Đã có nhiều nghiên cứu về nguồn lợi cá trong các hệ sinh thái ven bờ làm cơ sở đề xuất các giải pháp quản lý, tuy nhiên các nghiên cứu thường tập trung đánh giá cơ cấu ngành nghề khai th
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Trang 2MỞ ĐẦU
Trên thế giới công tác quản lý nghề cá ngày càng tập trung vào việc bảo vệ các hệ sinh thái cũng như các nhóm nguồn lợi cá riêng rẽ Ý tưởng đầu tiên về quản lý nghề cá dựa vào hệ sinh thái được đề cập trong tuyên
bố Stockholm từ năm 1972, nhưng mãi đến năm 2003, FAO mới chính thức xuất bản ấn phẩm có nội dung về cách tiếp cận hệ sinh thái trong quản lý nghề cá (Ecosystem Approach to Fisheries-EAF) hay quản lý nghề cá dựa vào hệ sinh thái (Ecosystem-Based Fishery Management-EBFM) Đây là phương thức quản lý mới và hiệu quả Một trong những
khái niệm được đưa vào sử dụng là liên kết sinh thái Sheaves (2009) định nghĩa liên kết sinh thái là hiện tượng di chuyển của sinh vật từ sinh cư này
đến sinh cư khác theo mùa vụ để hoàn thành vòng đời của chúng Với cách tiếp cận quản lý nghề cá dựa trên hệ sinh thái thì hiểu biết về liên kết sinh thái của các đối tượng nguồn lợi sẽ tăng cường khả năng quản lý các
hệ sinh thái và đồng thời cũng nhấn mạnh rằng trong một khu bảo tồn biển nhất thiết phải bao gồm nhiều sinh cư
Vùng ven bờ Việt Nam có sự phân bố của các hệ sinh thái đặc thù của vùng nhiệt đới như rạn san hô, rừng ngập mặn và thảm cỏ biển Tương tự như nhiều quốc gia khác trên thế giới, tình trạng suy thoái các hệ sinh thái
và giảm sút nguồn lợi ven bờ đã và đang diễn ra với tốc độ nhanh ở nhiều nơi trong vài thập kỷ trở lại đây Nguyên nhân là do hoạt động khai thác quá mức cùng với sự thiếu hiểu biết về các hệ sinh thái biển cũng như chỉ quan tâm đến lợi ích trước mắt mà không chú ý đến hậu quả sinh thái lớn
về lâu dài Đã có nhiều nghiên cứu về nguồn lợi cá trong các hệ sinh thái ven bờ làm cơ sở đề xuất các giải pháp quản lý, tuy nhiên các nghiên cứu thường tập trung đánh giá cơ cấu ngành nghề khai thác, năng suất, sản lượng, các nhóm loài nguồn lợi chính và sự thay đổi nguồn lợi dưới tác động của con người Trong những năm gần đây cũng đã có một số vùng biển áp dụng cách tiếp cận quản lý nghề cá dựa vào hệ sinh thái như Phú Quốc hay một số sinh cư ven bờ ở Biển Đông, tuy nhiên cách tiếp cận này vẫn chưa phổ biến do vẫn còn thiếu cơ sở khoa học, đặc biệt là các dữ liệu
về mối liên kết sinh thái hay di truyền quần thể của các đối tượng nguồn lợi Chính vì vậy mà nhiều văn bản quản lý nghề cá hiện nay chủ yếu là qui định kích thước cá khai thác, kích thước mắc lưới hay mùa vụ khai thác (không trùng với mùa vụ sinh sản), cấm khải thác bằng các nghề hủy
Trang 3diệt chứ hầu như chưa có các qui định rõ ràng, cụ thể về việc bảo vệ các bãi đẻ, bãi ương dưỡng hay các sinh cư đóng vai trò quan trọng trong vòng đời của những đối tượng nguồn lợi quan trọng
Vùng biển ven bờ Quảng Nam-Đà Nẵng có sự phân bố đa đạng của các hệ sinh thái biển đặc thù như vùng đáy mềm, thảm cỏ biển, rạn san hô, cửa sông, rừng ngập mặn tuy nhiên hiện nay các hệ sinh thái này cũng đang chịu áp lực lớn từ hoạt động khai thác nguồn lợi quá mức và khai thác bằng các ngư cụ mang tính hủy diệt của con người Việc bảo vệ và quản lý nguồn lợi vùng biển ven bờ Quảng Nam-Đà Nẵng ở phạm vi từng
