1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Truyện ngắn trên báo tuổi trẻ cuối tuần từ 2010 đến 2015

181 64 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Truyện Ngắn Trên Báo Tuổi Trẻ Cuối Tuần Từ 2010 Đến 2015
Tác giả Nguyễn Bích Thảo
Người hướng dẫn PGS. TS Nguyễn Thị Thanh Xuân
Trường học Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Văn Học Việt Nam
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2018
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 181
Dung lượng 2,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phát hành số đầu tiên vào năm 1983, cho đến nay Tuổi Trẻ Cuối Tuần đã phát hiện và bồi dưỡng nhiều cây bút tài năng cho văn học nước nhà như : Nguyễn Ngọc Tư, Nguyễn Ngọc Thuần, Võ Diệ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

PGS TS NGUYỄN THỊ THANH XUÂN

Thành phố Hồ Chí Minh - 2018

Trang 3

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi Mọi số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn không trùng với bất kỳ nghiên cứu nào khác

Người cam đoan

Nguyễn Bích Thảo

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để có thể hoàn thành đề tài luận văn thạc sĩ một cách hoàn chỉnh, bên cạnh sự

nỗ lực của bản thân còn có sự hướng dẫn nhiệt tình của quý Thầy Cô, sự động viên ủng hộ của gia đình và bạn bè trong suốt thời gian học tập và thực hiện luận văn Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến PGS.TS Nguyễn Thị Thanh Xuân, người đã hết lòng hướng dẫn, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành luận văn Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến toàn thể quý Thầy Cô trong khoa Văn học – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn TP HCM, những người đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập nghiên cứu và thực hiện đề tài luận văn Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến Thư viện, các Phòng Ban – Trường

Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn TP HCM, báo Tuổi Trẻ Cuối Tuần, những

nơi đã hỗ trợ và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt thời gian nghiên cứu

và thực hiện luận văn

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, các anh chị và các bạn đã hỗ trợ và động viên tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài

Tp, HCM, ngày 12 tháng 10 năm 2018

Học viên thực hiện

Nguyễn Bích Thảo

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài: 1

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3.1 Lịch sử nghiên cứu truyện ngắn hiện đại Việt Nam 2

3.2 Lịch sử nghiên cứu truyện ngắn trên báo Tuổi Trẻ Cuối Tuần 6

4 Phương pháp nghiên cứu 7

4.1 Phương pháp chuyên ngành 7

4.2 Phương pháp phổ thông 7

5 Đóng góp của luận văn 8

6 Cấu trúc của luận văn 8

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ TRUYỆN NGẮN VÀ TRUYỆN NGẮN TRÊN BÁO TUỔI TRẺ CUỐI TUẦN 1.1 Khái quát về truyện ngắn 10

1.1.1 Khái niệm 10

1.1.2 Đặc trưng 16

1.1.3 Đôi nét về truyện ngắn Việt Nam 20

1.2 Truyện ngắn trên báo Tuổi trẻ Cuối Tuần 30

1.2.1 Báo Tuổi Trẻ Cuối Tuần: lịch sử, tôn chỉ, đặc trưng 30

1.2.2 Khái quát về truyện ngắn trên báo Tuổi Trẻ Cuối Tuần 36

1.2.3 Tác giả truyện ngắn trên Tuổi Trẻ Cuối Tuần từ 2010 đến 2015 39

Tiểu kết 42

CHƯƠNG 2: NỘI DUNG CỦA TRUYỆN NGẮN TRÊN BÁO TUỔI TRẺ CUỐI TUẦN TỪ 2010 ĐẾN 2015 2.1 Con người với những vấn đề cá nhân 44

2.1.1 Những nhu cầu vật chất 44

2.1.2 Những nhu cầu tinh thần 48

Trang 6

2.1.3 Những trạng thái tâm lý 55

2.2 Con người với môi trường xã hội 63

2.2.1 Miêu tả tình hình xã hội 64

2.2.2 Phân tích những vấn nạn xã hội 75

2.3 Con người với môi trường tự nhiên 86

2.3.1 Cảm quan về môi trường sống 86

2.3.2 Hành vi tàn phá thiên nhiên 91

2.3.3 Nhu cầu tương thông với tự nhiên 94

Tiểu kết 100

CHƯƠNG 3: NGHỆ THUẬT CỦA TRUYỆN NGẮN TRÊN BÁO TUỔI TRẺ CUỐI TUẦN TỪ 2010 ĐẾN 2015 3.1 Nhân vật 102

3.1.1 Miêu tả chân dung 103

3.1.2 Khắc họa tâm lý 105

3.2 Tình huống, kết cấu 111

3.2.1 Tình huống 111

3.2.2 Kết cấu 122

3.3 Ngôn ngữ, giọng điệu 135

3.3.1 Ngôn ngữ 135

3.3.2 Giọng điệu 141

Tiểu kết 151

KẾT LUẬN 152

TÀI LIỆU THAM KHẢO 155

PHỤ LỤC 164

Trang 7

1 Lý do chọn đề tài

MỞ ĐẦU

Truyện ngắn là một thể loại phù hợp với báo chí do dung lượng nhỏ, nội dung hàm súc cô đọng nhưng vẫn thể hiện được những vấn đề lớn lao của cuộc sống Truyện ngắn thường được đăng tải trên báo, thậm chí nằm thành một mục cố định trên các tờ báo Thông qua kênh báo chí, các nhà văn trẻ tài năng được giới thiệu, các lối viết, suy nghĩ mới được đưa ra và phổ biến rộng rãi với công chúng Nghiên cứu truyện ngắn trên báo

sẽ thấy được mối quan hệ chặt chẽ giữa văn học và báo chí cũng như sự vận động, đổi mới về nội dung, hình thức của thể loại truyện ngắn trong tiến trình phát triển của văn học

Không phải là một tờ báo thuần túy về văn học – nghệ thuật nhưng báo Tuổi Trẻ

Cuối Tuần luôn dành một mảnh đất riêng cho văn học, chú trọng truyện ngắn Phát hành

số đầu tiên vào năm 1983, cho đến nay Tuổi Trẻ Cuối Tuần đã phát hiện và bồi dưỡng

nhiều cây bút tài năng cho văn học nước nhà như : Nguyễn Ngọc Tư, Nguyễn Ngọc Thuần, Võ Diệu Thanh, Trang Hạ, Dương Thụy, Nguyễn Danh Lam, Lê Minh Phong …

Truyện ngắn được lựa chọn đăng tải trên Tuổi Trẻ Cuối Tuần thường là những tác phẩm

văn học có chất lượng, phản ánh các vấn đề thời sự và tư tưởng, lối sống của người Việt đương thời, vừa chứa đựng những giá trị nghệ thuật đáng trân trọng

Chọn mốc thời gian giai đoạn 2010 - 2015 để tiến hành khảo sát, người viết muốn đặt

truyện ngắn trên báo Tuổi Trẻ Cuối Tuần trong tiến trình văn học đương đại Theo quy

luật cung cầu của nền kinh tế thị trường, văn học cũng trở thành một loại hàng hóa đặc biệt, chức năng giải trí lấn át các chức năng khác như : thẩm mỹ, giáo dục, nhận thức…

Trong bối cảnh đó, truyện ngắn trên báo Tuổi Trẻ Cuối Tuần vẫn giữ vững được cái

“chất” riêng, không bị “thị trường hóa” như chạy theo cách viết sướt mướt, dễ dãi để thu hút độc giả Tìm hiểu truyện ngắn của một tờ báo lớn, được tuyển chọn kĩ lưỡng, có sức ảnh hưởng lớn đối với dư luận, là bước tiếp cận diện mạo văn học nước nhà

Trang 8

Nghiên cứu về truyện ngắn Việt Nam trong giai đoạn 2010 – 2015 hiện nay chưa nhiều Nghiên cứu truyện ngắn trên mặt báo cũng lẻ tẻ, chưa thành hệ thống Việc tìm hiểu về truyện ngắn trên một tờ báo không chuyên về văn học, trong một khoảng thời gian tương đối dài ở thời kỳ đương đại là đề tài mới, chưa có ai thực hiện, là “mảnh đất”

Từ những lý do trên, người viết lựa chọn đề tài “Truyện ngắn trên báo Tuổi Trẻ

Cuối Tuần từ 2010 đến 2015” để tiến hành nghiên cứu Ngoài việc phân tích giá trị văn

chương trên một tờ báo lớn, luận văn còn đưa ra các nhận định về xu thế vận động của thể loại truyện ngắn trong thời kỳ đương đại ở Việt Nam

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề liên quan đến truyện ngắn của

các tác giả Việt Nam trên báo Tuổi Trẻ Cuối Tuần giai đoạn 2010 – 2015, cụ thể là: lý thuyết về truyện ngắn, báo Tuổi Trẻ, những phương diện nội dung và nghệ thuật của truyện ngắn trên báo Tuổi Trẻ Cuối Tuần 2010 – 2015

Phạm vi nghiên cứu gồm 253 truyện ngắn của các tác giả Việt Nam được đăng trên

báo Tuổi Trẻ Cuối Tuần từ năm 2010 đến hết năm 2015

3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Từ năm 1945 đến nay, có khá nhiều công trình nghiên cứu về lý thuyết thể loại và

truyện ngắn hiện đại Việt Nam Cuốn Sổ tay truyện ngắn của Vương Trí Nhàn (1980) là

tập hợp những kinh nghiệm viết truyện của một số nhà văn trong và ngoài nước như:

Trang 9

Tshekhov, Anatole France, Thomas Mann, Maugham, Tô Hoài, Nguyễn Tuân, Nguyễn Công Hoan, Bùi Hiển Bằng nhãn quan và lối viết riêng, mỗi nhà văn mang đến cho độc giả sự trải nghiệm về quá trình lao động của mình

Bùi Việt Thắng là tác giả có khá nhiều nghiên cứu về truyện ngắn Tiêu biểu nhất

là cuốn Truyện ngắn những vấn đề lý thuyết và thể loại (Bùi Việt Thắng, 2000), ở đó tác

giả đã đưa ra những lí luận, cung cấp kiến thức nền cho việc nghiên cứu truyện ngắn trong từng tác phẩm cụ thể

Nguyễn Thái Hòa trong cuốn Những vấn đề thi pháp của truyện (2000) đã đi vào

tìm hiểu nghệ thuật viết truyện (bao gồm truyện ngắn) dưới góc nhìn ngôn ngữ học, chỉ ra yếu tố: lời kể - lời thoại, không gian, thời gian, giọng kể, diễn ngôn

Các giáo trình dành cho bậc đại học, cao đẳng chuyên ngành văn học như: Cơ sở

lý luận văn học (Lê Đình Kỵ & Phương Lựu, 1976), Lí luận văn học (Hà Minh Đức,

1997); Lí luận văn học, tập II: Tác phẩm và thể loại văn học (Trần Đình Sử, La Khắc Hòa, Phùng Ngọc Kiếm & Nguyễn Xuân Nam, 2008), Giáo trình Lí luận văn học (Lê Lưu Oanh & Phạm Đăng Dư, 2008) hay là các cuốn từ điển như: 150 thuật ngữ văn học (Lại Nguyên Ân, 1999), Từ điển thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán, Trần Đình Sử & Nguyễn

Khắc Phi, 2006)… đã làm rõ khái niệm, lịch sử phát triển và những đặc trưng của truyện ngắn, giúp người đọc tiếp cận thể loại dễ dàng hơn

Năm 2004, cuốn Truyện ngắn lí luận tác giả và tác phẩm tập 1, tập 2 - công trình

dịch thuật của Lê Huy Bắc được giới thiệu rộng rãi Trong đó, tác giả đã đưa ra những nhận định của các nhà nghiên cứu trên thế giới về khái niệm, lịch sử phát triển truyện ngắn, các tác phẩm và tác giả truyện ngắn tiêu biểu của từng khu vực

Trong cuốn Truyện ngắn Việt Nam : Lịch sử thi pháp chân dung (Phan Cự Đệ chủ

biên và các tác giả khác, 2007), các tác giả đã khái quát lại toàn bộ quá trình phát triển của truyện ngắn Việt Nam, phân định sự khác biệt giữa truyện ngắn hiện đại và truyện kể

cổ trung đại thông qua một số tác phẩm cụ thể

Cuốn Văn học Việt Nam thế kỷ XX, Lý luận – phê bình 1975 -2000, tập XII

Nguyễn Ngọc Thiện chủ biên & Đỗ Phương Thảo, 2010) và tập XIV (Nguyễn Ngọc Thiện chủ biên & Cao Thị Hồng, 2010) đã tập hợp bài viết về truyện ngắn của một số tác

Trang 10

giả như Trần Thanh Địch: Cái “ngắn” trong truyện ngắn (tr.688), Giữa truyện ngắn và

bút ký (tr.717), Lý Hoài Thu với Những truyện ngắn hay (tr.461) và Bùi Việt Thắng cùng

bài viết Khái quát sự phát triển truyện ngắn Việt Nam thế kỷ XX (tr.525)

Công trình nghiên cứu khoa học Truyện ngắn dưới ánh sáng so sánh (Đào Ngọc

Chương, 2010) đặt truyện ngắn trong sự so sánh với tiểu thuyết để tìm ra đặc điểm của thể loại, so sánh truyện ngắn giữa các quốc gia khác nhau từ đó thấy được đặc trưng văn học (cụ thể hơn là truyện ngắn), văn hóa của từng đất nước

Trong các tạp chí và trên hệ thống internet cũng có khá nhiều bài viết nghiên cứu

về đặc điểm của thể loại truyện ngắn ở Việt Nam Năm 1991, báo Văn Nghệ tổ chức hội thảo về truyện ngắn, bài viết “Truyện ngắn hôm nay” đăng trên Văn nghệ, Hà Nội, số 48

