1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

CƠ SỞ SINH THÁI HỌC CHO PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VÀ ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

21 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 1,68 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dựa trên sự phân tích cấu trúc và tính phức hợp sự liên kết và tương tác giữa các hợp phần trong HST và giữa HST với các hệ chung quanh khác, bài báo đã cung cấp và phân tích các thông t

Trang 1

CƠ SỞ SINH THÁI HỌC CHO PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

VÀ ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

Trương Quang Học

Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường,

Đại học Quốc gia Hà Nội

Tóm tắt

Cách tiếp cận hệ sinh thái/dựa trên hệ sinh thái (HST) (do Công ước Đa dạng sinh học đề xuất) là một chiến lược quản lý tổng hợp tài nguyên thiên nhiên (đất, nước và sinh vật) Gần đây, cách tiếp cận này đã được áp dụng rộng rãi trong phát triển bền vững và ứng phó với biến đổi khí hậu, khi đặt con người và thực tiễn sử dụng tài nguyên là trung tâm của các HST Dựa trên sự phân tích cấu trúc và tính phức hợp (sự liên kết và tương tác giữa các hợp phần trong HST và giữa HST với các hệ chung quanh khác), bài báo đã cung cấp và phân tích các thông tin về tính chống chịu của hệ thống và các giải pháp để tăng cường tính chống chịu của các hệ thống bao gồm hệ thống vật lý, hệ sinh thái, hệ xã hội và

hệ sinh thái-xã hội, phục vụ cho phát triển bền vững, cho thích ứng và giảm nhẹ biến đổi khí hậu Bài báo cũng tổng kết các hoạt động nghiên cứu-triển khai ở Việt Nam theo cách tiếp cận này và đề xuất các giải pháp tăng cường hiệu quả áp dụng cách tiếp cận trong bối cảnh biến đổi toàn cầu hiện nay

1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Hiện nay, thế giới đang đứng trước những cuộc khủng hoảng lớn về kinh tế, xã hội và môi trường, trong đó nghiêm trọng nhất là cuộc khủng hoảng khí hậu – biến đổi khí hậu (BĐKH) Trong bối cảnh đó, chiến lược phát triển bền vững (PTBV) của thế giới cũng như của các nước tập trung theo ba hướng: (i) xã hội cacbon thấp; (ii) xã hội tái tạo tài nguyên; và (iii) xã hội hài hòa với thiên nhiên (Sumi và nnk., 2011) Theo đó, trong rất nhiều các lĩnh vực của đời sống xã hội hiện nay đều theo xu hướng có tính từ xanh (Green) với hàm ý hợp sinh thái: phát triển xanh/tăng trưởng xanh/kinh tế xanh, năng lượng xanh, lối sống xanh, cơ quan xanh, xí nghiệp xanh, đô thị xanh/sinh thái

Theo Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP), kinh tế xanh là nền kinh tế nâng cao đời sống của con người và cải thiện công bằng xã hội, đồng thời giảm đáng kể những rủi ro môi trường và những thiếu hụt sinh thái Nói một cách đơn giản, nền kinh tế xanh có mức phát thải khí nhà kính thấp, sử dụng hiệu quả tài nguyên và hướng tới công bằng xã hội

Tại Hội nghị Thượng đỉnh của Liên Hợp Quốc về PTBV – RIO+20 tại Rio de Janeiro, Braxin (tháng 6/2012), có hai chủ đề trọng tâm: “Cải thiện khuôn khổ thể chế để phát triển bền vững và phát triển nền kinh tế xanh trong bối cảnh phát triển bền vững và xóa đói nghèo” với hy vọng khẳng định một “Tương lai mà chúng ta mong muốn” trong bối cảnh biến đổi toàn cầu hiện nay

Trang 2

Kinh tế xanh là con đường có thể hóa giải được mâu thuẫn quan trọng nhất hiện nay nhằm đạt được cả hai mục tiếu: ứng phó với BĐKH và PTBV Tuyên bố “Tương lai mà chúng ta mong muốn” của RIO+20 tuy chưa có các cam kết mang tính ràng buộc pháp lý, nhưng đã đặt được viên gạch đầu tiên cho Chiến lược Kinh tế xanh – con đường phát triển kinh tế hài hòa với môi trường, giảm nhẹ BĐKH để thực hiện các mục tiêu PTBV (RIO+20 Outcome Documents, 2012)…

