1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vấn đề chuyển thể từ tác phẩm văn học sang kịch bản sân khấu trường hợp nguyễn ngọc tư

139 456 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vấn đề chuyển thể từ tác phẩm văn học sang kịch bản sân khấu: Trường hợp Nguyễn Ngọc Tư
Tác giả Nguyễn Văn Nhị
Người hướng dẫn PGS.TS Trần Yến Chi
Trường học Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Chuyên ngành Văn học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2018
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 139
Dung lượng 1,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những tác phẩm văn học được hầu hết bạn đọc biết đến và có mặt trong chương trình văn học của nhà trường được sân khấu kịch Phú Nhuận chuyển thể và dàn dựng như: Chị Dậu, Số đỏ, Làm đĩ,

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN VĂN NHỊ

VẤN ĐỀ CHUYỂN THỂ TỪ TÁC PHẨM VĂN HỌC SANG KỊCH BẢN SÂN KHẤU: TRƯỜNG HỢP NGUYỄN NGỌC TƯ

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN VĂN NHỊ

VẤN ĐỀ CHUYỂN THỂ TỪ TÁC PHẨM VĂN HỌC SANG KỊCH BẢN SÂN KHẤU: TRƯỜNG HỢP NGUYỄN NGỌC TƯ

CHUYÊN NGÀNH VĂN HỌC VIỆT NAM

MÃ SỐ: 60.22.01.21

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS TRẦN YẾN CHI

Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2018

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến PGS.TS Trần Yến Chi, người đã trực tiếp hướng dẫn, truyền đạt và chia sẻ những kiến thức, những kinh nghiệm quý báu giúp tôi thực hiện tốt luận văn

Tôi xin trân trọng cảm ơn quý thầy cô giảng dạy trong khoa Văn học đã giúp tôi có được những kiến thức nền tảng quý báu trong quá trình học tập

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến nhà văn Nguyễn Ngọc Tư, nghệ sĩ Thành Hội, nghệ sĩ Ái Như, đạo diễn Bùi Quốc Bảo, đạo diễn Thái Kim Tùng, đạo diễn Minh Nguyệt đã hỗ trợ và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn Tôi cũng xin gởi lời cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè… đã luôn động viên tôi hoàn thành luận văn này

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 18 tháng 09 năm 2018

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan: Luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của cá nhân tôi Các dẫn chứng, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này là trung thực

Tôi xin chịu mọi trách nhiệm về nghiên cứu của mình

Học viên

Nguyễn Văn Nhị

Trang 5

MỤC LỤC CHỮ VIẾT TẮT DÙNG TRONG LUẬN VĂN

DẪN NHẬP

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1

2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 1

3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2

4 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN ĐỀ TÀI 3

5 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 4

6 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN 7

CHƯƠNG 1: VẤN ĐỀ CHUYỂN THỂ TỪ TÁC PHẨM VĂN HỌC SANG KỊCH BẢN SÂN KHẤU 8

1.1 Mối quan hệ giữa văn học và sân khấu 8

1.1.2 Mối quan hệ tương đồng: 8

1.1.3 Mối quan hệ khác biệt: 14

1.2 Hình thức chuyển thể 19

1.2.1 Khái niệm chuyển thể: 19

1.2.2 Các hình thức chuyển thể của kịch bản văn học 20

CHƯƠNG 2: TỪ TÁC PHẨM CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ ĐẾN KỊCH BẢN SÂN KHẤU – NỘI DUNG HIỆN THỰC 24

2.1 Chuyển thể cốt truyện – từ tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư đến kịch bản sân khấu 25 2.1.1 Tác phẩm Cánh đồng bất tận 26

2.1.2 Tác phẩm Ơi Cải về đâu 29

2.1.3 Tác phẩm Đời như ý 32

2.1.4 Tác phẩm Tình lơ 34

2.1.5 Tác phẩm Dòng nhớ 36

2.2 Mâu thuẫn – từ văn học đến kịch bản sân khấu 38

2.2.1 Mâu thuẫn giữa con người với con người 39

2.2.2 Mâu thuẫn giữa con người với xã hội 45

2.2.3 Mâu thuẫn nội tâm 51

2.3 Nhân vật – từ văn học đến kịch bản sân khấu 58

2.3.1 Con người bị tha hóa 60

2.3.2 Con người có mối tình nhiều ngang trái 64

2.3.3 Con người kiếm tìm 69

2.3.4 Con người bất hạnh, khao khát yêu thương 72

2.3.5 Con người bảo thủ, định kiến 77

2.3.6 Nhân vật tình tiết 79

CHƯƠNG 3: TỪ TÁC PHẨM CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ ĐẾN KỊCH BẢN SÂN KHẤU – PHƯƠNG PHÁP NGHỆ THUẬT 82

3.1 Ngôn ngữ - Từ văn học đến kịch bản sân khấu 82

Trang 6

3.1.1 Từ ngôn ngữ người trần thuật đến ngôn ngữ đối thoại mang tính hành động,

giàu kịch tính 83

3.1.2 Ngôn ngữ đời thường, mang đậm sắc thái Nam Bộ 93

3.1.3 Ngôn ngữ độc thoại 97

3.1.4 Ngôn ngữ tính cách hóa 102

3.1.5 Ngôn ngữ ngắn gọn, cô đọng 105

3.2 Không gian, thời gian nghệ thuật – Từ văn học đến kịch bản sân khấu 106

3.2.1 Không gian nghệ thuật 107

3.2.2 Thời gian nghệ thuật 116

KẾT LUẬN 124

TÀI LIỆU THAM KHẢO 127

Trang 7

CHỮ VIẾT TẮT DÙNG TRONG LUẬN VĂN

Trang 8

DẪN NHẬP

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Mặc dù vấn đề chuyển thể từ tác phẩm văn học sang kịch bản sâu khấu là vấn đề

đã được diễn ra từ rất lâu nhưng trong năm năm trở lại, hiện tượng này được các kịch tác gia, các nhà biên kịch chú ý đến Đặc biệt, những tác phẩm truyện ngắn sau qua khi chuyển thể đã liên tục sáng đèn và thành công vang dội ở một số sân khấu kịch tại TP Hồ Chí Minh Điều đáng nói, những vở kịch công diễn được chuyển thể từ các tác phẩm văn học của Nguyễn Ngọc Tư, dường như khai thác được nội tâm sâu thẳm trong lòng của khán giả, trong đó nó ẩn chứa những khuất tất trong cuộc sống thường ngày; hơn hết là nội dung của tác phẩm mang đậm phong cách Nam Bộ nên chiếm trọn trái tim của người dân nơi này Những tác phẩm văn học được hầu hết bạn đọc biết đến và có mặt trong chương trình văn học của nhà trường được sân khấu kịch

Phú Nhuận chuyển thể và dàn dựng như: Chị Dậu, Số đỏ, Làm đĩ, Bỉ vỏ, Kỹ nghệ lấy Tây, Giông tố… Đặc biệt những truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư được “dậy sóng”

và liên tục được chuyển thể và sáng đèn ở các sân khấu tại TP Hồ Chí Minh, như:

sân khấu kịch Hoàng Thái Thanh với các vở diễn Bao giờ sông cạn (được chuyển thể

từ truyện ngắn Dòng nhớ), Nửa đời ngơ ngác (được chuyển thể từ truyện ngắn Chiều vắng) Ở sân khấu Nụ cười mới với vở diễn Cải ơi; ở rạp 5B Võ Văn Tần với vở diễn Cánh đồng bất tận, hay Chuyện của Điệp được sáng đèn ở sân khấu Thuần Việt, Đời Như ý biểu diễn tại sân khấu kịch Thế giới trẻ… Mỗi vở kịch đều sáng đèn từ ba đến

bốn đêm trong một tuần Từ đó mới thấy, các tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư là nguồn mạch dồi dào để các tác giả chuyển thể sang kịch bản sân khấu, là tiềm lực được các đạo diễn khai thác một cách triệt để

Với mong muốn đem lại cái nhìn rõ ràng về những giá trị trong các vở diễn chuyển thể của Nguyễn Ngọc Tư trên sân khấu kịch tại TP.HCM nên người viết xin chọn đề tài này để triển khai và nghiên cứu kĩ hơn, có một cái nhìn cụ thể hơn về sự chuyển thể các truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư

Trang 9

2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Mặc dù những tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư được chuyển thể sang sân khấu kịch rất nhiều, nhưng người viết xin được chọn năm tác phẩm có sức hấp dẫn khán

giả trên các rạp sân khấu ở TP.HCM nhiều nhất: Cánh đồng bất tận (chuyển thể từ tác phẩm cùng tên, do tác giả Minh Nguyệt chuyển thể), Đời như ý (chuyển thể từ tác phẩm cùng tên, do tác giả Bùi Quốc Bảo chuyển thể), Rau răm ở lại (chuyển thể từ tác phẩm Ơi Cải về đâu, do Thái kim Tùng chuyển thể), Bao giờ sông cạn (chuyển thể từ tác phẩm Dòng nhớ, do Ngô Phạm Hạnh Thúy chuyển thể), Mơ trăng bóng nước (chuyển thể từ tác phẩm Tình lơ, do Hoàng Thái Thanh – Nguyễn Thị Minh

Ngọc chuyển thể) bởi những vở kịch này được trình diễn trên sân khấu với tần suất khá nhiều (3-4 đêm/tuần), số lượng khán giả đến với rạp cũng rất đông

rõ một số luận điểm trong đề tài của mình Nếu có thời gian học lên cao, người viết

sẽ tìm hiểu kĩ hơn, vì ở giai đoạn hai liên quan đến rất nhiều vấn đề về đạo diễn, diễn viên, diễn xuất, cảnh trí, đạo cụ, âm thanh, ánh sáng,…(thuộc phạm trù loại hình sân khấu) nên cần rất nhiều thời gian để đầu tư cho vấn đề này

Tác phẩm

văn học

Kịch bản sân khấu

Vở diễn sân khấu

Trang 10

3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

- Phương pháp quan sát: sử dụng phương pháp này, người viết sẽ quan sát trực

tiếp các vở diễn được chuyển thể trên sân khấu để từ đó có cái nhìn cụ thể về loại hình nghệ thuật sân khấu so với kịch bản và văn học Từ đó là nguồn bổ trợ quí báu

để phân tích quá trình chuyển thể từ văn học sang kịch bản sân khấu

- Phương pháp liên ngành: Đây là phương pháp nhằm tìm hiểu mối quan hệ

tương đồng và khác biệt giữa hai loại hình văn học và sân khấu; để từ đó, thấy được những đặc trưng khu biệt của hai loại hình này

- Phương pháp phân tích, so sánh, đối chiếu: Những phương pháp này nhằm

phân tích những tác phẩm văn học của Nguyễn Ngọc Tư và phân tích những kịch bản sân khấu; để từ đó, so sánh và đối chiếu, thấy được sự giống nhau và khác nhau giữa các yếu tố của văn học và kịch bản

- Phương pháp hệ thống, tổng hợp: nhằm giúp người viết hệ thống được tất cả

nội dung chuyển thể và nghệ thuật chuyển thể Từ đó, người viết sẽ tổng hợp và đưa

ra kết luận về sự thay đổi của quá trình chuyển thể từ văn học đến kịch bản sân khấu

4 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN ĐỀ TÀI

Với đề tài luận văn này, chúng tôi sẽ đi sâu vào nghiên cứu vấn đề chuyển thể từ truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư sang kịch bản sân khấu kịch để thấy được những giá trị mà tác phẩm văn học mang lại:

- Thứ nhất, nối kết sự gần gũi giữa văn học và khán giả - những người vốn không thích đọc tác phẩm văn học, nhưng qua sân khấu kịch sẽ là một kênh “đọc” tác phẩm văn học hiệu quả và mới mẻ nhất

- Thứ hai, luận văn sẽ đi sâu vào nghiên cứu sự giống và khác nhau giữa tác phẩm văn học và kịch bản sâu khấu Từ đó làm sáng tỏ sự giống nhau và khác nhau

Trang 11

của cốt truyện, xung đột, hệ thống nhân vật, ngôn ngữ, không gian – thời gian nghệ thuật của hai thể loại này

- Thứ ba, đây sẽ nguồn tài liệu tham khảo cho việc học và giảng dạy trong

chuyên đề Văn học so sánh, Kịch bản văn học ở bậc Cao Đẳng – Đại học; mặt khác,

đó còn là nguồn tài liệu thiết thực cho các tác giả trẻ, đạo diễn sân khấu muốn chuyển thể các tác phẩm văn học sang sân khấu kịch

5 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

5.1 Dù khác biệt về loại hình, thậm chí khác biệt dòng kênh thông tin, song giữa

văn học và sân khấu vẫn có những tương đồng khiến chúng có thể chuyển hoá cho nhau, từ đó mà “khai sinh” ra kịch bản văn học Chuyển thể là một biện pháp nghệ thuật đã có từ lâu xuất hiện khá sớm từ thời Hi Lạp cổ đại, bắt đầu từ những nghi lễ cúng thần rượu nho Dionysus Ở đây vào thế kỷ thứ V - trước Công Nguyên bi kịch

là thể loại sân khấu rất thịnh hành với những tác giả nổi tiếng : Eschyle, Sophocle và những tác phẩm bất hủ: Prométhée bị xiềng, Angtigone,… Từ đó đến nay, bi kịch đã trải qua nhiều bước thăng trầm và không ngừng đổi mới về hình thức và nội dung nghệ thuật để ngày càng hoàn thiện hơn về thể loại và ngày càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu của xã hội – thẩm mĩ của công chúng ở những thời đại khác nhau Đến thế kỉ XVI-XVII, ở một số nước châu Âu như Anh, Pháp… kịch là thể loại văn học - sân khấu rất thịnh hành gắn liền với tên tuổi của các tác giả lớn Shakespeare, Corneille…

Đơn cử như tác phẩm nổi tiếng của Shakespeare – Romeo và Juliet – một trong những

điển hình của tác phẩm chuyển thể, Trần Ngọc Thêm đã cho rằng: vào năm 1476, tác giả người Ý là Masuccio Salernitano kể lại trong cuốn sách nhan đề “II Novellino”

về một mối tình vụng trộm, những vụ giết người, việc đi đầy biệt xứ, việc một nhà tu hành sẵn lòng giúp đỡ cho đám cưới của đôi trẻ thuộc hai gia đình thù nghịch Năm

1530, Luigi da Porta cũng kể lại câu chuyện tình kết thúc bằng việc đôi tình nhân tự sát này với địa điểm diễn ra câu chuyện là thành phố Verona Tới năm 1562, nhà thơ Anh là Arthur Brooke đã dùng đề tài này trong tập thơ dài “The Tragical Historye of Romeus and Julius” (Câu chuyện bi thảm của Romeo và Juliet), nói về một một tình yêu vụng trộm, không vâng lời cha mẹ và bất tuân luật pháp Đến 1596, khi được

Trang 12

chuyển thể sang vở bi kịch Romeo và Juliet, nhà soạn kịch William Shakespeare đã

xây dựng thành một vở kịch xuất sắc về một mối tình nổi tiếng trong lịch sử của hai dòng họ Montague và Capulet ở thành Verona (Ý) Từ đây, tác phẩm văn học một lần nữa xuất hiện, nhưng xuất hiện bằng một loại hình khác, đó chính là loại hình sâu khấu Đây được xem như là một cuộc tái sinh lần thứ hai của văn học Có hai hình thức chuyển thể, đó là chuyển thể theo sát nguyên bản và chuyển thể không theo sát theo nguyên bản Trong hình thức chuyển thể theo sát nguyên bản văn học, tác giả và đạo diễn cố gắng bám sát tác phẩm văn học, từ tên tác phẩm, cốt truyện, đường dây dẫn dắt, hệ thống nhân vật, ý tưởng chủ đề đến hình thức, ngôn ngữ, phong cách của tác giả văn học Còn hình thức chuyển thể không theo sát nguyên bản văn học (chuyển thể tự do) thì tác phẩm văn học chỉ góp một phần hoặc chỉ là cái cớ để hoàn toàn kịch bản điện ảnh Cốt truyện có thể được thay đổi, nhân vật được thêm hoặc bớt, ngôn ngữ được xây dựng tạo nhiều tình huống để đẩy kịch lên cao trào, phù hợp với đặc điểm của sân khấu kịch Ở Việt Nam, hình thức “dựa theo” tác phẩm văn học có vẻ phổ biến hơn nhưng cũng bên cạnh tác giả chuyển thể cũng có thay đổi một số tình tiết, hình tượng, dung lượng nhân vật và thời gian, không gian để tạo hứng thú cho

người xem

5.2 Nguyễn Ngọc Tư là một tác giả được bạn đọc chú ý rất nhiều trong những

năm qua, với những truyện ngắn viết theo lối truyền thống với những nỗi u hoài trầm lặng, sự nhẫn nại chịu đựng cam phận trong tâm hồn người dân quê miền Nam, mà đời sống gắn bó với con kinh, con rạch Ngoài những tác phẩm thành công của chị

như Ngọn đèn không tắt, Ông ngoại, Ơi Cải về đâu…, riêng tác phẩm Cánh đồng bất tận xuất bản vào năm 2005 đã một thời làm sóng gió trên văn đàn nước nhà Đến nay,

chị đã cho ra đời hơn 24 tuyển tập truyện ngắn, tạp văn, tiểu thuyết và thơ Nhưng để lại ấn tượng cho người đọc nhiều nhất hơn cả đó chính là truyện ngắn của chị Bởi thể loại này chính là những mảnh ghép của cuộc sống, của con người Nam Bộ vô cùng sinh động và đầy chân thật

Trước những thành công đó, trong những năm qua rất nhiều sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh đã lấy những tác phẩm của chị làm đề tài nghiên cứu cho

Trang 13

khóa luận, luận văn, luận án của mình: Đặc điểm truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư

(Nguyễn Thành Ngọc Bảo) quan tâm đến hình ảnh con người Nam Bộ với những

đắng cay, ngang trái và một số đặc điểm nghệ thuật của tác phẩm; Nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư (Vũ Thị Hải Yến) đề cập đến phương diện đặc trưng về trần thuật, ngôi kể, điểm nhìn, giọng điệu của nhà văn; Chất Nam Bộ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư (Võ Tường Vy) lại đi sâu tìm hiểu đặc điểm về ngôn ngữ, văn hóa Nam Bộ trong nội dung và nghệ thuật của các thiên truyện; Thế giới biểu tượng trong văn xuôi Nguyễn Ngọc Tư được Nguyễn Thị Ngọc Lan tập

trung nghiên cứu những giá trị tiềm ẩn khuất lấp sau từng biểu tượng cũng như là mối liên hệ giữa chúng, quan niệm của nhà văn, những thông điệp mà nhà văn phản ánh

thông qua các biểu tượng văn hóa; Phương ngữ Nam Bộ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư – Nguyễn Bình Khang tiếp cận về các phương diện về ngữ âm, từ vựng Nam

Bộ trong các tác phẩm của chị… Mặc dù có rất nhiều đề tài nghiên cứu về truyện

ngắn của Nguyễn Ngọc Tư, song hầu như đều đi sâu vào nội dung, nghệ thuật, đặc điểm, ngôn ngữ của truyện ngắn, chưa có đề tài nào đề cập đến vấn đề chuyển thể tác phẩm của chị sang kịch bản sân khấu Qua khảo sát và tìm hiểu của người viết, hiện nay có một đề tài cũng có nghiên cứu về chuyển thể sang sân khấu nhưng đó lại là chuyển thể từ văn học sang tác phẩm sân khấu và cũng chỉ mới nghiên cứu về hai tác

phẩm của Vũ Trọng Phụng Đó là luận văn Số đỏ và Kỹ nghệ lấy tây của Vũ Trọng Phụng: từ tác phẩm văn học đến tác phẩm sân khấu của Phạm Thụy Ngọc Quỳnh

5.3 Bên cạnh đó, cũng đã có nhiều bài báo viết về vấn đề này: Đưa tác phẩm

văn chương lên sân khấu kịch nói: Cái liều khó cưỡng – Đỗ Ngọc Yên (báo Văn nghệ quân đội), NSND Hồng Vân và giấc mơ làm sống dậy những tác phẩm văn học – Hiền Hương (dantri.com.vn), Thêm một tác phẩm Nguyễn Ngọc Tư chuyển thể thành kịch nói - Phạm Vi, Phước Quang (sgtt.com.vn), “Kịch văn học” cứu nguy sàn diễn – Thanh Hiệp (Báo người lao động, số ra ngày 25/08/2015), Sân khấu tìm về với văn học (sankhau.com.vn), Nỗi đau bi kịch gia đình – Thúy Bình (www.sggp.org.vn), Sân khấu Hoàng Thái Thanh ra mắt “Bao giờ sông cạn” (saodienanhviet.com), 'Đời như ý' chuyển thể không như ý – Thảo Vân (phunuonline.com.vn), Nhiều tác phẩm

Trang 14

văn học lên sân khấu -Thuận An (thanhnien.com.vn), Truyện Nguyễn Ngọc Tư tiếp tục lên sân khấu - Thất Sơn (VNexpress.com), “Dòng nhớ” của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư trở lại sân khấu kịch – H.H (cand.com.vn) , Tác phẩm văn học vẫn “đắt hàng” trên sân khấu kịch (baovanhoa.vn), Vở kịch cảm tác từ 'Dòng nhớ' của Nguyễn Ngọc Tư: Dù còn những điều tiếc nuối - Tam Anh (Thể thao và văn Hóa, số ra ngày 02/09/2015), Nửa đời ngơ ngác: Tình yêu và thù hận… - Đỗ Hạnh (sggp.org.vn), Xem

“Nửa đời ngơ ngác” – Thủy Linh (thanhnien.vn) Nhìn chung, các bài viết đăng trên

các tạp chí, báo đều thấy được tương lai khả quan của kịch bản văn học Đây là những khởi sắc, những tín hiệu đáng mừng, tạo nhiều ấn tượng tốt đẹp về giá trị nhân văn khi mà các vở kịch giải trí, xem nhẹ về nội dung đang làm khán giả nhàm chán

Từ những minh chứng trên, cho thấy vấn đề chuyển thể còn là một mảnh đất khá

màu mỡ để khai thác Thế nên, đề tài Vấn đề chuyển thể từ tác phẩm văn học sang kịch bản sân khấu: Trường hợp Nguyễn Ngọc Tư là một đề tài mới mẻ, chưa ai đề

cập đến

6 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN

DẪN NHẬP

1 Lý do chọn đề tài

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3 Lịch sử nghiên cứu đề tài

4 Phương pháp nghiên cứu

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

6 Kết cấu luận văn

CHƯƠNG 1: VẤN ĐỀ CHUYỂN THỂ TỪ TÁC PHẨM VĂN HỌC SANG KỊCH BẢN SÂN KHẤU

CHƯƠNG 2: TỪ TÁC PHẨM CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ ĐẾN KỊCH BẢN SÂN KHẤU – NỘI DUNG HIỆN THỰC

CHƯƠNG 3: TỪ TÁC PHẨM CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ ĐẾN KỊCH BẢN SÂN KHẤU – PHƯƠNG PHÁP NGHỆ THUẬT