(30/1/1991) đã trích dẫn nhiều nhận xét của các nhà văn lớn trong nước về những cách tân về nội dung và hình thức của truyện ngắn Việt Nam hiện đại so với trước đổi mới

Một số bài bài khác chỉ ra được tính chất “co duỗi, linh động, xóa nhòa đường biên với

thể loại tiểu thuyết” của truyện ngắn như bài “Truyện ngắn - những đường biên thể loại”

của Henry David Thoreau (Nguyễn Phương Khánh dịch, 2012), bài viết “Sự co duỗi của truyện ngắn” (Hiền Nguyễn, 2013); hay là hiện tượng giao thoa thể loại giữa tiểu thuyết

và truyện ngắn trong văn học Việt Nam hiện nay như bài “Hiện tượng truyện ngắn tiểu thuyết hóa trong văn học Việt Nam đương đại” (Lê Hương Thủy, 2014); bài “Xu hướng tiểu thuyết hóa trong truyện ngắn Việt Nam từ 1986 đến nay” (Đinh Trí Dũng, 2010)

Một số bài viết lại phân tích khía cạnh dung lượng của truyện ngắn để thấy được điểm độc đáo của thể loại này như: “Thể loại văn – chương: các thể loại ngắn” (Nguyễn

Vy Khanh, 1999); “Thi pháp truyện cực ngắn” (Hoàng Long, 2014)

Nghiên cứu về đặc điểm truyện ngắn Việt Nam giai đoạn đổi mới có một số luận

án nổi bật như: Những đặc điểm cơ bản của truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1975-1995 của Lê Thị Hường, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Hà Nội, 1995; Đặc

trưng truyện ngắn Việt Nam từ 1975 đến đầu thập niên 90 của Hoàng Thị Văn, Trường

Đại học Sư phạm T.P Hồ Chí Minh, 2001

Trang 11

Nghiên cứu về từng bình diện của nghệ thuật truyện ngắn có một số luận án tiến sĩ

đã được công bố như sau: Thời gian tự sự như một nhân tố cấu trúc văn bản văn xuôi

nghệ thuật (xét qua các truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1975-1995) của Lê Thị Tuyết

Hạnh, trường Đại học Sư phạm Hà Nội, 1997; Ngôn ngữ kể chuyện trong truyện

ngắn Việt Nam sau 1975 (điểm nhìn và ngôn ngữ kể chuyện) của Nguyễn Thị Thu Thủy,

trường Đại học Sư phạm Hà Nội, 2003; Tính biểu cảm trong ngôn ngữ truyện và thơ văn

Việt Nam hiện đại của Trần Thị Hoa, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành

phố Hồ Chí Minh, 2004; Khuynh hướng thế sự trong truyện ngắn Việt Nam thời đổi mới

(1986-2000) của Trần Văn Thắng, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành

phố Hồ Chí Minh, 2012

Nghiên cứu về truyện ngắn của từng tác giả, vùng miền cụ thể có các luận án:

Truyện ngắn Nguyễn Công Hoan : một số vấn đề chủ yếu của Lê Thị Đức Hạnh, Viện

Văn học, 1979; Phong cách văn xuôi nghệ thuật Thạch Lam của Nguyễn Thành Thi,

2002, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh, (trước đó

tác giả này đã in thành sách một phần luận án của mình qua cuốn Đặc trưng nghệ thuật

của truyện ngắn Thạch Lam (Nguyễn Thành Thi, 1999)); Cảm hứng thế sự trong truyện ngắn của Ma Văn Kháng (từ năm 1986 đến năm 2005) của Trần Văn Thắng, trường Đại

học Khoa học Xã hội và Nhân văn, TP Hồ Chí Minh, 2006; Khảo sát đặc điểm truyện

ngắn đồng bằng sông Cửu Long từ 1975 đến nay của Trần Mạnh Hùng, trường Đại học

Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, 2011

Về truyện ngắn trên báo, có một số bài viết trên tạp chí, internet đã chỉ ra đặc điểm

và triển vọng của truyện ngắn trên báo ở Việt Nam hiện nay như: “Truyện ngắn lên hương” (Huỳnh Như Phương); “Truyện ngắn - Con đường văn chương trên báo” (Tường

Vy, 2013); “Mong có những truyện ngắn đánh dấu sự chuyển động của xã hội” (Dương

Tử, 2015) Tình hình nghiên cứu này cho thấy, truyện ngắn trên báo đã được một số tác giả quan tâm nhưng mới chỉ dừng lại ở những bài lẻ tẻ, chưa thành hệ thống

Từ lịch sử đề tài cho thấy việc nghiên cứu truyện ngắn hiện đại ở Việt Nam đã được nhiều tác giả thực hiện Nhiều công trình được công bố, có ý nghĩa khoa học, cung

Trang 12

cấp tri thức về lí thuyết thể loại nói chung và sự vận động của truyện ngắn Việt Nam nói riêng Đây là nền tảng quan trọng để người viết phát triển đề tài luận văn của mình

Đã có một số khóa luận tốt nghiệp của sinh viên trường Đại học Khoa học xã hội

và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh thực hiện đề tài về truyện ngắn trên báo Tuổi Trẻ Khóa luận của Vương Thị Thanh Thảo nghiên cứu Truyện ngắn trên báo Tuổi Trẻ Chủ

Nhật từ 2000 – 2007 đã giới thiệu về lịch sử phát triển của báo, tìm hiểu hiện thực xã hội

trong các truyện ngắn giai đoạn này như: vấn đề con người cá nhân, những vấn đề tiêu cực, tích cực của cuộc sống hiện đại Khóa luận cũng chỉ ra những điểm nổi bật của

truyện trên báo Tuổi Trẻ Chủ Nhật ở phương diện quan niệm nghệ thuật về con người,

điểm nhìn trần thuật, không gian, thời gian và một số biện pháp nghệ thuật khác…

Khóa luận Truyện ngắn trên báo Tuổi Trẻ 2010 của Lê Đỗ Lan Phương nghiên cứu truyện ngắn trên hệ thống báo Tuổi Trẻ (bao gồm truyện ngắn 1200 chữ đăng trên nhật báo và truyện trên báo Tuổi Trẻ Cuối Tuần) Khóa luận chỉ ra những nội dung và

nghệ thuật truyện ngắn trên báo trong năm 2010 qua một số tác giả và truyện ngắn tiêu

biểu Ngoài ra còn có khóa luận Báo Tuổi Trẻ với 10 năm đổi mới trong tiến trình cách

mạng Việt Nam 1986 – 1995 của Phạm Thị Kim Anh, tìm hiểu qua trình ra đời và phát

triển của tờ báo trong lịch sử báo chí nước nhà

Những khóa luận trên đã cung cấp một số thông tin về lịch sử báo Tuổi Trẻ Cuối

Tuần, một vài luận điểm về nội dung, nghệ thuật truyện ngắn trên tờ báo này để người

viết tham khảo, đúc rút và bổ sung những luận điểm mới của bản thân

Bên cạnh các khóa luận, những lời tựa, lời giới thiệu khi ra mắt các cuốn tuyển tập

Truyện ngắn hay Tuổi Trẻ Cuối Tuần từ năm 1996 – 2011 như: “Tôi đã đọc và thấy”

(Phạm Xuân Nguyên, 2005); “Truyện ngắn hay Tuổi Trẻ Chủ Nhật” (Việt Quê, 2007), đã

có những đánh giá sơ lược về đặc điểm truyện ngắn trên báo Tuổi Trẻ Cuối Tuần từng

giai đoạn, giúp người viết có cái nhìn so sánh về tác giả, tác phẩm của giai đoạn 2010 –

2015 với thời kỳ trước

Trang 13

Một số bài viết trên báo, trang tin điện tử về truyện ngắn và tác giả xuất hiện trên

báo Tuổi Trẻ Cuối Tuần 2010 – 2015 như: “Võ Diệu Thanh: Quê, cũ và… quyến rũ”

(Dương Tử Thành, 2011); “Lê Minh Phong: Từ kẻ “ăn hạt giống” đến một cái ghế biết

tư duy” (Văn Bảy, 2011); “Khi thạc sĩ toán viết văn” (2013); “Nhà văn Phùng Hi: Mải chơi lạc chốn văn chương” (Lê Thiếu Nhơn, 2015); “Nguyễn Bích Lan - Người thắp lửa” (Nguyễn Phan Quế Mai, 2015); “Nguyễn Trí: Tiểu sử gây sửng sốt” (Nông Hồng Diệu, 2014); “Vĩnh Quyền và những trang văn về quá khứ vùng Thuận Quảng” (Thiếu Sơn, 2013); “Hải Miên: Văn chương cần sự thành thật”(Thoại Hà, 2010); “Trần Tùng Chinh

áo trắng người bạn thân thiết trong cuộc sống của tôi” (Trương Thị Hồng Vân, 2007);

“Nhà văn Trần Chiến - Ưa ẩn mình nơi đám đông” (Việt Quỳnh, 2014) Ngoài ra trang web của Hội nhà văn thành phố Hồ Chí Minh, Hội nhà văn Cà Mau, Hội nhà văn Việt Nam cũng có phần tiểu sử và giới thiệu về phong cách của một số tác giả được đăng

truyện trên báo Tuổi Trẻ Cuối Tuần Những bài viết này cung cấp cho người viết tư liệu

khi nghiên cứu về truyện và phong cách tác giả

Nhìn chung, truyện ngắn trên báo Tuổi Trẻ Cuối Tuần đã từng được nghiên cứu,

nhưng ở giai đoạn trước, hoặc là những bài viết nhỏ, đăng rải rác ở các trang báo, tin tức

điện tử Có thể khẳng định, đề tài Truyện ngắn trên báo Tuổi Trẻ Cuối Tuần từ 2010

đến 2015 là một đề tài mới và thú vị Bằng các phương pháp khoa học người viết sẽ tiến

hành khảo sát và tìm ra những đặc điểm về nội dung, hình thức của truyện ngắn trên báo

Tuổi Trẻ Cuối Tuần góp phần trong việc khái quát tình hình phát triển của truyện ngắn

hiện đại Việt Nam

4 Phương pháp nghiên cứu

Trang 14

báo từ năm 2010 – 2015 của Tuổi Trẻ Cuối Tuần, lọc ra những tư liệu liên quan đến đề

tài, sau đó phân loại truyện ngắn đi theo từng nội dung trong các chương mục của luận văn

- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Mục tiêu của luận văn là làm rõ được những

đặc trưng nội dung, nghệ thuật của hệ thống truyện ngắn trên một tờ báo, vì vậy vận dụng phương pháp phân tích, tổng hợp là cần thiết Thông qua hai phương pháp này, luận văn tìm ra những điểm chung - riêng trong nội dung, nghệ thuật của mỗi truyện ngắn, gom lại

theo từng luận điểm, để có được cái nhìn mạch lạc về toàn bộ truyện ngắn trên tờ Tuổi

Trẻ Cuối Tuần năm năm qua

- Phương pháp so sánh: Người viết đặt đối tượng nghiên cứu trong mối quan hệ

đồng đại (với truyện ngắn của các tờ báo khác) và lịch đại (với truyện ngắn trên Tuổi Trẻ

Cuối Tuần giai đoạn trước) để đánh giá khách quan và tìm ra được giá trị, bản chất và vị

trí của truyện ngắn Tuổi Trẻ Cuối Tuần 2010 – 2015

5 Đóng góp của luận văn

Khảo sát nội dung phản ánh trong các truyện ngắn đăng trên báo Tuổi Trẻ

Cuối Tuần từ 2010-2015

Khảo sát những đặc trưng về nghệ thuật, bút pháp viết truyện ngắn trong

các truyện đăng trên báo Tuổi Trẻ Cuối Tuần trong vòng 5 năm qua

Đưa ra một cái nhìn chung về truyện ngắn trên báo Tuổi Trẻ Cuối Tuần

trong bối cảnh truyện ngắn Việt Nam đương đại

6 Cấu trúc của luận văn

Luận văn Truyện ngắn trên báo Tuổi Trẻ Cuối Tuần từ 2010 đến 2015

gồm 175 trang Trong đó, phần nội dung (154 trang), phụ lục (12 trang) và tài liệu

tham khảo (9 trang) Phần nội dung, ngoài phần Mở đầu (9 trang), phần Kết luận

(3 trang), ba chương chính gồm:

Chương 1: (34 trang) Khái quát về lí thuyết truyện ngắn như khái niệm, đặc trưng và mô tả về lịch sử phát triển của truyện ngắn Việt Nam Giới thiệu về lịch

sử của báo Tuổi Trẻ Cuối Tuần và sơ lược truyện ngắn trên báo Tuổi Trẻ Cuối

Tuần từ lúc ra đời đến năm 2015

Trang 15

Chương 2: (58 trang) Nói về nội dung của truyện ngắn trên báo Tuổi Trẻ

Cuối Tuần 2010 – 2015 với ba phương diện: con người và đời sống cá nhân, con

người và môi trường xã hội, con người và môi trường tự nhiên

Chương 3: (50 trang) Các phương diện nghệ thuật của truyện ngắn trên báo

Tuổi Trẻ Cuối Tuần 2010 – 2015: nhân vật, tình huống, ngôn ngữ

Trang 16

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ TRUYỆN NGẮN VÀ TRUYỆN NGẮN TRÊN

BÁO TUỔI TRẺ CUỐI TUẦN

1.1.1 Khái niệm

Truyện ngắn là một thể loại văn học được sáng tác theo phương thức tự sự Trong tiếng Anh, truyện ngắn là short story, tiếng Pháp gọi là nouvelle, còn tiếng Trung Quốc là đoản thiên tiểu thuyết Được định danh trong vài thế kỉ gần đây, nhưng có thể thấy khởi nguồn của truyện ngắn đã từ rất lâu, tồn tại ở mỗi quốc gia, châu lục với những hình thức khác nhau

