ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN THỊ HOAN PHÁT TRIỂN NGUỒN TÀI NGUYÊN ĐIỆN TỬ TẠI THƯ VIỆN HỌC VIỆN HÀNG KHÔNG VIỆT NAM: KHAI TH
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ HOAN
PHÁT TRIỂN NGUỒN TÀI NGUYÊN ĐIỆN TỬ TẠI THƯ VIỆN HỌC VIỆN HÀNG KHÔNG VIỆT NAM: KHAI THÁC NGUỒN HỌC LIỆU MỞ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC THÔNG TIN - THƯ VIỆN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2018
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ HOAN
PHÁT TRIỂN NGUỒN TÀI NGUYÊN ĐIỆN TỬ TẠI THƯ VIỆN HỌC VIỆN HÀNG KHÔNG VIỆT NAM: KHAI THÁC NGUỒN HỌC LIỆU MỞ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC THÔNG TIN - THƯ VIỆN
Mã số: 60 32 02 03
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS HOÀNG THỊ THỤC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, Em xin chân thành cảm ơn các Thầy/ Cô giáo đã tận tình giảng dạy cho em trong suốt 2 năm học tại giảng đường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, cảm ơn các Thầy/Cô đã truyền đạt cho em nhiều kiến thức quý báu không chỉ về ngành Thư viện mà còn nhiều kiến thức về cuộc sống giúp em trưởng thành hơn
Em xin chân thành cảm ơn TS Hoàng Thị Thục, người đã luôn theo sát, cho em lời khuyên, ý kiến tham khảo từ khi bắt đầu đến khi hoàn thành bài luận văn này
Em xin gửi lời cảm ơn đến toàn thể đồng nghiệp tại Học viện Hàng không Việt Nam đã luôn giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi để em có thể hoàn thành khóa học của mình
Trong suốt quá trình học tập, làm bài luận văn em còn nhận được sự quan tâm, hướng dẫn, giúp đỡ của gia đình, người thân, bạn bè, đặc biệt là sự động viên từ các Anh/Chị/ Em lớp Cao học khóa 2015 - 2017
Em xin chân thành cảm ơn!
Tp Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2018
Tác giả
Nguyễn Thị Hoan
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan trong quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành luận văn là kết quả của chính bản thân tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Hoàng Thị Thục
Nội dung nghiên cứu trong luận văn của tôi hoàn toàn trung thực và chưa có ai công bố trong bất kỳ công trình nào
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Tác giả
Nguyễn Thị Hoan
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGUỒN TÀI NGUYÊN ĐIỆN TỬ VÀ HỌC LIỆU MỞ 11
1.1 Nguồn tài nguyên điện tử 11
1.1.1 Khái niệm nguồn tài nguyên điện tử 11
1.1.2 Đặc điểm nguồn tài nguyên điện tử 13
1.1.3 Vai trò của nguồn tài nguyên điện tử 16
1.1.4 Xu hướng phát triển nguồn tài nguyên điện tử 18
1.1.5 Khai thác nguồn tài nguyên điện tử trong thư viện 20
1.1.6 Các tiêu chí đánh giá nguồn tài nguyên điện tử 24
1.2 Học liệu mở 26
1.2.1 Khái niệm học liệu mở 26
1.2.2 Đặc điểm nguồn học liệu mở 28
1.2.3 Vai trò của nguồn học liệu mở 29
1.2.4 Các mô hình học liệu mở trên thế giới và tại Việt Nam 31
1.2.5 Khai thác nguồn học liệu mở trong thư viện đại học 35
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển nguồn tài nguyên điện tử và học liệu mở 37
1.3.1 Trình độ đội ngũ cán bộ thư viện 37
1.3.2 Cơ sở vật chất và hạ tầng công nghệ thông tin 38
1.3.3 Người dùng tin 38
1.3.4 Mức độ ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại 39
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 40
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN TÀI NGUYÊN ĐIỆN TỬ TẠI THƯ VIỆN HỌC VIỆN HÀNG KHÔNG VIỆT NAM 42
2.1 Khái quát về Thư viện Học viện hàng không Việt Nam 42
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Thư viện HVHKVN 42
2.1.2 Khái quát về các nguồn lực hiện có của Thư viện HVHKVN 43
2.2 Thực trạng công tác phát triển nguồn TNĐT tại Thư viện HVHKVN 52
Trang 62.2.1 Thực trạng về sự hình thành và phát triển TNĐT tại Thư viện HVHK 52
2.2.2 Thực trạng xử lý, tổ chức và khai thác nguồn TNĐT tại Thư viện HVHKVN 55
2.3 Đánh giá của NDT về mức độ đáp ứng nguồn TNĐT trong thư viện 76
2.4 Đánh giá những thuận lợi và khó khăn trong việc phát triển nguồn TNĐT tại Thư viện HVHKVN và sự cần thiết phải khai thác nguồn học liệu mở 78
2.4.1 Thuận lợi 78
2.4.2 Khó khăn 79
2.4.3 Sự cần thiết phải khai thác nguồn học liệu mở 80
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 84
CHƯƠNG 3 KHAI THÁC CÁC NGUỒN HỌC LIỆU MỞ TẠI THƯ VIỆN HỌC VIỆN HÀNG KHÔNG VIỆT NAM 85
3.1 Giải pháp xây dựng danh mục các nguồn học liệu mở 85
3.1.1 Tìm kiếm các nguồn học liệu mở 85
3.1.2 Xem xét, đánh giá các nguồn học liệu mở 87
3.1.3 Tạo danh mục các nguồn học liệu mở 88
3.1.4 Biên soạn hướng dẫn sử dụng danh mục các nguồn học liệu mở 98
3.1.5 Kết quả thử nghiệm sử dụng danh mục các nguồn học liệu mở 102
3.2 Giải pháp quảng bá, giới thiệu danh mục các nguồn học liệu mở 103
3.2.1 Xây dựng kế hoạch quảng bá, giới thiệu 103
3.2.2 Các phương thức quảng bá, giới thiệu 104
3.3 Tổ chức các lớp hướng dẫn, đào tạo kỹ năng sử dụng 106
3.4 Giải pháp cung cấp các dịch vụ hỗ trợ khai thác nguồn học liệu mở 108
3.4.1 Dịch vụ dịch tài liệu 108
3.4.2 Dịch vụ tra cứu tin theo yêu cầu 109
3.4.3 Dịch vụ cung cấp tổng luận 109
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 111
KẾT LUẬN 112
TÀI LIỆU THAM KHẢO 114
PHỤ LỤC 121
Trang 76 HSSV Học sinh sinh viên
7 HVHKVN Học viện Hàng không Việt Nam
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỀU ĐỒ, HÌNH Danh mục các bảng
Bảng 2.1: Nguồn nhân lực Thư viện qua các năm (khảo sát từ 1997 đến nay) 44
Bảng 2.2: Kinh phí giành cho hoạt động của Thư viện từ năm 2012 – 2017 48
Bảng 2.3: Nguồn tài nguyên thông tin Thư viện theo nội dung 51
Bảng 2.4: Cách quy đổi điểm các mức độ cho thang đo 62
Bảng 2.5: Mức độ sử dụng CSDL thư mục 62
Bảng 2.6: Mức độ sử dụng CSDL trực tuyến 63
Bảng 2.7: Mức độ sử dụng CSDL toàn văn 64
Bảng 2.8: Mức độ sử dụng tài liệu đa phương tiện 64
Bảng 2.9: Mức độ đáp ứng của CSDL thư mục 76
Bảng 2.10: Mức độ đáp ứng của CSDL trực tuyến 77
Bảng 2.11: Mức độ đáp ứng của CSDL toàn văn 77
Bảng 2.12: Mức độ đáp ứng của tài liệu đa phương tiện 78
Bảng 2.13: Mức độ cần thiết của việc khai thác các nguồn học liệu mở 82
Danh mục các biểu đồ Biểu đồ 2.1: Ngôn ngữ của tài nguyên điện tử được NDT sử dụng 65
Biểu đồ 2.2: Mức độ sử dụng TNĐT thuộc các lĩnh vực của NDT chuyên môn/chuyên ngành Quản trị kinh doanh 66
Biểu đồ 2.3: Mức độ sử dụng TNĐT thuộc các lĩnh vực của NDT chuyên môn/ chuyên ngành Không lưu 67
Biểu đồ 2.4: Mức độ sử dụng TNĐT thuộc các lĩnh vực của NDT chuyên môn/ chuyên ngành Điện tử viễn thông 67
Biểu đồ 2.5: Mức độ sử dụng TNĐT thuộc các lĩnh vực của NDT chuyên môn/chuyên ngành Kỹ thuật Hàng không 67
Biểu đồ 2.6: Mức độ sử dụng TNĐT thuộc các lĩnh vực của NDT chuyên môn/ chuyên ngành Cảng Hàng không 68
Biểu đồ 2.7: Mức độ sử dụng TNĐT thuộc các lĩnh vực của NDT chuyên môn/ chuyên ngành khác 68
Biểu đồ 2.8: Kênh phổ biến tài nguyên điện tử đối với nhóm giảng viên 69
Trang 9Biểu đồ 2.9: Kênh phổ biến tài nguyên điện tử đối với nhóm sinh viên 70
Biều đồ 2.10: Mục đích sử dụng TNĐT của nhóm giảng viên 71
Biều đồ 2.11: Mục đích sử dụng TNĐT của nhóm sinh viên 71
Biều đồ 2.12: Phương tiện truy cập khai thác TNĐT nhóm giảng viên 72
Biều đồ 2.13: Phương tiện truy cập khai thác TNĐT nhóm sinh viên 72
Biều đồ 2.14: Những rào cản gặp phải khi truy cập và khai thác tài nguyên điện tử của nhóm giảng viên 73
Biều đồ 2.15: Những rào cản gặp phải khi truy cập và khai thác tài nguyên điện tử của nhóm sinh viên 74
Danh mục các hình Hình 2.1: Trang thư viện số của Thư viện 54
Hình 2.2: Một biểu ghi thư mục hoàn chỉnh (nguồn: http://opac.vaa.edu.vn/) 57
Hình 2.3: Một biểu ghi thư mục được tìm thấy theo tên tác giả 58
Hình 2.4: Một biểu ghi thư mục báo - tạp chí 58
Hình 2.5: Các biểu ghi CSDL toàn văn (nguồn: http://opac.vaa.edu.vn/) 60
Hình 2.6: OPAC hiển thị nội dung tài liệu toàn văn (nguồn: http://opac.vaa.edu.vn/) 60 Hình 3.1: Danh mục các nguồn học liệu mở theo chủ đề trên website thư viện 89
Hình 3.2: Trang web thư viện - mục nguồn học liệu mở 99
Hình 3.3: Trang web thư viện - mục học liệu mở là gì 99
Hình 3.4: Trang web thư viện - mục các nguồn học liệu mở theo chủ đề 100
Hình 3.5: Trang web thư viện dẫn sang file chuyên ngành hàng không 100
Hình 3.6: Trang web INTECH OPEN 101
Hình 3.7: Trang web INTECH OPEN - mục tìm kiếm 101
Hình 3.8: Trang web INTECH OPEN - đọc tài liệu tìm kiếm 102
Hình 3.9: Chia sẽ thông tin về nguồn học liệu mở trên trang facebook thư viện 105
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thế kỷ XXI có những biến đổi sâu sắc, toàn diện và chuyển mình từ kinh tế công nghiệp sang kinh tế tri thức, trong đó thông tin tri thức trở thành nguồn tài nguyên quý báu cho sự phát triển của mỗi quốc gia
Ngày nay, với tiến bộ của CNTT và khuynh hướng toàn cầu hóa, khối lượng thông tin mà thư viện có thể vươn tới ngày càng lớn, ngày càng đa dạng, thuộc những nguồn khác nhau và đòi hỏi những điều kiện tiếp cận cũng rất khác nhau.Từ
