1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG XÂY DỰNG HỆ THỐNG PHÂN LOẠI TỰ ĐỘNG HỌ LECANIDAE (TRÙNG BÁNH XE) BẰNG PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH HÌNH DẠNG HỌC

27 10 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 1,57 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặc điểm chuẩn loại Trùng bánh xe thuộc họ Lecanidae ứng dụng trong phương pháp phân tích hình dạng học.... Tuy nhiên, hệ thống phân loại họ Lecanidae được đánh giá là tương đối khó cho

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

Đà Nẵng, 11/2020

Trang 2

Bộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC ĐÀ NẲNG

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

1.1 Giới thiệu về ngành Trùng bánh xe 3

1.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 3

1.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 4

1.1.3 Họ Lecanidae thuộc ngành Trùng bánh xe 5

1.2 Phân loại học ngành Trùng bánh xe 5

1.2.1 Vai trò của phân loại học và phương pháp phân tích hình dạng trong phân loại học 5

1.2.2 Phân loại tự động các loài Lecane bằng phương pháp phân tích hình dạng học (geometric morphometric analysis) 6

CHƯƠNG 2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 7

2.1 Vật liệu nghiên cứu 7

2.2 Phương pháp nghiên cứu 8

2.2.1 Thu mẫu Trùng bánh xe 8

2.2.2 Phân loại Trùng bánh xe 8

2.2.3 Số hóa số liệu trắc sinh học và hình dạng học 8

2.2.4 Phương pháp phân tích số liệu 8

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 9

3.1 Đa dạng loài Trùng bánh xe thuộc họ Lecanidae tại một số tỉnh miền Trung Việt Nam 9

3.1.1 Thành phần loài 9

3.1.2 Mức độ đa dạng 11

3.1.3 Độ tương đồng 11

3.2 Đặc điểm chuẩn loại Trùng bánh xe thuộc họ Lecanidae ứng dụng trong phương pháp phân tích hình dạng học 12

3.2.1 Đa dạng hình thái các loài Lecane bằng phương pháp hình thái học 13

3.2.2 Đa dạng hình thái các loài Lecane bằng phương pháp hình dạng học 16

3.3 Phần mềm phân loại tự động các loài Lecane bằng phương pháp phân tích hình dạng học 21

3.3.1 Tiến trình phân tích hình dạng học trên phần mềm 21

3.3.2 Kết quả định danh bằng phần mềm 22

KẾT LUẬN 24

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết

Lecanidae là một họ đơn chi, đa dạng nhất của ngành Trùng bánh xe (Rotifera) với khoảng 163 loài trên tổng số hơn 2.000 loài Trùng bánh xe đã được ghi nhận trên toàn cầu (Segers, 1995) Chúng phân bố chủ yếu trong các thủy vực nước ngọt, một số cũng

có thể tìm thấy trong sinh cảnh cát (Psammon habitat) (Pejler & Bērziņš, 1994) Cũng như các loài thuộc ngành Trùng bánh xe, chúng giữ vai trò hết sức quan trọng trong các

hệ sinh thái thủy vực, như là một cầu nối chuyển hóa năng lượng từ nhóm sinh vật sản xuất sang các loài ở bậc dinh dưỡng cao hơn Hơn thế nữa, chúng còn được sử dụng như các sinh vật chỉ thị chất lượng môi trường nước (Sládeček, 1983), sinh vật thử nghiệm độc tính (Arnold & cs., 2011), và là nguồn thức ăn tự nhiên cho các loài cá bột, ấu trùng tôm trong nuôi trồng thủy sản (Lubzens, 1987; Ogata & cs., 2011) Do đó, nhu cầu cần định loại các loài Trùng bánh xe thuộc họ Lecanidae là cấp thiết cho việc ứng dụng chúng vào trong đời sống sản xuất Tuy nhiên, hệ thống phân loại họ Lecanidae được đánh giá là tương đối khó cho hầu hết các nhà nghiên cứu bởi vì chúng có sự đa dạng

về hình thái cao, đặc biệt có nhiều nhóm loài phức (Segers, 1995)