Trong bài viết Sự phát triển truyện ngắn Việt Nam 1900 – 1945 (Mã Giang Lân,

2000, tr 266 – 296), Bùi Việt Thắng cho biết: Ở châu Âu, truyện ngắn với tư cách là một thể loại văn học độc lập, có từ thời kỳ đầu phục hưng, tồn tại ban đầu dưới dạng những câu chuyện ngụ ngôn, được các tầng lớp thị dân truyền tai nhau để chống đối nhà thờ và lãnh chúa Còn ở Nga, truyện ngắn xuất hiện đầu tiên có thể là cuối thế kỷ XVIII, hoàn thiện vào cuối thế kỷ XIX với sự đóng góp của các nhà văn: Puskin, Turgenev, Chekhov Ở Trung Quốc, truyện ngắn xuất hiện sớm hơn, vào khoảng thế kỷ VIII – IX, hình thức ban đầu là những câu chuyện truyền kỳ Là sự kế thừa các thể loại tự sự của thời trung đại, lịch sử phát triển của truyện ngắn khá dài hơi và có sự gắn kết với những hình thức truyện kể dân gian và trung đại Đến đầu thế kỉ XIX, thể loại truyện ngắn mới chính thức được gọi tên và nhanh chóng lan tỏa toàn thế giới Những nhà văn viết truyện ngắn thành công có thể kể đến như: L Tolstoi, Chekhov, Gorky, Sholokhov, Paustovski, O’Henri, Jack London, Maupassant, Lỗ Tấn…

Trong cuốn Những vấn đề thi pháp của truyện, Nguyễn Thái Hòa cho rằng:

“ Truyện (récit) là tên gọi để chỉ loại hình tự sự văn học, một trong số các loại hình tự sự đa dạng và phong phú hiện nay Truyện bao gồm các thể loại: truyện kể dân gian (thần thoại, cổ tích, truyện cười, ngụ ngôn…); truyện chí quái, phiêu lưu, truyền kỳ

… thời Trung cổ; và tiểu thuyết (gồm truyện ngắn, truyện vừa truyện dài), cũng có thể gọi là thể truyện kể hiện đại” (Nguyễn Thái Hòa, 2000, tr 5) Theo đó ông gom tất cả thể

Trang 17

loại tự sự có yếu tố chuyện kể vào trong tiểu thuyết, coi truyện ngắn là một bộ phận của tiểu thuyết

Lê Huy Bắc cũng đưa ra các dẫn chứng cho việc truyện ngắn xuất hiện từ thời cổ đại, trong các nước có nền văn minh lâu đời của loài người như: Ai Cập với truyện

Chàng thuỷ thủ đắm tàu (khoảng năm 2000 trước Công nguyên), tuyển tập Panchatantra

của Ấn Độ (khoảng 500 năm sau Công nguyên), truyện Ngụ ngôn Aesop của Hi Lạp (thế

kỉ VI trước Công nguyên), Trung Quốc và các truyện khắc trên mai rùa (2000 năm trước Công nguyên) (Lê Huy Bắc, 2004a)

Trong cuốn Giáo trình lí luận văn học tập 2, những người biên soạn lại cho biết

truyện ngắn, truyện vừa, tiểu thuyết đều bắt nguồn từ tên gọi “truyện” Trong lịch sử văn

học Trung Quốc, “truyện” nghĩa ban đầu là giải thích kinh nghĩa (ví dụ Xuân Thu Tả

truyện), nghĩa thứ hai là bài văn xuôi ghi chép một sự tích nào đó (Trần Đình Sử và các

tác giả khác, 2008, tr.290)

Tuy vậy, nhà nghiên cứu văn học William Boyd trong bài viết “Lược sử truyện ngắn” (William B Hà Linh dịch, 2006) lại chứng minh khác về lịch sử của truyện ngắn Tác giả giới thiệu hai giả thiết về thời điểm truyện ngắn ra đời và ông tổ của truyện ngắn

như sau: Truyện ngắn chính thức xuất hiện từ “Walter Scott với truyện ngắn The Two

Drovers đăng trên một tờ báo của Canongate (Edinburgh, Scotland) năm 1827” Giả

thiết thứ hai cho rằng:“truyện ngắn hiện đại khởi đầu từ Mỹ Một số ý kiến coi Twice-

Told Tales xuất bản năm 1837 của Nathaniel Hawthorne là điểm bắt đầu” Những giả

thiết cho thấy chưa có sự thống nhất trong việc xác định ông tổ của truyện ngắn – dưới dạng một thể loại văn học hiện đại Vì vậy chỉ có thể khẳng định truyện ngắn ra đời khá muộn, vào khoảng đầu thế kỉ XIX, bắt đầu từ phương Tây rồi phổ biến ra toàn thế giới Người đưa truyện ngắn lên đỉnh cao, trở thành một hình thức nghệ thuật lớn của văn học

thế kỷ XX là nhà văn hào Nga Chekhov Tác giả William Boyd ca ngợi: “Chekhov với

những kiệt tác ra đời vào những năm 1890 là người đã mang đến cuộc cách mạng trong quá trình phát triển của thể loại truyện ngắn bằng sự thay đổi phong cách trần thuật”

Trang 18

Qua một số nhận định của các nhà nghiên cứu có thể thấy sự nhập nhằng giữa truyện ngắn và truyện kể Truyện ngắn hiện nay tuy có nguồn gốc từ truyện kể cổ xưa nhưng muốn trở thành một thể loại có giá trị văn chương thì phải là truyện ngắn thời kì hiện đại, với một loạt nhà văn thành danh nhờ nó Từ đó, có thể xác định theo quan điểm của William Boyd (William B Hà Linh dịch, 2006) rằng: truyện ngắn hiện đại chính thức xuất hiện vào cuối thế kỷ XIX, cùng với cách tân về tư duy, lối hành văn không còn đậm chất trang trọng, hoa mỹ của văn học thời phong kiến

Hiện này, bằng nhiều kênh truyền thông, truyện ngắn đã trở nên quen thuộc với độc giả Thể loại này dễ đọc, dễ viết, nhưng để hiểu cho sâu, viết cho xuất sắc thì đòi hỏi phải có tư duy và kĩ thuật điêu luyện Mỗi nhà văn sáng tác truyện ngắn lựa chọn những lối dẫn dắt khác nhau, cài cắm muôn màu muôn vẻ thông điệp sống nên “hình hài” truyện ngắn rất đa dạng Chính vì điều đó định nghĩa truyện ngắn luôn là vấn đề gây nhiều tranh luận Mỗi nhà văn, nhà nghiên cứu lại có những quan điểm khác nhau về khái niệm này

Theo cách hiểu thông thường, người ta phân biệt truyện ngắn và các thể loại tự sự khác ở dung lượng Truyện ngắn thì trước hết hình thức nó phải ngắn Nhưng trong thực

tế, có những tiểu thuyết dài khoảng một trăm trang, xấp xỉ một truyện ngắn và ngược lại

có những truyện dài tương đương tiểu thuyết vẫn được coi là truyện ngắn Tiểu thuyết ngắn của Chekhov chỉ dài từ một trăm trang trở lại, trong khi những truyện ngắn của ông cũng khoảng không dưới sáu mươi trang

Vậy nên không thể lấy số trang, nghĩa là lấy sự ngắn dài của một truyện để gọi

truyện ấy là tiểu thuyết hay truyện ngắn Truyện ngắn là một “loại chất dẻo đặc biệt” có thể “giãn dài tới khoảng 100 trang (Conrad, Le Clézio) và có thể co lại tới mức gây

choáng là ba dòng (Fénéon)” (Geoges Kolebka, như trích dẫn ở Phạm Thị Thật, 2009,

tr.43)

Edgar Allan Poe – ông tổ của truyện trinh thám – đã định nghĩa: “truyện ngắn đơn

giản là lối trần thuật khiến “độc giả có thể đọc liền một mạch”, nhấn mạnh là hiệu quả

đặc biệt của truyện ngắn ở tính chất "tất cả trong một" của thể loại này (như trích dẫn ở

William Boyd, Hà Linh dịch, 2006)

Trang 19

Theo Nguyễn Công Hoan thì “Truyện ngắn và truyện dài phải khác nhau ở tính

chất” (Nguyễn Công Hoan, 1971, tr.321) Nhà văn nhấn mạnh “Truyện ngắn không phải

là truyện mà là một vấn đề được xây dựng bằng chi tiết với sự bố trí chặt chẽ và bằng thái độ với cách đặt câu dùng tiếng có cân nhắc” (Nguyễn Công Hoan, 1971, tr.323)

Ông đề cao cái ý tưởng, đề tài của truyện ngắn, không cần nhiều chi tiết dư thừa

Hai tác giả Hoàng Vũ và Đức Vân trong bài viết “Luận đàm về truyện ngắn và truyện dài hay tân truyện và tiểu thuyết” đã xác định sự khác nhau giữa truyện ngắn và tiểu thuyết (hay còn gọi là truyện dài) không phải ở số trang mà phải lấy nội dung câu chuyện làm thước đo để phân loại Các tác giả cho rằng:

“Truyện ngắn là chuyện một biến cố, một cảnh đời, chuyện của sự lật ngược một

tình thế Một truyện dài là một truyện có nhiều cảnh, nhiều trường hợp nối tiếp nhau, trong đó các nhân vật có nhiều hành động, ý nghĩa và cảm tình biến chuyển theo hoàn

cảnh và tình thế” (Hoàng Vũ & Đức Vân, 1964, tr.25)

Theo Trần Thanh Địch: “Đã là truyện ngắn, là phải ngắn – nhưng phải biết

“ngắn” với một độ dài cần thiết Thế thì nó ngắn lại một ít (ngắn mà cô đọng) hoặc dài

ra đôi phân (dài mà chặt chẽ), đều là tự nhiên – miễn nó hay” (Trần Thanh Địch, 1988,

tr.13)

Tác giả Bùi Việt Thắng trong cuốn Truyện ngắn những vấn đề lý thuyết và thực

tiễn thể loại đã dẫn ra rất nhiều quan niệm của các nhà văn, nhà nghiên cứu về truyện

ngắn và phân loại thành bốn nhóm Nhóm thứ nhất nhấn mạnh yếu tố “bất thường, đột

biến, một chuyện làm ta kinh ngạc” của truyện ngắn Nhóm thứ hai, tác giả lấy ý của nhà

văn Nguyễn Kiên, cho rằng truyện ngắn là “một trường hợp” (Bùi Việt Thắng, 2000,

tr.19) khẳng định tính chất ngắn gọn về dung lượng và điển hình về nội dung của truyện ngắn Nhóm thứ ba lại chú trọng ở tính luận đề, cho rằng các chi tiết được đưa vào truyện

để thể hiện tư tưởng, chủ đề tác giả muốn phản ánh trong truyện Nhóm thứ tư có quan điểm rộng mở hơn về thể loại truyện ngắn, đề cao tính linh động, tự do, không gò bó trong khuôn mẫu về nội dung và hình thức như quan điểm của các nhóm khác (Bùi Việt Thắng, 2000, tr.25)

Trang 20

Trong Từ điển thuật ngữ văn học, các tác giả đã định nghĩa truyện ngắn là:

“Tác phẩm tự sự cỡ nhỏ Nội dung của thể loại truyện ngắn bao trùm hầu hết các phương diện của đời sống: đời tư, thế sự hay sử thi, nhưng cái độc đáo của nó là ngắn Truyện ngắn được viết ra để tiếp thu một mạch, đọc một hơi không nghỉ” (Lê Bá Hán, Trần Đình Sử & Nguyễn Khắc Phi, 2004, tr.370)

Theo định nghĩa này, đặc trưng quan trọng nhất của truyện ngắn là ở dung lượng Tuy

nhiên chính các tác giả cũng thừa nhận “mức độ dài ngắn chưa phải là đặc điểm chủ yếu

phân biệt truyện ngắn với các tác phẩm tự sự khác” (Lê Bá Hán và các tác giả khác,

2004, tr 370) Truyện ngắn khác với tiểu thuyết ở cách thức tiếp cận, phản ánh đời sống

Nó không phải một thể loại chiếm lĩnh đời sống trong toàn bộ sự đầy đặn và toàn vẹn như tiểu thuyết Truyện ngắn hướng đến việc khắc họa một hiện tượng, một nét bản chất trong đời sống con người

Đào Ngọc Chương trong đề tài nghiên cứu “Truyện ngắn dưới ánh sáng so sánh”

thì cho rằng sự khu biệt giữa truyện ngắn và tiểu thuyết chỉ là tương đối, bởi vì hai thể loại này có sự giao thoa nhau, quan hệ khăng khít Các thành tố cấu tạo nên tiểu thuyết có trong truyện ngắn, tiểu thuyết thậm chí còn rộng lớn hơn truyện ngắn, có thể bao chứa

truyện ngắn Ngược lại truyện ngắn là “hạt nhân của sự phát triển hay mở rộng thành

những thể loại khác” (Đào Ngọc Chương, 2010, tr.21) và độ dài ngắn là đặc trưng cực kỳ

quan trọng của truyện ngắn Tác giả phân ra các tiểu mục như: truyện ngắn là phác thảo của tiểu thuyết, truyện ngắn là bộ phận của tiểu thuyết và truyện ngắn là hạt nhân của tiểu thuyết để cho thấy mối liên hệ chồng chéo của hai thể loại

Sự nhập nhằng giữa truyện ngắn và tiểu thuyết vốn dĩ do nguồn gốc của chúng cùng

đi từ việc giao thoa thể loại trong thời kì văn học trung đại Trong cuốn Truyện ngắn Việt

