1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

TÀI LIỆU HỘI THẢO GÓP Ý DỰ THẢO LUẬT BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN RỪNG (SỬA ĐỔI)

63 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 3,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhiều chủ rừng vẫn chưa ý thức được các quyền và nghĩa vụ của mình, chưa có những hoạt động quản lý bảo vệ rừng thiết thực theo các quy định của pháp luật sau khi được giao đất, giao rừn

Trang 1

QUỐC HỘI

ỦY BAN KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ VÀ MÔI TRƯỜNG

-*** -

TÀI LIỆU HỘI THẢO

GÓP Ý DỰ THẢO LUẬT BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN RỪNG (SỬA ĐỔI)

Hà nội, tháng 02 năm 2017

Trang 2

MỤC LỤC

Tham luận 1 : PHÂN LOẠI RỪNG Ở VIỆT NAM 3 Tham luận 2 : THỰC TRẠNG QUYỀN, NGHĨA VỤ CỦA CHỦ RỪNG – KIẾN NGHỊ SỬA ĐỔI DỰ THẢO LUẬT BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN RỪNG (SỬA ĐỔI)9 Tham luận 3 : QUẢN LÝ RỪNG CỘNG ĐỒNG VÀ HỘ GIA ĐÌNH TRONG DỰ THẢO LUẬT BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN RỪNG (SỬA ĐỔI) 22 Tham luận 4 THỰC TRẠNG VỀ GIAO ĐẤT, GIAO RỪNG VÀ TRÁCH NHIỆM QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC Ở ĐỊA PHƯƠNG 37 Tham luận 5 : KIẾN NGHỊ SỬA ĐỔI, BỔ SUNG ĐỐI VỚI DỰ THẢO LUẬT BẢO

VỆ VÀ PHÁT TRIỂN RỪNG (SỬA ĐỔI) 42 Tham luận 6 : MỘT SỐ Ý KIẾN SỬA ĐỔI VÀ BỔ SUNG ĐỔI VỚI DỰ THẢO LUẬT BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN RỪNG 48 Tham luận 7 : TÀI CHÍNH LÂM NGHIỆP BỀN VỮNG: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP 57 Tham luận 8 : THỰC TRẠNG VỀ GIAO ĐẤT, GIAO RỪNG VÀ TRÁCH NHIỆM QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC Ở ĐỊA PHƯƠNG 68

Trang 3

Tham luận 1 PHÂN LOẠI RỪNG Ở VIỆT NAM

GS.TSKH Nguyễn Ngọc Lung, Viện Quản lý rừng bền vững và CCR (SFMI)

Trang 9

Cùng với quản lý của Nhà nước, chủ rừng là một yếu tố rất quan trọng trong sự nghiệp bảo vệ và phát triển rừng Gần như mọi hoạt động quản lý, bảo vệ, sử dụng và phát triển rừng đều diễn ra ở cơ sở và liên quan đến các chủ rừng Các quy định về chủ rừng cũng có vị trí rất quan trọng trong luật BV&PTR (năm 2004)

Sau các chủ trương về xã hội hoá nghề rừng, về giao đất giao rừng, các chủ rừng theo quy định trong luật BV&PTR hiện đã trở nên rất đa dạng, thuộc nhiều thành phần kinh tế (thay vì chỉ có thành phần quốc doanh và HTX như trước đây) Được giao đất, giao rừng, các chủ rừng, kể cả thuộc khu vực nhà nước và khu vực ngoài nhà nước (nhất là các hộ gia đình, cá nhân, các doanh nghiệp ngoài nhà nước) đã góp phần đáng kể vào việc phát triển và nâng cao

độ che phủ của rừng, đã tạo ra nguồn lâm sản khai thác ngày càng nhiều cho chế biến, kể cả cho xuất khẩu

Cùng với một số chính sách về khoán bảo vệ rừng trong dự án “trồng mới 5 triệu ha rừng” cũng như trong các kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng sau này, chính sách về chi trả dịch vụ môi trường rừng, về cho thuê môi trường rừng, REDD các chủ rừng quản lý rừng tự nhiên cũng đã có những động lực nhất định để bảo vệ rừng

Tuy nhiên, nhìn chung, sau khi được giao đất, giao rừng, các chủ rừng còn gặp nhiều khó khăn trong thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người chủ rừng được quy định trong luật BV&PTR Nhiều chủ rừng vẫn chưa ý thức được các quyền và nghĩa vụ của mình, chưa có những hoạt động quản lý bảo

vệ rừng thiết thực theo các quy định của pháp luật sau khi được giao đất, giao rừng; Nhiều cơ quan nhà nước có thẩm quyền cũng chưa ý thức đầy đủ về các chủ rừng, chưa tạo điều kiện cho các chủ rừng thực hiện được đầy đủ vai trò của mình

Trong luật BV&PTR, cùng với nhiều vấn đề khác, vẫn có nhiều các quy định về chủ rừng còn mang tính định hướng, là “luật khung”, thiếu cụ thể và khó thực hiện

Trang 10

1, Nhận diện các “chủ rừng” trong thực tiễn:

Các “chủ rừng” trong thực tiễn được nhận diện bao gồm 7 loại chủ rừng

đã được ghi trong luật 2004 và các “chủ rừng” chưa hội tụ đầy đủ các điều kiện như quy định trong luật 2004 hoặc là các “chủ rừng thực tế” khác

- Trong số các chủ rừng có tên trong luật 2004 (là các Ban quản lý rừng, các tổ chức kinh tế, các hộ gia đình, cá nhân, các tổ chức cá nhân nước ngoài ) cũng có một số điều đáng chú ý như sau:

+ Tuy đã qua nhiều lần giao đất giao rừng, nhưng hiện nay, phần lớn các chủ rừng chưa được giao rừng tuy có thể đã được giao đất bằng bìa đỏ (trên

sổ bìa đỏ thường để trống phần tài sản trên đất) Nhiều hộ gia đình ở xóm Gạm Dầu (xã Lương Can, Thông Nông) nói rằng, khi nhận đất rừng thì chủ yếu là đất trống, nay rừng đã được khôi phục lại, tuy chủ yếu là cây tạp Có nhiều trường hợp trong nhiều quyết định giao đất giao rừng trước đây thể hiện không chính sác về rừng được giao (hầu hết các chủ rừng khi đó không mấy quan tâm)

+ Có chủ rừng như các Ban quản lý rừng (ĐD hay PH) được giao rừng

và đất rừng bằng các quyết định cụ thể của cấp có thẩm quyền, tuy nhiên đất

và rừng có thể đang do chủ thể khác quản lý mà chưa bị thu hồi và thực chất chủ rừng cũng chưa nhận “bàn giao” thường là vì chưa có kinh phí bồi thường cho diện tích rừng này;

+ Có một số Ban quản lý rừng, như 4 Ban quản lý rừng phòng hộ ở Cao Bằng không được giao đất giao rừng vì hầu hết diện tích đất rừng này đã được giao cho các chủ thể khác (chủ yếu là các hộ gia đình, cá nhân) và nay chưa thu hồi lại

+ Đa số các CTLN nhận rừng sản xuất là rừng tự nhiên với danh nghĩa thuê rừng nhưng thực tế không được khai thác mà chỉ quản lý bảo vệ DT rừng tự nhiên này lại trở thành gánh nặng cho chính chủ rừng được thuê

- Có những trường hợp DT rừng được khoán bảo vệ (trong 327, 661 hay trong các chương trình, dự án khác) nhưng người nhận khoán đã “sang tay” cho người khác và những người nhận chuyển nhượng sau này tự cho mình là các chủ rừng hoặc được những người xung quanh xác nhận như vậy

Nhiều người được giao khoán rừng như ở lâm trường Sóc Sơn, Hà Nội,

từ những năm 1990 vẫn tự coi mình là chủ rừng, dù người giao khoán là lâm trường (và nay là Trung tâm lâm nghiệp Hả Nội) (Ngay cả TTLNHN nay cũng chưa được giao bìa đỏ)

- Tại Đắc Lắc có trường hợp Nhà đầu tư (là các CTLN hay cơ sở chế biến) liên kết (thực chất là thuê đất) với Ban quản lý rừng phòng hộ hay các CTLN để trồng rừng (chủ yếu trên đất được quy hoạch là đất rừng sản xuất);

Có trường hợp CTLN thuê đất nương rẫy bỏ hóa của bà con (đất nông nghiệp)

để trồng rừng (trong 1 hay 2 chu kỳ rừng trồng)

Trang 11

- Đó cú những hiện tượng mua bỏn, sang nhượng đất rừng nhưng chưa

cú thủ tục của chớnh quyền; Cú nhiều trường hợp nhà đầu tư mua gom đất và trồng rừng với diện tớch lớn, tuy nhiờn về phỏp lý thỡ cỏc chủ đất rừng cũ vẫn

là đại diện cho chủ rừng mỗi khi cú vấn đề với chớnh quyền

- Tại nhiều địa phương đó giao đất rừng cho cỏc tổ chức như: Hội CCB, Đoàn thanh niờn, Hội quõn nhõn, Hội phụ nữ xó ngoài quy định trong luật

