Hệ nano đa chức năng như vậy sẽ tăng hiệu quả tác động đối với các tế bào ung thư nhất định, giải quyết phần nào yêu cầu của phương pháp hóa trị là phải có tính chọn lọc cao đối với tế b
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
…… ….***…………
LÊ THỊ THU HƯƠNG
Nghiên cứu chế tạo và đánh giá hiệu quả tác động của hệ nano
đa chức năng (polymer-drug-Fe 3 O 4 -folate) lên tế bào ung thư
Chuyên ngành: Vật liệu điện tử
Mã số: 9.44.01.23
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC VẬT LIỆU
Hà Nội – 2018
Trang 2Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học và Công nghệ -
Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học 1: TS Hà Phương Thư
Người hướng dẫn khoa học 2: GS.TSKH Nguyễn Xuân Phúc
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Học viện Khoa học và Công nghệ
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
Trang 3
1
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của luận án
Ngày nay, sự phát triển của khoa học và công nghệ đã đem lại nhiều tiến bộ vượt bậc trong sinh y học nhưng loài người vẫn đang phải đối diện với nhiều loại bệnh nan y, điển hình nhất là bệnh ung thư Hiện nay có rất nhiều thuốc điều trị ung thư trên thị trường Tuy nhiên, nhược điểm lớn nhất của các loại thuốc điều trị ung thư là ít tan trong nước hoặc dễ bị đào thải, tính định hướng chọn lọc không cao và dù ít hay nhiều đều ảnh hưởng không tốt đối với sức khỏe bệnh nhân vì có tác dụng phụ kèm theo như các triệu chứng buồn nôn, tiêu chảy, gây thiếu máu, giảm miễn dịch của cơ thể Nguyên nhân là do phần lớn các phương thức điều trị không chỉ tác động cục
bộ lên khối u mà còn ảnh hưởng đến một bộ phận lớn các mô và cơ quan lành của cơ thể [1]
Để khắc phục những nhược điểm của phương pháp nêu trên, các nhà nghiên cứu đã ứng dụng công nghệ nano, sử dụng vật liệu với kích thước nano mét làm phương tiện dẫn các loại thuốc đặc trị ung thư như Curcumin, Paclitaxel, Doxorubicin… đến khối u một cách an toàn [2–4] Bên cạnh đó vật liệu nano từ đã và đang được nghiên cứu mạnh mẽ nhằm ứng dụng trong sàng lọc tế bào ung thư, chẩn đoán ung thư bằng hình ảnh cộng hưởng từ MRI, nhiệt trị bằng cách làm tăng nhiệt độ vùng khối u khi được đặt trong từ trường, và đặc biệt là dẫn truyền thuốc dưới ảnh hưởng của nam châm [5, 6] Các hạt nano từ và thuốc chống ung thư được bọc bởi các lớp vỏ là các polymer thiên nhiên hoặc polymer tổng hợp … và có thể được gắn thêm một
số yếu tố hướng đích Hệ nano đa chức năng như vậy sẽ tăng hiệu quả tác động đối với các tế bào ung thư nhất định, giải quyết phần nào yêu cầu của phương pháp hóa trị là phải có tính chọn lọc cao đối với tế bào ung thư Lợi ích là: Sử dụng vật liệu này cho phép giảm liều thuốc dùng, giúp người bệnh tránh được các tác dụng phụ không mong muốn; tập trung thuốc vào vị trí khối u, tránh tác động đến tế bào lành [7, 8] Như vậy, có thể sử dụng hạt nano lõi Fe3O4, lớp vỏ bọc là các polime như chitosan biến tính, dextran biến tính, alginate, copolime…, gắn thêm đuôi folate như một phương tiện chuyên chở thuốc Curcumin (Cur) hoặc Doxorubicin (Dox) đến đúng đích là khối u ung thư một cách an toàn Trên thế giới, một số nghiên cứu về hệ nano đa chức năng dùng trong y sinh học, đặc biệt là trong điều trị ung thư đã được