Nam : Lịch sử thi pháp chân dung các tác giả cũng cho rằng: “Dựa vào quy mô và tính chất từng tác phẩm, ta lại có thể chia văn xuôi tự sự thành ba nhóm: truyện ngắn, kí và tiểu thuyết chương hồi Dĩ nhiên cách phân loại nào cũng có tính tương đối của chúng”

(Phan Cự Đệ chủ biên và các tác giả khác, 2007, tr.20) Các tác giả đi đến nhận định truyện ngắn và truyện kí trung đại là “rắc rối”, cuối cùng đi đến khái quát lại như sau:

Trang 21

“Truyện dùng để “kể” Mỗi truyện phải là một “đơn vị hoàn chỉnh” – “đủ cả đầu đuôi” (Lê Quý Đôn), “có phần đầu, phần giữa và phần cuối” (Aristote) Mỗi “đơn vị” không chỉ độc lập với chính nó: “mỗi việc chép riêng” (Lê Quý Đôn), mà còn “độc lập” với người kể: “coi như cái gì tách biệt với mình” (Aristote) Hai hạt nhân tạo nên truyện

là nhân vật và cốt truyện “Tất cả nhân vật như những người đang hành động” (Aristote)

và sự hành động của chúng tạo thành đường dây liên lạc “đủ cả đầu đuôi” (Lê Quý Đôn) nối liền các sự kiện thành “cốt truyện” Cốt truyện là “câu chuyện được kể về các sự kiện liên tiếp xảy ra Cốt truyện không chỉ truyền đại sự liên tục của các sự kiện mà còn cho ta thấy giọng của người kể chuyện” Xây dựng “truyện”, nếu “không có cốt truyện là điều không có khả năng” (Phan Cự Đệ chủ biên và các tác giả khác, 2007, tr.25)

Mỗi nhà nghiên cứu văn học lại nhấn mạnh một khía cạnh thể hiện của truyện ngắn, cho rằng chính điều đó là linh hồn của truyện ngắn Có người đề cao cốt truyện, người lại coi trọng cấu trúc, lối viết, hoặc cách đặt vấn đề và giải quyết vấn đề của nhà văn

Bùi Việt Thắng dựa trên các quan điểm khác nhau của nhiều nhà văn, nhà nghiên cứu rút ra những đặc điểm chính của thể loại truyện ngắn như sau: (1) Một thể tài tự sự cỡ nhỏ Nhỏ có nghĩa là từ vài trăm trang đến vài chục trang, một câu chuyện được kể nghệ thuật nhưng không được phép kể dài dòng, câu chuyện có sức ám ảnh, nghĩa là tạo ra một

ấn tượng duy nhất, mạnh mẽ đồng thời tạo liên tưởng ở người đọc (2) Tính quy định về dung lượng và cốt truyện của truyện ngắn tập trung vào một vài biến cố, mặt nào đó của đời sống, các sự kiện tập trung trong một không gian, thời gian nhất định (3) Nhân vật truyện ngắn thường được làm sáng tỏ thể hiện một trạng thái tâm thế con người thời đại (4) Chi tiết đóng vai trò quan trọng, nó có tính chất biểu tượng (Bùi Việt Thắng, 2000, tr.34)

Vì vậy, một định nghĩa mẫu mực về truyện ngắn đến nay vẫn còn bỏ ngỏ Dựa trên việc khái quát các ý kiến đánh giá của các chuyên gia về truyện ngắn, người viết đề xuất

một cách hiểu về thể loại này như sau: Truyện ngắn là một thể loại văn học được viết

theo phương thức tự sự Truyện ngắn được trình bày ngắn gọn, hàm súc, thường xoay quanh một tình huống truyện chủ đạo, tạo ra hiệu ứng trực tiếp vào cảm xúc của người

Trang 22

đọc, gợi mở suy tư về đời sống con người Truyện ngắn có tư duy hiện đại, dân chủ và gắn liền với báo chí

1.1.2 Đặc trưng

Truyện ngắn cũng như tiểu thuyết, sử thi, trường ca…, đã mang tất cả đặc điểm của thể loại tự sự văn học Phương thức sáng tác của nó là tự sự, phản ánh đời sống trong tính khách quan, người kể thường đứng ngoài câu chuyện được kể Các yếu tố cấu trúc nên tác phẩm tự sự như sự kiện, cốt truyện, nhân vật, người kể chuyện, không gian, thời gian… vẫn xuất hiện đầy đủ trong truyện ngắn

So với các hình thức tự sự khác thì truyện ngắn gần với tiểu thuyết nhất Đặc biệt hiện nay, xu hướng tiểu thuyết hóa truyện ngắn càng khiến cho việc phân định hai thể loại này gặp nhiều khó khăn Không thể lấy hình thức ngắn dài làm tiêu chí để phân biệt nên giữa tiểu thuyết và truyện ngắn thường có sự nhầm lẫn, ranh giới giữa chúng khá mơ hồ Dù vậy, ở cách phản ánh đời sống, cách kể chuyện và cấu trúc tác phẩm của truyện ngắn vẫn

có những đặc trưng riêng, tạo nên phong cách độc đáo của thể loại này

1.1.2.1 Đối tượng thể hiện của truyện ngắn

Tiểu thuyết có tham vọng miêu tả nhiều mặt và chi tiết đời sống của một con người, một tầng lớp, một giai cấp hoặc thậm chí một xã hội trong một thời điểm lịch sử hoặc có khi kéo dài nhiều thời đại ở vùng địa lý rộng lớn Truyện ngắn thì ngược lại, không dàn trải và bao quát như tiểu thuyết, truyện ngắn tìm kiếm những gì độc đáo nhất, đắt giá nhất

trong đời sống để kể lại Đối tượng của truyện ngắn là những hiện tượng, những nét

bản chất trong quan hệ nhân sinh hay đời sống xã hội Nếu ví tiểu thuyết là đại

dương, là tấm lưới vĩ đại thì truyện ngắn như một giọt nước giữa đại dương, một cái mắt

lưới nhỏ trong tấm lưới lớn đó Theo Roger Grenier thì “truyện ngắn là thời điểm, tiểu

thuyết là thời gian” (như trích dẫn ở Phạm Thị Thật, 2009, tr.48)

Nếu coi tiểu thuyết là cuộc đời thì truyện ngắn chỉ là “lát cắt” của cuộc đời đó Truyện ngắn nắm bắt khoảnh khắc, chớp lấy sự kiện, chỉ quan tâm thời điểm cuộc sống cô đặc

nhất, nơi mà con người buộc phải thể hiện “phần tâm can, phần ẩn náu sâu kín nhất, đôi

khi là một khoảnh khắc chứa cả một đời người, một quãng đời nhân loại” (Nguyễn Minh

Châu, 1994, tr 313)

Trang 23

Truyện ngắn quan tâm đến “điểm” hơn “diện” “Nếu tiểu thuyết miêu tả quá trình thì

truyện ngắn miêu tả kết quả, nếu tiểu thuyết mở ra một diện rộng thì truyện ngắn tập trung xoáy vào một điểm “lấy ít nói nhiều” (Bùi Việt Thắng, 2000, tr.73) Chọn lọc lấy

những điểm quan trọng, bản chất nhất của nhân sinh, xã hội, mỗi truyện ngắn thể hiện một góc nhìn của nhà văn về thế giới, giúp cho người đọc thông qua lăng kính của chủ thể tác giả, nhận ra một triết lý sâu sắc hoặc có một ấn tượng sâu đậm về con người, cuộc đời Khi tập hợp góc nhìn của các tác giả, ta sẽ có bức tranh toàn cảnh về một xã hội nhất định, trong thời điểm nhất định

1.1.2.2 Tình huống truyện

Truyện ngắn không ôm đồm nhiều cảnh trí, hành động để làm phông nền cho nhân vật mà chọn lọc một tình huống đắt giá nhất để dẫn dắt câu chuyện Có những truyện ngắn chứa nhiều tình huống, nhưng sẽ có một tình huống làm chủ đạo và các tình huống khác trở thành thứ yếu, với mục đích hỗ trợ cho mạch truyện Vì giới hạn trong tính chất

“ngắn” nên tình huống truyện phải là một sự kiện đặc biệt của đời sống được nhà văn

sáng tạo trong tác phẩm theo lối “lạ hoá” Theo Edgar Poe, “truyện ngắn xoay quanh một

ý tưởng hoặc một ấn tượng, các hiệu ứng phải quy về một mối với các khái niệm: ấn tượng trội, chi tiết cực điểm, khí quyển đặc biệt” (như trích dẫn ở Lê Lưu Oanh & Phạm

Đăng Dư, 2008, tr.174) Đặc biệt trong truyện ngắn “cuộc sống bị dồn nén cao, có cái đột

ngột của bí mật, cường độ của nhận thức” (Lê Lưu Oanh & Phạm Đăng Dư, 2008,

tr.174) Để nắm bắt được những yêu cầu đó đòi hỏi người cầm bút phải có trình độ thuần thục và điêu luyện trong tư duy lẫn lối viết Nhà văn phải làm sống dậy trong sự kiện một tình thế bất thường của quan hệ đời sống Tại sự kiện ấy bản chất của nhân vật hiện hình sắc nét, ý tưởng của tác giả cũng bộc lộ trọn vẹn

1.1.2.3 Nhân vật trong truyện ngắn

Chỉ chú trọng ở những nét bản chất nhất của cuộc sống nên tuyến nhân vật của truyện ngắn ít hơn tiểu thuyết Nếu tiểu thuyết là một thế giới với hàng trăm ngàn nhân vật thì nhân vật trong truyện ngắn chỉ là chiếm một con số rất nhỏ của thế giới đó Các nhà văn

Trang 24

chọn ra những gương mặt gần gũi nhất, có tác động trực tiếp đến nhân vật chính để dựng lên chân dung nhân vật Vì thế, dù số lượng ít nhưng nhân vật của truyện ngắn dù chính hay phụ đều có những vị trí quan trọng trong ý đồ sáng tác của tác giả

Truyện ngắn thường không nhằm tới việc khắc họa những tính cách điển hình có cá tính, hay là tính cách nhiều mặt trong tương quan với hoàn cảnh Nhân vật trong truyện ngắn thường là hiện thân của một trạng thái quan hệ xã hội, ý thức xã hội hoặc trạng thái

tồn tại của con người “Nhân vật được miêu tả ở những khía cạnh nổi bật nhất, đặc biệt

là trong những tình huống bắt buộc nhân vật phải tự bộc lộ, phải hành động” (Lê Lưu

Oanh & Phạm Đăng Dư, 2008, tr.173)

1.1.2.4 Cốt truyện

Cốt truyện của truyện ngắn có thể gay cấn, hấp dẫn cũng có thể trữ tình như một bài thơ Điểm quan trọng nhất của truyện ngắn đó là chi tiết Những chi tiết nhỏ nhưng phải

ẩn chứa chiều sâu chưa nói hết, mang tín hiệu đa tầng Mỗi lần độc giả tiến hành giải mã

là một lần khám phá được bí mật tác giả gửi gắm trong nó Mà muốn có được những chi tiết đắt giá như vậy, bắt buộc nhà văn phải có kĩ thuật viết điêu luyện, kiệm lời, viết theo nguyên tắc “tảng băng trôi” của Hemingway Điều này dẫn tới thủ pháp thường được

dùng trong truyện ngắn là cách viết ngầm ẩn, khách quan, có thể “nâng cả thế giới lên chỉ

với một vài dòng chữ” (Claude Bourgeyx, như trích dẫn ở Phạm Thị Thật, 2009, tr.55)

1.1.2.5 Không gian, thời gian

Không gian trong truyện ngắn không dàn trải rộng lớn mà chỉ có thể bao quát không gian hẹp ở một địa điểm nhất định Thời gian trong truyện ngắn không phản ánh cả quá trình mà xoay quanh thời điểm nơi mà diễn ra sự kiện tiêu biểu nhất của đời sống Thời gian không gian bị thu hẹp so với tiểu thuyết nhưng chính sự thu hẹp phạm vi đó lại phát hiện được thời khắc hoặc không gian có ý nghĩa, dồn nén sức nặng hiện thực, tác động mạnh mẽ lên nhân vật, tạo ra một cốt truyện đầy hấp dẫn và sâu sắc

Do đề cao khoảnh khắc vàng của thời điểm nên kết cấu truyện ngắn thường có những bất ngờ đột biến hoặc tương phản, hoặc liên tưởng Tốc độ của truyện ngắn nhanh, đi liền với độ căng của sự kiện bắt buộc nhân vật phải bộc lộ lập tức Bút pháp thường mang

Trang 25

tính chất chấm phá Vì vậy truyện có khối lượng nhỏ nhưng vẫn có khả năng tổng hợp chất thơ, kịch, ngụ ngôn, triết lí

1.1.2.6 Mối quan hệ giữa truyện ngắn và báo chí

Một đặc trưng cần phải nói đến của truyện ngắn chính là mối liên kết chặt chẽ của nó với báo chí Nhà nghiên cứu Phạm Xuân Nguyên trong bài viết “Tôi đã đọc và thấy”

(Báo Tuổi Trẻ Chủ Nhật xuất bản ngày 1/10/2005) cho rằng: “Truyện ngắn là thể loại cơ

động, trực chiến của một nền văn học Hằng ngày, hằng tuần cơ man là báo chí tung ra thị trường với không ít các truyện ngắn được đăng tải”

Lợi thế của truyện ngắn chính là “ngắn” - một hình thức phù hợp với quỹ thời gian ít