2004

Như vậy, nếu theo định nghĩa về chủ rừng trong luật 2004 “Chủ rừng

là tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đ-ợc Nhà n-ớc giao rừng, cho thuê rừng, giao đất để trồng rừng, cho thuê đất để trồng rừng, công nhận quyền sử dụng rừng, công nhận quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng; nhận chuyển nh-ợng rừng từ chủ rừng khác” hay

như dự thảo sửa đổi “Chủ rừng là tổ chức, hộ gia đỡnh, cỏ nhõn, cộng đồng dõn cư được Nhà nước giao rừng, cho thuờ rừng hoặc tự phục hồi, phỏt triển rừng được Nhà nước cụng nhận hoặc nhận chuyển giao rừng từ tổ chức, cỏ nhõn khỏc theo quy định của phỏp luật” thỡ nhiều “chủ rừng” trong thực tế

chưa hội đủ tiờu chớ chủ rừng hoặc khi cú vấn đề tranh chấp phỏp lý, cỏc “chủ rừng” này sẽ gặp khụng ớt khú khăn

Cú thể núi, trong thực tiễn, cỏc “chủ rừng” thường dễ được nhỡn nhận, nhưng nếu chủ rừng phải gắn với chủ đất hợp phỏp thỡ việc xỏc định chủ rừng trở nờn rất phức tạp và thực tế hiện nay về phỏp lý, chỉ cỏc chủ đất rừng (được giao bỡa đỏ) mới được coi là chủ rừng

2, Về việc thực hiện cỏc quyền và nghĩa vụ của cỏc chủ rừng:

* Về cơ bản cỏc quyền và nghĩa vụ của chủ rừng được ghi trong luật được xó hội và cỏc cơ quan cụng quyền tụn trọng, tuy nhiờn với những quy định cụ thể thỡ việc thực hiện cũng cũn nhiều bất cập

- Nhiều quy định về cỏc quyền và nghĩa vụ của chủ rừng trong luật đó chưa được thực hiện đầy đủ do thiếu những hướng dẫn hay thiếu những quy định cụ thể, như việc cụng nhận quyền sử dụng (đối với rừng tự nhiờn) hay quyền sở hữu rừng (rừng trồng) (k1 điều 59 và điều 31 luật 2004; k1 điều 34 luật sửa đổi), việc bảo toàn vốn rừng (k1 điều 60 luật 2004) hay bảo toàn giỏ trị rừng (k1 điều 35 luật sửa đổi), việc tổ chức bảo vệ và phỏt triển rừng theo quy hoạch, kế hoạch, dự ỏn, phương ỏn đó được phờ duyệt (k2 điều 60 luật

2004, luật sửa đổi đó bỏ khoản này), nhất là đối với cỏc hộ gia đỡnh, cỏ nhõn

- Việc thực hiện quyền khai thỏc sử dụng (k2 điều 59 luật 2004 hay k2 điều 34 luật sửa đổi), nhất là đối với rừng tự nhiờn được giao (kể cả rừng sản xuất và rừng phũng hộ) cho cỏc hộ gia đỡnh, cỏ nhõn, cộng đồng dõn cư thụn cũn nhiều khú khăn do cỏc thủ tục hành chớnh hay do nhận thức về luật cũn khỏc nhau (coi giao rừng là giao tài nguyờn rừng) của cỏc tổ chức và cơ quan

Trang 12

rừng hợp pháp, nhưng lại phải bảo vệ rừng đã làm giảm động lực của các chủ rừng được giao đất giao rừng

- Thực hiện trách nhiệm bảo vệ rừng của các chủ rừng (điều 37 luật 2004), nhất là các chủ rừng là các hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư thôn còn gặp nhiều khó khăn Rừng vẫn còn bị mất, bị chặt phá trái phép

- Hầu hết các chủ rừng, kể cả các chủ rừng là ban quản lý rừng của nhà

nước đều rất khó thực hiện khoản 3/ điều 60 luật 2004 về “định kỳ báo cáo cơ quan nhà nước có thẩm quyền về diễn biến tài nguyên rừng và các hoạt động liên quan đến khu rừng theo quy định tại khoản 2 điều 32 của luật này”

* Có nhiều nguyên nhân của những bất cập nêu trên, trong đó đáng chú ý

là còn một số nhận thức và định hướng từ trong luật chưa phù hợp với thực tiễn quản lý rừng; những bất cập này làm cản trở quá trình triển khai thực hiện các quy định có tính tiến bộ trong luật

- Rừng vốn dĩ rất đa dạng và phức tạp Rừng có rừng tự nhiên (trong đó

có rừng nguyên sinh, rừng tái sinh, rừng giàu hay nghèo), rừng trồng, có rừng

gỗ, tre, rừng ngập nước, rừng núi đá Rừng lại được phân ra theo các mục đích sử dụng và giao cho các chủ thể quản lý khác nhau Mỗi loại rừng cần có các phương thức, các quy định quản lý khác nhau

Việc quá coi trọng (thậm chí là quá nặng nề) về bảo tồn rừng tự nhiên (ngay từ các quy định của luật) và tổ chức quản lý tài nguyên rừng một cách trực tiếp từ cơ quan nhà nước đã hạn chế việc quản lý rừng nói chung, trong

đó có sử dụng và phát triển rừng

Thường thì trong quản lý rừng việc bảo tồn vốn rừng của mỗi chủ rừng được thực hiện theo hướng thông qua các biện pháp bảo vệ rừng trên thực tế trong cả quá trình tồn tại của rừng

Nhận thức về giá rừng (giá trị sử dụng rừng), về giá trị tăng thêm và vốn hoá giá trị của rừng ngay trong các quy định của luật (tính giá rừng, bảo tồn vốn rừng, xác định giá trị tăng thêm trong khai thác sử dụng rừng, góp vốn, thế chấp ) đã tạo ra những bất cập ngay từ khâu hướng dẫn thực hiện Thực ra ngay các nước có nền quản lý và quản trị rừng tiên tiến cũng chưa hoặc chỉ sử dụng hạn chế các công cụ này trong quản lý rừng

- Bảo vệ rừng là một yếu tố rất quan trọng trong sự nghiệp bảo vệ và phát triển rừng Trong luật BV&PTR 2004 đã nêu về nguyên tắc toàn xã hội

có trách nhiệm bảo vệ rừng, đã quy định về lực lượng kiểm lâm và về trách nhiệm bảo vệ rừng của các chủ rừng Tuy nhiên việc phân công phân nhiệm giữa các chủ thể quản lý bảo vệ rừng vẫn còn bất cập, các chủ rừng đã chưa được trao cho những quyền hạn cần thiết và không thể tự bảo vệ được rừng được giao

Bảo vệ rừng phải là hệ thống các biện pháp đồng bộ, đó là: Thường xuyên điều tra, thống kê, giám sát sự tồn tại của rừng; Kiểm soát chặt chẽ việc

Trang 13

khai thác, lưu thông lâm sản ở trên đường, trên các phương tiện giao thông, trong các cơ sở chế biến; Phát động rộng rãi việc sử dụng gỗ và lâm sản có nguồn gốc hợp pháp, lâm sản từ các khu rừng có quản lý rừng bền vững, có chứng chỉ rừng; Xử lý bằng các biện pháp hành chính nghiêm minh các hảnh

vi sai phạm; Tổ chức tốt hệ thống quản lý rừng ở cơ sở (nhất là hệ thống sổ sách và chế độ trách nhiệm của cán bộ quản lý), giao chức năng xử lý hành chính ban đầu cho các cán bộ quản lý rừng cơ sở, phân công trách nhiệm bảo

vệ rừng hợp lý giữa các chủ thể quản lý trong ngành lâm nghiệp và giữa ngành lâm nghiệp với ngành bảo vệ pháp luật khác (Công an, Toà án ); Cả xã hội cùng chung tay bảo vệ rừng thông qua việc lên án rộng rãi các hoạt động phi pháp và chỉ tiêu thụ sản phẩm lâm sản có nguồn gốc hợp pháp

- Về phân công trách nhiệm thực thi pháp luật:

+ Quyền được công nhận quyền sử dụng rừng, quyền sở hữu rừng quy định trong luật là rất tiến bộ, tuy nhiên đã chưa được cụ thể hoá thành các thủ tục hành chính do chưa rõ cơ quan nhà nước nào có trách nhiệm hướng dẫn và gần như thiếu vai trò của ngành tư pháp ở đây

+ Đất và rừng luôn đi liền với nhau (và nguyên tắc được ghi trong luật tại khoản 2 điều 22) Tuy nhiên quản lý đất đai và quản lý rừng lại do 2 luật điều chỉnh, mà trên một khu rừng lại có ít nhất là hai cơ quan nhà nước cùng quản lý (đất đai và lâm nghiệp), vì vậy mà rừng đã không được quản lý tốt từ khi giao rừng đến sau khi đã giao đất theo quy định

