan sát, tham dự và thực hiện 24 cuộc phỏng vấn sâu là nguồn tư liệu hết sức quý giá cho luận văn này
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè đã luôn bên cạnh động viên tôi thực
hiện luận văn này
Trang 4Tôi xin cam đoan luận văn đề tài: “Tín ngưỡng thờ Tổ nghiệp hát bội, cải lương ở thành
phố Hồ Chí Minh” là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của
Phó giáo sư - Tiến sĩ Phan Thị Yến Tuyết Tất cả tư liệu điền dã và kết quả nghiên cứu trong
luận văn là trung thực và chưa được công bố trong công trình nghiên cứu nào Các tài liệu
tham khảo và trích dẫn trong luận văn đều được dẫn nguồn và tham chiếu đầy đủ
Tác giả luận văn
Đặng Phương Toàn
Trang 6 Danh mục bảng biểu:
1 Bảng 1.1 Khái quát về hát bội, cải lương ở thành phố Hồ Chí Minh từ đầu thế kỷ XX đến nay 50
2 Bảng 2.1 Các truyền thuyết về Tổ nghề hát 79
3 Bảng 2.2 Các đối tượng thờ cúng khác trong nghề hát 93
4 Bảng 3.1 Sinh hoạt tín ngưỡng trong dịp giỗ Tổ nghiệp tại các cơ sở thờ tự ở thành phố
Hồ Chí Minh 149
Danh mục hình ảnh
1 Hình 2.1: Mặt bợm treo ở võ ca đình Cần Thạnh (Huyện Cần Giờ) 56
2 Hình 2.2: Tượng “ông Làng” tại Ban Ái hữu nghệ sĩ Hội Sân khấu (133, Cô Bắc, Quận 1) 73
3 Hình 2.3: Bài vị Tam vị Thánh Tổ, hai bên viết Tả ban chi vị - Hữu ban chi vị 83
4 Hình 2.4: Ông Hổ được thờ dưới bàn thờ Tổ khi đoàn hát lưu diễn 87
5 Hình 3.1: Tiết mục Tứ đại thiên vương trong lễ giỗ Tổ tại đoàn Nghệ thuật Hát bội TP.HCM 117
6 Hình 3.2: Giấy tiền vàng mã xếp thành đinh 118
7 Hình 3.3: Đoàn lễ sinh dâng hương trong lễ giỗ Tổ tại trường Đại học Sân khấu – Điện ảnh TP.HCM 141
Trang 7MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT VỀ NGHỆ THUẬT HÁT BỘI, CẢI LƯƠNG CÙNG TÍN NGƯỠNG LIÊN QUAN 21
1.1 Cơ sở lý luận 21
1.1.1 Thuật ngữ khoa học 21
1.1.2 Lý thuyết tiếp cận 31
1.2 Khái quát về ngành Hát bội và Cải lương và tín ngưỡng liên quan ở thành phố Hồ Chí Minh 39
1.2.1 Khái quát về Hát bội ở thành phố Hồ Chí Minh 39
1.2.2 Khái quát về Cải lương ở thành phố Hồ Chí Minh 45
1.2.3 Khái quát về tín ngưỡng thờ Tổ nghiệp của ngành Hát bội, Cải lương ở thành phố Hồ Chí Minh 51
Tiểu kết chương 1 54
CHƯƠNG 2: NGUỒN GỐC VÀ ĐỐI TƯỢNG THỜ CÚNG TRONG TÍN NGƯỠNG TỔ NGHIỆP CỦA NGÀNH HÁT BỘI, CẢI LƯƠNG Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 56
2.1 Nguồn gốc hình thành tín ngưỡng Tổ nghiệp 56
2.2 Các đối tượng thờ cúng trong tín ngưỡng Tổ nghiệp 62
2.2.1 Các vị Tổ nghề của ngành Hát bội, Cải lương 63
2.2.2 Các đối tượng thờ cúng khác trong ngành Hát bội, Cải lương 81
Tiểu kết chương 2 95
CHƯƠNG 3: THỜ CÚNG TỔ NGHIỆP CỦA NGÀNH HÁT BỘI, CẢI LƯƠNG TRONG CÁC CƠ SỞ THỜ TỰ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 97
3.1 Thờ cúng Tổ nghiệp tại nhà riêng của nghệ sĩ 97
3.1.1 Thờ cúng Tổ nghiệp trong các gia đình theo nghề hát 97
3.1.2 Thờ cúng Tổ nghiệp với tư cách cá nhân nghệ sĩ 105
3.2 Thờ cúng Tổ nghiệp tại nơi biểu diễn 108
3.2.1 Thờ cúng Tổ nghiệp trong sân khấu của đoàn Hát bội 108
3.2.2 Thờ cúng Tổ nghiệp tại sân khấu của đoàn Cải lương 123
3.3 Thờ cúng Tổ nghiệp tại cơ sở thờ tự chung của cộng đồng nghệ sĩ 129
3.3.1 Nhà thờ Tổ của Ban Ái hữu nghệ sĩ Hội Sân khấu 130
Trang 8 Thờ cúng Tổ nghiệp tại trường Đại học Sân khấu Điện ảnh Thành phố Hồ Chí Minh 137 Tiểu kết chương 3 152
KẾT LUẬN 154 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC HÌNH ẢNH
DANH SÁCH THÔNG TÍN VIÊN QUA CÁC CUỘC PHỎNG VẤN
Trang 9độc đáo của văn hóa Nam Bộ nói chung và văn hóa của thành phố Hồ Chí Minh nói riêng Tín
ngưỡng thờ Tổ nghiệp Hát bội, Cải lương ở thành phố Hồ Chí Minh là một đề tài nghiên cứu
phù hợp với ngành Việt Nam học nhằm tìm hiểu đất nước, con người và văn hóa Việt Nam Tín ngưỡng này có hệ thống đối tượng thờ và các nghi lễ, kiêng kị phong phú, lâu đời và còn được lưu truyền đến ngày nay nhưng chưa có nhiều tài liệu ghi chép và tìm hiểu chuyên sâu Nếu chậm quan tâm, nét văn hóa qua tín ngưỡng thờ Tổ nghiệp sẽ bị mai một và biến dạng, đây chính là lý do chúng tôi khảo sát đề tài này
Cho đến nay, tín ngưỡng Tổ nghiệp của ngành Hát bội, Cải lương có rất nhiều ý kiến khác nhau, thậm chí sai lệch về lịch sử, nguồn gốc, về đối tượng thờ cúng, về những ngành nghề nào tham gia thờ cúng… Phong tục thờ cúng Tổ ngành Hát bội, Cải lương qua quá trình biến đổi lâu dài, không còn xác định được cụ thể Tổ sư là ai, xuất hiện trong thời gian nào mà chỉ là những truyền thuyết với nhiều dị bản, những ký ức rời rạc, đan xen, rối rắm, thậm chí là
bị ngộ nhận Ví dụ, tuy không phải tất cả, nhưng trong xã hội hiện nay có ý kiến cho rằng ngành Hát bội, Cải lương thờ chung Tổ với đối tượng ăn mày, ăn cướp hay lễ giỗ Tổ nghiệp
là dịp để giới nghệ sĩ – những “người của công chúng” phô trương sự giàu có và danh tiếng Những sự nhầm lẫn hay cách nhìn tiêu cực về tín ngưỡng Tổ nghiệp như vậy khiến cho thông tin bị sai lệch, gây tranh cãi cũng như dẫn tới nhận thức không đúng của xã hội về đời sống tâm linh của cộng đồng nghề Ngoài ra, hệ thống các đối tượng thờ tự trong nghề hát như ông Làng, Thập nhị công nghệ, ông Hổ, ông Địa, ông Ngỗ nghịch đến nay vẫn chưa thống nhất về
Trang 10cách lý giải nguồn gốc Chính vì vậy, chúng tôi chọn đề tài này để khảo sát với mong muốn
hệ thống hóa dữ liệu và tìm ra lai lịch của các vị Thần Tổ của ngành Hát bội, Cải lương cũng như tìm hiểu ý nghĩa “đàng sau” sự tồn tại của tín ngưỡng này là gì trong giai đoạn hiện nay – khi Hát bội, Cải lương không còn phát triển như xưa nhưng tín ngưỡng Tổ nghiệp của họ lại lan truyền trong giới nghệ sĩ Kịch nói, Ca nhạc, Điện ảnh, Múa, Xiếc… thậm chí cả đội ngũ những người hát bóng rỗi trong tín ngưỡng thờ Mẫu tại Nam Bộ
Chúng tôi đã gặp và tham vấn những bậc cao niên am tường trong nghề, đặc biệt là những người hoạt động nghệ thuật sân khấu lâu năm để tìm hiểu, vì nếu không nghiên cứu kịp thời, khi thế hệ nghệ sĩ tiền bối ra đi, sẽ không còn người hiểu biết về tín ngưỡng này Ngoài
ra, chúng tôi còn phỏng vấn những người liên quan đến tín ngưỡng thờ Tổ nghề để tiếp thu những ý kiến của họ về vấn đề này Do đó, chúng tôi nghĩ rằng việc tìm hiểu và hệ thống hóa tín ngưỡng Tổ nghiệp của ngành Hát bội, Cải lương trong giai đoạn hiện nay là điều rất cần thiết
2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của chúng tôi nhằm phân tích đặc điểm truyền thống và những biến đổi của tín ngưỡng thờ Tổ nghiệp sân khấu qua cơ sở lí luận khoa học cùng với các phương pháp nghiên cứu định tính như quan sát, tham dự các nghi lễ trong ngành Hát bội, Cải lương, phỏng vấn nhiều thành phần trong giới am hiểu về tín ngưỡng này và sân khấu cổ truyền tại thành phố Hồ Chí Minh Chúng tôi cũng tiếp cận với các tài liệu về sân khấu Hát bội, Cải lương và tín ngưỡng trong ngành Sân khấu, để từ đó làm rõ nguồn gốc và các đặc điểm của tín ngưỡng Tổ nghiệp Về thực nghiệm, thông qua điền dã thực địa tại các sân khấu
và cơ sở thờ tự tín ngưỡng Tổ nghiệp hiện nay, chúng tôi tìm hiểu đời sống tâm linh và tín ngưỡng của cộng đồng nghệ sĩ cũng như mối quan hệ giữa tín ngưỡng Tổ nghiệp với thực tế nghề nghiệp
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Trang 11Ý nghĩa khoa học
Trong luận văn này, qua việc lý giải vấn đề tín ngưỡng trong nghề nghiệp, chúng tôi mong muốn sẽ góp thêm minh chứng thực nghiệm cho các trường phái lý thuyết nghiên cứu khoa học xã hội mà chúng tôi vận dụng như Chức năng luận (Functionalism), Nhân học biểu tượng diễn giải (Symbolic anthropogy), Folklore học…
Ý nghĩa thực tiễn
Chúng tôi mong muốn luận văn này sẽ đóng góp thông tin cho các ngành chức năng, phục vụ cho việc bảo tồn tín ngưỡng Tổ nghiệp của ngành Hát bội, Cải lương nói riêng và các ngành Sân khấu, tín ngưỡng dân gian nói chung Ngoài ra, chúng tôi hy vọng luận văn sẽ là tài liệu phục vụ cho việc nghiên cứu và giảng dạy và học tập
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tín ngưỡng thờ Tổ nghiệp và đời sống tâm linh của giới nghệ sĩ Hát bội, Cải lương Trong luận văn này, chúng tôi xin giới hạn chỉ khảo sát chủ yếu đối tượng nghệ sĩ thuộc loại hình Hát bội, Cải lương vì hai nghề này có mối quan hệ mật thiết với nhau, hình thành và phát triển từ lâu ở thành phố Hồ Chí Minh, nên tín ngưỡng thờ Tổ nghiệp cũng được lưu truyền lâu đời hơn so với các ngành khác cũng thờ Tổ nghiệp và có cùng ngày giỗ Tổ như Kịch nói, Ca nhạc, Điện ảnh, Xiếc… Tuy nhiên, chúng tôi cũng sẽ tiếp cận thêm một số nghệ sĩ thuộc các ngành khác và những người hát Bóng rỗi thuộc tín ngưỡng thờ Mẫu để có thể khảo sát vấn đề bao quát hơn, cũng như nhận biết được sự dị biệt và biến đổi trong tín ngưỡng Tổ nghiệp giữa các cộng đồng nghề với nhau
- Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu về không gian của đề tài là thành phố Hồ Chí Minh (trước đây là
Gia Định - Sài Gòn) Chúng tôi chọn thành phố Hồ Chí Minh vì từ xưa tới nay, thành phố này
là “đầu tàu” của Nam Bộ trong các lĩnh vực về kinh tế, văn hóa, xã hội Đây là nơi mà các
Trang 12đoàn Hát bội, Cải lương nòng cốt và tiêu biểu tập trung đông và đa dạng nên thành phố Hồ Chí Minh là một địa điểm thích hợp cho việc khảo sát
Phạm vi nghiên cứu về thời gian của đề tài tập trung khảo sát từ năm 1975 đến nay Sở
dĩ như vậy vì sau năm 1975, Nam Bộ cũng như cả nước có sự thay đổi to lớn về chính trị, văn hóa, xã hội… Các loại hình sân khấu truyền thống ở Nam Bộ, trong đó có Hát bội, Cải lương, cũng đứng trước những điều kiện và thách thức để tiếp tục tồn tại trong thời kì mới Từ những điều kiện nghề nghiệp, tín ngưỡng Tổ nghiệp Hát bội, Cải lương cũng có những thay đổi để thích ứng với nhu cầu của cộng đồng nghề Chúng tôi chọn phạm vi nghiên cứu về thời gian
là giai đoạn từ năm 1975 đến nay để thấy rõ được những thay đổi của cộng đồng nghề và niềm tin đối với Tổ nghiệp của họ Tuy nhiên, trong quá trình tìm hiểu, chúng tôi cũng đề cập đến những sự kiện trước năm 1975, để làm rõ một số vấn đề, biến đổi trong tín ngưỡng Tổ nghiệp
5 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Chúng tôi xin điểm qua các công trình nghiên cứu về tín ngưỡng thờ cúng Tổ nghề theo trình tự thời gian như sau:
- Các công trình nghiên cứu về tín ngưỡng, tôn giáo và văn hóa dân gian
- A.R Radcliffe-Brown, Structure and function in primitive society, essays and
addresses, NXB The Free Press, Glencoe Illinois (Mỹ), 1952
A.R Radcliffe-Brown là nhà nhân học theo trường phái chức năng cấu trúc (structural
functionalism) Công trình Structure and function in primitive society, essays and addresses
gồm có 12 chương, tập hợp các bài tiểu luận và diễn thuyết của ông về cấu trúc và chức năng
trong xã hội nguyên thủy của người bản địa châu Úc Trong chương 8: Religion and society,
Radcliffe-Brown trình bày mối quan hệ giữa niềm tin và nghi lễ của con người với xã hội Công trình này giúp chúng tôi hiểu về cơ sở lý thuyết chức năng cấu trúc (structural
Trang 13functionalism) khi khảo sát vai trò của tín ngưỡng Tổ nghiệp trong việc duy trì sự ổn định của cộng đồng ngành Hát bội, Cải lương
- Phan Kế Bính, Việt Nam phong tục, NXB Văn học, Hà Nội, 2005
Phan Kế Bính là nhà văn hóa nổi tiếng ở Việt Nam trong giai đoạn đầu thế kỉ XX Công
trình Việt Nam phong tục của ông ghi chép công phu, chi tiết các phong tục, tập quán của người Việt, gồm ba thiên: Nói về phong tục trong gia tộc; Thiên thứ hai – Nói về phong tục
hương đảng; Thiên thứ ba – Nói về phong tục xã hội Trong đó, chúng tôi tập trung vào các
ghi chép về thần linh, việc tế tự, hội bách nghệ, hát tuồng… vì đây là cơ sở để chúng tôi khảo sát vấn đề liên quan đến tín ngưỡng dân gian của người Việt cũng như tìm hiểu về Hát bội trong xã hội Việt Nam đầu thế kỉ XX
- Đặng Nghiêm Vạn, Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam, NXB Chính
trị Quốc gia, Hà Nội, 2005
Công trình này là kết quả nghiên cứu về lý luận tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam,
gồm sáu phần: Đối tượng của tôn giáo; Các yếu tố cấu thành một tôn giáo; Vai trò, nhu cầu
và diễn biến tôn giáo trong đời sống; Đặc điểm tình hình tôn giáo Việt Nam; Đặc trưng và vai trò các tôn giáo cụ thể ở Việt Nam hiện nay và Chính sách tôn giáo Trong công trình này, tác
giả Đặng Nghiêm Vạn đã trình bày quan điểm tiếp cận các khái niệm tín ngưỡng, tôn giáo, mê
tín… Ngoài ra, tác giả còn giải thích các xu thế biến đổi của tôn giáo và nhận định tình hình
tôn giáo ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập Đây là tài liệu quan trọng cung cấp cho chúng tôi
cơ sở lý luận để tìm hiểu các vấn đề liên quan tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam
- Vũ Ngọc Khánh và Phạm Minh Thảo, Từ điển Việt Nam Văn hóa Tín ngưỡng Phong
tục, NXB Văn hóa – Thông tin, 2005
Công trình Từ điển Việt Nam Văn hóa Tín ngưỡng Phong tục của nhóm tác giả Vũ Ngọc
Khánh và Phạm Minh Thảo đề cập đến những thuật ngữ thuộc lĩnh vực văn hóa, phong tục tập quán, tín ngưỡng, lễ hội… ở Việt Nam, được trình bày ngắn gọn, súc tích và sắp xếp theo
Trang 14dạng từ điển, nhằm cung cấp cho người đọc những “tri thức văn hóa phổ thông nhất” về văn
hóa tín ngưỡng Việt Nam Công trình này giúp chúng tôi tiếp cận thuật ngữ tín ngưỡng dân
gian (hay tín ngưỡng truyền thống)
- Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, Những vấn đề nhân học tôn giáo, Tạp chí Xưa & Nay
và NXB Đà Nẵng, 2006
Công trình Những vấn đề nhân học tôn giáo “tập hợp nhiều bài viết của các tác giả từ kinh
điển cho đến thời hiện đại ở châu Âu và châu Mỹ, đề cập đến những định nghĩa cơ bản về các hiện tượng tôn giáo và giới thiệu các lý thuyết nghiên cứu về tôn giáo khác nhau hiện hành”
(Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, 2006, tr.6) Trong bài Ma thuật, khoa học và tôn giáo (Magic, Science and Religion), B Malinowski đã trình bày nghiên cứu về niềm tin và cúng
kiếng của cư dân đảo Trobriand, đây là cơ sở quan trọng để chúng tôi tiếp cận lý thuyết Chức năng (Functionalism), đặc biệt là chức năng tâm lý của cá nhân (individual functionalism)
Ngoài ra, bài Biểu tượng trong nghi lễ của người Ndembu (Symbols in Ndembu Ritual) của V Tuner và bài Tôn giáo như một hệ thống văn hóa (Religion as a Cultural system) của C
Geertz giúp chúng tôi tiếp cận các quan điểm nghiên cứu về Nhân học biểu tượng (Symbolic anthropology), cụ thể là vận dụng vào việc tìm hiểu chức năng và ý nghĩa của các biểu tượng trong nghi lễ Các bài nghiên cứu trên giúp chúng tôi hình hình thành cơ sở lý thuyết để giải quyết các nội dung liên quan đến niềm tin và nghi lễ trong tín ngưỡng Tổ nghiệp
- Chu Xuân Diên, Nghiên cứu văn hóa dân gian - Phương pháp - lịch sử - thể loại,
NXB Giáo dục, 2008
Công trình Nghiên cứu văn hóa dân gian - Phương pháp - lịch sử - thể loại tập hợp các bài
nghiên cứu của tác giả Chu Xuân Diên về nhiều lĩnh vực trong nghiên cứu văn hóa dân gian như lý thuyết và phương pháp, lịch sử nghiên cứu văn hóa dân gian, nghiên cứu thể loại văn học dân gian… Công trình giúp chúng tôi tiếp cận các thuật ngữ khoa học, quan điểm học thuật trong nghiên cứu văn hóa dân gian (folklore) cũng như vận dụng phương pháp so sánh,
Trang 15đối chiếu folklore để phân tích các truyền thuyết trong tín ngưỡng thờ Tổ nghiệp của ngành Hát bội, Cải lương
- Trần Quốc Vượng, Cơ sở văn hóa Việt Nam, NXB Giáo dục, 2008
Công trình thuộc môn học Cơ sở văn hóa Việt Nam, được chia làm 4 phần: Các khái niệm
cơ bản; Cấu trúc, thiết chế và chức năng của văn hóa; Diễn trình lịch sử của văn hóa Việt Nam và Không gian văn hóa Việt Nam Trong phần Những thành tố văn hóa, tác giả Trần
Quốc Vượng đã phân tích tôn giáo, tín ngưỡng là hai khái niệm độc lập, sự khác biệt chủ yếu của hai thuật ngữ này là mức độ niềm tin và cơ cấu tổ chức Ngoài ra, tác giả còn phân tích thành tố lễ hội, theo đó, lễ hội là một sinh hoạt văn hóa gắn bó mật thiết với đời sống của cộng đồng Tác giả cũng nhấn mạnh tính cộng đồng của lễ hội thể hiện thông qua các nhân vật được thờ phụng, nghi lễ, giá trị cộng cảm, cộng mệnh… Chúng tôi tham khảo công trình này vì nội dung đề tài có liên quan đến khái niệm tín ngưỡng và tìm hiểu về lễ hội của cộng đồng ngành Hát bội, Cải lương
- Các công trình nghiên cứu về sân khấu Hát bội, Cải lương
- Huỳnh Khắc Dụng, Hát bội, NXB Nam Chi Tùng Thư, 1970
Đây là công trình được nghiên cứu công phu, chi tiết về nghệ thuật Hát bội ở miền Nam của tác giả Huỳnh Khắc Dụng Công trình được viết bằng song ngữ Pháp – Việt với những ghi chép cụ thể từ nguồn gốc hình thành, các trình thức biểu diễn, các bài bản tuồng tích, âm nhạc, phục trang… của Hát bội Nam Bộ, thể hiện niềm say mê và sự khảo sát cặn kẽ, sâu sắc của tác giả Trong công trình này, tác giả Huỳnh Khắc Dụng còn đề cập đến tập tục thờ Tổ và cách tổ chức công việc của các đoàn Hát bội, đây là dữ liệu quan trọng mà chúng tôi kế thừa nhằm tìm hiểu ý nghĩa, vai trò của Tổ nghiệp đối với đời sống của cộng đồng nghệ sĩ Hát bội
- Trần Văn Giàu và Trần Bạch Đằng (Chủ biên), Địa chí Văn hóa Thành phố Hồ Chí
Minh – Tập III: Nghệ thuật, NXB TP.HCM, 1998
Trang 16Công trình này có các bài nghiên cứu về Hát bội, Cải lương ở thành phố Hồ Chí Minh, là những bài nghiên cứu có nội dung liên quan trực tiếp đến đề tài luận văn của chúng tôi Trong
bài Nghệ thuật Hát bội ở thành phố từ xưa đến nay, tác giả Đỗ Văn Rỡ đã trình bày rất chi tiết
về lịch sử, đặc điểm của Hát bội ở thành phố Hồ Chí Minh, đặc biệt là tình hình Hát bội biến đổi trong giai đoạn trước và sau năm 1975 Các bài nghiên cứu về nghệ thuật Cải lương như
