83 CHƯƠNG III: ĐÁNH GIÁ QUÁ TRÌNH LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI CỦA ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2008-2016; BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ MỘT VÀI KHUYẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHẠM THỊ NGOÃN
ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH
XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
GIAI ĐOẠN 2008 - 2016
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
Thành phố Hồ Chí Minh - Năm 2018
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHẠM THỊ NGOÃN
ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH
XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
GIAI ĐOẠN 2008 - 2016
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
Chuyên ngành: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Mã số: 60.22.03.15
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS NGUYỄN ĐÌNH THỐNG Thành phố Hồ Chí Minh - Năm 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin được gửi lời cảm ơn đến tất cả quý thầy cô đã giảng dạy trong chương trình cao học Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh, những người đã truyền đạt cho tôi những kiến thức bổ ích về chuyên ngành mà tôi đang theo học Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc đến Tiến sĩ Nguyễn Đình Thống, thầy đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo tôi các bước thực hiện và hoàn thành luận văn này
Tôi xin cảm ơn Văn phòng Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh, Chi Cục Văn thư lưu trữ - Sở Nội vụ, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Sở Văn hóa và Thể thao thành phố, Cục Thống kê, Hội Nông dân thành phố, Thư viện Khoa học Tổng hợp, Thư viện trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi được tiếp cận và thu thập những tài liệu
có liên quan đến luận văn
Chân thành cảm ơn Quý thầy, cô trong Khoa Lịch sử, Phòng Sau Đại học trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh, người thân
và bạn bè đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập cũng như làm luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày tháng 9 năm 2018
Học viên cao học
Phạm Thị Ngoãn
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các thông tin, dữ kiện và số liệu thống kê hoàn toàn trung thực theo những tài liệu mà tôi đã có được
từ Văn phòng Thành ủy, Văn phòng Ủy ban nhân dân, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thành phố, …Các kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất kì công trình khoa học nào Nếu có gì sai xót tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Tác giả luận văn
Phạm Thị Ngoãn
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 6MỤC LỤC
DẪN LUẬN 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 7
6 Nguồn tư liệu 7
7 Ý nghĩa của luận văn 7
8 Bố cục và kết cấu của luận văn 8
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 11
1.1 Quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước và quan điểm, chủ trương, chính sách của thành phố Hồ Chí Minh về xây dựng nông nghiệp, nông thôn, nông thôn mới 11
1.1.1 Quan điểm, chủ trương của Đảng về xây dựng nông nghiệp, nông thôn, nông thôn mới 11
1.1.2 Chính sách của Nhà nước về xây dựng nông nghiệp, nông thôn, nông thôn mới 20
1.1.3 Quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh về xây dựng nông nghiệp, nông thôn, nông thôn mới 22
1.2 Những nhân tố tác động đến xây dựng nông thôn mới ở thành phố Hồ Chí Minh 26
1.2.1 Điều kiện tự nhiên 26
1.2.2 Điều kiện xã hội 30
1.3 Thực trạng nông nghiệp, nông thôn của thành phố Hồ Chí Minh trước năm 2008 35
1.3.1 Quá trình chỉ đạo xây dựng nông nghiệp, nông thôn của Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn trước năm 2008 35
Trang 71.3.2 Thực trạng nông nghiệp, nông thôn ở thành phố Hồ Chí Minh trước năm
2008 và những yêu cầu đặt ra trong tình hình mới 39
TIỂU KẾT CHƯƠNG I 48
CHƯƠNG II: QUÁ TRÌNH LÃNH ĐẠO VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI CỦA ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH (2008 - 2016) 51
2.1 Chủ trương, quá trình tổ chức thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới của Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh 51
2.1.1 Chủ trương xây dựng nông thôn mới của Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh 51
2.1.2 Quá trình tổ chức thực hiện 56
2.2 Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh lãnh đạo thực hiện các giải pháp chung về xây dựng nông thôn mới 59
2.2.1 Công tác lãnh đạo chỉ đạo chung 59
2.2.2 Kết quả thực hiện các giải pháp chung 65
2.3 Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh lãnh đạo thực hiện từng nhóm tiêu chí 69
2.3.1 Lập quy hoạch, đề án xây dựng nông thôn mới (tiêu chí 1) 69
2.3.2 Đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế, xã hội (nhóm tiêu chí 2 - 9) 71
2.3.3 Định hướng lại cơ cấu kinh tế và tổ chức sản xuất (tiêu chí 10-13) 75
2.3.4 Phát triển văn hóa - xã hội và bảo vệ môi trường (tiêu chí 14-17) 78
2.3.5 Xây dựng hệ thống chính trị và bảo đảm quốc phòng - an ninh (tiêu chí 18-19) 81
TIỂU KẾT CHƯƠNG II 83
CHƯƠNG III: ĐÁNH GIÁ QUÁ TRÌNH LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI CỦA ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH (2008-2016); BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ MỘT VÀI KHUYẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT 85
3.1 Đánh giá quá trình lãnh đạo thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới ở thành phố Hồ Chí Minh (2008 - 2016) 85
Trang 83.1.1 Những ưu điểm của Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình chỉ
đạo thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới 85
3.1.2 Những hạn chế của Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình chỉ đạo thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới 99
3.2 Một số bài học kinh nghiệm được rút ra trong quá trình xây dựng nông thôn mới của Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh 103
3.3 Một số khuyến nghị, đề xuất nhằm thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới trong thời gian tới 105
3.3.1 Khuyến nghị về chủ trương, giải pháp 105
3.3.2 Khuyến nghị về tổ chức thực hiện 109
KẾT LUẬN 112
TÀI LIỆU THAM KHẢO 116
PHỤ LỤC 129
Trang 9DẪN LUẬN
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam là quốc gia có diện tích đất nông nghiệp chiếm gần 80% diện tích đất cả nước, với gần 70% dân số sinh sống ở nông thôn Chính vì vậy, vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở Việt Nam luôn được Đảng và Nhà nước hết sức coi trọng trong các giai đoạn phát triển của cách mạng Việt Nam Trong mỗi kỳ đại hội, Đảng đều có những chính sách phát triển nông nghiệp gắn với việc phát triển các ngành nghề khác Đặc biệt, từ đại hội V Đảng đã đề ra: tập trung sức phát triển mạnh nông nghiệp, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, đưa nông nghiệp từng bước lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa Khi đất nước tiến hành công cuộc đổi mới
từ năm 1986 đến nay, vấn đề nông nghiệp, nông thôn luôn được Đảng, Nhà nước ta quan tâm Đại hội VIII đặc biệt coi trọng CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn, Nghị quyết số 05-NQ/TW Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII ngày 17 tháng 10 năm 1998 đề ra phương hướng và mục tiêu về nông
nghiệp và kinh tế nông thôn “sự phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng CNH, HĐH có vai trò cực kì quan trọng cả về trước mắt và lâu dài, làm cơ
sở để ổn định và phát triển kinh tế-xã hội, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước” Các đại
hội tiếp theo, Đảng ta đều có những chính sách phát triển nông nghiệp
Nghị quyết số 26-NQ/TW của Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X ngày 05/8/2008 “Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn” khẳng định: Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp CNH, HĐH, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh, quốc phòng; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước
Xuất phát từ Nghị quyết 26-NQ/TW của Trung ương, từ năm 2008 đến nay, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách cụ thể như: Chương trình thí điểm xây dựng mô hình NTM trong thời kỳ CNH, HĐH được triển khai thực hiện theo Kết luận số 32/KL-TW ngày 20/11/2008 của Bộ Chính trị và Thông báo kết luận số
Trang 10238/TB-TW ngày 07/4/2009 của Ban Bí thư về Đề án “Xây dựng thí điểm mô hình NTM” Tiếp đến Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 về việc ban hành Bộ tiêu chí Quốc gia về NTM; Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 về việc Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM giai đoạn 2010 – 2020,… Đây được xem là một giải pháp lớn nhằm thực hiện
có hiệu quả Nghị quyết số 26-NQ/TW của Hội Nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X ngày 05/8/2008 đã đề ra
TP.HCM có diện tích gần 209.600 ha, gồm 19 quận và 5 huyện ngoại thành Đất nông nghiệp gần 104.000 ha, chiếm gần 50% tổng diện tích toàn thành phố, trong đó đất sản xuất nông nghiệp khoảng 56.700 ha, đất lâm nghiệp 36.300 ha, đất nuôi trồng thuỷ sản 9.400 ha, còn lại là đất làm muối Đây chính là những tiềm năng lớn để thành phố phát triển nông nghiệp theo hướng CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn theo đúng với chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta, đồng thời đây chính là những điều kiện thuận lợi để thành phố phát huy hết thế mạnh nông nghiệp của mình vào sự nghiệp phát triển chung