- Bộ luật BV&PTR 2004 đã thể hiện rất nhiều những chính sách ưu việt của Đảng và Nhà nước ta đối với sự nghiệp bảo vệ và phát triển rừng, tuy nhiên do nhiều nguyên nhân, nhiều các quy định trong luật còn mang tính nguyên tắc chung, các quy định còn dàn trải; các chủ rừng là các hộ gia đình,

cá nhân và cộng đồng dân cư thôn rất khó tiếp cận và thực hiện; Hy vọng trong sửa đổi bổ sung luật tới đây, các quy định trong luật sẽ trở nên dễ hiểu

và dễ thực hiện hơn đối với các đối tượng như các hộ gia đình, cá nhân và các cộng đồng dân cư thôn

3, Một số kiến nghị:

3.1 Các quy định nên bỏ:

3.2 Các quy định nên sửa đổi, bổ sung:

- Các quy định về khai thác sử dụng rừng cần cụ thể hoá đến từng loại rừng với từng mục đích sử dụng; không nên quá phân biệt việc sử dụng rừng đối từng loại chủ rừng Cần tăng thẩm quyền khai thác sử dụng rừng cho chủ rừng và cơ sở Các cơ quan quản lý cấp trên chỉ giám sát việc thực hiện của

cơ sở và chủ rừng

- Nghiên cứu đề suất thêm quy định giao rừng cho cộng đồng dân cư của

cả xã miền núi (ngoài các cộng đồng dân cư thôn hiện đã được giao); vì trên

Trang 14

thực tế số diện tích hiện đang do các xã quản lý là quá lớn và các xã này chưa giao được cho các chủ sử dụng khác được

Chủ rừng là cộng đồng dân cư xã đương nhiên cũng sẽ phải có tổ chức quản lý rừng phù hợp

- Có quy định phù hợp hơn về bảo toàn vốn rừng đối với chủ rừng sau khi được nhận rừng, nhất là đối với rừng tự nhiên là rừng sản xuất

Cần có các quy định về bảo vệ rừng, về bảo tồn rừng phù hợp với thực tiễn quản lý rừng

- Cần có quy định rõ hơn về nông lâm ngư kết hợp; chỉ quy định việc này trên quy hoạch sử dụng đất (trong một khu vực đất đai, đối với mỗi vùng sinh thái cần dành tối thiểu diện tích có rừng

Không nên quy định nông lâm kết hợp tràn lan vì không phù hợp với thực tiễn quản lý rừng

3.3 Các vấn đề về xây dựng luật bảo vệ và phát triển rừng nên cân nhắc:

- Nên thiết kế các điều luật về chủ rừng gọn hơn, phù hợp với trình độ và nhận thức của các chủ rừng

Luật 2004, ngoài 2 điều về cộng đồng dân cư thôn (điều 29, 30), có 20 điều về các nguyền và nghĩa vụ của các chủ rừng (từ điều 59 đến điều 78); Luật sửa đổi có giảm đi16 điều (từ điều 34 đến điều 49) tuy nhiên vẫn còn quá nhiều

Các điều quy định về quyền thì đương nhiên họ đã có quyền, nếu quyền được thực hiện theo điều luật nào khác thì có thể viện dẫn luôn mà không nên nhắc lại nhiều lần cho mỗi loại chủ rừng

- Một số nguyên tắc quản lý rừng có thể được nêu trong luật, nhưng các điều luật cần được cụ thể hoá bằng các quy định cụ thể

Thí dụ, bảo toàn vốn rừng, phát triển rừng bền vững và sử dụng rừng đúng mục đích là những nguyên tắc cơ bản trong quản lý, sử dụng rừng, tuy nhiên khi nêu về các quyền hay nghĩa vụ của chủ rừng nên đi vào các quy định cụ thể, rõ ràng, dễ thực hiện và giám sát việc thực hiện

- Đề nghị cơ quan lập pháp giải thích rõ việc công nhận quyền sử dụng rừng hay quyền sở hữu rừng trồng (trong điều 59.1, luật BV&PTR 2004) Liệu có cần một sự công nhận bằng một thủ tục hành chính cụ thể?

- Về phân công chịu trách nhiệm quản lý đối tượng quản lý như rừng và đất rừng ở cơ sở nên để cho một ngành có điều kiện quản lý đó là ngành lâm nghiệp (tương tự như với bảo tồn rừng, bảo tồn đa dạng sinh học rừng Nhiều ngành cùng phối hợp quản lý thường không hiệu quả, thậm chí là gây nhiều khó khăn trong quản lý

Trang 15

Cú sự phõn cụng bảo vệ rừng phự hợp ở ngoài xó hội (ngoài cửa rừng) giữa ngành lõm nghiệp (kiểm lõm, chủ rừng) với lực lƣợng bảo vệ phỏp luật (Thanh tra, Cụng an, Toà ỏn )

Phụ lục

Điều 59 Quyền chung của chủ rừng/lu ật 2004

1 Đ-ợc cơ quan nhà n-ớc có thẩm quyền công nhận quyền sử dụng rừng, quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng

2 Đ-ợc sử dụng rừng ổn định, lâu dài phù hợp với thời hạn giao rừng, cho thuê rừng và thời hạn giao đất, cho thuê đất

3 Đ-ợc sản xuất lâm nghiệp - nông nghiệp - ng- nghiệp kết hợp theo quy chế quản lý rừng, trừ rừng

đặc dụng

4 Đ-ợc h-ởng thành quả lao động, kết quả đầu t- trên diện tích đ-ợc giao, đ-ợc thuê; bán thành quả lao động, kết quả đầu t- cho ng-ời khác

5 Đ-ợc kết hợp nghiên cứu khoa học, kinh doanh cảnh quan, nghỉ d-ỡng, du lịch sinh thái - môi tr-ờng theo dự án đ-ợc cơ quan nhà n-ớc có thẩm quyền phê duyệt

6 Đ-ợc bồi th-ờng thành quả lao động, kết quả

đầu t- để bảo vệ và phát triển rừng theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan khi Nhà n-ớc có quyết định thu hồi rừng

7 Đ-ợc h-ớng dẫn về kỹ thuật, hỗ trợ về vốn theo chính sách của Nhà n-ớc để bảo vệ và phát triển rừng và đ-ợc h-ởng lợi ích do các công trình công cộng bảo vệ, cải tạo rừng mang lại

8 Đ-ợc Nhà n-ớc bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp đối với rừng đ-ợc giao, đ-ợc thuê

Điều 34 Quyền chung của chủ rừng/luật sửa đổi

1 Được cơ quan nhà nước cú thẩm quyền cụng nhận quyền sử dụng rừng, quyền sở hữu rừng theo quy định của Luật này và phỏp luật khỏc liờn quan

Trang 16

2 Được sử dụng rừng phự hợp với thời hạn giao rừng, cho thuờ rừng và thời hạn giao đất, cho thuờ đất trồng rừng theo quy định của luật này và Luật Đất đai

3 Được sản xuất lõm nghiệp, nụng nghiệp, ngư nghiệp kết hợp theo quy chế quản lý rừng

4 Được hướng dẫn về kỹ thuật và cỏc hỗ trợ khỏc để bảo vệ và phỏt triển rừng bền vững; được hưởng lợi ớch do cỏc cụng trỡnh cụng cộng bảo vệ, phỏt triển rừng

5 Được Nhà nước bồi thường giỏ trị rừng, tài sản do chủ rừng đầu tư, xõy dựng hợp phỏp tại thời điểm quyết định thu hồi rừng

6 Được Nhà nước bảo đảm cỏc quyền, lợi ớch hợp phỏp

Điều 60 Nghĩa vụ chung của chủ rừng/ lu ật 2004

1 Bảo toàn vốn rừng và phát triển rừng bền vững; sử dụng rừng đúng mục đích, đúng ranh giới đã quy định trong quyết định giao, cho thuê rừng và theo quy chế quản lý rừng

2 Tổ chức bảo vệ và phát triển rừng theo quy hoạch, kế hoạch, dự án, ph-ơng án đã đ-ợc phê duyệt

3 Định kỳ báo cáo cơ quan nhà n-ớc có thẩm quyền về diễn biến tài nguyên rừng và các hoạt động liên quan đến khu rừng theo quy định tại khoản 2

Điều 32 của Luật này

4 Giao lại rừng khi Nhà n-ớc có quyết định thu hồi rừng hoặc khi hết thời hạn sử dụng rừng

5 Thực hiện nghĩa vụ tài chính và các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật

6 Thực hiện quy định của Luật này và các quy

định khác của pháp luật; không làm tổn hại đến lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân có liên quan

Điều 35 Nghĩa vụ chung của chủ rừng/ luật sửa đổi

1 Bảo toàn giỏ trị rừng và phỏt triển rừng bền vững; sử dụng rừng đỳng mục đớch, đỳng quy định của Nhà nước, quy chế quản lý rừng

2 Thực hiện quy định của Nhà nước về theo dừi, bỏo cỏo diễn biến rừng

3 Chấp hành nghiờm chỉnh việc giao, trả lại rừng khi Nhà nước quyết định thu hồi rừng theo quy định tại Điều 23 của Luật này