hệ sinh thái riêng rẽ đã và đang gặp nhiều khó khăn do việc phân chia ranh giới quản lý trên biển chỉ dựa vào các đặc điểm địa lý, hành chính hơn là các đặc điểm sinh thái, sinh học, hơn nữa việc xác định ranh giới giữa các vùng biển hiện nay vẫn chưa thật rõ ràng Do đó, nghiên cứu về đặc trưng nguồn lợi cá và liên kết sinh thái của các đối tượng nguồn lợi trong vùng biển ven bờ Quảng Nam-Đà Nẵng là cơ sở khoa học vững chắc để đề xuất các giải pháp quản lý nghề cá dựa trên hệ sinh thái tại
vùng biển này, chính vì vậy chúng tôi thực hiện luận án: “Nguồn lợi cá trong các hệ sinh thái ở vùng biển ven bờ Quảng Nam-Đà Nẵng”
Mục tiêu nghiên cứu:
Cung cấp bộ tư liệu tương đối đầy đủ về hiện trạng khai thác và đặc trưng nguồn lợi cá cũng như mối liên quan về nguồn lợi giữa các hệ sinh thái, làm cơ sở đề xuất các giải pháp quản lý nghề cá trong vùng biển ven
bờ Quảng Nam – Đà Nẵng
Nội dung nghiên cứu:
1 - Đặc trưng cơ bản của các hệ sinh thái và nguồn lợi cá liên quan
2 - Phân tích và so sánh đặc trưng nguồn lợi cá giữa các hệ sinh thái
3 - Liên kết sinh thái của quần thể cá Dìa công Siganus guttatus trong
các sinh cư ven bờ
4 - Phân tích các tác động và bất cập trong khai thác và quản lý nghề cá hiện nay
5 - Đề xuất các giải pháp quản lý và sử dụng hợp lý nguồn lợi cá liên quan đến các hệ sinh thái
Trang 4Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của nghiên cứu:
Cung cấp đầy đủ các dẫn liệu về nguồn lợi cá, trên cơ sở đó đề xuất được các nhóm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng nguồn lợi cá ở trong các hệ sinh thái vùng biển ven bờ Quảng Nam-Đà Nẵng
ĐIỂM MỚI CỦA LUẬN ÁN
1 Luận án được xem là công trình tổng hợp và phân tích đầy đủ nhất
về các đặc trưng hệ sinh thái, tính đa dạng loài và hiện trạng khai thác nguồn lợi cá liên quan đến các hệ sinh thái ở vùng biển ven bờ Quảng Nam-
Đà Nẵng
2 Đáng chú ý, là công trình đầu tiên và duy nhất cho đến nay nghiên
cứu và phát hiện có sự liên kết quần thể của nguồn lợi cá Dìa công (Siganus guttatus) giữa các hệ sinh thái thông qua phát thảo vòng đời từ con non đến
con trưởng thành, trong đó nguồn lợi con giống ở vùng cửa sông Thu Bồn
và các cá thể trưởng thành trên rạn san hô ở Đà Nẵng và Cù Lao Chàm là cùng một quần thể
3 Là công trình đầu tiên đề xuất các giải pháp quản lý nghề cá dựa vào hệ sinh thái cho vùng biển ven bờ Quảng Nam-Đà Nẵng
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tình hình nghiên cứu nguồn lợi cá
1.1.1 Trên thế giới
1.1.1.1 Nguồn lợi và hiện trạng khai thác
Các nghiên cứu nguồn lợi cá trên thế giới chủ yếu tập trung vào hiện
trạng khai thác, gồm có các hướng chính sau: (1) Thống kê sản lượng, ước tính trữ lượng và biến động nguồn lợi cá biển từng khu vực, (2) Các nhóm loài nguồn lợi chính, (3) Sinh học các đối tượng nguồn lợi và (4) Quản lý nghề cá
Trong các hướng nghiên cứu trên, thống kê sản lượng và ước tính trữ lượng là một trong những hướng nghiên cứu nguồn lợi cá chủ đạo, được thực hiện để đánh giá hiện trạng khai thác nguồn lợi cá biển từng khu vực