Bài viết này nhằm thảo luận một khía cạnh khác của phát triển xanh – “cách tiếp cận xanh” –

tiếp cận dựa trên hệ sinh thái (HST), nhằm duy trì và nâng cao tính chống chịu-thích ứng của các HST tự nhiên và các hệ sinh thái-xã hội trong PTBV và ứng phó với BĐKH

1 HỆ SINH THÁI VÀ CÁC HỆ THỐNG LIÊN QUAN

1.1 Hệ sinh thái

Theo sự hiểu biết của chúng ta thì sự sống trên Trái đất có một lịch sử phát triển khoảng 3,6-3,8

tỷ năm Tổng số loài sinh vật có trong sinh quyển hiện nay ước tính từ 5 đến 30 triệu loài hay hơn Nhiều nhóm, nhiều loài sinh vật còn chưa hoặc được biết rất ít, nhất là các loài vi sinh vật Trong môi trường, tất cả các sinh vật đều có mối liên quan chặt chẽ với nhau và với môi trường sống xung quanh, hình thành nên các hệ sinh thái (Watson và Heywood, 1995)

Hệ sinh thái (hệ sinh thái tự nhiên hay hệ Trái đất) (Ecosystem/Natural Ecosystem/Earth’s

System – HST) được hiểu là một tổ hợp động của quần xã thực vật, động vật, vi sinh vật và các điều kiện môi trường vô sinh xung quanh, trong sự tương tác lẫn nhau như một đơn vị chức năng thông qua các dòng năng lượng và các chu trình vật chất Như vậy, HST là đơn vị tổ chức cơ bản của sinh quyển, có quy mô thay đổi, từ nhỏ bé như một bể cá cảnh, đến rộng lớn như rừng mưa nhiệt đới (biom) Giới hạn của HST thường được xác định theo mục đích của từng nghiên cứu cụ thể Hệ sinh thái là một hệ mở, luôn có sự liên hệ với các hệ khác xung quanh

1.2 Hệ xã hội và hệ sinh thái-xã hội

Vào khoảng 60.000 năm trước đây (“2 giây trước lúc nửa đêm”, Hình 1.1.), loài người (Homo sapiens sapiens) xuất hiện trên Trái đất Loài người, với những đặc trưng của mình: có não bộ

phát triển, có tư duy trừu tượng, biết dùng lửa và công cụ lao động để tác động vào tự nhiên, để phát triển, đã tách ra khỏi giới tự nhiên trong hệ thống tiến hóa Nếu thế giới sinh vật sống trong các HST và tiến hóa theo quy luật chọn lọc tự nhiên, thích nghi với sự thay đổi của điều kiện môi trường để phát triển, thì con người không như vậy, mà tiến hóa theo hướng hoàn thiện và phát triển các công cụ lao động Bằng cách đó, con người đã tạo ra một môi trường sống riêng cho mình – xã hội, hình thành hệ xã hội (có người còn tách thành một quyển riêng – Nhân quyển, Homosphere) (Tyler Miller, 2002)

Trang 3

A B

Nguồn: Tyler Miller, 2002; Trương Quang Học, 2003

Hình 1.1 Quá trình tiến hóa của sự sống trên Trái đất được khái quát đơn giản

theo tỷ lệ thời gian 24 giờ (A) và Hệ thống tổ chức của thế giới sống (B)

Hệ xã hội (Social System) bao gồm tất cả các sản phẩm khác nhau của văn hóa con người ở mức

độ quần thể, bao gồm các yếu tố chính: dân số, văn hóa, sản phẩm vật chất, tổ chức xã hội và thể chế xã hội… Tuy sống trong xã hội, nhưng con người vẫn luôn luôn giữ mối quan hệ chặt chẽ với thiên nhiên, tác động và khai thác tài nguyên ngày càng nhiều để phục vụ cho nhu cầu của cuộc sống ngày càng cao của mình Từ đó, dần dần hình thành các hệ sinh thái nhân văn