Trang 4Trên cơ sở đó, chúng tôi thực hiện luận án “Nghiên cứu chế tạo và đánh giá hiệu quả tác động của hệ nano đa chức năng (polymer-drug-
Fe 3 O 4 -folate) lên tế bào ung thư”
2 Mục tiêu nghiên cứu của luận án
- Chế tạo được hệ nano đa chức năng gồm: vật liệu kích thước nano Fe3O4(có tính chất từ) được bọc bởi polyme tương thích sinh học, gắn yếu tố hướng đích (folate), mang thuốc (drug) ((Curcumin, Doxorubicin) (tính chất quang)), phân tán tốt trong nước, có khả năng nhắm đích ung thư
- Thử nghiệm và đánh giá được hiệu quả tác động của hệ hạt nano lên các dòng tế bào ung thư như HT29; HeLa; HepG2 và trên động vật thực nghiệm
3 Các nội dung nghiên cứu chính của luận án
- Tổng hợp các vật liệu nano đa chức năng mang thuốc curcumin và doxorubicin trên nền hạt nano Fe3O4 bọc bằng các polime thiên nhiên (O-cacboxylmetyl chitosan và alginate) có gắn yếu tố hướng đích folate
- Xác định đặc trưng của các vật liệu chế tạo được bằng các phương pháp hoá lí hiện đại: FTIR, UV-Vis, phổ huỳnh quang, XRD, VSM, TGA, SEM, TEM…
- Xác định tác động của hệ nano đa chức năng trên các dòng tế bào ung thư: Hep-G2, HeLa, LU-1,… và trên chuột nhắt trắng mang khối u
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
Trong chương này, chúng tôi đã tổng quan các vấn đề liên quan đến việc chế tạo hệ nano đa chức năng và đánh giá hiệu quả tác động của các hệ này lên tế bào ung thư Hệ đa chức năng chứa các thành phần: nano Fe3O4 được bọc bằng polime, mang thuốc (drug) và gắn folate Cụ thể: Tổng quan về tính chất, các phương pháp tổng hợp và ứng dụng của hạt nano Fe3O4 Đặc biệt
Trang 53
đã chỉ rõ các vấn đề cần giải quyết để sử dụng được hạt nano Fe3O4 trong lĩnh vực y sinh; Tính chất và khả năng ứng dụng các loại polime thiên nhiên thường được sử dụng như O-cacboxyl metyl chitosan, alginate, dextran; Đặc trưng tính chất và một số nghiên cứu sử dụng các dược chất: curcumin và Doxorubicin; Phương pháp gắn folate lên hệ hạt nano và hiệu quả hướng đích của tác nhân này
CHƯƠNG 2 ĐIỀU KIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC NGHIỆM 2.1 Tổng hợp vật liệu
Các hệ nano đa chức năng được tổng hợp theo sơ đồ hình 2.1 Trong
đó, lõi hạt nano từ (Fe3O4) được tổng hợp theo phương pháp đồng kết tủa ion
Fe2+ và Fe3+ (với tỉ lệ mol 1:2) trong điều kiện đồng kết tủa thông thường [41] hoặc đồng kết tủa có sử dụng kĩ thuật vi sóng trên thiết bị Sineo-Uwave
1000 Hạt nano Fe3O4 sau đó được bọc bằng OCMCS (1 mg/ml) hoặc alginate với nồng độ khác nhau Trong bước tiếp theo, Curcumin hoặc Doxorubicin được mang lên hệ nhờ tương tác hấp phụ với lõi từ hoặc phản ứng với lớp vỏ polime Cuối cùng hệ mang thuốc đã được tối ưu hóa được lựa chon để gắn thêm yếu tố hướng đích folate hoặc chấm lượng tử CdTe
Hình 2.1: Sơ đồ tổng hợp các hệ dẫn thuốc đa chức năng
2.2 Các phương pháp đặc trưng tính chất của hệ
