HỆ THỐNG TÁC PHẨM VÀ NỘI DUNG VĂN CHƯƠNG CỦA THIỆU TRỊ QUA ĐẠI NAM THỰC LỤC .... Thơ của ông được đánh giá cao trong giới học thuật, “tuy số lượng không nhiều bằng vua cha nhưng lại cao
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-NGUYỄN THỊ HUYỀN TRANG
CHÂN DUNG THIỆU TRỊ VỚI
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 4
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu luận văn 8
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 9
5 Phương pháp nghiên cứu 10
6 Đóng góp của Luận văn 10
7 Cấu trúc Luận văn 11
PHẦN NỘI DUNG 12
CHƯƠNG 1 THIỆU TRỊ - THỜI ĐẠI VÀ CUỘC ĐỜI 12
1.1 Khái quát 12
1.2 Bối cảnh thời đại nhà Nguyễn 13
1.2.1 Tình hình kinh tế - chính trị - xã hội 13
1.2.2 Tình hình văn học 18
1.2.2.1 Văn học hoàng đế trong lịch sử Việt Nam 18
1.2.2.2 Văn chương hoàng phái nhà Nguyễn 22
1.3 Vài nét về Thiệu Trị 26
1.3.1 Tuổi nhỏ mồ côi mẹ 26
1.3.2 Tuổi trưởng thành 27
1.3.3 Trị vì 28
1.3.4 Gia quyến 29
CHƯƠNG 2 HỆ THỐNG TÁC PHẨM VÀ NỘI DUNG VĂN CHƯƠNG CỦA THIỆU TRỊ QUA ĐẠI NAM THỰC LỤC 31
2.1 Hệ thống văn chương Thiệu Trị 31
2.1.1 Theo Đại Nam thực lục 31
2.1.1.1 Thơ 32
Trang 32.1.1.2 Văn 36
2.1.1.3 Văn và thơ chung tuyển tập 37
2.1.1.4 Các thể loại khác 38
2.1.2 Theo Di sản Hán Nôm Việt Nam - Thư mục đề yếu 40
2.1.2.1 Thơ 40
2.1.2.2 Văn 41
2.1.2.3 Thể loại khác 41
2.2 Nội dung chính trong văn chương của Thiệu Trị 42
2.2.1 Văn chương tỏ lòng 43
2.2.1.1 Nỗi lòng với nước với dân 43
2.2.1.2 Tình yêu thiên nhiên 45
2.2.1.3 Tình cảm đối với người thân và quần thần 49
2.2.2 Văn chương tải đạo 55
CHƯƠNG 3 QUAN ĐIỂM LÝ LUẬN, PHÊ BÌNH - THI PHÁP VĂN CHƯƠNG CỦA THIỆU TRỊ QUA ĐẠI NAM THỰC LỤC 58
3.1 Lý luận phê bình 58
3.1.1 “Sách nào cũng tin chi bằng không có sách” 58
3.1.2 Văn chương cổ “còn nhiều thiếu sót” 62
3.1.3 Văn chương phải có ý nghĩa và nghệ thuật 65
3.1.4 “Văn vật nước ta không kém gì Trung Quốc” 67
3.2 Nghiên cứu về thi pháp văn chương 70
3.2.1 Thể thơ 70
3.2.1.1 Thể thuyền liên 70
3.2.1.2 Thể đảo ngược 72
3.2.1.3 Thể cách của thơ 3 chữ, 4 chữ, 5 chữ, 6 chữ, 7 chữ, 8 chữ và 9 chữ 74 3.2.1.4 Thể cách của thơ 4 chữ, 5 chữ, 7 chữ 76
KẾT LUẬN 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thiệu Trị là vua đồng thời là một tác giả văn học Thơ của ông được đánh giá cao trong giới học thuật, “tuy số lượng không nhiều bằng vua cha nhưng lại cao cấp về mặt chữ nghĩa”, Dịch giả Lê Nguyễn Lưu cũng nghĩ rằng, thơ của vua Thiệu Trị còn hơn vua Minh Mệnh và Tự Đức về mặt nghệ thuật Thiệu Trị làm vua bảy năm (1841 – 1847), thọ
41, nhưng để lại cho nền văn học 16 tuyển tập với nhiều thể loại khác nhau như thơ, văn, chiếu, biểu, nghiên cứu thi pháp văn chương
Tuy nhiên, tác phẩm của ông viết bằng chữ Hán, chưa được thống
kê theo hệ thống nên độc giả ít người biết đến tài năng cũng như đóng
góp của tác giả này Vì vậy chúng tôi quyết định lấy đề tài Chân dung
Thiệu Trị với tư cách là một tác giả văn học qua Đại Nam thực lục
cho luận văn của mình
2 Lịch sử vấn đề
Ngay từ khi Thiệu Trị còn sống, các tác phẩm của ông đã được các học giả đương thời, đánh giá, phân loại, xin khắc in thành nhiều tuyển tập Tuy nhiên hiện nay đa số được viết bằng chữ Hán, chỉ một