để từ đó đưa ra các so sánh hay dự báo, cảnh báo xu hướng nghề cá thế giới nhằm đảm bảo nguồn lợi được khai thác hợp lý Các phương pháp thường được sử dụng trong nghiên cứu trữ lượng là phương pháp thủy âm, phương
Trang 5pháp diện tích kéo lưới, phương pháp qui đổi năng suất đánh bắt hoặc phương pháp thiết lập mối quan hệ giữa sản lượng và năng suất sinh học
Bên cạnh hướng nghiên cứu Thống kê sản lượng, ước tính trữ lượng và biến động nguồn lợi cá, hướng nghiên cứu Các nhóm loài nguồn lợi chính
cũng nhận được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học Các nghiên cứu
Thống kê sản lượng, ước tính trữ lượng và biến động nguồn lợi cá và Các nhóm loài nguồn lợi chính được thực hiện nhằm đưa ra các chính sách Quản lý nghề cá sao cho khai thác hợp lý, đảm bảo nguồn lợi được phát
triển bền vững Hiện nay, công tác quản lý ngày càng tập trung vào việc bảo
vệ các hệ sinh thái cũng như các nhóm nguồn lợi cá riêng rẽ
1.1.1.2 Liên kết sinh thái
Ý tưởng quản nghề cá dựa trên hệ sinh thái đã có từ những năm 1972 nhưng mãi đến năm 2003 FAO mới chính thức xuất bản cách tiếp cận hệ sinh thái trong quản lý nghề cá Một trong những nguồn dữ liệu quan trọng làm cơ sở cho cách tiếp cận này chính là hiểu biết về mối liên hệ vòng đời của các đối tượng nguồn lợi trong các hệ sinh thái-liên kết sinh thái (Ecological connectivity)
Nghiên cứu sự di cư của các loài cá có vòng đời liên quan đến các sinh
cư ven bờ như rạn san hô, thảm cỏ biển và rừng ngập mặn,… có ý nghĩa rất quan trọng trong việc tìm ra môi trường sống cần thiết của cá cũng như sự liên kết sinh thái của các đối tượng nguồn lợi Vai trò của rạn san hô, thảm
cỏ biển và rừng ngập mặn khác nhau theo từng giai đoạn phát triển cá thể trong vòng đời của chúng Vài loài cá liên quan đến rạn san hô di cư đến bãi
đẻ vùng ven bờ, nơi chúng phát tán trứng vào môi trường nước, thường thì phía đầu ra của rạn (phía hướng biển) sau đó trứng và ấu trùng trôi nổi vào vùng nước nông định cư trên thảm cỏ biển, các lạch nước trong rừng ngập mặn Nghiên cứu liên kết sinh thái giữa rạn san hô và thảm cỏ biển ở khu bảo tồn biển Karimunjawa (Indonesia) (2012) cho biết có 66/212 loài cá chia làm 4 nhóm sinh thái: cá thảm cỏ biển, cá ương dưỡng, cá phân bố rộng và cá rạn san hô Cá rạn san hô và cá ương dưỡng được tìm thấy trên rạn san hô và có sự chuyển đổi giữa hai sinh cư rạn san hô và thảm cỏ biển
Cá phân bố rộng có mật độ giảm dần từ rạn san hô đến thảm cỏ biển Honda
và cs (2013) nghiên cứu liên kết sinh thái của các loài cá trong các hệ sinh thái ven bờ ở Phillipine từ năm 2010-2012 cho thấy, có đến 85,6% số loài
cá sử dụng 2 sinh cư trong vòng đời, vài loài sử dụng nhiều sinh cư như cá
Hồng (Lutjanus monostigma) hay cá Phèn hồng (Parupeneus barberinus)
Trang 6sử dụng cả 3 sinh cư rạn san hô, thảm cỏ biển và rừng ngập mặn trong vòng đời của chúng
Trong nghiên cứu liên kết sinh thái thì di truyền quần thể là công cụ thường được sử dụng để xác định mối liên kết quần thể Trong vài thập kỷ trở lại đây, sự tiến bộ trong nghiên cứu di truyền phân tử đã có ảnh hưởng không nhỏ đến nghiên cứu di truyền quần thể, góp phần giải quyết vấn đề