Hệ sinh thái nhân văn (Human Ecosystem) là tổng hòa của hai hệ thống, hệ thống tự nhiên và hệ

thống xã hội trong sự tương tác lẫn nhau ở một khu vực nhất định Theo đó, hình thành một khoa

học liên ngành – Sinh thái học nhân văn (Human Ecology) và các chuyên ngành của nó (Sinh thái học chính trị – Political Ecology; Sinh thái học xã hội – Social Ecology…)

Hệ sinh thái-xã hội (Socio-ecological System) là một biến thể của hệ sinh thái nhân văn, nhấn

mạnh yếu tố xã hội của loài người và được định nghĩa khái quát là một hệ gồm cả con người và

tự nhiên, một đơn vị sinh – vật – địa và các yếu tố xã hội, thể chế kèm theo Hệ sinh thái-xã hội

là hệ thống phức tạp nhất, trong đó, tùy theo góc độ và phạm vi nghiên cứu mà các đặc trưng khác nhau được nhấn mạnh

Vì vậy, các định nghĩa của hệ sinh thái-xã hội có sự khác nhau nhất định giữa các tác giả:

Cá thể Quần thể Quần xã

Hệ sinh thái Sinh quyển

Trang 4

+ Một hệ thống chức năng, gồm các yếu tố sinh-vật-địa và xã hội, có sự tương tác thường xuyên với nhau theo một phương thức bền vững và chống chịu

+ Một hệ thống tồn tại trong một khoảng không gian và thời gian xác định, có cấu trúc, chức năng và các cấp độ tổ chức tương tác lẫn nhau

+ Một tổ hợp các dạng tài nguyên quan trọng (tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên kinh tế-xã hội

và văn hóa), được phát triển và sử dụng bởi phức hợp của cả hai hệ thống:, hệ thống sinh thái và

hệ thống xã hội

+ Một hệ thống phức hợp biến động không ngừng với sự thích ứng liên tục

Theo sự phát triển, dân số thế giới ngày càng gia tăng (đạt 7 tỷ người vào năm 2011) và khoa học – công nghệ (KH-CN) cũng ngày càng phát triển Hệ quả tất nhiên là con người khai thác tự nhiên ngày một khốc liệt, làm cho tài nguyên ngày càng suy thoái và ô nhiễm môi trường ngày càng trầm trọng Con người, theo quan niệm hiện đại, đã trở thành trung tâm của HST với hai nghĩa: (i) con người là nhân tố tác động vào HST một cách mạnh mẽ nhất, và (ii) các hoạt động bảo tồn HST cuối cùng vẫn phải hướng tới và đem lại phúc lợi cho con người (MEA, 2005) (Hình 3.1A)

2 TÍNH CHỐNG CHỊU CỦA HỆ SINH THÁI VÀ CÁC HỆ THỐNG LIÊN QUAN

2.1 Tính dễ bị tổn thương, tính thích ứng và tính chống chịu

Dưới góc độ ứng dụng, HST nói chung có 3 thuộc tính quan trọng có liên quan với nhau: tính dễ

bị tổn thương, tính thích ứng và tính chống chịu

Tính dễ bị tổn thương (Vulnerability): là xu hướng của một hệ (ví dụ, hệ sinh thái-xã hội) có thể

bị tổn thương/thiệt hại do các tác động từ bên ngoài Tính dễ bị tổn thương thường có nghĩa trái ngược với tinh chống chịu Khi tính chống chịu tăng, thì tính dễ bị tổn thương giảm, và ngược lại

Tính thích ứng (Adaptability): là thuộc tính của các HST có khả năng tự điều chỉnh để thích nghi

với các thay đổi của môi trường sống Tuy nhiên, sự tự điều chỉnh của các HST có giới hạn nhất định Nếu sự thay đổi vượt qua giới hạn này, HST mất khả năng tự điều chỉnh và hậu quả là chúng bị suy thoái, thậm chí bị hủy hoại