TP.HCM với vai trò là trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học - công nghệ lớn nhất của cả nước, nhưng cũng có sự phát triển không đồng bộ giữa các quận, huyện nhất là các huyện vùng ven Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển chung
và ảnh hưởng sâu sắc cuộc sống của người dân tại những vùng ven Chính vì vậy, nghiên cứu việc thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM đối với TP.HCM là một vấn đề cấp thiết, để thấy được những chính sách phát triển đồng bộ, sự nỗ lực kéo giảm khoảng cách chênh lệnh giàu nghèo ở các quận nội thành và các huyện ngoại thành ở TP.HCM, đặc biệt là việc chú trọng nâng cao chất lượng sống tốt cho người dân thành phố trong thời kỳ mới; thấy được kết quả của việc thực hiện chương trình này sau 8 năm đạt ở mức độ nào đối với một thành phố lớn và phát triển nhất nhì của cả nước Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn đề
tài: “Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh lãnh đạo thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2008 - 2016” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc
sĩ của mình
Trang 112 Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài
6 * Mục tiêu:
7 Đánh giá chủ trương và giải pháp của Đảng bộ TP.HCM về xây dựng NTM
cùng những kết quả đạt được sau 8 năm thực hiện Đánh giá đúng thực trạng nông thôn của TP.HCM trên cơ sở 19 tiêu chí và mức độ chuyển biến so với trước khi
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Những chủ trương, biện pháp của Đảng bộ TP.HCM trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Chương trình xây dựng NTM, những kết quả qua 19 tiêu chí mà thành phố đạt được, đây được xem là chủ thể nghiên cứu của đề tài
Phạm vi nghiên cứu:
- Về không gian: trên phạm vi 5 huyện ngoại thành của TP.HCM đó là Củ
Chi, Hóc Môn, Bình Chánh, Nhà Bè, Cần Giờ
Trang 12Ngọc Ngoạn (2008), “Phát triển nông thôn bền vững: Những vấn đề lý luận và kinh nghiệm thế giới”, Nxb.Khoa học xã hội; Nguyễn Danh Sơn (chủ biên) (2010), Viện
khoa học xã hội Việt Nam, “Nông nghiệp, nông thôn, nông dân Việt Nam trong quá trình phát triển đất nước theo hướng hiện đại”, Nxb.Khoa học xã hội, Hà Nội; Nguyễn Khánh (2010), “Phát triển nông thôn trong chiến lược phát triển kinh tế –
xã hội, Mối số suy nghĩ về mối quan hệ giữa Đảng - Nhà nước và nhân dân”,
Nxb.CTQG, Hà Nội; Vũ Văn Phúc (chủ biên) (2012), “Xây dựng nông thôn mới –
Những vấn đề lý luận và thực tiễn”, Nxb.CTQG, Hà Nội
Nhóm các bài viết, đề tài nghiên cứu về nông thôn, nông nghiệp và xây dựng NTM TP.HCM
Tại TP.HCM, có rất nhiều công trình nghiên cứu, bài viết về NTM: trên báo
Tuổi Trẻ ngày 3 tháng 10 năm 2015 tác giả Mai Hương - Vũ Thủy đã viết bài “Xây dựng nông thôn mới tại TP.HCM - Những kết quả ấn tượng”; Trên Tạp chí cộng
sản online, ngày 13 tháng 10 năm 2015, Tiến sĩ Hoàng An Quốc, Trường Đại học
Kinh tế TP.HCM với bài “Diện mạo mới trong nông nghiệp, nông thôn ở thành phố
mang tên Bác”; trên báo Dân Trí ngày 20 tháng 10 năm 2015 tác giả Thế Khanh có bài “Đề xuất duyệt 1 triệu tỷ đồng xây dựng nông thôn mới”.… và rất nhiều bài
viết, bài nghiên cứu về các lĩnh vực của nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở TP.HCM trên các trang Web của Đảng bộ TP.HCM, Sở NN & PPNT thành phố, Hội Nông dân thành phố v.v
Ngoài ra, tại TP.HCM, một số đề tài của các sở, ban, ngành đã nghiên cứu về NTM trên địa bàn TP.HCM như:
Đề tài: “Quy hoạch sử dụng đất và chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp
đến năm 2010” của Sở NN&PTNT TP.HCM, năm 2003 Nội dung đề tài đã thể
hiện thực trạng quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp và chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi; định hướng quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp từ năm 2003 đến năm 2010; và đề xuất một số giải pháp chủ yếu
Năm 2005, Viện Kinh tế thực hiện đề tài: “Một số giải pháp phát triển nông nghiệp, nông thôn ngoại thành TP.HCM trên cơ sở khoa học – công nghệ cao và
Trang 13phù hợp sinh thái”, chủ nhiệm đề tài TS Đinh Sơn Hùng Nội dung nghiên cứu của
đề tài làm rõ về mặt lý luận nền nông nghiệp, nông thôn: Sinh thái, khoa học – công nghệ cao; Đánh giá hiện trạng nông nghiệp, nông thôn TP.HCM trên các khía cạnh: hợp sinh thái, khoa học công nghệ cao; Đề xuất giải pháp phát triển nông nghiệp, nông thôn TP.HCM hợp sinh thái, khoa học công nghệ cao Đề tài được tiến hành nghiên cứu trên địa bàn các huyện ngoại thành và các quận mới thành lập, với hướng nghiên cứu chính là đi vào đánh giá hiện trạng nông nghiệp nông thôn TP.HCM trên các khía cạnh hợp sinh thái và hợp quy hoạch
Quyết định số 5930/QĐ-UBND ngày 28/12/2009 về phê duyệt đề án: “Quy hoạch sản xuất nông nghiệp thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020 và tầm nhìn đến
năm 2025” của Sở NN & PTNT TP.HCM, năm 2009 Đề án đã đánh giá, phân tích
thực trạng sản xuất nông nghiệp của thành phố về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và môi trường; Tình hình phát triển sản xuất nông nghiệp giai đoạn
2000 - 2008 Xuất phát từ đánh giá thực trạng, đề án đã quy hoạch sản xuất nông nghiệp TP.HCM đến năm 2020, tầm nhìn 2025: quy hoạch quỹ đất nông nghiệp, kế hoạch sử dụng đất trong thời gian tới, và quy hoạch sản xuất các loại cây trồng, vật nuôi… gắn với Chương trình mục tiêu quốc gia về NTM Từ đó đề án đề xuất một
số giải pháp và tổ chức thực hiện trong thời gian tới
Đề tài “Nông dân, nông thôn thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa” năm 2012, tác giả Lê Thị Mỹ Hà - Viện Nghiên cứu Phát
triển TP.HCM đã đi sâu tìm hiểu đặc điểm nông dân, nông thôn TP.HCM trong bối cảnh đô thị hóa và CNH, HĐH của thành phố; phân tích sự biến đổi nông dân, nông thôn TP.HCM trên các phương diện kinh tế, văn hóa-xã hội dưới tác động của quá trình CNH, HĐH; đề xuất giải pháp phát triển nông dân, nông thôn TP.HCM đến năm 2020
Đề tài: “Định hướng phát triển kinh tế - xã hội vùng nông thôn thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020”, năm 2013, Viện Nghiên cứu Phát triển TP.HCM đã nêu
lên kinh nghiệm phát triển một số nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho vùng nông thôn TP.HCM Đồng thời, khái quát tổng quan về nông thôn TP.HCM
Trang 14như: vai trò của vùng nông thôn, những yếu tố và nguồn lực, thực trạng phát triển kinh tế- xã hội vùng nông thôn TP.HCM, bên cạnh đó có những phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức đối với việc phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, định hướng phát triển kinh tế- xã hội TP.HCM đến năm 2020; có những kiến nghị, đề xuất 8 giải pháp nhằm phát triển kinh tế - xã hội TP.HCM đến năm 2020
Đề tài: “Xây dựng đời sống văn hóa ở các xã nông thôn mới thành phố Hồ Chí Minh” (4/2016) do Tiến sĩ Đinh Phương Duy và Tiến sĩ Nguyễn Việt Hùng là
chủ nhiệm, đề tài đi sâu nghiên cứu về cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý xây dựng đời sống văn hóa ở các xã NTM tại TP.HCM, nghiên cứu thực trạng xây dựng đời sống văn hóa ở các xã NTM tại TP.HCM, đồng thời đưa ra một số biện pháp nâng cao đời sống văn hóa tại các xã NTM TP.HCM
Nhóm đề tài Luận văn, Luận án về nông thôn, nông nghiệp và xây dựng NTM
Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Nhung “Đảng bộ huyện Bình Chánh - Thành phố Hồ Chí Minh lãnh đạo công tác xây dựng nông thôn mới từ
năm 2009 đến năm 2015”, năm 2017 Đề tài đã nghiên cứu, đánh giá những chủ
trương, giải pháp và kết quả thực hiện của Đảng bộ huyện Bình Chánh về xây dựng NTM trên địa bàn toàn huyện Trên cơ sở đánh giá ưu điểm và hạn chế trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ huyện Bình Chánh và những yêu cầu của thực tiễn, đề xuất kiến nghị một số giải pháp để xây dựng NTM trong toàn huyện
Các công trình trên chính là nguồn tư liệu thư tịch (tư liệu hành văn) quí giá
mà tác giả có thể kế thừa với các vấn đề như lý luận, khái niệm, chính sách về nông dân, nông thôn TP.HCM … Tuy nhiên, sau quá trình tìm hiểu, tác giả nhận thấy chưa có một công trình nghiên cứu tổng thể về những chủ trương, chính sách của Đảng bộ thành phố về vấn đề “tam nông”, đặc biệt là quá trình lãnh đạo thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia NTM từ năm 2008 đến năm 2016 trên địa bàn TP.HCM
Tất cả các tài liệu đáng tin cậy trên được tác giả luận văn tập hợp, phân tích có
hệ thống Thông qua quá trình nghiên cứu, tham khảo tài liệu để có cách nhìn khách quan nhất nhằm phản ánh sự lãnh đạo xây dựng NTM của Đảng bộ TP.HCM
Trang 155 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn, tác giả dựa vào các văn bản chỉ đạo (nghị quyết, công văn, thông báo ) của Đảng về nông nghiệp, nông thôn, nông dân; quyết định của Thủ tướng Chính phủ về ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về NTM; các văn bản chỉ đạo, các báo cáo của Thành ủy, UBND TP.HCM về nông nghiệp, nông thôn, nông dân
và về NTM
Đề tài đã sử dụng phương pháp lịch sử trong tìm hiểu về quá trình xây dựng NTM trong sự phát triển chung ở TP.HCM Phương pháp logic trong liên kết các văn bản chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, các văn bản chỉ đạo của TP.HCM với thực tiễn triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM Ngoài ra, đề tài còn sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp thống
kê, phương pháp liên ngành trong nghiên cứu
6 Nguồn tư liệu