về quản lý nguồn lợi
1.1.2 Ở Việt Nam
Thống kê những công trình nghiên cứu về nguồn lợi cá biển ở Việt Nam
có thể thấy rằng có các hướng nghiên cứu sau:
- Tìm hiểu ngư trường, xác định năng suất, sản lượng, trữ lượng và khả năng khai thác bằng các phương pháp như: thủy âm đối với cá nổi nhỏ, diện tích kéo lưới (được sử dụng rộng rãi nhất) và qui đổi năng suất đánh bắt,…
- Phân bố và biến động số lượng cá trong mối quan hệ với một số đặc trưng môi trường, biến động về năng suất và thành phần loài cá đánh bắt được
- Sinh học các loài cá kinh tế và cơ sở khoa học khai thác hợp lý
- Đánh giá hiện trạng nguồn lợi cá dưới tác động của tự nhiên và con người
- Đánh giá tổng hợp về nguồn lợi, tình hình khai thác cá ở các thủy vực khác nhau và đưa ra danh sách thành phần loài cá thuộc vùng biển Việt Nam
Có thể thấy hiện nay phần lớn các nghiên cứu chỉ tập trung đánh giá chung về các loại nguồn lợi, một số công trình nghiên cứu nguồn lợi nhưng hầu như chỉ mới liệt kê thành phần loài và nêu một vài nhận xét về các loại nguồn lợi chung Mặc dù cũng có một số nghiên cứu đã được tiến hành cho từng đối tượng nguồn lợi riêng rẽ, tuy nhiên các kết quả này chủ yếu tập trung vào việc đánh giá năng suất và sản lượng khai thác của các đối tượng
cá nổi nhỏ trong toàn vùng biển
Nghiên cứu về các hệ sinh thái biển ở Việt Nam được quan tâm muộn hơn
so với các nghiên cứu về nguồn lợi và chỉ thực sự được điều tra, nghiên cứu
từ sau ngày miền Bắc hoàn toàn giải phóng (1954) Sau khi nhận thức được vai trò quan trọng của các hệ sinh thái, đặt biệt là các hệ sinh thái ven bờ như rừng ngập mặn, rạn san hô và thảm cỏ biển thì các nghiên cứu về nguồn lợi cá trong các hệ sinh thái cũng được quan tâm Tuy nhiên các nghiên cứu này chủ yếu là ghi nhận sự có mặt của một số đối tượng cá kinh tế, phân
Trang 7tích tính đa dạng loài, thời gian gần đây bắt đầu đề cập đến hiện trạng khai thác và đánh giá mức độ suy giảm nguồn lợi và những giải pháp để sử dụng bền vững, chưa thấy các nghiên cứu đầy đủ về nguồn lợi cá (các đối tượng nguồn lợi chính, sản lượng, năng suất đánh bắt, mùa vụ khai thác, phân bố,…) trong các hệ sinh thái Đặc biệt cho đến nay hầu như chưa thấy công trình nghiên cứu nào đề cập đến liên kết sinh thái (Ecological connectivity) của nguồn lợi cá trong các sinh cư ven bờ tại Việt Nam
- Vùng biển ven bờ Quảng Nam-Đà Nẵng
Vùng biển ven bờ Quảng Nam – Đà Nẵng có 3 vùng khai thác chính là vùng biển Cù Lao Chàm, cửa sông Thu Bồn và biển Đà Nẵng Quần đảo
Cù Lao Chàm thuộc xã đảo Tân Hiệp, thành phố Hội An, Quảng Nam gồm 8 đảo nằm cách cửa sông Thu Bồn 15 km Vùng biển Đà Nẵng có chiều dài bờ biển 89 km, tiếp giáp với phía Bắc quần đảo Cù Lao Chàm Tại vùng biển này các nghiên cứu về nguồn lợi cá chỉ dừng lại ở mức đánh giá hiện trạng khai thác và liệt kê các nhóm loài nguồn lợi chính ở từng khu vực mà chưa có các nghiên cứu về đặc trưng nguồn lợi và liên
hệ sinh thái trong vùng biển
1.2 Đặc điểm khí hậu, thủy văn, địa hình và trầm tích vùng biển ven
bờ Quảng Nam và Đà Nẵng