phần nhỏ được dịch in trong tuyển tập Đại Nam thực lục phần Thực lục
Chính biên Đệ tam kỷ Tuy nhiên, bộ sách chỉ ghi chép tản mạn, không
theo hệ thống và có phần giấu đi, vì vậy người đọc sẽ rất khó hình
dung được chân dung của ông với tư cách là một nhà văn
150 năm sau ngày Thiệu Trị mất (1847), người ta mới biết rằng
ông là một nhà thơ đầy tài năng qua công trình Thần Kinh nhị thập cảnh
của nhóm tác giả Phan Thuận Hóa, Phạm Đức Thành Dũng, Phan Thanh Hải và Nguyễn Phước Hải Trung cùng phối hợp với Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế Cuốn sách gồm hai phần: phần một giới thiệu khái quát về cuộc đời và sự nghiệp, phần thứ hai là dịch và chú giải, giới thiệu 20 bài thơ nổi tiếng tác giả viết về phong cảnh Huế
Trang 52
Năm 1972, đánh dấu sự phân tích về thi pháp văn chương Thiệu
Trị bằng bài viết của một học giả phương Tây, Pierre Daudin, trên Tạp
chí của Hội nghiên cứu Đông Dương Bài viết đã giải ra 12 bài thơ thất
ngôn bát cú từ các cách đọc khác nhau của Vũ Trung sơn thuỷ của Thiệu
Trị Đến, năm 1994, nhà nghiên cứu Hán Nôm Nguyễn Tân Phong, tìm
ra đúng 64 cách đọc bài thơ này Năm 1998, với cuốn sách Tìm hiểu kỹ
xảo hồi văn liên hoàn trong bài “Vũ trung sơn thuỷ” của Thiệu Trị của
cố Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn đã khiến người đọc bái phục trước đỉnh
cao thi pháp của Thiệu Trị Trong cuốn sách, nhà nghiên cứu đã dành hết 450 trang để diễn giải, chú thích, sau đó đưa ra 128 cách đọc khác
nhau về một bài thơ Vũ Trung sơn thủy của vua Thiệu Trị
Sau năm 1998 đến nay việc nghiên cứu về Thiệu Trị lại bị chìm lắng, tên tuổi của ông được nhắc đến trong những bài tham luận tại các hội thảo khoa học và tại một số bài báo được đăng rải rác trên một số trang điện tử, tạp chí
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu luận văn
Giới thiệu chân dung nhà văn Thiệu Trị và những đóng góp của ông đối với nền văn học nước nhà
Về mặt tư liệu, chúng tôi dựa chủ yếu vào bộ sử Đại Nam thực
lục (10 tập, Quốc sử quán triều Nguyễn, Nxb Giáo dục, 2007)
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trước hết là giới thiệu những đóng góp to lớn của tác giả Thiệu Trị đối với lĩnh vực văn học, góp phần bổ khuyết cho phả hệ văn học được hoàn chỉnh, đầy đủ hơn
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp: Tổng hợp, thống kê tài liệu, phân loại đánh giá, thi pháp học, so sánh, cùng cách tiếp cận văn hóa học trong phân tích, đánh giá
Trang 66 Đóng góp của Luận văn
Nâng cao nhận thức của các bạn độc về văn chương Thiệu Trị nói riêng và văn chương hoàng phái nói chung; Bổ sung thêm một chỗ khuyết trong dòng lịch sử văn học Việt Nam; Góp phần làm cho lịch sử nghiên cứu về thi pháp văn chương trung đại Việt Nam phong phú và toàn diện hơn
7 Cấu trúc Luận văn
Trang 7Về ngoại giao, vua thực hiện chính sách hoà bình hơn vua cha, giữ được hoà hảo đối với nhà Thanh, Chân Lạp, Xiêm La Nhưng đến những năm cuối đời, quân đội nhà Nguyễn luôn luôn bị thua trong các cuộc đối đầu với Pháp Trong bầu không khí đầy phẫn uất đó, vua Thiệu Trị băng hà