Sân khấu Cải lương của Hoàng Như Mai và Hát Cải lương trên chặng đường đầu xây dựng Chủ nghĩa Xã hội của Trương Bỉnh Tòng giúp chúng tôi khái quát được tiến trình hình thành
và biến đổi của Cải lương tại thành phố Hồ Chí Minh Ngoài ra, bài Sân khấu Tiều, Quảng ở
Sài Gòn của tác giả Đinh Bằng Phi giúp chúng tôi nhận biết và phân biệt Hát bội, Cải lương
của người Việt với các loại hình sân khấu kịch hát cổ truyền của người Hoa như Việt kịch (của người Quảng Đông), Triều kịch (của người Triều Châu) Những công trình này là nguồn tài liệu quan trọng để tìm hiểu về nghệ thuật Hát bội, Cải lương, nhất là khi các tác giả đều tập trung nghiên cứu trong phạm vi thành phố Hồ Chí Minh
- Đinh Bằng Phi, Nhìn về sân khấu Hát bội Nam Bộ, NXB Văn nghệ, 2005
Đinh Bằng Phi là tác giả nghiên cứu nhiều về nghệ thuật Hát bội Qua những trải nghiệm của một người trong nghề lâu năm, Đinh Bằng Phi đã có những nhận định rất tinh tế và sâu
sắc Trong công trình Nhìn về sân khấu Hát bội Nam Bộ, tác giả khảo sát nghệ thuật Hát bội
Nam Bộ qua nhiều bình diện từ lịch sử hình thành, các đặc điểm, trình thức biểu diễn,… Trong chương một, tác giả giới thiệu một số thuật ngữ trong nghệ thuật Hát bội, trong đó có
“ông Làng” là đối tượng thờ cúng trong tục thờ Tổ nghề Ở chương hai, tác giả khái quát về quá trình phát triển nghệ thuật Hát bội tại Nam Bộ và Sài Gòn qua các dịp lễ có biểu diễn Hát bội Đây là công trình có nội dung quan trọng liên quan nhiều đến đề tài của chúng tôi, nhờ đó chúng tôi hiểu được tiến trình phát triển của Hát bội Chương ba là những câu chuyện trong nghề hát Chúng tôi tham khảo được những câu chuyện về giới nghệ sĩ Hát bội, trong đó, có các giai thoại về kiêng kị và niềm tin về “Tổ đãi, Tổ trác” của người trong ngành Sân khấu
Trang 17- Tôn Thất Bình, Tuồng Huế, NXB Trẻ, 2006
Công trình Tuồng Huế nghiên cứu về nghệ thuật tuồng tại Huế, gồm 6 chương Trong
chương 2 của công trình, tác giả Tôn Thất Bình viết về sự hình thành và phát triển nghệ thuật tuồng ở Huế và chương 6 viết về cơ sở, tập tục liên quan đến nghệ thuật tuồng Huế Đây là hai chương rất cần thiết cho đề tài tín ngưỡng Tổ nghiệp sân khấu của chúng tôi Những ghi chép về lịch sử hình thành nghệ thuật tuồng giúp chúng tôi có cơ sở xác định nguồn gốc của các vị Tổ nghiệp được thờ cúng trong tín ngưỡng Tổ nghiệp Chương 6 của công trình chung cấp tư liệu về các nghi lễ trong thực hành tín ngưỡng tại nhà thờ Tổ trong Thanh Bình thự Cư dân Nam Bộ đa phần là di dân từ miền Trung (từ Đàng Trong), văn hóa Nam Bộ phát triển từ
“hạt giống” văn hóa miền Trung, do đó, dòng tuồng Nam Bộ có liên quan trực tiếp với dòng tuồng của các lưu dân miền Trung truyền vào Do vậy, những nghiên cứu chuyên sâu về lịch
sử tuồng Huế và lễ giỗ Tổ tại Thanh Bình thự cũng là cơ sở tài liệu quan trọng để chúng tôi đối chiếu với nghệ thuật tuồng và trình thức cúng Tổ tại thành phố Hồ Chí Minh
- Nguyễn Thị Minh Ngọc và Đỗ Hương, Sân khấu Cải lương ở Thành phố Hồ Chí
Minh, NXB Tổng hợp TP.HCM và NXB Văn hóa Sài Gòn, 2007
Thuộc bộ sách 100 câu hỏi đáp về Gia Định – Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh, công trình
Sân khấu Cải lương ở Thành phố Hồ Chí Minh được biên soạn và trình bày theo dạng các câu
hỏi đáp ngắn gọn, súc tích về nhiều khía cạnh liên quan đến sân khấu Cải lương ở thành phố, như các sự kiện lịch sử, đoàn hát danh tiếng, nghệ sĩ tài năng… Trong các câu hỏi đáp, tác giả còn đề cập đến lễ giỗ Tổ và những nơi thờ tự Tổ nghiệp của giới Cải lương trong địa bàn thành phố Hồ Chí Minh như Ban Ái hữu nghệ sĩ tương tế, Nghĩa trang nghệ sĩ… Chúng tôi kế thừa công trình này trong việc tìm hiểu tiến trình lịch sử và đời sống vật chất lẫn tinh thần của nghệ sĩ Cải lương ở thành phố Hồ Chí Minh
- Trần Đình Sanh và Hoàng Hoài Sơn, Hoàng Châu Ký – Những công trình nghiên cứu
đặc sắc về nghệ thuật Tuồng, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2012
Trang 18Công trình này là tuyển tập của nhà nghiên cứu Hoàng Châu Ký về sân khấu Hát bội (tuồng) về cả phương diện lịch sử hình thành lẫn nghệ thuật trình diễn Trong công trình này, tác giả Hoàng Châu Ký đã trình bày các giả thuyết về nguồn gốc của tuồng cũng như trình bày các sự kiện lịch sử quan trọng có liên quan đến nghệ thuật tuồng ở Việt Nam Đây là công trình cung cấp nhiều thông tin về lịch sử nghệ thuật tuồng, từ đây, chúng tôi lý giải được nhiều hơn về nguồn gốc Tổ ngành Hát bội, làm rõ đối tượng được thờ cúng trong tín ngưỡng này
- Hoàng Chương, 100 năm nghệ thuật Cải lương Việt Nam, NXB Văn hóa – Thông tin,
- Các công trình nghiên cứu về tín ngưỡng thờ cúng Tổ nghề
- Vũ Ngọc Khánh, Lược truyện Thần Tổ các ngành nghề, NXB Khoa học Xã hội, 1991 Công trình gồm hai phần: Phần thứ nhất là Danh mục và lược truyện về Bách nghệ Tổ sư; Phần thứ hai là Một số tư liệu minh họa Trong phần thứ hai, tác giả Vũ Ngọc Khánh đã trình
bày về giỗ Tổ của nghề hát tuồng Là một nhà nghiên cứu folklore, tác giả tập trung vào những huyền thoại và truyền thuyết để giải thích nguồn gốc của Tổ sư và những lễ thức trong ngày giỗ Tổ nghề hát tuồng xuất phát từ các chi tiết trong truyền thuyết về các vị Tổ sư Đây
là cơ sở dữ liệu để chúng tôi giải thích nguồn gốc tín ngưỡng thờ cúng Tổ sư nghề nghiệp, từ
đó, chúng tôi đối chiếu, cập nhật những nét mới trong lễ thức của ngày giỗ Tổ hiện nay
- Lê Minh Quốc, Các vị Tổ ngành nghề Việt Nam, NXB Trẻ, 1998
Trang 19Trong cuốn sách này, tác giả Lê Minh Quốc đã trình bày nguồn gốc xuất thân của các vi
Tổ ngành nghề truyền thống ở Việt Nam như nghề mộc, nghề thêu, nghề hát xẩm, hát ả đào,
nghề in, nghề kim hoàn, nghề dệt chiếu, nghề đúc đồng, nghề dệt Trong phần Những Tổ sư
trong nghề tuồng hát, tác giả đã tổng hợp một số quan điểm và tài liệu về nguồn gốc Tổ
nghiệp và những đối tượng thờ cúng trong tín ngưỡng Tổ nghiệp Hơn thế, qua so sánh bàn thờ Tổ tại Huế và tại thành phố Hồ Chí Minh, tác giả cho thấy tuy lễ thức được tổ chức khác nhau tùy vào từng địa phương, nhưng niềm tin Tổ nghiệp luôn tồn tại trong đời sống cộng đồng những người hoạt động trong lĩnh vực sân khấu Từ công trình này, chúng tôi tâm đắc với quan điểm của tác giả: “Tổ nghề không nhất thiết phải là con người thật và những ngành nghề không phải mới ra đời từ thời vị Tổ sư đó” Chúng tôi mong muốn từ cơ sở dữ liệu đó có thể giải thích nguồn gốc của tín ngưỡng Tổ nghiệp sân khấu và đi sâu tìm hiểu chi tiết hơn về tín ngưỡng này
- Đàm Phàm, Lịch sử con hát, Cao Tự Thanh dịch, NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí
Minh, 2004
Tác giả Đàm Phàm nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của nghề hát tại Trung Quốc, trong đó, tác giả trình bày rất chi tiết về đời sống vật chất và tinh thần của những người theo nghề hát Chúng tôi đặc biệt quan tâm đến phần trình bày về tín ngưỡng trong nghề hát
và mối quan hệ giữa nghề hát với đời sống tôn giáo Công trình này là một nghiên cứu điển hình về tín ngưỡng của nghề hát trong bối cảnh văn hóa Trung Hoa Khi tiếp cận tài liệu này, chúng tôi mong rằng có thể nhận diện một số nét tương đồng và dị biệt của tín ngưỡng trong nghề hát giữa Việt Nam và Trung Quốc
- Võ Thanh Bằng (Chủ biên), Tín ngưỡng dân gian ở thành phố Hồ Chí Minh, NXB Đại
học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, 2007
Công trình nghiên cứu Tín ngưỡng dân gian ở thành phố Hồ Chí Minh gồm ba phần:
Trang 20+ Phần 1: Bản chất, vai trò và đặc điểm của tín ngưỡng dân gian từ thực tế ở Thành
phố Hồ Chí Minh;
+ Phần 2: Tín ngưỡng dân gian của người Việt;
+ Phần 3: Tín ngưỡng dân gian của dân tộc ít người
Trong phần 2, tác giả Võ Thanh Bằng trình bày những nghiên cứu về tín ngưỡng tại thành phố Hồ Chí Minh: tín ngưỡng ở đình, miếu, tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên,… Trong đó, mục
thứ bảy Tín ngưỡng trong nghề nghiệp, tác giả Phan Thị Yến Tuyết đề cập đến tục thờ Tổ
ngành Hát bội, Cải lương Tác giả đã cung cấp thông tin về truyền thuyết, nguồn gốc và quá
trình phát triển ngành Sân khấu Ngoài ra, trong phần Thờ Tổ ngành Hát bội, Cải lương,
những điều cấm kỵ và hệ thống thần linh trong tín ngưỡng cũng đã được người viết nêu ra rất chi tiết Tài liệu đã cung cấp những thông tin liên quan trực tiếp đến đề tài, khái quát một cách
hệ thống những đặc điểm của tín ngưỡng Tổ nghiệp sân khấu
- Đỗ Văn Đồng (Sưu tầm và hiệu đính), Truyền thuyết Tổ Hát bội và ngày giỗ Tổ ngành
Sân khấu, Bài dự thi Văn nghệ dân gian (chưa xuất bản), Chi hội Văn nghệ dân gian -
Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Long An, 2007
Trong bản thảo Truyền thuyết Tổ Hát bội và ngày giỗ Tổ ngành Sân khấu, tác giả Đỗ Văn
