STT TÊN HÌNH Trang2 Hình 1.2 Sơ đồ minh họa việc ước lượng các yếu tố theo Lamendin 1988 11 4 Hình 1.4 Hình ảnh minh họa tượng trưng cho các giai đoạn khoáng hóa theo tác giả Gleiser và
Trang 1ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ BÍCH LÝ
XÁC ĐỊNH TUỔI NGƯỜI VIỆT
(GIAI ĐOẠN 6-24 TUỔI)
Chuyên ngành Nha khoa
Mã số : 62.72.28.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS-TS LÊ ĐỨC LÁNH
Trang 2Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Ký tên
NGUYỄN THỊ BÍCH LÝ
Trang 3Trang phụ bìa……… i
Lời cam đoan……… ii
Mục lục……… iii
Danh mục các chữ viết tắt……… vi
Danh mục bảng……… vii
Danh mục hình……… ix
Danh mục biểu đồ……… xi
Danh mục sơ đồ xiii
-Anh……… xiv
ĐẶT VẤN ĐỀ……… 1 1 CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU……… 5
1.1 Tuổi và định tuổi sinh học……… 5
1.2 Các phương pháp định tuổi sinh học dựa vào răng ……… 6
1.2.1 Phương pháp dựa trên sự mọc của răng sữa và răng vĩnh viễn……… 6
1.2.2 Phương pháp quan sát, đo đạc trực tiếp và khảo sát mô học răng 9
1.2.2.1 Phương pháp quan sát và đo đạc trực tiếp……… 9
1.2.2.2 Phương pháp khảo sát mô học răng……… 12
1.2.3 Phương pháp dựa trên phim XQ… 16
1.2.3.1 Phương pháp quan sát sự phát triển của răng trên phim………… 17
1.2.3.2 Phương pháp đo đạc sự phát triển của răng trên phim…… 25
1.3 Các nghiên cứu về định tuổi dựa vào sự phát triển của răng trên phim……… 28
1.3.1 Các nghiên cứu về định tuổi dựa vào bảy răng vĩnh viễn hàm dưới……… 29
1.3.2 Các nghiên cứu về định tuổi dựa vào răng khôn……… 37
Tóm tắt tổng quan tài liệu……… 41
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU……… 43
2.1 Đối tượng nghiên cứu……… 43
2.1.1 Tiêu chuẩn chon mẫu……… 43
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ……… 44
2.2 Phương pháp nghiên cứu……… 44
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu……… ……… 44
2.2.2 Mô tả phương pháp……… 44
Trang 42.2.3 Tiêu chuẩn đánh giá……… 51
2.3 Phân tích và xử lý số liệu……… 53
2.3.1 Thu thập dữ liệu ……… 53
2.3.2 Sai số của phương pháp ……… 54
2.3.3 Phân tích thống kê……… 55
2.4 Vấn đề y đức trong nghiên cứu 57
Tóm tắt qui trình nghiên cứu……… 58
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ 59
3.1 Đặc điểm mẫu nghiên cứu……… 59
3.1.1 Mẫu nghiên cứu 1……… 59
3.1.2 Mẫu nghiên cứu 2……… 61
3.2 Kết quả nghiên cứu 63
3.2.1 Định tuổi dựa vào bảy răng vĩnh viễn hàm dưới……… 63
3.2.1.1 Định tuổi theo phương pháp Demirjian……… 63
3.2.1.2 Định tuổi theo phương pháp Willem………… 67
3.2.1.3 Xây dựng phương trình hồi quy để định tuổi răng, kiểm tra sự phù hợp của phương trình……… 72
3.2.2 Định tuổi dựa vào răng khôn……… 78
3.2.2.1 Bắt đầu hình thành răng khôn……… 78
3.2.2.2 Thiếu răng khôn bẩm sinh……… 78
3.2.2.3 Định tuổi dựa vào răng khôn theo giới……… 80
3.2.2.4 Định tuổi dựa theo vị trí răng khôn ……… 84
3.2.2.5 Xây dựng phương trình hồi quy định tuổi theo sự phát triển của răng khôn…… 87
3.2.2.6 Khả năng dự đoán các mốc tuổi theo sự phát triển của răng khôn 89
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN……… 91
4.1 Phương pháp nghiên cứu……… 91
4.1.1 Chọn lựa phương pháp……… 91
4.1.2 Chọn mẫu……… 93
4.1.3 Độ tin cậy của việc đánh giá……… 94
4.2 Kết quá nghiên cứu……… 95
4.2.1 Định tuổi dựa vào bảy răng vĩnh viễn hàm dưới……… 95
4.2.1.1 Định tuổi theo phương pháp Demirjian……… 95
Trang 54.2.1.3 Xây dựng phương trình hồi quy để định tuổi răng, kiểm tra sự phù hợp của
phương trình 104
4.2.2 Định tuổi dựa vào răng khôn……… 108
4.2.2.1 Bắt đầu hình thành răng khôn ……… 109
4.2.2.2 Thiếu răng khôn bẩm sinh………… 110
4.2.2.3 Định tuổi dựa vào răng khôn theo giới ………… 113
4.2.2.4 Định tuổi dựa theo vị trí răng khôn ……… 115
4.2.2.5 Sự khác biệt giữa các dân tộc khi định tuổi dựa vào răng khôn… 116
4.2.2.6 Phương trình hồi quy định tuổi dựa vào răng khôn……… 119
4.2.2.7 Về khả năng của răng khôn trong pháp y……… 120
4.3 Ý nghĩa và ứng dụng của đề tài……… 125
4.4 Hạn chế của đề tài……… 126
KẾT LUẬN……… 128
KIẾN NGHỊ……… 131 Danh mục các công trình nghiên cứu đã công bố có liên quan đến đề tài luận án
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6*: sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05
**: sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,01
***: sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,001
Trang 73 Bảng 2.3 Bảng chuyển đổi từ điểm số trưởng thành sang tuổi răng
theo phương pháp Demirjian ở nam
46
4 Bảng 2.4 Bảng chuyển đổi từ điểm số trưởng thành sang tuổi răng
theo phương pháp Demirjian ở nữ
47
5 Bảng 2.5 Bảng chuyển đổi từ giai đọan phát triển sang tuổi răng
theo Willem ở nam
48
6 Bảng 2.6 Bảng chuyển đổi từ giai đọan phát triển sang tuổi răng
theo Willem ở nữ
48
9 Bảng 3.3 Trung bình và độ lệch chuẩn của tuổi thật, tuổi răng
theo pp Demirjian, trung bình khác biệt giữa tuổi thật vàtuổi răng ở mỗi nhóm tuổi
66
10 Bảng 3.4 Trung bình và độ lệch chuẩn của tuổi thật và tuổi răng
theo phương pháp Willem, trung bình khác biệt giữatuổi thật và tuổi răng ở mỗi nhóm tuổi
Trang 816 Bảng 3.10 Tỉ lệ thiếu đồng thời nhiều răng khôn khảo sát ở lứa tuổi
19 Bảng 3.13 Độ tuổi trung bình từng giai đoạn phát triển của răng
khôn trên: so sánh giữa hai bên phải và trái
84