đó nguồn TNĐT đã trở thành một phương tiện lưu trữ thông tin hữu hiệu và ngày càng phát triển nhanh chóng Để cung cấp thông tin cho con người, bên cạnh các phương tiện truyền thông đại chúng, vai trò của thư viện cũng không kém phần quan trọng bởi tài liệu được lưu trữ và tổ chức phục vụ bạn đọc tại bất kì một thư viện nào cũng là tài sản quý giá của dân tộc, có giá trị đặc biệt đối với sự nghiệp giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài phục vụ cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Ngày nay, để nâng cao vai trò và vị trí của mình, hầu hết các thư viện đều coi nhu cầu bạn đọc là trung tâm, làm mục tiêu hướng tới để đưa nguồn lực thông tin của mình ra phục vụ có hiệu quả, làm sao đáp ứng tốt nhất, đầy đủ nhất nhu cầu thông tin, nhu cầu về tài liệu của NDT Vì vậy, các cơ quan TT - TV đã không ngừng cố gắng, nâng cao hiệu quả của công tác thu thập, tổ chức, khai thác, tăng cường nguồn lực thông tin trong thư viện
Ở nước ta hiện nay, nhận thức được tầm quan trọng của thông tin trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, từ thực tế đáp ứng của tài liệu truyền thống và nhu cầu bạn đọc cũng như chức năng, nhiệm vụ của thư viện với vai trò là trung tâm quản lý, cung cấp thông tin thì việc phát triển nguồn TNĐT là một nhu cầu cấp bách đối với tất cả các thư viện; đặc biệt là hệ thống thư viện các trường đại học - cao đẳng, khi mang trọng trách là người bạn đồng hành, trợ thủ đắc lực của giáo viên và sinh viên trong giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học
Bắt nhịp cùng xu thế phát triển chung của các thư viện trong nước nói chung,
và hệ thống thư viện các trường đại học nói riêng Trong những năm qua, với mục tiêu của HVHKVN là đổi mới nội dung, chương trình đào tạo, từng bước hướng tới đào tạo theo cơ chế tín chỉ thì vị trí, vai trò của thư viện trường một lần nữa được
Trang 11khẳng định Thế nhưng, để đáp ứng được mục tiêu đó của nhà trường đòi hỏi thư viện phải thay đổi cả về chất và lượng, trong đó một yếu tố vô cùng quan trọng cần thay đổi, hoàn thiện và phát triển đó là nguồn tài nguyên thông tin của thư viện
Tuy nhiên, thực tế mà thư viện đang gặp phải là các tài liệu in truyền thống ngày càng đắt đỏ thiếu kinh phí để mua lâu dài, kho tư liệu thư viện ngày càng phát triển mà diện tích thư viện không được bổ sung, trong khi đó nguồn TNĐT của thư viện chỉ đang dừng lại ở bước xây dựng ban đầu nguồn tài liệu nội sinh, thư viện lại không đủ khả năng về tài chính và các nguồn lực khác để mua hay tự xây dựng nguồn TNĐT Bên cạnh đó, Học viện đang tăng cường liên kết đào tạo với các trường đại học ở nước ngoài nên yêu cầu về liên thông, trao đổi, chia sẻ càng trở nên trở nên cấp thiết, đòi hỏi thư viện phải đổi mới, hình thành nguồn TNĐT phong phú, đa dạng, phù hợp mới có thể đáp ứng yêu cầu đào tạo của nhà trường
Để giải quyết những khó khăn trước mắt và đáp ứng được nhu cầu của người dùng tin về nguồn TNĐT, qua quá trình tìm hiểu, tôi nhận thấy hiện nay có rất nhiều nguồn học liệu mở trong nước và trên thế giới cho phép các thư viện có thể khai thác và sử dụng miễn phí Vì vậy, khai thác nguồn học liệu mở để tạo nền tảng phát triển nguồn TNĐT là phù hợp với mục tiêu phát triển và khả năng của Thư viện HVHKVN Việc khai thác nguồn học liệu mở vừa có thể giúp thư viện tăng cường khả năng cung cấp thông tin, vừa khắc phục sự thiếu hụt về nguồn tài nguyên
và sự quá tải của kho tài liệu Với tất cả những lí do nêu trên, đề tài: “Phát triển
nguồn tài nguyên điện tử tại Thư viện Học viện Hàng không Việt Nam: Khai thác nguồn học liệu mở” được lựa chọn nghiên cứu trong luận văn Thạc sỹ
Vào những năm đầu của thế kỷ XX, cùng với sự phát triển của nguồn TNĐT, những nghiên cứu về nguồn TNĐT trở nên nhiều hơn Có thể kể S Demas (1994)
Trang 12với “Ph t tri n v n t i i u ho th vi n i n t ”, P Brophy (1998) với “T ng qu n
v vi qu n th ng tin ho th vi n i n t ” Năm 2002, nhóm tác giả S B
Arbib và F Shor đã nghiên cứu việc sử dụng các nguồn thông tin điện tử của sinh viên cao đẳng Israeli (Israel) Thông qua nghiên cứu này cho thấy có 31,1% sinh viên (gần 1/3 mẫu) không sử dụng các nguồn thông tin điện tử Kết quả này phản ánh nguồn thông tin điện tử tại trường cao đẳng Israeli vẫn chưa thu hút sự sử dụng
từ SV Nghiên cứu còn khuyến nghị Bộ Giáo dục Israel, các trường học về thư viện
và khoa học thông tin (LIS), các cơ quan quản lý trường đại học, và các thủ thư thư viện trường cần có sự hợp tác để tích hợp hơn nữa việc sử dụng nguồn TNĐT tại các trường cao đẳng Israel và cho phép Israel trở thành một xã hội thông tin tiên
Năm 2007, tác giả Shawn G Nevers nghiên cứu đề tài “Promote Your
E e troni Resour es” đã đưa ra một số phương pháp để giới thiệu, quảng bá nguồn
TNĐT của thư viện đến với NDT như: trao đổi thường xuyên và khắp mọi nơi, tận dụng các tương tác hằng ngày với bạn đọc, sử dụng sáng tạo các phương pháp giới thiệu, thực hiện không chỉ trong mà còn ngoài phạm vi thư viện, cho bạn đọc thấy được những lợi ích mà họ nhận được khi sử dụng… Đề tài là đóng góp không nhỏ
về cách thức để phổ biến nguồn TNĐT cho các cơ quan TT-TV [57]
Bài viết “Electronic resource management systems: Manage online library
spend and increase the value of the ibr ry” của tác giả Rory Kingan năm 2010 đã
giới thiệu về hệ thống quản lý nguồn TNĐT bằng hệ thống ERM và cách để giúp
các thư viện luật phục vụ tốt hơn dịch vụ trực tuyến [51]
Từ nhiều công trình nghiên cứu có liên quan đến hướng nghiên cứu của đề tài, chúng ta dễ nhận thấy việc nghiên cứu về nguồn TNĐT và nguồn học liệu mở ở nước ngoài đã nhận được sự quan tâm đặc biệt từ nhiều quốc gia và trong nhiều nghiên cứu khác nhau Nghiên cứu của các tác giả đã mang lại những giá trị về lý
Trang 13luận, ứng dụng thực tiễn cao, giúp nhiều Thư viện có thể nhìn nhận, đánh giá, lý giải cho nhiều vấn đề liên quan đến công tác phát triển nguồn tài nguyên thông tin
2.2 Nghiên cứu về phát triển nguồn tài nguyên điện tử tại Thƣ viện ở Việt Nam
Từ những năm 90 của thế kỷ XX, tác giả Nguyễn Hữu Hùng với các bài viết
“Ph t tri n thông tin Khoa học và công ngh trở thành nguồn lực”, “T chức
và qu n lý hoạt ộng thông tin khoa học công ngh tr ớc th m thế kỷ XXI”,
“Qu n nh n ớ i với hoạt ộng thông tin ở Vi t N m”, “Vấn tạo lập và chia sẻ nguồn lực thông tin s hóa tại Vi t Nam” đã phác họa bức tranh thông tin
trong nền kinh tế mới, đồng thời bàn về vấn đề chiến lược thông tin, phương thức tạo lập và chia sẻ, quản lý và phát triển thông tin, nhằm biến thông tin trở thành nguồn lực phát triển Tác giả cũng trình bày các giải pháp tạo lập môi trường thông tin để phát triển nguồn thông tin số trong điều kiện ở Việt Nam Cũng theo tác giả Nguyễn Hữu Hùng, xét về mặt lịch sử, vấn đề quản lý thông tin được đặt ra cừ cuối thế kỷ XIX, khi các nhà khoa học phân biệt hai khái niệm: vật mang tin (Information containers) và nội dung thông tin (Information content) [21], [22]
Nhóm tác giả Phạm Văn Rính và Nguyễn Viết Nghĩa (2015) trong nghiên cứu của mình đã phân tích quy luật, nguyên tắc và cách xây dựng chính sách phát triển tài
liệu trong thư viện [27 Bên cạnh đó, có các bài: “Ph ơng pháp luận xây dựng chính sách phát tri n nguồn tin” (2001) của Nguyễn Viết Nghĩa và “Phác th o sơ
bộ chính sách v nguồn lực thông tin” (2000) c ủa Lê Văn Viết [16] Các tác giả
khẳng định vị trí quan trọng trong chính sách phát triển nguồn thông tin đối với việc tạo nguồn, xây dựng hệ thống kho tài liệu cho các cơ quan TT - TV
Năm 2005, tác giả Nguyễn Huy Chương đã nghiên cứu “Lịch s hình thành
và phát tri n h th ng thông tin - th vi n ại học Mỹ v ịnh h ớng vận dụng một
s kinh nghi m vào th vi n ại học Vi t N m”, luận án đã làm rõ quá trình hình
thành, phát triển của hệ thống thư viện đại học của Mỹ trước yêu cầu và dưới ảnh hưởng của nền giáo dục đại học trong bối cảnh chuyển biến của nền kinh tế xã hội
Mỹ qua từng giai đoạn lịch sử, để rút ra những bài học kinh nghiệm có thể vận dụng
vào xây dựng hệ thống thư viện Việt Nam [7]
Năm 2016, tác giả Bùi Vũ Bảo Khuyên đã tiến hành nghiên cứu “Kh i th
hi u qu nguồn tài li u i n t phục vụ nghiên cứu khoa họ trong th vi n ại
Trang 14họ ” Nghiên cứu đã trình bày khái quát về nguồn tài liệu điện tử phục vụ nghiên
cứu khoa học và nhấn mạnh đến vai trò của nguồn tài liệu điện tử đối với hoạt động nghiên cứu khoa học trong các thư viện đại học [11]
Nguyễn Thị Thùy Linh (2016) với đề tài nghiên cứu về “Xây dựng th vi n
i n t khoa học và công ngh tỉnh Vĩnh Phú ” Với cách tiếp cận hệ thống và vận
dụng các phương pháp nghiên cứu thích hợp, đề tài đã có những đóng góp nhất định trong việc hoàn thiện lý luận và thực tiễn phát triển nguồn thông tin cho tỉnh Vĩnh Phúc [24]
Năm 2003, tác giả Nguyễn Viết Nghĩa đăng trên tạp chí Thông tin và Tư liệu
đề tài “T i i u i n t và giá c tài li u i n t ” đã phân tích khái niệm và những
đặc trưng chủ yếu của nguồn tin điện tử, nêu hiện trạng thị trường, giá cả tài liệu điện tử tại một số nước, phân tích những khác biệt trong việc đánh giá tài liệu truyền thống và tài liệu điện tử, những nhân tố tác động đến thị trường này và ảnh hưởng của giá cả tài liệu tới các cơ quan TT - TV [26]
Tác giả Nguyễn Hồng Sinh (2016) nghiên cứu đề tài “Yếu t t ộng và
h ớng gi i quyết cho kh năng s dụng hi u qu nguồn t i nguyên th ng tin i n
t ” Đề tài đã xác định và phân tích các yếu tố tác động đến nguồn tài nguyên thông
tin điện tử như: sự hiểu biết của cán bộ quản lý, tầm nhìn của nhà trường, năng lực của đội ngũ CBTV, hạ tầng công nghệ, nội dung thông tin, hướng dẫn và hỗ trợ sử dụng Bên cạnh đó đưa ra các hướng giải pháp gia tăng khả năng sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên thông tin điện tử [20] Tác giả Nguyễn Tú Uyên (2016) nghiên