Trang 15

CHƯƠNG 1: VẤN ĐỀ CHUYỂN THỂ TỪ TÁC PHẨM VĂN HỌC SANG KỊCH BẢN SÂN KHẤU

1.1 Mối quan hệ giữa văn học và sân khấu

Triết học Mác – Lênin khi bàn về mối quan hệ đã định nghĩa: “Mối liên hệ là sự quy định, sự tác động và chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng, hay giữa các mặt, các yếu tố của mỗi sự vật, hiện tượng trong thế giới” (Bùi Quang Thọ, 2007,

tr.322) Thế nên, khi xem xét về mối quan hệ giữa văn học và sân khấu (mà ở đây là

kịch bản sân khấu), chúng ta sẽ xem xét sự tác động và qua lại giữa loại thể này với loại thể khác trong cùng một hệ thống; đồng thời, đó còn là như là sự tác động qua lại giữa các loại thể với sự giao nhau dựa trên các yếu tố tương đồng và khác biệt

Trong bài giảng Văn học và các loại hình nghệ thuật, Lâm Vinh (2001) đã phát biểu:

“Ở dạng tĩnh, đó là quan hệ so sánh để tìm những điểm giống nhau (sự tương đồng) hoặc khác nhau (sự tương dị) Ở dạng động, đó là quan hệ có sự hợp tác liên kết trong

quá trình sáng tạo (quan hệ tương tác)” (tr.10) Ở mối quan hệ động và tĩnh này,

V.Kôginốp (1963) cũng đã cho rằng “bản chất của các tác phẩm nghệ thuật biểu hiện

là gần gũi nhau” (tr.193), chúng có sự tác động qua lại lẫn nhau “người ta gọi kiến

trúc là âm nhạc ngưng tụ hoặc âm nhạc bằng đá, hoa văn là âm nhạc được khắc hoạ,

âm nhạc của thị giác, nhảy múa là âm nhạc của cơ thể hoặc âm nhạc sống, thơ trữ

tình là âm nhạc ngôn ngữ” (tr.193) Như vậy, văn học và sân khấu có những mối quan

hệ khá khắng khít nhưng ở một chừng mực nào đó văn học và sân khấu có những đặc thù riêng của mình để tạo nên những loại hình đặc trưng của mỗi thể loại Để làm rõ mối quan hệ giữa văn học và sân khấu, chúng tôi xin đi vào khai thác những mối quan

hệ đặc trưng của văn học và sân khấu dựa trên những mối quan hệ như sau: mối quan

hệ tương đồng (đối tượng phản ánh; tư tưởng, tình cảm của tác giả), mối quan hệ khác biệt (hình thức biểu hiện, hình tượng cảm thụ; chủ thể sáng tác; phương tiện biểu hiện)

1.1.2 Mối quan hệ tương đồng:

- Thứ nhất, văn học và sân khấu đều lấy con người, cuộc sống xã hội làm đối tượng phản ánh Văn học là một hình thái ý thức xã hội, bắt nguồn từ con người,

Trang 16

cuộc sống, phản ánh đời sống, bày tỏ những quan điểm, cách nhìn, tình cảm đối với con người và đời sống xã hội, Tsécnưxépxki từng nói “cái đẹp là cuộc sống” (như trích dẫn ở Lê Lưu Oanh, 2008, tr.8) Đến lượt mình, Lê Lưu Oanh (2008) cũng đã nhấn mạnh: “Đối tượng của văn học là toàn bộ đời sống hiện thực, nhưng chỉ là hiện thực có ý nghĩa đối với đời sống tâm hồn, tình cảm con người” (tr.8) Nghĩa là, dù văn học có miêu tả thế giới bên ngoài như thiên nhiên, lịch sử, chiến tranh, hòa bình thì văn học cũng chỉ chú ý tới quan hệ của chúng đối với con người Vì vậy, Terenxy

- nhà soạn kịch nổi tiếng của sân khấu kịch La Mã đã cho nhân vật của mình trong

vở kịch Tự dày vò thốt lên rằng: “Tôi là người, không có gì thuộc về con người lại xa

lạ với tôi Và những gì không xa lại với tôi cũng sẽ không xa lại với văn học” (Lê Ngọc Trà, 1990, tr.63) Hiện thực phong phú vô cùng vô tận của tự nhiên và xã hội

là đối tượng của nghệ thuật Dù có miêu tả về những sự vật, sự việc, hiện tượng của

tự nhiên thì cốt yếu mà văn học muốn hướng đến đó chính là những ảnh hưởng của các hiện tượng đó đối với con người như thế nào Vì thế, văn học lấy con người làm

trung tâm để phản ánh tất cả các mối quan hệ trong xã hội đời sống Thông qua những

mối quan hệ xã hội ấy, các tác phẩm văn học khám phá bản chất tâm hồn con người cũng như phát hiện ra những vấn đề mang tính khái quát, cấp thiết về con người, về cuộc đời Đồng thời, không chỉ có văn học mà các loại hình nghệ thuật khác: hội hoạ,

âm nhạc, điện ảnh, sân khấu… đều lấy con người làm trung tâm để phản ánh: “Mọi loại hình nghệ thuật đều phản ánh cuộc sống, đều biểu hiện các tư tưởng tình cảm của con người, nên đều có nội dung chung nhưng khác nhau về hình thức thể hiện” (Lê

Lưu Oanh, 2007, tr.94)

Trên những trang văn của Nguyễn Ngọc Tư những hiện thực về cuộc sống Nam

Bộ, những con người về vùng đất này cứ hiện ra một cách tự nhiên nhất: “Nguyễn Ngọc Tư nghĩ viết cũng gần gũi như sống đời thường, như ăn nói, đi đứng tự nhiên hằng ngày của con người mà không thần thánh hóa văn chương” (Nguyễn Thanh,

2016) Trong hầu hết các truyện của Nguyễn Ngọc Tư, những người dân nghèo khổ,

lam lũ, vất vả nơi vùng đất tận cùng của đất nước hiện lên đầy chân thật, những mối tình ngang trái, những tập tục phong kiến hà khắc còn sót lại nơi vùng đất này vẫn

Trang 17

hiện lên một cách sinh động và rất thực qua những dòng mộc mạc của chị Song song

đó, đối tượng của sân khấu cũng là phản ánh hiện thực xã hội, lấy con người làm trung tâm Tchernychevski đã khẳng định phạm vi của nghệ thuật: “Bao hàm trong

nó tất cả những gì có trong hiện thực (trong tự nhiên và trong xã hội) khêu gợi được

hứng thú của con người - không phải với tư cách là học giả mà với tư cách là con

người bình thường; cái mọi người quan tâm trong đời sống - đó là nội dung của nghệ thuật” (Nguyễn Hoa Bằng, chương 5, tr.2)

Nghệ thuật nảy sinh trên cơ sở đời sống vật chất xã hội và đời sống vật chất xã hội đã quy định đặc thù của nghệ thuật Vì vậy, đời sống xã hội chính là cội nguồn phong phú không bao giờ cạn của nghệ thuật Nghệ thuật không chỉ lấy đời sống hiện thực để miêu tả một cách đơn thuần như vậy, mà nghệ thuật còn phản ánh tồn tại tinh thần ý thức xã hội, các mối quan hệ phức tạp của con người với con người Nằm trong

khuôn khổ của một loại hình nghệ thuật Mặt khác, sân khấu phản ánh đời sống xã

hội, lấy mối quan hệ của con người làm đề tài, chủ đề để thể hiện thế giới quan, nhân sinh quan của con người trong xã hội hiện thực ấy vì sân khấu dường như cũng chính

là đời sống, một cuộc sống thu nhỏ, nhưng có đủ mọi mối quan hệ cá nhân, gia đình,

xã hội chằng chịt Trong một bài viết trong quyển Nghệ thuật sân khấu và đời sống văn hóa, Trần Trọng Đăng Đàn đã đồng quan điểm về việc khi chọn các đối tượng

của nghệ thuật để miêu tả phải luôn luôn “gắn chặt với công chúng đương thời” Nhà văn Victor Hugo cũng đã khẳng định rằng: “Sân khấu là một điểm tụ quang Tất cả những gì tồn tại trong thế giới, trong lịch sử, trong cuộc sống, trong con người, tất cả đều có thể phản ánh trong đó” (Đình Quang, 2003, tr.198)

Từ những phân tích trên cho thấy văn học và sân khấu đều có đối tượng chung

đó chính là phản ánh đời sống xã hội đương thời “xã hội nào thì văn nghệ thế ấy” (Hồ Chí Minh); đồng thời văn học và sân khấu đều lấy con người làm đối tượng trung tâm

để phản ánh Thông qua con người, văn học và sân khấu phản ánh những mối quan

hệ xã hội, đó là những quan hệ giữa con người với con người trong cách đối nhân xử thế Tựu trung lại, văn học và sân khấu đều là “tấm gương” phản chiếu lại hiện thực, cùng hướng con người đến cái chân – thiện – mỹ, đến những giá trị nhân văn, đạo lý

Trang 18

làm người trong cuộc sống Điển hình như trong kịch Mơ trăng bóng nước được chuyển thể từ truyện ngắn Tình lơ của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư Câu chuyện xoáy

vào sự nhầm lẫn của bà mai Út Đơn nên đã khiến Trần Văn Lược cưới nhầm Sáu Gương Vì vậy mà cuộc hôn nhân trở nên nặng nề hơn bởi sự so sánh của người chồng giữa Sáu Giá và Bảy Gương Cô em gái Bảy Gương phải lặng lẽ chịu đựng, nhưng khi sự chịu đựng đã đến biên giới của đổ vỡ thì Lược mới nhận được giá trị của Bảy Gương – người vợ cưới nhầm – quan trọng với cuộc sống của mình như thế nào Câu chuyện kết thúc bằng sự nhận ra được giá trị đích thực của cuộc sống hôn nhân Đó chính là một trong những giá trị mà văn học và sân khấu đều có nhiệm vụ đồng tái hiện