20 Bảng 3.14 Độ tuổi trung bình từng giai đoạn phát triển của răng
khôn dưới: so sánh giữa hai bên phải và trái
85
21 Bảng 3.15 Độ tuổi trung bình từng giai đoạn phát triển của răng
khôn bên phải: so sánh giữa hai hàm trên và dưới
86
22 Bảng 3.16 Độ tuổi trung bình từng giai đoạn phát triển của răng
khôn bên trái: so sánh giữa hai hàm trên và dưới
86
23 Bảng 3.17 Phương trình hồi quy dự đoán tuổi dựa vào giới, số
lượng và vị trí của răng khôn
87
24 Bảng 3.18 Khả năng dự đoán các cá thể dưới mốc tuổi 14,16,18 90
25 Bảng 4.1 So sánh trung bình khác biệt giữa tuổi răng theo phương
pháp Demirjian và tuổi thật ở một số các nghiên cứukhác trên thế giới
98
26 Bảng 4.2 So sánh tỉ lệ thiếu răng trong nghiên cứu của chúng tôi
và của Arany và Lee
112
27 Bảng 4.3 So sánh độ tuổi trung bình của các giai đoạn phát triển
răng khôn dưới phải giữa các dân tộc
118
28 Bảng 4.4 So sánh khả năng đánh giá một cá thể đạt được mốc tuổi
18 dựa vào giai đoạn H trong sự phát triển của răngkhôn giữa các nghiên cứu
123
Trang 9STT TÊN HÌNH Trang
2 Hình 1.2 Sơ đồ minh họa việc ước lượng các yếu tố theo Lamendin
1988
11
4 Hình 1.4 Hình ảnh minh họa tượng trưng cho các giai đoạn khoáng
hóa theo tác giả Gleiser và Hunt năm 1955
19
5 Hình 1.5 Hình ảnh minh họa phân loại của Kohler biến đổi từ
Gleiser và Hunt
19
6 Hình 1.6 Hình ảnh XQ tượng trưng cho các giai đoạn từ 5-10 trong
phân loại của Kohler cho răng khôn trên và dưới
20
7 Hình 1.7 Hình ảnh minh họa tượng trưng cho các giai đoạn hình
thành răng theo tác giả Moorrrees đối với răng một chân
21
8 Hình 1.8 Hình ảnh minh họa tượng trưng cho các giai đoạn hình
thành răng theo tác giả Moorrrees đối với răng nhiều chân
21
9 Hình 1.9 Hình ảnh minh họa tượng trưng cho các giai đoạn khoáng
hóa răng theo tác giả Demirjian (1973)
22
10 Hình 1.10 Hình ảnh minh họa tượng trưng cho các giai đoạn khoáng
hóa theo tác giả Harris và Nortje năm 1984
23
11 Hình 1.11 Hình ảnh minh họa tượng trưng cho các giai đoạn khoáng
hóa theo tác giả Kullman 1992
23
12 Hình 1.12 Hình ảnh minh họa tượng trưng cho các giai đoạn khoáng
hóa và hình ảnh XQ tương ứng theo tác giả Rozkovcova2005
24
13 Hình 1.13 Các khoảng cách được đo theo phương pháp của
Mornstad
25
14 Hình 1.14 Đo lường độ mở rộng vùng chóp trên răng một chân 26
Trang 10Ito 1975
17 Hình 2.1 Khảo sát sự phát triển của bảy răng vĩnh viễn hàm dưới
trên phim toàn cảnh
49
18 Hình 2.2 Khảo sát sự phát triển của răng khôn trên phim toàn cảnh 51
19 Hình 2.3 Mô tả thang đánh giá của Demirjian và cộng sự (1973) 52
20 Hình 4.1 Hình ảnh bắt đầu hình thành răng khôn (giai đoạn A) trên
phim toàn cảnh
109
21 Hình 4.2 Phim toàn cảnh của cá thể nam 19, 46 tuổi với các răng
khôn ở giai đoạn H
122
Trang 11STT TÊN BIỂU ĐỒ Trang
1 Biểu đồ 3.1 Phân bố số lượng của cá thể theo giới và từng độ tuổi ở
mẫu nghiên cứu 1
60
2 Biểu đồ 3.2 Tỉ lệ phân bố của các cá thể ở từng độ tuổi trong mẫu
nghiên cứu 1
60
3 Biểu đồ 3.3 Phân bố số lượng của cá thể theo giới và từng độ tuổi ở
mẫu nghiên cứu 2
7 Biểu đồ 3.7 So sánh trung bình khác biệt khác biệt giữa tuổi thật và
tuổi răng theo phương pháp Demirjian giữa nam và nữ
10 Biểu đồ 3.10 So sánh trung bình khác biệt khác biệt giữa tuổi thật và
tuổi răng theo phương pháp Willem giữa nam và nữ
69
11 Biểu đồ 3.11 So sánh trung bình khác biệt giữa tuổi thật và tuổi răng
tính theo hai phương pháp Demirjian và Willem
71
12 Biểu đồ 3.12 Sơ đồ tương quan hồi quy tuyến tính giữa tuổi thật các cá
thể và điểm số trưởng thành cho nam và nữ
Trang 12trưởng thành ở nam và nữ
15 Biểu đồ 3.15 Biểu đồ phần dư của mô hình hồi quy bậc ba định tuổi
theo điểm số trưởng thành ở nam và nữ
76
16 Biểu đồ 3.16 So sánh tuổi thật, tuổi răng theo phương pháp Demirjian
và công thức hồi quy bậc ba
77
17 Biểu đồ 3.17 So sánh tỉ lệ thiếu răng khôn bẩm sinh giữa nam và nữ 79
18 Biểu đồ 3.18 So sánh tỉ lệ thiếu đồng thời nhiều răng khôn giữa nam và
23 Biểu đồ 3.23 So sánh tuổi thật và tuổi răng tính theo công thức hồi quy
từ sự phát triển của cả bốn răng khôn
89
24 Biểu đồ 4.1 So sánh giữa tuổi thật và tuổi răng đánh giá theo phương
pháp Demirjian
97
Trang 13STT TÊN SƠ ĐỒ Trang
Trang 14Bộ xương Skeleton
Dấu hiệu tăng trưởng theo ngày Markers of circadian growth
Dấu hiệu tăng trưởng theo tuần Markers of circaseptan growth
Đỉnh tăng trưởng chiều cao Peak height velocity (PHV)
Độ trong của ngà chân răng Root dentin transparency
Đường gợn sóng (Đường ngói lợp) Perikymata line
Trang 15Khảo cổ học Archaeology
Thời kỳ tăng trưởng dậy thì Pubertal growth period
Trưởng thành răng
Trưởng thành xương
Dental maturitySkeletal maturity
Trang 16Ước lượng tuổi Age estimation
Ước lượng tuổi dựa vào răng Dental age estimationƯớc lượng tuổi dựa vào xương Skeletal age estimation
Trang 17ĐẶT VẤN ĐỀ
Giám định tuổi của một cá thể dựa theo các đặc điểm tăng trưởng đã đượcthực hiện từ những năm đầu của thế kỷ 20, nhưng trong những năm gần đây, cácnghiên cứu trên thế giới về giám định tuổi pháp y có những bước tiến bộ và đạt đượcnhững thành tựu đáng kể Với sự gia tăng nhanh chóng các phương pháp đánh giá tuổi