cứu vấn đề ở một hướng khác “Xu h ớng phát tri n nguồn i n t trong th
vi n” Với hướng nghiên cứu của mình, tác giả đã cho người đọc thấy được bức
tranh về những thay đổi trong cách tiếp cận nguồn tin điện tử của NDT ở một số nước trên thế giới, từ đó đòi hỏi hướng giải quyết của các thư viện để phù hợp với
xu thế hiện tại [25]
Bên cạnh những nghiên cứu về nguồn TNĐT, vấn đề học liệu mở cũng được nhiều tác giả trong nước quan tâm Trước hết phải kể đến đó là tác giả Lê Trung Nghĩa, người đã có rất nhiều đề tài, có một blog riêng chuyên nghiên cứu, dịch và chia sẻ những tài liệu có liên quan đến học liệu mở, nguồn tài nguyên giáo dục mở
và phần mềm tự do mã nguồn mở như đề tài: “Tổng quan về tài nguyên giáo dục
mở và một kịch bản giả tưởng về tương lai của giáo dục Việt Nam - Phần 1,2,3”
Trang 15(2016); “OER và sách giáo khoa mở là một phần giải pháp cho khủng hoảng giáo dục hiện nay” (2016); “Tài nguyên giáo dục mở đã trở lại Việt Nam” (2016) Ngoài ra, tác giả còn là diễn giả của nhiều hội thảo chia sẻ về tài nguyên giáo dục
mở tại các trường đại học như tại Đại học Nông Lâm Tp.HCM, Đại học Hoa Sen, Đại học Vũng Tàu , những đóng góp của tác giả đã mang lại nhiều giá trị to lớn, giúp các thư viện có cái nhìn tổng quan về lý luận, kỹ thuật công nghệ và thực tiễn khi tiếp cận với nguồn tài nguyên học liệu mở
Tác giả Đỗ Văn Hùng (2017) nghiên cứu đề tài “Tài nguyên giáo dục mở - yếu t tích cự ho i mới giáo dụ ại học và mục tiêu phát tri n b n vững qu c gia” Đề tài đã giúp cho người đọc có thể trả lời được những câu hỏi: Tài nguyên
giáo dục mở là gì và tại sao lại quan trọng đối với việc đổi mới của giáo dục đại học Việt Nam? Tài nguyên giáo dục mở đang được phát triển ở Việt Nam như thế nào? Chúng ta đã đứng trước những thách thức và cơ hội nào trong việc phát triển tài nguyên giáo dục mở? Trên cơ sở phân tích kết quả khảo sát của 40 trường đại học
và các công ty công nghệ, đề tài đề xuất phát triển tài nguyên giáo dục mở ở quy mô quốc gia nhằm xây dựng một nguồn tài nguyên giáo dục chất lượng cao để dùng chung cho sinh viên, giảng viên và nhà nghiên cứu trong các trường đại học Việt Nam [14]
Đề tài “Th vi n s , tài nguyên giáo dục mở góp phần thú ẩy giáo dục mở
Vi t Nam” (2018) của tác giả Lê Ngọc Diệp đã đóng góp trong việc hoàn thiện lý
luận về tài nguyên giáo dục mở khi tác giả đã giới thiệu tổng quan về sự ra đời và phát triển của giáo dục mở, thư viện số và tài nguyên giáo dục mở trên thế giới và Việt Nam Tác giả còn nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp để thư viện số, tài nguyên giáo dục mở thực sự góp phần thúc đẩy phát triển giáo dục mở ở Việt Nam [15]
Ngoài ra, còn có rất nhiều tác giả quan tâm đến lĩnh vực này như tác giả
Trương Minh Hòa (2016) (2017) với đề tài “Học li u mở và vai trò của học li u mở trong o tạo ngành học thông tin - th vi n tại tr ờng ại học ở Vi t Nam” và
“Phân tí h SWOT ủa OER trong hỗ trợ học tập su t ời: Nghiên cứu tr ờng hợp
h ơng trình gi ng dạy kinh tế FULBRIGHT”[30] [31]; tác giả Bùi Hà Phương (2017) nghiên cứu “T ộng của tài nguyên giáo dục mở i với hành vi thông tin của gi ng viên”[10]; tác giả Nguyễn Chí Trung (2018) “Nhận thức của sinh viên v
Trang 16vấn b n quy n - Tiếp cận từ gó ộ tài nguyên giáo dục mở[17]; tác giả Nguyễn Danh Minh Trí ( 2017)(2018) đề tài “Vai trò của tài nguyên giáo dục mở và truy cập mở trong vi c nâng cao chất ợng giáo dụ ại học Vi t N m” và “Phân tích các kỹ năng t lõi nhằm s dụng và phát tri n tài nguyên giáo dục mở”[18][19]…
Nhận thấy được sự phát triển của khoa học công nghệ và tầm quan trọng thư viện điện tử, gần đây nhất vào tháng 11/2017, tại Thành phố Quy Nhơn, Liên Chi hội Thư viện Đại học Khu vực phía Bắc đã phối hợp với Đại học Quang Trung tổ
chức hội thảo với chủ đề “Xây dựng học li u mở nội sinh dùng hung trong th
vi n ại học Vi t N m” Vấn đề xây dựng học liệu mở bước đầu đã nhận sự quan
tâm rất lớn từ các chuyên gia trong ngành khoa học TT-TV cũng như các đại biểu đến từ thư viện các trường đại học trong cả nước
Một số tác giả nghiên cứu về nguồn lực thông tin tại một thư viện đại học cụ thể dưới dạng luận án, luận văn, đề tài khoa học [39] như Nguyễn Thị Thuận (2006), Đinh Tiến Dũng (2007), Lê Thị Tuyết Nhung (2011), Phạm Thanh Bình (2011), Trần Thị Anh Đào (2013), Lê Quỳnh Chi (2014), Huỳnh Thanh Xuân (2009)[5], Ninh Thị Kim Duyên (2016)[8], Trần Thị An (2015)[9], Lê Thế Long (2006)[6],… Các nghiên cứu cho thấy, tại các thư viện đại học cụ thể họ đã xây dựng chiến lược phát triển nguồn thông tin, đánh giá được nhu cầu thông tin của bạn đọc, và áp dụng CNTT vào hoạt động tổ chức, xử lý và khai thác nguồn tin Tuy nhiên, các thư viện cũng đang phải đối mặt với những khó khăn như sự chuyển mình từ thư viện truyền thống sang thư viện hiện đại, sự gia tăng nhanh chóng của thông tin, sự cạnh tranh trong hệ thống giáo dục quốc tế, các thay đổi về chính sách, quy mô đào tạo của trường đại học
Nhìn chung, vấn đề nghiên cứu về phát triển nguồn TNĐT và nguồn học liệu
mở đã được quan tâm bước đầu Tuy nhiên, chưa có đề tài nào nghiên cứu về phát phát triển nguồn TNĐT và nguồn học liệu mở tại thư viện Học viện hàng không Việt Nam Đây là khoảng trống để chúng tôi tiến hành thực hiện nghiên cứu của mình Nghiên cứu của đề tài đã xác lập mang ý nghĩa thực tiễn và không trùng lặp với các nghiên cứu trước đó
3 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở hệ thống hóa lý luận về TNĐT và nguồn học liệu mở, đánh giá thực trạng nguồn TNĐT, những thuận lợi và khó khăn đối với công tác phát triển
Trang 17nguồn tài nguyên này tại thư viện HVHKVN, từ đó đề tài nghiên cứu đưa ra giải pháp phát triển nguồn TNĐT tại thư viện theo hướng khai thác các nguồn học liệu
mở một cách hiệu quả, phù hợp với thư viện trường
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận văn xác định rõ những nhiệm vụ sau:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về TNĐT, nguồn học liệu mở
- Phân tích thực trạng công tác phát triển nguồn TNĐT tại thư viện HVHKVN Bên cạnh đó, đánh giá nhu cầu sử dụng TNĐT của người dùng tin trên cơ sở khảo sát thực tế đối với NDT của thư viện Ngoài ra, đề tài còn phân tích những thuận lợi
và khó khăn trong việc phát triển nguồn TNĐT để đề xuất giải pháp phù hợp và khả thi
- Đề xuất giải pháp khai thác các nguồn học liệu mở tại thư viện HVHKVN
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là nguồn TNĐT, phát triển nguồn TNĐT tại thư viện HVHKVN bằng giải pháp khai thác các nguồn HLM
5.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài giới hạn phạm vi nghiên cứu là thư viện HVHKVN
6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp luận
Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả đã tiếp cận theo hai hướng:
6.1.1 Tiếp cận thông qua nghiên cứu tài liệu
Tìm hiểu những tài liệu chỉ đạo của Đảng và Nhà nước liên quan đến lĩnh vực Thư viện - Thông tin
Nghiên cứu một số tài liệu trong và ngoài nước thuộc chuyên ngành Thư viện - Thông tin cũng như các tài liệu có liên quan, bao gồm: sách, báo - tạp chí, các
đề tài nghiên cứu, các luận văn, các trang web v.v… để xây dựng cơ sở lý luận cho vấn đề nghiên cứu
6.1.2 Tiếp cận thông qua tiếp xúc thực tế
Qua quá trình làm việc trực tiếp tại thư viện; khảo sát SV, CB-GV; phỏng vấn sâu phụ trách thư viện, CBTV để thu thập dữ liệu phục vụ cho vấn đề nghiên cứu
Trang 186.2 Phương pháp nghiên cứu
6.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Tập hợp các tài liệu khoa học, tham khảo một số công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài để xây dựng đề cương nghiên cứu và cơ sở lý luận của đề tài; là nguồn quan trọng cho việc thiết kế công cụ nghiên cứu; là cứ liệu cần thiết làm sáng
tỏ và đối chiếu trong việc bình luận kết quả nghiên cứu
6.2.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
6.2.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Phương pháp này nhằm đánh giá được mức độ đáp ứng của thư viện hiện tại
về nguồn tài nguyên thông tin; điều tra, khảo sát về nhu cầu sử dụng TNĐT của NDT, từ đó đưa ra nhận định về sự cần thiết phải phát triển nguồn TNĐT
6.2.2.2 Phương pháp phỏng vấn
Tiến hành phỏng vấn cán bộ phụ trách thư viện nhằm tìm hiểu sâu hơn những vấn đề liên quan đến phương hướng, kế hoạch, định hướng phát triển thư viện, để từ đó đề xuất các giải pháp phát triển nguồn tài nguyên thông tin tại thư viện phù với điều kiện thực tế của nhà trường
6.2.2.3 Phương pháp quan sát
Làm rõ thêm thực trạng sử dụng nguồn tài nguyên thông tin tại thư viện HVHKVN, đồng thời tìm hiểu cơ sở thực tiễn cho việc phát nguồn TNĐT tại thư viện như cơ sở vật chất, trang thiết bị máy móc, …
6.2.3 Phương pháp phân tích, tổng hợp số liệu
Phương pháp này dùng để phân tích, tổng hợp các số liệu đã thu thập được trong quá trình điều tra và phỏng vấn; đồng thời kết hợp sử dụng phần mềm hỗ trợ (SPSS) để xử lý số liệu nhằm cho ra những kết quả nghiên cứu chính xác, khách quan, trung thực nhất về đề tài đang tìm hiểu
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của nghiên cứu:
7.1 Ý nghĩa khoa học
Đề tài góp phần khẳng định vị trí, tầm quan trọng của nguồn TNĐT, vấn đề khai thác nguồn học liệu mở Xác định sự cần thiết của việc phát triển nguồn TNĐT tại các thư viện nói chung và hệ thống thư viện các trường đại học nói riêng
7.2 Ý nghĩa thực tiễn