4 Thực hiện đầy đủ cỏc nghĩa vụ tài chớnh và cỏc nghĩa vụ khỏc theo quy định của phỏp luật

5 Bảo tồn đa dạng sinh học rừng, động vật rừng, thực vật rừng theo quy định của phỏp luật

Trang 17

6 Chấp hành sự quản lý, kiểm tra, giỏm sỏt của cơ quan quản lý nhà nước cú thẩm quyền theo quy định của phỏp luật.”

Điều 32 Thống kê rừng, kiểm kê rừng, theo dõi

1 Việc thống kê rừng, kiểm kê rừng, theo dõi diễn biến tài nguyên rừng đ-ợc quy định nh- sau:

a) Việc thống kê rừng đ-ợc thực hiện hàng năm và

đ-ợc công bố vào quí I của năm tiếp theo;

b) Việc kiểm kê rừng đ-ợc thực hiện năm năm một lần và đ-ợc công bố vào quí II của năm tiếp theo; c) Việc theo dõi diễn biến tài nguyên rừng đ-ợc thực hiện th-ờng xuyên;

d) Đơn vị thống kê rừng, kiểm kê rừng, theo dõi diễn biến tài nguyên rừng là xã, ph-ờng, thị trấn

2 Trách nhiệm thống kê rừng, kiểm kê rừng, theo dõi diễn biến tài nguyên rừng đ-ợc quy định nh- sau: a) Chủ rừng có trách nhiệm thống kê rừng, kiểm

kê rừng, theo dõi diễn biến tài nguyên rừng theo h-ớng dẫn và chịu sự kiểm tra của cơ quan chuyên ngành về lâm nghiệp tỉnh, thành phố trực thuộc trung -ơng đối với chủ rừng là tổ chức trong n-ớc, ng-ời Việt Nam định c- ở n-ớc ngoài, tổ chức, cá nhân n-ớc ngoài đầu t- vào Việt Nam; theo h-ớng dẫn và chịu sự kiểm tra của cơ quan chuyên ngành về lâm nghiệp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh đối với chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân trong n-ớc;

b) Chủ rừng có trách nhiệm kê khai số liệu thống

kê rừng, kiểm kê rừng, diễn biến tài nguyên rừng theo biểu mẫu quy định với Uỷ ban nhân dân xã, ph-ờng, thị trấn;

Điều 31 Kiểm kờ rừng /Luật sửa đổi

1 Kiểm kờ rừng thực hiện theo cấp chớnh quyền gắn với chủ quản lý cụ thể trờn phạm vi toàn quốc để xỏc định hiện trạng diện tớch, trữ lượng rừng, đất chưa cú rừng quy hoạch cho lõm nghiệp; điều chỉnh, bổ sung cơ sở dữ liệu rừng và đất chưa cú rừng

2 Kỳ kiểm kờ rừng 10 năm một lần

3 Trỏch nhiệm của Bộ Nụng nghiệp và Phỏt triển nụng thụn

Trang 18

a) Ban hành và hướng dẫn nội dung, phương phỏp kiểm kờ rừng; chỉ đạo cỏc đơn vị trong ngành, cỏc địa phương thực hiện việc kiểm kờ rừng, cụng bố kết quả kiểm kờ rừng của cả nước

b) Phối hợp với cơ quan thống kờ của Nhà nước lập biểu mẫu về kiểm kờ rừng để ỏp dụng thống nhất trong cả nước và phự hợp với phỏp luật về thống

kờ

4 Trỏch nhiệm của Ủy ban nhõn dõn cỏc cấp

a) Uỷ ban nhõn dõn cấp tỉnh tổ chức và bỏo cỏo kết quả kiểm kờ rừng lờn Bộ Nụng nghiệp và Phỏt triển nụng thụn

b) Uỷ ban nhõn dõn cấp huyện tổ chức thực hiện và bỏo cỏo kết quả kiểm kờ rừng lờn Uỷ ban nhõn dõn cấp tỉnh

c) Uỷ ban nhõn dõn xó, phường, thị trấn (sau đõy viết chung là Ủy ban nhõn dõn cấp xó) cú trỏch nhiệm tổ chức thực hiện và bỏo cỏo kết quả kiểm

kờ rừng lờn Uỷ ban nhõn dõn cấp huyện

b) Chủ rừng cú trỏch nhiệm kờ khai số liệu kiểm kờ rừng theo biểu mẫu quy định với Uỷ ban nhõn dõn cấp xó.”

Điều 37 Trách nhiệm bảo vệ rừng của chủ

rừng/Lu ật 2004

1 Chủ rừng có trách nhiệm bảo vệ rừng của mình; xây dựng và thực hiện ph-ơng án, biện pháp bảo

vệ hệ sinh thái rừng; phòng, chống chặt phá rừng; phòng, chống săn, bắt, bẫy động vật rừng trái phép; phòng cháy, chữa cháy rừng; phòng, trừ sinh vật gây hại rừng theo quy định của Luật này, pháp luật về

đất đai, pháp luật về phòng cháy, chữa cháy, pháp luật về bảo vệ và kiểm dịch thực vật, pháp luật về thú y và các quy định khác của pháp luật có liên quan

2 Chủ rừng không thực hiện các quy định tại khoản 1 Điều này mà để mất rừng đ-ợc Nhà n-ớc giao, cho thuê thì phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật

Điều 51 Nghĩa vụ bảo vệ rừng của chủ rừng/luật sửa đổi

Trang 19

1 Chủ rừng có trách nhiệm bảo vệ rừng của mình; xây dựng và thực hiện phương án, biện pháp bảo vệ hệ sinh thái rừng; phòng, chống chặt phá rừng; phòng, chống săn, bắt, bẫy động vật rừng trái phép; phòng cháy, chữa cháy rừng; phòng, trừ sinh vật gây hại rừng theo quy định của Luật này, pháp luật về đất đai, pháp luật về phòng cháy, chữa cháy, pháp luật về bảo vệ và kiểm dịch thực vật, pháp luật về thú y và các quy định khác của pháp luật có liên quan

2 Chủ rừng không thực hiện các quy định tại Khoản 1 Điều này phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật

Ý KIẾN THAM GIA TẠI HỘI THẢO QG

VỀ SỬA ĐỔI LUẬT BV&PTR (Do Bộ NN&PTNT tổ chức tại HN ngày 16/12/2016)

Khác với nhiều loại tài nguyên thiên nhiên khác, rừng chỉ tồn tại cho đến hôm nay và ngày mai khi được con người bảo vệ và việc bảo vệ rừng chỉ có thể bằng kỷ cương của xã hội, của cộng đồng dân cư sinh sống gần rừng mà không một chủ rừng nào có thể tự bảo vệ được

Rừng đương nhiên cũng còn là một tài sản hữu hình bởi trong đó có khối lượng lớn cây rừng là gỗ và các lâm sản khác, trong đó nhiều lâm sản có giá trị; tuy nhiên cây rừng luôn phát triển và cũng chết đi, có những cây rừng thậm chí còn hạn chế sự phát triển của các cây rừng khác Rừng là tài nguyên tái tạo, nếu biết quản lý, sử dụng thì đây cũng là một giá trị kinh tế đáng kể 1.2- Luật BV&PTR 2004 chỉ công nhận quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng, còn rừng tự nhiên Nhà nước có thể giao quyền sử dụng (tức Nhà nước nắm giữ quyền sở hữu) Tại điều 7 DT luật cũng làm rõ thêm nội hàm này

Ở nhiều nước trên thế giới có nhiều loại hình sở hữu rừng khác nhau, tuy nhiên trên thực tế mọi diện tích rừng vẫn được các Nhà nước này quản lý và điều chỉnh bằng luật

Chúng ta quá đi sâu vào việc phân tích, xác định sở hữu rừng có lẽ cũng khó giải quyết được căn bản các vấn đề về quản lý rừng thay vì nên xác định

rõ ràng các quyền năng và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, các cá nhân

Trang 20

có liên quan đến rừng, mạnh dạn hơn nữa trong việc xã hội hóa quản lý rừng thay vì chỉ có Nhà nước mới có quyền năng này như thông lệ và kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới

1.3- Do cách nhìn nhận rừng là sở hữu toàn dân hay sở hữu Nhà nước

mà khi thiết kế luật 2004 và những luật trước đó, chúng ta đặt vấn đề “giao, cho thuê rừng” cho các tổ chức, cá nhân; Trong khi đối với nhiều cộng đồng dân cư miền núi hay với rất nhiều hộ gia đình, các khu rừng đã gắn với họ từ lâu lắm rồi Nay ta không công nhận quyền sở hữu và cả quyền sử dụng của

họ mà giao mới chính các khu rừng đó cho họ (thực ra ở đấy không ai người

ta giao khu rừng đó cho nhà khác, bởi nếu vậy ít những nhà khác trong cộng đồng đó dám nhận)

Thực hiện luật 2004 và theo các chính sách của Chính phủ, chúng ta đã giao rừng cho các chủ thể quản lý và liệu luật mới có tiếp tục giao nữa hay chúng ta công nhận họ có quyền sử dụng gì đó phù hợp?