đã đáp ứng được những đòi hỏi thực tế trong xã hội và pháp luật tập trung quanh việcxác định tuổi của một cá thể [10], [11], [49], [90], [112], [113], [114] Đây là một trongnhững vấn đề cấp bách trong xã hội hiện đại, khi phải đối mặt với sự gia tăng bạo lực,tội phạm ở lứa tuổi thanh thiếu niên, sự đòi hỏi phải bảo vệ trẻ em trước những nguy
cơ bị xâm phạm tình dục hay bị bóc lột lao động Khi một cá nhân bị truy tố trước tòahay những người bị hại trong độ tuổi thanh thiếu niên lại không thể xuất trình nhữngbằng chứng về tuổi thật của mình vì không có giấy khai sinh hoặc vì các nghi vấn sửdụng giấy tờ giả thì nhiệm vụ của chuyên gia pháp y phải đánh giá tuổi dựa trên phântích những dấu hiệu sinh học của quá trình phát triển; điều này đóng vai trò quan trọng
vì mức độ hình phạt của can phạm có thể bị thay đổi tùy thuộc vào độ tuổi của người
Trang 18chứng cứ giúp điều tra các án mạng, ngăn ngừa việc làm giấy tờ giả và chuyển đổi giấy
tờ bất hợp pháp
Trong y học nói chung, các thông tin về tuổi sinh học giúp cho việc chẩnđoán, lập kế hoạch điều trị và dự phòng bệnh tật có hiệu quả hơn [2], xác định đúngthời điểm áp dụng các can thiệp, đặc biệt trong chuyên ngành răng trẻ em và chỉnh hìnhkhi điều trị các loại sai hình khác nhau có liên quan đến sự tăng trưởng hàm mặt vì đôikhi tuổi thật của một cá thể lại không phản ánh đúng tình trạng phát triển cơ thể của cáthể đó do tốc độ phát triển cơ thể diễn ra với nhịp độ khác nhau [66]
Có rất nhiều phương pháp định tuổi đã được nghiên cứu và báo cáo trong y văn
Ở trẻ em và thanh thiếu niên, các tác giả thường dùng các chỉ báo về phát triển để địnhtuổi như sự trưởng thành về xương (tuổi xương), chiều cao và cân nặng cơ thể (tuổihình thái), sự phát triển về sinh dục (tuổi sinh dục), sự phát triển và mọc răng (tuổirăng) Phương pháp thông dụng nhất là dựa vào sự trưởng thành của bộ xương màvùng có giá trị nhất là xương bàn-cổ tay, có thể giúp đánh giá tuổi từ khi còn nhỏ đếnkhoảng 16 tuổi, thời điểm mà sự trưởng thành của xương bàn tay gần như hoàn tất ở90% cá thể [20] Tuy vậy, phương pháp dựa trên xương có một vài hạn chế do có sựbiến thiên đáng kể trong trưởng thành của xương, chịu ảnh hưởng của các yếu tố môitrường, dinh dưỡng, nội tiết và bệnh tật
Định tuổi dựa vào răng đã được thừa nhận về độ chính xác khi so sánh vớinhững chỉ báo khác về tăng trưởng như xương và giới tính Có hai cách tiếp cận dùng
để định tuổi dựa vào răng là quan sát mọc răng và khảo sát quá trình khoáng hoá củarăng [86] Tuổi theo thời điểm mọc răng tuy đã được thừa nhận từ lâu nhưng khôngchính xác vì quá trình mọc răng là biến số đo lường gián đoạn, diễn ra trong khoảngthời gian ngắn nhưng lại là kết quả một quá trình luôn tiếp diễn bao gồm nhiều giaiđoạn trong cuộc đời đứa trẻ từ khi răng chưa mọc trên miệng, bị ảnh hưởng bởi nhiềuyếu tố tại chỗ như nhổ sớm các răng sữa, sâu răng hay chen chúc răng Ngược lại, sựkhoáng hoá của răng là quá trình diễn tiến dài lâu, có thể đánh giá trên phim X quang,
Trang 19bao gồm nhiều giai đoạn hình thái học khác nhau, mỗi giai đoạn được đặc trưng bởinhững hình dạng tương đối đồng nhất và có những thay đổi rõ rệt giữa các giai đoạnhơn quá trình mọc răng, ít chịu ảnh hưởng yếu tố như suy dinh dưỡng, bệnh lý mắcphải, sang chấn tinh thần hơn những tiêu chuẩn đo lường khác về sự trưởng thành Việcđịnh tuổi sử dụng các giai đoạn khác nhau trong quá trình hình thành răng làm tiêuchuẩn, tuổi răng được ước lượng bằng cách so sánh tình trạng phát triển của răng củangười chưa biết tuổi với các thang tiêu chuẩn trong những nghiên cứu về sự phát triểncủa răng được xây dựng trên một mẫu lớn các cá thể tập trung tại một vùng địa lý[139], [140].
Tuy vậy, việc đánh giá tuổi dựa theo răng không giống nhau cho mọi lứa tuổi.Trước tuổi 14, việc đánh giá tuổi đơn giản hơn vì có thể dựa vào hàng loạt các dữ kiện
từ răng sữa đến răng vĩnh viễn [10], [11], [31], [79], [142]; nhưng sau tuổi 14, chỉ duynhất răng khôn còn phát triển và là răng có nhiều biến thiên trong phát triển so với cácrăng khác như: thiếu răng, dị dạng về hình thể, vị trí, kích thước, thời gian mọc răng vàthời gian khoáng hóa dao động trong biên độ rất rộng …do đó có ý nghĩa như chỉ mộtbáo về phát triển cần được tìm hiểu [11], [55], [87], [90], [120], [134]
Tại Việt nam, đã có nhiều nghiên cứu có giá trị về những đặc điểm hình thái củarăng, cung xương ổ răng, cung răng, phức hợp sọ mặt và khuôn mặt của người Việtnam Cho đến nay, chưa có nghiên cứu nào về quá trình phát triển của các răng vĩnhviễn, vấn đề được đặt ra là quá trình phát triển của các răng này diễn ra như thế nào và
có liên hệ ra sao đối với tuổi, sự liên hệ này có thể giúp cho việc xác định tuổi của một
cá thể trong cộng đồng hay không? Chúng tôi thực hiện nghiên cứu: “Xác định tuổi người Việt qua sự phát triển của bộ răng vĩnh viễn giai đoạn 6-24 tuổi” để trả lời cho
các câu hỏi trên với các mục tiêu sau:
1- Ước lượng tuổi răng theo 2 phương pháp Demirjian và Willem dựa theo sự pháttriển của bảy răng vĩnh viễn hàm dưới bên trái trên phim X quang toàn cảnh ở
Trang 20nhóm trẻ em Việt nam từ 6-14 tuổi, từ đó đánh giá sự phù hợp của các phươngpháp này trong ước lượng tuổi răng trên trẻ em Việt nam.