Trong các HST tự nhiên, khả năng thích ứng diễn ra ở những mức độ khác nhau: cá thể, quần thể, quần xã và HST theo sơ đồ của quá trình diễn thế thứ cấp: phục hồi – phát triển, tự điều chỉnh và đạt tới trang thái ổn định/cân bằng… Diễn thế là quá trình cải tổ về mặt cấu trúc, các hoạt động chức năng và những mối quan hệ giữa các cá thể, giữa các loài và giữa quần xã sinh vật với môi trường vật lý, trong đó, có sự đóng góp của các quá trình xảy ra, từ mức thấp nhất là quần thể đến mức cả hệ thống, để phát triển và hướng tới sự ổn định Do đó, trong quá trình diễn thế, các hợp phần cấu trúc và các mối quan hệ cũng như lượng thông tin trong HST đều thay đổi một cách có quy luật để toàn hệ thống đạt tới trạng thái cân bằng với môi trường mà nó tồn tại Đối với hệ sinh thái-xã hội, quá trình thích ứng xảy ra phức tạp hơn vì có sự can thiệp của con người, của các yếu tố nhân văn và qua đó, có thể làm giảm hoặc làm tăng tính chống chịu của HST cũng như của toàn bộ hệ thống

Trang 5

Tính chống chịu (Resilience): theo nghĩa chung nhất, có thể hiểu tính chống chịu là khả năng

phục hồi/trở về trạng thái/hình dạng/kích thước ban đầu của một vật, một hệ thống, một tính trạng, sau khi bị tác động từ bên ngoài

Tuy nhiên, trong thực tế, thuật ngữ Resilience được dùng với những nghĩa có sự khác nhau nhất

định, phụ thuộc vào lĩnh vực và các cấp tổ chức của đối tượng: trong vật lý: tính đàn hồi, tính bật nảy, tính co dãn; trong vật liệu: sức bền/sức chịu (lực…), độ dai va đập; trong xây dựng: tải trọng/sức chịu tải (ví dụ, tải trọng khí tượng, trong đó có tải trọng gió và tải trọng nhiệt…); trong

y học, ở người bệnh (tâm thần và các bệnh khác): khả năng hồi phục/phục hồi; đối với cây trồng: tính chống chịu/chịu (tính chịu hạn, chịu nóng, chịu rét, chịu mặn, chống chịu đối với các tác nhân vô cơ khác, chịu bệnh…; đối với ký sinh trùng và sâu/bệnh hại: tính kháng (thuốc diệt); trong tâm lý (Psychological Resilience – chống chịu tâm lý): tính chịu đựng/kiên nhẫn (của bệnh nhân, của người lính)

2.2 Tính chống chịu của hệ thống

Hệ thống được định nghĩa khái quát là một tập hợp các phần tử khác nhau, có mối liên hệ và tác động qua lại theo một quy luật nhất định, tạo thành một chính thể, có khả năng thực hiện những chức năng cụ thể nhất định Có rất nhiều loại hệ thống: hệ thống kỹ thuật (hệ thống của các hệ thống bộ phận nhỏ hơn, hệ thống công nghệ), HST, hệ tổ chức, doanh nghiệp (hệ thống kỹ thuật-

xã hội, hệ thống cơ sở hạ tầng), con người, con người và tự nhiên, hoặc mạng lưới

Tính chống chịu của hệ thống (System Resilience) là khả năng của hệ thống hóa giải (Absorb)

các tác động/can thiệp từ bên ngoài và tổ chức lại những thay đổi xảy ra để bảo tồn được các chức năng, cấu trúc, thuộc tính, và những hồi tiếp/hoàn ngược (Feedbacks) Tính chống chịu của

hệ thống có các trạng thái khác nhau:

2.2.1 Tính chống chịu vật lý

Một hệ thống vật lý (Physical/Nonliving System) có tính chống chịu nhất định, phục thuộc vào bản chất và cấu trúc của toàn hệ thống và mỗi hợp phần của nó Ví dụ, tính chống chịu của các công trình xây dựng (khu dân cư: nhà cửa, đường sá, cầu cống, đê điều…) liên quan tới 2 yếu tố: (i) quy hoạch xây dựng, bao gồm không chỉ quy hoạch đô thị, nông thôn, các khu dân cư, các cụm công nghiệp, mà còn cả các công trình giao thông vận tải, thủy lợi, y tế, giáo dục, du lịch và dịch vụ; (ii) thiết kế công trình, với sự tính toán phù hợp với tải trọng khí tượng, trong đó, quan trọng nhất là tải trọng gió và tải trọng nhiệt, phù hợp với điều kiện địa phương