Sự phát triển của khoa học thống kê và khoa học máy tính đã tạo tiền đề cho sự chuyển đổi cách tiếp cận trong nghiên cứu sinh học Một hệ quả trong xu hướng đó là

hệ thống định danh tự động đang ngày được hoàn thiện và ứng dụng rộng rãi trong nghiên cứu đa dạng sinh học nói chung và phân loại học nói riêng Phương pháp nghiên cứu hình dạng học (Geometric Morphometrics) được phát triển dựa trên cơ sở lý thuyết

là phương pháp hình dạng học kết hợp với các thuật toán thống kê và phần mềm nhận diện hình ảnh Khác với phương pháp hình thái học (hay phương pháp trắc sinh học) chủ yếu là sự đo đạc các kích thước (chiều dài, chiều rộng, góc, tỷ lệ và diện tích), phương pháp hình dạng học sử dụng thông tin về hình dạng được tạo bởi tọa độ của các điểm chuẩn loại (landmark points) Việc sử dụng những phương pháp hình dạng học dựa vào tọa độ của các điểm chuẩn loại giúp giải quyết nhiều vấn đề khó khăn về đo đếm của các phương pháp truyền thống và được đánh giá là rất hữu ích cho việc mô tả các loài (Zelditch & cs., 2004)

Ở ngành Trùng bánh xe, phương pháp trên cũng đã được áp dụng để nghiên cứu

sự khác nhau trong đa dạng hình thái của mề nghiền (trophi) của các loài thuộc nhóm Rotatoria bởi Fontaneto & cs (2004) Giri & de Paggi (2006) đã sử dụng phương pháp

hình dạng học để đánh giá lại bậc phân loại 2 dưới loài của Brachionus caudatus là: B

caudatus f ahlstromi và B caudatus f austrogenitus Bên cạnh đó, cùng với sự phát

triển của phần cứng máy tính, phần mềm và thiết bị công nghệ thông tin, các hệ thống

Trang 5

phân loại sinh vật tự động đã được xây dựng, giúp cho quá trình định danh diễn ra chính xác và nhanh chóng hơn Đến nay, hệ thống định loại tự động đã được ứng dụng thành công trên một số nhóm đối tượng như: thực vật, rêu và côn trùng (Jamil & cs., 2015; Kumar & cs., 2012) Những ứng dụng này đặc biệt hữu ích cho công tác nghiên cứu cơ bản, quản lý đa dạng sinh học và trong ứng dụng tri thức của lĩnh vực này vào đời sống

sản xuất Do vậy, chúng tôi đề xuất đề tài nghiên cứu “Xây dựng hệ thống phân loại tự

động họ Lecanidae (Trùng bánh xe) bằng phương pháp phân tích hình dạng học”

2 Mục tiêu

- Đánh giá được đa dạng sinh học họ Lecanidae thuộc ngành Trùng bánh xe ở một

số tỉnh miền Trung Việt Nam

- Xác định được đặc điểm chuẩn loại (Landmark points) trong phân loại họ

- Xác định các điểm chuẩn loại (Landmark points) của các loài họ Lecanidae ứng

dụng trong phân loại bằng phương pháp hình dạng học

- Số hóa cơ sở dữ liệu hình dạng học của các loài họ Lecanidae cho phân tích và

xây dựng mô hình

- Xây dựng mô hình phân tích sự khác biệt hình dạng học của các loài họ Lecanidae

làm cơ sở xây dựng phần mềm phân loại

- Xây dựng phần mềm phân loại tự động các loài họ Lecanidae bằng phương pháp

hình dạng học

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của đề tài cung cấp dẫn liệu khoa học mới về đa dạng sinh học họ Lecanidae thuộc ngành Trùng bánh xe cho khu hệ động vật nổi của Việt Nam Phần mềm phân loại tự động các loài họ Lecanidae được xây dựng là một trong những sản phẩm khoa học có thể được sử dụng trong quá trình nghiên cứu, giảng dạy tại các trường đại học, góp phần nâng cao năng lực nghiên cứu cho các giảng viên, học viên và sinh viên trong lĩnh vực phân loại học nói riêng và thủy sinh vật học nói chung