Tính chất của hệ được xác định bằng các phương pháp hiện đại: Nhiễu
xạ tia X, phổ hồng ngoại, phổ UV-Vis, phổ huỳnh quang, phân tích nhiệt,
Trang 64
hiển vi điện tử quét, hiển vi điện tử truyền qua Hiệu suất, dung lượng mang thuốc và khả năng giải phóng thuốc được xác định bằng phương pháp phổ UV-Vis
Độc tính tế bào của các mẫu được xác định theo phương pháp của Skehan và Likhiwitayawuid [171, 172]
Phương pháp phổ hấp thụ nguyên tử (AAS) được sử dụng để định lượng Fe có trong các mô của chuột
Đánh giá tác động của hệ đa chức năng trên chuột:
Chuột mang u kích thước 7-10 mm được chia thành 4 nhóm, mỗi nhóm
6 con, gồm có: nhóm chứng (chuột có u không điều trị) và các nhóm được điều trị lần lượt bằng FA, FAD, FADF Trong mỗi chu kì điều trị, thuốc được tiêm trực tiếp vào khối u với liều 50 l/con 40 phút sau tiêm, chuột được cố định trong ống nhựa và đưa vào trong cuộn dây của hệ đốt từ RDO-HFI với tần số 178 kHz, cường độ từ trường 90 Oe, thời gian đốt 30 phút/con Hai chu kì liền nhau cách nhau 3 ngày Ghi nhận sự thay đổi kích thước khối u Qua đó đánh giá tác dụng điều trị của hạt nano từ mang Doxorubicin trên mô hình chuột mang khối ung thư phổi
Phương pháp xử lí số liệu: Excel 2010, OriginPro 8 hoặc SPSS 22.0
CHƯƠNG 3 HẠT NANO Fe 3 O 4 BỌC BẰNG OCMCS MANG
CURCUMIN 3.1 Tổng hợp hạt nano Fe 3 O 4
Hạt Fe3O4 đã được tổng hợp thành công theo phương pháp đồng kết tủa (liên kết Fe-O đặc trưng bởi đỉnh hấp thụ tại 575 cm-1
trên phổ hồng ngoại), cấu trúc spinel đảo (phổ XRD), từ độ bão hoà 70,5 emu/g, có tính chất siêu thuận từ với giá trị Mr và Hc 0 và có kích thước trung bình khoảng 15 nm
3.1.2 Hạt nano Fe 3 O 4 tổng hợp bằng kĩ thuật vi sóng
3.1.2.1 Tính chất từ
Từ trễ Mr và lực kháng từ Hc của các mẫu chế tạo được đều 0 chứng
tỏ vật liệu có tính chất siêu thuận từ (bảng 3.1) Vi sóng không làm thay đổi tính chất này của vật liệu Từ độ bão hoà của mẫu M5 là cao nhất so với các mẫu còn lại, đạt 69 emu/g Giá trị này không khác biệt nhiều so với mẫu
Fe3O4 đồng kết tủa trong điều kiện thông thường (70,5 emu/g)
Bảng 3.1: Các thông số từ của các mẫu Fe 3 O 4 tổng hợp bằng kĩ thuật vi sóng
Mẫu M1 M2 M3 M4 M5 M6 M7 M8 M9 M10 M11
Trang 7Giản đồ XRD của mẫu M5 xuất hiện đầy đủ các pic đặc trưng của Fe3O4
và không có pic nào khác chứng tỏ mẫu M5 đã hình thành cấu trúc spinel đơn pha Kết quả này khẳng định M5 là mẫu tốt nhất về cấu trúc pha tinh thể
3.1.2.3 Phổ hồng ngoại
Trên hình 3.4 có thể thấy các mẫu Fe3O4 đều xuất hiện pic đặc trưng cho liên kết Fe-O tại vị trí khoảng 570 cm-1 Tuy nhiên ở một số mẫu xuất hiện thêm pic cường độ thấp hơn ở khoảng 630 cm-1
tương ứng với sự có mặt của thành phần Fe2O3 trong mẫu [174] Phổ đồ này cho thấy M5 là mẫu
có độ tinh khiết cao nhất với chỉ 1 pic đặc trưng và cường độ pic lớn
Như vậy, qua khảo sát từ độ, cấu trúc tinh thể và phổ hồng ngoại, chúng tôi lựa chọn mẫu M5 để thực hiện các nghiên cứu tiếp theo
3.2 Ảnh hưởng của hàm lượng curcumin lên tính chất các hệ mang curcumin (FOC1-FOC5)
Lượng curcumin được thay đổi từ 20 - 100 mg và khảo sát tính chất từ cũng như độ bền của hệ thông qua đo giá trị thế Zeta của hệ Kết quả được trình bày trong bảng 3.2