- Thứ hai, văn học và sân khấu – đều phản ánh qua tư tưởng, tình cảm của

tác giả Một tác phẩm văn học hoặc một kịch bản văn học đều là sản phẩm của con

người, nhưng không phải ai cũng có khả năng sáng tạo nên tác phẩm văn học hay vở kịch trên sân khấu Trước hết, nhà văn, nhà biên kịch phải có tài năng, có năng lực cảm thụ thẩm mỹ, có trực giác, có trí tưởng tượng, tâm hồn phải nhạy cảm, đồng cảm,

sẻ chia… thì mới tạo ra những tác phẩm có giá trị Trong thiên “Trưng Thánh” - Văn tâm điêu long, Lưu Hiệp (2007) đã viết về nhà văn: “Suy nghĩ sinh hiểu biết Trí tuệ

và linh hồn Tình lý thành văn thái Tứ khí thành từ chương Ý so ngang nhật nguyệt

Lời rộng như biển non Trăm năm tình dù mất ngàn năm tâm vẫn còn” (tr.59) Lê

Thánh Tông cũng đã ca ngợi những nhà văn chân chính, có tài, có năng lực thẩm mĩ

“tấm lòng trong sạch như băng ngọc” và “cách điệu thanh cao, ý tứ lạ thường” (Lê Lưu Oanh & Phạm Đăng Dư, 2008, tr.55) Không những thế, khi sáng tạo ra một tác phẩm, nhà văn thường ấp ủ và mang trong mình những quan niệm, thế giới quan nhân sinh của cuộc đời Những “đứa con tinh thần” đó được các nhà văn “mang nặng đẻ đau” bằng tất cả những nhận thức về thế giới hiện thực bên ngoài của cuộc sống, bằng

sự trải nghiệm và vốn sống từng trải của mình mới tạo ra được những tác phẩm có giá trị xuất sắc Vì lẽ đó, tư tưởng của nhà văn luôn gắn liền với tình cảm Hai yếu tố này phải xuyên suốt với nhau để tạo ra những tác phẩm làm rung động tâm hồn của độc giả Một tác phẩm xuất sắc là một tác phẩm sống mãi trong lòng của người đọc,

Trang 19

đó là một tác phẩm chạm tới trái tim ẩn chứa bên trong tâm hồn của họ Điển hình

như tác phẩm Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư khi xuất bản đã gây xôn xao

rất nhiều trên văn đàn, cũng như trong công chúng, bởi vì tác phẩm của chị là sự phản ánh hiện thực bằng tất cả tình cảm chân thành của chị đặt vào từng nhân vật Nhà thơ Hữu Thỉnh cũng đã nhận xét: ‘Nguyễn Ngọc Tư khiến cho người đọc phải xót xa vì

sự tan vỡ của một gia đình bé nhỏ trên cánh đồng bất tận là cuộc đời rộng mênh mông Cánh đồng ở đây là cuộc đời, là cõi nhân gian bất tận những vui buồn, hạnh phúc và

hy vọng của kiếp người Sự tan vỡ của gia đình bé nhỏ trong tác phẩm này là tất yếu sau sai lầm của người mẹ và sự mê đắm vào việc trả thù của người cha Hai nhân vật đứa trẻ trong tác phẩm như là những nạn nhân, lớn lên tự nhiên như đàn vịt, thiếu thốn sự quan tâm và những cử chỉ trìu mến của người thân Điều đó đã lay động trái

tim hàng nghìn độc giả” (Hà Linh, 2006)

Tư tưởng tình cảm không chỉ xuất hiện ở các nhà văn mà cũng bắt gặp ở các nhà

viết kịch Trong cuốn Vở diễn và đạo diễn, nghệ sĩ nhân dân Liên Xô Alếchxây –

Pôpốp (1982) khi bàn về tư tưởng của đạo diễn chân chính, ông cho rằng: “Nếu như thiếu vắng những tư tưởng lớn lao và say đắm trong tác phẩm thì cho dù kỹ thuật nghề nghiệp có cao cả thì cũng không thể cứu được người nghệ sĩ thoát khỏi sự vụn

vặt, tẻ nhạt” (tr.28) Iu Davátski (1984) – một đạo diễn bậc thầy của Xô Viết cũng

phát biểu: “Đạo diễn phải sáng tạo ra vở diễn cũng giống như nhà soạn nhạc viết ra bản nhạc, đạo diễn phải tạo hiệu lực mạnh mẽ đối với tri giác của con người” (tr.15)

Để làm rõ thêm cho sự tương đồng giữa văn học và sân khấu, chúng tôi đã có cuộc

trao đổi với tác giả Bùi Quốc Bảo – người soạn và đạo diễn vở kịch Đời như ý - đã

nhận định: “Những tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư thấm đượm tình cảm của con người Nam Bộ, ẩn sâu trong từng truyện ngắn của chị là những con người hiền lành, chất phác nhưng gặp nhiều cảnh trái ngang Tôi tìm được trong truyện của chị là những nỗi đau khổ của con người và những thân phận nổi trôi Đọc những tác phẩm

của chị mà lòng mình cứ rung lên nên thế là tôi mượn tác phẩm của chị để viết”

Vì vậy, tư tưởng tình cảm của nhà văn và các nhà viết kịch có những điểm tương đồng với nhau Chính vì sự tương đồng này nên những nhà biên kịch thường tìm được

Trang 20

“tiếng nói” từ văn học, mượn chất liệu văn học, bởi vì chất liệu văn học không bao giờ sợ “đụng hàng” vì mỗi người đọc tác phẩm từ sách đều có trí tưởng tượng riêng, ngay cả với khán giả, bộ phận không thể thiếu làm nên sự sáng tạo một đêm diễn, thì phản ứng của họ, cảm xúc của họ tương tác đến câu chuyện kịch

- Thứ ba, văn học và sân khấu đều sử dụng ngôn từ để biểu hiện “Văn học

là nghệ thuật ngôn từ” – tất cả các tác phẩm văn học phản ánh thế giới đều bằng ngôn

từ Nhờ ngôn từ mà các nhà văn thể hiện tất cả những tư tưởng, suy nghĩ, quan điểm của mình vào trong từng nhân vật, vào trong từng tác phẩm của mình Bằng chất liệu ngôn từ, nhà văn, nhà thơ không những tái tạo được những cái hữu hình mà còn tái tạo được cả những cái vô hình, những cái mỏng manh, mơ hồ nhất mà các loại hình

nghệ thuật khác phải bất lực như trong bài thơ Thời gian trắng của nữ sĩ Xuân Quỳnh

(1997):

“Dù cùng một thời gian, cùng một không gian Ngoài cánh cửa với em là quá khứ Còn hiện tại của em là nỗi nhớ

Thời gian ơi sao không đổi sắc màu”

Nhà văn, nhà thơ phải sử dụng ngôn từ và trau chuốt để tác phẩm trở nên chuẩn

xác, tạo nên tính thẩm mĩ và tính cá thể hoá cho văn bản Trong truyện ngắn Trăng nơi đáy giếng của nhà văn Trần Thuỳ Mai (2009) có đoạn miêu tả về cái dáng bé nhỏ

của cô Hạnh mua bún cho chồng với sự lựa chọn ngôn từ chuẩn xác và tạo tính nghệ

thuật: “Hơn mười mấy năm, họ đã sống chung nơi căn hộ bé nhỏ này Mỗi sáng,

người trong xóm đều thấy cô Hạnh xách tô ra đầu ngõ mua bún cho chồng Những hôm mưa lâm thâm, cái dáng gầy của cô co ro, tay cô cầm chiếc nón cố che cho kín

tô bún” (tr.36 – 37) Hoặc trong truyện ngắn Dòng nhớ của Nguyễn Ngọc Tư miêu tả

về dòng sông ban đêm với những ngôn từ tuy mộc mạc, giản dị nhưng cũng đã được được trau chuốt tạo tính thẩm mĩ của tác phẩm văn học Không những thế, Nguyễn Ngọc Tư (2015) cũng đã sử dụng các biện pháp tu từ và mang đậm dáng dấp của

người kể chuyện vào tác phẩm của mình: “Ban đêm, con sông trước nhà tôi không

ngủ, nó thức theo những chiếc tàu rầm rì chảy qua, theo tiếng mái chèo quẫy chách

Trang 21

bụp rất đều Dài từ ngã ba Vàm đến đây, nước chảy êm, khuất gió, những chiếc ghe

đi đêm hay đậu lại, nghỉ ngơi lâu lâu, có chiếc ghe hàng bông lặng lẽ neo lại ngoài

bến nhà tôi, treo ngọn đèn chong lên cây đước chơm chởm những cái nhánh con”

(tr.55)

Trong kịch bản sân khấu, các nhà biên kịch cũng sử dụng ngôn từ để thể hiện các tác phẩm của mình Bằng ngôn từ tác giả phục dựng lại những không gian và thời gian trong kịch bản, những cuộc đối thoại và độc thoại của các nhân vật, những hành động, những mâu thuẫn, những xung đột của tác phẩm Nếu không có ngôn từ thì các

vở kịch chỉ là những ý tưởng xuất hiện trong đầu của nhà biên kịch, nó chỉ mới là những ý nghĩ, những tư tưởng manh nha, chưa sắp xếp một cách khoa học, hệ thống Bắt buộc các nhà viết kịch phải viết ra, chỉnh sửa, xây dựng lại thành những kịch bản hoàn chỉnh thì mới tạo thành một vở kịch hoàn thiện; lúc đó, kịch bản mới được các đạo diễn, diễn viên dàn dựng trên sân khấu, chẳng hạn như đoạn đầu tiên trong vở

kịch Rau răm ở lại: ‘Trên đường xuống cầu phà là những dãy hàng quán Ông Năm

Nhỏ gánh một bên là rổ đậu phộng luộc, một bên là trứng cút, trà đá Đầu gánh treo tấm bảng tìm Cải Vừa đi ông vừa rao Tiếng rao của ông hòa lẫn với tiếng rao hàng

í ới trên bến bắc…” (Thái Kim Tùng, 2016, tr.3)

Như vậy, văn học và sân khấu đều lấy ngôn từ làm phương tiện thể hiện, thông qua ngôn từ các nhà văn, kịch tác giả mới phản ánh hiện thực xã hội, phản ánh tư tưởng, tình cảm và được xây dựng một cách có hệ thống, hoàn chỉnh

Từ những phân tích trên, chúng ta thấy văn học và sân khấu đều có những điểm tương đồng về đối tượng phản ánh, tư tưởng, tình cảm của nhà văn, ngôn từ biểu hiện Tất cả những điểm giống nhau này chính là sự giao thoa giữa hai loại hình nghệ thuật: đều hướng con người vào cái đẹp, cái chân, cái thiện, cái mĩ – đó là nhân bản mà các tác giả luôn hướng tới

1.1.3 Mối quan hệ khác biệt:

- Đầu tiên, sự khác biệt về dung lượng nội dung Tác phẩm văn học thông qua

việc phản ánh hiện thực, nêu lên những vấn đề trước mắt công chúng, xảy ra trong hiện thực Do tác phẩm văn học không bị hạn chế về không gian và thời gian nên tác

Trang 22

phẩm văn học có thể phản ánh những mâu thuẫn, những khung cảnh thiên nhiên, những cuộc sống, những mối quan hệ xã hội Vì vậy tác phẩm văn học có thể tha hồ

mở rộng các chiều kích của không gian, thời gian để miêu tả lại tất cả những vấn đề trong cuộc sống Trong khi đó, sân khấu lại phải tập trung vào khuôn khổ thời gian của một đêm diễn gói gọn trong hai đến ba giờ nên không gian, thời gian, các cảnh, hồi trong kịch bản sân khấu cũng được cô đúc lại để vở kịch không bị dàn trải mà thường dồn nén nội dung thật cô đọng, súc tích với những mâu thuẫn xung đột thể hiện qua những hành động, những tích cách của nhân vật Chẳng hạn khi viết về

khung cảnh miền tây sông nước trong Cánh đồng bất tận, Nguyễn Ngọc Tư (2011)