Trang 6

Trong thực tiễn, các sản phẩm của đề tài góp phần bổ sung cơ sở dữ liệu về đa dạng sinh học khu hệ động vật nổi ở Việt Nam, phục vụ công tác quản lý, giám sát đa dạng sinh học, đánh giá chất lượng môi trường nước và ứng dụng trong ngành nuôi trồng thủy sản

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Giới thiệu về ngành Trùng bánh xe

1.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Trùng bánh xe (TBX hay Luân trùng) được mô tả lần đầu tiên bởi Van Leeuwenhoek vào năm 1073 và được xếp vào ngành động vật nguyên sinh (Protozoa) (Ricci, 1983) Tiếp đó, Cuvier (1798) mô tả một số loài Luân trùng và phân loại chúng vào nhóm "Rotiferes" thuộc lớp "Infusoires" giới động vật Ông là người đặt nền móng

ý tưởng đầu tiên cho tên gọi của ngành Luân trùng hiện tại (Rotifera) Ngành Luân trùng được chia làm hai Lớp Pararotaria (chỉ có một bộ Seisonacea) và lớp Eurotatoria - lớp này được chia thành hai giới lớp Bdelloidea và Mongononta Ngành có ước tính khoảng

2030 loài đã được mô tả trên toàn cầu, trong đó Seisonida (chỉ có 3 loài), Mongononta (1570 loài) và Bdelloidea (461 loài) (Segers, 2007a)

Cùng với sự phát triển của khoa học và công nghệ, phân loại nhóm Luân trùng đã rất phát triển vào những thập niên cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 Rất nhiều công trình lớn, có quy mô nghiên cứu về Luân trùng đã được xuất bản vào thời gian này như:

Ruttner-Kolisko (1974), “Plankton Rotifers: Biology and Taxonomy”, tác giả là người

đầu tiên thành công trong việc nuôi một số lượng lớn cá thể TBX trong điều kiện phòng thí nghiệm, qua đó giới thiệu tổng quát về đặc điểm sinh học, sinh sản, chu trình sống

và phân loại của ngành TBX; Nổi bật trong các công trình nghiên cứu về TBX ở những

năm 70 của thế kỉ XX là “Rotatoria” của Koste (1978), Ông đã mô tả kèm theo hình vẽ

hơn 1000 loài TBX, tài liệu này hiện nay vẫn được sử dụng cho phân loại học Sau đó,

công trình của Hudson & Gosse (1886), “The Rotifera or Wheel – animalcucle” cũng

đã được công bố

Nghiên cứu về Luân trùng đầu tiên ở khu vực Đông Nam Á được tiến hành bởi

Semper (1975) với mô tả của loài Trochosphaera aequatorialis ở Philippines (trong

Segers, 2001) Một cột mốc quan trọng tiếp theo trong sự phát triển về nghiên cứu Luân trùng ở khu vực Đông Nam Á đó là nghiên cứu của Hauer (1937) "Luân trùng ở Sumatra, Java và Bali" Mặc dù Luân trùng ở khu vực Đông Nam Á được bắt đầu nghiên cứu khá sớm, nhưng dữ liệu về chúng vẫn còn khá nghèo nàn cho tới ngày nay Lịch sử nghiên