2.2.2 Tính chống chịu sinh thái

Khái niệm tính chống chịu của HST do nhà sinh thái học Canađa, Holling, lần đầu tiên đưa ra (1973) để mô tả tính ổn định của các HST tự nhiên dưới sự tác động của các yếu tố tự nhiên hay nhân tác từ bên ngoài Tính chống chịu được định nghĩa theo hai cách:

+ Khoảng thời gian cần thiết mà một HST có thể hồi phục trạng thái ban đầu/trạng thái ổn định sau khi bị môt tác động từ bên ngoài (một số tác giả còn gọi đấy là tính ổn định – Stability, hay khả năng thích ứng – Adaptive Capacity/Adaptability) Định nghĩa này cũng được sử dụng trong

một số lĩnh vực khác như vật lý, kỹ thuật, trong trường hợp này Holling gọi là tải trọng kỹ thuật

(Engineering Resilience)

Trang 6

+ Khả năng của một hệ thống hóa giải được những tác động bên ngoài và tự tổ chức lại những thay đổi xảy ra, sao cho vẫn bảo toàn được cấu trúc, chức năng, đặc tính và những phản hồi của

hệ Trong định nghĩa này, tính chống chịu được đo bằng lượng của yếu tố tác động và còn được

gọi là “tính chống chịu sinh thái” (Ecological Resilience), nó ám chỉ trạng thái/chế độ ổn định đa

chiều của HST

2.2.3 Tính chống chịu-thích ứng

Giữa tính dễ bị tổn thương, tính chống chịu và tính thích ứng của HST có mối liên quan với nhau (mối quan hệ trong nội bộ hệ thống) và liên quan với yếu tố tác động (tần suất, cường độ, tính chất của các tác động từ bên ngoài) Trong thực tế, hai quá trình chống chịu và thích ứng xảy ra xen kẽ với nhau Khi sự chống chịu xảy ra thì cũng là lúc bắt đầu có quá trình thích ứng và sự thích ứng sẽ làm tăng khả năng chống chịu

Vì vậy, có thể đề xuất một thuật ngữ mới là “tính chống chịu-thích ứng” (Adaptive-resilience)

đặc trưng cho các HST, vừa nói lên khả năng chống chịu ở thời điểm bị tác động, vừa nói nên khả năng tự phục hồi lại trạng thái ban đầu sau khi đã bị tác động Từ đấy, có thể nói khi tính chống chịu-thích ứng của một HST tăng sẽ làm giảm tính dễ bị tổn thương cũng như rủi ro có thể xảy ra cho hệ thống Vì thế, xây dựng/tăng cường tính chống chịu của hệ thống là nguyên tắc chung nhất nhằm phát triển hệ thống một cách bền vững và ứng phó hiệu quả với những tác động

từ bên ngoài

Một định nghĩa khác quan niệm tính chống chịu sinh thái là một mức, mà ở đó HST có thể xử lý/chịu đựng được một tác động từ bên ngoài (ví dụ, các dạng thiên tai như: bão, cháy, ô nhiễm ), mà không bị biến đổi về chất Cụ thể hơn, đó chính là khả năng của hệ trong 2 việc: (i) chịu được sự tác động mà không bị biến đổi, và (ii) tự hồi phục lại được nếu bị thiệt hại Thuật ngữ này sau đó được mở rộng ra trong các lĩnh vực Tâm lý học, Kinh tế học, Xă hội học và Chính trị học (hoạch định chính sách) (Gardner và nnk., 2007)