ỏi và nhịp điệu gấp gáp của người đọc hiện đại Ngày nay, với sự phát triển của công nghệ thông tin, sự tiến hộ của công nghệ in ấn, độc giả có thể đến với văn học bằng nhiều con đường, không chỉ thông qua báo chí Thêm vào đó, với nhịp sống hiện đại, con người

có nhu cầu với những thông tin cập nhật nhất, ngắn gọn mà chính xác nhất hơn là những thông tin cần nhiều thời gian để đọc và suy ngẫm Trước xu hướng tiếp nhận thông tin như vậy, báo chí bước vào cuộc chạy đua với tin tức, chủ yếu mang đến những dòng thông tin nóng hổi, súc tích, dễ nắm bắt Từ những lý do như vậy, mảng văn học trên báo ngày càng bị giản lược, những tờ nhật báo đã cắt bỏ mục này, chỉ có thể đọc ở một số tờ báo chuyên ngành hoặc báo tuần, tháng… Trong bối cảnh văn học trên báo chí ngày càng thu hẹp như vậy, những thể loại dài hơi như tiểu thuyết, sử thi, trường ca… rất khó xuất hiện trên báo chí Chỉ có những hình thức ngắn lên ngôi Nếu như tản văn, tạp văn mang đến những dòng tự sự có tính chất vụn vặt, nặng cảm xúc, kinh nghiệm cá nhân thì truyện ngắn với ngoài yếu tố “truyện kể” hấp dẫn, lôi cuốn còn chỉ ra được những hiện tượng, sự kiện gây chú ý của thời cuộc, giúp người đọc bao quát được hơi thở của một thời đại đang tiếp diễn

Có thể thấy báo chí luôn dành ưu ái cho thể loại truyện ngắn Theo William Boyd,

nhuận bút một tờ báo trả cho truyện ngắn được đăng càng ngày càng cao “Trong những

năm 1920, Scott Fitzgerald từng được tờ Saturday Evening Post trả 4.000 USD cho chỉ một truyện ngắn Bạn phải nhân lên ít nhất 20 lần nữa thì mới biết được “tầm vóc” của

Trang 26

khoản nhuận bút này so với giá trị đồng tiền hôm nay” (William Boyd, Hà Linh dịch,

2006) Ngoài ra các tờ báo thường tổ chức những cuộc thi sáng tác văn học giúp người viết có điều kiện giao lưu, phô diễn tài năng Những cuộc thi này vừa phát hiện những cây bút tiềm năng vừa tăng lượng tương tác với đơn vị tổ chức, tạo nên mối quan hệ khăng khít giữa truyện ngắn và báo chí

Nhờ sức lan tỏa mạnh của báo chí nên đội ngũ tác giả viết truyện ngắn cũng đông đảo,

từ cây bút chuyên nghiệp, bán chuyên đến không chuyên, thuộc nhiều ngành nghề, tầng lớp, độ tuổi trong xã hội Nội dung của truyện ngắn trên báo thường bám sát các vấn đề thời sự, phù hợp với tầm đón đợi của độc giả Tóm lại, truyện ngắn là một thể loại dân chủ, gần gũi với đời sống hằng ngày, súc tích, dễ đọc, gắn liền với hoạt động báo chí, có tác dụng ảnh hưởng kịp thời trong đời sống Trong thời đại internet và mạng xã hội đang chiếm lĩnh đời sống, tiểu thuyết sau nhiều năm chiếm lĩnh ngôi vương ở địa hạt văn học dần dần bị suy thoái Thế giới đang đón chờ một thế hệ nhà văn trẻ trưởng thành, chắc tay bút hơn để tạo nên những thiên tiểu thuyết vĩ đại Và trong thời gian chờ đợi đó, truyện ngắn có thể là bước đệm để những nhà văn trẻ thử sức rồi vươn lên hoặc tìm thấy duyên may của mình ở thể loại văn học hiện đại, năng động này

1.1.3 Đôi nét về truyện ngắn Việt Nam

Trong cuốn Truyện ngắn Việt Nam : Lịch sử - Thi pháp – Chân dung (Phan Cự Đệ

chủ biên, 2007), những nhà nghiên cứu đã khái quát về lịch sử và thành tựu của truyện ngắn Việt Nam Các tác giả biên soạn xếp những hình thức tự sự, có nhân vật và cốt truyện, quy mô nhỏ vào nhóm truyện ngắn Theo tiêu chí đó, lịch sử truyện ngắn của Việt

Nam từ thời kì trung đại đến cuối thế kỉ XX vô cùng đồ sộ Những tập truyện như Lĩnh

Nam chích quái, Thiền uyển tập anh, Nam Ông mộng lục, Truyền kì mạn lục, Lan Trì kiến văn lục là di sản quý báu người xưa để lại Truyện ngắn của thời kì trung đại thì có

các xu hướng như: sưu tầm, ghi chép, cải biên các truyện dân gian, truyện về các nhân vật, sự kiện lịch sử, hoặc truyện về cuộc sống đời thường Truyện của thời kì này thường

đi theo những mô – tip phổ biến, lối viết ước lệ, có yếu tố kì ảo… Những đặc điểm này khiến truyện ngắn trung đại khác xa với truyện ngắn hiện đại

Trang 27

Có thể thấy, truyện ngắn truyền thống và truyện ngắn hiện đại tuy đều dùng phương thức tự sự để sáng tác, các yếu tố cốt truyện, nhân vật, sự kiện vẫn đảm bảo để triển khai thành một tác phẩm văn học Chúng có những điểm giống nhưng không trùng

khít nhau về cách tư duy, kể tả và đối tượng phản ánh Nhóm biên soạn của cuốn Truyện

ngắn Việt Nam : Lịch sử - Thi pháp – Chân dung cũng thừa nhận, thời trung đại chưa có

khái niệm truyện ngắn mà mỗi thể loại có một tên gọi riêng như lục, ngữ, ngữ lục, tập, chí, kí… Theo đó, truyện ngắn trung đại là một cách gọi tương đối nhằm gom những tác phẩm sáng tác theo phương thức tự sự vào một nhóm có tính chất tương đồng với truyện ngắn hiện nay

Các tác giả xác nhận phải đến những năm 80 của thế kỉ XIX, khi Truyện thầy

Lazaro Phiền của Nguyễn Trọng Quản xuất hiện trên văn đàn thì truyện ngắn đầu tiên ở

Việt Nam viết theo kiểu Tây phương mới ra đời Truyện được ca ngợi là “con chim lạ từ

phương Tây đáp xuống một vùng đất còn vắng bóng đồng loại” và “nổi lên như một ốc đảo chơi vơi vào nửa sau thế kỉ XIX mà ở cả Việt Nam” ( Bằng Giang, 1992, tr.303)

Tuy nhiên cũng có nhiều ý kiến cho rằng Truyện thầy Lazaro Phiền không nên gọi

là truyện ngắn khi đối chiếu với đặc trưng của thể loại này Truyện gói gọn trong 32 trang nhưng gần với tiểu thuyết hơn vì lối viết không hướng tới sự hàm súc, cách kể chậm rãi, thuật lại số phận bi kịch của một con người trong xã hội bế tắc Một số người cho rằng

Truyện thầy Lazaro Phiền nên được xếp vào thể loại truyện vừa là hợp lý nhất vì tính

chất giao thoa của nó Truyện thầy Lazaro Phiền phản ánh hiện tượng nhập nhằng giữa

hai thể loại truyện ngắn và tiểu thuyết cũng như phản ánh được những bước chuyển mình đầy bỡ ngỡ trong buổi đầu hiện đại hóa nền văn học của dân tộc

Nhiều ý kiến cho rằng phải đến truyện “Sống chết mặc bay” của Phạm Duy Tốn (đăng tải trên báo Nam Phong vào tháng 12 năm 1918) mới là truyện ngắn đầu tiên của nước ta Thực tế thì trước đó, trên tạp chí Nam Phong đã đăng 24 truyện ngắn của phương Tây, Phạm Quỳnh giới thiệu “truyện dịch sau này là thuộc về lối đoản thiên tiểu

thuyết Lối ấy cũng là một lối hay trong văn chương phương Tây, các văn sĩ ta có thể bắt chước mà làm bằng tiếng Nôm” (như trích dẫn ở Phan Cự Đệ chủ biên, 2007, tr.248) Để

cổ vũ các nhà văn trong nước viết theo lối mới này, từ số 7 (tháng 1 – 1918) tạp chí Nam

Trang 28

Phong đã tổ chức một cuộc thi sáng tác truyện ngắn theo hướng bắt chước phương Tây

Mấy thập niên đầu thế kỉ XX, thuật ngữ đoản thiên tiểu thuyết được dùng phổ biến Cách gọi này được lấy lại của Trung Quốc, đặt trong so sánh tương quan với trường thiên tiểu

thuyết Đến số 193 năm 1933, với truyện ngắn Tuyết Nga của Tùng Toàn và Mẹ con tôi

không mặc được xống nâu của Lê Đức Nhượng, Nam Phong chính thức khai sinh thuật

ngữ mới : truyện ngắn (Phan Cự Đệ chủ biên, 2007, tr.249)

Vì khái niệm truyện ngắn vẫn đang bỏ ngỏ nên việc xác định truyện ngắn nào là khởi đầu cho thể loại này ở Việt Nam còn có nhiều tranh cãi Nhưng có thể thấy được từ đầu thế kỉ XX, khi văn hóa phương Tây du nhập vào Việt Nam dẫn tới nền văn học nước

ta bước vào giai đoạn hiện đại hóa thì truyện ngắn cũng chính thức xuất hiện Thế hệ văn

sĩ của nước ta thời kì đó đã hưởng ứng và đóng góp công sức to lớn trong việc đưa truyện ngắn đến với đời sống văn học Việt Nam Những tác phẩm dịch từ phương Tây, Trung Quốc kết hợp với nguồn truyện dân gian, truyện trung đại của dân tộc chính là nền tảng

để các nhà văn sáng tạo Truyện ngắn hiện đại Việt Nam buổi đầu ra đời được dung hòa

giữa văn hóa phương Tây và phương Đông “vừa mang thi pháp của truyện ngắn hiện đại

vừa chịu ảnh hưởng của thi pháp truyền kì trung đại, vừa có cái lạc quan, khỏe khoắn của văn học dân gian, lại vừa có vẻ đẹp trí tuệ của tư duy hiện đại” (Phan Cự Đệ chủ

biên, 2007, tr 250)

Từ lúc ra đời đến nay, sự phát triển của truyện ngắn hiện đại Việt Nam không nằm

ngoài con đường phát triển của nền văn học dân tộc Cuốn Truyện ngắn Việt Nam : Lịch

sử - Thi pháp – Chân dung, chia ra bốn thời kì phát triển của truyện ngắn trong nước như

sau: thời kì 1900 – 1932, thời kì 1932 – 1945, thời kì 1945 – 1975, thời kì 1975 – 2006 Tham khảo cách phân chia này, người viết bổ sung thêm giai đoạn sau 2006, như vậy ở thời kì thứ 4 chia lại là từ 1975 đến nay

Giai đoạn đầu 1900 – 1932 là thời điểm truyện ngắn hiện đại hình thành Thời kì này, văn hóa phương Tây xâm nhập vào nước ta, dẫn đến văn chương có tính chất giao thoa giữa truyền thống phương Đông và hiện đại của phương Tây Sự ra đời của chữ Quốc ngữ cùng với việc hàng loạt tờ báo được thành lập đã giúp cho tiểu thuyết và truyện ngắn phát triển mạnh, thỏa mãn nhu cầu giải trí của tầng lớp thị dân

Trang 29

Cuốn Văn học Việt Nam (1930 – 1945) có trích lại lời của một nhân chứng về văn đàn Việt Nam đầu thế kỉ XX rằng: “Truyện ngắn và tiểu thuyết quả đã gây ra một không

khí nhộn nhịp Truyện in báo, truyện ra thành sách Câu văn gọn dần Chữ thêm nghĩa mới Chữ mới cũng thêm” (Phan Cự Đệ, Trần Đình Hượu, Nguyễn Trác, Nguyễn Hoành

Khung, Lê Chí Dũng & Hà Văn Đức, 1998, tr 219) Nhận xét này cho thấy, ngay từ lúc ra đời, truyện ngắn đã gây được sự chú ý mạnh mẽ cho công chúng Bên cạnh những yếu tố

kể chuyện truyền thống như câu văn hoa mĩ, xen những chi tiết ước lệ, sự đổi mới trong ngôi kể, đan xen đối thoại trong lời kể, bước đầu đi vào khai thác diễn biến tâm lý… đã khiến truyện ngắn có sự mới mẻ so với những truyện nghĩa hiệp Trung Quốc, tiểu thuyết Minh Thanh, truyện thơ Nôm của Nguyễn Đình Chiểu

Những tên tuổi viết truyện ngắn tiêu biểu của thời kì này có thể kể đến Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bá Học, Hồ Biểu Chánh, Trần Quang Nghiệp, Nguyễn Mạnh Bổng, Nguyễn Công Hoan… Trong đó Phạm Duy Tốn và Nguyễn Bá Học được coi là những người tiên phong mở lối cho những thành tựu rực rỡ của nền văn học Việt Nam cách tân

giai đoạn sau này Nguyễn Bá Học có bảy truyện ngắn viết trong ba năm: Câu chuyện gia

đình, Chuyện ông lý Chắm, Có gan làm giàu, Câu chuyện nhà sư, Dư sinh lịch hiểm ký, Chuyện cô chiêu Nhì, câu chuyện một tối của người tân hôn Truyện của ông dù được coi

là văn mới nhưng vẫn được viết theo phong cách trang trọng và cổ điển Theo Thanh Lãng thì Nguyễn Bá Học muốn duy trì những nền nếp đạo đức Nho giáo cổ truyền và cổ súy cho điều đó thông qua các tác phẩm của mình Còn Phạm Duy Tốn với những truyện

như Nước đời lắm nỗi, Con người Sở Khanh, Bực mình, Sống chết mặc bay muốn cải

cách xã hội, nên các tác phẩm của ông thường có khuynh hướng hòa nhập vào xã hội hiện thực rất rõ ràng, sâu sắc