Đồng đã sưu tầm và hiệu đính tư liệu phỏng vấn của các nghệ sĩ Hát bội tiền bối (chủ yếu là hậu duệ của ông bầu Phạm Văn Quế) thuộc gánh Bầu Quế tại Long An Bản thảo gồm hai phần: Truyền thuyết về các vị Tổ nghề hát và cách thức thờ cúng trong ngày giỗ Tổ nghề hát Tác phẩm liên quan đến tín ngưỡng thờ Tổ của ngành Hát bội tại Long An (địa bàn gần với thành phố Hồ Chí Minh) Do chúng tôi chưa được hân hạnh gặp tác giả, nên xin phép được trích dẫn một số thông tin từ tư liệu này, xin trân trọng cảm ơn tác giả Nhờ tư liệu này, chúng tôi có thêm cơ sở để so sánh, đối chiếu những thông tin đã thu thập được trong quá trình khảo sát, điền dã tại thành phố Hồ Chí Minh
- Ngô Đức Thịnh, Tín ngưỡng trong sinh hoạt văn hóa dân gian, NXB Thời đại, 2012
Trang 21Phần thứ nhất của công trình này là Phác họa tín ngưỡng dân gian Trong phần này, tác giả đã khái quát các khái niệm, định nghĩa, phân loại tín ngưỡng để làm rõ khái niệm tín
ngưỡng dân gian Chương V của phần thứ nhất là Tín ngưỡng nghề nghiệp, trong đó, tác giả
đề cập về những niềm tin và thực hành tín ngưỡng trong các nghề nghiệp truyền thống ở Việt
Nam Mục Tín ngưỡng bách nghệ Tổ sư (trang 187) có các phần: Nhận dạng về bách nghệ Tổ
sư; Các hình thức tín ngưỡng (kỵ nhật) tại gia hay ở đền miếu, lễ hội ngành nghề và Ý nghĩa của tín ngưỡng về bách nghệ Tổ sư Trong nhận dạng bách nghệ Tổ sư, tác giả phân loại
nguồn gốc Tổ sư nghề nghiệp có con người thật, những vị theo cảm quan huyền thoại, những
vị Tổ nghề trong phạm vi truyền thuyết, các nhà văn hóa Trong công trình này, tác giả đã hệ thống hóa cơ sở khái niệm về tín ngưỡng dân gian nói chung và tín ngưỡng Tổ sư nghề nghiệp nói riêng
Các công trình nêu trên là những tài liệu mà chúng tôi tham khảo khi tìm hiểu tín ngưỡng thờ Tổ ngành Hát bội, Cải lương để thực hiện luận văn của mình Ngoài ra, nguồn tài liệu chủ yếu để chúng tôi thực hiện luận văn chính là 24 biên bản phỏng vấn (BBPV) do chúng tôi thực hiện trong quá trình điền dã, khảo sát đề tài này
6 Tiếp cận nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
Với mục đích tìm hiểu về tín ngưỡng trong ngành Hát bội và Cải lương ở thành phố Hồ Chí Minh, chúng tôi tiếp cận Nghiên cứu liên ngành (Interdisciplinary research) và vận dụng một số phương pháp nghiên cứu chủ yếu của ngành Nhân học và Folklore học
- Tiếp cận nghiên cứu liên ngành (Interdisciplinary research)
Tiếp cận nghiên cứu liên ngành là liên kết, thiếp lập những mối quan hệ qua lại, quy định
và ảnh hưởng lẫn nhau giữa những hệ phương pháp và quy trình của nhiều chuyên ngành khác nhau, vận dụng phương pháp và lý thuyết của các chuyên ngành đó Chỉ có tiếp cận nghiên cứu liên ngành trong khoa học xã hội mới có thể khảo sát một cách toàn diện vấn đề
Trang 22thuộc các lĩnh vực khác nhau1 Nghiên cứu liên ngành là sự liên kết các chuyên ngành liên quan đến đề tài, cần thiết khi phải xử lý những đề tài khoa học có phạm vi rộng lớn và bao gồm nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau (Phan Thị Yến Tuyết, Văn Ngọc Lan và Nguyễn Đức Lộc, 2016) Hiện nay, trong khoa học xã hội, không chuyên ngành nào có thể tự giải quyết được hết nội dung nghiên cứu, mà cần kết hợp, vận dụng 2 hay 3 chuyên ngành khác liên quan gần đến đề tài của mình để khảo sát Là một ngành khoa học ứng dụng, khác với ngành khoa học cơ bản, Việt Nam học nghiên cứu đất nước, con người và văn hóa Việt Nam nên cần tổng hợp, phân tích các dữ liệu từ nhiều chuyên ngành khác nhau Theo đó, chúng tôi nghiên cứu tín ngưỡng Tổ nghiệp Hát bội, Cải lương dựa trên nền tảng tri thức tổng hợp từ các chuyên ngành liên quan để phân tích vấn đề, trong đó, ngành chính là Việt Nam học kết hợp với các ngành bổ trợ là Nhân học/ Dân tộc học, Văn hóa dân gian (Folklore), Tôn giáo học, Nghệ thuật học
- Phương pháp nghiên cứu định tính (Qualitative research)
Nghiên cứu định tính là hoạt động có vị trí định vị người quan sát trong xã hội, là cách thực hành diễn giải để người ta hiểu về xã hội (Phan Thị Yến Tuyết, Văn Ngọc Lan và Nguyễn Đức Lộc, 2016) Theo John W Creswell, nghiên cứu định tính được vận dụng khi đề tài đòi hỏi đi sâu tìm hiểu ý nghĩa của một vấn đề về con người hay xã hội Để nghiên cứu loại vấn đề ấy theo phương pháp định tính, người nghiên cứu tiếp cận, thu thập dữ liệu từ địa bàn khảo sát bao gồm lời nói của những người trong cuộc cùng với sự diễn giải của người nghiên cứu dựa trên các cơ sở lý thuyết Bên cạnh đó, mặt hạn chế của phương pháp nghiên cứu định tính là không phải bất cứ thông tin gì thông tín viên cung cấp đều chính xác nên cần
có sự sang lọc, đối chiếu, kiểm nghiệm nội dung phỏng vấn qua các tài liệu lịch sử khác nhau (Phan Thị Yến Tuyết, Văn Ngọc Lan và Nguyễn Đức Lộc, 2016)2 Chúng tôi nghĩ rằng đề tài tín ngưỡng Tổ nghiệp Hát bội, Cải lương hiện còn ít tài liệu thư tịch đề cập, do đó, cần thu
1 Phan Thị Yến Tuyết, tài liệu gốc: Phạm Đức Thành (2007), Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 1-2007
2, sđd, tài liệu gốc: John W Creswell (2007), Qualitative inquiry and research design: Choosing among five
approaches (2 nd ed) Thousand Oaks, CA: Sage, page 35 - 41
Trang 23thập nhiều nguồn thông tin thông qua lời kể từ tri thức và trải nghiệm của chính những người trong nghề Hơn nữa, vấn đề liên quan đến đời sống tâm linh của con người khá nhạy cảm, phức tạp, nên cần có sự tiếp xúc trực tiếp, trao đổi riêng tư, thân thiện giữa người nghiên cứu với cộng đồng nghề thông qua phỏng vấn để nghe được “tiếng nói” của người trong cuộc và
có thể mở rộng vấn đề trao đổi Do vậy, chúng tôi nhận thấy phương pháp nghiên cứu định tính phù hợp cho đề tài này
Trong các phương pháp nghiên cứu định tính, chúng tôi vận dụng phương pháp Quan sát - Tham dự (Observation – participant method), phương pháp Phỏng vấn sâu (In-depth interviewing) và phương pháp nghiên cứu Lịch sử cuộc đời (Life history research)
Phương pháp Quan sát - tham dự (hay Điền dã dân tộc học) là phương pháp đặc trưng
chuyên biệt, tất yếu trong nghiên cứu nhân học văn hóa, đòi hỏi người nghiên cứu dấn thân vào đời sống của con người thuộc đối tượng nghiên cứu trong một thời gian nhất định chứ không đứng bên ngoài quan sát Từ cách tiếp cận này giúp cá nhân hay cộng đồng cảm thấy thoải mái trước sự hiện diện của người nghiên cứu, cho phép người nghiên cứu có cái nhìn của người trong cuộc Tài liệu thu thập của nghiên cứu định tính có nhược điểm dễ mang tính chủ quan, có thể thông tín viên cung cấp thông tin chưa chính xác, do đó tài liệu nghiên cứu định tính cần được xác minh, kiểm định, sàng lọc… trước khi sử dụng để đảm bảo tính khách quan (Phan Thị Yến Tuyết, Văn Ngọc Lan và Nguyễn Đức Lộc, 2016) Với phương pháp Quan sát - tham dự, chúng tôi được tiếp xúc giới nghệ sĩ trong lúc họ làm việc, biểu diễn để
có thể quan sát những sinh hoạt tín ngưỡng của họ trong công việc, từ đó, tìm hiểu chức năng
và ý nghĩa của tín ngưỡng đối với đời sống của nghệ sĩ Việc vận dụng phương pháp Quan sát – tham dự trở nên đặc biệt cần thiết khi khảo sát lễ giỗ Tổ nghiệp, qua đó, chúng tôi có thể quan sát và cùng họ tham gia những thực hành tín ngưỡng trong ngày lễ quan trọng của cộng đồng Khi vận dụng phương pháp này, chúng tôi hi vọng sẽ điền dã được chi tiết, cụ thể đời sống tinh thần của người trong ngành Sân khấu và đặc biệt là tiếp cận được nhiều góc nhìn từ
Trang 24phía những “người trong cuộc” cũng như thực nghiệm được giả thuyết nghiên cứu của chúng tôi
Phương pháp Phỏng vấn sâu (In-depth interviewing) là việc thu thập thông tin của
người nghiên cứu đối với thông tín viên (TTV - người được phỏng vấn) liên quan đến đề tài nghiên cứu, thông qua quá trình hội thoại dưới nhiều mức độ, nhiều hình thức đa dạng từ tán gẫu, trò chuyện… đến khi có thể tiến hành phỏng vấn sâu Trong phương pháp Phỏng vấn sâu, người nghiên cứu vận dụng linh hoạt các hình thức từ phỏng vấn không cơ cấu, phỏng vấn nửa cơ cấu đến phỏng vấn cơ cấu hóa để thông tín viên có thể thoải mái nói về các chủ đề nhưng vẫn tập trung vào vấn đề nghiên cứu (Phan Thị Yến Tuyết, Văn Ngọc Lan và Nguyễn Đức Lộc, 2016)3 Phương pháp này rất cần thiết để thu thập được những thông tin quan trọng cho việc khảo sát, phân tích Với phương pháp Phỏng vấn sâu, chúng tôi chọn lọc những TTV thuộc nhiều thành phần, nhiều lứa tuổi khác nhau trong ngành Hát bội, Cải lương, để ghi chép những quan niệm của họ về Tổ nghiệp cũng như cúng kiếng của họ trong các nghi lễ Nguồn
tư liệu của luận văn được sàng lọc, tiếp thu từ nội dung của 24 BBPV sâu mà chúng tôi thực hiện trong quá trình điền dã Trong số 24 BBPV này, có những trường hợp chúng tôi phải quay trở lại 2, 3 lần để phỏng vấn bổ sung với TTV