2.3 Tính chống chịu xã hội

Tính chống chịu xã hội (Social Resilience) là khả năng của một hệ xã hội (các nhóm người hay

cộng đồng) có thể hạn chế (Scope) những tác động từ bên ngoài thông qua những thay đổi về môi trường, chính sách và xã hội Tính chống chịu xã hội là tổ hợp của 4 hợp phần có liên quan chặt chẽ với nhau: (i) các hợp phần tạo lên hệ thống (cá nhân, cộng đồng); (ii) các mối quan hệ (sự tương tác giữa các hợp phần – các mối quan hệ xã hội như là gia đình, cộng đồng, thành viên các hiệp hội, câu lạc bộ, tham gia vào quá trình ra quyết định ); (iii) sự đổi mới (những giải pháp và ứng phó với sự thay đổi từ bên ngoài: R&D, công nghệ, kiến thức, kỹ năng mới); và (iv) tính liên tục: các đặc trưng của hệ được duy trì theo thời gian (những giá trị và kiến thức truyền thống được chia sẻ)

Vì hệ xã hội luôn thay đổi do những tác động khác nhau từ bên ngoài, đặc biệt là tác động do sự suy thoái môi trường làm thay đổi các đặc trưng của hệ, bao gồm cả những thay đổi đối với con người, đối với các quan hệ, tính đổi mới, tính liên tục và cuối cùng là ảnh hưởng tới tính chống chịu của hệ (Hình 2.1)

Tính chống chịu trong xã hội và các hệ hỗ trợ cuộc sống của nó có ý nghĩa rất to lớn trong việc duy trì các phương án cho sự phát triển của nhân loại trong tương lai

Trang 7

Hình 2.1 Sơ đồ tương tác giữa các hợp phần ảnh hưởng tới tính chống chịu xã hội

2.4 Tính chống chịu sinh thái-xã hội

Như trên đã định nghĩa, hệ sinh thái-xã hội là hệ liên kết giữa con người và tự nhiên Điều đó có nghĩa rằng con người là một phần chứ không phải tách ra khỏi HST và tự nhiên là sản phẩm của

sự tương tác giữa hệ sinh thái và hệ xã hội Một số tác giả còn dùng các thuật ngữ khác như các

hệ thống kết hợp môi trường-nhân văn (Coupled Human-Environment Systems), hệ xã hội sinh thái (Ecosocial Systems), hoặc hệ sinh thái-xã hội (Socioecological Systems) để mô tả sự tương

tác giữa hai hệ thống này Thuật ngữ hệ sinh thái-xã hội đã được Berker và Folke đưa ra năm

1998 vì họ không muốn xử lý các vấn đề xã hội hoặc sinh thái như những tiền tố, mà xem chúng

ở một mức độ nào đó là ý nghĩa như nhau khi phân tích mối quan hệ giữa các vấn đề

Tính chống chịu sinh thái-xã hội là là kết quả của sự tương tác hữu cơ giữa tính chống chịu của HST và hệ xã hội (Hình 2.2A, B)

Hình 2.2 Sơ đồ tương tác giữa các hợp phần ảnh hưởng tới tính chống chịu của hệ sinh thái-xã

hội (A); Sơ đồ mối liên quan trong phân tích tính chống chịu trong hệ sinh thái-xã hội (B)

Trang 8

Vì vậy, các nhân tố ảnh hưởng đến tính chống chịu của hệ là rất phức tạp Ví dụ, rất nhiều các yếu tố như chu trình nước, phân bón, tính đa dạng của cây trồng và khí hậu… tác động mạnh mẽ tới hệ với những hiệu quả khác nhau Các hoạt động đa dạng của con người trong rất nhiều các lĩnh vực khác nhau tác động tới/và đồng thời cũng phụ thuộc vào tính chống chịu của các HST trên cạn, dưới nước và biển Ví dụ, các hoạt động nông nghiệp, lâm nghiệp (đặc biệt là phá rừng), gây ô nhiễm môi trường, khai thác mỏ, khai hoang, đánh bắt thủy hải sản quá mức, gây ô nhiễm biển và BĐKH…

Bên cạnh đó, nhiều hoạt động của con người, đặc biệt là về thể chế, khoa học – công nghệ có thể

có tác động mạnh mẽ làm tăng/giảm tính chống chịu của toàn hệ

Ứng phó với BĐKH, trong HST nông nghiệp, ngoài gia tăng tính chống chịu của toàn hệ thống, người ta còn rất chú ý tới tính chống chịu của các hợp phần, cụ thể như tuyển chọn các giống vật nuôi và cây trồng có tính chống chịu với các yếu tố môi trường (tính chống chịu khô hạn, tính chống chịu mặn, tính chống chịu ngập hoàn toàn, tính chống chịu độ độc nhôm, tính chống chịu thiếu lân, tính chống chịu độc sắt và tính chống chịu lạnh), phù hợp với hoàn cảnh BĐKH của từng địa phương