2- Xác định tuổi trung bình của các giai đoạn phát triển của các răng khôn theogiới và vị trí trên phim X quang toàn cảnh ở nhóm người Việt từ 8-24 tuổi.3- Xây dựng phương trình hồi quy đa biến để định tuổi cho mẫu trẻ em Việt namdựa theo sự phát triển của bảy răng vĩnh viễn hàm dưới và răng khôn
4- Đánh giá khả năng dự đoán đúng các mốc tuổi 14, 16 và 18 của một thanh thiếuniên Việt nam dựa theo khảo sát sự phát triển của răng khôn trên phim toàn cảnh
Trang 21CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tuổi và việc định tuổi sinh học
Tuổi được định nghĩa là khoảng thời gian tồn tại của một cá thể từ khi sinh ra
đến một thời điểm xác định nào đó tính theo số lần quay của trái đất xoay quanh mặttrời; đây là yếu tố có liên quan và làm cơ sở cho việc thực hiện các sự kiện quan trọngtrong cuộc đời như đi học, thành hôn, hưu trí; giải quyết các ưu đãi về phúc lợi xã hội
mà bản thân cá thể được hưởng, giải quyết các tranh chấp về mặt luật pháp liên quanđến trách nhiệm dân sự hay hình sự của một cá thể Tuy vậy, trong một số trường hợptuổi thật lại không xác định được do thiếu hay không chính xác của những thông tin về
ngày tháng năm sinh, khi đó khái niệm dùng để thay thế là tuổi sinh học, đây là tuổi
được đánh giá dựa theo tình trạng phát triển, tăng trưởng, hoàn thiện và lão hóa của cácchỉ báo sinh học có liên quan gần nhất với tuổi thật mà phổ biến nhất là xương và răng[2], và thường được gọi tương ứng là tuổi xương hay tuổi răng Khái niệm tuổi sinhhọc còn được sử dụng rộng rãi trong các ngành khoa học có liên quan đến sự tăngtrưởng và phát triển nhằm xác định thời điểm thích hợp để áp dụng điều trị hay chẩnđoán những bệnh lý có liên quan đến tăng trưởng Phải phân biệt rõ ràng khái niệmgiữa tuổi thật (tuổi theo thời gian) và tuổi sinh học (tuổi xương hay tuổi răng); khi thiếucác thông tin có giá trị giúp xác định tuổi thật, tất cả các nhà nghiên cứu thường hyvọng là thành công trong việc định tuổi sinh học để giúp suy đoán tuổi thật Tuy vậy,điều này rất phức tạp vì những biến thiên sinh học Ví dụ khi chụp phim X quang, hìnhảnh trên phim chỉ phản ánh tình trạng trưởng thành của cá thể nhưng không thể đề cậpđến tốc độ nhanh hay chậm của sự tăng trưởng hay trưởng thành Như vậy, bất kỳ cáthể nào có tốc độ tăng trưởng chậm hay có những bệnh làm chậm tăng trưởng sẽ bịđánh giá tuổi thấp, còn người nào có tốc độ tăng trưởng nhanh sẽ bị đánh giá cao vềtuổi
Trang 22Các phương pháp định tuổi hiện nay trong khảo cổ, pháp y và hình thái học thìkhái niệm tuổi sinh học hầu như luôn dùng để tượng trưng cho tuổi thật Vì vậy, có 2nguồn gốc sai lầm thường gặp khi định tuổi:
1- Biến thiên sinh học: đây là nguồn gốc hằng định của sai lầm, theo đó tuổisinh học và tuổi thật không thể đồng nhất với nhau và do vậy, cái này không thể dùngnhư vật so sánh của cái kia
2- Các phương pháp hiện nay cho phép có biến thiên tự nhiên bằng cách tạo nênnhững bảng tiêu chuẩn để biến đổi tuổi sinh học thành tuổi thật Tuổi sinh học đượctính từ hình ảnh X quang của răng được khảo sát, sau đó được đổi thành tuổi thật nhờtham khảo vào các bảng chuẩn đã được xây dựng Các tiêu chuẩn sẽ luôn luôn có mức
độ sai lầm nào đó do không phủ khắp sự biến thiên tự nhiên
Tóm lại, tương quan giữa tuổi sinh học và tuổi thật đặt ra nhiều vấn đề cần đượcgiải quyết và những sai lầm nêu trên trong việc định tuổi có thể chấp nhận được, màkhông làm ảnh hưởng đến việc xác định tuổi thật của từng cá thể [61]
1.2 Các phương pháp định tuổi sinh học dựa vào răng:
Có 3 loại phương pháp khác nhau được dùng để ước lượng tuổi sinh học dựavào răng và sự khác biệt giữa các phương pháp tuỳ thuộc vào loại vật liệu và kỹ thuậtđược dùng để khảo sát [154], đó là:
- Phương pháp dựa trên sự mọc của răng sữa và răng vĩnh viễn
- Phương pháp quan sát, đo đạc trực tiếp và khảo sát mô học răng
- Phương pháp dựa trên phim X quang đánh giá sự phát triển của răng
1.2.1 Phương pháp dựa trên sự mọc của răng sữa và răng vĩnh viễn
Mọc răng, được định nghĩa là sự nhô lên của răng qua nướu, đã được cho là mốcthời gian quan trọng dùng để định tuổi Phương pháp này có ưu điểm do việc thực hiệnthuận lợi, nhanh chóng, dễ dàng, không cần chuyên gia và khách quan vì chỉ cần xácđịnh khi quan sát trong miệng răng có mọc hoặc không [60] Tuy nhiên, việc xây dựngcác tiêu chuẩn về tuổi mọc răng riêng biệt cho mỗi dân tộc rất cần thiết do có nhiều
Trang 23khác biệt về thời gian mọc răng giữa các dân tộc có nguồn gốc địa lý khác nhau và cáctác giả thường dùng mẫu của dân tộc đã biết tuổi để xây dựng tương quan giữa mọcrăng và tuổi thật.
Có hai cách tiếp cận khác nhau trong ước lượng tuổi dựa vào mọc răng, đó làđếm số lượng răng mọc trong miệng và phân tích tuổi mọc trung bình theo từng loạirăng Nghiên cứu của Gillet 1997 so sánh sự chính xác của ba phương pháp định tuổidựa trên sự mọc răng gồm: trung bình tuổi theo số răng mọc, phương trình hồi quy tínhtuổi theo giới dựa trên số răng mọc và phân tích chính xác theo loại răng mọc; kết quảcho thấy phương pháp thứ ba ít chính xác nhất còn hai phương pháp còn lại có kết quảtương tự [51]
Đối với răng vĩnh viễn:
Gillett 1998 [52] xây dựng nên bảng tính tuổi trung bình theo số răng vĩnh viễn đãmọc cho trẻ ở vùng Choma, Zambia và so sánh thời điểm mọc của các loại răng vĩnhviễn giữa các dân tộc châu Phi Vấn đề này cũng được Urban 1985 [57] và Nystrom
2001 [100] nghiên cứu nhằm cung cấp những giá trị tham chiếu về thời điểm mọc củacác răng vĩnh viễn và số lượng răng mọc ở trẻ theo tuổi ở trẻ em Thụy điển và Phầnlan
Đối với răng sữa:
So với răng vĩnh viễn, số răng sữa mọc là một chỉ báo tốt cho sự trưởng thành củacung răng vì các bất thường trong phát triển răng như thiếu hay dư răng rất hiếm gặp ở
hệ răng sữa Ngoài ra, sự mọc của răng sữa không bị xáo trộn do sự chen chúc của cácrăng hay do các răng mọc trước mà chủ yếu bị ảnh hưởng bởi yếu tố di truyền; số răngsữa mọc cũng không liên quan đến sự trưởng thành xương; tuy nhiên, cũng đã có cácbáo cáo về sự liên quan giữa số răng sữa mọc và sự tăng trưởng thể chất tổng quáttrong đó dường như trẻ có cân nặng lúc sinh lớn hơn, tăng chiều cao và trọng lượng sausinh nhiều hơn sẽ có số răng mọc nhiều hơn Yếu tố môi trường như suy dinh dưỡngnhẹ hay trung bình ít ảnh hưởng đến thời gian mọc răng, nhưng suy dinh dưỡng trầm
Trang 24trọng sẽ làm chậm mọc răng Nhìn chung, sự mọc răng sữa ít bị ảnh hưởng bởi tăngtrưởng thể chất so với răng vĩnh viễn và như vậy thích hợp để định tuổi hơn; cácnghiên cứu về số răng sữa mọc trong tương quan với tuổi đã được nghiên cứu ở nhiềunước [57], [102].