Phương pháp nghiên cứu Lịch sử cuộc đời (Life history research) thuộc nghiên cứu
định tính Phương pháp này được sử dụng trước tiên ở Mỹ để phỏng vấn tội phạm, sau đó phỏng vấn những người dân bản địa Mỹ, cho phép các nhà nghiên cứu khám phá lịch sử cá nhân, trải nghiệm của con người trong khuôn khổ thông tin vòng đời của họ Phương pháp này dần phổ biến trong ngành Xã hội học những năm 1970 và ngành Nhân học4 Nói về lịch
sử cuộc đời là giả định rằng cuộc đời là một lịch sử và một cuộc đời là tổng thể các sự kiện không thể tách biệt với sự hiện hữu của cá nhân được nhìn nhận như một dòng lịch sử và
3 Tài liệu gốc của Trần Thị Kim Xuyến
4 Phan Thị Yến Tuyết, tài liệu gốc: Kate Bird, Life History research methodology, Reflections on using life history research approaches, Overseas Development Instistute
Trang 25truyện kể về dòng chảy lịch sử đó5 Lịch sử cuộc đời được coi như một hình thức minh họa cho sự vận hành của xã hội thông qua câu chuyện của cá nhân, do vậy, nó phản ánh được sự phân tích về các cấu trúc, các sản phẩm vật chất và tinh thần của xã hội đó Bên cạnh đó, người nghiên cứu còn phải xem lịch sử cuộc đời không phải một sản phẩm hoàn chỉnh mà là một sản phẩm thô từ lời kể, cần phải điều tra và xử lý thông tin bằng những phương pháp thích hợp Lịch sử cuộc đời (hay dòng chảy cuộc đời) phải được đặt trong một bối cảnh xã hội
có nhiều sự đối chiếu và giao cắt với các dòng chảy cuộc đời để xác tín những thông tin6.Với
đề tài tín ngưỡng Tổ nghiệp Hát bội, Cải lương, chúng tôi ghi chép về các sự kiện, trải nghiệm
do chính những người trong nghề thuật lại, sau đó, sắp xếp, đối chiếu theo trình tự thời gian những câu chuyện về cuộc đời của các nghệ sĩ tiền bối cũng như thế hệ trẻ trong ngành Hát bội, Cải lương để, từ đó, tìm ra đặc điểm và ý nghĩa của tín ngưỡng đối với đời sống vật chất
lẫn tinh thần của những người trong nghề
- Phương pháp tổng hợp, phân tích và phương pháp so sánh
Để tìm hiểu tục thờ cúng Tổ sư trong nghề nghiệp thuộc hệ thống tín ngưỡng dân gian ở Việt Nam, chúng tôi vận dụng hai phương pháp: phương pháp tổng hợp, phân tích và phương pháp so sánh mà ngành nghiên cứu văn hóa dân gian vận dụng
Về phương pháp tổng hợp, phân tích, chúng tôi tiếp cận bài viết Phương pháp tổng hợp
trong việc nghiên cứu folklore7 của tác giả Đinh Gia Khánh Xác định folklore là một tác phẩm mang tính nguyên hợp hoàn chỉnh, tác giả Đinh Gia Khánh cho rằng việc tổ chức nghiên cứu liên ngành trong tìm hiểu văn hóa dân gian (Folklore) tất yếu dẫn đến việc vận dụng phương pháp tổng hợp, phân tích Tác giả cũng nhấn mạnh rằng trong giai đoạn hiện
5 Phan Thị Yến Tuyết (2016), Nhân học biển – tiếp cận phương pháp nghiên cứu lời kể và dòng chảy cuộc đời
tại vùng biển đảo Việt Nam, bài viết trong Hội thảo Văn nghệ dân gian tại Quảng Ngãi (Tài liệu gốc: Phạm Văn
Quang (2015), Xã hội học thi pháp – Dòng chảy cuộc đời, NXB Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, trang
3-4)
6 Phan Thị Yến Tuyết (2016), Nhân học biển – tiếp cận phương pháp nghiên cứu lời kể và dòng chảy cuộc đời
tại vùng biển đảo Việt Nam, bài viết trong Hội thảo Văn nghệ dân gian tại Quảng Ngãi (Tài liệu gốc: Phạm Văn
Quang (2015), sđd, trang 22)
7 Đinh Gia Khánh (1990), Phương pháp tổng hợp trong việc nghiên cứu Folklore, bài viết trong Văn hóa dân
gian – Những phương pháp nghiên cứu của Viện Văn hóa dân gian, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, trang 9-20
Trang 26đại, việc cải biên tác phẩm folklore để thích ứng với nhu cầu và thị hiếu của xã hội là điều không thể tránh khỏi, nội dung và giá trị thẩm mỹ có thể biến đổi theo thời gian nên trong Folklore học cần vận dụng phương pháp tổng hợp (gắn liền với phân tích) để nhận biết được những diện mạo khác nhau và hệ thống hóa những nội dung cơ bản của tác phẩm dân gian Thông qua phương pháp tổng hợp, phân tích, người nghiên cứu còn có thể “tìm hiểu vai trò của môi trường, tập tục xã hội, sinh hoạt văn hóa dân gian trong việc tạo nên giá trị đặc thù của tác phẩm folklore” (tr.16) Trong quá trình tìm hiểu tín ngưỡng Tổ nghiệp Hát bội, Cải lương, chúng tôi thu thập và khảo sát các câu chuyện kể lại dòng ký ức từ chính những nghệ
sĩ Hát bội, Cải lương và những trải nghiệm của họ khi tham gia vào các dịp tế lễ cũng như sinh hoạt tín ngưỡng thường ngày Chúng tôi nghĩ rằng những lời kể như vậy cũng được xem
là tư liệu truyền miệng dân gian nên cần phải có phương pháp tổng hợp và phân tích để hệ thống hóa được các đặc điểm của đời sống tâm linh trong nghề nghiệp của từng thông tín viên Hơn nữa, chúng tôi thấy rằng tìm hiểu nguồn gốc Tổ sư cũng như các đối tượng mang tính thiêng cũng chính là tiếp cận các truyền thuyết dân gian về các vị Thần Tổ trong tín ngưỡng này Dù thoạt tiên là những chi tiết huyền ảo, hoang đường nhưng từng ý niệm về Tổ nghiệp của người theo nghề đều mang ý nghĩa, chức năng nhất định đối với đời sống của cộng đồng ngành Hát bội, Cải lương Do đó, chúng tôi nghĩ rằng việc vận dụng phương pháp tổng hợp, phân tích folklore trong đề tài này là thích hợp
Phương pháp so sánh (hay so sánh đối chiếu) từ lâu đã được vận dụng dụng trong
nghiên cứu folklore, đặc biệt là lĩnh vực nghiên cứu văn học dân gian Quá trình sưu tầm và thống kê các dị bản của tác phẩm văn học dân gian (chủ yếu được truyền miệng) tất yếu dẫn đến nhu cầu vận dụng phương pháp so sánh Để áp dụng phương pháp này, các nhà nghiên cứu thu thập, sưu tầm nhiều dị bản (của một truyện dân gian hay của một đơn vị folklore), sau
đó họ tiến hành đối chiếu giữa các dị bản với nhau trên những bình diện cốt truyện, motif, điều kiện địa lý, văn hóa khác nhau Ngoài khả năng xác định được nguồn gốc hay “chính
Trang 27bản” của tác phẩm văn học truyền miệng, với phương pháp so sánh, các nhà nghiên cứu còn
có thể khái quát được “quy luật sáng tạo folklore” – quá trình hư cấu, biến dị nguyên bản dưới tác động của môi trường lịch sử, văn hóa Bên cạnh đó, phương pháp so sánh folklore còn được áp dụng trong dân tộc học, khi nhà nghiên cứu khảo sát các phong tục tập quán, thực hành văn hóa của các cộng đồng khác nhau trong những bối cảnh lịch sử, địa lý, văn hóa nhất định (Chu Xuân Diên, 2008, tr.83-96) Trong phương pháp so sánh cần chú ý so sánh theo các tiêu chí quy định phù hợp
Với đề tài tín ngưỡng Tổ nghiệp của Hát bội, Cải lương, chúng tôi chủ yếu vận dụng phương pháp so sánh trong việc tìm hiểu truyền thuyết các vị Tổ nghề hát và khảo sát sinh hoạt tín ngưỡng của cộng đồng nghề tại các không gian thờ khác nhau Truyền thuyết về vị Tổ nghề hát đến nay vẫn là những lời kể rời rạc, đan xen, chưa thống nhất được truyền khẩu từ thế hệ này qua thế hệ khác Qua thời gian, những truyền thuyết ấy phát sinh ra các dị bản khác nhau, mỗi nghệ sĩ, mỗi đoàn hát lại có quan niệm khác nhau về Tổ nghiệp, nên các dị bản trước khi so sánh cần được sàng lọc Chúng tôi tập trung thu thập những dị bản truyền thuyết
Tổ nghiệp được kể bởi các vị trưởng đoàn hay nghệ sĩ tiền bối cao niên, có nhiều năm kinh nghiệm trong nghề Sở dĩ chúng tôi lựa chọn như vậy vì các nghệ sĩ này là những dấu “gạch nối” giữa thế hệ người trong nghề xưa và nay, nên còn những tình tiết mà họ kể gần với quan niệm về Tổ nghiệp của nghệ sĩ đời trước Qua đó, chúng tôi phân tích nguồn gốc lịch sử cũng như tìm hiểu những yếu tố nào đã dẫn đến sự khác nhau của các dị bản theo tiêu chí không gian và thời gian
Mặt khác, các đoàn Hát bội, Cải lương danh tiếng từ lâu đã tập trung ở thành phố Hồ Chí Minh (trước đây là Sài Gòn) nên tín ngưỡng Tổ nghiệp cũng có nhiều khác biệt giữa xưa
và nay, giữa cộng đồng Hát bội, Cải lương với các loại hình biểu diễn khác hay giữa các không gian thờ với nhau Do đó, chúng tôi tập trung so sánh nghi lễ trong dịp giỗ Tổ nghiệp của các đoàn hát, nghệ sĩ thuộc những loại hình biểu diễn như Hát bội, Cải lương, Kịch nói…
Trang 28để phân tích mối quan hệ giữa điều kiện kinh tế, xã hội với các tập tục, sinh hoạt tín ngưỡng khác nhau của cộng đồng nghề
- Cấu trúc của luận văn
Cấu trúc luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và khái quát về nghệ thuật Hát bội, Cải lương cùng tín ngưỡng liên quan
Chương 2: Nguồn gốc và đối tượng thờ cúng trong tín ngưỡng Tổ nghiệp Hát bội, Cải lương tại thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3: Thờ cúng Tổ nghiệp của ngành Hát bội, Cải lương trong các cơ sở thờ tự tại thành phố Hồ Chí Minh
Trang 29Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT VỀ NGHỆ THUẬT HÁT BỘI, CẢI LƯƠNG CÙNG TÍN NGƯỠNG LIÊN QUAN
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Thuật ngữ khoa học
- Tín ngưỡng