3 CÁCH TIẾP CẬN DỰA TRÊN HỆ SINH THÁI TRONG QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

3.1 Cách tiếp cận dựa trên hệ sinh thái trong quan lý tài nguyên

Cách tiếp cận HST/dựa trên HST (Ecosystem/Ecosystem Based Approach – EBA) là chiến lược

do Công ước Đa dạng sinh học (CBD) đề xuất, đầu tiên là để quản lý tài nguyên đất, nước và sinh vật, nhằm tăng cường bảo vệ và sử dụng bền vững các dạng tài nguyên này một cách công bằng

IUCN với sự cộng tác của Ban Thư ký CBD và các tổ chức khác, đã tham gia tích cực vào quá trình hoàn thiện chiến lược này Trên cơ sở tổng kết các nghiên cứu trường hợp tại nhiều quốc gia ở 4 châu lục (châu Phi, châu Á, châu Mỹ La Tinh và châu Âu), IUCN đã đưa ra 10 nguyên tắc (1996) và sau đó là một quy trình gồm 12 nguyên tắc (2000) và được tổ chức thành 5 bước (2004), hướng dẫn áp dụng cách tiếp cận này trong quản lý tài nguyên (Pirot và nnk., 2000; Shepherd, 2004; MclLeod và Sain, 2006; Pérez và nnk., 2010)

Cách tiếp cận này được Hội nghị lần thứ 5 các bên nước tham gia CBD (COP 5), tại Nairobi, Kenya (2000) thông qua tại Quyết định V/6 và được xem là cách tiếp cận chủ đạo trong hoạch định các chính sách, thể chế quốc gia trong điều kiện của địa phương để quản lý tổng hợp tài nguyên, nhằm thực hiện ba mục tiêu của CBD: (i) Bảo tồn ĐDSH; (ii) Sử dụng bền vững các thành phần của ĐDSH; và (iii) Chia sẻ công bằng lợi ích thu được từ việc sử dụng tài nguyên di truyền

Tiếp theo, Chương trình Đánh giá hệ sinh thái thiên niên kỷ (The Millenium Ecosystem Asessment) đã được LHQ phát động trên cơ sở của cách tiếp cận này Kết quả của giai đoạn thực hiện đầu tiên (2001-2005) đã được đánh giá trong Báo cáo tổng hợp của Chương trình với tiêu đề

“Ecosystem and Human Well-being” Báo cáo đã tổng kết đánh giá những hệ quả của sự thay đổi HST phục vụ cho lợi ích của con người và xây dựng cơ sở khoa học cho những hoạt động nhằm

Trang 9

tăng cường công tác bảo tồn và sử dụng hợp lý các HST Báo cáo tập trung phân tích mối quan

hệ giữa HST, đặc biệt là dịch vụ các HST và phúc lợi của con người (Hình 3.1) (MEA, 2005)

Hình 3.1 Mối liên quan giữa các dịch vụ hệ sinh thái và các thành tố của cuộc sống thịnh

vượng (A – nguồn: MEA, 2005, theo Trương Quang Học, 2012); Sơ đồ cách tiếp cận liên ngành

phục vụ phát triển bền vững (B – nguồn: Komiyama và nnk., 2011)