Tiếp nối con đường phát triển truyện ngắn mà Phạm Duy Tốn và Nguyễn Bá Học

đã khai mở, Nguyễn Công Hoan bắt đầu sáng tác và tạo nên những dấu ấn đặc biệt trên văn đàn Việt Nam Từ 1932 về trước, ông viết một số truyện ngắn dùng tiếng cười để phê

phán xã hội đương thời như: Kiếp hồng nhan (1923), Răng con chó của nhà tư sản (đăng

An nam tạp chí số 23 năm 1931 với nhan đề Răng con vật nhà tư bản), Hai thằng khốn nạn (1930), Thật là phúc (1931), Người ngựa, ngựa người (1931), Thế là mợ nó đi tây

Trang 30

(1932), Xin chữ cụ nghè (1932) Truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan hấp dẫn ở tình

huống truyện đắt giá, cách dẫn truyện luôn có cao trào và giải quyết bằng một kết thúc đột ngột, trái khoáy, gây một ấn tượng sâu sắc đến độc giả Các nhà nghiên cứu văn học đánh giá cao vị trí của ông trong tiến trình hiện đại hóa văn học dân tộc, đặc biệt là đóng góp cho truyện ngắn và ngôn ngữ nghệ thuật hiện đại của Việt Nam

Giai đoạn 1932 – 1945, văn học Việt Nam phát triển vô cùng sôi động Phong trào Thơ mới ra đời và thu hút đông đảo nhà thơ tham gia tạo nên một làn sóng mới cách tân thơ ca, cùng với đó bên mảng văn xuôi, các cây bút của nhóm Tự Lực văn đoàn cũng tích cực ra mắt hàng loạt tiểu thuyết tân kì, khiến cho dòng văn học lãng mạn phổ biến rộng rãi ở Việt Nam Ở xu hướng hiện thực phê phán, ta cũng có một loạt nhà văn xuất chúng như: Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng, Thạch Lam, Nam Cao… Trong số những tên tuổi trên, rất nhiều tác giả viết tích cực ở cả hai mảng tiểu thuyết và truyện ngắn Mang tính thời sự và gắn liền với báo chí, truyện ngắn thời kì này đã kịp thời phản ánh sâu sắc những vấn đề diễn ra trong nước Cái nghèo đói, thân phận tủi nhục, bế tắc của con người, sự tha hóa nhân cách, suy đồi văn hóa là những đề tài lớn của các nhà văn Tiếp nối con đường của thời kì trước, truyện ngắn của Nguyễn

Công Hoan vẫn sử dụng tiếng cười trào phúng để châm biếm xã hội Tập truyện Kép Tư

Bền (1935) và các tác phẩm khác như: Oẳn tà roằn (1937), Vợ (1937), Tinh thần thể dục

(1939), Phành phạch (1939) là những truyện ngắn xuất sắc của ông Nguyễn Công Hoan cũng viết cả tiểu thuyết và có một số tác phẩm thành công như Bước đường cùng, nhưng

truyện ngắn vẫn là nơi ông thể hiện được tài năng và dấu ấn của mình

Một tên tuổi nữa thành công trong thể loại truyện ngắn là Thạch Lam Ông viết ba

tập truyện Gió lạnh đầu mùa (1937), Nắng trong vườn (1938), Sợi tóc (1942) Khác với

phong cách truyện ngắn có mâu thuẫn trào phúng và kết thúc gây bất ngờ của Nguyễn Công Hoan, truyện ngắn của Thạch Lam không đề cao cốt truyện mà đi vào tâm lý nhân vật Truyện của Thạch Lam luôn tình cảm, đậm chất thơ và có những chi tiết sống động, tinh tế Giọng văn êm ái, nhẹ nhàng, Thạch Lam kể những câu chuyện về thân phận nghèo khổ, buồn bã của con người và sự bất bình đẳng của xã hội trong cái nhìn nhân hậu, đầy thương cảm

Trang 31

So với những nhà văn cùng thời, Nam Cao bắt đầu sự nghiệp sáng tác khá muộn

Đến năm 1941, với truyện ngắn Chí Phèo, Nam Cao khẳng định vị trí đầu tàu của mình

trên văn đàn Việt Nam Với ba tiểu thuyết và rất nhiều truyện ngắn xuất sắc, viết về đề tài người nông dân và trí thức tiểu tư sản cùng với những vấn đề nổi cộm trong đời sống của

họ là miếng ăn, lẽ sống, nhân cách… Nam Cao được nhiều nhà nghiên cứu đánh giá rất cao Lối viết khách quan, lạnh lùng nhưng ẩn chứa tình thương sâu sắc và nghệ thuật miêu tả tầng bậc thế giới nội tâm phức tạp của nhân vật đầy điêu luyện đã tạo nên một phong cách truyện ngắn độc đáo cho nhà văn

Từ 1945 – 1975, đất nước bước vào hai cuộc kháng chiến vệ quốc Văn học trở thành một công cụ chính trị, dùng để khích lệ tinh thần chiến đấu của toàn dân và lên án tội ác của thực dân, đế quốc Truyện ngắn của giai đoạn này được sáng tác theo định hướng chung của phương pháp sáng tác xã hội chủ nghĩa Các nhà văn tiêu biểu của thời

kì này là: Nguyễn Tuân, Nguyên Ngọc, Nguyễn Thi, Nguyễn Quang Sáng, Anh Đức, Giang Nam, Phan Tứ, Nguyễn Minh Châu … Truyện ngắn giai đoạn này đi theo công thức chung, phản ánh hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mĩ, miêu tả công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa của đất nước Sáng tác theo cảm hứng lãng mạn và khuynh hướng

sử thi, con người trong truyện ngắn giai đoạn này có xu hướng được lý tưởng hóa, lãng mạn hóa, vượt lên hoàn cảnh gian khó để thực hiện những mục tiêu chung của thời đại Ở miền Nam, một số nhà văn nổi bật có sức viết dồi dào như: Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc,

Võ Phiến, Dương Nghiễm Mậu …

Từ sau 1975, đặc biệt là từ cuộc đổi mới toàn diện đất nước năm 1986, văn học được cởi trói, có những bước chuyển mình về phương thức sáng tác Truyện ngắn cũng hòa vào dòng chảy đó để tìm cho mình những lối đi mới Những nhà văn bước ra từ chiến tranh như Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải đã nhanh chóng hòa nhập vào không khí đổi mới, thổi nguồn sinh khí mới cho văn học nói chung và truyện ngắn nói riêng Sau 1975, nhìn chung truyện ngắn không còn đi theo lối mòn trong phương pháp sáng tác mà bắt đầu tự do và phá cách Trên con đường chuyển đổi cơ chế kinh tế kéo theo sự thay đổi trong văn hóa, đạo đức, dư âm của cuộc chiến, những vấn đề nhức nhối của đất nước, những tự vấn, khát khao, bế tắc và diễn biến phức tạp trong tâm lý con người: tất cả được

Trang 32

đưa vào trong truyện ngắn Những năm đầu sau thống nhất đất nước, có một số tác giả

nổi bật như Nguyễn Minh Châu với hai tập truyện ngắn Người đàn bà trên chuyến tàu tốc

hành (1983), Bến quê (1985), Nguyễn Khải với Một người Hà Nội (1990), ngoài ra, còn

một số tác giả nổi bật như Ma Văn Kháng Nguyễn Dậu, Vũ Bão, Nguyễn Kiên, Mai Ngữ,

Đỗ Chu, Dương Duy Ngữ, Phạm Hoa, Xuân Thiều

Bước sang thập niên 90 của thế kỉ XX, hàng loạt cây bút viết truyện ngắn xuất hiện như: Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Tạ Duy Anh, Bảo Ninh, Phạm Ngọc Tiến, Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Quang Lập, Hồ Anh Thái, Ngô Tự Lập, Sương Nguyệt Minh, Phan Triều Hải, Hòa Vang, Lưu Sơn Minh… Với thế hệ này truyện ngắn thật sự chuyển hướng trong tư duy, đi sâu vào khám phá những vấn đề về hiện thực và tâm lý con người Các nhà văn cũng sử dụng lối viết mới, bắt nhịp với những trào lưu sáng tác trên thế giới

Nguyễn Huy Thiệp với truyện ngắn đầu tay Tướng về hưu (báo Văn Nghệ, in ngày

20/6/1987) được nhiều người xem là dấu mốc khởi đầu cho công cuộc đổi mới văn học

Việt Nam Đây là truyện mà Nguyễn Huy Thiệp cho rằng “có tính chất bạo động về ngôn

ngữ”, thoát khỏi lối viết hô hào, cổ động của dòng văn học “minh họa” của thời kì trước

Sau Tướng về hưu, Nguyễn Huy Thiệp còn viết một loạt truyện ngắn mà ông tự nhận là

“đổi mới triệt để” như: Không có vua, Con gái thủy thần, Những người thợ xẻ, bộ ba truyện giả lịch sử Kiếm sắc, Vàng lửa, Phẩm tiết Truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp có

hành văn ngắn gọn, lạnh lùng, ít khi biểu lộ cảm xúc Truyện của ông thường kết thúc

mở, trao quyền quyết định số phận nhân vật cho độc giả Nguyễn Huy Thiệp còn mang nhiều yếu tố giễu nhại vào truyện, từ “nhại” cổ tích cho đến lịch sử Nhân vật của ông thường có ít nhiều yếu tố nghịch dị hoặc mang ẩn ức tính dục… Đổi mới trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp không chỉ thể hiện trong một vài câu chữ lạ lẫm, kết cấu ngược với truyền thống mà quan trọng là sự thay đổi của tư duy nghệ thuật Không còn bóng dáng những con người mang tầm vóc kì vĩ vượt hoàn cảnh, con người trong truyện của Nguyễn Huy Thiệp là những thân phận cô đơn, lạc loài, con người luôn tự vấn về sự tồn tại của mình trong một xã hội đảo lộn các giá trị đạo đức truyền thống

Trang 33

Lã Nguyên nhận xét: “Nếu Nguyễn Huy Thiệp là nhà văn của những câu chuyện

về cái vô nghĩa của thế sự nhân sinh, thì Phạm Thị Hoài là cây bút của những bức tranh

về một nhân loại vô hồn” (Lã Nguyên, 2011, đoạn 2)

Cùng thời với Nguyễn Huy Thiệp, nhà văn Phạm Thị Hoài cũng là một tên tuổi lớn, có đóng góp đáng kể đến việc cách tân lối viết và tư duy nghệ thuật Văn chương của Phạm Thị Hoài là một trò chơi “vô tăm tích”, nhà văn không viết những điều dễ dãi để

giải trí hay những điều hào nhoáng để được ngợi ca Hai tập truyện Mê Lộ (1989) và Man

Nương (1995) có những sáng tác gần như không có cốt truyện, không gian thời gian rất

tình cờ, nhân vật như hờ hững không rõ nét, thậm chí một vài truyện bị nhiều người cho

là “dung tục” Điểm nhìn trong truyện của Phạm Thị Hoài, theo Thụy Khê là:

“Hai chiều vào một hiện tượng: đi từ ngoại cảnh đến nội tâm, hoặc ngược lại Lối nhìn mới ấy cho phép độc giả tiếp nhận một lúc cả hai khía cạnh: khía cạnh khách quan (nhìn từ bên ngoài của người viết) và khía cạnh chủ quan (nhìn từ bên trong của chính hiện tượng vừa được viết ra)” (Thụy Khuê, 1993, đoạn mở đầu)

Có thể nói truyện của Phạm Thị Hoài gần với văn học hậu hiện đại trên thế giới

Bà và Nguyễn Huy Thiệp là hai nhân tố quan trọng trong công cuộc đổi mới văn chương Việt Nam Ngoài Nguyễn Huy Thiệp và Phạm Thị Hoài, có một số tác giả tiêu biểu của giai đoạn sau 1986 như Y Ban, Tạ Duy Anh, Nguyễn Quang Thiều…

Đội ngũ nhà văn viết truyện ngắn giai đoạn này rất đông đảo, đặc biệt đội ngũ tác giả nữ nở rộ như một vườn hoa với nhiều màu sắc cá tính khác nhau Có thể liệt kê một

số gương mặt để lại nhiều dấu ấn với công chúng như: Đoàn Lê, Lê Minh Khuê, Dạ Ngân, Trần Thùy Mai, Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Thị Thu Huệ, Võ Thị Hảo, Võ Thị Xuân Hà, Nguyễn Thị Ấm, Y Ban, Lý Lan…

Từ 1975 đến 2005, văn chương hiện đại Việt Nam phát triển mạnh mẽ, sản sinh ra hàng loạt nhà văn với những tác phẩm khá thành công Trong lĩnh vực truyện ngắn, có những cách tân về nghệ thuật trần thuật: viết theo “dòng ý thức”, “cách viết tự động”, pha trộn nghệ thuật điện ảnh, sử dụng yếu tố trực giác, ấn tượng, huyền ảo, tâm linh, vô thức, tiềm thức để khắc hoạ tính cách và tâm lý nhân vật