Về cách nhìn nhận tín ngưỡng và tôn giáo ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu hình thành hai
xu hướng: Thứ nhất, khái niệm tín ngưỡng nằm trong khái niệm tôn giáo; Thứ hai, tín ngưỡng
và tôn giáo là hai khái niệm khác nhau
Xu hướng thứ nhất, xem tín ngưỡng là một hình thức của tôn giáo, tác giả Đặng Nghiêm Vạn (2005) cho rằng, tín ngưỡng là lòng tin tôn giáo – giai đoạn đầu của tôn giáo và khái
niệm tín ngưỡng nằm trong tôn giáo Theo ông, “nếu hiểu tín ngưỡng là niềm tin tôn giáo
(belief, believe, theo nghĩa hẹp, croyance religieuse) thì tín ngưỡng chỉ là một bộ phận chủ yếu cấu thành của tôn giáo” (tr.87, 89)
Xu hướng thứ hai, xem tín ngưỡng và tôn giáo là hai khái niệm khác nhau, tác giả Trần Quốc Vượng (1997) cho rằng cả hai thuật ngữ tín ngưỡng, tôn giáo đều tồn tại và được phân biệt chủ yếu bởi mức độ niềm tin và cơ cấu tổ chức “Nói đến tín ngưỡng là nói đến quá trình thiêng hóa một nhân vật được gửi gắm vào niềm tin tưởng của con người” Quá trình ấy có thể là quá trình huyền thoại hóa, lịch sử hóa nhân vật phụng thờ (tr.92) … Tác giả Ngô Đức
Thịnh (2012) cũng phân biệt tín ngưỡng và tôn giáo là hai khái niệm độc lập dựa theo các tiêu
chí cụ thể về hệ thống giáo lý, hệ thống thần điện, sự hòa nhập giữa thế giới thần linh và con
người, nơi thờ cúng, cộng đồng và tính dân gian Theo tác giả này, tín ngưỡng là niềm tin của
con người vào cái gì đó thiêng liêng, cao cả, siêu nhiên, hay nói gọn lại là niềm tin, ngưỡng vọng vào “cái thiêng”, đối lập với cái “trần tục”, hiện hữu mà ta có thể cầm nắm và quan sát được (tr.17-19)
Trang 30Do nội dung đề tài có liên quan đến tín ngưỡng tại Việt Nam, chúng tôi vận dụng khái niệm này dựa theo Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo8 và Luật Tín ngưỡng, tôn giáo Theo đó,
tín ngưỡng và tôn giáo là hai khái niệm độc lập được phân biệt rõ rệt (phân cách bằng dấu
phẩy) Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo là văn bản pháp luật đã được vận hành trong thời gian
dài và một số tài liệu tham khảo của luận văn cũng theo cách giải thích từ ngữ của văn bản này Do vậy, để đồng bộ cách hiểu với các tài liệu trước đây và đảm bảo tính cập nhật, chúng
tôi tiếp cận khái niệm theo cả Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004 lẫn Luật tín ngưỡng,
tôn giáo năm 2016 Theo Điều 2 của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo thì “tín ngưỡng9 là niềm tin
của con người được thể hiện thông qua những lễ nghi gắn liền với phong tục, tập quán truyền
thống để mang lại sự bình an về tinh thần cho cá nhân và cộng đồng Hoạt động tín ngưỡng là
hoạt động thờ cúng Tổ tiên, các biểu tượng linh thiêng; tưởng niệm và tôn vinh người có công với đất nước, với cộng đồng; các lễ nghi dân gian tiêu biểu cho những giá trị lịch sử, văn hóa,
đạo đức xã hội Cơ sở tín ngưỡng là nơi thực hiện hoạt động tín ngưỡng của cộng đồng như
đình, đền, miếu, nhà thờ dòng họ và những cơ sở tương tự khác”10
- Tín ngưỡng dân gian
Tín ngưỡng dân gian và lễ hội là đối tượng nghiên cứu của Dân tộc học, Văn hóa học, Việt
Nam học, Folklore học Về thuật ngữ tín ngưỡng dân gian, các nhà nghiên cứu hình thành
những quan điểm khác nhau Đặng Nghiêm Vạn (2005) cho rằng “không thể có tín ngưỡng dân gian, tín ngưỡng quý tộc, tín ngưỡng bác học, mà chỉ có tín ngưỡng của cộng đồng người, bởi mọi tầng lớp nhân dân đều thờ cúng với tính chất như nhau… Thuật ngữ dân gian thực ra
8 Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo số 21/2004/PL-UBTVQH11 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về tín ngưỡng
tôn giáo ban hành ngày 18/6/2004, Trang điện tử Cơ sở dữ liệu Quốc gia về Văn bản pháp luật Nguồn: http://vbpl.vn/TW/Pages/vbpq-
toanvan.aspx?ItemID=19468&Keyword=t%C3%ADn%20ng%C6%B0%E1%BB%A1ng,%20t%C3%B4n%20gi
%C3%A1o
9 Khái niệm tín ngưỡng chỉ mới được giải thích trong Điều 2 của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (2016)
10 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo số 02/2016/QH14 của Quốc hội ban hành ngày 18/11/2016, Trang điện tử Cơ sở dữ
liệu Quốc gia về Văn bản pháp luật Nguồn: toanvan.aspx?ItemID=117201&Keyword=lu%E1%BA%ADt%20t%C3%ADn%20ng%C6%B0%E1%BB%A1n g,%20t%C3%B4n%20gi%C3%A1o
Trang 31http://vbpl.vn/TW/Pages/vbpq-nghe chưa ổn, nhất là đối với phương Đông, ở đó rất khó có sự phân biệt giữa bộ phận bác học và bộ phận dân gian như ở châu Âu” (tr.89-90)
Theo một công trình khác, trong Từ điển Việt Nam Văn hóa Tín ngưỡng Phong tục của Vũ
Ngọc Khánh và Phạm Minh Thảo, tín ngưỡng dân gian hay tín ngưỡng truyền thống được
định nghĩa là “tín ngưỡng của các tộc người sống trên lãnh thổ Việt Nam Tín ngưỡng dân
gian bao gồm những tín ngưỡng sùng bái tự nhiên, sùng bái thần linh, sùng bái con người, trong đó có những tập tục cúng tế, bói toán, lên đồng, xuất xứ từ những tín ngưỡng saman giáo”11 Theo quan điểm của tác giả từ điển này, “tín ngưỡng dân gian” được đồng nhất với
“tín ngưỡng truyền thống”, qua đó, có thể thấy, tính dân gian ở đây được hiểu là tính truyền thống, được con người sáng tạo, duy trì, lưu truyền qua nhiều thế hệ, chứ “dân gian” không mang ý nghĩa đối lập với “cung đình” hay “bác học” Tín ngưỡng dân gian là tín ngưỡng của các tộc người sống trên lãnh thổ Việt Nam, do đó, gắn bó đời sống của cộng đồng là một thuộc tính quan trọng của các tín ngưỡng dân gian Qua đó, có thể thấy, tín ngưỡng thể hiện
sự độc đáo trong tư duy lao động của từng cộng đồng người, thể hiện bản sắc của tộc người Các đối tượng thờ cúng của tín ngưỡng dân gian rất đa dạng, phong phú, trong đó có các hiện tượng tự nhiên, thần linh, con người cùng những nghi lễ, cúng kiếng liên quan đến tín ngưỡng
shaman Chúng tôi vận dụng quan điểm về tín ngưỡng dân gian theo Từ điển Việt Nam Văn
hóa Tín ngưỡng Phong tục vì khái niệm này giúp chúng tôi có cái nhìn tổng quát về tín
ngưỡng dân gian và tiếp cận gần hơn với khái niệm tín ngưỡng nghề nghiệp hay tín ngưỡng
Tổ sư nghề nghiệp
Ngoài ra, chúng tôi còn tiếp cận quan điểm của tác giả Võ Thanh Bằng (2007), “tín ngưỡng dân gian là hình thức sáng tạo thần linh và một ứng xử đối với thần linh cũng là với chính mình của con người, hình thành như một mặt của lối sống tâm linh (lối sống tôn sùng cái thiêng liêng, cao cả) trong các cá nhân và cộng đồng người không chỉ là vấn đề cổ xưa mà
11 Phan Thị Yến Tuyết (2013), Tín ngưỡng và tôn giáo tại Việt Nam, Giáo trình cao học chưa in sách, Khoa Việt
Nam học, Trường Đại học KHXH&NV (ĐHQG TP.HCM), tài liệu gốc: Vũ Ngọc Khánh và Phạm Minh Thảo
(2006), Từ điển Việt Nam Văn hóa Tín ngưỡng Phong tục, NXB Văn hóa – Thông tin, TP.HCM, trang 1031
Trang 32cũng đang là vấn đề của xã hội hiện đại, xã hội văn minh ngay trên địa bàn các đô thị” 14) Theo quan điểm này, thế giới thần linh trong tín ngưỡng dân gian là do con người sáng tạo bằng ý thức tôn sùng “cái thiêng” Ngoài ra, chúng tôi thấy rằng thế giới thiêng liêng rất tương thích, gần gũi với nhu cầu vật chất, tâm tư, tình cảm của cộng đồng sáng tạo ra nó, nên tính cộng đồng có thể xem là một thuộc tính cơ bản của tín ngưỡng dân gian Do đó, tín ngưỡng dân gian vừa gắn kết các thế hệ trong cộng đồng, vừa là hình thức bảo lưu những giá trị truyền thống, phong tục của cộng đồng
(tr.12 Tín ngưỡng Tổ sư nghề nghiệp
Việc cúng tế Tổ sư trong các phường, hội nghề nghiệp đã được tác giả Phan Kế Bính
(2005) đề cập trong Việt Nam phong tục, theo đó, các hội bách nghệ (tổ chức của những người cùng ngành nghề) tại các làng xã, hằng năm có dịp ăn lệ Trong ngày này, những người
trong hội bách nghệ tập trung tại nhà người trưởng hội, dâng cúng lễ vật lên vị Thánh sư, sau
đó, họ tổ chức ăn uống, vui chơi giải trí với nhau Trong năm, người nào làm ăn khấm khá, điều kiện kinh tế sung túc, thường ghi tên hội vào những lễ vật giá trị như nghi môn, áo đại trào… dâng cúng cho vị Thánh sư, vừa để tạ ơn Thần Tổ, vừa thể hiện tay nghề, danh tiếng của họ với cộng đồng nghề Phan Kế Bính còn cho rằng việc tổ chức lễ hội hằng năm của các phường nghề nhằm mục đích: Thứ nhất, giữ gìn và phát huy nghề nghiệp; thứ hai, liên lạc và thăm hỏi những người cùng nghề và thứ ba, bênh vực, tương trợ nhau trong cả công việc lẫn đời sống (tr.192-194)
Tác giả Vũ Ngọc Khánh (1991) dùng thuật ngữ bách nghệ Tổ sư để đề cập đến việc thờ tổ
của các ngành nghề ở Việt Nam Theo ông, bách nghệ Tổ sư có thể được xác định tiểu sử rõ ràng hoặc cũng có thể có xuất xứ mơ hồ và được cộng đồng nghề tôn thờ qua biện pháp huyền thoại hóa Việc tôn vinh Thánh sư, Thần Tổ ngành nghề thực chất là biểu hiện lòng biết ơn của cộng đồng nghề đối với người đã truyền dạy nghề, giúp họ có cuộc sống khấm khá Tổ sư nghề nghiệp chính là biểu tượng của một sự liên kết cộng đồng, chính xác hơn là thần tượng