Hình 3.1A trình bày mối quan hệ giữa HST/dịch vụ HST với phúc lợi của con người Con người, một mặt, sống nhờ vào HST thông qua các dịch vụ của nó, gồm: (i) dịch vụ cung cấp (cung cấp các loại vật liệu, cây thuốc, thực phẩm, nước ; (ii) dịch vụ điều tiết (điều tiết lũ lụt, hạn hán, chống xói mòn đất, điều hòa nguồn nước, dịch bệnh…); (iii) dịch vụ văn hóa-tinh thần (các giá trị du lịch, giải trí, nghỉ dưỡng, nghiên cứu, giáo dục, tôn giáo, nghệ thuật và các lợi ích phi vật chất khác; và (iv) dịch vụ hỗ trợ (hình thành đất, duy trì các chu trình dinh dưỡng, chu trình sinh địa hóa, dòng năng lượng…) Mặt khác, con người lại tác động vào HST thông qua các hoạt động sinh kế trực tiếp (nguyên nhân trực tiếp) và các hoạt động phát triển kinh tế-xã hội (nguyên nhân sâu xa/cơ bản) – tác động chính làm suy thoái các HST/ĐDSH Cần nhấn mạnh rằng, mối tương tác giữa con người và HST có sự thay đổi giữa/và chịu sự tác động của các cấp: địa phương, quốc gia và quốc tế

Như vậy, EBA đặt con người và thực tế sử dụng tài nguyên của họ là trung tâm của khung hoạch định chính sách Để khai thác các lợi ích từ các dịch vụ HST, con người đã đưa ra các lựa chọn hay quyết định về quản lý liên quan đến các HST, làm thay đổi chức năng và dịch vụ mà HST cung cấp

Trang 10

3.2 Cách tiếp cận dựa trên hệ sinh thái trong phát triển bền vững

PTBV là sự phát triển đảm bảo sự hài hòa giữa ba lĩnh vực: môi trường, kinh tế và xã hội, trên nền của văn hóa (Hình 3.2) Vì yếu tố cơ bản của PTBV là bền vững về mặt môi trường, nên hiện nay cách tiếp cận dựa trên HST được áp dụng rộng rãi trên phạm vi toàn cầu cho hầu hết các HST và các lĩnh vực tự nhiên, kinh tế-xã hội, để quản lý tổng hợp môi trường, phục vụ PTBV

Các tài nguyên thiên nhiên, như tài nguyên sinh vật, đất, nước, cũng dễ bị tổn thương do các hoạt động của con người Để giải quyết các vấn đề môi trường này, nhân tố chính là phục hồi chúng từ/ hoặc tăng tính chống chịu của hệ xã hội và HST đối với tác động Muốn vậy, phải xác định được các yếu tố có ảnh hưởng đến tính chống chịu và những giải pháp để tăng cường tính chống chịu trước những thay đổi của môi trường tự nhiên, của xã hội (Hình 3.2A)

Theo nghĩa rộng, PTBV nhằm mục đích duy trì hoặc tăng cường sức khỏe của các HST và sinh kế/sự thịnh vượng của người dân, bao gồm nhiều yếu tố (giáo dục được nâng cao, các nhu cầu cơ bản như nước sách, lương thực, nhà ở… được cải thiện) Các HST chính là hệ thống hỗ trợ cơ bản cho cuộc sống Vì thế, nguyên lý cơ bản là “bảo tồn chức năng và tính toàn vẹn của HST” sẽ hoặc cần phải là một phương tiện cơ bản cho PTBV

Thích ứng dựa trên HST hỗ trợ thích ứng xã hội (làm giảm tính dễ bị tổ thương của xã hội) đối với BĐKH, bằng cách quản lý và sử dụng HST/dịch vụ HST một cách có tính toán Nó bổ sung hoặc thay đổi cơ sở hạ tầng cứng (ví dụ, trồng rừng ngập mặn) hoặc các giải pháp công trình thích ứng khác Điều này sẽ đem lại lợi ích kép cho cả cộng đồng và cả công tác bảo tồn ĐDSH (Pirot và nnk., 2000)

Hình 3.2 Sơ đồ phát triển bền vững (UNESCO) (A); và kinh tế xanh trong bối cảnh PTBV

(nguồn: European Environment Agency, 2012) (B)

Chương trình MEA đã hỗ trợ các quốc gia trong việc lựa chọn những phương án tốt nhất và xác định cách tiếp cận mới, phù hợp để thực hiện kế hoạch hành động triển khai Agenda 21, nhằm đạt được các Mục tiêu Thiên niên kỷ Đối với các nhà hoạch định chính sách, MEA đưa ra một

cơ chế để giúp họ:

+ Xác định phương án nhằm đạt được các mục tiêu bền vững và phát triển con người

Ngày đăng: 18/04/2021, 22:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w