Nguồn tư liệu chủ yếu phục vụ cho đề tài là: các văn bản của Đảng, Nhà nước
về nông nghiệp, nông thôn và nông dân, nhất là về xây dựng NTM; các văn bản của Thành ủy, UBND TPHCM về nông nghiệp, nông thôn, nông dân và xây dựng NTM (văn kiện, nghị quyết, quyết định, chương trình, kế hoạch, thông báo, báo cáo ; các báo cáo của Đảng bộ các huyện: Củ Chi, Hóc Môn, Bình Chánh, Nhà Bè, Cần Giờ; các báo cáo của các sở, ban ngành liên quan
7 Ý nghĩa của luận văn
Về mặt lý luận:
Từ thực tiễn xây dựng NTM tại TP.HCM, luận văn góp phần làm rõ thêm
xây dựng NTM là một Chương trình quốc gia có sức lan tỏa lớn trong phạm vi cả nước, đáp ứng được yêu cầu, nguyện vọng của nhân dân, nhằm tăng cường khối đoàn kết trong nông thôn, nông dân, tạo sức mạnh xây dựng nông thôn phát triển theo hướng giàu đẹp, dân chủ, văn minh Khẳng định chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta là đúng đắn nhằm đưa đất nước phát triển theo hướng CNH, HĐH xã hội chủ nghĩa, mục tiêu vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Trang 16Về mặt thực tiễn:
Luận văn đã hệ thống các văn bản chỉ đạo của thành phố về xây dựng NTM
và tổng kết những kết quả đạt được và những hạn chế còn tồn tại, đề xuất một số kiến nghị nhằm góp phần xây dựng thành công Chương trình quốc gia xây dựng NTM trên địa bàn TP.HCM Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên, các nhà nghiên cứu tiếp tục tìm hiểu đầy đủ và toàn diện hơn về xây dựng NTM tại TP.HCM Đồng thời kết quả nghiên cứu của luận văn có thể tham khảo trong việc thực hiện xây dựng NTM ở các tỉnh lân cận
8 Bố cục và kết cấu của luận văn
Ngoài phần dẫn luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung của luận văn gồm ba chương và phần kết luận
Chương I Cơ sở lý luận và thực tiễn về xây dựng nông thôn mới ở thành phố
Hồ Chí Minh
1.1 Quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước và quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh về xây dựng nông nghiệp, nông thôn, nông thôn mới
1.1.1 Quan điểm, chủ trương của Đảng về xây dựng nông nghiệp, nông thôn, nông thôn mới
1.1.2 Chính sách của Nhà nước về xây dựng nông nghiệp, nông thôn, nông thôn mới
1.1.3 Quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh về xây dựng nông nghiệp, nông thôn, nông thôn mới
1.2 Những nhân tố tác động đến xây dựng nông thôn mới ở thành phố Hồ Chí Minh
1.2.1 Điều kiện tự nhiên
1.2.2 Điều kiện xã hội
Trang 171.3 Thực trạng nông nghiệp, nông thôn thành phố Hồ Chí Minh trước năm
2008 và những yêu cầu đặt ra trong tình hình mới
1.3.1 Quá trình chỉ đạo xây dựng nông nghiệp, nông thôn của Đảng bộ thành phố
Hồ Chí Minh trước năm 2008
1.3.2 Thực trạng nông nghiệp, nông thôn ở thành phố Hồ Chí Minh trước năm
2008 và những yêu cầu đặt ra trong tình hình mới
Chương II Quá trình lãnh đạo và kết quả thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới của Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh (2008 - 2016)
2.1 Chủ trương, quá trình tổ chức thực hiện xây dựng nông thôn mới của Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh
2.1.1 Chủ trương xây dựng nông thôn mới của Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh 2.1.2 Quá trình tổ chức thực hiện
2.2 Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh lãnh đạo thực hiện các giải pháp chung
về xây dựng nông thôn mới
2.2.1 Các giải pháp chỉ đạo chung
2.2.2 Kết quả thực hiện các giải pháp chung
2.3 Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh lãnh đạo thực hiện từng nhóm tiêu chí
2.3.1 Lập quy hoạch, đề án xây dựng nông thôn mới (tiêu chí 1)
1.3.2 Đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế, xã hội (nhóm tiêu chí 2- 9)
1.3.3 Định hướng lại cơ cấu kinh tế và tổ chức sản xuất (tiêu chí 10-13)
1.3.4 Phát triển văn hóa - xã hội và bảo vệ môi trường (tiêu chí 14-17)
1.3.5 Xây dựng hệ thống chính trị và bảo đảm quốc phòng - an ninh (tiêu chí 19)
18-Chương III Đánh giá quá trình lãnh đạo thực hiện 18-Chương trình xây dựng nông thôn mới của Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh (2008 - 2016); Bài học kinh nghiệm và một vài khuyến nghị, đề xuất
3.1 Đánh giá quá trình lãnh đạo thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới ở thành phố Hồ Chí Minh (2008 - 2016)
Trang 183.1.1 Những ưu điểm của Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình chỉ đạo thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới
3.1.2 Những hạn chế của Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình chỉ đạo thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới
3.2 Một số bài học kinh nghiệm được rút ra trong quá trình xây dựng nông thôn mới của Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh
3.3 Một số khuyến nghị, đề xuất nhằm tiếp tục thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới trong thời gian tới
3.3.1 Khuyến nghị về chủ trương, giải pháp
3.3.2 Khuyến nghị về tổ chức thực hiện
- Kết luận
- Phụ lục
Trang 191.1.1 Quan điểm, chủ trương của Đảng về xây dựng nông nghiệp, nông thôn, nông thôn mới
Trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, Đảng ta luôn quan tâm đến vấn đề nông nghiệp, nông thôn, nông dân Đặc biệt từ khi đất nước thống nhất cho đến nay, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách nhằm đẩy mạnh việc phát triển nông nghiệp, nông thôn, nông dân
Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV (năm 1976), Đảng ta xác định ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, làm cho công nghiệp và nông nghiệp kết hợp chặt chẽ thành một thể thống nhất, cùng phát triển nhịp nhàng lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa và luôn luôn gắn bó với nhau, thúc đẩy lẫn nhau, phục vụ cho nhau; công nghiệp là nền tảng chủ yếu của nền kinh tế quốc dân, đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân,
và nông nghiệp là cơ sở để phát triển công nghiệp [114]
Ngày 13 tháng 1 năm 1981, Ban Chấp hành Trung ương đã ban hành Chỉ thị
số 100-CT/TW về cải tiến công tác khoán, mở rộng “khoán sản phẩm đến nhóm lao
động và người lao động” trong hợp tác xã nông nghiệp (thường gọi là Khoán 100)
Chủ trương này đã mở ra một phương hướng đúng đắn cho việc củng cố quan hệ kinh tế tập thể ở nông thôn, vì nó đã bước đầu thừa nhận quyền tự chủ của nông dân (hộ xã viên được tự chủ ở 3 khâu: gieo trồng, chăm sóc và thu hoạch Có thể coi đây
là khâu đột phá đầu tiên trong tiến trình đổi mới, là một tiền đề quan trọng để tiến tới sự đổi mới toàn diện và sâu sắc nền kinh tế xã hội Chỉ thị 100 về khoán sản phẩm chính là chuyển từ khoán công việc sang khoán sản phẩm, từ khoán đội đến
Trang 20khoán nhóm và người lao động trồng lúa là chủ yếu Tuy nhiên, Khoán 100 chưa phải là mô hình mới về tổ chức sản xuất trong nông nghiệp mà chỉ là cải tiến hình thức khoán để bước đầu giải phóng sức sản xuất, nhất là sức lao động của hộ xã viên trong các hợp tác xã Dù còn sơ lược nhưng Khoán 100 bước đầu đã khôi phục quyền tự chủ trong sử dụng ruộng đất và lao động nông nghiệp, gắn lao động với đất đai, làm cho người lao động trong các hợp tác xã quan tâm hơn đến kết quả cuối cùng Do đó, Khoán 100 được coi là bước đột phá đầu tiên vào cơ chế quản lý tập trung, quan liêu, bao cấp, sản xuất tập thể, được coi là chìa khóa vàng trong nông nghiệp Việt Nam những năm trước khi có Nghị quyết 10
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V (năm 1982), Đảng ta xác định tập trung sức phát triển mạnh nông nghiệp, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, đưa nông nghiệp từng bước lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, ra sức đẩy mạnh sản xuất hàng tiêu dùng và tiếp tục xây dựng một số ngành công nghiệp nặng quan trọng, kết hợp nông nghiệp, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và công nghiệp nặng trong một
cơ cấu công - nông nghiệp hợp lý [114]
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (năm 1986), Đảng đã đề ra những quan điểm, chủ trương quan trọng về đổi mới, trước hết là đổi mới kinh tế; thực hiện ba chương trình kinh tế lớn, nhấn mạnh vai trò hàng đầu của nông nghiệp trong việc đáp ứng những yêu cầu cấp bách về lương thực, thực phẩm, nguyên liệu sản xuất, hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu Phấn đấu đưa nông nghiệp trở thành nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá xã hội chủ nghĩa Đảng đã xác định “Tư tưởng chỉ đạo của kế hoạch và các chính sách kinh tế là giải phóng mọi năng lực sản xuất hiện có”; “Muốn đưa nền kinh tế sớm thoát khỏi tình trạng rối ren, mất cân đối phải dứt khoát sắp xếp lại nền kinh tế quốc dân theo cơ cấu hợp lý” [31; tr.47] Đại hội chỉ rõ
“trong những năm còn lại của chặng đường đầu tiên, trước mắt là trong kế hoạch 5 năm 1986-1990, phải thật sự tập trung sức người, sức của vào việc thực hiện cho được ba chương trình mục tiêu về lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu”; “Yêu cầu cấp bách về lương thực, thực phẩm về nguyên liệu sản xuất hàng tiêu dùng, về hàng xuất khẩu quyết định vị trí hàng đầu của nông nghiệp Phải
Trang 21đưa nông nghiệp tiến đến một bước theo hướng sản xuất lớn nông nghiệp phải được ưu tiên đáp ứng những yêu cầu về đầu tư xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật,
về vật tư, về lao động kỹ thuật ”; “Đối với nông dân, phải giải quyết tốt quan hệ giữa nghĩa vụ đóng góp cho đất nước và quyền lợi của nông dân Nhà nước phải soát lại các chính sách quan hệ đến nông dân, bãi bỏ những chính sách không đúng” [31; tr.48,122.]