Trang 33của một ngành nghề cụ thể Việc tôn thờ Tổ sư nghề nghiệp là một vấn đề phong tục, liên quan đến tín ngưỡng dân gian Nếu tục thờ cúng Tổ tiên là tín ngưỡng trong phạm vi gia đình, dòng họ, thì thờ cúng Tổ sư mang quy mô của một cộng đồng, địa phương Tác giả Vũ Ngọc Khánh cho rằng ý nghĩa của tín ngưỡng Tổ sư nghề nghiệp không chỉ để thể hiện lòng biết ơn
Tổ sư mà còn để khẳng định, tôn vinh ngành nghề Lễ giỗ Tổ sư vừa là dịp vui chơi, hội hè của người trong nghề, vừa là cơ hội cho cộng đồng nghề giới thiệu thành quả lao động với xã hội (tr.5-11)
Trong Tín ngưỡng trong sinh hoạt văn hóa dân gian, tác giả Ngô Đức Thịnh (2012) đã
phân loại các hình thức tín ngưỡng như sau: 1) Thờ cúng Tổ tiên (gia tộc, dòng họ, quốc gia),
Tô tem giáo; 2) Tín ngưỡng cá nhân (vòng đời người) gồm thờ cúng bà Mụ, thờ ông Tơ, bà Nguyệt (cưới xin), thờ thần bản mệnh, tang ma và thờ cúng người chết; 3) Tín ngưỡng nghề nghiệp gồm tín ngưỡng nông nghiệp, thờ Thánh sư (Tổ nghề), thờ thần Tài (nghề buôn), thờ
Cá Ông (ngư dân); 4) Tín ngưỡng thờ Thần (đạo thờ thần) gồm thần Thành hoàng làng, đạo Mẫu, thờ các anh hùng dân tộc, thờ Thổ thần (Thổ công), Sơn thần, Thủy thần (tr.21) Theo cách phân loại này, tín ngưỡng thờ Thánh sư (Tổ nghề) là một dạng tín ngưỡng nghề nghiệp Từng hoạt động sản xuất của con người đều có các hình thức tín ngưỡng tương ứng, trong đó quan trọng nhất là tín ngưỡng nông nghiệp, ngoài ra còn có các nghề nghiệp khác như thủ công nghiệp, đánh cá (ngư nghiệp) và buôn bán Thánh sư hay Tiên sư, Nghệ sư, Tổ sư, Tổ nghề… là vị tiền bối đã có công sáng tạo hoặc truyền dạy một nghề nào đó cho những người đời sau Trong một làng hay một khu phố, thành phố, những người cùng nghề nghiệp họp chung thành phường hoặc làng nghề, vị Tổ nghề có thể trở thành thần Thành hoàng của làng…Thánh sư được thờ riêng ở miếu, đền tại các phường, làng nghề Ngoài ra, trong mỗi gia đình, cạnh bàn thờ gia tiên cũng có thêm bàn thờ Thánh sư Ngày cúng lễ Thánh sư thường vào ngày kỵ giỗ, mọi thành viên của phường đóng góp và tập trung tại đền miếu để cúng tế (tr.26-28) Tác giả Ngô Đức Thịnh cho rằng tín ngưỡng Tổ sư bắt nguồn từ lòng biết
Trang 34ơn thế hệ trước và sự ngưỡng vọng vào đấng linh thiêng của cộng đồng nghề Xuất xứ của mỗi vị Tổ sư thuộc các ngành nghề rất đa dạng, bao gồm các vị Tổ sư là người thật; các vị Tổ theo cảm quan huyền thoại; các vị Tổ trong phạm vi truyền thuyết và các nhà văn hóa được cộng đồng nghề tôn vinh (tr.188-206)
Theo tác giả Võ Thanh Bằng (2007), “trong tâm thức của người lao động, nhất là lao động trong môi trường sản xuất hoặc nghệ thuật có quy mô không lớn, còn nhiều yếu tố bấp bênh, may rủi thì người ta càng tin vào sự độ trì của Tổ sư nghề nghiệp Thêm nữa, với những ảnh hưởng của Nho giáo, có tâm lý “Uống nước nhớ nguồn”, xem trọng các bậc tiền nhân có công tạo lập, phát triển nghề thì họ càng quan niệm tín ngưỡng trong nghề nghiệp quan trọng không kém yếu tố kinh tế Theo đó, tín ngưỡng nghề nghiệp phát sinh trong quá trình lao động và có mối quan hệ mật thiết với điều kiện công việc của những người trong nghề Tín ngưỡng này bao gồm việc thờ Tổ sư của nghề và những kiêng kị, những tập tục được họ tuân thủ chặt chẽ
trong quá trình lao động nghề nghiệp (tr.161) Trong công trình Tín ngưỡng dân gian ở thành
phố Hồ Chí Minh, tác giả Phan Thị Yến Tuyết đã đề cập đến tín ngưỡng thờ Tổ ngành Hát
bội, Cải lương là một dạng tín ngưỡng nghề nghiệp Đối tượng thờ cúng trong tín ngưỡng này
là Tổ sư nghề và các biểu tượng linh thiêng đối với đời sống của cộng đồng nghệ sĩ Hát bội, Cải lương12
Bên cạnh đó, chúng tôi nghĩ rằng tín ngưỡng Tổ nghiệp của ngành Hát bội, Cải lương ở Việt Nam liên quan đến lễ tục của con hát ở Trung Quốc, nên chúng tôi tiếp cận công trình
Lịch sử con hát của tác giả Đàm Phàm Trong chương IV của công trình này - “Lễ tục của con
hát” đề cập đến lễ tục trong nghề hát, đó là những nghi lễ, tín ngưỡng, tập quán sinh hoạt và chuẩn mực hành vi mà “quần thể văn hóa con hát” cùng tuân thủ và cử hành Lễ tục của nghề hát này bao gồm việc thờ cúng Tổ sư (Hý thần) và các quy tắc, điều cấm kỵ (hàng quy và cấm kỵ) mà con hát lưu truyền (Đàm Phàm, 2004, tr.142-157)
12 Xem Phan Thị Yến Tuyết (2007), “Thờ Tổ nghề Hát bội, Cải lương” trong Tín ngưỡng dân gian ở thành phố
Hồ Chí Minh của Võ Thanh Bằng, trang 167 - 170
Trang 35Như vậy, theo các quan điểm trên, chúng tôi rút ra rằng, thờ cúng Tổ sư nghề là một dạng tín ngưỡng trong nghề nghiệp, phát sinh từ quá trình lao động sản xuất của con người Đây là tín ngưỡng của cộng đồng những người cùng chung nghề nghiệp, thể hiện lòng biết ơn, đạo lý
“Uống nước nhớ nguồn” đối với các vị Tổ sư sáng tạo ngành nghề, các vị thần linh bảo hộ trong công việc và các thế hệ tiền bối đóng góp vào sự thành công của ngành nghề Thờ cúng
Tổ sư vừa là chỗ dựa tâm linh, vừa mang ý nghĩa tôn vinh nghề nghiệp Ngoài việc thờ cúng các vị Thần Tổ của nghề, cộng đồng người theo nghề còn phải tuân thủ một số tập tục, kiêng
kị trong quá trình lao động
- Ngành nghệ thuật, vui chơi và giải trí
Do luận văn đề cập đến tín ngưỡng của những người hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật
nên chúng tôi tiếp cận khái niệm ngành nghệ thuật, vui chơi và giải trí theo các văn bản pháp
luật Việt Nam để làm rõ khía cạnh nghề nghiệp của hai loại hình Hát bội, Cải lương (hơn là khía cạnh phân tích nghệ thuật) Theo Quyết định Ban hành Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam (số 27/2018/QĐ-TTg) của Thủ tướng Chính phủ13, ngành nghệ thuật, vui chơi và giải trí là
ngành kinh tế14 cấp 1 (cấp độ bao hàm nhiều ngành nghề cùng lĩnh vực nhất), bao gồm “các hoạt động đa dạng về văn hóa, vui chơi giải trí công cộng nói chung, bao gồm trình diễn nghệ thuật trực tiếp, hoạt động về bảo tàng, đánh bạc, hoạt động thể thao và các hoạt động giải trí
khác” Trong Ngành nghệ thuật, vui chơi và giải trí, nhóm ngành Hoạt động sáng tác, nghệ
thuật và giải trí được giải thích là “hoạt động của các cơ sở và việc cung cấp các dịch vụ đáp
ứng nhu cầu về thưởng thức văn hóa và giải trí cho khách hàng, gồm hoạt động tổ chức các buổi trình diễn kịch trực tiếp, các buổi hoà nhạc và opera hoặc các tác phẩm khiêu vũ và các tác phẩm sân khấu như hoạt động của các nhóm, gánh xiếc, hoặc các công ty, ban nhạc, dàn
13 Trang điện tử Cơ sở dữ liệu Quốc gia về Văn bản pháp luật, Quyết định Ban hành Hệ thống ngành kinh tế Việt
Nam (số 27/2018/QĐ-TTg), đăng ngày 16/7/2018 Truy xuất từ:
http://vbpl.vn/TW/Pages/vbpq-van-ban-goc.aspx?ItemID=130098
14 Ngành kinh tế là tập hợp các hoạt động kinh tế giống nhau dựa trên 3 tiêu chí xếp theo thứ tự ưu tiên: Qui
trình và công nghệ sản xuất của hoạt động kinh tế; Nguyên liệu đầu vào mà hoạt động kinh tế sử dụng để tạo ra sản phẩm và Đặc điểm của sản phẩm sản xuất ra của hoạt động kinh tế (Theo Quyết định 27/2018/QĐ-TTg)
Trang 36nhạc; hoạt động của các nghệ sĩ đơn lẻ như các tác giả, diễn viên, đạo diễn ” Việc phân loại các ngành kinh tế như trên dựa vào tính chất của hoạt động kinh tế, mà không căn cứ vào loại hình sở hữu, loại hình tổ chức, phương thức hay qui mô của hoạt động sản xuất Do vậy, trong
luận văn này, chúng tôi đề cập đến các khái niệm ngành Hát bội và ngành Cải lương với cách
hiểu là tập hợp các hoạt động kinh tế như tổ chức, biểu diễn nghệ thuật… liên quan đến Hát
bội và Cải lương Bên cạnh đó, chúng tôi còn đề cập khái niệm ngành Sân khấu với ý nghĩa là
tập hợp các hoạt động kinh tế liên quan các loại hình nghệ thuật sân khấu khác nhau (bao gồm Hát bội, Cải lương và các loại hình biểu diễn khác)
Ngoài ra, khái niệm ngành kinh tế khác với khái niệm nghề nghiệp, “lao động theo ngành
kinh tế phản ánh hoạt động kinh tế của mỗi cá nhân trong tổng thể các hoạt động của đơn vị; nghề nghiệp của người lao động phản ánh kĩ năng và việc làm cụ thể của họ tại đơn vị”15
Theo đó, chúng tôi vận dụng khái niệm cộng đồng nghề Hát bội, Cải lương với cách hiểu là
những người lao động có kỹ năng chuyên môn liên quan đến việc biểu diễn như diễn viên, đạo diễn, soạn giả, nhạc công, công nhân hậu đài trong ngành Hát bội, Cải lương
- Hát bội
Về khái niệm Hát bội, chúng tôi tiếp cận quan điểm của hai tác giả Đỗ Văn Rỡ16 và Nguyễn Lộc17 Theo đó, có thể khái quát, Hát bội (tuồng) là một loại hình nghệ thuật kịch hát mang tính chất ước lệ của Việt Nam (chịu ảnh hưởng của kịch hát Trung Hoa), có trong cả dân gian lẫn cung đình Nét đặc trưng của tuồng là nghệ thuật hóa trang trực tiếp trên mặt diễn viên cùng với râu ria để thể hiện tính cách nhân vật: vai trung dũng vẽ mặt đỏ, vai ngay thẳng hay nóng nảy vẽ mặt đen, vai phản nịnh vẽ mặt trắng mốc, vai Tiên, Phật vẽ mặt vàng hoặc trắng hồng Tương ứng với từng dạng vai là điệu bộ, vũ đạo đi kèm, mang tính cách điệu,