Trang 7

cứu TBX ở khu vực Đông Nam Á được xem xét và tổng hợp kỹ lưỡng bởi Segers (2001) Qua nghiên cứu của mình, ông kết luận rằng, thông tin nghiên cứu về Luân trùng ở khu vực còn nghèo nàn Trong đó, ở một số quốc gia như Brunei, Cambodia và Laos chỉ ghi nhận ít hơn 10 loài, trong khi đó Indonesia ghi nhận 200 loài, Malaysia 220 loài, và đặc biệt Thailand là quốc gia ghi nhận tốt nhất có số lượng loài lên tới 310 loài

Những năm gần đây, một số nghiên cứu được tiến hành nhằm đánh giá mức độ đa dạng của Luân trùng ở Laos bởi Segers & Sanoamuang (2007) và ở Cambodia bởi Meas

& Sanoamuang (2008) đã cập nhật số lượng loài ghi nhận các quốc gia này lên lần lượt

là 125 và 129 loài

1.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Nghiên cứu được xem là khá đầy đủ về Luân trùng sớm nhất ở Việt Nam do Shirota (1966) trong công trình “The Plankton of South Viet Nam” Tiếp theo đó, Đặng & cs (1980) đã mô tả và vẽ hình minh hoạ của 52 loài Luân trùng nước ngọt, thuộc 16 họ ở Bắc Việt Nam Đây là công trình nghiên cứu có tính hệ thống, các loài được mô tả trong công trình là những loài phổ biến nên vẫn được sử dụng tham khảo trong phân loại Luân trùng ở Việt Nam nói chung và miền Bắc Việt Nam nói riêng

Những năm gần đây, một số công trình nghiên cứu về Luân trùng được thực hiện

ở khu vực Trung Bộ và Nam Bộ Điển hình như Zhdanova (2011) đã khảo sát 4 hồ chứa

ở tỉnh Khánh Hoà, với 65 loài Luân trùng được ghi nhận, trong đó có 25 loài ghi nhận mới cho Việt Nam Phan Doãn Đăng và Lê Thị Nguyệt Nga (2012) đã ghi nhận 49 loài Luân trùng ở các thuỷ vực nội địa ở Nam Bộ, Việt Nam Trong đó có 03 loài được ghi nhận phân bố mới ở Nam Bộ

Công trình nghiên cứu mới nhất về khu hệ Luân trùng ở Việt Nam do Trịnh Đăng Mậu & cs (2013, 2015) khảo sát tại một số thủy vực, tỉnh Thừa Thiên Huế Trong đó

100 loài được ghi nhận mới cho khu hệ Luân trùng Việt Nam và 4 loài mới cho khoa

học: Pleosoma asiaticum, Lecane phapi, Lecane dorysimilis, Trichocerca

bauthiemensis Công trình này cũng đã tổng hợp các nghiên cứu trước đây thống kê

được 122 loài Luân trùng đã được biết ở Việt Nam, cùng với 100 ghi nhận mới, nâng tổng số loài Luân trùng ở Việt Nam lên 222 loài Tác giả cũng đã nhận định những hạn chế về các công tác nghiên cứu đối tượng này ở Việt Nam, điều đó được thể hiện số loài Luân trùng ghi nhận được hiện nay ở Việt Nam thấp hơn nhiều so với các nước lân cận, đặc biệt là Thái Lan đã ghi nhận khoảng 400 loài

Trang 8

1.1.3 Họ Lecanidae thuộc ngành Trùng bánh xe

Lecanidae là một họ đơn chi (Lecane) đa dạng bậc nhất ngành Trùng bánh xe (Rotifera) bao gồm khoảng 160 loài được tìm thấy ở cả môi trường nước ngọt và nước mặn (Segers, 1995) Chúng có kích thước nhỏ đến trung bình, cơ thể thường có hình trụ, dẹt theo hướng lưng bụng và được chia thành ba phần: đầu, thân và chân Phần đầu có