Khu vực Đà Nẵng-Quảng Nam có khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ cao và ít biến động, là khu vực chuyển tiếp của khí hậu miền Bắc và khí hậu miền Nam Nhiệt độ trung bình năm 25-26,9 oC, mùa đông nhiệt độ vùng đồng bằng có thể xuống dưới 20oC, mùa hè có thể trên 30oC Độ ẩm trung bình khoảng 83,4-84% Mỗi năm có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 8 đến tháng 12, mưa tập trung từ tháng 10-11; và mùa khô từ tháng 1 đến tháng 7 Đặc điểm nổi bật của khí hậu ở đây là sự chuyển dịch mưa lớn sang cuối Thu, đầu mùa Đông Lượng mưa trung bình năm khoảng 2800-3000 mm/năm; lượng mưa cao nhất vào các tháng 10, 11 trung bình 550-1000 mm/tháng; thấp nhất vào các tháng 1, 2, 3, 4 trung bình từ 20-40 mm/tháng
CHƯƠNG 2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Nguồn lợi cá và tình hình quản lý, khai thác sử dụng
Trang 82.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận án tập trung vào 3 hệ sinh thái chính trong vùng biển ven bờ từ Đà Nẵng đến Quảng Nam, đó là: vùng ven bờ Đà Nẵng (bao gồm bán đảo Sơn Trà và vịnh Đà Nẵng), quần đảo Cù Lao Chàm và cửa sông Thu Bồn
2.3 Thời gian thực hiện
Luận án được thực hiện từ tháng 02/2011 đến tháng 9/2016
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Nghiên cứu đặc trưng cơ bản của các hệ sinh thái và nguồn lợi cá liên quan
2.2.1.1 Đặc điểm sinh cư (habitat)
Đặc điểm sinh cư và đặc trưng các hệ sinh thái được luận án tổng hợp từ các nghiên cứu của các tác giả
2.2.1.2 Thành phần loài cá
Xây dựng danh lục thành phần loài cá tại vùng biển nghiên cứu từ hai nguồn: từ nguồn tài liệu thứ cấp và từ kết quả khảo sát nghiên cứu bổ sung thành phần loài cá của chính tác giả
- Tổ chức khảo sát thu mẫu cá
Thu mẫu vật trực tiếp từ tất cả các loại nghề khai thác tại điểm lên cá của các tàu đánh bắt
* Định loại cá
- Việc định loại cá dựa vào đặc điểm hình thái theo các tài liệu của: Nguyễn Khắc Hường (2001), Nguyễn Khắc Hường và Trương Sĩ Kỳ (2007), Vương Dĩ Khang (1963), Nguyễn Văn Lục và cs (2007) Đỗ Thị Như Nhung (2007), Nguyễn Nhật Thi (2000, 2008), Nguyễn Hữu Phụng (2001), Allen và cs (1997, 2003), Carpenter và Niem (1999a; 1999b; 2001a; 2001b), Kuiter và Helmut (2007), Kuiter & Tonozuka (2001), Matsuura &
cs (2000), Kimura và Matsuura (2003), Matsuura và Kimura (2005), Nakabo (2002), Randall và cs (1990), 沈世杰 (Shen) (1993)
2.2.1.3 Đặc trưng nguồn lợi cá
Thông tin về nguồn lợi được thu thập bằng phương pháp "Điều tra nguồn lợi vùng bờ có sự tham gia của cộng đồng" (Walters và cs., 1998), kết hợp với khảo sát thu mẫu thực địa
- Khảo sát thực địa
+ Thu mẫu xác định nguồn lợi chính
Trang 9Từ danh sách nguồn lợi chính có được từ kết quả tham vấn cộng đồng sẽ tiến hành xác định tên loài bằng cách đi cùng ngư dân thu mẫu tại điểm lên
cá
+ Thu mẫu nguồn giống và xác định bãi giống
Xác định bãi giống cá dựa vào thông tin tham vấn ngư dân và thuê ghe cùng với ngư dân đến khu vực khai thác giống, xác định tọa độ ranh giới bãi giống bằng máy định vị Garmin GPS map 76CSx
Thu thập mẫu nguồn giống tại vùng vịnh Đà Nẵng, cửa sông Thu Bồn là các loài thuộc họ cá Mú (Serranidae), cá Hồng (Lutjanidae) và cá Dìa (Siganidae)