1.4- Một vấn đề lớn gây khó cho ngành lâm nghiệp cũng như việc xây dựng luật hiện nay là những nhận thức về rừng tự nhiên

- Khác với rừng trồng, rừng tự nhiên được hiểu, chủ yếu là được hình thành từ việc tự gieo giống, tự phục hồi; còn cả rừng tự nhiên và rừng trồng đều tự phát triển và cũng có thể có thêm các tác động của con người Với rừng tự nhiên (tự phục hồi) mà các hộ gia đình, cá nhân quản lý theo truyền thống lâu nay, ngoài việc bảo vệ, cũng thường được luỗng phát dây leo, điều chỉnh mật độ, loại những cây ít giá trị và đương nhiên là sử dụng những lâm sản có lợi cho cuộc sống con người

Chúng ta có trên 10 triệu ha rừng tự nhiên, trong khi rừng trồng chỉ có trên 3 triệu ha Trong số DT rừng tự nhiên nêu trên có là hàng triệu ha là các khu rừng tái sinh sau nương rẫy Tuy nhiên các khu rừng này không thể trở lại trong ngày một ngày hai như rừng nguyên sinh, và năng suất rừng thường rất thấp

Ở miền núi hiện nay, trồng rừng đã là một phong trào, là một nguồn thu nhập rất đáng kể sau nông nghiệp, sức ép lên rừng tự nhiên là rất lớn (vì người dân muốn chuyển và có nhiều cách chuyển rừng tự nhiên sang rừng trồng) Rừng tự nhiên, đương nhiên có giá trị đa dạng sinh học cao, giá trị môi trường so sánh ở đâu đó có thể cao hơn rừng trồng; tuy nhiên ước gì, rừng tự nhiên có thể nuôi sống hàng triệu hộ gia đình người dân miền núi?

- Chúng ta cũng hay nói đến kinh doanh rừng tự nhiên, kể cả trong nhiều điều luật, tuy nhiên kinh doanh rừng nếu có cũng là một loại hình kinh doanh đặc thù

Kinh doanh thì phải có lợi nhuận; lợi nhuận cho càng nhanh, càng thường xuyên càng kích thích kinh doanh; Để có lợi nhuận thường xuyên trong kinh doanh rừng tự nhiên thì phải trên một DT rừng lớn (hàng nghìn, hàng chục nghìn ha) Những diện tích rừng tự nhiên nhỏ lẻ (vài chục ha gì đó) thì không thể kinh doanh rừng thuần túy, trừ phi đó là sản xuất nông ngư

Trang 21

nghiệp (lâu nay vẫn thường lẫn lộn khái niệm sản xuất kinh doanh rừng với sản xuất kinh doanh trên đất đồi núi)

Luật thì nói đến kinh doanh rừng tự nhiên, trong khi chính trong luật và các quy định pháp luật khác lại có rất nhiều những rào cản; Đó là: những gỗ quý, gỗ có giá trị thì hoặc không cho khai thác, hoặc thuế tài nguyên quá cao, cây gỗ càng qúy, càng có giá trị thì càng rất lâu năm (đến cả trăm năm) nhưng đất và rừng thì giao có thời hạn; Những tác động vào rừng sao cho có lợi hơn

về kinh doanh thì luật không cho phép hoặc phải xin phép ; đấy là chưa kể, đầu tư cơ sở hạ tầng đường sá vào khu rừng là rất lớn, việc bảo vệ rừng là rất rủi ro, phụ thuộc nhiều vào xã hội mà tự nhà đầu tư không thể làm được Rừng tự nhiên muốn có được hiệu quả kinh doanh cao phải có các tác động lâm sinh, tuy nhiên hiện hầu như không có động lực cho các tác động này và cũng không có các quy định cho phép dễ dàng tác động các biện pháp lâm sinh trên rừng tự nhiên như vậy Trong dự thảo luật sửa đổi gần đây nêu nội dung bảo vệ rừng là bảo vệ hệ sinh thái rừng lại càng khó mà tác động vào

hệ sinh thái dù là có cách thức tác động tốt nhất cho hệ sinh thái đó

2, Vai trò của cộng đồng và dân cư trong quản lý rừng

- Như trên đã nói, rừng tồn tại và phát triển luôn gắn với sự tồn tại và phát triển của cộng đồng dân cư sinh sống gần rừng Rừng có thể đã không còn tồn tại, nếu cộng đồng và xã hội không giữ lại nó, rừng cũng khó tồn tại

và phát triển nếu cộng đồng không góp phần bảo vệ dù nhà nước có giao khu rừng đó cho một chủ rừng nào đó Có lẽ cũng rất cần nghiêm túc đánh giá cách thức hưởng lợi của chủ rừng được giao rừng theo quyết định 178/TTg và nên có thêm yếu tố cộng đồng vào điều 4/khoản 2 của DT

- Chúng ta rất cần có tổng kết các kinh nghiệm quản lý rừng của cộng đồng dân cư, các loại hình cộng đồng có vai trò trong quản lý bảo vệ rừng để

có những quy định phù hợp Rất cần những thử nghiệm các cách thức quản lý rừng dựa vào cộng đồng Việc làm này không thể một sớm, một chiều là có kết quả ngay, tuy nhiên, nếu trong luật BV&PTR không mở ra những định hướng này thì cũng không bao giờ có được các quy định phù hợp

3, Về phân loại rừng

- Quy hoạch 3 loại rừng theo 3 mục đích sử dụng thực ra là rất tương đối, ngay mỗi khu rừng, mỗi ha rừng cũng tồn tại cả 3 mục đích sử dụng này và thậm chí có cả những diện tích rừng tương ứng với 3 mục đích này trong mỗi khu rừng đó; tuy nhiên các cách thức tổ chức quản lý rừng, các quy định chi tiết trong quy chế quản lý rừng, thậm chí là quy định về 3 loại đất tương ứng trong luật đất đai đã làm cho 3 loại rừng có hố ngăn cách lớn, vượt xa ý nghĩa của việc phân loại rừng để quản lý ban đầu

Trang 22

- Thiết nghĩ trong luật BV&PTR không nên quy định quá sâu về các cách biệt trong quản lý 3 loại rừng và nếu được chỉ nên quy định về cơ chế bảo vệ nghiêm ngặt các DT rừng cần bảo vệ, những diện tích rừng còn lại cần được quản lý rừng một cách rất linh hoạt, phù hợp với đặc tính đa dạng của rừng và phân cấp tối đa việc quản lý và quản trị rừng cho cơ sở

4, Tổ chức quản lý ngành

- Qua thực tiễn quản lý, tôi cho rằng, hệ thống tổ chức quản lý ngành lâm nghiệp hiện rất bất cập, không đủ mạnh để quản lý một diện tích rừng rất lớn, rất đa dạng và có ý nghĩa lớn về kinh tế, môi trường của đất nước

- Rất nên có những đánh giá nghiêm túc về tổ chức quản lý ngành từ những người dân, từ các cộng đồng, các chủ rừng, từ các địa phương và những người đã và đang gắn bó với ngành lâm nghiệp

5, Những vấn đề về lâm nghiệp với việc sửa đổi luật

Sửa đổi luật BV&PTR là một công việc rất hệ trọng, chúng tôi cũng hiểu, chúng ta cũng phải chấp hành nghiêm túc nhiệm vụ mà Quốc hội và Chính phủ đã giao, nhất là về thời gian

Tuy nhiên, chúng tôi cũng rất hy vọng, bởi sửa đổi luật lần này cũng là một cơ hội lớn để có thể giải quyết những vấn đề lớn và những tồn tại của ngành

Cơ hội này sẽ không quay lại trong 10 năm tới, hoặc hơn./

Trang 23

đồng dựa vào nhu cầu sinh kế, giá trị văn hoá truyền thống và bảo vệ môi trường sinh thái một cách có hiệu quả

Rừng và đất lâm nghiệp của Việt Nam phân bố chủ yếu ở vùng trung du miền núi, vùng biên giới và chiếm 2/3 diện tích tự nhiên cả nước Đây là vùng định cư lâu đời của các dân tộc thiểu số (DTTS) sống dựa vào rừng (25 triệu dân) có sinh kế, văn hóa xã hội gắn bó mật thiết với rừng và đất rừng, hay văn hóa rừng Thôn bản các dân tộc tổ chức quản lý và bảo vệ rừng dựa theo phong tục tập quán, tri thức bản địa rất hiệu quả, được lưu truyền từ đời này sang đời khác và đã ăn sâu vào tiềm thức của mỗi người dân thôn bản Cộng đồng các thôn bản DTTS tại chỗ là chủ quản lý, sử dụng rừng và đất rừng từ bao đời nay, là lực lượng nòng cốt tham gia bảo vệ và phát triển rừng Bảo vệ được rừng và đất rừng là bảo vệ nguồn sống của toàn dân Bảo vệ được rừng là bảo vệ được môi trường sinh thái, đảm bảo nguồn nước cho các vùng hạ lưu trong sinh hoạt và sản xuất; bảo vệ sinh kế của người dân; các nguồn gen cây lâm nghiệp bản địa và các giá trị tri thức và văn hoá bản địa từ rừng Bảo vệ được rừng, đảm bảo quyền quản lý rừng cho các thôn bản là nền tảng