bộ máy tiêm mao là cơ quan đặc trưng của Luân trùng, có chức năng vận chuyển và tạo dòng nước đưa thức ăn vào trong miệng Bộ máy tiêm mao có nhiều dạng khác nhau; được cấu tạo bởi vùng tiêm mao quanh miệng và đai tiêm mao quanh đầu, phần trên không có tiêm mao mà có cơ quan cảm giác Phần thân có vỏ giáp bao bọc toàn bộ cơ thể hoặc một phần cơ thể, lớp vỏ này không thấm nước, chỉ bị phân hủy khi chết Trên

bề mặt vỏ giáp thường có các hoa văn hay phần phụ dạng gai Hình dạng của vỏ, cách sắp xếp các gai trên vỏ có ý nghĩa rất quan trọng trong phân loại Thân có chứa nhiều nội quan như: cơ quan tiêu hóa, cơ quan sinh sản, hệ thống bài tiết, cơ và dây thần kinh Phần chân có khả năng co giãn cao, có thể phân đốt hoặc không phân đốt, trên chân có thể có các ngón chân, trên ngón chân có mang vuốt

Lecane có phân bố rộng khắp trên toàn Trái đất, kể cả ở Bắc cực và Nam cực Thông thường, Lecane đạt độ đa dạng cao nhất ở các khu vực ven bờ trong các hệ sinh thái thủy vực ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Hầu hết các loài có phân bố toàn cầu nhưng một số loài vẫn có vùng phân bố giới hạn Các loài thường bắt gặp nhất trong

nhóm này là Lecane closterocerca, L hamata, L lunaris (Segers, 1995)

Trùng bánh xe nói chung và các loài Lecane nói riêng, chúng có vai trò hết sức quan trọng trong hệ sinh thái thủy vực, như là một cầu nối chuyển hóa năng lượng từ nhóm sinh vật sản xuất sang các bậc tiêu thụ cao hơn Hơn thế nữa, chúng còn được sử dụng như các sinh vật chỉ thị chất lượng môi trường nước (Sládeček, 1983), sinh vật thử nghiệm độc tính (Arnold & cs., 2011), và là nguồn thức ăn tự nhiên cho các loài cá bột,

ấu trùng tôm trong nuôi trồng thủy sản (Lubzens, 1987; Ogata & cs., 2011)

Trang 9

vật và danh pháp nhị thức để đặt tên sinh vật Đến nay, ngành phân loại học ngày càng được phát triển nhờ sự tiến bộ trong lĩnh vực nghiên cứu tiến hóa, hệ thống hóa… Phân tích hình thái là cách tiếp cận được sử dụng phổ biến nhất trong phân loại học Trong đó, phương pháp mô tả, so sánh hình thái là phương pháp đơn giản và thường được áp dụng Lập luận của phương pháp này sự khác biệt về hình thái có thể là dấu hiệu của sự khác biệt trong chức năng được thực hiện bởi cùng một bộ phận, sự khác biệt trong cách phản ứng đối với các yếu tố môi trường, cũng như sự khác biệt trong quá sinh trưởng, phát triển

Tuy nhiên, phương pháp này cũng có thể mơ hồ, không chính xác hoặc thậm chí sai lệch, đặc biệt là khi các hình dạng quá phức tạp và không giống với các dữ liệu đã