Ngày 05 tháng 4 năm 1988, Bộ Chính trị khóa VI đã ban hành Nghị quyết số
10 về: “Đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp”(gọi tắt là Nghị quyết 10) Nghị quyết
10 đã đề ra các quan điểm cơ bản của đổi mới công tác quản lý nông nghiệp ở nước
ta, thể hiện rõ sự đổi mới tư duy lý luận quản lý kinh tế nông nghiệp, nông thôn và nông dân Đó là, quan điểm mới, tư duy lý luận mới về giải phóng sức sản xuất trong nông nghiệp, sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất trong cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; quan điểm về lợi ích giữa Nhà nước, hợp tác xã và người lao động, cụ thể là nông dân, xã viên; quan điểm về dân chủ và
tự chủ trong quản lý nông nghiệp, nhất là quản lý hợp tác xã; quan điểm về vai trò kinh tế nông hộ trong nông nghiệp và nông thôn; quan điểm về mô hình hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới làm dịch vụ cho kinh tế hộ; lưu thông phân phối trong nông nghiệp và kinh tế nông thôn; quan điểm về xóa các chính sách thu mua lương thực, thực phẩm theo nghĩa vụ với giá thấp; đổi mới quản lý các nông, lâm trường quốc doanh…Nghị quyết 10 khẳng định tư tưởng “giải phóng sức sản xuất” trong các mối quan hệ về lợi ích, nhấn mạnh “quan trọng nhất là bảo đảm lợi ích người lao động” Hộ xã viên có quyền về phân phối và tiêu thụ nông sản do mình làm ra Quan điểm mới này rất phù hợp với tâm tư, nguyện vọng của hộ nông dân và góp phần phát triển sản xuất nông sản hàng hóa, lưu thông tự do, xóa bỏ ngăn sông cấm chợ như trước đây, xóa bỏ nghĩa vụ thu mua nông sản, nhất là lương thực với giá thấp, tư tưởng chính sách “thuận mua vừa bán” trong Nghị quyết 10 là xóa kiểu bắt buộc phải bán theo giá nghĩa vụ trước đây làm thua thiệt cho lợi ích của người lao động
Trang 22Trên cơ sở ngày càng nhận thức đúng đắn hơn vị trí, vai trò của nông nghiệp, nông thôn và nông dân đối với sự nghiệp cách mạng, Đại hội lần thứ VII của Đảng (năm 1991) đã tiếp tục bổ sung, khẳng định và làm rõ tầm quan trọng của vấn đề này Đại hội chỉ rõ “phát triển nông - lâm - ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến, phát triển toàn diện kinh tế nông thôn và xây dựng NTM là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để ổn định tình hình kinh tế - xã hội” [31; tr.270] Có thể thấy, nét nổi bật của Đại hội VII là nhấn mạnh vị trí, vai trò của nông nghiệp và kinh tế nông thôn; coi phát triển kinh tế nông thôn và xây dựng NTM là một trong những nhiệm
vụ trọng tâm của sự nghiệp CNH đất nước, có ý nghĩa quyết định đối với ổn định tình hình kinh tế - xã hội của đất nước
Hội nghị lần thứ 5, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII (ngày 10 tháng 6 năm 1993) đã ban hành Nghị quyết số 05-NQ/HNTW về “Tiếp tục đổi mới
và phát triển kinh tế - xã hội nông thôn”, trong đó đã đánh giá thực trạng nông nghiệp, nông thôn nước ta qua những năm đổi mới; xác định mục tiêu, quan điểm tiếp tục đổi mới và phát triển nông nghiệp, nông thôn; đề ra những phương hướng
và giải pháp cụ thể nhằm phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn giàu mạnh, văn minh theo định hướng xã hội chủ nghĩa Trong đó Nghị quyết xác định mục tiêu đến năm 2000: Xây dựng NTM có kinh tế phát triển, đời sống văn hóa phong phú, lành mạnh, có cơ sở hạ tầng vật chất và xã hội đáp ứng được những nhu cầu cơ bản của nông dân, có hệ thống chính trị vững mạnh; phát huy dân chủ, bảo đảm công bằng xã hội; tăng cường đoàn kết và ổn định chính trị trong nông thôn, giữ vững trật
tự xã hội, củng cố vững chắc quốc phòng an ninh [2; tr.2] Như vậy, cho đến thời điểm này nội hàm “Xây dựng NTM” được nêu cụ thể và đầy đủ nhất
Trên cơ sở đánh giá kết quả 10 năm đổi mới, với những tiền đề đã được tạo
ra, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII (năm 1996), Đảng ta đã định hướng phát
triển trên lĩnh vực nông nghiệp, trong đó đặc biệt coi trọng CNH, HĐH nông nghiệp
và nông thôn “phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp, hình thành các vùng tập trung chuyên canh, có cơ cấu hợp lý về cây trồng vật nuôi, có sản lượng hàng hóa nhiều về số lượng, tốt về chất lượng thực hiện thủy lợi hóa, điện khí hóa, phát
Trang 23triển công nghiệp chế biến nông - lâm - thủy sản gắn với công nghệ ngày càng cao; phát triển các ngành nghề, làng nghề truyền thống và các ngành nghề mới tiểu thủ công nghiệp ; xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội từng bước hình thành
NTM văn minh, hiện đại.” [ 31; tr.472-473]
Tiếp đến Nghị quyết 06-NQ/TW của Ban Bí thư ngày 10 tháng 11 năm
1998, về một số vấn đề phát triển nông nghiệp và nông thôn tiếp tục khẳng định quan điểm: Coi trọng thực hiện CNH, HĐH trong phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn, đưa nông nghiệp và kinh tế nông thôn lên sản xuất lớn là nhiệm vụ
cực kỳ quan trọng cả trước mắt và lâu dài; đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế,
gắn phát triển nông nghiệp với công nghiệp chế biến, ngành nghề; gắn phát triển nông nghiệp với xây dựng NTM; Phát triển nền nông nghiệp với nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, cùng với kinh tế hợp tác xã dần trở thành nền tảng, hợp tác và hướng dẫn kinh tế tư nhân phát triển theo đúng pháp luật Tiếp tục phát triển nhiều hình thức kinh tế hợp tác; các loại hình hợp tác
xã dịch vụ cho kinh tế hộ nông dân, Tạo điều kiện và khuyến khích mạnh mẽ hộ nông dân và những người có khả năng đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ ở nông thôn
Trước yêu cầu phải rút ngắn thời gian tiến hành CNH, HĐH đất nước, Đại hội lần thứ IX (năm 2001) của Đảng và đặc biệt tại Hội nghị lần thứ 5, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX ngày 18 tháng 3 năm 2002 ban hành Nghị quyết số 15-NQ/TW về đẩy nhanh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 2001-2010,
đã tiếp tục bổ sung, phát triển những quan điểm cơ bản về CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn trong giai đoạn mới, với nội dung tổng quát: CNH, HĐH nông nghiệp là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa lớn gắn với công nghiệp chế biến và thị trường; thực hiện cơ khí hóa, điện khí hóa, thủy lợi hóa, ứng dụng thành tựu khoa học, công nghệ nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nông sản hàng hóa trên thị trường; CNH, HĐH nông thôn là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thông theo hướng tăng nhanh tỷ trọng giá trị sản phẩm và lao động các ngành công nghiệp và dịch vụ; giảm dần tỷ trọng sản
Trang 24phẩm và lao động nông nghiệp; xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội, quy hoạch tổng thể phát triển nông thôn, bảo vệ môi trường sinh thái xây dựng nông thôn dân chủ, công bằng, văn minh, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân ở nông thôn” [31; tr.378]
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X (2006), Đảng ta tiếp tục khẳng định phát triển nông nghiệp, nông thôn là sự lựa chọn bước đi đúng đắn trong quá trình CNH, HĐH đất nước, đồng thời chủ trương đẩy mạnh hơn nữa CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn, giải quyết đồng bộ các vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân Cụ thể: “khẩn trương xây dựng các quy hoạch phát triển nông thôn Thực hiện chương trình xây dựng NTM Xây dựng các làng, xã, ấp, bản có cuộc sống no
đủ, văn minh, môi trường lành mạnh Hình thành các khu dân cư đô thị hóa với kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ như: thủy lợi, giao thông, điện, nước sạch, cụm công nghiệp, trường học, trạm y tế, bưu điện, chợ Phát huy dân chủ ở nông thôn đi đôi với xây dựng nếp sống văn hóa, nâng cao trình độ dân trí bài trừ các tệ nạn xã hội, hủ tục, mê tín dị đoan; bảo đảm an ninh, trật tự an toàn xã hội