Bảng 3.2: Kết quả khảo sát hàm lượng curcumin
Thế Zeta của các mẫu FOC1-5 đều có giá trị dương do hạt từ đã được bọc bằng lớp polime O-cacboxylmetyl chitosan với nhiều nhóm chức NH2 trên
bề mặt Xu hướng biến đổi trị số thế Zeta trong các mẫu này tương tự như sự
Trang 86
biến đổi về từ độ bão hoà Các mẫu FOC1-3 có thế lớn hơn 30 mV chứng tỏ các mẫu này có thể duy trì được trạng thái ổn định [170] Trong khi đó, mẫu FOC4 và FOC5 có thế Zeta thấp hơn hẳn (dưới 20 mV)
Do đó, để đảm bảo hệ đa chức năng mang được nhiều thuốc nhất và vẫn giữ được các tính chất từ và độ bền tốt, chúng tôi sử dụng khối lượng curcumin khi chế tạo là 60 mg Khối lượng này cũng được dùng để chế tạo
hệ Fe3O4/OCMCS/Cur/Fol Hàm lượng curcumin thực tế đi vào trong hệ được định lượng theo phương pháp phân tích nhiệt (mục 3.3.4)
3.3 Hệ nano mang curcumin FOC và mang curcumin gắn folate FOCF
So với phổ huỳnh quang của curcumin trong dung môi etanol/nước (tỉ lệ 1:1) với cực đại tại
542 nm, trên phổ của FOC có sự chuyển dịch xanh (chuyển dịch 27nm về phía bước sóng ngắn) có thể giải thích là do có tương tác của phân tử curcumin với Fe3O4/OCMCS Về cường độ, dung dịch FOC phát huỳnh quang yếu hơn hẳn so với curcumin tự do Nguyên nhân là do sự có mặt
Fe3O4 trong mẫu làm giảm khả năng phát huỳnh quang của curcumin [132]
3.3.3 Ảnh hiển vi điện tử quét (FeSEM)
Hình thái học bề mặt của hệ FOC và FOCF được xác định trên ảnh SEM cho thấy kích thước của các hạt này vào khoảng 30 nm, lớn hơn kích thước của hạt Fe3O4 ban đầu (khoảng 20 nm) chứng tỏ rằng curcumin và axit folic đã hấp phụ lên bề mặt của hạt nano Fe3O4
3.3.4 Phân tích nhiệt
Trên đường TGA của FOC và FOCF xuất hiện tương ứng 2 và 3 khoảng
Hình 3.11: Phổ huỳnh quang của FOC và curcumin
Trang 97
mất khối lượng khi tăng nhiệt độ Giai đoạn mất khối lượng trong dải nhiệt
độ từ 360 đến 430oC xuất hiện ở giản đồ phân tích nhiệt của cả 2 mẫu tương ứng với sự phân hủy của OCMCS và curcumin, và do đó, giai đoạn mất khối lượng thứ hai tại 299oC của mẫu FOCF là do axit folic bị chuyển hóa Từ các thông số trên giản đồ phân tính nhiệt có thể xác định được hàm lượng của curcumin và Fe3O4 trong FOC là 45% và 48%, hàm lượng axit folic, curcumin và Fe3O4 trong mẫu FOCF lần lượt là 26%, 25% và 46% Như vậy, dung lượng hấp phụ curcumin tương ứng là 0,95 mg và 0,54 mg/mg Fe3O4trong 2 mẫu FOC, FOCF Dung lượng hấp phụ curcumin của FOCF giảm đi
so với FOC Mặc dù vậy, FOCF vẫn mang được lượng curcumin nhiều hơn
so với các nghiên cứu khác [134, 176, 177] Hình 3.14 mô tả cấu trúc của FOC và FOCF, trong đó curcumin được hấp phụ trên bề mặt của hạt Fe3O4
Hình 3.1: Mô hình cấu trúc hệ FOC và FOCF
3.3.5 Giản đồ nhiễu xạ tia X và tính chất từ
)
(a)Fe3O4 (b) Fe3O4/OCMCS/Cur (c) Fe3O4/OCMCS/Cur/Fol
-80 -60 -40 -20 0 20 40 60 80
-25 -20 -15 -10 -5 0 0.0
0.5 1.0 1.5
Hình 3.15: Giản đồ nhiễu xạ tia X của
(a) Fe 3 O 4 , (b) FOC và (c)
Fe 3 O 4 /OCMCS/Cur/Fol
Hình 3.16: Đường cong từ trễ của (a)
Fe 3 O 4 ,(b) FOC và (c) FOC /Fol tại nhiệt độ