để phát huy bản sắc văn hóa gắn với rừng, tạo nên sức mạnh đoàn kết trong cộng

đồng và giữa các dân tộc và trở thành “ phên dậu, lá chắn” bảo vệ an ninh quốc

phòng

Với nhận thức như vậy, chúng tôi xin có một số ý kiến như sau:

I NHỮNG ĐIỂM TÍCH CỰC CỦA DỰ THẢO LUẬT BV&PTR (SỬA ĐỔI)

So với Luật BV&PTR 2004, Dự thảo luật đã có nhiều sửa đổi, bổ sung quan trọng, thể hiện sự thay đổi cách nhìn nhận ngành lâm nghiệp không chỉ đơn thuần nhằm bảo vệ môi trường mà là một ngành kinh tế đặc thù Trong Dự thảo này, chức năng bảo vệ môi trường cũng đã được nhìn nhận dưới góc độ kinh tế bằng các khái niệm như dịch vụ môi trường rừng, dịch vụ lưu giữ các-bon.Với chức năng là một ngành kinh tế, Dự thảo Luật đã bao quát, xuyên suốt chuỗi giá trị từ khâu trồng rừng cho đến chế biến, tiêu thụ phù hợp với thị trường trong nước và quốc tế.Dự thảo Luật cũng đã có lưu ý tới vai trò của các cộng đồng dân tộc thiểu số và luật tục truyền thống trong bảo vệ, phát triển và hưởng dụng tài nguyên rừng

Dự thảo Luật cũng đã kế thừa những quy định còn phù hợp của Luật BV&PTR năm 2004, bổ sung những quy định mới đáp ứng yêu cầu thực tiễn, bảo đảm tính liên tục, tính thống nhất và đồng bộ giữa quy định của Luật BV&PTR với các luật khác có liên quan, hài hòa hóa các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập Dự thảo Luật đã bổ sung một số chương, điều, cụ thể như một số điều mới về quy hoạch Lâm Nghiệp Mặc dù các nội dung được thiết kế, sửa đổi, bổ sung theo hướng quy định toàn diện, đầy đủ, thể hiện sự nỗ lực rất cao của cơ quan soạn thảo Luật, nhưng Dự thảo vẫn còn một số điểm cần được thảo luận và điều chỉnh thêm để Luật được ban hành có chất lượng tốt hơn, tính khả thi cao hơn, khắc phục được những nhược điểm trong quản lý, bảo vệ và phát triển rừng trong hơn 10 năm qua, phản ánh đầy đủ nhu cầu và nguyện vọng của người dân

Trang 24

II NHỮNG ĐIỂM CẦN ĐƯỢC TIẾP TỤC ĐỔI MỚI

Dự thảo Luật còn thiếu những giải pháp hữu hiệu giải quyết những khó khăn, bất cập đã chỉ ra trong tổng kết thi hành Luật BV&PTR 2004

Dự thảo Luật chưa có giải pháp giải quyết thỏa đáng những khó khăn, bất cập đã chỉ ra trong Báo cáo tổng kết thi hành Luật BV&PTR 2004 và Báo cáo thuyết minh xây dựng Luật Lâm nghiệp thay thế Luật BV&PTR 2004 Cụ thể ở một số điểm sau đây:

1 Mối quan hệ với các luật khác

Luật BV&PTR có liên quan rất nhiều tới các luật khác như Luật Đất đai, Luật Đa dạng sinh học, Luật Bảo vệ môi trường, Luật Quy hoạch, v.v Các Báo cáo

có liên quan tới việc xây dựng Luật BV&PTR đều chỉ ra nhược điểm là chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa Luật BV&PTR với các luật khác có liên quan, kể cả các luật đã được Quốc hội ban hành và các luật đang được Quốc hội xem xét Điều quan trọng nhất là phải chỉ ra luật nào đã ban hành mà phải sửa đổi theo Luật BV&PTR

và nội dung nào của Luật BV&PTR không cần đề cập vì đã có quy định ở luật khác

"Rừng văn hóa, tâm linh giao cho cộng đồng dân cư" theo hướng chi tiết hóa, nhưng

về mặt quản lý lại gặp khó khăn khi phương thức quản lý đối với các vườn quốc gia, khu bảo tồn khác hẳn với phương thức quản lý đối với rừng văn hóa, tâm linh giao trực tiếp cho cộng đồng hay phương thức quản lý đối với hệ thống rừng giống quốc gia Như vậy, việc phân loại rừng cần xem xét để quyết định hoặc đi theo hướng chi tiết hơn (nhiều hơn 3 loại rừng) hoặc đi theo hướng khái quát hơn chỉ gồm 2 loại rừng (rừng bảo vệ và rừng kinh tế) Chúng tôi cho rằng cần đổi mới hệ thống phân loại theo 2 lớp, trong đó lớp thứ nhất được phân thành 2 loại là rừng phải bảo vệ và rừng kinh tế, lớp thứ hai là rừng phải bảo vệ được phân thành các lớp nhỏ hơn gồm rừng phòng hộ và rừng đặc dụng, rừng kinh tế gồm các lớp nhỏ hơn của rừng sản xuất Cách phân lớp như vậy sẽ rất dễ ràng trong hình thành các phương thức quản

lý phù hợp

3 Hình thức quản lý

Trang 25

Báo cáo thuyết minh nhận định chưa có quy định cụ thể về hệ thống tổ chức sản xuất và dịch vụ lâm nghiệp cấp cơ sở Các công ty lâm nghiệp của Nhà nước sau sắp xếp vẫn nắm giữ một số lượng lớn diện tích rừng rừng sản xuất là rừng tự nhiên Các công ty lâm nghiệp vẫn gặp nhiều khó khăn, lúng túng trong quan lý diện tích rừng tự nhiên này Tuy vậy, Dự thảo Luật vẫn chưa quy định các hình thức quản lý phù hợp

về chuyển đổi giữa các loại rừng cần được quy định cụ thể trong Luật BV&PTR

5 Về giao rừng, cho thuê rừng

(1) Khó khăn được đề cập trong các Báo cáo là chưa quy định rõ cơ chế phối hợp giữa cơ quan lâm nghiệp và cơ quan tài nguyên môi trường và sự trợ giúp kinh phí để thực hiện những quy định về giao rừng, cho thuê rừng Dự thảo Luật chưa làm rõ cách thức để giải quyết khó khăn này Lúc này, cần quy định rõ trình tự, thủ tục trong thực hiện giao rừng, cho thuê rừng mà không gắn với giao đất, cho thuê đất (rừng đặc dụng, rừng phòng hộ) và trình tự, thủ tục giao rừng, cho thuê rừng có gắn với giao đất, cho thuê đất (rừng sản xuất)

(2) Đối với khó khăn do công tác quản lý bảo vệ rừng gây ra được xác định khi giao rừng chỉ xác định diện tích rừng và xác định sơ bộ trạng thái rừng, không lượng hóa về số lượng, chất lượng gỗ, lâm sản trên diện tích khi giao, khi cho thuê nên không có căn cứ để xác định giá trị rừng tăng thêm Dự thảo Luật chưa xác định

rõ nội dung này Lúc này, cần quy định rõ trách nhiệm của Nhà nước đối với công tác điều tra cơ bản về rừng và tổ chức hệ thống thông tin quốc gia về tài nguyên rừng, gắn với định giá rừng

6 Về quyền và nghĩa vụ của chủ rừng:

Các khó khăn đã được nhận định, nhưng chưa có giải pháp giải quyết thỏa đáng trong dự thảo Luật.Đó là: (1) quy định rõ về quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm quản lý rừng của công ty lâm nghiệp với tư cách là một doanh nghiệp lâm nghiệp, đặc biệt chính sách đối với rừng sản xuất là rừng tự nhiên giao cho công ty; (2) cộng đồng dân cư được giao rừng nhưng không có các quyền như các chủ rừng khác, như quyền cho thuê, thế chấp, góp vốn kinh doanh bằng giá trị rừng được giao; (3) chưa làm rõ quy định chủ rừng là hộ gia đình được chuyển nhượng quyền

Trang 26

trên mảnh đất đó; và (4) phần rừng tự nhiên gia tăng do hộ gia đình chăm sóc bảo

vệ có được thực hiện quyền thế chấp, góp vốn hay không Nói chung, quyền và nghĩa vụ của chủ rừng đã được đề cập trong Dự thảo Luật nhưng chưa đầy đủ, toàn diện đối với tất cả mọi trường hợp