1.2.2 Tình hình văn học
1.2.2.1 Văn học hoàng đế trong lịch sử Việt Nam
Trong lịch sử văn học trung đại, hoàng đế làm thơ là một hiện tượng rất phổ biến, thậm chí “làm thơ là một khía cạnh nghệ thuật cai trị của các hoàng đế” (Theo Trần Nho Thìn) Ngay từ thế kỷ X, một số vua nhà Lý đã mở đầu cho trường phái văn chương hoàng phái như Lý Thái
Tổ, Lý Thái Tông, Lý Nhân Tông với bài Thơ viếng Vạn Hạnh Nhìn
chung, thơ văn các vua nhà Lý còn mờ nhạt và số lượng để lại không nhiều, nội dung chủ yếu mang đậm chất Thiền, giáo lý Phật giáo Đến đời nhà Trần, tiêu biểu là Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Anh Tông, Trần Minh Tông, Trần Nghệ Tông
Trang 8Các vua nhà Trần đã có nhiều đóng góp nhưng hiện nay tác phẩm còn sót lại không nhiều Tác phẩm chủ yếu là thơ, biểu, chiếu với nội dung mang đậm tính chất Thiền, không có sự xuất hiện các tác phẩm viết bàn luận về thi pháp
Lê Thánh Tông là tác giả duy nhất và tiêu biểu ở triều Lê Ông là tác giả của chín tập thơ chữ Hán và hàng trǎm bài thơ Nôm khác Tuy nhiên, so với thơ ca sau này đặc biệt là thế kỷ 18, 19 thơ ông không được đánh giá cao về mặt nghệ thuật
Nhà Nguyễn đánh dấu sự phát triển nhiều mặt trong dòng thơ văn hoàng phái với sự góp mặt của Minh Mệnh, Thiệu Trị, Tự Đức Minh Mệnh là vị hoàng đế thứ hai của triều Nguyễn, sinh năm 1791 – 1841
Số lượng tác phẩm mà ông để lại là tương đối nhiều, khoảng gần 3500
bài thơ, được Thiệu Trị cho in trong sáu tập Ngự chế thi Tuy Minh
Mệnh là người trọng văn chương, thích sáng tác nhưng có thể nói thơ của Minh Mệnh không đạt được đỉnh cao về mặt ngôn từ như thơ Thiệu Trị Thiệu Trị được sinh ra trong dòng chảy đó, ông tiếp nối một cách xuất sắc truyền thống hăng say sáng tạo của các bậc đế vương
1.2.2.2 Văn chương hoàng phái nhà Nguyễn
Văn học nhà Nguyễn có thể chia làm các thời kỳ như sau: thời Nguyễn sơ - thời kỳ nhà Nguyễn còn độc lập và thời kỳ nhà Nguyễn thuộc Pháp Thời Nguyễn sơ, các nhà thơ thuộc hai nguồn gốc chính: Thứ nhất là các ông vua nhà Nguyễn vua Minh Mệnh, Thiệu Trị, Tự Đức, các thành viên hoàng tộc như Tùng Thiện Vương Nguyễn Phúc Miên Thẩm, Tuy Lý Vương Nguyễn Phúc Miên Trinh… Ngoài ra, bộ phận này còn có sự góp mặt của rất nhiều quan lại như Cao Bá Quát, Nguyễn Văn Siêu, Nguyễn Công Trứ… Bộ phận thứ hai là các cựu thần nhà Hậu Lê bất phục nhà Nguyễn tiêu biểu là Phạm Quý Thích, Nguyễn
Du, Trịnh Hoà Đức, Lê Quang Định, Đặng Trần Côn, Nguyễn Gia Thiều Tuy nhiên trong lịch sử văn học cũng như nhiều sách vở chính thống từ xưa đến nay chủ yếu đề cập đến các tác giả thuộc bộ phận thứ
Trang 96
hai Còn ở bộ phận thứ nhất, chủ yếu nghiên cứu đến văn chương của một số nho thần như Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ mà không hề đề cập đến văn chương hoàng tộc (vua và các hoàng tử)
1.3.2 Tuổi trưởng thành
Năm 23 tuổi, Thiệu Trị được sách phong là Trường Khánh Công,