Trang 19Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho Ban lãnh đạo Học viện, Phụ trách
và CBTV trong việc quản lý hoạt động thư viện, đặc biệt là công tác phát triển
nguồn tài nguyên thông tin tại thư viện
Kết quả nghiên cứu của luận văn là những gợi mở cho các đề tài nghiên cứu
sâu hơn về các vấn đề liên quan đến TNĐT, nguồn học liệu mở
Luận văn còn có thể làm tài liệu tham khảo cho sinh viên - học viên ngành
Thư viện - Thông tin trong quá trình học tập và nghiên cứu
8 Cấu trúc luận văn:
Ngoài các phần như Mở đầu, Mục lục, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn được chia làm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về nguồn tài nguyên điện tử và học liệu mở
Trình bày những vấn đề lý thuyết về TNĐT như: khái niệm, đặc điểm, các sản phẩm - dịch vụ thông tin điện tử cũng như vấn đề về xu hướng và chính sách phát triển nguồn TNĐT; đặc biệt chú trọng, tìm hiểu tổng quan về nguồn học liệu
mở, các mô hình học liệu mở trong và ngoài nước, vấn đề khai thác học liệu mở trong các Thư viện trường Đại học
Chương 2: Thực trạng phát triển nguồn tài nguyên điện tử tại thư viện
HVHKVN
Từ cơ sở thực tiễn hiện có, trên cơ sở phân tích thực trạng công tác phát triển nguồn TNĐT, đề tài đã đánh giá những thuận lợi và khó khăn trong việc xây dựng nguồn TNĐT của thư viện và sự cần thiết phải khai thác nguồn học liệu mở tại thư viện HVHKVN
Chương 3: Khai thác các nguồn học liệu mở tại Thư viện HVHKVN
Từ thực tế thư viện không đủ kinh phí và nguồn lực để mua hay tự xây dựng nguồn TNĐT nên đề tài sẽ đưa ra những giải pháp trước mắt là khai thác các nguồn học liệu mở phù hợp với điều kiện của thư viện HVHKVN
Trang 20CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGUỒN TÀI NGUYÊN ĐIỆN TỬ VÀ
HỌC LIỆU MỞ 1.1 Nguồn tài nguyên điện tử
1.1.1 Khái niệm nguồn tài nguyên điện tử
Các thư viện truyền thống từ lâu đã là một phần thiết yếu của xã hội, nó mang thông tin và tri thức đến mọi người Từ những năm đầu 2000, các cơ quan TT-TV ở Việt Nam đã chú trọng đưa tài liệu điện tử vào sử dụng và phát triển nhanh chóng trong những năm gần đây
Sự bùng nổ thông tin trong thời đại số và mạng Internet ít nhiều đã làm thay đổi cách thức tiếp cận và sử dụng thông tin của con người Bối cảnh này tất yếu đòi hỏi các cơ quan TT - TV phải có bước chuyển mình từ thư viện truyền thống sang thư viện hiện đại
Ngày nay, phát triển nguồn TNĐT là một trong những xu hướng phát triển của các cơ quan TT - TV Nguồn TNĐT đã và đang trở thành nguồn thông tin chủ lực của các cơ quan TT-TV nói chung và thư viện HVHKVN nói riêng
Nguồn TNĐT là một khái niệm, mà cho đến tận hôm nay, vẫn chưa được định nghĩa một cách thống nhất Trong thực tiễn định nghĩa này vẫn còn có nhiều tranh luận, chưa ngã ngũ Bởi dưới mỗi góc độ tiếp cận khoa học khác nhau các tác giả có quan điểm, định nghĩa khác nhau về nguồn TNĐT
Thư viện Quốc hội Mỹ định nghĩa như sau: “Electronic resource is defined as any work encoded and made available for access through the use of a computer It includes data available by remote access and direct access (fixed media)” - TNĐT là bất cứ tài liệu nào đã được mã hóa và có thể truy cập được thông qua máy tính Nó bao gồm các dữ liệu có thể truy cập từ xa hoặc truy cập trực tiếp (thông qua các thiết bị thông tin phù hợp) [55]
Ekwelem, Okafor và Ukwoma (2007) đã mô tả nguồn tài liệu điện tử là các thông tin có sẵn và có thể được truy cập bằng điện tử thông qua các phương tiện kết nối máy tính như các danh mục thư viện trực tuyến, internet, các website và thư viện số (như trích dẫn ở K A Owolabi & B A Ajiboye, 2012) [50]
Trang thuật ngữ của trường Đại học Waikato - New Zealand cho rằng nguồn TNĐT là các hình thức khác nhau của cơ sở dữ liệu và các tập tin máy có thể đọc, bao gồm các tạp chí điện tử, cơ sở dữ liệu trực tuyến, các trang web và cơ sở dữ liệu
Trang 21trên CD - ROM (Any of several different categories of databases, World Wide Web sites, and CD - Rom databases) [56]
Nguồn TNĐT được định nghĩa như là những gì được mã hóa và có thể truy cập sử dụng qua máy tính Nó bao gồm những dữ liệu điện tử có khả năng truy cập
từ xa và truy cập trực tiếp (Dữ liệu đa phương tiện đã được chỉnh sửa) Trong những
từ trên: Truy cập từ xa ngụ ý chỉ việc sử dụng nguồn TNĐT qua mạng máy tính (AACR2, ấn bản 2002) Truy cập trực tiếp ngụ ý việc sử dụng nguồn TNĐT đến những vật mang tin (băng đĩa, máy cát sết, đầu đĩa, ) được thiết kế để cho vào thiết
bị máy tính hoặc thiết bị hỗ trợ (như trích dẫn ở Ninh Thị Kim Duyên, 2016) [8]
Trong văn bản hướng dẫn xây dựng bài giảng điện tử ở Đại học Quốc gia Hà Nội, có định nghĩa nguồn TNĐT là “các tài liệu học tập được số hóa theo một cấu trúc, định dạng và kịch bản nhất định, được lưu trữ trên máy tính nhằm phục vụ việc dạy và học qua máy tính Dạng thức số hóa có thể là văn bản, slide, bảng dữ liệu,
âm thanh, hình ảnh, video số, các ứng dụng tương tác… và cả tài liệu hỗn hợp gồm các dạng thức nói trên” [12]
Theo tiêu chuẩn của Nga GOST R 51141-98 thì nguồn TNĐT là “những tài liệu được tạo lập do sử dụng các vật mang tin và các phương pháp ghi bảo đảm việc
xử lý thông tin bằng máy tính điện tử” Theo nghĩa này, nguồn tài liệu điện tử được hiểu là “Tài liệu đọc được bằng máy” như thuật ngữ khoa học được dùng phổ biến trong các tài liệu bằng các tiếng Anh và Nga (như trích dẫn ở Trần Nữ Quế Phương, 2011) [28]
Theo AACR2, nguồn TNĐT là “Vật liệu (Dữ liệu hoặc chương trình) đã được mã hóa bởi các thiết bị máy tính Những vật liệu có thể đòi hỏi việc sử dụng thiết bị ngoại vi kết nối trực tiếp đến thiết bị máy tính” (như trích dẫn ở Ninh Thị Kim Duyên, 2016) [8]
Trong tác phẩm “Nguồn tin điện tử” năm 2006, tác giả Nguyễn Thị Đào và Phan Thị Lý có trình bày quan điểm của mình về nguồn TNĐT và khái niệm này được hiểu theo hai nghĩa Nghĩa hẹp: “Nguồn TNĐT có thể hiểu là các loại tài liệu như sách, báo, tạp chí, các trang web, các cơ sở dữ liệu được bao gói hay được lưu giữ trên các vật mamg tin mà người ta chỉ có thể tiếp cận tới chúng thông qua các phương tiện điện tử như máy tính” Với cách hiểu này thì nguồn TNĐT sẽ không bao gồm các phần mềm máy tính như hệ điều hành, phần mềm tiện ích, hệ quản trị
Trang 22cơ sở dữ liệu, các chương trình máy tính chuyên dụng hay các dạng thông tin đặc biệt như phim ảnh, âm thanh đã được số hóa Theo nghĩa rộng: “Nguồn TNĐT ngoài các tài liệu như sách điện tử, báo điện tử, CSDL còn bao gồm các phần mềm, các chương trình chạy trên máy tính, các file multimedia, các trang web…, tức là những gì có thể đọc được, truy cập được thông qua máy tính hay mạng máy tính điện tử” [23]
Tác giả Nguyễn Hồng Sinh (2014) cũng có định nghĩa liên quan “Một tài liệu điện tử có thể là bất kỳ đối tượng nào đã được số hóa, ví dụ một tệp tin điện tử, một tấm ảnh số Các thông tin số hóa này tồn tại trong một dạng thức mà máy tính có thể lưu giữ, tổ chức, chuyển tải và hiển thị” Theo tác giả, nguồn tài liệu điện tử trong thư viện thì chỉ bao gồm các đối tượng mà thư viện mua, thuê bao, tạo dựng
và quản lý nhằm phục vụ cho người dùng tin, ví dụ như cơ sở dữ liệu toàn văn, tạp chí điện tử, sách điện tử, các nguồn internet có trả phí” [2]
Ở khía cạnh khác, trong bài viết “Tài liệu điện tử và vấn đề giá cả tài liệu điện tử” năm 2003 tác giả Nguyễn Viết Nghĩa, cho rằng “Nguồn TNĐT bao gồm các tài liệu như sách điện tử, báo điện tử, cơ sở dữ liệu và các phần mềm, các chương trình chạy trên máy tính, các file multimedia, các trang web,… tức là những cái gì có thể đọc được, truy cập được thông qua máy tính hay mạng máy tính điện tử” [26]
Tiếp thu những quan điểm khác nhau về nguồn TNĐT, tác giả khái quát như
sau: Nguồn TNĐT tất c các tài li u ã ợc x lý, mã hóa nh s h i n t , báo
i n t , các CSDL , ho phép ng ời dùng ọc, truy cập thông qua máy tính hay mạng m y tính i n t Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, nguồn TNĐT được đề
cập tới bao gồm CSDL thư mục, CSDL toàn văn, các bộ sưu tập số và tài liệu đa phương tiện
1.1.2 Đặc điểm nguồn tài nguyên điện tử
1.1.2.1 Tính ưu việt của nguồn TNĐT
Nguồn TNĐT được cập nhật nhanh chóng: Đây chính là ưu thế cơ bản và vượt trội của nguồn TNĐT so với tài liệu truyền thống (bản in) Với sự ra đời của internet, chỉ trong vài giây chúng ta có thể chuyển được tài liệu đến bất kỳ nơi nào trên trái đất mà không cần phải rời khỏi bàn làm việc và màn hình máy tính Khả năng chu chuyển nhanh chóng của văn bản điện tử đồng nghĩa với sự kịp thời (hầu
Trang 23như ngay lập tức) của thông tin cũng như của việc xử lý văn bản, tiết kiệm thời gian, chi phí và tăng đáng kể hiệu quả lao động
Mật độ thông tin rất cao: Do những tiến bộ vượt bậc trong công nghệ thông tin, đặc biệt là công nghệ nén và lưu trữ tài liệu trong các vật mang tin từ tính, quang học, mật độ ghi thông tin trên các vật này rất cao nên dung lượng thông tin lưu giữ trên chúng cũng rất lớn Chẳng hạn như với một đĩa CD-ROM theo chuẩn ISO 9660 có dung lượng lưu trữ là 680Mb, lượng thông tin này tương đương với 300.000 trang A4
Nguồn TNĐT có thể lưu giữ được trên mọi dạng khác nhau như văn bản, âm thanh, hình ảnh, biểu đồ, thông tin tĩnh và động trong cùng một tài liệu Điều này không có trong nguồn tài nguyên truyền thống (bản in) và ưu điểm này đã làm cho nguồn thông tin trở nên hấp dẫn, dễ hiểu, dễ truyền đạt và đến với người dùng một cách hiệu quả hơn