đã sử dụng ngòi bút của mình để miêu tả mở đầu bằng khung cảnh thiên nhiên của những cánh đồng tàn tạ với những kiếp người rày đây mai đó trên những cánh đồng nối tiếp, hình ảnh người đàn bà làm nghề “mua vui” bị người đân đánh đập tàn nhẫn: Con kinh nhỏ nằm vắt qua một cánh đồng rộng Và khi chúng tôi quyết định dừng lại, mùa hạn hung hãn dường như cũng gom hết nắng đổ xuống nơi này Những cây lúa chết non trên đồng, thân đã khô cong như tàn nhang chưa rụng, nắm vào bàn tay là nát vụn Cha tôi tháo cái khung tre chắn dưới sàn ghe, bầy vịt lúc nhúc chen ra, cuống quýt, nháo nhào quẫy ngụp xuống mặt nước váng phèn Một lớp phèn mới, vàng sẫm quánh lại trên bộ lông của những con vịt đói, nhớp nháp bám trên vai Điền khi nó trầm mình bơi đi cặm cọc, giăng lưới rào bầy vịt lại Tôi bưng cái cà ràng lên bờ, nhóm củi

Rồi ngọn lửa hoi hót thở dưới nồi cơm đã lên tim, người đàn bà vẫn còn nằm trên ghe Ngay cả ý định ngồi dậy cũng xao xác tan mau dưới những tiếng rên dài Môi chị sưng vểu ra, xanh dờn Và tay, và chân, và dưới cái áo mà tôi đã đắp cho là một cái áo khác đã bị xé tả tơi phơi những mảng thịt người ta cấu nhéo tím ngắt… (tr.163)

Khi chuyển thể thành kịch bản Cánh đồng bất tận, nội dung được các tác giả

sáng tạo sao cho phù hợp với đặc trưng của sân khấu nên có sự cô đúc, ngắn gọn, súc

tích hơn: “Một góc ghe… Cô gái nằm sóng soài – bất động…” hoặc “sân khấu với

cái lều dựng tạm Út Vũ… lầm lì dọn cỏ… Nương hì hục thổi lửa nấu cơm – Điền

Trang 23

loay hoay tập những thế võ…” (Nguyễn Thị Minh Nguyệt, 2009, tr.3) Bên cạnh đó,

những mâu thuẫn, những tình tiết cũng được các nhà biên kịch viết lại sao cho phù hợp với dung lượng thời gian của vở diễn trên sân khấu Những tình tiết miêu tả mang tính sinh hoạt thường được các nhà viết kịch lược bớt đi, chỉ còn lại những tình tiết mang tính hành động để tập trung làm rõ được mối xung đột trong vở kịch Làm như vậy, các vở kịch mới được trình diễn trên các sân khấu, phù hợp với nhu cầu của khán giả Lunatsatxki đã từng cho rằng: “Sân khấu tự bản thân nó là một thứ nghệ thuật có tính chân thực rất cao bởi vì nó có thể tạo ra những hiện tượng giống in như thật Không phải ngẫu nhiên mà nhiều khi người ta gọi sân khấu là tấm gương sống của cuộc đời” (Hà Minh Đức & Lê Bá Hán, 1970, tr.419) Đó là điểm khác biệt đầu tiên giữa văn học và sân khấu trong vấn đề dung lượng nội dung của tác phẩm Các kịch bản sân khấu trong quá trình linh động, ứng biến đã thật sự làm “tròn vai” của mình khi đưa lên sàn diễn

- Thứ hai, sự khác biệt về hình tượng nghệ thuật Nếu như tác phẩm văn học

phản ánh đời sống xã hội bằng những hình tượng nghệ thuật ngôn từ mang tính gợi, được các nhà văn khái quát lại từ cuộc sống, những mối quan hệ xã hội Để hiểu được những hình tượng nghệ thuật đó, bắt buộc người đọc phải thông qua ngôn từ để tưởng tượng, hình dung theo cảm nhận riêng của mình về nội dung của tác phẩm Độc giả không thể nhìn thấy được con người, không thể nghe thấy lời nói của nhân vật trong tác phẩm mà phải vận dụng trí tưởng tượng để “ghi” lại toàn bộ câu chuyện mà nhà văn muốn gởi gắm Chẳng hạn, khi muốn miêu tả lại một khung cảnh, vẻ đẹp của thiên nhiên hay miêu tả ngoại hình thì bắt buộc nhà văn chỉ có thể sử dụng ngôn từ

để diễn tả lại; đến lượt mình, người đọc sẽ dùng sự bay bổng của tâm trí để khắc họa

hình tượng nghệ thuật theo cách riêng của mỗi người Mặt khác, khi miêu tả về nội

tâm của nhân vật, nhà văn có thể tận dụng tất cả mọi ngôn từ để đặc tả bề sâu nội tâm của nhân vật: những đau buồn, những dằn vặt, những trăn trở, những cắn rứt, những day dứt, sự thay đổi trạng thái tâm lý bên trong của nhân vật được sử dụng một cách triệt để: “Giận Bởi gió kia, mưa kia, những mái nhà chiều chiều khói tỏa kia, người phụ nữ đang na cái bụng bầu lặc lìa qua ngõ kia, và những đứa trẻ kia, cả thằng

Trang 24

Lụm… hết thảy đều làm cho người đàn ông đó nhớ một mái ấm đã bị tước đoạt của mình Bởi nếu con cậu còn sống, bây giờ chắc nó cao hơn thằng Lụm Những khi ngồi nhớ lại, cậu ứa nước mắt, ước gì mình được nhìn thấy nó một lần, một lần thôi, sau này có sặc dầu hay chết hụt dưới mương, có lẫn lộn việc này việc khác, dứt khoát cậu sẽ không quên hình bóng vợ con mình” (Nguyễn Ngọc Tư, 2017, tr.1) Bạn đọc

sẽ mặc sức bay bổng trong thế giới của nhân vật, họ hình dung và tưởng tượng nhân

vật của mình theo cách nhìn nhận của họ

Đến lượt mình, kịch bản sân khấu dù cũng sử dụng ngôn từ nhưng với nhiệm vụ

là phải làm sao tái hiện lại các hình tượng nghệ thuật từ văn học thành những hình tượng nghệ thuật trên sân khấu mang tính cụ thể nhất Vì vậy, các hình tượng nghệ thuật không gian, thiên nhiên trong kịch bản đã được cụ thể hóa một cách rất trực quan nhằm khi phục dựng lên sân khấu, các đạo diễn có thể dễ dàng tái hiện Hoặc khi muốn miêu tả về những vẻ đẹp của nhân vật thì thông qua những lời đối thoại của các nhân vật khác để làm nổi bật vẻ đẹp của nhân vật đó Hay muốn diễn tả những mâu thuẫn nội tâm bên trong của nhân vật, các kịch tác gia sẽ xây dựng các cuộc đối thoại giữa các nhân vật để bộc lộ những giằng xé bên trong của nhân vật ấy; hoặc sử dụng thủ pháp đồng hiện, phục hiện để tái dựng lại những dằn vặt, những mâu thuẫn, xung đột bên trong của một con người để làm sao khi vở kịch được đưa lên sàn diễn được khán giả như hòa mình vào vở diễn và sống lại với một cuộc sống thứ hai của cuộc đời: khán giả cũng khóc, cùng cười với nhận vật, cùng ngạc nhiên hay ngưỡng

mộ họ… Chẳng hạn, trong vở kịch Nửa đời ngơ ngác để thể hiện những hận thù

trong lòng của mình, khi bà Hai đến nhà (người đã chia cắt tình phu phụ của Tư Nhớ), anh đã không thèm nhìn mặt bà mà ngồi chặt củi rầm rì, trả lời những câu hỏi cụt ngủn, đầy uất hận

Ở điểm khác biệt này, kịch bản sân khấu với nhiệm vụ là cụ thể hóa không gian, thời gian cũng như nhân vật qua các lớp, cảnh, hồi, qua những cuộc đối thoại, hành động… còn văn học với nhiệm vụ là tái hiện lại cuộc sống bằng cái nhìn tinh tế và chiều sâu của thẩm mĩ Nói cách khác, nếu như văn học là sự tinh tế, tỉ mỉ thì sân khấu là sự cụ thể hóa hiện thực từ cuộc sống, từ văn học Vì vậy, tại sao hình tượng

Trang 25

nghệ thuật trong văn học và trong những vở kịch chuyển thể lại không có sự tương đồng nhau nhau, chính ở sự khác biệt này

- Cuối cùng, là sự khác biệt về ngôn từ biểu hiện Chúng ta đã biết tất cả các

tác phẩm của văn học đều xây dựng bằng chất liệu là ngôn từ Ngôn từ là công cụ của nhà văn Nhà văn nhà thơ phải sử dụng ngôn từ và trau chuốt để tác phẩm trở nên chuẩn xác, tạo nên tính thẩm mỹ và tính cá thể hoá cho văn bản Thế nên, phương tiện biểu hiện của văn học chính là ngôn từ, dùng ngôn từ để mô tả lại những hiện thực đời sống, mô tả lại những mối quan hệ xã hội, mô tả lại những cảm xúc, rung động… của con người với sự gọt giũa và “mài luyện” hết sức tinh tế Ngược lại với

sự trau chuốt đó, ngôn từ biểu hiện trong kịch bản sân khấu hầu hết là những lời đối thoại của các nhân vật nên những ngôn ngữ rất “đời” Nói cách khác sắc thái ngôn

ngữ mang đậm tính khẩu ngữ Chẳng hạn, trong vở diễn Bao giờ sông cạn, cuộc đối

thoại giữa Chờ và Thà thể hiện sống động, chân thực như đời sống, những ngôn từ

mang phong cách sinh hoạt rất đậm nét trên sân khấu:

Chờ : Úi da!

Thà: Sao vậy anh? anh sao vậy?

Chờ: Hổng sao, anh sơ ý đụng vô nồi cơm đang sôi, hơi nóng chút hà Anh có

Chờ: Ừ nghen , hồi nào giờ anh hông có vô bếp, thành ra có biết làm gì đâu Bây giờ tại có con rồi anh mới nghĩ tới chuyện làm, hơi cực chút nhưng lo cho

Trang 26

vợ con mà, khó cỡ nào cũng phải làm được, đúng hông? (Ngô Phạm Hạnh Thúy, 2015, tr.12)

Vậy nên, ngôn từ trong các tác phẩm văn học được nhà văn trau chuốt tạo tính thẩm mĩ, ngược lại ngôn từ trong kịch bản sân khấu, tác phẩm sân khấu mang đậm tính khẩu ngữ Đồng thời, trong tác phẩm văn học ngôn từ lại mang đậm lời trần thuật, lời của người kể chuyện, điều đó không bắt gặp trong kịch bản sân khấu Kịch bản sân khấu nhường quyền phát ngôn cho nhân vật, các đối thoại của nhân vật sẽ nói thay lời của người dẫn chuyện Vì lẽ đó, đoạn kịch trích dẫn trên không có sự xuất hiện của người dẫn chuyện, có chăng là những lời đối thoại qua lại của các nhân vật