Foti thiết lập một mô hình toán học gồm nhiều biến số để tính tuổi dùng phântích hồi quy đa biến bậc thang, trong đó các biến số được khảo sát là số lượng các răngmọc khảo sát trên phim toàn cảnh: răng vĩnh viễn hàm trên và dưới gồm răng cửa,nanh, cối nhỏ, cối lớn thứ nhất và nhì, răng khôn; răng sữa hàm trên và dưới gồm răngcửa, nanh, răng cối, số mầm răng có và không tính răng khôn [43]
Đối với răng khôn:
Olze đã đưa ra kết quả tuổi trung bình của các giai đoạn mọc răng khảo sát trênphim toàn cảnh trong cộng đồng người Phi da đen và người Nhật theo thang đánh giámọc răng như sau [109],[110], [115]:
- Giai đoạn A: Mặt nhai của răng còn được bao phủ bởi xương ổ
- Giai đoạn B: Nhô xương ổ, có sự tiêu hoàn toàn xương ổ bao phủ mặt nhai
- Giai đoạn C: Nhô nướu, có sự xuyên qua nướu của ít nhất một múi răng
- Giai đoạn D: Nhô lên hoàn toàn của mặt nhai răng
Hình 1.1: Các giai đoạn của quá trình mọc răng khôn
“Nguồn: Olze, 2008” [115]
Trang 25Khi sử dụng thang đánh giá này đối với răng khôn, kết quả có thể bị ảnhhưởng bởi những thay đổi về góc độ, tình trạng mọc kẹt của răng…, các răng này phảiđược loại khỏi mẫu nghiên cứu nên phần nào cũng ảnh hưởng đến kết quả Hơn nữa,các tiêu chuẩn đánh giá đôi khi rất khó nhận ra trên phim mà cần kiểm chứng thêm trênlâm sàng, gây trở ngại không ít đến việc thu thập dữ liệu Chính vì vậy, có rất ít nhữngnghiên cứu trên thế giới về tiến trình mọc răng khôn và các kết quả từ các nghiên cứucho thấy có sự biến thiên rất lớn về thời gian mọc của răng khôn giữa các dân tộc khácnhau Răng khôn không mọc trước lứa tuổi 17 ở các dân tộc châu Âu, nhưng lại có thểmọc rất sớm ở lứa tuổi 13 như theo nghiên cứu của Shouri trên người Ấn độ năm 1946,Chagula trên người da đen Uganda năm 1960 và Otuyemi trên người da đen Nigerianăm 1997 [115].
1.2.2 Phương pháp quan sát, đo đạc trực tiếp và khảo sát mô học răng
1.2.2.1 Phương pháp quan sát và đo đạc trực tiếp
Phương pháp quan sát các thay đổi về hình thái
Gustafon [155] lần đầu tiên đã thiết lập một phương pháp để định tuổi ở ngườitrưởng thành dựa trên 6 tiêu chuẩn về cấu trúc răng: độ mòn, bệnh nha chu, sự thànhlập ngà thứ phát, bồi đắp xê măng, tiêu chóp răng, và độ trong của chân răng Các yếu
tố này được đánh giá trên răng nguyên vẹn hay sau khi đã mài, bằng cách quan sát dướikính hiển vi hay kính lúp Tổng giá trị các yếu tố trên được tính chung thành giá trị Xtương ứng với một vị trí toạ độ trên biểu đồ của Gustafon, điểm chiếu của giá trị nàytrên đường hồi quy cho phép đọc tuổi tương ứng trên trục tung Phương pháp này rấtthông dụng trong lãnh vực pháp nha và đã được chỉnh sửa bởi nhiều tác giả:
- Năm 1979, Maples và Rice đã tính lại công thức nguyên thuỷ của Gustafon dophát hiện những sai số về thống kê
- Năm 1989, Nkhumeleni khảo sát lại đường hồi quy trong công thức củaGustafon và đưa ra công thức tính tuổi mới
Trang 26- Năm 1971, Johanson cũng sử dụng các yếu tố định tuổi tương tự phương phápcủa Gustafon nhưng khác ở hệ thống tính điểm gồm nhiều mức độ chi tiết hơn và quansát các yếu tố trên những lát răng được cắt mỏng Tác giả cũng khảo sát riêng lẻ từngyếu tố của Gustafon trong tương quan với tuổi và thấy rằng độ trong của ngà tươngquan cao nhất với tuổi, kế theo là yếu tố bồi đắp ngà thứ phát, mòn răng và bồi đắp xêmăng; tiêu mô nha chu và tiêu chân răng tương quan kém với tuổi [155].