Khả năng đa truy cập: Khả năng này cho phép người dùng tra tìm thông tin đồng thời theo nhiều dấu hiệu khác nhau như tìm theo các yếu tố mô tả thư mục thông thường với các toán tử tìm cơ bản là AND, OR, NOT; hoặc tìm theo các liên kết tới các nguồn tham khảo, trích dẫn,….Vì vậy, trong quá trình tìm kiếm thông tin NDT có thể mở rộng hay thu hẹp phạm vi tìm kiếm tùy theo khả năng của mỗi người, rút ngắn thời gian tra tìm và giảm thiểu mức độ phức tạp của thông tin
Nguồn TNĐT tạo ra khả năng liên hệ, tiếp cận với các tác giả, tạo ra một kênh phản hồi thông tin Bằng việc tạo ra các kết nối tới địa chỉ của tác giả, tới các bài viết của cùng một tác giả, hay cho phép liên kết tới các nguồn thông tin khác ngoài văn bản,… người dùng dễ dàng theo dõi được quá trình phát triển của vấn đề
và dễ dàng liên hệ với các tác giả qua thư điện tử, hay tham gia vào các diễn đàn trao đổi thông tin với người dùng tin khác
Nguồn TNĐT cho phép người dùng truy cập từ xa trong mọi điều kiện không gian và thời gian: Trong môi trường thông tin điện tử, về nguyên tắc NDT có thể tiếp cận tới nguồn thông tin mọi lúc, mọi nơi trên thế giới thông qua mạng máy tính; họ có thể ngồi ở nhà, ở trường hay phòng làm việc thay vì phải đến thư viện vẫn có thể đọc được các cuốn sách, tạp chí hay truy cập vào các CSDL của các cơ quan TT-TV
Trang 24Nguồn TNĐT cho phép nhiều người sử dụng cùng một tài liệu, một thông tin trong cùng một thời điểm: Điều này cho phép các cơ quan TT-TV có thể tổ chức phục vụ một số lượng lớn NDT hơn so với trường hợp phục vụ bằng tài nguyên truyền thống với số lượng bản ít và còn phải phụ thuộc vào điều kiện không gian, thời gian
1.1.2.2 Những hạn chế của nguồn TNĐT
Nguồn TNĐT phụ thuộc rất nhiều vào hệ thống mạng internet và các thiết bị máy móc: Khác với nguồn tài liệu truyền thống, nguồn TNĐT không phụ thuộc vào vật mang tin và thông tin có thể cùng lúc ở trên các vật mang tin khác nhau Loại hình tài liệu này chỉ có thể sử dụng được với sự trợ giúp của các thiết bị điện tử Điều này luôn tiềm ẩn những nguy cơ sau: Thứ nhất - để sử dụng nguồn TNĐT, cần
sự hiện hữu của các thiết bị điện tử; thứ hai - nguồn TNĐT luôn có nguy cơ bị hủy hoại toàn bộ khi có sự trục trặc về máy móc (phần cứng) hay do sự xâm nhập của
virus (phần mềm)
Khó khăn trong vấn đề bảo quản lâu dài nguồn tin: nếu nguồn tin truyền thống có khả năng được bảo quản lâu dài, có thể hàng trăm hay hàng ngàn năm thì việc nguồn tin điện tử được bảo quản bao lâu chưa ai có thể xác định được Hoặc nguồn tin điện tử có thể được bảo quản tốt trong thời gian dài, song công cụ, thiết bị
để đọc, xử lý chúng lại bị thay thế rất nhanh, thậm chí có thể không còn tìm thấy trên thị trường
Sự rủi ro cao trong an toàn và an ninh thông tin: Nếu như rủi ro đối với nguồn tài nguyên truyền thống chủ yếu là hỏa hoạn, thiên tai hay sự vô ý thức của người đọc, thì nguồn TNĐT tiềm ẩn rủi ro rất cao từ việc nhiễm virut độc hại do vô tình khi sử dụng đến các cuộc tấn công mạng, đột nhập của hacker có thể khiến nguồn tài nguyên khổng lồ bị hủy hoại hoặc bị đánh cắp trong phút chốc, ngoài ra tính an toàn thông tin của tài nguyên điện tử dễ bị xâm nhập do sao chép dễ dàng, tính ổn định thông tin có thể không đồng nhất
Đối với nhóm NDT chưa quen sử dụng các thiết bị điện tử và mạng máy tính, việc tiếp cận và sử dụng các nguồn TNĐT vẫn gặp nhiều rào cản về mặt tâm lý và hành vi sử dụng
Trang 25Sự phức tạp trong quản lý và thực thi bản quyền đối với nguồn TNĐT Nạn đạo văn làm cho việc kiểm soát trở nên khó khăn hơn rất nhiều khi các nguồn TNĐT được truy cập, khai thác, chia sẻ một cách dễ dàng, nhanh chóng
Có thể nói, giống như các dạng tài liệu truyền thống, nguồn TNĐT cũng có những ưu và nhược điểm riêng Tuy nhiên, nó có nhiều tính năng vượt trội hơn so với nguồn tài liệu truyền thống Các thư viện cần nắm vững những thuộc tính này
để xây dựng cho đơn vị, cơ quan mình chiến lược, phương thức tổ chức quản lý và bảo quản lâu dài trong môi trường đa dạng, đồng thời tạo ra các sản phẩm và dịch
vụ thông tin điện tử nhằm đáp ứng nhu cầu của NDT
1.1.3 Vai trò của nguồn tài nguyên điện tử
1.1.3.1 Đối với thư viện
Nguồn TNĐT được xem là yếu tố vô cùng quan trọng và mang tính quyết định đến sự tồn tại và phát triển của các cơ quan TT-TV Nguồn TLĐT không chỉ đơn thuần là tài sản mà còn là cơ sở giúp cho mỗi cơ quan TT-TV hoạt động đạt hiệu quả
Nguồn TNĐT cho phép thư viện mở rộng thêm không gian và thời gian phục
vụ nhu cầu thông tin của NDT hơn, không bị giới hạn bởi không gian và thời gian, chẳng hạn như một bản tài liệu điện tử có thể cùng lúc phục vụ cho nhiều đối tượng khác nhau, không phụ thuộc vào số lượng người dùng, thời gian và vị trí địa lý của người học
Tính hiệu quả của nguồn TNĐT là tiết kiệm thời gian và kinh phí: Các cơ quan TT-TV đỡ tốn kinh phí xây dựng kho tàng, kinh phí bổ sung tài liệu, bảo quản
và hạn chế được phần nào kinh phí trả lương cho CBTV làm công tác phục vụ
Các cơ quan TT-TV hoạt động dưới hình thức nguồn TNĐT kết hợp với phương thức thư viện truyền thống sẽ góp phần vào việc đổi mới và nâng cao chất lượng đào tạo, đặc biệt là đào tạo theo tín chỉ, đào tạo trực tuyến của nhà trường Từ
đó vị thế của các cơ quan TT-TV được nâng cao hơn trong môi trường giáo dục
Tạo khả năng liên kết, chia sẻ nguồn tài nguyên thông tin với các cơ quan TT-TV khác trong và ngoài nước: Với những đặc điểm riêng, nguồn TNĐT góp phần giải phóng kiến thức, mở rộng đối tượng phục vụ, TNĐT của thư viện này không chỉ mang lại lợi ích cho NDT ở một thư viện mà nó còn có thể vươn ra xa hơn ở những thư viện khác, từ đó giúp cho các cơ quan TT-TV có thể liên kết, chia
Trang 26sẻ nguồn lực thông tin với nhau, góp phần làm tăng đáng kể khối lượng thông tin trong thư viện, mở rộng thêm phạm vi tìm kiếm thông tin cho NDT
Nguồn TNĐT là lựa chọn tối ưu để các cơ quan TT-TV bảo tồn được lâu dài các tài liệu quý hiếm, ngăn chặn những rủi ro hủy hoại do thiên tai, khí hậu, thời gian và tần suất sử dụng
1.1.3.2 Đối với người dùng tin
Nguồn TNĐT làm thay đổi diện mạo, phương thức và chất lượng hoạt động phục vụ của các cơ quan TT-TV Một khi chất lượng nguồn thông tin được nâng cao thì sẽ tạo điều kiện cho NDT tiếp cận thông tin một cách nhanh chóng, chính xác và dễ dàng khai thác thông qua nhiều hình thức tiếp cận khác nhau
Đem lại cho NDT sự tự do trong việc tiếp cận, ngang bằng trong khai thác tài liệu, thông tin có tại cơ quan TT-TV, không giới hạn không gian và thời gian, khoảng cách địa lý, tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho NDT như tiết kiệm được thời gian, công sức và tiền bạc trong việc tìm thông tin Ngoài ra, cùng với việc được hưởng thụ thành quả mà khoa học và công nghệ mang lại, NDT có thể khai thác qua mạng thông tin của các ngành, mạng quốc gia, mạng khu vực và mạng toàn cầu trên internet
Trong điều kiện còn thiếu nguồn tài liệu tham khảo học tập trên giấy thì việc
có thêm giải pháp tài liệu điện tử sẽ giúp cho người học có thêm nhiều lựa chọn để phục vụ cho kế hoạch học tập của cá nhân Với thông tin đầy đủ, phong phú từ nhiều nguồn và dạng thức tồn tại sinh động, hấp dẫn đã góp phần nâng cao chất lượng học tập, nghiên cứu
Nguồn TNĐT có thể cung cấp những thông tin và tri thức cho NDT một cách triệt để nguồn thông tin hiện hữu, có thể từ các bộ sưu tập đầy đủ mọi loại hình: sách, tài liệu phê bình, khảo cứu, báo cáo khoa học, đĩa CD-ROM,… đã được chuyển sang dạng sách điện tử
Nhìn chung, nguồn TNĐT đem lại nhiều ý nghĩa to lớn trong quá trình học tập, nghiên cứu, giải trí của NDT, đồng thời cũng giúp cho các cơ quan TT-TV nâng cao hiệu quả hoạt động, nâng cao vị thế của mình trong nhà trường Chính những vai trò tích cực trên mà hiện nay các cơ quan TT-TV không ngừng nỗ lực để xây dựng nguồn TNĐT phục vụ cho NDT của mình
Trang 271.1.4 Xu hướng phát triển nguồn tài nguyên điện tử
1.1.4.1 Thị trường tài nguyên điện tử phát triển ngày càng nhanh chóng
và phong phú
- Thị tr ờng s h i n t :
Thị trường sách điện tử ngày càng phát triển và hoạt động mạnh mẽ NetLibrary và Ebrary tham gia thị trường sách điện tử vào cuối năm 1998 và phát triển một mô hình kinh doanh tài liệu điện tử Các thư viện và doanh nghiệp có thể mua những bộ sưu tập sách điện tử được lưu trữ trên máy chỉ của công ty
Sau đó, đến năm 2004, Google cũng tham gia hợp tác với thư viện lớn để số hóa sách in của họ và có thể tìm kiếm thông qua trang web http://books.google.com Tuy nhiên, vì liên quan đến các vấn đề về bản quyền nên Google chỉ hiển thị các thông tin thư mục cơ bản, phần tóm tắt nội dung và một vài trang đầu tiên của cuốn sách
Ngoài ra, các nhà xuất bản lâu đời và danh tiếng trên thế giới đều phát triển xuất bản điện tử dưới dạng các CSDL tạp chí khoa học toàn văn, và trước tiên phải
kể đến là Elsevier (đã xuất bản 1.800 tạp chí thuộc 26 lĩnh vực khoa học, hàng ngàn nhan đề sách và tài liệu tham khảo ở hai hình thức in và trực tuyến, gần 7.000 trường đại học trên thế giới đã mua CSDl của Elsevier) và Springer (là một trong những nhà xuất bản lớn nhất trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và y học, hàng năm xuất bản khoảng 1.200 tạp chí và hơn 4.000 sách mới) Cùng với các tập đoàn xuất bản ấn phẩm điện tử lớn như Blacwell, John & Sons, Academic Press và các công ty nổi tiếng như Thomson Gale, Wilson, EBSCO, MacGrawhill…chuyên cung cấp TNĐT có giá trị khoa học cao ở đủ các lĩnh vực khoa học khác nhau