có Khi đó, độ chính xác trong phân tích hình dạng được đòi hỏi cao hơn, nên phương pháp hình dạng học (morphometrics) sẽ hiệu quả hơn (Zelditch & cs., 2004) Về cơ bản, đây là phương pháp định lượng hóa các dữ liệu định tính về hình dạng và thực hiện so sánh hình dạng, định danh thông qua việc áp dụng các phương pháp thống kê như hệ số tương quan (Pearson, 1895), phân tích phương sai (Fisher, 1935) và phân tích thành phần chính (Pearson, 1901; Hotelling, 1933) Khác với phương pháp hình thái truyền thống chủ yếu là sự đo đạc các kích thước (chiều dài, chiều rộng, góc, tỷ lệ và diện tích), phương pháp hình dạng học sử dụng thông tin về hình dạng bởi dữ liệu là tọa độ của các điểm chuẩn loại (landmark points) Ưu điểm của phương pháp này là khả năng trích xuất thông tin từ dữ liệu hình dạng có cơ sở toán học từ hệ thống hình học tọa độ các điểm chuẩn loại, hơn là chỉ đưa ra các nhận định bắt nguồn từ trực giác, quan sát như trong phương pháp cổ điển (Zelditch & cs., 2004, Dean C Adams, 2006) Nhờ đó, phương pháp này đã được ứng dụng rộng rãi để nghiên đa dạng các đối tượng khác nhau, như: tảo cát (Fránková & cs., 2009), cá (Ibañez & cs., 2007), giáp xác (Rosenberg, 2002), (Aytekin & cs., 2007), chó (Drake, 2011), và thậm chí trên cả người (Kieser & cs., 2007)

1.2.2 Phân loại tự động các loài Lecane bằng phương pháp phân tích hình dạng học (geometric morphometric analysis)

Sự phân loại các loài Lecane thường gặp khó khăn do độ đa dạng cao, hình thái có nhiều sự biến động dưới ảnh hưởng của điều kiện môi trường và yếu tố di truyền, bên cạnh đó, sự nhầm lẫn dễ xảy ra khi các mẫu vật được cố định không đúng cách Lecane thường được phân loại dựa trên đặc điểm của vỏ giáp So với các nhóm khác thuộc ngành Luân Trùng, các đặc điểm đặc trưng của vỏ giáp ở nhóm Lecane cung cấp một số lượng lớn thông tin hữu ích về đặc điểm hình thái để xem xét trong các nghiên cứu định danh, phân loại Hình thái Trophi cũng đã được áp dụng, tuy nhiên nó chủ yếu cung cấp

Trang 10

thông tin bổ sung cho mục đích phân loại và dường như không được dùng như một đặc điểm chính để định danh trên thực tế Theo Segers (1995), những mô tả đã được công

bố trong các tài liệu cũ là chưa đầy đủ thông tin hoặc sơ sài, thiếu hình ảnh chi tiết đi kèm Do đó, Thông tin của loài và các nhận định về phân bố cũng như đặc điểm hình thái, đặc tính sinh thái của các nhiều loài Lecane được đề xuất đánh giá lại và cần được nghiên cứu một cách cẩn thận hơn (Segers, 1995)

Gần đây, phương pháp phân tích hình dạng học cũng đã bắt đầu được áp dụng trong những nghiên cứu về Lecane Trong đó, Trịnh Đăng Mậu & cs (2019) sử dụng các phương pháp hình dạng học này để phân tích các thông số hình dạng của một loài thuộc chi Lecane mới được phát hiện ở Việt Nam và chứng minh được loài này hoàn

toàn khác biệt so với các loài Lecane khác có sự tương đồng về hình thái như L arcula,

L aculeata và L superaculeata Trên cơ sở đó, loài Lecane langsenensis đã được chứng

minh và công nhận là loài mới cho khoa học (Trinh-Dang & cs., 2019)

CHƯƠNG 2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Vật liệu nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các loài họ Lecanidae thuộc ngành Trùng bánh xe (Rotifera), giới Động vật (Animalia) Mẫu phân tích được thu tại 61 địa điểm nghiên cứu

là các thủy vực nước ngọt thuộc địa phận các tỉnh: Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam (Hình 2.1) Thời gian thực hiện từ 8/2018 - 7/2020