- Năm 1973, Emery áp dụng lại phương pháp và công thức tính tuổi củaGustafon nhưng đơn giản hóa bằng cách quan sát trên những mặt cắt nửa răng và thêmcác điểm số trung gian vào hệ thống tính điểm Kết quả định tuổi chính xác hơn so vớiphương pháp Gustafon nhưng về yếu tố ngà thứ phát thì kỹ thuật mài răng củaGustafon tốt hơn [155]
- Lamendin 1988 đề xuất một phương pháp định tuổi, gọi là phương pháp
“Gustafon đơn giản”, trong đó chỉ chú ý hai tiêu chuẩn là mô nha chu và độ trong củachân răng quan sát trên răng nguyên vẹn Việc định tuổi thực hiện theo công thức:
Tuổi = (0,18xP) + (0,42xT) + 25,53 trong đó T là chiều cao vùng trong x
100/chiều dài chân răng và P là chiều cao vùng tiêu nha chu x 100/chiều dài chân răng.Phương pháp Lamendin cho ước lượng tuổi chính xác nhất là trong khoảng 40-79 tuổi,hiệu quả tối đa của phương pháp nằm trong khoảng từ 50-69 Ngoài ra, kết quả sẽ tốthơn cho mọi độ tuổi nếu chỉ khảo sát trên răng cửa giữa hàm trên Phương pháp nàythực hiện dễ dàng và nhanh chóng, cho kết quả định tuổi khá tin cậy so với phươngpháp 6 tiêu chuẩn của Gustafon Với phương pháp này, các răng không bị phá huỷ nên
có thể dùng cho những khảo sát khác, giúp tăng độ chính xác của việc định tuổi nhờ sựphối hợp nhiều phương pháp [155]
Trang 27Hình 1.2: Sơ đồ minh họa việc ước lượng các yếu tố theo Lamendin 1988
“Nguồn: Georget, 2007” [155]
- Một số tác giả khác cũng đã thực hiện các nghiên cứu định tuổi chỉ dựa trêntừng yếu tố riêng lẻ trong 6 tiêu chuẩn của Gustafon như sự bồi đắp xê măng, độ trongvùng chóp chân răng, màu răng …và bước đầu đã cho những kết quả có giá trị trongviệc định tuổi cho người trưởng thành [34], [35] , [40], [88], [136], [152]
- Solheim 1993 mở rộng và liên kết thêm một số yếu tố như độ nhám bề mặt,màu ngà chân răng, giới tính, có nhổ răng hay không vào các tiêu chuẩn của Gustafon
để định tuổi, kết quả đã tạo nên những công thức hồi quy đa biến để định tuổi riêng biệtcho từng loại răng [155]
Phương pháp đo đạc trực tiếp trên răng
Năm 1993, Liversidge phát triển một phương pháp định lượng khách quan đểđịnh tuổi những di cốt chưa trưởng thành dựa trên sự phát triển chiều dài răng Kíchthước này được đo trực tiếp bằng thước trượt chính xác đến 0,1 mm theo trục dài răng
từ múi giữa của răng cửa, đỉnh múi răng nanh, múi ngoài gần của răng cối trên và múitrong gần của răng cối dưới đến bờ phát triển của thân hay chân răng Sau đó, dùngphân tích hồi quy để dự đoán tuổi từ chiều dài của những răng đang phát triển có chân
Chiều cao vùng trong
Mức độ trụt nướu
Chiều dài chân răng
Ranh giới men-xê măng
Trang 28răng chưa hoàn tất, dữ liệu được tính chung cho cả răng trên và dưới theo phương trìnhy=a+bx cho răng sữa và y=a+bx+cx2 cho răng vĩnh viễn, trong đó x là chiều dài răng,các giá trị a,b,c được tính riêng cho từng loại răng [25], [24], [80].
Sự phát triển và mọc răng đã được thừa nhận là những chỉ báo phát triển ít biếnthiên nhất trong việc định tuổi nên được sử dụng rộng rãi trong những nghiên cứu vềpháp y và nhân chủng học; và đó cũng là lý do một số các tác giả sử dụng xương hàmdưới cho việc ước lượng tuổi vì hàm dưới là nơi mọc của các răng dưới và cũng là nơibám cho cơ nhai, vì thế sự phát triển hàm dưới sẽ được đòi hỏi để gần như hợp nhất với
sự phát triển răng Đã có nhiều nghiên cứu thực hiện theo hướng tiếp cận này:
- Nghiên cứu của Norris 2002 định tuổi từ các số đo hình thái của xương hàmdưới trong đó số đo chiều cao tối đa của cành lên là chính xác nhất [98]
- Nghiên cứu của Franklin 2007, 2008 sử dụng các dữ liệu đo lường hình tháihọc hàm dưới, đặc biệt mô tả kích thước và hình dạng theo 3 chiều không gian để địnhtuổi [44], [45]
1.2.2.2 Phương pháp khảo sát mô học răng
Phương pháp khảo sát các dấu hiệu tăng trưởng trong mô cứng [61]
Định tuổi cho một cá thể từ khảo sát mô học răng giải quyết được những hạn
chế do nguồn gốc sai lầm thường gặp khi định tuổi là có biến thiên sinh học giữa các
cá thể do đây là phương pháp tuyệt đối, không cần tham chiếu bảng tiêu chuẩn Bằng
cách tính mức độ gia tăng của các cấu trúc tượng trưng cho tăng trưởng theo ngày haytuần, có thể xác định trực tiếp tuổi thật mà không cần phải xác định tuổi sinh học Nhưvậy không có những sai số do biến thiên sinh học tự nhiên, mỗi cá thể được định tuổidựa theo tình trạng phát triển răng của riêng mình, đây còn là phương pháp tuyệt đốibởi không có chủ quan từ người quan sát như phương pháp X quang
Răng có nhiều lớp tăng trưởng biểu hiện cho nhịp điệu phát triển sinh lý, đặctrưng bởi những dấu hiệu tăng trưởng khác nhau trong mô cứng như: vân ngang, vạchRetzius và các đường gợn sóng perikymata Có thể xác định tuổi lúc chết ở trẻ vị thành
Trang 29niên bằng cách đếm số vân ngang (dấu hiệu tăng trưởng theo ngày) và các vạch Retzius(dấu hiệu tăng trưởng theo tuần) bắt đầu từ vị trí đường sơ sinh về phía cổ răng trên
mẫu di cốt răng đã được chuẩn bị Tuổi ước lượng lúc chết được tính bằng tổng thời
gian dùng để thành lập thân răng sau khi sinh (được tính bằng sự nhân lên của số vạch Retzius và số vân ngang) cộng với thời gian hình thành chân răng, thời gian này được
tính bằng cách đo chiều dày phần chân răng hình thành dọc theo trục dọc của ống ngàtrên máy tính, sau đó đổi sang giá trị thời gian theo cách ước lượng là có 2,85µm ngàđược tạo thành mỗi ngày dựa theo kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả [61]
Phương pháp dựa vào phản ứng triệt quang [54], [104], [105], [106],
[107], [126], [146], [151]
Đây là phương pháp dựa trên phản ứng triệt quang của các axít amin có liênquan chặt chẽ với những biến đổi sinh học theo thời gian Ở người trưởng thành, có rấtnhiều những thay đổi liên quan với tuổi xảy ra ở các axít amin như oxy hoá, đồng phânhay triệt quang, trong đó phản ứng triệt quang là phản ứng thường gặp nhất Trênngười sống, các axít amin cấu tạo thành các prôtên sinh học thường xếp ở dưới dạng Laxít amin, mặc dù có một vài peptit ngoại lệ được tổng hợp dưới dạng D axít amin Với
sự gia tăng tuổi, có sự chuyển đổi dần từ dạng L sang dạng D axít amin, phản ứng này
gọi là phản ứng triệt quang và axít amin có tốc độ phản ứng triệt quang cao nhất là axít
Aspartic Phản ứng triệt quang ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như nhiệt độ, độ ẩm,pH…và thường xảy ra ở những mô có chuyển hoá chậm hay bất hoạt trong chuyển hoánhư răng, thuỷ tinh thể, dĩa cột sống, chất trắng ở não, ở những mô dinh dưỡng chậmnhư xương, nhu mô phổi và ngay cả ở prôtêin của tế bào Như vậy, phản ứng triệtquang của axít Aspartic là hiện tượng thứ phát do thoái hoá protein, diễn ra trong suốtcuộc sống cho đến sau khi chết, tuy nhiên tốc độ sau khi chết giảm do nhiệt độ từ môitrường chung quanh giảm Sự tương quan chặt chẽ giữa phản ứng triệt quang của axítAspartic trong các phân tử prôtêin và tuổi đã chứng minh rằng triệt quang của axítAspartic rõ ràng là quá trình tự thân, không thể tránh được trong suốt quá trình lão hoá
Trang 30tự nhiên của prôtêin, phản ứng này được áp dụng để đánh giá khoảng thời gian sau chếtnhưng không vượt quá vài thập niên ở những xác còn mới hay những bộ xương bị phânhuỷ.