Đến nay, còn có hàng loạt ebook reader được ra đời từ các hãng sản xuất công nghệ nổi tiếng như: Sony, HP, Mobibocket,…
Tại Việt Nam, từ năm 2007 cũng bắt đầu thực hiện dự án xuất bản điện tử với sự hỗ trợ của Đại sứ quán Đan Mạch, Viện Quản lý Kinh tế Trung ương
Sau đó, Viện Quản lý Kinh tế Trung ương và Viện nghiên cứu Châu Á các nước Bắc Âu đã cùng nhau phối hợp đưa ra một chiến lược xuất bản điện tử nhằm đưa các kết quả và kinh nghiệm nghiên cứu kinh tế đến được với độ giả một cách rộng rãi hơn
Trang 28Tháng 9/2008, Nhà xuất bản Giáo dục và công ty Tân từ điển sản xuất đã tung ra thị trường bộ sách giáo khoa điện tử, đánh dấu bước khởi đầu của dự án sách giáo khoa điện tử Sách giáo khoa điện tử cũng phản ánh 100% nội dung và hình ảnh trong sách giáo khoa in Và dự án này trước tiên thực hiện cho môn tiếng Anh dành cho học sinh trung học cơ sở, sau đó sẽ tiến hành thực hiện ở các bộ môn khác
- Thị tr ờng b o i n t :
Cùng với sách điện tử, báo điện tử cũng bắt đầu được hình thành Năm 2006, một tờ báo về tài chính của Bỉ có tên De Tijd đã phát hành một số phiên bản báo giấy điện tử Đó là một thiết bị có màn hình cảm ứng, tiêu thụ điện năng thấp, sử dụng mực điện tử, có thể hiển thị hình ảnh đen trắng tùy thuộc vào dòng điện Loại báo này có khả năng kết nối không dây cho phép người dùng cập nhật thông tin bất
cứ lúc nào
Tiếp sau đó, báo điện tử vô tuyến cũng được ra đời ở Anh, là thiết bị đọc báo điện tử gọn nhẹ, nội dung liên tục được thay đổi, hiển thị qua màn hình Từ đó, công ty Plastic Logic dự kiến sẽ đưa thiết bị này ra thị trường tiêu thụ năm 2009
Tại Việt Nam hiện nay, hầu hết các báo đều xuất bản dưới dạng điện tử trên web và có thể truy cập dễ dàng theo hình thức có thể là miễn phí hoặc miễn phí đối với các thành viên
Như vậy, cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, thị trường TNĐT
đã không ngừng phát triển và cải tiến về chất lượng, mang lại sự thuận tiện nhất có thể để NDT có thể tiếp cận thông tin mọi nơi, mọi lúc, bỏ qua các rào cản về không gian, thời gian
1.1.4.2 Sự phát triển của công nghệ đi kèm
Với thị trường TNĐT phát triển một cách chóng mặt, yêu cầu đặt ra là cần có
sự phát triển của các công nghệ đi kèm để tạo điện kiện thuận lợi cho việc sử dụng của NDT
Năm 2006, Sony đã phát triển một đầu đọc sách điện tử mới sử dụng màn hình E - Ink không phụ thuộc vào đèn nền và cung cấp một màn hình có độ phân giải tương tự như sách in Tuy chi phí còn khá đắt đỏ nhưng công nghệ E - Ink đường như đã giải quyết mọi cản trở lớn đối với sách điện tử
Trang 29Bên cạnh công nghệ đọc TNĐT, công nghệ tổng hợp nguồn tin điện tử cũng
ra đời với hàng loạt cổng thông tin điện tử tích hợp cũng được ra đời như: Cổng thông tin công cộng, cổng thông tin doanh nghiệp, cổng giao dịch điện tử, cổng thông tin ứng dụng chuyên biệt…để giúp NDT tìm kiếm, khai thác thông tin một cách dễ dàng, thuận lợi nhất
1.1.5 Khai thác nguồn tài nguyên điện tử trong thƣ viện
1.1.5.1 Các sản phẩm - dịch vụ thông tin điện tử trong thư viện
Theo giáo trình sản phẩm và dịch vụ thông tin thư viện của Trần Mạnh Tuấn (1998) cho rằng “Sản phẩm thông tin, thư viện là kết quả của quá trình xử lý thông tin, do một cá nhân/ tập thể nào đó thực hiện nhằm thỏa mãn nhu cầu NDT” [3]
Trong thư viện có các sản phẩm thông tin điện tử như:
Sách điện tử (ebook)
Sách điện tử là một phương tiện số tương ứng của các loại sách in thông thường Loại sách này ngày càng phổ biến do việc dễ dàng phân phối, chia sẻ với bạn đọc trên internet Tuy dung lượng nhỏ gọn nhưng chứa đựng một lượng tri thức lớn, sách điện tử là một sự lựa chọn lý tưởng cho nhu cầu lưu trữ và đọc sách mọi lúc, mọi nơi trên những thiết bị điện toán của người dùng cá nhân như máy vi tính, máy tính bỏ túi pocket PC, và máy điện thoại.[42]
Sách điện tử là một loại sách nên nó mang những đặc điểm của cuốn sách truyền thống và đồng thời nó cũng có những đặc điểm riêng:
- Thông tin được số hóa hoàn toàn;
- Hình thức thể hiện: đa dạng, được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau;
- Định dạng: rất phong phú, như dạng PDF, HTML, DOC, LIT…;
- Phải được đọc bằng các thiết bị điện tử: máy tính, PDA, ebook readers…;
- Nội dung chuyển tải cả bằng văn bản, hình ảnh (động và tĩnh) và âm thanh
Có rất nhiều cách phân chia sách điện tử nhưng thông thường người ta dựa vào cách thức lưu trữ và phát hành chúng Có thể phân chia sách điện tử thành 2 loại: sách điện tử phát hành trực tuyến (online) và sách điện tử phát hành đoạn tuyến (offline) Sách điện tử phát hành trực tuyến là các tập tin dạng số, được lưu trữ trên các server và thể hiện trên các website, để đọc hoặc tải được loại sách điện
tử này người sử dụng phải kết nối với mạng internet Sách điện tử phát hành đoạn tuyến cũng là những tập tin dạng số nhưng được lưu trữ trên các thiết bị điện tử, từ
Trang 30(đĩa mềm, hoặc quang học) người sử dụng chỉ cần có thiết bị chuyên dụng để đọc sách chứ không cần phải kết nối internet
Tạp chí điện tử
Theo điều 3 Luật Báo chí 2016 định nghĩa: Tạp chí điện tử là sản phẩm báo chí xuất bản định kỳ, đăng tin, bài có tính chất chuyên ngành, được truyền dẫn trên môi trường mạng
Tạp chí điện tử có nội dung giống như tạp chí in, nhưng có thể sử dụng âm thanh, hình ảnh động, màu sắc sống động phong phú Thông tin trong các tạp chí điện tử có thể được cập nhật liên tục, nhanh chóng và dễ dàng NDT có thể được sử dụng nhiều tính năng tiện ích hiện đại trên tạp chí điện tử như:
- Truy cập thông tin mới nhất;
- Thực hiện các yếu tố đa truyền thông;
- Khả năng tìm kiếm thông tin nhanh chóng;
- Có sự kết nối đến nhiều nguồn khác nhau;
- An toàn, không giới hạn số lượng người dùng và phạm vi sử dụng;
- Đăng tải tài liệu xuống máy tính có thể đọc hoặc in ra giấy dễ dàng
Cơ sở dữ liệu
Cơ sở dữ liệu là tập hợp các biểu ghi hoặc các tệp có quan hệ logic với nhau
và được lưu trữ trên bộ nhớ của máy tính [3]
Hay nói cách khác: CSDL là tập hợp các dữ liệu về các đối tượng cần được quản lý, được cấu trúc hóa và lưu trữ đồng thời trên các vật mang tin của máy tính điện tử và được quản lý theo một cơ chế thống nhất nhằm giúp cho việc truy cập và
xử lý dữ liệu được dễ dàng, nhanh chóng [1]
Các cơ sở dữ liệu thường gặp trong thư viện như: CSDL thư mục (CSDL chỉ dẫn) dùng để tra cứu, CSDL toàn văn (CSDL tập hợp nhiều ebook) Ngoài ra, các thành phần khác như file nhạc, video, hình ảnh,… cũng là một dạng dữ liệu nằm trong CSDL Các CSDL thường chứa thông tin tương đối lớn, chúng được tổ chức, sắp xếp theo một logic nhất định và thường được quản lý bằng các phần mềm thư viện tích hợp CSDL được lưu trữ trong máy tính (thường là máy chủ trong hệ thống máy tính của thư viện) hoặc các thiết bị ghi thông tin khác như: CD-ROM, ổ cứng,
Trang 31CSDL là một sản phầm thông tin thư viện đặc biệt, có một số ưu điểm nổi bật:
- Có thể tìm kiếm mọi thông tin về một đối tượng trong các CSDL, việc tìm kiếm có thể được thực hiện độc lập theo mỗi thông tin hay một tổ hợp bất kỳ các thông tin đó;
- Quá trình tìm tin trong các cơ sở dữ liệu rất nhanh chóng, có thể thực hiện phép tìm với các CSDL ở địa điểm xa người khai thác;
- Thông tin được lưu trữ, bảo quản, truyền tải dễ dàng và thuận lợi;
- Thông tin được cập nhật thường xuyên
Tuy chi phí xây dựng, bảo trì đối với CSDL tốn kém và đòi hỏi trình độ chuyên môn của chuyên gia tương đối cao nhưng với những ưu điểm mà nguồn tài nguyên này mang lại thì việc xây dựng các CSDL vẫn ngày càng được phát triển
Ngân hàng dữ liệu (NHDL)
NHDL, còn gọi là ngân hàng thông tin, là một hệ thống thông tin tự động hóa, khai thác trực tiếp, được cấu trúc thành CSDL bao quát một lĩnh vực nào đó của tri thức [1]
Trong NHDL các CSDL vừa là bộ phận cấu thành, vừa là sản phẩm của NHDL Với tư cách là sản phẩm của NHDL, các CSDL được đưa vào các mạng lưới thông tin để sử dụng chung theo một chế độ cung cấp thông tin trực tuyến hoặc trao đổi giữa các cơ quan với nhau
Website
Website là dịch vụ cho phép truy nhập thông tin theo các trang gọi là trang web, dựa trên một kỹ thuật biểu diễn thông tin có tên là siêu văn bản Đó là kỹ thuật
mà các từ ngữ trong một văn bản chứa đựng sự liên kết với các tài liệu khác Nhờ
đó mà từ một từ ngữ được chọn trong văn bản, ta có thể truy nhập đến các tài liệu khác chứa thông tin bổ sung [1]
Trang 32Đặc điểm tiện lợi của Website:
- Thông tin dễ dàng cập nhật, trao đổi;
- Người dùng có thể xem thông tin ngay tức khắc ở bất kì nơi đâu nếu có máy vi tính được kết nối mạng;
- Tiết kiệm chi phí in ấn, gửi bưu điện, fax;
- Thông tin trên Website là kho thông tin khổng lồ và không giới hạn phạm
vi, khu vực hay đối tượng sử dụng
Sản phẩm đa phương tiện
Sản phẩm đa phương tiện là bao gồm sự tương tác của các phương tiện truyền thông khác nhau: văn bản, video, âm thanh, bản đồ, hình ảnh tĩnh và hình ảnh động Các sản phẩm này được sử dụng dưới sự hỗ trợ của các thiết bị điện tử như: máy tính đa phương tiện, đầu đọc CD, VCD, các thiết bị hỗ trợ âm thanh và hình ảnh
1.1.5.2 Các dịch vụ cung cấp nguồn tài nguyên điện tử trong thư viện