2.2.2 Phân tích và so sánh đặc trƣng nguồn lợi cá giữa các hệ sinh thái
2.2.2.1 Phân tích chỉ số đa dạng sinh học
Phân tích cấu trúc của các khu hệ cá thông qua các chỉ số đa dạng bằng phần mềm Primer 6.0 Chỉ số giống nhau (Similarity index) theo công thức của Bray-Curtis (1957) Độ giàu có loài theo Margalef (1958) Chỉ số tương đồng Sorensen, 1948 (Ks) Phân tích PCA (Principal component analysis) bằng phần mềm CANOCO ver 4.5
2.2.2.2 Phân tích đặc tính sinh thái
Phân chia các nhóm sinh thái cá dựa theo tính thích nghi về độ mặn và theo môi trường sống của Froese và Pauly (2015)
2.2.2.3 Đặc trưng nguồn lợi
Phân tích, so sánh, đánh giá đặc điểm một số nguồn lợi cá khai thác tại 3
hệ sinh thái trong vùng biển nghiên cứu và thu mẫu tìm hiểu hiện trạng kích thước một số nhóm cá liên quan đến các sinh cư ven bờ
2.2.3 Nghiên cứu liên kết sinh thái
2.2.3.1 Thu mẫu nghiên cứu cấu trúc kích thước cá Dìa công (Siganus guttatus)
Tổng số cá thể đo được là 3.878 con cá Dìa công tại 3 vùng biển Cù Lao Chàm, cửa sông Thu Bồn và Đà Nẵng
2.2.3.2 Thu mẫu phân tích ADN
Đã tiến hành thu 35 mẫu cá Dìa công tại 3 vùng biển trên vào năm 2014
để phân tích ADN
- Phân tích ADN
Mẫu vây cá được gửi đến Trung tâm đa dạng sinh học biển Đại học Université Montpellier II, France phân tích
Trang 10(MARBEC)-2.2.4 Tài liệu về hiện trạng khai thác
Nguồn số liệu về số lượng tàu thuyền và công suất máy, sản lượng khai thác hàng năm được thu thập từ báo cáo của các cơ quan quản lý chuyên ngành địa phương Ngoài ra, thông tin về hiện trạng khai thác được tác giả thu thập qua tham vấn cộng đồng và các đợt khảo sát thực địa tại vùng biển nghiên cứu
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA CÁC HỆ SINH THÁI VÀ NGUỒN LỢI CÁ LIÊN QUAN
3.1.1 Đà Nẵng
3.1.1.1 Đặc điểm sinh cư
Rạn san hô vùng biển Đà Nẵng có diện tích không lớn, có 191 loài san
hô cứng tạo rạn, diện tích khoảng 104,6 ha Thảm cỏ biển duy nhất phân bố
ở Bãi Nồm (vùng biển phía Nam bán đảo Sơn Trà) với diện tích hơn 10 ha
Các thảm rong biển thành phần ưu thế là các giống rong mơ Sargassum và Rosenvingea ước tính 26,2 ha
Có thể nói vùng biển Đà Nẵng có sự đa dạng các sinh cư ven bờ nhiệt đới nhưng các sinh cư này không đóng vai trò then chốt trong việc tạo ra năng suất sinh học cho vùng biển Đà Nẵng mà phụ thuộc vào sức sản xuất của hai cửa sông Hàn và sông Cu-Đê, các vùng đáy cát và đáy bùn sét trong vịnh Đặc trưng sinh thái vùng biển Đà Nẵng chính là vùng vịnh đáy mềm,
sự có mặt các sinh cư rạn san hô và thảm cỏ biển làm cho vùng vịnh có tính
đa dạng cao về mặt sinh thái
3.1.1.2 Thành phần loài cá
Kết hợp thành phần loài cá của các đợt khảo sát bổ sung và danh mục loài của các tác giả đã công bố trước đây ở vùng biển này, luận án tổng hợp được thành phần loài cá vùng ven biển Đà Nẵng bao gồm 425 loài thuộc
230 giống, 95 họ và 18 bộ Kết quả của các đợt khảo sát của luận án đã bổ sung cho vùng ven biển Đà Nẵng 29 loài, 24 giống, 20 họ và 7 bộ
3.1.1.3 Đặc trưng nguồn lợi cá
a Nguồn lợi cá thương phẩm