phòng
Giản đồ nhiễu xạ tia X của FOC và FOCF (hình 3.15) xuất hiện các pic tương ứng với 6 mặt phẳng mạng đặc trưng của Fe3O4 là (200), (311), (400),
Trang 108
(422), (511) và (440), chứng tỏ cấu trúc spinel của Fe3O4 không thay đổi trong quá trình dẫn thuốc Các phép đo từ cũng chứng minh hệ nano mang thuốc giữ nguyên được cấu trúc tinh thể (hình 3.10) Từ độ bão hòa của FOC
và FOCF NPs vào khoảng 50 emu/g, thấp hơn 20 emu/g so với Fe3O4 tự do
do sự hấp phụ của curcumin hoặc axit folic lên bề mặt của Fe3O4 Ngoài ra, giá trị từ dư Mr và lực kháng từ Hc của cả 2 hệ đều gần bằng 0 chứng minh tính chất siêu thuận từ của hạt Fe3O4 kích thước dưới 30 nm [169]
3.3.6 Kết quả đốt nóng cảm ứng từ
Kết quả đốt nóng cảm ứng được trình bày trong bảng 3.4 Khi nồng độ oxit sắt từ giảm, cả nhiệt độ bão hòa Ts và tốc độ tăng nhiệt ban đầu dT/dt (xác định tại t=0) đều giảm Nồng độ hạt từ từ 0,3 mg/ml trở lên đều cho nhiệt độ bão hòa lên tới hơn 42oC và cao hơn sau 10 phút
Bảng 3.4: Thông số đốt nóng cảm ứng của các mẫu mang curcumin
nhiệt trị
3.3.9 Độc tính tế bào
Các ảnh chụp huỳnh quang cho thấy sự xâm nhập của curcumin vào bên trong tế bào HT29 (tín hiệu màu xanh) khi ủ với FOC (hình 3.21).Nguyên nhân của tín hiệu màu xanh lục ở đây là do curcumin có khả năng tự phát huỳnh quang khi kích thích bằng laze Agon Ở mẫu đối chứng không xuất hiện tín hiệu này Kết quả này đồng thời chứng tỏ rằng kết hợp curcumin lên hệ mang nano không ảnh hưởng tới khả năng nhập bào của curcumin, hệ nano vẫn đảm bảo đưa được curcumin vào trong tế bào
Trang 119
Curcumin Kết hợp: Đỏ - actine; xanh lam –
nhân; xanh lục – curcumin
Hình 3.21: Ảnh huỳnh quang của tế bào HT29 trong điều kiện bình
thường (control) và trong điều kiện ủ 15 giờ với hệ FOC
3.3.10 Phân bố sinh học
Phân bố của FOC và FOCF trong các cơ quan trên chuột mang khối u Sarcoma 180 được xác định dựa trên hình ảnh giải phẫu các mô này (hình 3.23) Các chấm màu nâu đậm trên ảnh giải phẫu mô là các đám hạt nano
oxit sắt từ bị kết tụ lại với nhau Các nghiên cứu in vivo theo dõi phân bố
sinh học của các mẫu nano Fe3O4 (được chức năng hóa bề mặt khác nhau) trên chuột khỏe mạnh đã chỉ ra rằng các hạt nano từ này sẽ phân bố chủ yếu tại gan và lá lách và chuyển hóa một phần thành các dạng hợp chất không độc khác nhau của sắt dưới tác động của các đại thực bào đơn nhân Sau 14 ngày tiêm nano Fe3O4, dấu vết của các hệ này vẫn còn trong gan nhưng không gây ảnh hưởng đến tế bào gan, sau 58 ngày thì các dấu vết này hoàn toàn biến mất [181] Trong nghiên cứu này, hệ nano FOC và FOCF cũng phân bố đến gan và lách, ngoài ra, trên khối u ghi nhận rõ sự xuất hiện của các hệ này
Hàm lượng FOCF trong khối u Sarcoma 180 (đã được chứng minh có biểu hiện quá mức thụ thể folate [182]) cao hơn nhiều so với FOC sau khi tiêm 2,5 h Sau 5 h, hàm lượng hạt từ có folate vẫn cao hơn hệ không có folate chứng minh tính hướng đích của gốc folate Từ đường cong đốt từ có
Trang 12CHƯƠNG 4: HẠT NANO Fe 3 O 4 BỌC BẰNG ALGINATE MANG
DOXORUBICIN 4.1 Ảnh hưởng của nồng độ alginate đến khả năng mang Dox và các tính chất của hệ đa chức năng