“Dịch vụ thông tin trong thư viện bao gồm những hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu thông tin và trao đổi thông tin của người sử dụng các cơ quan thông tin thư viện nói chung” [3]
Cùng với sự phát triển của các sản phẩm thông tin điện tử, dịch vụ thông tin điện tử trong các cơ quan TT-TV cũng ngày càng được phát triển, đa dạng và phong phú hơn nhằm đáp ứng khả năng khai thác được nguồn TNĐT đó của NDT Đi kèm với những sản phẩm điện tử thì có các dịch vụ thông tin điện tử như:
- Dịch vụ tra cứu mục lục trực tuyến: Với một máy tính được kết nối internet, NDT có thể tra cứu mục lục trực tuyến của các cơ quan TT-TV;
- Dịch vụ tra cứu CSDL toàn văn: Đây là dịch vụ cho phép NDT truy cập toàn văn bao gồm các CSDL mua từ các nhà cung cấp và các CSDL do thư viện tạo lập nên;
- Dịch vụ tra cứu CSDL của các thư viện khác: Tra cứu tài liệu tại các thư viện trong và ngoài nước thông qua cổng Z39.50;
- Dịch vụ cung cấp thông tin chọn lọc: Dịch vụ này cung cấp cho NDT những thông tin cập nhật theo một chủ đề nhất định;
- Dịch vụ tra cứu đa phương tiện: Cho phép NDT truy cập và xem các tài liệu
đa phương tiện của các cơ quan TT-TV;
Trang 33- Dịch vụ mượn liên thư viện: Dịch vụ này được thực hiện thông qua việc thư viện có liên kết với cơ quan TT-TV nào đó, giúp cho NDT có thể mượn hoặc khai thác thông tin từ các thư viện liên kết đó;
- Các dịch vụ thông tin liên kết giữa các dịch vụ thông tin và NDT: Liên kết NDT với các chuyên gia của các lĩnh vực để xác định nhưng khó khăn về thông tin của NDT Các dịch vụ này là phương tiện kích thích sự giao lưu thông tin giữa đơn
vị thông tin và NDT Các cán bộ phụ trách côn việc này phải có kiến thức về kỹ thuật và sự hiểu biết về nghiệp vụ thông tin
Ngoài ra, để đáp ứng cho việc truy cập, khai thác, sử dụng nguồn TNĐT, một
số cơ quan TT-TV còn cung cấp thêm các dịch vụ mới như dịch vụ bao gói cơ sở dữ liệu theo yêu cầu, dịch vụ khai thác tài liệu đa phương tiện…
Như vậy, sản phẩm và dịch vụ TT-TV có mối quan hệ hết sức chặt chẽ, ảnh hưởng, tác động, hỗ trợ nhau và nhiều khi không thể tách rời nhau để hướng tới mục đích cao nhất là thỏa mãn và đáp ứng được nhu cầu tìm kiếm, khai thác và sử dụng thông tin của NDT Sản phẩm và dịch vụ TT-TV thích hợp giúp cho NDT ở mọi nơi, vào mọi lúc đều có điều kiện để truy cập và khai thác nguồn tài nguyên thông tin cần thiết Vì vậy, vấn đề hoàn thiện, phát triển các sản phẩm thông tin - thư viện phải luôn đi liền với việc tổ chức, đảm bảo sự phát triển cân đối, đồng bộ dịch vụ TT-TV phù hợp Đây là vấn đề cần được quan tâm, nhận định và triển khai toàn diện, góp phần nâng cao hiệu quả và chất lượng hoạt động của cơ quan TT-TV
1.1.6 Các tiêu chí đánh giá nguồn tài nguyên điện tử
Sau thời gian sử dụng, các cơ quan TT-TV cần thực hiện đánh giá hiệu quả công tác phát triển TNĐT nhằm đảm bảo sản phẩm đáp ứng người dùng một cách tốt nhất Để đánh giá một cách vừa toàn diện, vừa cụ thể, thư viện cần xem xét đánh giá theo nhiều khía cạnh khác nhau [2]
1.1.6.1 Đánh giá về nội dung
- Sản phẩm có liệt kê rõ và đầy đủ danh mục các nội dung của nguồn tài liệu không và người dùng có dễ dàng nhìn thấy danh mục này không? Đối với các nguồn có cập nhật thường xuyên thì sản phẩm có đảm bảo cập nhật chính xác nội dung trên danh mục không;
- Có thấy xuất hiện những lỗi trong văn bản hay trong các đường link kết nối không;
Trang 34- Nội dung trong ấn phẩm điện tử có đầy đủ như trong ấn phẩm in không?
- Mức độ thường xuyên cập nhật nội dung của sản phẩm;
1.1.6.2 Đánh giá về giao diện và tính năng tìm kiếm
- Giao diện có dễ sử dụng không; các tính năng tìm kiếm có đa dạng và dễ dàng tìm kiếm không;
- Sản phẩm có hay không các chức năng như lưu lại cuộc tìm, so sánh các thuật ngữ tìm, sửa đổi lại các cuộc tìm, thu hẹp hoặc mở rộng kết quả tìm, sử dụng toán tử Bool, sử dụng lệnh chặt từ hoặc thay thế từ, giới hạn tìm theo thời gian, ngôn ngữ, loại hình của tài liệu, kiểm tra bảng chỉ mục và chọn điểm truy cập cho cuộc tìm, cung cấp danh mục các trường tìm kiếm;
- Trong trường hợp cuộc tìm không ra kết quả, sản phẩm có cung cấp gợi ý
để thực hiện một lệnh tìm mới không;
- Có chức năng lưu lại lệnh tìm cho những lần dùng sau không
1.1.6.3 Đánh giá về cách hiển thị, lưu và in
- Các kết quả hiển thị tự động không, Thời gian trung bình để hiện thị kết quả cho một lệnh tìm đơn giản là bao lâu;
- Có cho phép lựa chọn kiểu hiển thị không;
- Có cho phép đánh dấu các kết quả cần dùng không;
- Cho phép bao nhiêu biểu ghi được đánh dấu hoặc lưu hoặc xuất cùng một lúc;
- Các bước thực hiện lưu, xuất, in có dễ hiểu không;
- Có thể lưu kết quả vào một thiết bị bên ngoài như USB, ổ cứng không;
- Có thể gửi email kết quả tìm thấy không
1.1.6.4 Đánh giá về khả năng truy xuất
- Có dễ dàng nhập vào và thoát ra không;
- Sản phẩm có nhắc người dùng lưu lại kết quả không;
- Sản phẩm có chế độ tự thoát khi người dùng ngưng sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định không
1.1.6.5 Đánh giá về khả năng hướng dẫn và hỗ trợ
- Có cung cấp tài liệu hướng dẫn không;
- Hướng dẫn có đầy đủ và bao gồm cả phần cài đặt và sử dụng không;
- Có sẵn các kênh trao đổi qua điện thoại, fax, email hay web không;
Trang 35- Có cung cấp hỗ trợ trực tuyến không, có dễ dàng truy cập vào không
1.2 Học liệu mở
1.2.1 Khái niệm học liệu mở
Thuật ngữ học liệu mở (Open Course Ware - OCW) được Viện công nghệ Massachusetts - MIT (Mỹ) khai sinh vào năm 2002 khi MIT quyết định đưa toàn bộ nội dung giảng dạy của mình lên website và cho phép người dùng internet ở mọi nơi trên thế giới truy cập hoàn toàn miễn phí MIT đã đưa ra một khái niệm về OCW như sau: Học liệu mở là sự xuất bản dựa trên nền web toàn bộ nội dung các môn học của Viện công nghệ ở quy mô lớn nhằm tạo ra một phương thức tiếp cận mới trong việc chia sẻ nguồn tri thức mở (MIT, 2015) [62]
Theo Hiệp hội giáo dục mở (Open Education Consortium - OEC): Một học liệu mở là một ấn phẩm số, mở và miễn phí bao gồm các tài liệu giáo dục có chất lượng cao và được tổ chức dưới dạng các môn học [85]
Một năm sau khi MIT đưa ra khái niệm về học liệu mở, nhận thấy rõ tầm quan trọng, Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của Liên hợp quốc (UNESCO)
đã có những hoạt động rất tích cực nhằm xúc tiến, thúc đẩy và nâng tầm vấn đề học liệu mở lên một tầm cao mới Và vào năm 2012, khái niệm về tài nguyên giáo dục
mở (Open Educatuional Resources - OER) ra đời Từ đó đến nay, cũng có nhiều cách hiểu về tài nguyên giáo dục mở:
Theo UNESCO định nghĩa: OER có thể được coi là bất cứ tài liệu giáo dục nào nằm trong phạm vi/ miền công cộng hoặc được phát hành theo một giấy phép
mở, bất cứ ai cũng có thể sao chép, sử dụng, sửa đổi và chia sẻ một cách hợp pháp các tài liệu này OER có thể là giáo trình, khung chương trình đào tạo, đề cương môn học, bài giảng, bài luận, các bài kiểm tra, các kết quả dự án, video và hình ảnh động [58]
Theo Hewlett Foundation, OER là nguồn lực dùng giảng dạy, học tập và nghiên cứu tồn tại trong phạm vi/ miền công cộng (sử dụng chung) hoặc được lưu hành theo giấy phép sở hữu trí tuệ cho phép sử dụng miễn phí và tái sử dụng theo mục đích bởi những người khác OER bao gồm tất cả những khoa học, tài liệu học tập, các module, sách giáo khoa, bài kiểm tra, phần mềm và những công cụ, tài liệu, công nghệ được sử dụng để hỗ trợ cho việc tiếp cận tri thức [54]
Trang 36Tổ chức về Phát triển và Hợp tác Kinh tế - OECD (Organization for Economic Cooperation and Development) định nghĩa OER như sau: Các tư liệu số hóa được chào tự do và mở cho các nhà giáo dục, các học sinh, và những người tự học để sử dụng và sử dụng lại cho việc học, dạy, và nghiên cứu OER bao gồm nội dung học tập, các công cụ phần mềm để phát triển, sử dụng, và phân phối nội dung,
và các tài nguyên triển khai như các giấy phép mở (như trích dẫn ở Lê Trung Nghĩa, 2016) [33]
Ngày 29/10/2015, Bộ Giáo dục Mỹ đã đưa ra định nghĩa OER trên website của mình khi phát động chiến dịch khuyến khích các trường học “Đi với Mở” bằng các tài nguyên giáo dục như là: Các tài nguyên giáo dục được cấp phép mở là các tư liệu học tập có thể được sử dụng cho việc dạy, học và đánh giá mà không có chi phí Chúng có thể được sửa đổi và được phân phối lại mà không vi phạm các luật bản quyền (như trích dẫn ở Lê Trung Nghĩa, 2016) [33]
Ngoài định nghĩa của các tổ chức, một số tác giả cũng đưa ra cách hiểu của mình về OER: Theo tác giả D’Antoni (2009), OER là nguồn tài nguyên được cung cấp trong phạm vi công cộng hoặc được phát hành theo giấy phép sở hữu trí tuệ, cho phép NDT sử dụng miễn phí hay sửa đổi lại theo mục đích riêng của họ OER
có thể là giáo trình, khung chương trình đào tạo, đề cương môn học, bài giảng, bài luận, các bài kiểm tra, các kết quả dự án, video và hình ảnh động [52]; Tác giả Bisell (2009) cho rằng: OER là các tài liệu số hóa được cung cấp miễn phí và mở đến các nhà giáo dục, sinh viên, người học để sử dụng và tái sử dụng trong giảng dạy, học tập và nghiên cứu [47]
Tại Việt Nam, trên cơ sở tham khảo định nghĩa của UNESCO, Hewlett Foundation, Bộ Giáo dục Mỹ và Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam, tác giả Đỗ Văn Hùng