ở nhà Chỉ Thiện Đường và đảm nhận nhiều trọng trách ở Tôn Nhân phủ (là cơ quan trong coi mọi việc trong hoàng tộc) Công việc của ông là định chương trình, giữ phả hệ, ban giáo lệnh, xếp đặt tước lộc, nêu ra những người liêm khiết tài năng Ngoài ra, ông thường được Thánh tổ nhân Hoàng đế sai kiểm soạn những thơ ngày thường ngài đã làm để tiến lãm, hoặc cùng vua cha hoạ vần thơ văn Mọi việc ông đều hoàn thành rất tốt, được vua cha Minh Mệnh hài lòng Đức tốt ở Tôn Nhân phủ ngày một nổi tiếng
thơ Thánh chế Bắc tuần thi tập, với 173 bài thơ
Trang 10Đến tháng 8 năm 1847, vì buồn rầu chuyện quan quân bị thuyền Pháp đánh đắm và thiệt hại nhiều binh sĩ, trong lòng ông không vui sinh bệnh ngày một trầm trọng Ngày 17 tháng 9, tuyên triệu cố mệnh lương thần là Trương Đăng Quế, đại thần là bọn Vũ Văn Giải, Nguyễn Tri Phương, Lâm Duy Thiếp vào hầu, ban thân tờ di chiếu châu phê, cho Nguyễn Phúc Hồng Nhậm được nối ngôi
Ngày 27 tháng ấy năm Đinh Mùi, tức ngày 4 tháng 10 năm 1847 vua se mình, hưởng thọ 41 tuổi, miếu hiệu là Hiến Tổ (憲祖)
1.3.4 Gia quyến
Thiệu Trị có một Hoàng hậu (là Nghi Thiên Chương hoàng hậu Phạm Thị Hằng, con ngài Lễ bộ Thượng thư Phạm Đăng Hưng) và rất nhiều phi tần, cung nữ Ông có 64 người con: 29 hoàng tử và 35 hoàng
nữ
Tiểu kết:
Trang 118
Chương 2 HỆ THỐNG TÁC PHẨM VÀ NỘI DUNG VĂN
CHƯƠNG CỦA THIỆU TRỊ QUA ĐẠI NAM THỰC LỤC
2.1 Hệ thống văn chương Thiệu Trị
2.1.1 Theo Đại Nam thực lục của Quốc sử quán Triều Nguyễn,
Viện Khoa học Xã hội, Viện Sử học và Nxb Giáo dục, năm 2007
Trong Đại Nam thực lục phần Dực Anh Tông hoàng đế thực lục,
Chính biên, Đệ tam kỷ viết vua Thiệu Trị “Ngự chế ra hai tập văn, 4
tập thơ, lại có những tập Ngự đề đồ hoạ, Sử luận, Hoàng huấn, Bắc
tuần, Võ công, Cổ kim thể cách, Tài thành phụ tướng, Lịch đại đế vương, không đầy 6 - 7 năm, mà làm xong 14 bộ sách Lại tập “Chỉ
thiện đường thi văn hội tập”, làm ra khi còn ở tiềm để, có 16 quyển
nữa” [52, tr 101] Như vậy theo Dực Anh Tông hoàng đế thực lục,
Chính biên, Đệ tam kỷ thì khi trị vì vua Thiệu Trị có 14 bộ sách và có
16 quyển khi đang ở tiềm để
2.1.1.1 Thơ
1 - Thơ ngự chế, tập đầu: Tập thơ được khắc in vào tháng hai
năm 1843, tập hợp những bài thơ ngự chế của ông về thể cổ, thể kim, gồm thơ 13 quyển, mục lục 3 quyển, cộng 16 quyển Đa phần các bài
thơ này được sáng tác từ năm Thiệu Trị thứ hai về trước
5 - Minh Lương hỷ khởi tập: [51, tr 529] Vào năm 1843, Thiệu
Trị nhân việc ngự điện Văn Minh, bàn về thơ văn của nhà Đường mà tiêu biểu là Đường Minh Hoàng, Đường Văn Hoàng ông đã có sắc lệnh cho các quan Nội Các tập hợp các bài thơ hay mà thường ngày ông và
Trang 12các quan văn vẫn ứng chế, hoạ vần với nhau, lần lượt cho chép lại, lấy
nhan đề sách là Minh Lương Hỷ khởi tập
6 - Ngự chế Bắc tuần thi pháp tập: Đôi khi còn gọi là Thánh chế
Bắc tuần thi tập hay Bắc tuần thi tập Tập thơ có 173 bài thơ, được viết
từ đầu năm 1842 đến tháng 4 năm ấy, nhân chuyến ngự giá ra Hà Nội
để làm lễ thọ phong Tập thơ là cảm xúc của nhà thơ trước những danh lam thắng cảnh cũng như cuộc sống của người dân ở những nơi mà ông
đi qua Bắc tuần thi tập được khắc xong vào tháng 5 năm 1844
7- Ngự đề đồ hội thi tập: Tập thơ được biên tập xong vào tháng