15 Trang điện tử Cơ sở dữ liệu Quốc gia về Văn bản pháp luật, Quyết định Ban hành Hệ thống ngành kinh tế Việt
Nam (số 27/2018/QĐ-TTg), đăng ngày 16/7/2018 Truy xuất từ:
http://vbpl.vn/TW/Pages/vbpq-van-ban-goc.aspx?ItemID=130098
16 Đỗ Văn Rỡ (1998), Nghệ thuật Hát bội ở thành phố từ xưa đến nay, bài viết trong Địa chí văn hóa thành phố
Hồ Chí Minh – Tập III: Nghệ thuật, Trần Văn Giàu (Chủ biên), NXB TP.HCM, trang 75
17 Nguyễn Huệ Chi, Trần Hữu Tá (2005), Từ điển văn học (Bộ mới), NXB Thế giới, TP.HCM, trang 1882 – 1884
Trang 37tượng trưng theo tâm lý nhân vật Trang phục của Hát bội hoàn toàn theo kiểu cổ trang thời phong kiến, phù hợp cho từng vai diễn: vua, hoàng hậu, quan văn, quan võ, tướng phiên… khoảng 12 vai khác nhau Dàn nhạc Hát bội khá tương đồng với dàn nhạc lễ, gồm đàn cò, đàn liếu, đàn kìm, đàn tam, tiêu, kèn song hỉ, trống lớn, trống chiến, trống kỳ, trống cơm, trống tốc (bát cấu), trống cái, đồng la (đồ đường), chập chỏa, sanh (phệt), đàn đoản Giọng Hát bội
là những giọng nhạc lễ, gồm có nói lối, bạch, hát nam, hát khách, ngâm, thán, oán Lời thoại
có vần có nhịp và sử dụng nhiều từ Hán – Việt cổ được hát với âm vực tần số cao18 Kịch bản tuồng luôn đề cao tinh thần trung quân ái quốc, trung thành với triều đình, ca ngợi nhà vua nên dưới thời phong kiến triều Nguyễn, Hát bội được xem là một cách tuyên truyền cho chủ nghĩa trung quân rất phổ biến và đắc lực (Đỗ Văn Rỡ, 1998, tr.73–81 và Nguyễn Huệ Chi, Trần Hữu Tá, 2005, tr.1882–1884)
- Cải lương
Theo Nguyễn Huệ Chi, trong Từ điển văn học (Bộ mới), “Cải lương là một bộ môn kịch
hát của Việt Nam, ra đời vào đầu thế kỷ XX ở Nam Bộ Cải lương chủ yếu dựa trên nền nhạc
lý của Đờn ca tài tử và một số điệu bộ của Hát bội (đã được cách tân, giản lược) Ngoài ra, một bộ phận Cải lương chịu ảnh hưởng của thoại kịch và âm nhạc phương Tây; bộ phận khác chịu ảnh hưởng của âm điệu hý khúc các vùng phía Nam Trung Quốc, gọi là nhạc Triều - Quảng19; lại có bộ phận tiếp thu tổng hợp cả nhạc Hát bội, nhạc Hồ Quảng20 với dàn nhạc phương Tây… nhằm tạo ra loại hình Cải lương khác nhau như Cải lương xã hội, Cải lương tuồng Tàu, Cải lương Hồ Quảng, Cải lương hương xa… Có thể nói, linh hoạt đã trở thành một đặc trưng nổi bật chi phối hình thức và âm nhạc của Cải lương ngay từ khi mới ra đời, thể
18 Tiếng ngân đặc trưng bằng âm “ư” (Theo BBPV số 23, bà NTNK, 64 tuổi, 2018)
19 Xem Đinh Bằng Phi (1998), “Sân khấu Tiều, Quảng ở Sài Gòn” trong Địa chí văn hóa thành phố Hồ Chí
Minh – Tập III: Nghệ thuật, Trần Văn Giàu (Chủ biên), NXB TP.HCM, trang 247 – 256
20 Cải lương Hồ Quảng có nguồn gốc từ ca kịch Hồ Quảng ở Đài Loan, Hồng Kông, thịnh hành ở Sài Gòn khoảng giữa thập niên 60 Tên gọi Hồ Quảng bắt nguồn từ xuất xứ của các điệu hát ở vùng Hồ Bắc, Hồ Nam, Quảng Đông, Quảng Tây (Trung Quốc)
Trang 38hiện qua các hình thức: biến tấu, hát chập, vay mượn, cải biên bài bản…” (Nguyễn Huệ Chi, Trần Hữu Tá, 2005, tr.191 -193 và Nguyễn Thị Minh Ngọc và Đỗ Hương, 2007, 12-19)
Sơ đồ 1: Mô hình thiết kế nghiên cứu
- Hát bội, Cải lương
Lý thuyết tiếp cận
- Chức năng luận
- Nhân học biểu tượng
- Văn hóa dân gian
Tiếp cận nghiên cứu
và phương pháp nghiên cứu
- Tiếp cận nghiên cứu liên ngành
(Interdisciplinary research)
- Nghiên cứu định tính (Qualitive Research) gồm:
Quan sát tham dự (Participant and Observation), Phỏng vấn sâu (In-depth interviewing), Lịch
sử cuộc đời (Life history)
- Tổng hợp, phân tích
- So sánh đối chiếu trong Folklore học
Khái quát về ngành Hát bội và Cải lương cùng tín ngưỡng liên quan ở thành phố Hồ Chí Minh
- Khái quát về Hát bội ở thành phố Hồ Chí Minh
- Khái quát về Cải lương ở thành phố Hồ Chí Minh
- Khái quát về tín ngưỡng thờ Tổ nghiệp của ngành Hát bội, Cải lương tại thành phố Hồ Chí Minh
Nguồn gốc và đối tượng thờ cúng trong tín ngưỡng Tổ nghiệp của ngành Hát bội, Cải lương ở thành phố Hồ Chí Minh
- Nguồn gốc tín ngưỡng
- Các đối tượng thờ cúng
Thờ cúng Tổ nghiệp của ngành Hát bội, Cải lương trong các cơ
sở thờ tự tại thành phố Hồ Chí Minh
- Nhà riêng của nghệ sĩ
- Nơi sân khấu biểu diễn
- Ban Ái hữu nghệ sĩ Hội sân khấu và nhà dưỡng lão nghệ sĩ
- Trường đại học Sân khấu Điện ảnh thành phố Hồ Chí Minh
Vẽ sơ đồ: Đặng Phương Toàn, 2018
Trang 391.1.2 Lý thuyết tiếp cận
1.1.2.1 Chức năng luận (Functionalism)
Các học giả theo trường phái chức năng cho rằng tất cả các thực hành và thể chế văn hóa đều có một chức năng nào đó trong tổng thể nền văn hóa mà nó sinh ra và tồn tại Lý thuyết chức năng có hai khuynh hướng: chức năng tâm lý cá nhân (individual functionalism) của B Malinowski (1884-1942) và chức năng cấu trúc (structure fuctionalism) của Radcliffe-Brown
(1881-1955) (Phạm Quỳnh Phương và Hoàng Cầm, 2013, tr.23)
Trong công trình nghiên cứu Ma thuật, khoa học và tôn giáo (Magic, science and religion),
khi giải thích về động lực phát sinh ra nghi lễ và ma thuật, Malinowski (2006) cho rằng, trong điều kiện nhận thức còn thô sơ, khi đứng trước những áp lực, khó khăn không thể vượt qua, con người thường tìm đến lực lượng siêu nhiên và thực hành các nghi lễ, bùa chú, cúng kiếng (tr.152) Malinowski cũng cho rằng niềm tin, tín ngưỡng và việc thực hành nghi lễ xuất phát
từ các nhu cầu tâm lý cá nhân hơn là các quy ước, chế định của xã hội (tr.182) Chúng tôi mong rằng việc tiếp cận lý thuyết chức năng tâm lý cá nhân (invidiual functionalism) sẽ giúp chúng tôi tìm hiểu chức năng chỗ dựa tinh thần của tín ngưỡng Tổ nghiệp trong đời sống tâm linh của giới nghệ sĩ
Bên cạnh đó, các nhà khoa học theo khuynh hướng chức năng cấu trúc, do Brown khởi xướng, tập trung tìm hiểu vai trò của thể chế văn hóa và cấu trúc xã hội trong việc duy trì sự cân bằng và ổn định của một xã hội Tổ chức xã hội là một thể thống nhất của các thực hành văn hóa có chức năng liên quan mật thiết với nhau Ngoài ra, các nhà chức năng cấu trúc giới hạn đối tượng nghiên cứu của họ trong phạm vi cấu trúc xã hội (Phạm
Radcliffe-Quỳnh Phương và Hoàng Cầm, 2013, tr.27–28) Trong công trình Structure and function in
primitive society, essays and addresses, Radcliffe-Brown (1952) cho rằng tín ngưỡng (hay
một thành tố văn hóa nhất định) được cộng đồng sáng tạo và duy trì nhằm mục đích liên kết
xã hội, đảm bảo cho sự ổn định của các cấu trúc xã hội hiện tại (Radcliffe-Brown, 1952,
Trang 40tr.180) Chúng tôi vận dụng lý thuyết chức năng cấu trúc (structural functionalism) với mong muốn tìm hiểu sự cố kết cộng đồng nghề hát thông qua niềm tin, các sinh hoạt tín ngưỡng và
lễ hội trong tín ngưỡng Tổ nghiệp
Giới nghệ sĩ Hát bội, Cải lương tại Nam Bộ và cụ thể là tại thành phố Hồ Chí Minh đã gắn
bó và duy trì tín ngưỡng Tổ nghiệp từ khá lâu Việc thờ cúng Tổ sư, thần linh trong buồng hát
và tổ chức lễ hội thờ cúng Tổ nghiệp hằng năm tại các cơ sở thờ tự là những hoạt động không thể thiếu trong truyền thống tín ngưỡng nghề nghiệp Từ xưa, nghệ sĩ Hát bội, Cải lương luôn đối mặt với bệnh tật do lao tâm, lao lực làm tổn hại đến sức khỏe và tính mạng của họ Các câu chuyện về người nghệ sĩ vì lao lực quá độ dẫn đến bệnh tật, có những cái chết ngay trên sàn diễn hay trong buồng hát… mà giới trong nghề xem như bị Tổ phạt đã được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Mặt khác, người trong nghề hát đa phần sống trong nghèo khó, bấp bênh, trong tâm lý của họ luôn tồn tại những áp lực căng thẳng về tính cạnh tranh để được nổi tiếng vì chỉ có như thế họ mới “đổi đời” được Chính vì nghề nghiệp có nhiều bấp bênh, mang tính cạnh tranh, may rủi như nghề hát, nghệ sĩ phải cần tới đời sống tâm linh, vì lẽ đó, chúng tôi nghĩ rằng lý thuyết chức năng tâm lý cá nhân và chức năng cấu trúc của trường phái chức năng (Functionalism)
1.1.2.2 Nhân học biểu tượng (Symbolic anthropology)
Khi nghiên cứu vấn đề liên quan đến tín ngưỡng trong giai đoạn hiện nay, chúng tôi nghĩ rằng cần tiếp cận lý thuyết với góc nhìn hiện đại để có thêm cơ sở lý luận cho việc diễn giải các biểu tượng tâm linh Các nhà nghiên cứu theo trường phái Nhân học biểu tượng tập trung luận giải ý nghĩa của các biểu tượng văn hóa mà họ quan sát được qua quá trình điền dã thực địa, hình thành nên hai khuynh hướng nghiên cứu: khuynh hướng tập trung vào ý nghĩa của biểu tượng do Clifford Geertz (1926 - 2006) khởi xướng và khuynh hướng tập trung vào chức năng của biểu tượng do Victor Turner (1920 – 1988) khởi xướng (Phạm Quỳnh Phương và Hoàng Cầm, 2013, tr.38) Geertz (2006) đã đưa ra định nghĩa, tôn giáo là một hệ thống biểu