Có 18 loài cá trong 6 họ được cho là nguồn lợi chính đối với cộng đồng ngư dân Đà Nẵng Theo thứ tự giá trị kinh tế: nhóm cá hố đem lại thu nhập cao nhất, sau đó đến lạc, cá cơm, cá khế, cá thu, cá ngừ và cá dìa, giò (Bảng
Trang 113.1) Riêng cá Dìa công trước đây 8-10 năm là nguồn lợi quan trọng có ý nghĩa với ngư dân Đà Nẵng (Võ Sĩ Tuấn, 2002), tuy nhiên những năm gần đây sản lượng đối tượng này đã bị suy giảm
Bảng 3.1 Thành phần nguồn lợi chính ở vùng biển ven bờ Đà Nẵng
1 Muraenesox bagio (Hamilton, 1822) Cá Dưa thường
2 Encrasicholina heteroloba (Rüppell, 1837) Cá Cơm mõm nhọn
3 Encrasicholina punctifer Fowler, 1938 Cá Cơm đỏ
4 Stolephorus commersonnii Lacepède, 1803 Cá Cơm thường
5 Atule mate (Cuvier, 1833) Cá Tráo
6 Caranx ignobilis (Forsskål, 1775) Cá Khế vây vàng
7 Decapterus kurroides Bleeker, 1855 Cá Nục đỏ
8 Decapterus macrosoma Bleeker, 1851 Cá Nục thuôn
9 Decapterus maruadsi (Temminck & Schlegel, 1843) Cá Nục sò
10 Siganus canaliculatus (Park, 1797) Cá Dìa cana
11 Siganus fuscescens (Houttuyn, 1782) Cá Dìa trơn
12 Siganus guttatus (Bloch, 1787) Cá Dìa công
13 Trichiurus lepturus Linnaeus, 1758 Cá Hố hột
14 Auxis rochei (Risso, 1810) Cá Ngừ ồ
15 Rastrelliger kanagurta (Cuvier, 1816) Cá Bạc má Ấn Độ
16 Scomberomorus commerson (Lacepède, 1800) Cá Thu vạch
17 Scomberomorus guttatus (Bloch & Schneider,1801) Cá Thu chấm
18 Thunnus tonggol (Bleeker, 1851) Cá Ngừ bò
Ước tính sản lượng và doanh thu của nguồn lợi chính năm 2011 cho thấy, nguồn lợi từ cá hố và cá lạc đem lại doanh thu lớn nhất, sau đó là cá nục, cá cơm, cá thu, ngừ và nhóm cá dìa (Bảng 3.2)
Trang 12Bảng 3.2 Ước tính sản lượng và doanh thu của nguồn lợi chính vùng biển ven bờ ĐN năm 2011
b Nguồn giống
Có 7 loài được ngư dân khai thác để bán cho các hộ nuôi cá thương phẩm (Bảng 3.3)
Bảng 3.3 Thành phần loài cá giống được khai thác ven bờ Đà Nẵng
TT Tên khoa học Tên
tiếng Việt
1 Epinephelus awoara (Temminck & Schlegel, 1842) Cá Song gio
2 Epinephelus coioides (Hamilton, 1822) Cá Mú mè
3 Epinephelus malabaricus (Bloch & Schneider, 1801) Cá Mú điểm gai
4 Epinephelus trimaculatus (Valenciennes, 1828) Cá Mú sao
5 Siganus guttatus (Bloch, 1787) Cá Dìa công
6 Lutjanus johnii (Bloch, 1792) Cá Hồng vảy ngang
7 Lutjanus russellii (Bleeker, 1849) Cá Hồng chấm đen
Trang 13Kết quả khảo sát kích thước cá cho thấy cá giống được khai thác vùng rạn san hô ven bờ Đà Nẵng có chiều dài khác nhau tùy loài dao động từ 44-
148 mm Nhóm có chiều dài lớn nhất là cá Mú sọc ngang đen (Epinephelus fasciatus), với chiều dài trung bình 142 mm Con giống cá Dìa công thu
được có chiều dài nhỏ nhất là 60 mm, trung bình 85 mm, nhóm kích thước 90mm chiếm ưu thế, cá thể lớn nhất thu được có kích thước 140 mm Kết quả tham vấn cộng đồng và khảo sát kích thước đều chưa thấy nhóm cá Dìa công hay cá mú, cá hồng kích thước nhỏ cỡ cá bột hay cá hương (dưới 40 mm) ở vùng biển Đà Nẵng
3.1.2 Cù Lao Chàm
3.1.2.1 Đặc điểm sinh cư
Rạn san hô là môi trường sống quan trọng và phổ biến nhất tại khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm Có tổng cộng 277 loài san hô cứng tạo rạn diện tích ước tính khoảng 311,2 ha Bên cạnh các rạn san hô phân bố khá rộng vùng biển Cù Lao Chàm còn được đặc trưng bởi sự tồn tại của nhiều rạn đá ngầm