7 Về hệ thống tổ chức cơ quan chuyên ngành lâm nghiệp

Khó khăn được nhận định bao gồm: (1) hệ thống chuyên ngành lâm nghiệp thiếu thống nhất, ổn định; (2) không qui định những nguyên tắc cơ bản về tổ chức

và hoạt động của kiểm lâm mà trao cho văn bản dưới luật qui định nên thiếu thống nhất trong quy định về nhiệm vụ Các quy định này trong Dự thảo Luật chưa rõ và vẫn đề nghị giao cho văn bản dưới Luật quy định

Nếu Dự thảo quy đinh rõ và cụ thể về nghĩa vụ của chủ rừng và quy định về

tổ chức lực lượng bảo vệ rừng của chủ rừng để thực hiện nghĩa vụ, đồng thời tăng tính chủ động trong bảo vệ rừng, thì lực lượng kiểm lâm có thể tổ chức lại gọn nhẹ hơn để thực thi chức năng giám sát chủ rừng và xử lý vi phạm của chủ rừng và các đối tượng vi phạm pháp luật về bảo vệ rừng

II.1 Một số vấn đề cần tiếp tục đổi mới trong quản lý, bảo vệ, phát

triển, khai thác và hưởng dụng rừng

1 Vấn đề cộng đồng dân cư:

Cộng đồng dân cư có vai trò đặc biệt quan trọng trong bảo vệ và phát triển rừng, nhất là cộng đồng dân cư các dân tộc thiểu số luôn coi rừng là không gian sinh tồn từ nhiều đời nay Luật BV&PTR 2004 đã lấy nguyên khái niệm công đồng dân cư thôn, bản, buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân cư nông thôn tương tự từ Luật Đất đai 2003 để đưa vào các quy định Trong thời gian hơn 10 năm vừa qua, nhiều

dự án thử nghiệm về rừng cộng đồng đã được tiến hành, trong đó có dự án thành công và có dự án không thành công

Điểm mấu chốt quyết định sự thành công chính là cộng đồng dân cư đó có luật tục, hương ước hay không (kể cả tồn tại từ trước hay mới xây dựng, gọi chung

là quy định của cộng đồng) Luật tục này không phụ thuộc vào địa bàn điểm dân cư nông thôn mà phụ thuộc vào sự thống nhất của một nhóm cư dân nhất định tạo thành cộng đồng Hơn nữa, điểm dân cư nông thôn không phải là một đơn vị hành chính, thường do UBND xã phân chia cho dễ quản lý địa bàn Một nhóm hộ đồng thuận với nhau cũng có thể gọi là một cộng đồng, hay một dòng họ nhất trí cùng thực hiện một công việc cũng tạo nên một cộng đồng Toàn bộ dân cư trong một đơn vị hành chính xã cũng tạo nên một cộng đồng, lúc đó việc giao rừng cho UBND

xã quản lý cần được thay thế bằng việc giao cho cộng đồng dân cư xã quản lý, bảo

vệ, phát triển và hưởng lợi theo quy định

Như vậy, khái niệm cộng đồng dân cư tham gia bảo vệ và phát triển rừng cần được mở rộng và đa dạng hóa, dựa trên một bản quy định về liên kết cộng đồng, không nên chỉ bó hẹp trong khái niệm cộng đồng dân cư theo địa bàn điểm dân cư

Trang 27

nông thôn (thôn, bản, ấp, buôn, phum, sóc) Đây là điểm khá mấu chốt để tạo nên hiệu quả trong vận hành rừng cộng đồng dựa trên luật tục

2 Vấn đề quyền sử dụng rừng:

Luật BV&PTR 2004 đã mượn thuật ngữ "quyền sử dụng đất" của Luật Đất đai để đưa vào quy định về "quyền sử dụng rừng" khi giao rừng tự nhiên, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân để quản lý Sự thực, đây

là cách mượn thuật ngữ không hợp lý và không phù hợp với thông lệ quốc tế

Về bản chất, quyền sử dụng đất là một khái niệm thay thế quyền sở hữu đất đai để đưa nguồn lực đất đai vào vận hành trong cơ chế thị trường tại những đất nước chỉ thừa nhận chế độ công hữu về đất đai Mặt khác, đất đai là tư liệu sản xuất

mà diện tích không bị tiêu hao trong quá trình khai thác, sử dụng, khác với các loại tài nguyên thiên nhiên khác gồm cả tài nguyên rừng luôn bị mất đi khi khai thác, sử dụng Chính vì vậy mà theo thông lệ quốc tế, người ta dùng thuật ngữ "quyền sử dụng" đối với đất đai (land use right) và dùng thuật ngữ "quyền hưởng dụng" đối với cả đất đai và các loại tài nguyên thiên nhiên khác(tenure right)

Theo pháp luật Việt Nam, định giá quyền sử dụng đất và định giá đất là đồng nhất, cũng như giá trị quyền sử dụng đất và giá trị đất là đồng nhất Đối với rừng,

đó là loại tài sản mà có thể định giá và xác định giá trị trực tiếp Việc định giá quyền sử dụng rừng là không có ý nghĩa

Như vậy đối với rừng, cần loại bỏ khái niệm "quyền sử dụng rừng" mà thay vào đó là khái niệm "quyền hưởng dụng rừng"cho phù hợp với thông lệ quốc tế

lý rừng

Như vậy, cần bổ sung các công cụ tài chính trong quản lý rừng, trong đó giá rừng và định giá rừng chỉ là một công cụ Đối với định giá rừng, các nguyên tắc định giá các loại rừng phải được xem xét kỹ và quy định trong Luật này.Mặt khác, quy định về phương pháp định giá rừng được trao cho thẩm quyền của Chính phủ, không nên để thuộc thẩm quyền của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

4 Vấn đề điều tra, khảo sát, xây dựng hệ thống thông tin về tài nguyên rừng:

Trong thời gian qua, Nhà nước đã đầu tư kinh phí khá lớn cho công tác điều tra cơ bản về rừng nhưng vẫn chưa nắm được đầy đủ hiện trạng rừng Việc thực hiện điều tra, khảo sát, xây dựng hệ thống thông tin về tài nguyên rừng vừa phải bảo

Trang 28

trạng, vừa phải trợ giúp cho định giá rừng và cung cấp thông tin cho nhu cầu sử dụng Việc xây dựng hệ thống thông tin về rừng cần được gắn với khả năng của công nghệ thông tin và được đặt trên bình diện quốc gia Nói cách khác, công việc xây dựng hệ thống thông tin này phải gắn với hệ thống thông tin địa lý quốc gia, hệ thống thông tin đất đai quốc gia

Như vậy, công tác điều tra, khảo sát, xây dựng hệ thống thông tin về tài nguyên rừng cần được quan tâm và quy định chi tiết hơn nhằm hướng tới kế hoạch triển khai trên thực tế, bảo đảm tính đồng bộ giữa các ngành có liên quan

Như vậy, vấn đề quản trị rừng cần được xem xét để có những quy định mang tính hệ thống và đầy đủ hơn

III ĐỀ XUẤT MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ VỀ SỬA ĐỔI,BỔ SUNG DỰ THẢO LUẬT BV&PTR SỬA ĐỔI

III.1 Quyền sở hữu rừng

Dự thảo Luật mới đưa ra quy định về quyền sở hữu rừng đối với rừng sản xuất là rừng trồng Quy định bó hẹp như vậy chưa tạo được khả năng khuyến khích phục hồi rừng tự nhiên nghèo kiệt Đề nghị bổ sung thêm chính sách công nhận quyền sở hữu rừng đối với rừng sản xuất là rừng tự nhiên nghèo kiệt giao cho chủ rừng phục hồi bằng vốn đầu tư của mình Về chính sách này đã đề nghị sửa đổi tại Khoản 6 Điều 3 về giải thích từ ngữ "Quyền sở hữu rừng" ở trên

Một vấn đề khác có liên quan tới quyền và nghĩa vụ của chủ rừng là cộng đồng dân cư đối với rừng thuộc sở hữu của mình Theo Luật BV&PTR 2004, cộng đồng dân cư có quyền bảo vệ, phát triển và hưởng lợi từ rừng Quy định như vậy là

bó hẹp quyền của chủ rừng là cộng đồng dân cư Theo thông lệ quốc tế, quyền của chủ rừng là cộng đồng dân cư cần được mở rộng như đối với tổ chức kinh tế tập thể (hợp tác xã) và như đối với hộ gia đình

Cuối cùng, trong các quyền về giao dịch đối với rừng (có gắn hoặc không gắn với đất rừng) thuộc quyền sở hữu của chủ rừng cần loại bỏ quyền "bảo lãnh", coi đó là quyền thế chấp cho bên thứ ba vay tiền như pháp luật dân sự, pháp luật đất đai đã quy định