Tư, năm 1844 và được hoàn thành vào tháng năm năm 1845 Lúc đầu
có tên là Tập thơ ngự chế có vẽ đồ hoạ sau khi khắc xong được tác giả đổi thành Ngự đề đồ hội thi tập Đây là tập thơ được quan đứng đầu Nội
các lúc bấy giờ là đại thần Phạm Thế Hiển tuyển chọn trong “tập đầu, tập thứ hai, các bài thơ ngự chế” [51, tr 606], “các bài thơ trong tập cung đề những nơi danh thắng cổ tích, thời tiết nhân vật, chia ra từng loại để biên soạn, đều vẽ đồ phụ vào; rồi lại chiếu bài vịnh trong các loại, tuỳ loại biên chép, tuân theo bút pháp ngự viết ra” [51, tr 606] Đến khi sách làm xong tổng cộng 14 quyển và 2 quyển mục lục
8 - Ngự chế cổ kim thể cách thi pháp tập [51, tr 980], gồm hơn
157 bài với hơn 70 thể Đây là tập thơ được biên tập và hoàn thành trong năm cuối đời của nhà thơ Thiệu Trị Trong khi giảng giải về thi pháp thơ ca cho quần thần, Thiệu Trị đã yêu cầu các quan xét rõ ngay trong tập thơ ngự chế, những bài nào được sáng tác theo thể cách các
đời xưa và nay, tập hợp vào theo thứ tự trước sau rồi khắc in Ngự chế
cổ kim thể cách thi pháp tập đôi khi còn được gọi là Ngự chế hay là Cổ kim thể cách thi pháp
9 - Tài thành phụ tướng tiên thiên hậu thiên [51, tr 1067]:
Cuốn sách có 200 bài thơ, chia làm hai quyển, gọi là Tiên thiên, Hậu
thiên, đều 100 chương Sách chép thơ ấy làm xong, nhan đề là: “Ngự
Trang 1310
chế Tài thành Phụ tướng, Tiên thiên, Hậu thiên thi tập” [51, tr 1051]
Tập thơ này có khi còn chép là Phụ tướng tài thành tiên thiên hậu thiên
10 - Hoàng huấn [51, tr 1066] “Vua thường nhân lúc rỗi việc,
phỏng theo cổ thể Kinh Thi, làm ra thơ, có 9 thiên (Cao minh, Bác hậu,
Sủng tuy, Trung lương, Từ ái, Hiếu đễ, Tạo đoan, Hữu vu, Chỉ tín, gồm
9 thiên), sai đường quan và thuộc viên Nội các là là bọn Nguyễn Bá Nghi, Tôn Thất Hợp, Nguyễn Cửu Trường, Vũ Phạm Khải, Mai Anh Tuấn, Nguyễn Văn Siêu và Thân Văn Nhiếp chủ giải biên tập” [51, tr
1066] Khi Hoàng huấn được làm xong, nhà vua yêu cầu ban cho các
giảng đường để cho các nho sĩ làm tài liệu tu tiến thêm Đây là tập thơ mang tính giáo huấn, bị ảnh hưởng từ tư tưởng của Nho giáo
2.1.1.2 Văn
11 - Văn vua làm, tập đầu:
12 - Văn vua làm, tập 2:
Trong Đại Nam thực lục, phần Hiến Chương hoàng đế thực lục,
Chính biên, Đệ nhị kỷ, tháng 6 năm 1846 viết “Tập đầu văn vua làm đã
khắc xong Thưởng cho những người làm việc [khắc in sách] 500 quan
tiền” [51, tr 864] Trong khi đó ở phần Đệ tam kỷ về vua Tự Đức lại
chép “các tập thi văn ngự chế đã khắc xong (văn hai tậpthơ tập thứ 3, thứ 4, hai tập, hoàng huấn 9 thiên, thơ vũ công, thơ vịnh đế vương các đời, thể cách và phép làm thơ đời xưa đời nay, thơ tài thành phụ tướng)
Ngoài ra, trong Đại Nam thực lục không có thêm bất cứ ghi chép nào
nữa về hai tập văn này
2.1.1.3 Văn và thơ chung tuyển tập
13 - Chỉ thiện đường thi văn hội tập: Đôi khi còn được chép là
Thi văn hội tập, Chỉ thiện tập, Chỉ thiện đường Đây là tập thơ vua làm
khi còn ở cung riêng chưa lên ngôi gồm “16 quyển” [52, tr 101] Theo
nhóm tác giả Thần kinh nhị thập cảnh thì “trong tập này có cả văn xuôi của vua nữa cho nên mới đặt là Thi văn hội tập”[51, tr 37]