Từ những phân tích trên, chúng ta có thể thấy được giữa văn học và sân khấu có những nét tương đồng và khác biệt nhau Vì vậy, khi chuyển thể từ tác phẩm văn học sang kịch bản sân khấu, nhà viết kịch phải nắm được các đặc điểm, đặc trưng của văn học và sân khấu để xây dựng những kịch bản sao cho phù hợp: tránh đi sâu vào chi tiết, tỉ mỉ, tránh sử dụng những ngôn từ thiên về miêu tả, sinh hoạt… như văn học mà phải dùng những ngôn từ gắn bó với cuộc sống để tạo sự gần gũi cho khán giả Mặt khác, nhà biên kịch còn phải lựa chọn những tác phẩm văn học có hơi thở cuộc sống hiện đại nhưng đầy tính triết lý, nhân văn và hơn hết là phải chọn những nguyên tác

có yếu tố kịch tính để xây dựng thành những vở kịch đặc sắc, có giá trị

1.2 Hình thức chuyển thể

1.2.1 Khái niệm chuyển thể:

Xét về nguồn gốc của từ “chuyển thể” xuất phát từ “adapto” của tiếng La-tin, vốn thường được gắn với một hình thức đặc thù của dịch thuật cho phép một mức độ sáng tạo nhất định, “chuyển thể” mang nét nghĩa của ý niệm về biến đổi, điều chỉnh

và chiếm dụng (appropriation) khi nó lần đầu xuất hiện ở thế kỷ XIII Từ đó đến nay,

“chuyển thể” được các nhà nghiên cứu có những cách định nghĩa riêng:

Trang 27

Theo Corinne Lhermitte (giảng viên trường Đại học Đại học Miami, chuyên nghiên cứu về văn học Pháp thể kỷ XIX-XX) “Có thể xem chuyển thể, như một hình

thức viết lại, là một phần của một quá trình tiến hóa tự nhiên, không thể tránh khỏi”1Trong khái niệm của Wikipedia (tiếng Anh) thì cho rằng “chuyển thể là sự chuyển tiểu thuyết, truyện ngắn, thơ ca sang một thể loại khác chẳng hạn như một

bộ phim, một vở kịch hay một cuộn phim hoạt hình Nó có thể bao gồm chuyển thể

từ tác phẩm văn học sang một thể loại hay phương tiện khác với mục đích khác…”2

Theo Từ điển Oxford Reference định nghĩa: “Chuyển thể là quá trình tạo ra một

tác phẩm nghệ thuật dựa trên các yếu tố được cung cấp bởi một tác phẩm trước đó bằng một cách khác, thường là văn chương Các tác phẩm văn học thường được chuyển thể sang nhiều hình thức như: những câu chuyện cổ múa ballet, kịch opera, kịch bản sân khấu…”3

Như vậy, có khá nhiều khái niệm về chuyển thể nhưng nhìn chung lại tất cả khái niệm đều có chung một quan điểm: chuyển thể là đó là sự cải biên, phỏng theo, sáng tạo lại… nội dung sao cho phù hợp với hình thức nghệ thuật khác

1.2.2 Các hình thức chuyển thể của kịch bản văn học

“Kịch bản, tự thân nó phải là một tác phẩm văn học Nhà văn viết một kịch bản văn học trên tinh thần sáng tác một tác phẩm văn học với đặc trưng cũng như cấu trúc

hoàn chỉnh của một tác phẩm văn học” (Hà Minh Đức & Lê Bá Hán, 1970, tr.417)

Người đọc thưởng thức kịch bản văn học như một tác phẩm văn học hoàn chỉnh Kịch bản văn học cũng sẽ đem đến cho người đọc tất cả những sâu sắc, sự hứng thú như khi đọc một tác phẩm văn học Tuy nhiên, kịch bản văn học thường được trình diễn trên sân khấu nên nó bị giới hạn về không gian, thời gian Vì vậy, kịch bản văn học khi xây dựng không được mở rộng ra quá nhiều không gian, thời gian, không được xây dựng quá nhiều nhân vật Dung lượng của kịch bản văn học thường tương ứng

Trang 28

với một truyện vừa để phù hợp với độ dài tương ứng của một vở kịch là 120 phút Nội dung sẽ được cô đọng, tập trung miêu tả những xung đột – kịch tính Về cơ bản, vấn đề chuyển thể từ tác phẩm văn học sang kịch có hai hình thức như sau:

- Chuyển thể nguyên vẹn tác phẩm văn học (còn gọi là trung thành với nguyên

tác); ở hình thức này, nhà biên kịch thường bám sát cốt truyện của tác phẩm văn học

để cho ra đời những kịch bản sát với nguyên tác

- Chuyển thể theo hướng chọn lọc các tình tiết, sự kiện, biến cố hoặc một phần nội dung trong tác phẩm văn học để xây dựng thành những kịch bản theo ý đồ của

nhà biên kịch (còn gọi là “phỏng theo”, phóng tác, cảm tác, cải biên…) Từ đó, xây dựng thành các vở kịch hoàn chỉnh Ở trường hợp này, nhà viết kịch thường tuân thủ theo một số nguyên tắc khi chuyển thể như sau: chọn lọc các tác phẩm mang hơi thở của thời đại, những tác phẩm mang xu hướng của cuộc sống hiện nay để cải biên Đồng thời, chọn lọc các chi tiết, sự kiện có kịch tính; những chọn lọc chi tiết, sự kiện

đó phải được kịch tác giả nhìn nhận thấu đáo và sắp xếp các chi tiết, sự kiện tạo thành một kết cấu, bố cục hoàn chỉnh của một kịch bản sân khấu Không những thế, chuyển thể ở hình thức này còn có sự sáng tạo của các nhà biên kịch trong qua trình xây dựng mâu thuẫn và bổ sung hay lọc bớt các nhân vật nhằm tạo nhiều tình huống cho vở kịch của mình thêm đặc sắc Đó chính là mượn cũ để nói mới

Trong hai hình thức chuyển thể cơ bản trên thì hình thức chuyển thể các tác phẩm văn học của Nguyễn Ngọc Tư sang kịch bản sân khấu thuộc ở hình thức thứ hai, nghĩa

là các tác giả chuyển thể đã chọn lọc những tình tiết sự kiện đắt giá, những nội dung thiết yếu của cốt truyện văn học… từ đó sáng tạo lại theo ý đồ của mình để cho ra đời một vở kịch vừa mang hơi thở của văn học, vừa mang dấu ấn cá nhân của người viết

kịch Tuy nhiên, riêng truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư, còn có trường hợp thứ

ba, đó là các nhà soạn kịch đã vay mượn các truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư để kết hợp thành một kịch bản hoàn chỉnh Đơn cử, trong vở kịch Bao giờ sông cạn

đó là sự kết hợp từ các nguyên tác Dòng nhớ, Sông dài (cảnh đầu lấy cảm hứng từ Sông dài, những cảnh còn lại lấy cảm hứng từ Dòng nhớ)

Trang 29

Điểm chung chuyển thể từ tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư, theo sự khảo sát của chúng tôi, những nhà soạn kịch khi chuyển thể tác phẩm văn học thường có xu hướng như sau:

Đề tài được lựa chọn trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư hầu hết là: bi kịch

tình yêu, bi kịch gia đình, bi kịch của những lễ giáo, phong kiến… Qua cách viết của Nguyễn Ngọc Tư những đề tài vốn cũ nhưng được chị biến hóa thành những đề tài mang tính thời đại

Những sự kiện, tình tiết trong năm kịch bản được các nhà viết kịch chọn lọc hầu hết là những sự kiện, tình tiết có tính tình huống, có tính kịch để dễ hình thành một

vở kịch mang đặc trưng của sân khấu

Những nhân vật khi đưa vào trong kịch bản được các nhà biên kịch thường thêm

tuyến nhân vật phản diện, nhân vật chức năng để tạo những mối xung đột, những tình huống gây cười Đây là hai yếu tố thu hút khán giả hiện nay

Đối với nhà viết kịch khi chuyển thể từ truyện của Nguyễn Ngọc Tư, họ đã vận dụng tất cả vốn sống, kinh nghiệm sân khấu của mình để viết nên các kịch bản dựa trên nội dung của tác phẩm văn học Những vốn sống từ trải nghiệm thực tế đó kết hợp với kinh nghiệm nhà nghề của mình đã được các kịch tác giả đưa vào kịch bản

một cách nhuần nhuyễn và đầy sức sáng tạo của mình Đạo diễn Ái Như – sân khấu

kịch Hoàng Thái Thái – là sân khấu sử dụng khá nhiều các tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư nhận xét: “Thông thường, khi một vở kịch được chuyển thể từ văn học, bao giờ cũng bị đem ra so sánh Vì thế, tác giả, đạo diễn phải tìm cho mình một chìa khóa riêng Có thể thêm hoặc bớt nhân vật và đưa ra một góc nhìn mới về tác phẩm, để khi

vở diễn ra mắt, khán giả sẽ thấy hai đời sống khác hoàn toàn và bị cuốn vào cách kể của đạo diễn trên sân khấu”4 (Thanh Hiệp, 2016, đoạn 4) Vì vậy, kinh nghiệm và

vốn sống của nhà viết kịch rất quan trọng Nếu họ không “chắc tay” trong nghề, không

am hiểu đặc điểm sân khấu, không am hiểu cấu trúc kịch bản và không am hiểu cách thiết kế, dàn dựng sân khấu thì khó mà chuyển thể thành công được Nhà viết kịch Nga vĩ đại A.N Ốtxtrốpxki có viết: “Công việc chính của người viết kịch là tìm xem

4

Trang 30

những cơ sở tâm tâm lý nào đã dẫn đến những hành động và tại sao chính là như vậy

mà không phải là thế khác…” (Hồ Ngọc, 1973, tr.160)

Tiểu kết:

Từ những phân tích trên, chúng tôi nhận thấy giữa văn học và sân khấu có sự gắn

bó gần gũi với nhau nên vì thế chúng không chỉ có mối quan hệ tương đồng về đối tượng phản ánh, tư tưởng, tình cảm của tác giả mà còn có những mối quan hệ khác biệt về hình thức biểu hiện, đặc trưng hình tượng nghệ thuật Tuy nhiên, dù có những điểm tương đồng và khác biệt như vậy, nhưng cuối cùng hai loại hình này cũng đều hướng con người đến một cái chung, đó là chính là cái chân – cái thiện – cái mỹ

Về vấn đề chuyển thể từ tác phẩm văn học sang kịch bản sân khấu có hai hình thức cơ bản, nhưng trong năm kịch bản chuyển thể nghiên cứu có bốn tác phẩm rơi

vào hình thức thứ hai: Cánh đồng bất tận, Đời như ý, Mơ trăng bóng nước, Rau răm

ở lại và đặc biệt có một trường hợp rơi vào hình thức thứ ba – hình thức riêng ở trường hợp của Nguyễn Ngọc Tư, đó là vở kịch Bao giờ sông cạn

Vì vậy, từ văn học đến kịch bản sân khấu là cả một công đoạn dài, phức tạp; từ kịch bản đến với vở diễn sân khấu, ra mắt công chúng lại là một công đoạn “nhiêu khê” khác nữa Nhưng trong phạm vi giới hạn của đề tài, chúng tôi chỉ xin dừng lại

ở nghiên cứu công đoạn thứ nhất và cũng chỉ xin khai thác tập trung vào các yếu tố

cơ bản nhất khi chuyển thể từ tác phẩm văn học sang kịch bản sân khấu, đó là: Nội dung chuyển thể (cốt truyện, mâu thuẫn – xung đột, con người), Nghệ thuật chuyển thể (ngôn ngữ, không gian, thời gian nghệ thuật)

Trang 31

CHƯƠNG 2: TỪ TÁC PHẨM CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ ĐẾN KỊCH BẢN SÂN KHẤU – NỘI DUNG HIỆN THỰC

Theo Từ điển thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán & Trần Đình Sử & Nguyễn Khắc