Trang 34

Hiện nay, những nhà văn viết truyện ngắn nổi bật có thể kể đến như Ngô Phan Lưu, Phong Điệp, Đỗ Bích Thúy, Phạm Duy Nghĩa, Nguyễn Ngọc Thuần, Đỗ Hoàng Diệu, Trần Nhã Thụy, Nguyễn Ngọc Tư, Nguyễn Danh Lam… Những tác giả này tuổi đời lẫn tuổi nghề không còn trẻ và đã đạt được những thành công trong một vài cuộc thi viết truyện ngắn trên báo Từ khoảng năm 2010 trở lại đây, có thêm một vài nhà văn trẻ như Lê Minh Phong, Nguyễn Thiên Ngân, Lê Minh Nhựt, Nhật Phi…

Với sự phát triển của mạng xã hội và báo điện tử, người yêu thích viết lách có nhiều cơ hội để truyền bá tác phẩm của mình Những năm gần đây, xuất hiện khá đông đảo đội ngũ cây viết trẻ nổi lên nhờ blog, facebook như Từ Nữ Triệu Vương, Hà Kin, Gào, Anh Khang… Tuy nhiên những tác phẩm này đa số chạy theo xu hướng “thị trường”, văn chương mang tính “thời trang” với những câu văn khá “sến”, nội dung đa số xoay quanh chuyện tình yêu của giới trẻ để thu hút lực lượng độc giả tuổi “teen”

Từ khoảng năm 2010 đến nay, truyện ngắn Việt Nam vẫn ồ ạt xuất hiện trên khắp các kênh truyền thông như báo chí, mạng xã hội, radio… Đội ngũ nhà văn 7x không còn trẻ tuổi, họ vẫn miệt mài sáng tác nhưng chưa thật sự có những tác phẩm xuất sắc, tạo

nên diễn đàn tranh luận như hiện tượng Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư hay tập truyện Bóng đè của Đỗ Hoàng Diệu ở những năm 2005 - 2006 Lực lượng sáng tác 8x, 9x

thì khá đông đảo, khối lượng sáng tác cũng nhiều nhưng chất lượng lại không cao, bị

đánh giá là khá “dễ dãi” Các tờ báo như Văn nghệ, Quân đội nhân dân, Sài Gòn giải

phóng, Tuổi trẻ vẫn thường xuyên tổ chức các cuộc thi sáng tác văn học để tìm kiếm tài

năng và gương mặt mới, tuy nhiên những cuộc thi này chưa thật sự gây được tiếng vang trong xã hội và các sáng tác đạt giải chưa tạo được ấn tượng mạnh với công chúng

Trong cuộc thi sáng tác truyện ngắn do tạp chí Văn nghệ quân đội tổ chức, tác giả Nguyễn Phú nhận xét: “Truyện ngắn Việt Nam đang phát triển theo chiều rộng mà chưa

vươn xa, vươn nhanh; còn nông, chưa có độ sâu… Đội ngũ cầm bút đông đảo nhưng chưa thực sự có những tác giả lớn” (Đỗ Tiến Thụy, 2009, phần phỏng vấn tác giả

Nguyễn Phú) Đây là một nhận định khá chính xác với tình hình truyện ngắn Việt Nam hiện tại

Trang 35

Cùng trăn trở với ban tổ chức cuộc thi viết truyện ngắn báo Văn nghệ quân đội, trong buổi tọa đàm về cuộc thi viết truyện ngắn do báo Văn nghệ tổ chức, các nhà văn,

nhà nghiên cứu có tên tuổi như: nhà văn Sương Nguyệt Minh, Khuất Quang Thụy, Nguyễn Trí Huân, nhà thơ Nguyễn Việt Chiến, nhà phê bình Cao Việt Dũng, Nguyễn Chí Hoan… đều cho rằng sức hút của các cuộc thi đã giảm sút, chất lượng truyện ngắn gửi đến cũng không đạt kì vọng Nhà phê bình Thanh Tùng nhận xét:

“Tôi thấy các tác giả truyện ngắn bây giờ thừa tinh tế, thiếu can đảm Tinh tế hiểu theo nghĩa là vòng vo, khéo léo về câu chữ Thiếu can đảm ở chỗ không dám viết những

gì khiến người đăng lên thấy gai cả người Hình như ai cũng tự biên tập mình quá kỹ lưỡng Không có ý tưởng nào thực sự xốc vác, vạm vỡ” (Nguyễn Khắc Trường, 2012)

Ý kiến của phê bình Cao Việt Dũng nhận được nhiều sự đồng tình trong buổi tọa đàm:

“Không hiểu có sự thay đổi gì về chất lượng truyện ngắn trong 20 năm qua hay không, bởi theo tôi, truyện ngắn trong thời cuối 80, đầu 90 ít nhưng phần lớn gây được

tiếng vang Chỉ cần một truyện thành công thì sẽ giúp báo Văn Nghệ tạo được cơn sốt

Nhưng đã lâu lắm rồi, không có nhà văn nào làm được điều đó” (Nguyễn Khắc Trường, 2012)

Có thể thấy các cuộc thi viết truyện ngắn không còn đủ hấp dẫn như ngày xưa, phần lớn cũng do chưa có tác phẩm nào thật sự đình đám và ấn tượng Tình trạng này không chỉ thể hiện trong các cuộc thi mà trong cả làng văn Việt Nam Đúng như nhà văn Nguyễn Khắc Trường khái quát:

“Có cảm giác nền văn học của ta lâu nay đứng im không chuyển động Có vẻ như các tác giả mới cảm thấy những gì cần nói đã nói hết, các mẹo viết người ta cũng đã dùng hết” (Nguyễn Khắc Trường, 2012)

Truyện ngắn Việt Nam giai đoạn hiện nay đang có dấu hiệu chững lại, một mặt do chiến lược thực dụng nhắm vào lợi nhuận của các nhà sách, nhà xuất bản khiến các nhà văn chân chính lép vế trước dòng văn học “thị trường” ăn khách, một mặt các cây bút trẻ vẫn chưa đủ độ chín về kinh nghiệm sống, chưa có những cái nhìn sắc sảo, độc đáo về xã hội, lối viết vẫn còn non, sa đà vào kể tả… Tuy vậy, không thể phủ nhận vẫn còn những

Trang 36

nhà văn đang miệt mài sáng tạo với nỗ lực đưa văn học nước nhà phát triển bắt kịp với thế giới như Nhật Chiêu, Lê Anh Hoài, Nguyễn Vĩnh Nguyên, Phong Điệp, Trần Nhã Thụy, Đặng Thân, Nhã Thuyên …

Điểm qua vài nét về lịch sử và quá trình phát triển của truyện ngắn Việt Nam, có thể thấy con đường đi của truyện ngắn trong nước gắn chặt với sự vận động của nền văn học dân tộc cũng như tình hình thời sự của đất nước Bắt đầu phát triển mạnh mẽ từ đầu thế kỉ XX, truyện ngắn Việt Nam đã đạt được một số thành tựu lớn, ghi nhận những tên tuổi và sáng tác xuất sắc mà từ nhiều thế hệ đến nay vẫn còn nhớ đến Từ những nhà văn lớn như Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Thạch Lam rồi đến Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Hồ Anh Thái… và rất nhiều tác giả tiêu biểu nữa đã tạo nên một diện mạo rực rỡ cho nền truyện ngắn Việt Nam Nhìn lại chặng đường đã qua và các tác giả, tác phẩm nổi bật ghi dấu trong lịch sử văn học, chúng ta có quyền hy vọng vào tương lai Truyện ngắn Việt Nam hiện tại đang “lấy đà” để bật lên với những sáng tác gây tiếng vang và chứa đựng sâu sắc các giá trị Chân – Thiện – Mỹ trong một ngày không xa

1.2.1 Báo Tuổi Trẻ Cuối Tuần: lịch sử, tôn chỉ, đặc trưng

1.2.1.1 Lịch sử phát triển

Tuổi Trẻ Cuối Tuần là tuần san của báo Tuổi Trẻ Đây là một trong những tờ báo

có lịch sử phát triển dày dặn ở Việt Nam Hiện nay, Tuổi Trẻ được biết đến với tư cách là

tên gọi chung cho một tổ hợp truyền thông đa phương tiện (bao gồm báo in, báo mạng,

truyền hình…) Cơ quan chủ quản của Tuổi Trẻ là Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí

Minh thành phố Hồ Chí Minh Trụ sở của báo đặt ở 60A, Hoàng Văn Thụ, phường 9,

quận Phú Nhuận Tổng biên tập hiện nay của Tuổi Trẻ là ông Lê Thế Chữ

Tuổi Trẻ Cuối Tuần ra đời từ năm 1983, ban đầu có tên là Tuổi Trẻ Chủ Nhật, năm

2006 đổi tên thành Tuổi Trẻ Cuối Tuần để có sự phân biệt với tờ nhật báo số ra ngày chủ nhật của Tuổi Trẻ ngày

Trang 37

Nhân sự kiện gặp gỡ thanh niên Việt – Xô năm 1982, lãnh đạo báo Tuổi Trẻ đã tranh thủ sự ủng hộ của Ban tuyên huấn Thành đoàn, xuất bản ba số “Tuổi Trẻ Chủ

Nhật” Tiếp đó ngày 17/2/1983, Tuổi Trẻ đề nghị được ra phụ bản “Tuổi Trẻ Chủ Nhật”

bên cạnh 3 số báo hằng tuần, số lượng 20.000 bản/kỳ, nhằm góp phần giải quyết việc bù

lỗ cho báo (số liệu dẫn theo Ban biên tập báo Tuổi Trẻ, 2015, tr72) Tuổi Trẻ Chủ Nhật ra

đời dựa trên phác thảo của nhà báo Lý Quý Chung, phụ trách chính là Nguyễn Trọng Chức (mảng văn hóa văn nghệ) và Lý Quý Chung (mảng thời sự, chính trị, quốc tế)

Số đầu tiên của Tuổi Trẻ Chủ Nhật là một số đặc biệt, xuất bản ngày 16/1/1983, có

24 trang, dành để giới thiệu về nền điện ảnh của Liên Xô Những người trực tiếp thực hiện số đầu tiên là Nguyễn Đức Thông, Cát Vũ, Võ Văn Điểm, Trần Trọng Thức, Nguyễn Văn Vinh và nhóm cộng tác Cao Thụy, Triệu Tú, Quốc Bảo, Minh Kha

Sau đó báo ra liên tiếp 5 số đặc biệt, mỗi tuần một chủ đề: số thứ 2 (ngày 23/1/1983) nói về thể thao Liên Xô, số thứ 3 (ra ngày 30/1/1983) là phụ bản đặc biệt về điện ảnh Việt Nam, số thứ 4 (ra ngày 27/2/1983) nói về sân khấu thành phố Hồ Chí Minh Số thứ 5 (ra ngày 6/3/1983) kỉ niệm ngày quốc tế phụ nữ 8/3 trong hai trang, những trang còn lại viết về chuyên đề thể thao Bắt đầu từ số thứ 6 (ra ngày 13/3/1983) chủ đề của tuần phong phú hơn, số trang cũng giảm xuống còn 16 trang, các đề mục chính của báo gồm: Một bài viết phỏng vấn nhân vật hoặc bàn luận về vấn đề nổi bật nhất trong tuần qua, Văn học nghệ thuật, Quốc tế, Bạn đọc và sức khỏe, Khoa học kỹ thuật, Câu lạc bộ bạn trẻ, Thể thao

Những chủ đề mà Tuổi Trẻ Chủ Nhật phân tích, bình luận đều mang tính thời sự,

các vấn đề nổi cộm trong nước thời điểm đó như: vấn đề du lịch nội địa, những thay đổi ở

phường, lương thực, chất lượng sản phẩm Đối tượng làm tin của Tuổi Trẻ Chủ Nhật

không chỉ giới hạn trong địa bàn thành phố Hồ Chí Minh mà vươn ra các địa phương khác

Ngày 17/10/1995, ban biên tập ban hành đề cương định hướng nội dung Tuổi Trẻ

Chủ Nhật với nhiều thay đổi về tính chất, nội dung cũng như cơ cấu của tuần báo, nhằm

tăng thông tin kiến thức với những vấn đề thời đại, giảm thông tin phản ánh, thời sự, đề

Trang 38

cao chất trẻ, sự liên hệ, tính đối tượng trẻ vận dụng khai thác mọi lĩnh vực (dẫn theo Ban

biên tập báo Tuổi Trẻ, 2015, tr.166 - 167)

Từ số ra ngày 9/4/2006, tuần báo Tuổi Trẻ Chủ Nhật đổi tên thành Tuổi Trẻ Cuối

Tuần, bình quân 60.000 tờ/kỳ Các chủ đề chính của báo vẫn giữ nguyên như cũ, gồm các

mục: Thời sự, Văn hóa – văn nghệ, Sống chất lượng hơn, Quốc tế Tuy nhiên, báo có cải

tiến về nội dung, giảm các bài nặng về lý thuyết, giáo khoa, tăng các bài về thực tế cuộc sống Các chuyên đề, các phóng sự xuất hiện đều đặn và có chất lượng vào mỗi số cuối tuần Nhiều chuyên đề, phóng sự điều tra gần gũi với cuộc sống như : ‘Bán “thành tích đạt chuẩn quốc gia”; “Những “khu công nghiệp” khiến nông dân tức tưởi”; “Những cánh

đồng hoang”… được bạn đọc quan tâm, thu hút thêm nhiều cây bút mới (Ban biên tập báo

Tuổi Trẻ, 2015, tr.195)