Hình 2.1 Bản đồ khu vực nghiên cứu

Trang 11

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thu mẫu Trùng bánh xe

Tại mỗi địa điểm nghiên cứu, mẫu Luân trùng được thu bằng vợt thu mẫu sinh vật phù du có kích cỡ mắt lưới 50µm Tại thủy vực, đặt vợt ngập dưới nước cách bề mặt từ 15-20 cm và kéo vợt theo hình số tám hoặc zíc zắc Lưới sau khi được lấy lên khỏi mặt nước được lắc đều để chỉ giữ lại phần động vật có kích thước lớn hơn 50 µm năm phía trong lưới Sau đó, chuyển phần mẫu thu được vào bình đựng mẫu và cố định ngay lập tức với dung dịch formaldehyde 4% (thực hiện bằng cách thêm vào mẫu một lượng dung dịch formaldehyde 38% cho tới khi mẫu đạt 4% formaldehyde)

2.2.2 Phân loại Trùng bánh xe

Phương pháp kiểm tra mẫu chi tiết được thực hiện bằng cách lấy các mẫu phụ (subsamples) Các mẫu phụ được phân chia bằng cách sử dụng các micropipet miệng rộng sau khi đảm bảo mẫu được lắc đều Mỗi mẫu phụ được cho vào buồng đếm thủy tinh có kích thước 50x20x1 mm, và sẽ được quan sát dưới các vật kính 10x và 20x của kính hiển vi Olympus CH30 Mẫu vật Luân trùng được tách ra và cho vào một lam kính, sau đó được nhỏ một giọt glycerine Sau đó, các mẫu vật được chọn được chuyển lên trên một lam kính mới bằng micropipet để phân tích chi tiết hơn Do đó, các mẫu vật có thể được kiểm tra ở độ phóng đại 400 lần mà không dùng lamen Các tài liệu chính được

sử dụng trong việc định loại Trùng bánh xe bao gồm: Koste (1978a, 1978b), Koste & Shiel (1987, 1989a, 1989b, 1990a, 1990b), Shiel & Koste (1992), Nogrady & Pourriot (1995), Segers (1995a, 1995b, 2002a, 2002b), De Smet (1997, 2002), Jose de Paggi (2002), Hollowday (2002), và Radwan & Bielańska-Grajner (2002) Quá trình định loại

sử dụng hệ thống phân loại của Segers (2007b)

2.2.3 Số hóa số liệu trắc sinh học và hình dạng học

Hình ảnh mẫu vật được chụp dưới kính hiển vi quang học BX51 có lắp đặt camera

DP12 Dữ liệu hình ảnh được đo đạc kích thước bằng phần mềm ImageJ (Rasband, 1997) và số hóa các điểm chuẩn loại (landmarks) bằng phần mềm tpsDig (Rohlf, 2010)

2.2.4 Phương pháp phân tích số liệu

Tất cả các phân tích thống kê được tiến hành với phần mềm R, sử dụng một số gói

phân tích chuyên dụng (packages): vegan (Oksanen & cs., 2013), geomorph (Adams & Otárola-Castillo, 2013) và shapes (Dryden, 2014) Phần mềm ứng dụng được viết trên

môi trường R và java

Trang 12

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 Đa dạng loài Trùng bánh xe thuộc họ Lecanidae tại một số tỉnh miền Trung Việt Nam

3.1.1 Thành phần loài

Qua khảo sát các mẫu vật được thu thập tại các thủy vực nước ngọt thuộc các tỉnh: Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam Kết quả nghiên cứu đã ghi nhận 71 loài Luân trùng thuộc họ Lecanidae với tên khoa học được thể hiện tại Bảng 3.1 Tổng số lượng loài ghi nhận được trong nghiên cứu này đạt đến 43,56% trong tổng số 163 loài Luân trùng họ Lecanidae đã được ghi nhận và mô tả trên toàn cầu (Segers, 1995) Đây cũng

là nghiên cứu đầu tiên tập trung vào họ Lecanidae tại Việt Nam, mặc dù vai trò của chúng trong cấu trúc và chức năng của quần xã Luân Trùng đã được đề cập trong các nghiên cứu trước đó

Bảng 3.1 Thành phần loài họ Lecanidae trong các thủy vực nghiên cứu.