Phi chủ biên, 2009) thì: “Nội dung tác phẩm là hiện thực cuộc sống được phản ánh trong sự cảm nhận, suy ngẫm và đánh giá của nhà văn Đó là một hệ thống gồm nhiều yếu tố khách quan lẫn chủ quan xuyên thấm vào nhau” (tr.239) Trả lời trên báo VNexpress, Huỳnh Công Tín (2006) - nhà nghiên cứu văn hóa Nam Bộ, “cha đẻ” của

cuốn Từ điển từ ngữ Nam Bộ đã cho rằng: “Truyện của chị đa phần dừng lại ở những

tình cảnh gia đình nghèo, đề cập đến số phận buồn của những con người nhỏ bé, những nông dân chân chất với những ước mơ và cuộc sống hết sức bình dị đời thường rất đáng cảm thông, trân trọng, nhưng đôi khi cuộc đời nghiệt ngã cũng không cho

họ được như ý, được toại nguyện”5 (đoạn 4) Từ đó cho thấy Nguyễn Ngọc Tư nghĩ, viết cũng gần gũi như sống đời thường, như ăn nói, đi đứng tự nhiên hằng ngày của con người mà không thần thánh hóa văn chương Các tác phẩm của cô thường chảy theo mạch cảm xúc của tâm trạng, theo dòng hồi cảm của nhân vật để từ đó xây dựng nên những “tòa nhà” chân thật nhất Đó là những câu chuyện mang đầy nội tâm, những câu chuyện nhỏ xuất hiện trong cuộc sống thường ngày của con người Nam

Bộ Nguyễn Ngọc Tư đã thổi hồn vào những câu chuyện tưởng chừng như đơn giản, chẳng có gì lại mang ý nghĩa triết lý nhân văn sâu sắc Nó như là mạch cảm khơi nguồn trong sâu thẳm trái tim của người đọc, đánh vào sự rung động yêu thương của mỗi người, để họ thấu hiểu, để họ đồng cảm cho những số phận bất hạnh, những số

phận trái ngang đang hiện diện trong dòng chảy của xã hội thực tại qua cách xây dựng mâu thuẫn, những vấn đề cơ bản con người trong tác phẩm của chị Và đồng

thời, những câu chuyện này lại là nguồn cảm hứng vô tận để các kịch tác gia chuyển thể thành kịch bản văn học, bởi chính vì giá trị nhân đạo, nhân văn sâu sắc tồn tại trong “cốt tủy” của nó

5

Trang 32

2.1 Chuyển thể cốt truyện – từ tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư đến kịch bản sân khấu

Theo Từ điển Thuật ngữ văn học của Lê Bá Hán định nghĩa: “Cốt truyện là hệ

thống sự kiện cụ thể được tổ chức theo yêu cầu tư tưởng và nghệ thuật nhất định, tạo thành bộ phận cơ bản quan trọng nhất trong hình thức động của tác phẩm văn học

thuộc các loại tự sự và kịch” (Lê Bá Hán & Trần Đình Sử & Nguyễn Khắc Phi, tr.99)

Hệ thống các sự kiện có vai trò thể hiện những biến cố quan trọng, đảm bảo sự mạch lạc của diễn biến câu chuyện theo năm phần: mở đầu, thắt nút, phát triển, điểm đỉnh

và kết thúc Thế nên, cốt truyện yếu tố cơ bản trong nội dung cụ thể của tác phẩm văn học Cốt truyện là một hiện tượng phức tạp, xét về mặt qui mô có thể chia cốt truyện thành hai loại, đó là cốt truyện đơn tuyến và cốt truyện đa tuyến Cốt truyện đơn tuyến phần lớn xuất hiện trong truyện ngắn, truyện vừa Cốt truyện đa tuyến lại xuất hiện hầu hết trong trong các tiểu thuyết qui mô lớn Thế nhưng hiện nay, nội dung cốt truyện của các tác phẩm văn học đương đại không sắp xếp theo một chuỗi trật tự của các sự kiện mà đã được các nhà văn hậu hiện đại phân tán các sự kiện để tạo nên một cốt truyện hoàn toàn mới, mang dấu ấn cá nhân của tác giả Nhà nghiên cứu văn học hậu hiện đại Barry Lewish cũng nhấn mạnh: “Cốt truyện bị nghiền nát thành từng viên nhỏ của biến cố và hoàn cảnh, nhân vật được phân tán thành một bó khát vọng

và nhức nhối” (A.Xâytlin, 1967, tr.244) Nói cách khác, cốt truyện đã được biến hóa

theo những dòng tâm trạng, cảm xúc của tác giả mà Nguyễn Ngọc Tư là tác giả điển hình ở mô hình cốt truyện này: “Kỹ thuật tự sự đã được đẩy sang bình diện mới, nghĩa

là cốt truyện sự kiện đã bị phân rã và thay thế vào đó là một cốt truyện khác - cốt truyện tâm lí” (Lê Chí Dũng, 2007, tr.137)

Về phần cốt truyện của kịch, trong Nghệ thuật thơ ca, Aristote cho rằng: “Kịch

là sự bắt chước một hành động quan trọng và hoàn chỉnh… Sự bắt chước hành động

là nhờ vào cốt truyện” (Aristote, 2007, tr.49) M.Gorki lại định nghĩa: “Cốt truyện

kịch là những mối liên hệ, những mối mâu thuẫn, những thiện cảm và ác cảm và nói chung là những mối quan hệ qua lại của con người - lịch sử phát triển và tổ chức của tính cách một điển hình nào đó” (42, tr.15) Từ những định nghĩa đó, Hồ Ngọc (1977)

Trang 33

trong quyển Xây dựng cốt truyện kịch đã khái quát cốt truyện kịch “là một hệ thống các sự kiện phản ánh những mâu thuẫn trong xã hội một cách nghệ thuật, qua đó các tính cách được hình thành và phát triển trong những mối quan hệ và tác động qua lại của chúng” (tr.17)

Vì lẽ đó, điểm khác biệt giữa cốt truyện trong văn học và kịch bản, chúng ta có thể thấy được: Điểm thứ nhất, nếu như cốt truyện trong văn học đôi khi có những sự miêu tả phong cảnh, khắc họa nội tâm, có những đoạn triết lý, bình luận; thì trong kịch bản, cốt truyện lại là một hệ thống sự kiện diễn biến hành động Điểm thứ hai,

do bị hạn chết về thời gian và không gian nên cốt truyện kịch phải được dồn nén ngôn

từ, chỉ chứa đựng những tình tiết tiêu biểu, cô đọng, súc tích và có ý nghĩa tượng trưng khái quát cao, không giống như văn học có thể kể tỉ mỉ, miêu tả tường tận Thứ

ba, nếu như văn học cốt truyện có thể là tự sự, có thể là trữ tình nhưng trong kịch cốt truyện lại thiên về tự sự Thế nên, khi chuyển thể từ văn học thành kịch bản văn học, các kịch tác gia sẽ cắt bớt nhiều tuyến tình tiết mang tính chất tả cảnh, tả sinh hoạt và thêm vào những tình tiết sao cho cốt truyện kịch có những sự kiện diễn biến hành động một cách logic và kịch tính nhất, gắn liền với hệ thống hình tượng nhân vật, tạo

sự bất ngờ và hứng thú cho người xem Cốt truyện trong các kịch bản văn học thường

được thể hiện qua năm thành phần: phần giao đãi là giới thiệu khái quát bối cảnh, tình hình của nhân vật chính trước khi xung đột được triển khai; phần thắt nút là đánh

dấu sự kiện đầu mối của xung đột, là biến cố đầu tiên của cả hệ thống tạo thành xung

đột của cốt truyện; phần phát triển là diễn biến đi tới những cảnh ngộ, sự kiện, biến

cố, hành động của nhân vật; phần cao trào là điểm cao nhất của sự phát triển và phần kết thúc là sự giải quyết mâu thuẫn, xung đột đó

2.1.1 Tác phẩm Cánh đồng bất tận

* Trong nguyên tác

Theo khảo sát trong năm tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư thì Cánh đồng bất tận

là tác phẩm có cốt truyện, còn bốn truyện ngắn còn lại là những truyện không có cốt

truyện (nói cách khác đó là những câu chuyện) Cánh đồng bất tận là tác phẩm được

xây dựng với những biến cố, sự kiện, số phận của con người trên những cánh đồng

Trang 34

Tuy nhiên, truyện không theo trình tự thời gian và có sự đảo lộn giữa quá khứ và hiện tại theo dòng cảm xúc tâm trạng:

- Mở đầu:

+ Sự xuất hiện của Sương – cô gái điếm trên chiếc thuyền của Út Vũ sau cuộc rượt đuổi đánh của dân chúng

+ Cô đã vô tình trong cơn hỗn loạn trốn nhờ vào chiếc thuyền của gia đình Út

Vũ, sau khi gia đình anh đã trải qua những cuộc bôn ba chăn vịt khắp các cánh đồng

- Phần thắt nút:

+ Hồi tưởng về quá khứ của hai chị em Nương về gia đình mình

+ Hồi tưởng về ám ảnh câu chuyện của mẹ với tên buôn vải, vì đam mê vật chất

mà mẹ ruồng bỏ gia đình

- Phần phát triển:

+ Sau khi vợ bỏ đi, đó như là một nỗi nhục nhã cũng như là nỗi đau của một kẻ

bị người ta phản bội, Út Vũ trở nên căm giận, trở nên tha hóa, đánh đập con cái, bỏ mặc chúng

+ Bầy vịt chết, Út Vũ chuyển sang nghề thợ mộc, rồi lại chuyển sang nghề chăn vịt du mục

+ Anh gặp gỡ những người đàn bà khác để rồi bỏ rơi họ như chính vợ anh đã bỏ rơi cha con anh

- Phần cao trào:

+ Khi lệnh truy quét dịch cúm gia cầm, Sương phải lấy thân xác của mình để đổi cứu cánh cho bầy vịt của Út Vũ Nhưng Út Vũ hững hờ khiến Sương đau đớn bỏ đi, Điền cũng bỏ đi để chạy theo người đàn bà trong mộng của mình

+ Đô thị ngày càng thu hẹp dần, sự thanh trừng các bầy vịt càng trở nên gắt gao hơn Trong cái đói khát, những con người trở thành man rợ, những kẻ chăn vịt trở thành những tên cướp thối nát Chúng cướp bầy vịt của Út Vũ và hãm hiếp Nương trong sự chứng kiến của ông

- Phần kết thúc (mở nút):

+ Viễn cảnh về một tương lai của Nương sợ mình sẽ có con

Trang 35

+ Tuy nhiên, Nương chấp nhận điều đó để mong muốn hóa giải cho quả báo của cha mình, cũng như là một mong ước về một tương lai tươi sáng cho thế hệ tiếp theo

* Trong kịch bản

Khi chuyển thể cốt truyện Cánh đồng bất tận vào kịch bản sân khấu, tác giả Minh

Nguyệt đã bỏ bớt nhiều tuyến tình tiết trong truyện mang tính chất miêu tả, tập trung xây dựng những tuyến tình tiết mang chất hành động để thể hiện được tính cách của các nhân vật và tư tưởng, chủ đề của kịch bản Đồng thời xây dựng kịch bản như vậy tạo sự phù hợp cho các chuỗi sự kiện, biến cố, xung đột của cốt truyện

+ Út Vũ được đặt vào những cảnh ngộ khác nhau trên nhiều bình diện: đó là sự lừa gạt tình cảm của Út Vũ trút lên người đàn bà bị chồng bỏ; những cuộc độc thoại nội tâm một mình