Từ ngày 1/1/2010, Tuổi Trẻ Cuối Tuần thay đổi toàn bộ trang mục nội dung bài vở với ba cụm chủ đề: Vấn đề và sự kiện, Cuộc sống muôn màu, Văn hóa giải trí Trong

những chủ đề, báo triển khai nhiều mục nhỏ

Ở chủ đề Vấn đề sự kiện có các mục con: Tiêu điểm, Thời sự quốc tế, Chuyên đề,

Bạn đọc

Cụm chủ đề Cuộc sống muôn màu có : Du lịch, Nhật ký thành phố,Câu chuyện

cuộc sống, Phóng sự ảnh, Cửa sổ khoa học, Hồ sơ, Sức khỏe, Thế giới không phẳng

Chủ đề Văn hóa giải trí có: Tạp bút, Truyện ngắn, Âm nhạc, Điện ảnh, Đọc sách

cùng bạn, Thể thao, Phiếm đàm, Thư giãn, Tiểu phẩm

Từ 2012- 2015, Tuổi Trẻ Cuối Tuần liên tục cải tiến về hình thức trang bìa để bắt mắt hơn Về nội dung, ba cụm đề tài Vấn đề và sự kiện, Cuộc sống muôn màu và Văn hóa

giải trí không chỉ đảm bảo được chất lượng mà còn bớt khô khan nhờ các chuyên mục

mới, trẻ, tăng tính tương tác với độc giả Đó là: Thế giới ảo và thực khai thác những vấn

đề gần gũi của giới trẻ với truyền thông xã hội, Sách trong tháng là một cấp độ khái quát việc đọc sách, luân phiên với mục Đọc sách cùng bạn Chuyện dọc đường là tập hợp

những kinh nghiệm như một cẩm nang tham khảo cần thiết và bổ ích trước khi đi du lịch…

Trang 39

Trước sự phát triển mạnh mẽ của báo điện tử, báo in gặp phải khó khăn khi duy trì lượng độc giả thường xuyên Xu thế sụt giảm số lượng phát hành các ấn phẩm in là một

vấn đề nan giải của các tòa soạn Tuổi Trẻ cũng không ngoài quy luật này, các số liệu của tòa soạn cung cấp là năm 2011, Tuổi Trẻ giảm 1,6%, Tuổi Trẻ Cuối Tuần giảm 8,2% ( đạt mức xấp xỉ 47.000 tờ/kỳ), Tuổi Trẻ Cười giảm 1,3% Tuy nhiên, điểm tích cực là Tuổi

Trẻ vẫn duy trì được hệ thống phát hành và vẫn mở thêm được điểm bán, phát triển số

bạn đọc đặt báo dài hạn tăng 1.2% (số liệu từ Ban biên tập báo Tuổi Trẻ, 2015, tr.257)

Hiện nay, Tuổi Trẻ Cuối Tuần vẫn duy trì tuần ra một số báo, giữ vững chất lượng

và uy tín của một tờ báo có thương hiệu lớn trong nước

1.2.1.2 Tôn chỉ, đặc trưng

Khác với thông tin nhanh, phong phú trên Tuổi Trẻ ngày, Tuổi Trẻ Cuối Tuần có phong cách, cá tính khác biệt Các bài viết trên Tuổi Trẻ Cuối Tuần thường nghiêng về

tính chuyên đề, bàn luận nhiều hơn Mục tiêu của báo là trở thành một tuần báo chính trị -

xã hội chuyên sâu, một diễn đàn phản biện sâu sắc các vấn đề xã hội của đất nước và thế giới Vì vậy báo bám sát dòng thời sự nhưng không đơn thuần là điểm tin mà khai thác sâu vào các khía cạnh của thông tin, giúp độc giả xác định được bản chất của sự việc bằng những cái nhìn đa chiều, khách quan và đáng tin cậy Các lĩnh vực về thể thao, văn nghệ, du lịch, báo cũng mang đến những thông tin bổ ích, vừa gợi mở tranh luận, vừa

thuyết phục bằng lí lẽ thuyết phục và chặt chẽ Tuổi Trẻ Cuối Tuần có những nội dung tri

thức khoa học văn hóa đạt chiều sâu để phục vụ tầng lớp dân cư có trình độ học vấn cao

Khi hội nhập quốc tế, các bài viết của chuyên gia, nhà nghiên cứu trên báo Tuổi Trẻ Cuối

Tuần có mật độ dày hơn, thể hiện những tiếng nói khoa học ở tất cả các lĩnh vực người

đọc dễ dàng nhận thấy ý đồ của từng số chuyên đề mang tính phổ biến kiến thức (Ban

biên tập báo Tuổi Trẻ, 2015, tr.307)

Trong bối cảnh báo điện tử lấn át báo in, buộc Tuổi Trẻ Cuối Tuần phải cải tiến,

nâng cao chất lượng nội dung, hình thức hấp dẫn, đẹp mắt hơn để có thể trụ được Báo đã

nỗ lực thu hút thêm bạn đọc trẻ với những chuyên mục nhẹ nhàng giải trí đồng thời giữ chân bạn đọc “già” ưa tuyến bài sâu sắc khoa học

Trang 40

Thành công lớn nhất của Tuổi Trẻ Cuối Tuần chính là đã định hình được thương

hiệu và giữ vững bản sắc của mình xuyên suốt thời gian phát triển Từ những số đầu tiên cho đến nay, báo luôn là món ăn tinh thần cho độc giả vào mỗi ngày cuối tuần Món ăn này không quá cầu kì, nhưng lại cũng không hề đơn giản bởi hàm lượng thông tin của nó không thuần giải trí, bởi vậy khi thưởng thức độc giả không thể vội vã mà phải vừa đọc vừa ngẫm nghĩ

Để phát triển theo mục tiêu, Tuổi Trẻ Cuối Tuần đã đầu tư rất lớn đến nội dung bài viết Hiện nay, bà Phan Thi Cầm là thư kí tòa soạn phụ trách Tuổi Trẻ Cuối Tuần Đội ngũ phóng viên, biên tập của Tuổi Trẻ Cuối Tuần đều đã qua tuổi 20, có tuổi nghề lâu

năm, dày dặn kinh nghiệm làm báo Đặc biệt, đội ngũ cộng tác viên của báo đóng góp lượng lớn bài vở và có chất lượng cao Đội ngũ này không chỉ có khả năng viết lách mà còn là chuyên gia ở các lĩnh vực Vì vậy khi triển khai chuyên đề, đề tài, bài viết của báo luôn nhanh nhạy, có hàm lượng tri thức cao Đặc biệt trong lĩnh vực văn học nghệ thuật, báo đã thu hút được một số nhà nghiên cứu văn học cộng tác, đăng tải những ý kiến mang tầm thẩm định văn chương nghệ thuật Luôn giữ vững và phát huy “chất” của mình nên

Tuổi Trẻ Cuối Tuần tạo được uy tín trong làng báo

Hiện nay, trong yêu cầu đổi mới, ban biên tập đã có nhiều cuộc họp chuyên đề để

tiếp tục phát huy mặt mạnh, đề ra đường hướng cho Tuổi Trẻ Cuối Tuần tiếp tục phát triển Chiến lược Tìm lại bạn đọc tuổi 20 của báo có mục tiêu tăng cường sức trẻ, sức thu

hút người đọc và định hướng giá trị cho giới trẻ, đổi mới về hình thức biểu đạt Nhưng chất “trẻ” của báo không phải đi theo xu hướng như những trang tin điện tử dành cho giới trẻ hay là các tờ báo của lứa tuổi học trò Quan niệm của báo là:

“Trẻ không chỉ là tuổi sinh học bởi số đông độc giả trung thành không còn trẻ, trẻ

là cách lựa chọn vấn đề và cách thể hiện thế nào cho trẻ, hệ thống hóa chủ đề, cách đặt vấn đề thiết thực về thanh niên xung quanh việc giáo dục, đức dục, trí dục, mĩ dục, thể

dục” (Ban biên tập báo Tuổi Trẻ , 2015, tr.138)

Khoanh vùng được đối tượng công chúng là những độc giả có trình độ tri thức khoa học cao nên để đảm bảo được tiêu chí “trẻ”, báo đã đưa nhiều nội dung ca ngợi và bảo vệ văn hóa truyền thống dân tộc cho giới trẻ Nhiều nhà khoa học, chuyên gia của

Ngày đăng: 18/04/2021, 23:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban biên tập báo Tuổi Trẻ. (2015). Báo Tuổi trẻ 40 năm hình thành và phát triển. Thành phố Hồ Chí Minh: Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuổi Trẻ". (2015). "Báo Tuổi trẻ 40 năm hình thành và phát triển
Tác giả: Ban biên tập báo Tuổi Trẻ
Năm: 2015
2. Bằng Giang. (1992). Văn học quốc ngữ ở Nam Kỳ 1865-1930. Thành phố Hồ Chí Minh: Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học quốc ngữ ở Nam Kỳ 1865-1930
Tác giả: Bằng Giang
Năm: 1992
3. Brander M.(2004). Truyện ngắn: Lý luận, tác gia và tác phẩm, 2 tập, Lê Huy Bắc dịch. Hà Nội: Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngắn: Lý luận, tác gia và tác phẩm
Tác giả: Brander M
Nhà XB: Giáo dục
Năm: 2004
4. Bùi Đức Tịnh. (1992). Những bước đầu của báo chí, tiểu thuyết và thơ mới (1865 – 1932). Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những bước đầu của báo chí, tiểu thuyết và thơ mới (1865 – 1932)
Tác giả: Bùi Đức Tịnh
Nhà XB: Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1992
5. Bùi Việt Thắng (2000). Truyện ngắn – Những vấn đề lý thuyết và thực tiễn thể loại. Hà Nội: Đại học Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngắn – Những vấn đề lý thuyết và thực tiễn thể loại
Tác giả: Bùi Việt Thắng
Nhà XB: Đại học Quốc gia
Năm: 2000
6. Cao Xuân Mỹ (biên soạn). (1998). Truyện dài đầu tiên và tuyển tập các truyện ngắn Nam Bộ cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX. Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện dài đầu tiên và tuyển tập các truyện ngắn Nam Bộ cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX
Tác giả: Cao Xuân Mỹ (biên soạn)
Năm: 1998
7. Đặng Anh Đào. (2007). “Truyện cực ngắn”, in trong Việt Nam và phương Tây, tiếp nhận và giao thoa trong văn học. Hà Nội: Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện cực ngắn”, "in trong "Việt Nam và phương Tây, tiếp nhận và giao thoa trong văn học
Tác giả: Đặng Anh Đào
Năm: 2007
8. Đào Ngọc Chương. (2010). Truyện ngắn dưới ánh sáng thể loại. Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngắn dưới ánh sáng thể loại
Tác giả: Đào Ngọc Chương
Năm: 2010
10. Henry D. (2012). “Truyện ngắn - những đường biên thể loại”, (Nguyễn Phương Khánh dịch). Khoa học & Công nghệ Đại học Đà Nẵng, (6), 91-96 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngắn - những đường biên thể loại”, (Nguyễn Phương Khánh dịch). "Khoa học & Công nghệ Đại học Đà Nẵng
Tác giả: Henry D
Năm: 2012
11. Hoàng Thị Văn. (2001). Luận án Đặc trưng truyện ngắn Việt Nam từ 1975 đến đầu thập niên 90. Trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc trưng truyện ngắn Việt Nam từ 1975 đến đầu thập niên 90
Tác giả: Hoàng Thị Văn
Năm: 2001
12. Hoàng Vũ & Đức Vân. (1964). “Luận bàn về truyện ngắn và truyện dài hay tân truyện và tiểu thuyết”. Tạp chí Văn học (26), 24 – 27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận bàn về truyện ngắn và truyện dài hay tân truyện và tiểu thuyết
Tác giả: Hoàng Vũ, Đức Vân
Nhà XB: Tạp chí Văn học
Năm: 1964
13. Huỳnh Như Phương. (2008). Những nguồn cảm hứng trong văn học (tiểu luận – phê bình). Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nguồn cảm hứng trong văn học (tiểu luận – phê bình)
Tác giả: Huỳnh Như Phương
Nhà XB: Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2008
14. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử & Nguyễn Khắc Phi. (2004). Từ điển thuật ngữ văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Năm: 2004
15. Lê Đình Kỵ & Phương Lựu. (1976). Cơ sở lý luận văn học, Tập 3: Loại thể văn học. Hà Nội: Đại học và trung học chuyên nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận văn học, Tập 3: Loại thể văn học
Tác giả: Lê Đình Kỵ, Phương Lựu
Nhà XB: Đại học và trung học chuyên nghiệp
Năm: 1976
16. Lê Đỗ Lan Phương. (2011). Khóa luận tốt nghiệp Truyện ngắn trên báo Tuổi trẻ 2010. Trường Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khóa luận tốt nghiệp Truyện ngắn trên báo Tuổi trẻ 2010
Tác giả: Lê Đỗ Lan Phương
Nhà XB: Trường Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2011
17. Lê Huy Bắc (2004a). “Truyện ngắn, nguồn gốc và khái niệm”. Tạp chí Nghiên cứu văn học, (5), 84 – 97 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngắn, nguồn gốc và khái niệm
18. Lê Huy Bắc. (2004b). Truyện ngắn, lý luận, tác giả và tác phẩm. Hà Nội: Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngắn, lý luận, tác giả và tác phẩm
Tác giả: Lê Huy Bắc
Nhà XB: Giáo dục
Năm: 2004
19. Lê Lưu Oanh & Phạm Đăng Dư. (2008). Giáo trình Lí luận Văn học. Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lí luận Văn học
Tác giả: Lê Lưu Oanh, Phạm Đăng Dư
Nhà XB: Đại học Sư phạm
Năm: 2008
20. Lê Thái Hòa. (2000). Những vấn đề thi pháp của truyện. Hà Nội: Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp của truyện
Tác giả: Lê Thái Hòa
Năm: 2000
21. Lê Thị Đức Hạnh. (1979). Luận án Truyện ngắn Nguyễn Công Hoan : một số vấn đề chủ yếu. Hà Nội : Viện Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngắn Nguyễn Công Hoan : một số vấn đề chủ yếu
Tác giả: Lê Thị Đức Hạnh
Năm: 1979

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w