đã đề xuất định nghĩa về OER: Tài nguyên giáo dục mở bao gồm tất cả những tài liệu giảng dạy, học tập dưới định dạng số hoặc in ấn, nằm trong phạm vi công cộng hoặc được phát hành theo một giấy phép mở để bất cứ ai cũng có thể sử dụng, sao chép, sửa đổi, chia sẻ và phân phối lại một cách hợp pháp và không bị tính phí hoặc không bị cản trở bởi một giới hạn hoặc hạn chế nào ngoài việc phải công nhận nguồn gốc Giấy phép mở được xây dựng trên khuôn khổ của quyền sở hữu trí tuệ được xác định bởi các công ước quốc tế có liên quan và Luật sở hữu trí tuệ với những quy định về việc tôn trọng quyền tác giả của tác phẩm [13]
Trang 37Như vậy, so với OCW thì OER có tầm bao quát rộng hơn, nhưng nhìn chung
cả hai đều là những nguồn tài nguyên thông tin mở, cho phép người dùng sử dụng, khai thác miễn phí Học liệu mở phải đảm bảo ba yếu tố: chất lượng được kiểm soát, miễn phí và giấy phép mở
Theo cách tiếp cận của đề tài, tác giả sẽ xem học liệu mở và tài nguyên giáo dục mở là một và gọi chung là nguồn học liệu mở
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả xin khái quát như sau: Nguồn học li u mở là nguồn t i nguyên ợc các ơ qu n, t chức xây dựng, phát hành theo giấy phép sở hữu trí tu và chia sẽ rộng rãi cho phép mọi ng ời có th tiếp cận tìm kiếm và s dụng một cách miễn phí
1.2.2 Đặc điểm nguồn học liệu mở
Cũng như bất kì nguồn tài nguyên thông tin nào, tài nguyên học liệu mở cũng có những đặc điểm nổi bật, khác biệt riêng:
Nguồn học liệu mở được cấu thành từ 3 yếu tố cơ bản đó là: nội dung, công
cụ hỗ trợ và những nguồn lực bổ sung khác [29][32]
- Nguồn học liệu mở có nội dung bao gồm mọi lĩnh vực tri thức được ghi lại dưới các dạng khác nhau như giáo trình, bài giảng, các bài báo - tạp chí khoa học, các công trình nghiên cứu khoa học, kỷ yếu khoa học, các tài liệu tra cứu…với nhiều hình thức như văn bản, âm thanh, hình ảnh, hình vẽ, biểu đồ, mô hình, hiện vật, đa phương tiện…dành cho người dạy và người học trong giảng dạy, học tập, nghiên cứu khoa học;
- Được hình thành nhờ vào sự hỗ trợ của các công cụ để phát triển, sử dụng, tái sử dụng và phân phối nội dung học tập, cũng như việc tìm kiếm và tổ chức nội dung, hệ thống quản trị học tập, công cụ phát triển nội dung, và các cộng đồng học tập;
- Nguồn lực để thực hiện: đó là các giấy phép về quyền sở hữu trí tuệ để thúc đẩy xuất bản các tài liệu mở, đó là những nguyên tắc để triển khai cũng như bản địa hóa nội dung, cho phép truy cập, sử dụng, tái mục đích, tái sử dụng, tái phân phối
và tái phát sinh mà không có hạn chế hoặc có những giới hạn đối với quyền sử dụng
và đóng góp tri thức vào nguồn học liệu mở của người dạy và người học
Học liệu mở đảm bảo 3 yếu tố: chất lượng được kiểm soát, hoàn toàn miễn phí và giấy phép mở
Trang 38- Chất lượng được kiểm soát: Học liệu đảm bảo cung cấp thông tin, tri thức cho giảng viên, sinh viên một cách đầy đủ, cập nhật, chính xác, phù hợp với nhu cầu của họ để phục vụ cho hoạt động nghiên cứu khoa học, giảng dạy và học tập Vì vậy, học liệu phải không ngừng được bổ sung, phát triển và được kiểm soát bởi cá nhân, tổ chức tạo lập nên nhằm đảm bảo chất lượng khi chia sẻ với mọi người;
- Hoàn toàn miễn phí: Xuất phát từ quan điểm của MIT khi khởi xướng và tiên phong về nguồn tài nguyên học liệu mở, kế thừa quan điểm đó, tất cả các nguồn học liệu mở hiện nay đều được xây dựng trên nguyên tắc cho phép người dùng ở khắp mọi nơi trên thế giới có thể sử dụng internet để truy cập và sử dụng hoàn toàn miễn phí;
- Giấy phép mở: Các nguồn học liệu mở hiện nay thường được cấp phép mở theo giấy phép Creative Commons (CC) hệ thống giấy phép tư liệu tự do - mở nhưng tuân thủ các khung pháp lý về sở hữu trí tuệ và có giá trị pháp lý trên toàn cầu Chúng đưa ra cách thức thuận tiện, đặc biệt trong kỷ nguyên số qua internet, để
sử dụng các tư liệu được cấp phép tự do - mở cho cả người sáng tạo và những người
sử dụng
Với những đặc điểm ưu việt, nguồn học liệu mở đã và đang mang lại cho con người rất nhiều lợi ích vô cùng to lớn, tuy nhiên, để học liệu mở ngày càng phát triển và phổ biến thì một trong những yếu tố quan trọng đó là cần có sự sẵn sàng và
tự nguyện cho đi giữa người dùng và người tạo lập dựa trên nguyên tắc cùng hợp tác - tính cộng đồng Càng nhiều người tham gia đóng góp thì càng nhiều người được tiếp cận với thông tin và giáo dục, đem nền tri thức của nhân loại đến gần với con người hơn
1.2.3 Vai trò của nguồn học liệu mở
Với tiêu chí phục vụ hoàn toàn miễn phí, đem tri thức chia sẻ để mọi người dùng chung, học liệu mở mang lại những lợi ích to lớn: [35]
Thứ nhất, học liệu mở tạo ra cơ hội để người học và người dạy tiếp cận đến nguồn học liệu chất lượng cao, thông qua đó tạo ra sự bình đẳng trong tiếp cận tri thức: Người học có thể chủ động tiếp cận không giới hạn tới nguồn tài nguyên số có chất lượng cao và hoàn toàn miễn phí ít nhất là ở lĩnh vực họ đang học tập, nghiên cứu và lý tưởng hơn là tất cả các lĩnh vực mà họ quan tâm Tiếp cận đến các chương trình giáo dục có chất lượng, từ đó giúp họ cải thiện tư duy nghề nghiệp, trình độ và
Trang 39kỹ năng chuyên môn phục vụ trực tiếp cho công việc của bản thân cũng như cho cộng đồng [30]
Thứ hai, Các trường đại học khi xây dựng và khai thác học liệu mở sẽ có động lực khuyến khích tạo ra một mô hình giáo dục số tương tác với các tổ chức giáo dục khác trong môi trường không gian để tăng tính cạnh tranh và giúp nâng cao chất lượng giáo dục Bên cạnh đó, với sứ mạng, tiện ích và chức năng gần như phi lợi nhuận của học liệu mở mang lại, nó tập trung vào việc định vị nhu cầu truy cập đến các nội dung giáo dục ngày càng mở rộng, cũng như lợi ích trong hợp tác giữa các trường đại học trên phạm vi trong nước, trong khu vực và toàn cầu Giúp các trường đại học xây dựng lại nội dung chương trình giảng dạy và đào tạo để nâng cao chất lượng giáo dục, đáp ứng nhu cầu thực tiễn của xã hội nói chung và nhu cầu
tự học, tự đào tạo của người học nói riêng [30]
Thứ ba, học liệu mở giúp giảm giá thành xây dựng và phát triển học liệu trong các trường đại học: Trước đây, các trường đại học thường tốn rất nhiều nguồn lực để biên soạn chương trình cho một môn học mới, chưa kể phải tốn thêm các chi phí khác nếu muốn biên soạn lại cho phù hợp Tuy nhiên, với những công nghệ hiện đại mà thế giới đang có và những ưu điểm của học liệu mở thì các chi phí này đã được cắt giảm đáng kể nếu không muốn nói là bằng 0 Mặt khác, nếu các trường đại học cùng hợp tác xây dựng học liệu mở thì một trường đại học chỉ phải đầu tư cho một phần học liệu, họ sẽ chia sẻ và sử dụng chung các phần học liệu của các trường đại học khác Bằng việc cắt giảm chi phí, các trường đại học có thể sử dụng nguồn kinh phí này vào các mục đích khác nhau như tạo ra thêm nhiều nguồn tài liệu mới,
đa dạng hóa các điểm truy cập, các loại hình tài liệu và tạo ra nhiều sự lựa chọn cho người học khi tìm kiếm các khóa học phù hợp [13]
Thứ tư, tri thức luôn được cập nhật và phát triển, với tính mở của mình, một tài liệu như giáo trình, bài giảng hay sách tham khảo luôn được tái sử dụng và được phép sửa đổi kịp thời cho phù hợp với sự phát triển của khoa học và công nghệ cũng như sự thay đổi của kinh tế và xã hội, điều đó có nghĩa nguồn thông tin tri thức mà mọi người được tiếp cận không bị lạc hậu, lỗi thời và có khả năng ứng dụng vào thực tế cao [13]
Và cuối cùng, với tầm nhìn xa rộng lớn thì học liệu mở cũng đóng vai trò then chốt trong việc quảng bá hình ảnh của các trường đại học - nơi có dự án đầu tư
Trang 40cho học liệu mở tốt hơn những trường đại học không có học liệu mở Nó tạo ra lợi thế cạnh tranh cho các trường bằng việc thu hút và gia tăng số lượng sinh viên đăng
ký theo học tại các trường này Theo một khảo sát của MIT về học liệu mở, có khoảng 1/3 số lượng sinh viên mới cho rằng học liệu mở đã tác động đáng kể đến việc đưa ra quyết định lựa chọn trường học của họ và khoảng ½ cựu sinh viên đã từng sử dụng học liệu mở như là một phương tiện hỗ trợ trong suốt những năm tháng học tập của mình Ngoài ra, học liệu mở còn tạo ra những lợi ích thiết thực để
hỗ trợ việc học tập của sinh viên như ghi lại bài giảng các buổi học, đăng tải các bài giảng quan trọng khác lên website… [30]
1.2.4 Các mô hình học liệu mở trên thế giới và tại Việt Nam
1.2.4.1 Các mô hình học liệu mở trên thế giới
- Học liệu mở của Học viện Công nghệ Massachusetts [30]
Đây là trang học liệu mở đầu tiên trên thế giới Năm 1999, Học viện Công nghệ Massachusetts (MIT) bắt đầu xem xét phương án sử dụng nguồn lực internet trong việc thực hiện sứ mạng giáo dục và nâng cao tri thức cho sinh viên
Đến năm 2000, dự án Học liệu mở (OCW) được đề xuất và một năm sau đó, MIT chính thức thông báo về OCW và khái niệm “ Học liệu mở” chính thức được khai sinh
Năm 2002, MIT đã cho ra đời một website chạy thử nghiệm đầu tiên gồm có
50 môn học Đến tháng 11/2007, MIT đã bổ sung thêm vào OCW gần như toàn bộ chương trình đào tạo của hơn 1.800 môn học ở 33 chuyên ngành
Những năm sau đó, MIT không ngừng cập nhật và đưa lên website những khóa học hiện hành cũng như các nội dung và dịch vụ mới
Một thập kỉ sau, OCW của MIT đã cập nhật hơn 2000 tài liệu các môn học gần như tất cả các lĩnh vực và thu hút khoảng 100 triệu lượt truy cập trên khắp thế giới
Đến nay, MIT đã xuất bản 2.260 môn học, với 1 tỉ lượt người xem, 175 triệu lượt người truy cập trên khắp thế giới, 100 môn học dưới dạng video, 900 môn học
cũ đã được cập nhật mới, và xây dựng thêm hai OCW khác là OCW dành cho học giả (OCW scholar) và OCW dành cho Nhà giáo dục (OCW Educator)