+ Cuộc đổi chác của Sương với tên Trưởng ấp, cán bộ xã về thể xác để cứu nguy cho bầy vịt

- Phần cao trào:

Trang 36

+ Lần đầu tiên Sương thấm thía được cơn nhục nhã của thể xác vì trước đó dù có ngủ biết bao nhiêu trai làng khác Sương vẫn chưa bao giờ cảm thấy nhục nhã do cái nghề của cô đã mặc định điều đó

+ Nỗi đau giằng xé trong tim Sương vì đây là sự đánh đổi thể xác bằng tình yêu, đau hơn khi người mình giúp, người mình yêu lại phũ phàng tất cả

+ Cao trào dâng lên đỉnh điểm khi Điền thổ lộ tình yêu với Sương và sự xung đột

va chạm giữa Nương, Út Vũ với những gã trai cướp vịt

- Phần kết thúc:

+ Do được cha dạy võ nên Nương đã tự cứu lấy bản thân mình

+ Kết thúc kịch bản là sự ra đi mãi mãi của của Út Vũ và sự hối lỗi cuối cùng trong cuộc đời của ông

Từ cốt truyện trên cho thấy dường như nhà văn, nhà soạn kịch đã thâm nhập sâu vào cuộc sống thì mới thấu cảm được những thân phận, những đổi thay của lòng người Điểm khác so với văn học là Minh Nguyệt đã giảm tải bớt dung lượng của truyện và làm giảm nhẹ tấn bi kịch của Nương bằng cách cho Nương học võ và tự bảo vệ mình ở cuối vở kịch Đồng thời, Minh Nguyệt đã bổ sung những cuộc độc thoại nội tâm với chiếc bóng của mình nên Út Vũ và Sương có bộc lộ được nỗi lòng thầm kín bên trong

2.1.2 Tác phẩm Ơi Cải về đâu

Truyện không có cốt truyện là sự biến thái tinh vi với sự đan cài phức tạp của tự

sự với trữ tình và cả những đời sống nội tâm của nhân vật Nội dung của truyện không

có cốt truyện là những cảm xúc, những cảm nhận theo cảm quan của nhà văn gởi gắm theo những tâm tư của mình Điểm nổi bật của truyện không có cốt truyện là sự giảm lược bớt những sự kiện có tính chất quan trọng, những xung đột, va chạm, sự đấu tranh quyết liệt giữa các nhân vật Đồng thời truyện không có các phần như ở trên đã nêu Thế nên, bốn truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư thật sự là phác họa cảm xúc của nhà văn về một hoàn cảnh của nhân vật, về một nét tâm trạng, một lát cắt của cuộc sống hoặc đó chỉ có thể là những câu chuyện nhỏ nhặt giữa cuộc đời mà chị đã đi qua

và cảm nhận được

Trang 37

Khác với cốt truyện Cánh đồng bất tận do nguyên tác văn học dung lượng nhiều

hơn nên kịch bản đã sơ lược khá nhiều những tình tiết mang tính chất miêu tả, chỉ giữ lại những tình tiết cốt yếu nhất; còn đối với bốn truyện còn lại, do nguyên tác văn học dung lượng hơi ngắn, không đủ để cấu thành một kịch bản sân khấu, vì vậy phần lớn khi chuyển thể, tác giả không chỉ mượn ý tưởng của cốt truyện văn học mà còn xây dựng khá nhiều tình tiết để tạo đủ dung lượng cho một vở kịch được hoàn thiện trên sân khấu Chính những xây dựng và bổ sung như vậy, nên các kịch bản đã đảm bảo các sự kiện, biến cố, hành động của cốt truyện theo bình diện năm phần

Ơi Cải về đâu của Nguyễn Ngọc Tư là một câu chuyện nhỏ nhặt về ông Năm

nhỏ, do ông bị mang tiếng oan là giết con Cải – đứa con riêng của vợ mình, nên ông phải lưu lạc rày đây mai đó để tìm cho bằng được nhằm minh oan cho mình Ông làm

đủ thứ nghề, từ một người giúp việc cho Đoàn ca múa nhạc, đến bán kẹo kéo gần ngã

ba Sương và tá túc lại nơi ngã ba đầy sương gió này Ở cái ngã ba Sương này, cũng

có những con người có số phận rong ruổi như ông, như: Thàn, Thương Họ cũng phải lưu lạc nơi đất khách quê người bởi vì số phận Thế nên những con người có cùng chung số phận đó đã kết nối lại với nhau thành một gia đình Sau mười hai năm lưu lạc tìm con, nhưng tìm mãi mà chẳng thấy đâu, cuối cùng ông đã nghĩ ra những hạ sách, đó là: chạy tới chỗ đoàn làm phim về việc lấn chiếm lòng lề đường để truyền tin cho con, ăn trộm trâu để công an bắt, đưa ông lên tivi với mong mỏi được gởi thông điệp này đến con gái của mình Nhưng trớ trêu thay, những hành động tưởng chừng như sẽ thành công nhưng cuộc sống như một trò đùa quái ác, không thuận theo lòng người Tất cả những sự cố gắng của ông Năm nhỏ như nước đổ trôi sông, không vẹn toàn Câu chuyện như một lát cắt nhỏ về số phận của ông Năm, truyện không có những sự kiện lớn lao, không có những tình huống phức tạp, đó chỉ là câu chuyện về một hoàn cảnh đời thường

Trong kịch bản Rau răm ở lại (được chuyển thể từ truyện ngắn Ơi Cải về đâu),

Thái Kim Tùng đã xây dựng nội dung theo năm thành phần của cốt truyện theo cách cải biên của mình:

- Phần giao đãi:

Trang 38

+ Ông Năm Nhỏ làm giúp việc trong một đoàn cải lương, ông luôn tranh thủ trước khi vở diễn bắt đầu, thường hay rao tìm con

+ Bực tức trước hành động đó của ông Năm nên đoàn cải lương đã đuổi việc + Ông đã lấy micro của đoàn tiếp tục hành trình rao tìm con

- Phần thắt nút:

+ Ông Năm rao tìm con ở bến phà Mỹ Thuận

+ Ông gặp Thàn tại bến phà này Hai người đã có một số qua điểm bất đồng trong việc tranh giành micro và âm-li: một bên rao tìm con, một bên rao bán kẹo kéo

+ Thàn về sống chung với ông Năm vì ông Năm phát hiện Thàn có cùng cảnh ngộ lang bạt giống mình

+ Quá khứ ám ảnh giết con ùa về, những lời nói của bà Năm hiện ra “mồn một” trong đầu của ông Năm Để chứng minh sự trong sạch của mình, ông đã đi tìm con

+ Một cô Thương, làm tiếp viên ở quán cà phê Chiều tím, bị người đời khinh

rẻ cái nghề của cô, cô cũng đang khao khát tìm lại cha mẹ mình nhưng chỉ là vô vọng

+ Một cô Huệ - chủ quán Chiều Tím – mang trong mình nỗi đau bị người tình

bỏ, bỏ xứ tha phương đến bến phà Mỹ Thuận mở cái quán nhỏ này, đột nhiên một ngày kia người tình ấy quay trở về, rồi lại ra đi mãi mãi…

+ Ông Năm nhỏ bị người đời xa lánh vì cứ rao tìm con bất chấp nắng mưa như một người điên, thậm chí bị Thương gạt ông và nói dối mình là con Cải, khiến ông Năm gần như tuyệt vọng

+ Bà Năm làm giúp việc tại quán của cô Huệ, nhiều lần ông Năm qua quán Chiều Tím sửa điện nhưng hai người không bao giờ giáp mặt

Trang 39

- Phần cao trào:

+ Một lần cô Huệ nhờ bà Năm mang đồ hộp dầu cù là qua nhà ông Năm + Hai người gặp gỡ, mừng mừng tủi tủi Bà Năm hẹn ông Năm sáng hôm sau đứng đợi ở bến phà Mỹ Thuận để hai vợ chồng trở về quê

+ Cô Huệ chạy sang nhà chú Năm vì thấy bà Năm đi lâu quá chưa về Phát hiện được sự việc, cô đã vạch trần cho ông Năm hiểu rõ sự tình: vì ngoại tình mà bà Năm

đã dựng lên sự việc con Cải mất tích, đã gian dối với ông Năm hết lần này đến lần khác

- Phần kết thúc:

+ Ông Năm mất hết hi vọng, đau đớn Cô Huệ, Thàn, Thương an ủi

+ Thàn, Thương nhận ông Năm làm con nuôi, tất cả họ đã trở thành một gia đình

Như vậy, từ một câu chuyện mất con Cải nhưng qua sự chuyển thể, Thái Kim Tùng đã thay đổi cốt truyện thành một sự gian dối, xảo trá của một người vợ Do

“lăng chạ” với một người đàn ông khác nên đã tạo dựng thành một câu chuyện mất con và đổ oan cho ông Năm nhỏ quá hợp lý, khiến hành trình lưu lạc của ông Năm

đã gặp nhiều nỗi gian truân, đau đớn Nhà soạn kịch đã giữ lại một số chi tiết trong nguyên tác, sau đó đã bổ sung và chỉnh sửa lại nội dung cốt truyện sao cho vở kịch

có nhiều kịch tính và gây bất ngờ

2.1.3 Tác phẩm Đời như ý

Đời như ý cũng như vậy, đó là câu chuyện đầy ắp tâm trạng, là lát cắt về cuộc đời

của anh Đời Với niềm tin là cuộc sống của gia đình mình sẽ đổi đời thông qua cách đặt tên nên chú đặt tên hai đứa con là Như và Ý, để hợp thành ba chữ “Đời Như Ý” Thế nhưng niềm tin của anh Đời lại không đạt được Anh phải dắt díu gia đình lang bạt, rày đây mai đó: vợ bị bệnh tâm thần, con cái thất học, thiếu thốn vật chất, anh thì

bị mù Tất cả niềm tin ban đầu của anh bị đổ vỡ vì suy nghĩ của mình Anh đã ra đi mãi mãi trong sự chứng kiến “thơ ngây” của vợ và con, trong sự mất mát đau thương quá to lớn

Trang 40

Với kịch bản Đời như ý, tác giả Bùi Quốc Bảo khi chuyển thể cũng đã thêm

nguyên hẳn tình tiết ở phần thắt nút và những chi tiết ở phần phát triển để tạo nên những xung đột cho kịch bản Nếu không có sự bổ sung như vậy thì kịch bản sẽ trở nên rất nhạt nhẽo do không có tính kịch, không có cốt truyện vì thế khó mà dàn dựng

biểu diễn trên sân khấu Qua cách xử lý của Bùi Quốc Bảo, Đời như ý đã trở thành

một kịch bản văn học hoàn chỉnh, đầy đủ năm yếu tố của cốt truyện:

+ Do bản chất lưu manh và dâm đãng của mình nên tên Khương đã hãm hiếp

bé Ba và đổ tất cả mọi tội lỗi lên đầu Hai Đời

+ Hắn đuổi gia đình anh Đời ra khỏi mảnh đất của hắn và cướp Sương từ tay của anh Đời

+ Bắt đầu từ đây, gia đình của anh Đời chuyển sang một trang đời đầy u ám

+ Cuộc đời của Hai Đời càng trái ngang hơn khi anh bị ung thư phổi, vợ thì bị điên, còn phải lo miếng ăn cho hai con nên cuộc sống của anh vô cùng túng quẫn

- Phần cao trào:

Ngày đăng: 18/04/2021, 23:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w