Như vậy ta nhận thấy, quá trình xây dựng và tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối và các nghị quyết nêu trên đã phản ánh rõ tiến trình liên tục phát triển và hoàn thiện của Đảng ta về vấn đề nông nghiệp, nông thôn, nông thôn mới
Qua hơn 20 năm sau đổi mới (1986 - 2008), Đảng ta đã khẳng định “nông nghiệp, nông dân, nông thôn nước ta đã đạt được thành tựu khá toàn diện và to lớn, Tuy nhiên, những thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế
và chưa đồng đều giữa các vùng Nông nghiệp phát triển còn kém bền vững, tốc độ tăng trưởng có xu hướng giảm dần, sức cạnh tranh thấp, chưa phát huy tốt nguồn lực cho phát triển sản xuất; nghiên cứu chuyển giao khoa học - công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực còn hạn chế Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đổi mới cách thức sản xuất trong nông nghiệp còn chậm, phổ biến vẫn là sản xuất nhỏ phân tán; năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng nhiều mặt hàng thấp Công nghiệp, dịch vụ và ngành nghề phát triển chậm, chưa thúc đẩy mạnh mẽ chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động ở nông thôn, Đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn còn
Trang 25thấp, tỉ lệ hộ nghèo cao, nhất là vùng đồng bào dân tộc, vùng sâu vùng xa; chênh lệch giàu, nghèo giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng còn lớn, phát sinh nhiều vấn đề xã hội bức xúc”[113]
Đứng trước thực trạng trên, Đảng ta đã nhận định vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn phải được giải quyết đồng bộ, gắn với quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước Tại Hội nghị lần 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X (Nghị quyết 26-NQ/TW) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn Đảng ta xác định: Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp CNH, HĐH, là cơ
sở và lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh quốc phòng, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc
và bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước Các vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn phải được giải quyết đồng bộ, gắn với quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của quá trình CNH, HĐH đất nước Trong mối quan hệ mật thiết giữa nông nghiệp, nông dân và nông thôn, nông dân là chủ thể của quá trình phát triển, xây dựng NTM gắn với xây dựng các cơ sở công nghiệp, dịch vụ và phát triển đô thị theo quy hoạch
là căn bản; phát triển toàn diện, hiện đại hóa nông nghiệp là then chốt; Giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội; trước hết, phải khơi dậy tinh thần yêu nước, tự chủ, tự lực tự cường vươn lên của nông dân Xây dựng xã hội nông thôn ổn định, hòa thuận, dân chủ, có đời sống văn hóa phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc, tạo động lực cho phát triển nông nghiệp và xây dựng NTM, nâng cao đời sống nông dân [108; tr.1234]
Nghị quyết đã nêu ra 5 nhiệm vụ và 7 giải pháp quan trọng để thực hiện hiệu quả mục tiêu đã đề ra Các nhiệm vụ là:
Hoàn thành cơ bản việc rà soát, bổ sung, điều chỉnh quy hoạch đất đai, quy hoạch phát triển nông, lâm, ngư nghiệp; công nghiệp, khu công nghiệp và quy hoạch chuyên ngành theo vùng Triển khai nhanh công tác quy hoạch xây dựng nông thôn gắn với quy hoạch phát triển đô thị
Trang 26Hoàn thành sửa đổi, bổ sung Luật đất đai năm 2003, Luật ngân sách Nhà nước và các luật khác có liên quan Bổ sung, hoàn thiện các chính sách về tăng cường nguồn lực cho nông nghiệp, nông thôn Mở rộng hợp tác quốc tế, thu hút đầu
tư nước ngoài vào sản xuất nông nghiệp và xây dựng nông thôn
Đảm bảo tiến độ các công trình xây dựng cơ bản phục vụ sản xuất nông nghiệp, phòng chống thiên tai; thực hiện một bước các biện pháp thích ứng và đối phó với biến đổi khí hậu toàn cầu, nhất là nước biển dâng; khống chế, dập tắt kịp thời các dịch bệnh nguy hiểm đối với gia súc, gia cầm, thủy sản và cây trồng Tăng cường công tác nghiên cứu, chuyển giao khoa học kỹ thuật, đào tạo nhân lực ở nông thôn
Tiếp tục triển khai có hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia trên địa bàn nông thôn, nhất là xóa đói, giảm nghèo ở các huyện, xã có tỉ lệ hộ nghèo trên 50% Khắc phục nhanh những vấn đề bức xúc ở nông thôn, trước hết là những tồn tại liên quan tới vấn đề thu hồi đất Triển khai chương trình “xây dựng NTM”, trong
đó thực hiện xây dựng kết cấu hạ tầng đi trước một bước
Tổ chức tốt việc triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 (khoá X) về nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên trên địa bàn nông thôn - củng cố bộ máy quản lý Nhà nước
Đổi mới và xây dựng các hình thức tổ chức sản xuất, dịch vụ có hiệu quả ở nông thôn
Phát triển nhanh nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng khoa học, công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực, tạo đột phá để HĐH nông nghiệp, CNH nông thôn
Trang 27Đổi mới mạnh mẽ cơ chế, chính sách để huy động cao các nguồn lực, phát triển nhanh kinh tế nông thôn, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nông dân
Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, phát huy sức mạnh của các đoàn thể chính trị - xã hội ở nông thôn, nhất là Hội nông dân [108; tr.1237-1247]
Nghị quyết 26 của Trung ương chính là quan điểm, chủ trương đầy đủ và toàn diện nhất về vấn đề tam nông
Với quyết tâm xây dựng NTM, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành Quyết định số 205-QĐ/TW ngày 30/12/2008 về thành lập Ban Chỉ đạo thí điểm Chương trình xây dựng NTM trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH; chọn 11 xã đại diện cho các vùng kinh tế - văn hóa trong cả nước làm thí điểm; Thông báo 238-TB/TW ngày 7/4/2009 về việc xây dựng thí điểm mô hình NTM với mục đích: Xác định nội dung, phạm vi, nguyên tắc, phương pháp, cách thức xây dựng NTM; quan
hệ trách nhiệm trong chỉ đạo xây dựng NTM của các cấp, các ngành Có được mô hình thực tế về các xã NTM của thời kỳ CNH, HĐH để nhân dân học tập làm theo Chương trình thí điểm ở 11 xã thuộc 11 tỉnh đại diện cho các vùng kinh tế - văn hóa của cả nước, trong đó TP.HCM có một xã được chọn thí điểm
Quyết tâm xây dựng NTM tiếp tục được khẳng định tại Đại hội lần thứ XI, XII của Đảng: “Xây dựng nông thôn mới theo hướng văn minh, giàu đẹp, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nông dân”[32; tr.39] và “chú trọng CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn gắn với xây dựng NTM” [33; tr.218] Trong cương lĩnh xây dựng đất nước thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng khẳng định xây dựng NTM là một nhiệm vụ quan trọng trong định hướng phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Như vậy, có thể khẳng định xây dựng NTM là một chủ trương lớn, đúng đắn của Đảng nhằm phát triển kinh tế - xã hội bền vững; giải phóng và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của tự nhiên, xã hội, con người, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân ở nông thôn Đồng thời, xây dựng NTM nhằm giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm an ninh quốc phòng; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa của
Trang 28dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước Hiện nay, xây dựng NTM chính là góp phần giải quyết vấn đề “tam nông”; giải quyết mối quan hệ biện chứng giữa thành thị và nông thôn, giữa các ngành, các lĩnh vực trong quá trình phát triển đất nước mà Đảng đề ra
1.1.2 Chính sách của Nhà nước về xây dựng nông nghiệp, nông thôn, nông thôn mới
Thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng ngày