Khác với curcumin, Dox là thuốc tan tốt trong nước Do đó, Dox khó
có thể tương tác với bề mặt kị nước của Fe3O4 Để đưa Dox lên hệ đa chức năng, cần phải gắn kết Dox với bề mặt hạt bằng liên kết hoá học Nghiên cứu
đã chỉ ra rằng lớp vỏ polime là yếu tố quyết định đến khả năng mang Dox của hạt nano Fe3O4 [143]
4.1.1 Phổ hồng ngoại và phổ huỳnh quang
Liên kết Fe-O của Fe3O4 trong các mẫu FA4, FA10, FA4D được đặc trưng bởi các pic trong vùng 570 cm-1 So với Fe3O4 nguyên chất (575 cm-1
),
số sóng của dao động Fe-O trong các mẫu bọc alginate giảm đi (lần lượt là
566, 574 và 563 cm-1 trên phổ của FA4, FA10, FAD) chứng tỏ quá trình bọc polime alginate lên bề mặt hạt từ Fe3O4 đã thực hiện được Bên cạnh đó, sự chuyển dịch về số sóng đặc trưng cho các liên kết hữu cơ chứng tỏ Doxorubicin đã được mang lên hệ hạt nano Hình 4.2 là phổ huỳnh quang của FA4D so với Dox tự do Liên kết
hóa học giữa Dox và hạt nano từ có thể
được khẳng định bằng sự thay đổi vị trí
đỉnh huỳnh quang của mẫu FA4D
(chuyển dịch 17 nm so với Dox tự do)
[132] Hơn nữa, cường độ huỳnh
quang của FA4D giảm mạnh có thể là
do hiệu ứng dập tắt huỳnh quang của
Fe3O4 có mặt trong mẫu [183]
Hình 4.2: Phổ huỳnh quang của Dox và FA4D (cùng nồng độ Dox)
Trang 1311
4.1.2 Dung lượng thuốc (LC) và hiệu suất mang thuốc (EE)
Dung lượng mang thuốc của các mẫu được trình bày trong bảng 4.1 Các dữ kiện cho thấy nồng độ alginate là yếu tố quan trọng tác động tới hiệu suất mang Dox Nồng độ alginate càng cao, khả năng mang Dox càng lớn Hiện tượng này có thể được giải thích do sự hình thành liên kết giữa Dox và alginate trên bề mặt của hạt nano Fe3O4 Tuy vậy, do hàm lượng alginate tăng từ FA2D đến FA10D, khối lượng cả hệ tăng nên dung lượng thuốc không tăng một cách liên tục Dung lượng thuốc trong hệ đạt giá trị cực đại ở mẫu FA4D, do đó chúng tôi lựa chọn mẫu này cho thử nghiệm sinh học
Bảng 4.1: Giá trị EE và LC
EE (%) 61,2±0,5 78,5±0,3 85,0±0,9 87,2±0,8 90,8±0,7
LC (%) 17,9±0,2 19,0±0,1 17,5±0,2 15,6±0,1 14,4±0,1
4.1.3 Phân bố kích thước và ảnh TEM của hệ
Dải phân bố kích thước hạt của hệ nano xác định bằng phổ DLS phụ thuộc rất nhiều vào nồng độ alginate Trước khi mang thuốc Dox, hạt Fe3O4bọc bằng alginate FA4 và FA8 có kích thước thuỷ động là 18 nm và 91 nm Nồng độ cao của alginate ở mẫu FA8 tạo ra lớp vỏ bọc dày hơn và mở rộng kích thước thuỷ động của hạt do tính ưa nước của alginate Mang Dox trong
hệ mẫu FA4D và FA8D làm tăng rõ rệt kích thước hạt trong dung dịch (tương ứng là 255 và 480 nm), đồng thời dải phân bố kích thước cũng trở nên rộng hơn so với FA4 và FA8
Tương ứng với lượng thuốc Dox, FA8D chứa nhiều Dox hơn FA4D nên sự tăng kích thước cũng nhiều hơn so với FA4D Hệ FA4D có kích thước thích hợp hơn so với FA8D cho các ứng dụng y sinh Ảnh TEM cho thấy kích thước hạt thay đổi từ 6 đến 13 nm, kích thước trung bình vào khoảng 9,3 nm tương ứng với kích thước tính được từ phương pháp nhiễu xạ tia X (Hình 4.5) theo phương trình Scherrer (D=K/(cos)8 nm [161]
4.1.4 Giản đồ nhiễu xạ tia X (XRD) và tính chất từ