Helfman và Bada 1976 tìm thấy ngà răng có tương quan chặt chẽ nhất giữa tuổithật và phản ứng triệt quang của axít Aspartic so với các axít amin khác Tương quannày sau đó được khảo sát trên nhiều loại mô khác như men, xê măng, tuy nhiên phảnứng triệt quang ở ngà đặc biệt được quan tâm vì ngà chiếm phần lớn thể tích trong cấutrúc răng, lượng prôtêin ở ngà lại cao gấp nhiều lần so với men; ngà còn được men che
chở bên ngoài nên ít chịu ảnh hưởng bởi những tác động môi trường Hiện nay,
phương pháp triệt quang của axít Aspartic ở ngà là một trong những phương pháp chính xác nhất để định tuổi Không giống các phương pháp hình thái khác, phương
pháp này khách quan vì kết quả đo lường thực hiện trong phòng thí nghiệm, không cầnđánh giá sai biệt giữa các quan sát viên cũng như chuyên gia được huấn luyện và cónhiều kinh nghiệm Đã có rất nhiều phương pháp đo lường sự triệt quang axít Aspartickhác nhau giữa các phòng thí nghiệm, Waite và cộng sự 1999 [146] đã phân tích sựkhác biệt giữa các phương pháp, thảo luận ảnh hưởng của từng phương pháp đối vớikết quả và khuyến cáo về phương pháp tối ưu để hướng tới sự tiêu chuẩn hóa quốc tếmột phương pháp chuẩn giúp đảm bảo chất lượng và dễ dàng so sánh giữa các kết quả
Phương pháp dựa vào phản ứng kết vòng ở lớp xê măng [27], [149].
Trong quá trình hình thành xê măng, có những lớp chất nền tăng khoáng hoáxen kẽ với những lớp kém khoáng hoá Lớp xê măng không tế bào đầu tiên được tạo ratrước khi răng mọc còn những lớp xê măng thứ phát được tạo thêm trong khoảng thờigian trong và sau khi mọc răng Lớp xê măng nguyên thuỷ chứa những bó sợi Collagendày đặc không canxi hoá trong khi những bó sợi thứ phát được khoáng hoá nhờ cáctinh thể hydroxy apatit theo các hướng thay đổi tạo cảm giác như những lớp sáng và tốixen kẽ, cấu trúc này khi quan sát dưới kính hiển vi có dạng như một loạt các đường haynhững dãy băng sáng tối xen kẽ Hình ảnh của các đường sáng tối trong xê-măng cũng
Trang 31được thấy trên răng của hơn 50 loài có vú khác nhau trên thế giới, được xem như là dấuhiệu phản ánh nhịp chuyển hoá tự nhiên thay đổi theo mùa (Laws 1952, Geiger 1993,Grue 1979, Kay 1984) Nhịp điệu theo mùa trong xê măng, được thấy như những dãytối sáng xen kẽ được giải thích do sự chuyển hoá của hóc môn cận giáp có tương tácvới vitamin D, giúp điều hoà nồng độ canxi trong máu và hấp thu canxi theo cơ chếphức hợp môi trường và sinh hoá học đồng bộ với nhau Nhiều tác giả như Lieberman
1994, Kagerer 2001 cho rằng mỗi một cặp đường tương ứng với 1 năm trong cuộc sống
và tạo nên những chỉ thị sinh học có thể sử dụng để định tuổi cho một cá thể Bằng
cách thêm số tuổi của chân răng với số lượng các vòng trên lớp xê măng sẽ ước lượng được tuổi lúc chết hay lúc nhổ răng Tuy nhiên có rất nhiều biến thiên trong quá trình
tạo xê măng làm thay đổi hình dáng của các đường ví dụ như lực sinh cơ học, dinhdưỡng, chu trình hóc môn, điều kiện sinh thái như nhiệt độ, tia sáng cực tím, độ ẩm, độcao, hay ô nhiễm
Hình 1.3: Hình ảnh các đường kết vòng ở lớp xê măng (a: vùng gần ngà răng, b:
vùng bề mặt chân răng)
“Nguồn: Wittwer-Backofen, 2004” [149]
Trang 32Phương pháp dựa vào phân tích các bon phóng xạ [143]
Chu kỳ phóng xạ carbon, trong mối liên hệ đặc biệt với đường cong bom hiệnđại, có thể cung cấp thông tin hữu ích để làm sáng tỏ ngày chết của các di tích khảo cổcủa nhân loại Việc phân tích các loại mô khác nhau trên cùng một bộ xương rất có ích
vì có thể biết được về thời gian thành lập và tốc độ tổ chức mô Phân tích thành phầnphóng xạ carbon của răng, đặc biệt trong men răng, sẽ cho ta những thông tin về ngàythành lập răng ở thời thơ ấu từ đó được sử dụng để ước tính ngày sinh sau năm 1950sau công nguyên
1.2.3 Phương pháp dựa trên phim X quang
Các nghiên cứu về định tuổi dựa trên sự mọc răng có khuyết điểm chính làkhông đánh giá được tuổi trong khoảng thời gian từ 2,5-6 tuổi vì trong thời kỳ này, sốlượng và loại răng hiện diện trong miệng hầu như không thay đổi cho đến khi mọc răngvĩnh viễn đầu tiên; còn các nghiên cứu về định tuổi theo khảo sát mô học răng từ trướcđến nay chỉ được thực hiện trên mẫu tương đối nhỏ và luôn dưới 30 cá thể Vì thế,nghiên cứu trên phim được xem là phương pháp thích hợp nhất để định tuổi [154] Đây
là phương pháp không xâm lấn, không gây phá hủy cấu trúc răng, thực hiện đơn giảnnhưng lại có được những thông tin cần thiết; ngoài ra, việc chụp phim rất thông dụng ởhầu hết các cơ sở nha khoa nên luôn có được nguồn mẫu nghiên cứu dễ dàng và phongphú; khảo sát trên phim là phương pháp duy nhất dùng để định tuổi trên người sống và
hỗ trợ cho các phương pháp định tuổi khác trên xác chết và di cốt Đa số các nghiêncứu về định tuổi trên thế giới đều sử dụng lại những phim đã được chụp theo đúng chỉđịnh lâm sàng để chẩn đoán hay điều trị trước đây vì thế yếu tố đạo đức trong việcdùng phim rõ ràng là có thể chấp nhận được [128], [127]; bên cạnh đó, không có lý do
gì để sợ rằng tổng lượng tia mà bệnh nhân tiếp xúc khi cần chụp phim trong quá trìnhđịnh tuổi lại có ảnh hưởng có hại đến sức khoẻ của họ [132]
Có thể dùng nhiều loại phim khác nhau để định tuổi bao gồm phim trong miệng
và ngoài mặt Phim trong miệng tuy ít bị biến dạng do phóng đại, ưu tiên được dùng
Trang 33trong pháp nha để định danh ở một số nước như Úc, nhưng phim toàn cảnh lại có nhiều
ưu điểm hơn: dễ thực hiện ở trẻ em, hiển thị cả hàm dưới lẫn hàm trên cùng một phimtrong đó hình ảnh của vùng răng sau hàm dưới là rõ ràng nhất Khuyết điểm thôngthường của loại phim này là đường cong cung hàm được chiếu trên phim phẳng nên có