10/11/1998 về một số vấn đề phát triển nông nghiệp và nông thôn Bộ NN&PTNT
đã ban hành Chỉ thị số 49/2001/CT-BNN ngày 27/4/2001 về việc xây dựng mô hình thí điểm phát triển nông thôn (cấp xã) theo hướng CNH, HĐH, hợp tác hóa và dân chủ hóa Mô hình này đã làm cơ sở cho việc xây dựng cơ chế chính sách của Chương trình xây dựng NTM sau này Năm 2007, Bộ NN&PTNT ban hành Quyết định số 712/QĐ-BNN-HTX ngày 19/3/2007 về việc phê duyệt danh sách 10 tỉnh, thành tham gia xây dựng mô hình thí điểm NTM cấp thôn, ấp
Thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về “nông nghiệp, nông dân, nông thôn”, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP ngày 28/10/2008 xác định Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM với nội dung chính: Phát triển đồng bộ hệ thống hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn phù hợp quy hoạch không gian xây dựng làng (ấp, thôn, bản), xã và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của ngành, địa phương; kết hợp giữa hỗ trợ của Nhà nước với phát huy nội lực của cộng đồng dân cư nông thôn Nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực và tổ chức tốt đời sống văn hóa cơ
sở Xây dựng các hình thức tổ chức sản xuất phù hợp với yêu cầu của nền nông nghiệp hiện đại, sản xuất hàng hóa gồm cả nông nghiệp và phi nông nghiệp, thực hiện “mỗi làng một nghề”[25; tr.2]
Ngày 16/4/2009, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 491/QĐ-TTg ban hành
Bộ tiêu chí quốc gia về NTM với mục tiêu: “Nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại; người nông dân có đời sống vật chất, tinh thần ngày càng được nâng cao và nông thôn có hạ tầng cơ sở hiện đại” được chia thành 5 nhóm: quy
Trang 29hoạch, hạ tầng kinh tế - xã hội, kinh tế và tổ chức sản xuất, văn hóa - xã hội - môi trường, hệ thống chính trị; với 19 tiêu chí: quy hoạch, giao thông, thủy lợi, điện, trường học, cơ sở hạ tầng văn hóa, chợ, bưu điện, nhà ở dân cư, hộ nghèo, tỷ lệ lao động có việc làm thường xuyên, hình thức tổ chức sản xuất, giáo dục, y tế, văn hóa, môi trường, hệ thống chính trị, an ninh - trật tự [70] Bộ tiêu chí là căn cứ để xây dựng nội dung Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM; là chuẩn mực để các xã lập kế hoạch phấn đấu đạt 19 tiêu chí; là căn cứ để chỉ đạo và đánh giá kết quả thực hiện của các địa phương trong từng thời kỳ; đánh giá công nhận xã, huyện, tỉnh đạt NTM; đánh giá trách nhiệm của các cấp uỷ, Đảng, chính quyền xã trong thực hiện nhiệm vụ
- Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 về phê duyệt “Chương trình
mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM giai đoạn 2010-2020” với mục tiêu chung: Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa” [72; tr.1]
- Quyết định số 1013/QĐ-TTg ngày 01/7/2010 về thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM, giai đoạn 2010-2020 thay thế Ban Chỉ đạo thí điểm Chương trình được thành lập năm 2008;
- Quyết định số 1620/QĐ-TTg ngày 20/9/2011 về ban hành kế hoạch tổ chức thực hiện phong trào thi đua “Cả nước chung sức xây dựng NTM” nhằm mục đích:
“Phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị trong việc tuyên truyền, nâng cao nhận thức và trực tiếp tham gia thực hiện thắng lợi chủ trương xây dựng NTM của Đảng và Nhà nước”[73; tr.5];
- Quyết định số 695/QĐ-TTg ngày 08/6/2012 về sửa đổi nguyên tắc cơ chế hỗ trợ vốn thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM, giai đoạn 2010-2020;
- Quyết định 342/QĐ-TTg ngày 20/02/2013 về sửa đổi 05 tiêu chí của Bộ tiêu
Trang 30chí quốc gia về NTM gồm các tiêu chí: chợ, thu nhập, cơ cấu lao động, giáo dục, y tế Với quyết định này, các địa phương đang thực hiện 05 tiêu chí trên sẽ thực hiện theo chuẩn mới
- Quyết định số 372/QĐ-TTg ngày 14/3/2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc xét công nhận và công bố địa phương đạt chuẩn NTM
Ban Chỉ đạo xây dựng NTM Trung ương đã ban hành Công văn số CV/BCĐTW ngày 16/4/2009 về Chương trình xây dựng thí điểm mô hình NTM trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH; Quyết định số 435/QĐ-BCĐXDNTM ngày 20/9/2010 về việc ban hành kế hoạch triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM giai đoạn 2010-2020; Quyết định số 437/QĐ-BCĐXDNTM ngày 20/9/2010 về ban hành quy chế hoạt động của Ban Chỉ đạo Trung ương, giai đoạn 2010-2020
01-Bộ NN&PTNT đã ban hành các thông tư hướng dẫn thực hiện 01-Bộ tiêu chí NTM, các thông tư hướng dẫn trình tự, thủ tục, hồ sơ xét công nhận và công bố xã, huyện, tỉnh đạt chuẩn NTM
Ngoài ra, còn rất nhiều nghị quyết, quyết định, thông tư liên tịch của Đảng, Nhà nước, Chính phủ và các Bộ, ngành thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia
về xây dựng NTM từ năm 2008 đến nay
1.1.3 Quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh về xây dựng nông nghiệp, nông thôn, nông thôn mới
Đối với TP.HCM, từ sau giải phóng miền Nam, vấn đề nông nghiệp, đời sống người nông dân ngoại thành luôn là vấn đề được quan tâm vì nông nghiệp, nông thôn, nông dân luôn có vai trò, vị trí quan trọng trong quá trình phát triển chung của thành phố Vùng nông thôn TP.HCM là vành đai xanh nông nghiệp, là khoảng không gian xanh với môi trường, cảnh quan thiên nhiên sạch đẹp, gắn với đời sống văn hóa giàu truyền thống của dân cư nông thôn; là tấm áo giáp bảo vệ cho người dân thành phố giảm bớt sự tổn thương do quá trình CNH ở các khu công nghiệp Đây là nơi sản xuất và cung cấp thực phẩm tươi sống, hoa kiểng cho đô thị; là nguồn cung cấp việc làm và thu nhập cho bộ phận lớn dân cư sống ở vùng nông
Trang 31thôn Nông nghiệp tuy chiếm tỷ trọng nhỏ trong cơ cấu kinh tế (GDP) nhưng giữ vị trí, vai trò rất quan trọng đối với sự ổn định và phát triển kinh tế - xã hội thành phố Nông nghiệp, nông thôn vừa là nơi cung cấp sản phẩm, hàng hóa tiêu dùng thiết yếu, cung cấp nguyên liệu cho đại bộ phận dân cư trong nước và xuất khẩu; vừa là thị trường quan trọng tiêu thụ sản phẩm của nhiều doanh nghiệp Chính vì vậy, Đảng bộ, chính quyền thành phố luôn có những quan điểm và chủ trương, chính sách phù hợp trong từng giai đoạn để đẩy mạnh phát triển kinh tế nông nghiệp và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân sống ở nông thôn, kéo giảm sự chênh lệnh giữa khu vực thành thị và nông thôn TP.HCM
Ngay từ những năm đầu sau giải phóng, sau khi ổn định tình hình, thành phố
đã bắt tay vào cải tạo, xây dựng nông nghiệp, nông thôn, coi đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân Trong từng giai đoạn, vấn đề nông nghiệp và nông dân, nông thôn được Đảng
bộ TP.HCM quan tâm thực hiện bằng các văn bản chỉ đạo Trong năm năm đầu sau giải phóng là thời kỳ khôi phục màu xanh trên “Vùng đất trắng” thành vành đai
lương thực, thực phẩm; ổn định đời sống nhân dân Năm năm tiếp theo là thời kỳ
xây dựng ngoại thành thành vành đai thực phẩm và vành đai cây công nghiệp ngắn ngày với nhiệm vụ cung cấp thực phẩm và một phần nguyên liệu cho công nghiệp
chế biến của thành phố Đặc biệt, 10 năm sau giải phóng, thành phố nhận thức được
vấn đề cải tạo nông nghiệp vùng nông thôn phải đi liền với xây dựng NTM
Đối với TP.HCM, cụm từ NTM được xuất hiện đầu tiên vào năm 1981,
“công tác cải tạo nông nghiệp và xây dựng nông thôn ngoại thành thời gian qua đã tạo ra những biến đổi sâu sắc, trên nhiều mặt trong đời sống chính trị, kinh tế, xã hội của quần chúng nhân dân lao động và từng bước cải tạo bộ mặt nông thôn, xây dựng NTM” [47; tr.1]
Chỉ thị số 12/CT-TU, ngày 6 tháng 11 năm 1981 của Ban Thường vụ Thành
ủy về việc đẩy mạnh hơn nữa công tác tải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp gắn liền với xây dựng nông thôn ngoại thành Trong Chỉ thị nhấn mạnh yêu cầu bức thiết của một thành phố công nghiệp lớn đòi hỏi nông nghiệp ngoại thành phải phát