1 Lecane abanica Segers, 1994

2 Lecane acanthinula (Hauer, 1938)

3 Lecane aculeata (Jakubski, 1912)

4 Lecane agilis (Bryce, 1892)

5 Lecane arcula Harring, 1914

6 Lecane batillifer (Murray, 1913)

7 Lecane bifurca (Bryce, 1892)

8 Lecane blachei Bērziņš, 1973

9 Lecane bulla (Gosse, 1851)

10 Lecane climacois Harring & Myers,

1926

11 Lecane closterocerca (Schmarda,

1859)

12 Lecane cornuta (Müller, 1786)

13 Lecane crepida Harring 1914

14 Lecane curvicornis (Murray, 1913)

15 Lecane decipiens (Murray, 1913)

16 Lecane donneri Chengalath &

Mulamoottil, 1974

17 Lecane dorysimilis Trinh Dang,

Segers & Sanoamuang, 2015

18 Lecane doryssa Harring, 1914

19 Lecane elsa (Hauer 1931)

20 Lecane eswari Dhanapathi, 1976

21 Lecane furcata (Murray, 1913)

22 Lecane grandis (Murray 1913)

23 Lecane haliclysta Harring & Myers,

1926

24 Lecane hamata (Stokes, 1896)

25 Lecane hastata (Murray 1913)

26 Lecane hornemanni (Ehrenberg,

1834)

27 Lecane inermis (Bryce, 1892)

28 Lecane inopinata Harring & Myers,

1926

29 Lecane isanensis Sanoamuang &

Savatenalinton, 2001

30 Lecane junki Koste, 1975

31 Lecane kunthuleensis Chittapun,

Pholpunthin & Segers, 2003

32 Lecane lateralis Sharma, 1978

33 Lecane leontina (Turner, 1892)

Trang 13

34 Lecane ludwigii (Eckstein, 1883)

35 Lecane luna (Müller 1776)

36 Lecane lunaris (Ehrenberg, 1832)

37 Lecane minuta Segers, 1994

38 Lecane mitis Harring & Myers,

1926

39 Lecane monostyla (Daday, 1897)

40 Lecane namatai Segers & Mertens,

1997

41 Lecane nitida (Murray, 1913)

42 Lecane obtusa (Murray 1913)

43 Lecane papuana (Murray 1913)

44 Lecane paxiana Hauer, 1940

45 Lecane pertica Harring & Myers,

1926

46 Lecane phapi Trinh Dang 2019

47 Lecane punctata (Murray, 1913)

48 Lecane pyriformis (Daday, 1905)

49 Lecane quadridentata (Ehrenberg,

1830)

50 Lecane rhenana Hauer, 1929

51 Lecane rhytida Harring & Myers,

1926

52 Lecane robertsonae Segers, 1993

53 Lecane ruttneri Hauer, 1938

54 Lecane scutata (Harring & Myers,

1926)

55 Lecane signifera (Jennings 1896)

56 Lecane simonneae Segers, 1993

57 Lecane sola Hauer, 1936

58 Lecane spiniventris Segers, 1994

59 Lecane stenroosi (Meissner 1908)

60 Lecane stichoclysta Segers, 1993

61 Lecane subtilis Harring & Myers,

1926

62 Lecane superaculeata Sanoamuang

& Segers

63 Lecane syngenes (Hauer, 1938)

64 Lecane tenuiseta Harring, 1914

65 Lecane thailandensis Segers &

Sanoamuang, 1994

66 Lecane thalera (Harring & Myers,

1924)

67 Lecane thienemanni (Hauer, 1938)

68 Lecane undulata Hauer, 1938

69 Lecane unguitata (Fadeev, 1925)

70 Lecane ungulata (Gosse, 1887)

71 Lecane yatseni Wei & Xu, 20

Ngày đăng: 18/04/2021, 22:12

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w