sự xoắn vặn và phóng đại hình ảnh Tuy nhiên, đa số các tác giả đều nhất trí với nhaurằng đánh giá phát triển của răng trên phim toàn cảnh vẫn là phù hợp nhất khi dựa trên
mô tả theo hình dáng và tỉ lệ phần răng được thành lập chứ không theo đo lường kíchthước, hậu quả của việc làm ngắn hay kéo dài hình ảnh của răng trên phim do góc độchụp hay việc phóng đại hình ảnh có liên quan đến loại máy toàn cảnh được dùngkhông ảnh hưởng đến kết quả của việc đánh giá cũng như trong định tuổi [130]
1.2.3.1.Phương pháp quan sát sự phát triển của răng trên phim
Sự hình thành của răng là một quá trình thay đổi liên tuc về hình thái theo mộtkhuôn mẫu thống nhất và gồm nhiều giai đoạn, được mô tả chi tiết dựa theo sự khoánghóa và quan sát được trên phim X quang [99] Vấn đề đầu tiên là cần phải xác định sốgiai đoạn của quá trình phát triển được dùng để định tuổi răng, số lượng các giai đoạnthay đổi rất nhiều tuỳ thuộc theo cách phân loại của từng tác giả
Theo y văn, đã có nhiều phương pháp phân loại của các tác giả khác nhau được sửdụng để đánh giá quá trình khoáng hóa của răng như của: Gleiser và Hunt (1955),Nolla (1960), Haavikko (1970), Liliequist và Lundberg (1971), Demirjian (1973),Gustafon và Koch (1974), Nortje (1983), Harris và Nortje (1984), Kullman (1992),Kohller (1994) Các phân loại này khác nhau về số lượng các giai đoạn, định nghĩa củatừng giai đoạn và thời gian xuất hiện của từng giai đoạn Việc so sánh giữa các phươngpháp phân loại rất khó thực hiện vì khác nhau về cách mô tả, loại răng được chọn đểđánh giá và các giai đoạn của quá trình khoáng hoá Về phương diện thực hành, việcchọn lựa số lượng giai đoạn trong thang đánh giá là sự cân nhắc giữa việc: nếu dùngthang phân loại có ít giai đoạn thì sẽ dễ xác định chính xác giai đoạn nhưng do cókhoảng thời gian khá dài giữa các giai đoạn vì thế tuổi răng đánh giá được có thể ít
Trang 34chính xác hơn, ngoài ra nếu phỏng đoán sai giai đoạn sẽ làm gia tăng đáng kể sai lầmtrong việc định tuổi; còn nếu gia tăng số lượng các giai đoạn trong thang đánh giá sẽgiúp cải thiện độ đúng khi giám định tuổi nhưng làm giảm độ chính xác trong việcđánh giá các giai đoạn nên cũng ảnh hưởng phần nào đến kết quả định tuổi [108].
Việc phân loại quá trình khoáng hóa của răng có thể dựa theo các đặc tính sau:
* Phân loại theo mô tả bằng phát biểu:
- Phân loại của Gustafson và Koch [108] mô tả quá trình khoáng hóa của răngtheo 4 giai đoạn cụ thể như sau:
- Giai đoạn 1: bắt đầu khoáng hóa
- Giai đoạn 2: hoàn tất thân răng
- Giai đoạn 3: có một múi răng mọc xuyên qua niêm mạc
- Giai đoạn 4: hoàn tất chân răng
- Phân loại của Gravely [53], [144] mô tả quá trình khoáng hóa của răng gồm 5giai đoạn:
- Giai đoạn 1: có những điểm khoáng hóa ở thân răng nhưng chưa nối liềnnhau và tổng cộng các điểm dưới ¼ kích thước thân răng
- Giai đoạn 2: thân răng hình thành khoảng ¼ nhưng chưa vượt quá ½kích thước
- Giai đoạn 3: thân răng hình thành khoảng ½ nhưng chưa vượt quá ¾kích thước
- Giai đoạn 4: hoàn tất thân răng nhưng chân răng chưa hình thành
- Giai đoạn 5: hoàn tất thân răng và chân răng bắt đầu hình thành
* Phân loại theo mô tả bằng phát biểu và có thêm hình ảnh minh họa:
- Phân loại các giai đoạn khoáng hóa theo Gleiser và Hunt 1955 [108]
Trang 35Hình 1.4: Hình ảnh minh họa tượng trưng cho các giai đoạn khoáng hóa theo
Trang 36Hình 1.6: Hình ảnh X quang tượng trưng cho các giai đoạn từ 5-10 trong phân
loại của Kohler cho răng khôn trên và dưới
“Nguồn: Thevissen, 2009” [141]
- Phân loại các giai đoạn khoáng hóa theo Moorrees và Fanning 1963 [95]
Trang 37Hình 1.7: Hình ảnh minh họa tượng trưng cho các giai đoạn hình thành răng
theo tác giả Moorrrees đối với răng một chân
“Nguồn: Moorrees, 1963” [95]
Hình 1.8: Hình ảnh minh họa tượng trưng cho các giai đoạn hình thành răng
theo Moorrrees đối với răng nhiều chân
“Nguồn: Moorrees, 1963” [95]
- Phân loại các giai đoạn khoáng hóa theo Demirjian 1973: đây cũng là phânloại đánh giá được sử dụng trong hầu hết các nghiên cứu về sự phát triển của răng
Trang 38trong tương quan với tuổi trên thế giới [10], [21], [30], [49], [87], [90], [99], [116],[120], [142].
Hình 1.9: Hình ảnh minh họa tượng trưng cho các giai đoạn khoáng hóa răng theo
Demirjian
“Nguồn: Georget, 2007” [155]
Trang 39- Phân loại các giai đoạn khoáng hóa theo Harris và Nortje 1984 [108].
Hình 1.10: Hình ảnh minh họa tượng trưng cho các giai đoạn khoáng hóa theo
Harris và Nortje
“Nguồn: Olze, 2005” [108]
- Phân loại các giai đoạn khoáng hóa theo Kullman 1992 [108]
Hình 1.11: Hình ảnh minh họa tượng trưng cho các giai đoạn khoáng hóa theoKullman
“Nguồn: Olze, 2004” [113]
- Phân loại các giai đoạn khoáng hóa theo Rozkovcova 2005 [129]
Trang 40Hình 1.12: Hình ảnh minh họa tượng trưng cho các giai đoạn khoáng hóa và
hình ảnh X quang tương ứng theo Rozkovcova
“Nguồn: Rozkovcova, 2005” [129]
* Phân loại dựa trên việc xác định chiều dài tương đối của chân răng: trong
phân loại này chiều dài chân răng được đánh giá dựa vào cảm nhận chủ quan của ngườiquan sát và điểm số sẽ được ghi nhận theo một thang đo lường liên tục biểu thị bằngnhững phân số tương ứng với chiều dài chân răng mới được hình thành so với chiều dàichân răng đầy đủ như: ¼, 1/3, ½ [67], [108], phương pháp này được phát triển với sựtrợ giúp của máy vi tính đo trực tiếp chiều dài chân răng mới được hình thành Tuy
Mầm răng
Bắt đầu khoáng hóa thân răng
Phát triển khoáng hóa thân răng
Bắt đầu khoáng hóa chân răng
Ống tủy chân răng phân kỳ
Ống tủy chân răng song song
Ống tủy chân răng hội tụ