Trang 32triển mạnh, đạt tới năng xuất lao động cao, sản phẩm hàng hóa dồi dào Phát triển sản xuất đồng thời là đòi hỏi hết sức cấp bách đối với đời sống của nông dân và nhân dân ngoại thành, phải xây dựng nền nông nghiệp lớn xã hội chủ nghĩa Cải tạo quan hệ sản xuất, đưa nông dân đi vào con đường làm ăn tập thể, xóa bỏ nguồn gốc của sự bóc lột, mang lại cho nông dân một đời sống ổn định hơn, vững chắc hơn Mục đích cuối cùng của hợp tác hóa là phát triển sản xuất và nâng cao đời sống vật chất và văn hóa cho nông dân Cải tạo gắn liền với xây dựng NTM ”[22; tr.4-5]
Tại Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ III (1983), Đảng bộ TP.HCM đã nhấn mạnh “Về cải tạo nông nghiệp và xây dựng NTM ngoại thành gần đây có chuyển biến quan trọng” [36; tr.40] Đặc biệt, ngày 06/6/1983, Thành ủy TP.HCM đã ban hành Nghị quyết số 21/NQ-TU nghị quyết của Ban Chấp hành Đảng bộ TP.HCM
về phương hướng, nhiệm vụ kinh tế- xã hội, cải tạo và xây dựng toàn diện nông thôn ngoại thành TP.HCM từ năm 1983-1985 và những năm 80, Nghị quyết đã đề
ra phương hướng, nhiệm vụ của nông thôn ngoại thành những năm 1883-1985 và những năm 80 một cách toàn diện trên tất cả các lĩnh vực như phát triển sản xuất và cải thiện đời sống, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật; hoàn thành việc điều chỉnh ruộng đất và đẩy mạnh cải tạo quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; tăng cường công tác văn hóa, tư tưởng; đẩy mạnh công tác an ninh quốc phòng; tích cực xây dựng Đảng, đoàn, các đoàn thể quần chúng và kiện toàn hệ thống chính quyền chuyên chính vô sản
Thực hiện Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị, ngày 5 tháng 4 năm 1988 về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp, thành phố đã ban hành Nghị quyết số 07/NQ-TU về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp và xây dựng NTM ngoại thành Trong giai đoạn
10 năm đầu sau giải phóng, thành phố tập trung xây dựng nhiều công trình thủy lợi như: Hệ thống thủy lợi kênh Đông Củ Chi, hệ thống ngăn mặn, xổ phèn vùng tây nam Hóc Môn và bắc Bình Chánh Các chương trình phát triển giống bò sữa, heo chất lượng cao được chú trọng để đẩy nhanh phát triển nông nghiệp thành phố
Ngày 04 tháng 7 năm 2002, Thành ủy TP.HCM đã ban hành văn bản số NQ/TU, Chương trình hành động của Thành ủy thực hiện Nghị quyết Trung ương 5
Trang 3305-khóa IX về đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 2001-2010 Trong
đó với quan điểm rất rõ ràng “CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ngoại thành là một
bộ phận quan trọng trong tiến trình CNH, HĐH thành phố Do đó, phải phát huy mọi nguồn lực, tăng cường đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội, bảo vệ môi trường, thu hẹp khoảng cách giữa ngoại thành và nội thành; giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, phát huy dân chủ, xây dựng NTM” [49; tr.2]
Như vậy, từ năm 1975 đến năm 2008, thành phố đã có những chủ trương, chính sách phát triển nông nghiệp, nông dân và nông thôn, nhằm từng bước đưa lĩnh vực nông nghiệp phát triển qua đó góp phần nâng cao đời sống người dân vùng nông thôn Cụm từ NTM cũng được sử dụng nhiều hơn từ những năm 1981 trở đi
đã cho thấy sự quan tâm của thành phố đối với vùng nông thôn ngoại thành trong đó bao gồm vấn đề nông nghiệp và người dân đang sinh sống Tuy nhiên, thời kỳ này, NTM được hiểu một cách đơn giản, bởi trên thực tế những chủ trương, chính sách của thành phố về nông nghiệp, nông thôn, dân dân còn nhiều hạn chế, chưa được thực hiện một cách quyết liệt và đồng bộ để đẩy mạnh phát triển trên từng vấn đề, từng lĩnh vực của nông nghiệp, nông dân, nông thôn như giai đoạn từ năm 2008 trở lại đây, khi vấn đề NTM được coi là Chương trình mục tiêu quốc gia với những tiêu chí rất cụ thể, từng vấn đề, với những lộ trình rõ ràng hơn
Trong giai đoạn từ năm 2009 đến năm 2016, Đảng bộ thành phố đã tập trung chỉ đạo các ngành, các cấp thực hiện nghiêm túc Nghị quyết 26-NQ/TW tại Hội nghị lần 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, thành phố ban hành các văn bản như Kế hoạch số 43, các công văn, thông báo đến các quận huyện, ban, ngành, đoàn thể Đồng thời, tập trung chỉ đạo thực hiện xã điểm Tân Thông Hội (huyện Củ Chi) được Ban Bí thư Trung ương Đảng chọn là 01 trong 11 xã của cả nước thực hiện thí điểm xây dựng mô hình NTM trong thời kỳ CNH, HĐH Ngoài ra, TP.HCM đã chọn thêm 05 xã điểm để thực hiện Chương trình gồm: xã Thái Mỹ (huyện Củ Chi), xã Xuân Thới Thượng (huyện Hóc Môn), xã Tân Nhựt (huyện Bình Chánh), xã Nhơn Đức (huyện Nhà Bè)
Trang 34và xã Lý Nhơn (huyện Cần Giờ), nhằm tận dụng được các kinh nghiệm, lợi thế từ việc xây dựng thí điểm tại xã Tân Thông Hội để nhân rộng ra các xã và ngược lại TP.HCM đã đề ra nhiệm vụ, mục tiêu cụ thể trong từng giai đoạn như: giai đoạn 2009-2012 hoàn thành xây dựng NTM tại 6 xã điểm; từ giai đoạn 2011-2015,
triển khai đồng bộ trên 50 xã (trừ 02 xã: Bình Hưng, huyện Bình Chánh và xã
Trung Chánh, huyện Hóc Môn đã đô thị hóa, không thực hiện xây dựng NTM) Tại
50 xã nhân rộng xây dựng NTM (tổng cộng 365 ấp), với sự chỉ đạo sâu sát từ Đảng
bộ thành phố, Ban Chỉ đạo xây dựng Chương trình NTM thành phố, UBND thành phố và các cơ quan liên quan; căn cứ vào từng thời điểm với sự quyết tâm hoàn thành sớm nhiệm vụ đề ra, Đảng bộ thành phố luôn đặt ra chỉ tiêu phấn đấu và đã thực hiện thắng lợi mục tiêu ấy Tính đến năm 2016, TP.HCM đã có 54 xã hoàn thành, tiếp tục thực hiện mô hình NTM theo tiêu chí đặc thù của TP.HCM giai đoạn 2016-2020
1.2 Những nhân tố tác động đến xây dựng nông thôn mới ở thành phố
Hồ Chí Minh
1.2.1 Điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lý
TP.HCM nằm trong tọa độ địa lý khoảng 10o10’ - 10o38’ vĩ độ Bắc và
106o22’ - 106o54’ kinh độ Đông Phía Bắc giáp tỉnh Bình Dương, Tây Bắc giáp tỉnh Tây Ninh, Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Nai, Đông Nam giáp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Tây và Tây Nam giáp tỉnh Long An và Tiền Giang
Dựa vào các yếu tố lịch sử hình thành và phát triển của các khu vực; đặc điểm về vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên; điều kiện phát triển về kinh tế - xã hội, về
hạ tầng kỹ thuật đô thị, vùng nông thôn thành phố chia thành 3 khu vực có điều kiện
tự nhiên, hệ thống hạ tầng xã hội và hạ tầng kỹ thuật tương đồng nhau đó là:
- Khu vực 1: Gồm 2 huyện Củ Chi và Hóc Môn
- Khu vực 2: Gồm 2 huyện Bình Chánh và Nhà Bè
- Khu vực 3: Huyện Cần Giờ
Trang 35Hình 1: Sơ đồ phân khu khu vực nội ngoại thành của TP.HCM
- Khí hậu:
Nằm trong khu vực của miền Đông Nam Bộ nên TP.HCM mang khí hậu đặc trưng vùng nhiệt đới gió mùa cận xích đạo có tính chất nóng, ẩm, nhiệt độ tương đối cao và ít bị ảnh hưởng của bão, lụt, đây là một điều kiện thuận lợi cho
Trang 36việc phát triển nông nghiệp Thời tiết được chia thành hai mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 và mùa khô bắt đầu từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau Lượng mưa trung bình hàng năm là 2.100mm, nhưng tập trung từ tháng 6 đến tháng 11, chiếm 90% tổng lượng mưa cả năm Nhiệt độ trung bình 270C, nhiệt độ thấp nhất là 25,70C, nhiệt độ cao nhất là 390C
- Tài nguyên đất đai
Theo Quyết định số 5930/QĐ-UBND ngày 28/12/2009 của UBND thành phố
về phê duyệt “Quy hoạch sản xuất nông nghiệp phát triển nông thôn TP.HCM đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2025”, tổng diện tích tự nhiên của thành phố là 209.555 ha, trong đó diện tích tự nhiên của 5 huyện là 160.808 ha Tổng diện tích đất nông nghiệp theo quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp đến năm 2010: 103.938