ở vùng nước sâu từ 25-40 m mà trên đó có nhiều san hô không tạo rạn Ở khu vực Đá Trắng và Mũi Thờ có các rạn đá ngầm với diện tích khoảng 6
ha (Nguyễn Văn Long và cs., 2008)
Thảm cỏ biển chỉ phân bố tại bờ phía Tây của đảo Cù Lao Chàm, có 5
loài cỏ biển trong đó loài cỏ lá xoan Halophila được xem là phổ biến nhất
Tổng diện tích cỏ biển là 50 ha
Các thảm rong biển gồm 76 loài thuộc 4 ngành rong, trong đó
Sargassum và Rosenvingea được xem là môi trường sống quan trọng đối với cá, đặc biệt là cá dìa (rabbitfish) Ứớc tính có khoảng 10 tấn Sargassum
khô trên tổng số 8 thảm rong biển tại Cù Lao Chàm
Có thể so sánh diện tích phân bố các sinh cư ven bờ của Cù Lao Chàm với Đà Nẵng qua Bảng 3.4
Bảng 3.4 Diện tích phân bố các sinh cư vùng biển Đà Nẵng và Cù Lao Chàm
Thảm rong biển (ha)
Bãi rạn ngầm (ha)
Rãnh sâu (m)
* Thiếu số liệu (10 tấn Sargassum); Nguồn: Võ Sĩ Tuấn và cs (2004),
Nguyễn Văn Long và cs (2008)
Trang 14Có thể nói vùng biển Cù Lao Chàm là vùng chịu tác động trực tiếp của biển khơi có rạn san hô là sinh cư quan trọng bậc nhất tạo nên đặc trưng sinh thái cho toàn vùng biển, quyết định đến đặc trưng quần xã sinh vật cũng như nguồn lợi của vùng biển này
3.1.2.2 Thành phần loài cá
Kết hợp thành phần loài cá của các đợt khảo sát bổ sung và danh mục loài của các tác giả công bố đã ghi nhận thành phần loài cá ở Cù Lao Chàm bao gồm 452 loài thuộc 178 giống, 66 họ và 15 bộ Như vậy, luận án đã bổ sung vào các nghiên cứu cho vùng biển Cù Lao Chàm 5 loài thuộc 4 giống,
3 họ và 2 bộ
3.1.2.3 Đặc trưng nguồn lợi cá
Đã xác định được 14 loài trong 6 họ cá là nguồn lợi chính vùng biển Cù Lao Chàm (Bảng 3.5)
Bảng 3.5 Thành phần nguồn lợi chính vùng biển Cù Lao Chàm
Kết quả ước tính sản lượng và doanh thu của 6 nhóm nguồn lợi chính ở vùng biển Cù Lao Chàm thể hiện ở bảng 3.6
Trang 15Bảng 3.6 Ước tính sản lượng và doanh thu của nguồn lợi chính vùng biển Cù Lao Chàm năm 2011
có hoạt động khai thác cá giống
3.1.3 Cửa sông Thu Bồn
3.1.3.1 Đặc điểm sinh cư
Rừng ngập mặn là sinh cư điển hình vùng hạ lưu sông Thu Bồn với cây
ngập mặn ưu thế tuyệt đối là Dừa nước (Nippa fructicans) thuộc họ Cọ
Palmae Tổng diện tích phân bố hiện nay ở hạ lưu sông Thu Bồn khoảng hơn 80 ha
Các thảm cỏ biển vùng hạ lưu sông Thu Bồn phân bố chủ yếu ở xã Cẩm
Thanh và chỉ có hai loài: Cỏ Xoan gân song song Halophila beccarii và Cỏ Lươn Nhật Bản Zostera japonica Các thảm cỏ Lươn là quan trọng nhất,
chiếm hầu hết các cồn gò Diện tích phân bố chung cho toàn vùng khoảng
30 ha, trong đó vùng phân bố tập trung và quan trọng nhất nằm ở thôn 2, Gò
Hí và cồn Bà Bốn thuộc xã Cẩm Thanh Rừng ngập mặn là sinh cư quan trọng nhất vùng cửa sông Thu Bồn Sự có mặt của các thảm cỏ biển làm tăng thêm tính đặc sắc và trù phú cho hệ sinh thái cửa sông Đặc điểm các thảm cỏ biển ở hạ lưu sông Thu Bồn là có sự biến động rất lớn theo mùa, các thảm cỏ biển phát triển rất tốt vào mùa nắng khi độ mặn lớn hơn 15‰, vào mùa mưa lũ phần thân đứng sẽ bị thối rửa (Nguyễn Hữu Đại, 2008), do
đó các sinh vật liên quan đến thảm cỏ biển cũng sẽ có biến động theo mùa