Trang 29

STT Dự thảo Đề xuất sửa đổi Lý do

2 Rừng sở hữu của tổ chức,

hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân

Rừng trồng do tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư

a) Rừng tự nhiên nguyên sinh, rừng

tự nhiên thứ sinh phục hồi và rừng trồng bằng vốn đầu tư của Nhà nước;

b) Hệ thống rừng giống quốc gia

2 Rừng thuộc sở hữu riêng của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, gồm:

a) Rừng trồng được hình thành bằng công sức và vốn đầu tư của tổ chức,

hộ gia đình, cá nhân;

b) Rừng trồng do tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nhận chuyển nhượng rừng từ chủ rừng khác

c) Rừng tự nhiên thứ sinh phục hồi bằng công sức và vốn đầu tư củ tổ chức, hộ gia đình, cá nhân

3 Rừng thuộc sở hữu chung a) Rừng trồng được hình thành từ nhiều nguồn vốn của nhiều chủ thể khác nhau;

b) Rừng trồng do các thành viên của cộng đồng dân cư thôn cùng nhau đóng góp hoặc từ các nguồn khác phù hợp với quy định của pháp luật nhằm mục đích thỏa mãn lợi ích chung hợp pháp của cộng đồng;

c) Rừng trồng do cộng đồng dân cư thôn nhận chuyển nhượng rừng từ chủ rừng khác

d) Rừng tự nhiên thứ sinh phục hồi bằng công sức và vốn đầu tư của các chủ thể hoặc của cộng đồng dân cư

Cần mở rộng diện công nhận quyền sở hữu rừng đối với rừng tự nhiên thứ sinh phục hồi bằng công sức và nguồn vốn của chủ rừng

2 Điều 46 Quyền và nghĩa vụ

của cộng đồng dân cư được giao

rừng

1 Quyền a) Có các quyền quy định tại Điều 34 của Luật này

b) Được khai thác, sử dụng lâm sản và các giá trị khác của rừng;

được sản xuất lâm nghiệp, nông

nghiệp, ngư nghiệp kết hợp theo quy

định của Luật này và quy chế quản lý

rừng

c) Được hướng dẫn quy hoạch vùng kết hợp sản xuất nông

lâm nghiệp, vùng canh tác dưới tán

rừng, vùng chăn thả gia súc theo quy

chế quản lý rừng; được hỗ trợ phát

triển kinh tế rừng, hỗ trợ bảo tồn đa

Điều 46 Quyền và nghĩa vụ của cộng đồng dân cư được giao rừng

1 Quyền a) Có các quyền quy định tại Điều 34 của Luật này

b) Được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận quyền hưởng dụng rừng, quyền sở hữu rừng phù hợp với thời hạn được giao rừng;

c) Được khai thác, sử dụng lâm sản

và các lợi ích khác của rừng vào mục đích công cộng và gia dụng cho thành viên trong cộng đồng; được sản xuất lâm nghiệp - nông nghiệp - ngư nghiệp kết hợp theo quy định của Luật này và quy chế quản lý rừng;

d) Được chủ động tổ chức quản lý, bảo vệ và phát triển rừng giao cho

1 Bổ sung quy định

cụ thể về quyền giao dịch đối với rừng thuộc sở hữu của cộng đồng

2 Sửa đổi lại cách viết về nghĩa vụ tại Điểm c) Khoản 2

Trang 30

cây lâm nghiệp bản địa

d) Được Nhà nước bảo đảm kinh phí bảo vệ rừng phòng hộ, rừng

đặc dụng giao cho cộng đồng dân cư

2 Nghĩa vụ a) Có các nghĩa vụ quy định tại Điều 35 của Luật này

b) Xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước bảo vệ và phát

triển rừng phù hợp với quy định của

Luật này và các quy định khác của

pháp luật có liên quan

c) Đảm bảo duy trì diện tích rừng của cộng đồng; không được

chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng

cho, thừa kế, góp vốn bằng giá trị

quyền sử dụng rừng

rừng theo quy chế của cộng đồng

đ) Được hướng dẫn quy hoạch vùng kết hợp sản xuất nông lâm nghiệp, vùng canh tác dưới tán rừng, vùng chăn thả gia súc theo quy chế quản lý rừng; được hỗ trợ phát triển kinh tế rừng, hỗ trợ bảo tồn đa dạng sinh học

và phục hồi rừng bằng cây lâm nghiệp bản địa;

e) Được Nhà nước bảo đảm kinh phí bảo vệ rừng phòng hộ, rừng văn hóa tâm linh, tín ngưỡng giao cho cộng đồng dân cư thôn;

g) Được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, tặng cho, thế chấp, góp vốn đối với rừng thuộc sở hữu của cộng đồng

2 Nghĩa vụ a) Có các nghĩa vụ quy định tại Điều

35 của Luật này;

b) Xây dựng quy ước bảo vệ và phát triển rừng phù hợp với quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan;

c) Đảm bảo duy trì diện tích rừng của cộng đồng; không được chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho đối với rừng không thuộc quyền sở hữu của mình

III.2 Phân loại rừng

Phân loại rừng thành 3 loại gồm rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, rừng sản xuất đã được quy định tại Luật BV&PTR 2004 Điều 7 của Dự thảo Luật vẫn giữ nguyên cách phân loại rừng như quy định hiện hành, trong đó có bổ sung thêm nội dung của rừng đặc dụng (rừng văn hóa, tâm linh giao cho cộng đồng và rừng giống quốc gia)

Tại khá nhiều quốc gia, người ta chỉ phân loại rừng thành 2 loại là rừng phải bảo vệ và rừng kinh tế Nói cách khác, có thể ghép rừng đặc dụng, rừng phòng hộ

và rừng tự nhiên nguyên sinh thành một loại là rừng phải bảo vệ

Việc thay đổi cách phân loại rừng từ 3 loại thành 2 loại là một vấn đề cần xem xét kỹ lưỡng để quyết định cho phù hợp Chúng tôi đề xuất phân loại theo 2 lớp tại Điều 7 như sau:

STT Dự thảo Đề xuất sửa đổi Lý do

1 Điều 5 Phân loại rừng

Điều 5 Phân loại rừng

Căn cứ vào mục đích sử dụng chủ yếu, rừng được phân thành hai loại sau đây:

1 Rừng phải bảo vệ được sử dụng vào mục đích phòng hộ và đặc dụng, bao gồm:

Phân loại rừng cần phân loại theo 2 lớp, lớp thứ nhất phân thành 2 loại: rừng phải bảo vệ

và rừng kinh tế; lớp thứ 2 gồm các loại

Trang 31

a) Rừng phòng hộ đầu nguồn;

b) Rừng phòng hộ ven biển gồm rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát bay;

rừng phòng hộ chắn sóng, lấn biển;

c) Vườn quốc gia;

d) Khu bảo tồn thiên nhiên gồm khu

dự trữ thiên nhiên, khu bảo tồn sinh cảnh;

loài-đ) Khu bảo vệ cảnh quan gồm khu rừng di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh;

e) Rừng văn hóa tâm linh, tín ngưỡng của cộng đồng dân cư;

g) Khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học; rừng giống quốc gia

2 Rừng kinh tế được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh gỗ, lâm sản ngoài gỗ và kết hợp phòng hộ và bảo vệ môi trường, bao gồm:

a) Rừng sản xuất là rừng tự nhiên;

b) Rừng sản xuất là rừng trồng;

c) Rừng giống gồm rừng trồng và rừng tự nhiên qua bình tuyển, công nhận, không bao gồm rừng giống quy định tại điểm g Khoản 1 Điều này

4 Chính phủ quy định quy chế quản

lý các loại rừng

cụ thể trong rừng đặc dụng, rừng phòng hộ

III.3 Mối quan hệ giữa giao rừng, cho thuê rừng và giao đất, cho thuê đất

Điều 19 về nguyên tắc giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi rừng, chuyển mục đích sử dụng rừng của Dự thảo đã đồng nhất khái niệm giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi rừng, chuyển mục đích sử dụng rừng tương ứng với khái niệm giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất Về mặt nguyên tắc, sự đồng nhất khái niệm như vậy chỉ đúng với rừng sản xuất là rừng trồng hoặc rừng tự nhiên thứ sinh cần phục hồi, không đúng đối với đất rừng phòng hộ, rừng đặc dụng Cũng

có thể giao rừng gắn với cho thuê đất theo yêu cầu của chủ rừng Trường hợp giao rừng phòng hộ, rừng đặc dụng không gắn với giao đất vì khi giao đất thì người được giao đất được thực hiện quyền giao dịch đối với đất đó

Như vậy, Điều 19 cần phải sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với các nguyên tắc

đã nêu trên nhằm thống nhất quan niệm về mối quan hệ giữa đất đai và tài nguyên, tài sản rừng gắn liền với đất

STT Dự thảo Đề xuất sửa đổi Lý do

1 Điều 19 Nguyên tắc giao rừng, cho

thuê rừng, thu hồi rừng, chuyển mục

đích sử dụng rừng

Điều 19 Nguyên tắc giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi rừng, chuyển đổi giữa các loại rừng

1 Đối với rừng sản xuất là rừng trồng và rừng tự nhiên thứ sinh cần phục hồi

Cần phải phân biệt rõ việc giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi rừng, chuyển đổi giữa các loại rừng chỉ đồng nhất với

Ngày đăng: 18/04/2021, 22:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w