ha, trong đó:
+ Đất sản xuất nông nghiệp: 56.664 ha, gồm 26.188 ha đất trồng cây hàng năm và 30.476 ha đất trồng cây lâu năm
+ Đất lâm nghiệp có rừng : 36.256 ha
+ Đất nuôi trồng thủy sản : 9.361 ha
+ Đất làm muối : 1.000 ha
+ Đất nông nghiệp khác : 658 ha
Trong đó, có thể chia thành 7 vùng sinh thái nông nghiệp như sau:
- Vùng đất xám gò đồi: diện tích khoảng 5.600ha (chiếm 4,6% diện tích đất
nông nghiệp của thành phố năm 2008), phân bố ở Tây Bắc Củ Chi Khả năng sử dụng cho trồng hoa, cây kiểng, rau, cỏ chăn nuôi, phát triển làng nghề, nông nghiệp công nghệ cao
- Vùng đất xám vàng đỏ và đất xám bạc màu: diện tích 18.230ha (15%), phân
bố chủ yếu ở Củ Chi, Hóc Môn, Bình Chánh Địa hình dạng lượn sóng đến bằng; khu vực địa hình cao có tầng đất dày, độ màu mỡ khá, phù hợp cây công nghiệp, cây lâu năm; khu vực thấp thích hợp lúa, rau màu
- Vùng đất phù sa ngọt: diện tích 10.100ha (8,3%), tập trung chủ yếu ở vùng
giữa của phần phía Nam Bình Chánh, phù hợp phát triển giống cây trồng, giống
Trang 37tôm, cá nước ngọt, trồng hoa, cây kiểng, VAC kết hợp với du lịch sinh thái, vui chơi giải trí
- Vùng đất phèn nặng: diện tích 8.930 ha (7,4%) thuộc khu vực thấp trũng ở
phía Tây thành phố, phân bố kéo dài từ Tam Tân – Thái Mỹ huyện Củ Chi qua Nhị Xuân huyện Hóc Môn, xuống khu vực Tây Nam huyện Bình Chánh (khu vực các xã Tân Tạo, Lê Minh Xuân, Phạm Văn Hai) Phù hợp phát triển lâm ngư kết hợp, cây
ăn trái và mô hình VAC
- Vùng đất phèn nhẹ (phèn trung bình và phèn ít): diện tích 17.420ha (14,4%)
thuộc khu vực thấp trũng có lớp phù sa bề mặt; ở rẻo ven sông Sài Gòn, kéo dài từ
xã Bình Mỹ (Củ Chi), Nhị Bình (Hóc Môn) đến một số phường của quận 12, quận
2, quận 9 phù hợp phát triển nuôi tôm càng xanh, VAC kết hợp với du lịch sinh thái, vui chơi giải trí
- Vùng đất phèn mặn theo mùa 6 - 7 tháng/năm: diện tích 18.193ha (15%); tập
trung ở huyện Nhà Bè và khu vực phía Bắc huyện Cần Giờ Vùng này có các hệ sinh thái ruộng lúa chịu mặn – phèn một vụ năng suất thấp và bấp bênh; cây dừa nước và ao đầm nuôi thủy sản mặn, lợ
- Vùng đất phèn mặn và đất mặn dưới rừng ngập mặn: diện tích 42.840ha
(chiếm 35,3% diện tích đất nông nghiệp); tập trung ở huyện Cần Giờ; khu vực huyện Cần Giờ có diện tích đất “giồng” cát ven biển, thích hợp trồng cây ăn trái, rau màu; mặt nước nuôi tôm sú, cua và bãi bồi ven biển nuôi thủy sản nhuyễn thể [109; tr.18 -19]
Như vậy ta thấy, đất ở khu vực phía Bắc và Tây Bắc phù hợp với sản xuất nông nghiệp; khu vực phía Nam, Tây Nam phù hợp với sản xuất lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản
- Tài nguyên nước
- Nước mặt: nước ngọt của sông Đồng Nai là nguồn nước ngọt chính với
diện tích lưu vực khoảng 45.000 km2, hàng năm cung cấp 15 tỷ m3 nước Nước mặt trên địa bàn thành phố hiện nay chủ yếu sử dụng cho nông nghiệp và nuôi trồng
Trang 38thủy sản tại các huyện Hóc Môn, Củ Chi, Bình Chánh, Nhà Bè và Cần Giờ với lưu lượng khoảng 100 triệu m3/năm
- Nước dưới đất: Nguồn nước ngọt dưới đất phân bố chủ yếu ở các tầng chứa
nước Pliocen ở độ sâu 100 – 300m, cá biệt có nơi 20 - 50m Tập trung tại các huyện
Củ Chi, Hóc Môn, phía Bắc huyện Bình Chánh Hiện nay, thành phố đang mở rộng mạng lưới cấp nước, tăng khai thác nước mặt để dần dần giảm khai thác lượng nước dưới mặt đất
Theo báo cáo của Sở NN & PTNT TP.HCM, đến cuối năm 2008, vùng nông thôn ngoại thành TP.HCM đã có gần 95% số hộ dân được sử dụng nguồn nước sinh hoạt hợp vệ sinh, trong đó có 39.353 hộ sử dụng nước máy và mua nước máy (chiếm 17%); 177.335 hộ sử dụng nước giếng khoan (chiếm 78%) và còn trên 9.400
hộ dân nông thôn chưa được sử dụng nguồn nước sạch để sinh hoạt [109; tr.36]
1.2.2 Điều kiện xã hội
- Dân số
Theo số liệu của kết quả bốn đợt tổng điều tra dân số và nhà ở tại TP.HCM: 1/10/1979, 1/4/1989, 1/4/1999 và 04/01/2009, cho thấy, dân số của TP.HCM có sự biến động rất lớn quan từng thời kỳ phát triển, cụ thể:
Bảng 1.1 Dân số TP.HCM qua các đợt tổng điều tra
- Dân số (người)
Toàn thành 3.419.977 3.988.124 5.037.155 7.123.340 Các quận 2.842.945 3.319.942 4.124.287 5.841.987
Trang 39Số liệu thống kê cho thấy, dân số của thành phố nói chung và khu vực nông thôn thành phố trong giai đoạn (1979-1989) có tốc độ tăng bình quân 1 năm đạt tỷ
lệ 1,6% đối với toàn thành phố, kể cả ở khu vực nông thôn và đô thị Tỷ lệ này chủ yếu là sự gia tăng dân số tự nhiên của TP.HCM Có thể nói, thời kỳ này, TP.HCM chưa phát triển khu chế xuất, khu công nghiệp và tiến trình đô thị hóa chưa phát triển mạnh, do đó, số lượng dân nhập cư vào TP.HCM chưa nhiều
Sang giai đoạn từ 1989 - 1999, tốc độ tăng dân số bắt đầu có xu hướng đi lên, trong đó khu vực nông thôn có tốc độ tăng cao hơn hẳn (tăng 3,2%) so với tốc
độ tăng chung của toàn thành phố (2,4%) và của các quận (2,2%) Trong giai đoạn
từ 1999-2009, dân số TP.HCM vẫn tiếp tục tăng cao ở cả hai khu vực đô thị (tăng 3,5%) và nông thôn (3,4%)
Dân số trong độ tuổi lao động chiếm tỷ trọng lớn và có xu hướng tăng, năm
1999 chiếm 64,59% và năm 2009 chiếm 70,7% so với tổng số dân Đây là nguồn nhân lực dồi dào thuận lợi cho việc cung ứng lao động trong phát triển kinh tế - xã hội của khu vực ngoại thành nói riêng
- Thành phố có những trung tâm nghiên cứu và dịch vụ khoa học - kỹ thuật cao
TP.HCM là thành phố có trình độ khoa học - kỹ thuật cao, có Khu Nông
nghiệp công nghệ cao, Trung tâm Công nghệ sinh học đã hỗ trợ cho phát triển nông
Trang 40vấn, chuyển giao công nghệ, phổ biến nhân rộng những mô hình sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tới nông dân và các doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp trong thành phố và các tỉnh lân cận; hợp tác quốc tế trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học và phát triển nhân lực công nghệ cao; kêu gọi đầu tư, thu hút công nghệ cao của các nhà đầu tư trong và ngoài nước; tổ chức hoạt động ươm tạo; cung cấp thông tin và hỗ trợ cho nông dân tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp công nghệ cao;
tổ chức hội chợ triển lãm, giới thiệu sản phẩm nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao
- Trung tâm Công nghệ sinh học TP.HCM được xây dựng từ năm 2004 tại phường Trung Mỹ Tây, quận 12 Cơ quan chủ quản của Trung tâm là Sở NN& PTNT TP.HCM bao gồm các phân khu chức năng như sau: Khu Hành chính Tổng hợp; Khu Nghiên cứu và sản xuất thử; Khu Nhà lưới, Nhà kính; Khu thí nghiệm thực vật; Khu Phân tích và xét nghiệm; Khu sản xuất chế phẩm sinh học; Khu nuôi động vật thí nghiệm; Khu Đào tạo và Hợp tác quốc tế; Vườn Sinh vật cảnh; Khu nhà khách và công vụ; Khu thể thao; Khu Xử lý chất thải
Khu Nông nghiệp công nghệ cao và Trung tâm Công nghệ sinh học ra đời, phát triển có ý nghĩa hết sức sâu sắc đối với TP.HCM và cả nước Tạo cở sở, nền tảng, động lực cho quá trình kết nối chặt chẽ, mật thiết giữa nông nghiệp, nông thôn, nông dân với đô thị, khoa học công nghệ ngân hàng, thị trường tiêu thụ hàng hóa hình thành sợi dây liên kết “5 N”: Nhà nông, Nhà khoa học, Nhà nước, Nhà băng (ngân hàng), Nhà buôn (doanh nghiệp) Nền nông nghiệp thành phố có điều kiện, tiền đề phát triển nhanh, rút ngắn khoảng cách, tiến kịp với trình độ phát triển nông nghiệp của khu vực và thế giới Việc ứng dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp đã được các doanh nghiệp triển khai thực hiện đạt kết quả tốt Ngoài ra, thành phố là trung tâm tập trung nhiều viện, trường, cơ quan nghiên cứu khoa học, chuyên gia; có đội ngũ tri thức khoa học đông đảo; thuận lợi cho việc thực hiện các công trình nghiên cứu khoa học; đào tạo nguồn nhân lực cho chương trình xây dựng NTM, góp phần đẩy nhanh lộ trình đạt chuẩn bền vững trong xây dựng NTM