1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

NGHIÊN CỨU, THU NHẬN PROTEIN TỪ SINH KHỐI RONG NƯỚC LỢ (Chaetomorpha sp.) ĐỂ ỨNG DỤNG TRONG CÔNG NGHIỆP THỰC PHẨM TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ CƠNG NGHỆ SINH HỌC

28 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 560,35 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các loại protein thực vật cũng có nhiều tính chất chức năng tốt khiến chúng được sử dụng rộng rãi trong các sản phẩm thực phẩm chế biến.. Khảo sát các tính chất sinh học, tính chất chức

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ

ĐÀO TẠO

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC

VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

-

Bạch Ngọc Minh

NGHIÊN CỨU, THU NHẬN PROTEIN TỪ SINH KHỐI

RONG NƯỚC LỢ (Chaetomorpha sp.) ĐỂ ỨNG DỤNG

TRONG CÔNG NGHIỆP THỰC PHẨM

Chuyên ngành: Công nghệ Sinh học

Mã sỗ: 9 42 02 01

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ CÔNG NGHỆ SINH HỌC

Tp Hồ Chí Minh – 2020

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học và Công nghệ - Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam

Người hướng dẫn khoa học 1: PGS.TS Hoàng Kim Anh Người hướng dẫn khoa học 2: PGS.TSKH Ngô Kế Sương

Phản biện 1: …

Phản biện 2: …

Phản biện 3: …

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng đánh giá luận án tiến

sĩ cấp Học viện, họp tại Học viện Khoa học và Công nghệ - Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam vào hồi … giờ ’, ngày … tháng … năm 201…

Có thể tìm hiểu luận án tại:

- Thư viện Học viện Khoa học và Công nghệ

- Thư viện Quốc gia Việt Nam

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hiện nay một số loài rong (như Chaetomorpha sp.,) đang mọc tự

nhiên trong khắp các ao hồ nuôi tôm nước lợ vùng đồng bằng sông Cửu Long Sau khi thu hoạch tôm, rong bị vớt ra khỏi ao và để thành đống, vừa lãng phí vừa gây ô nhiễm môi trường Nhiều nghiên cứu cho thấy, các thành phần trong rong có giá trị cao về mặt dinh dưỡng Việc nghiên cứu và thu nhận các sản phẩm có giá trị từ rong sẽ tận dụng nguyên liệu sẵn có để tạo ra các giá trị gia tăng đồng thời giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường tại địa phương Đặc biệt, protein trong rong có thành phần acid amin cân đối và hàm lượng các acid amin thiết yếu khá cao Các loại protein thực vật cũng có nhiều tính chất chức năng tốt khiến chúng được sử dụng rộng rãi trong các sản phẩm thực phẩm chế biến Ngoài ra, một số loại protein từ rong cũng thể hiện các tính chất sinh học như khả năng kháng khuẩn, kháng oxy hóa Nghiên cứu thu nhận protein từ rong mở ra cơ hội sử dụng nguồn đạm thực vật để thay thế nguồn đạm từ động vật trong thực phẩm

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Nghiên cứu quá trình thu nhận protein concentrate từ sinh khối

rong Chaetomorpha sp Khảo sát các tính chất sinh học, tính chất chức

năng và giá trị dinh dưỡng của protein concentrate từ rong để có thể ứng dụng vào thực phẩm

3 Tính mới và ý nghĩa của đề tài

Đề tài tập trung nghiên cứu thu nhận chế phẩm protein concentrate

từ rong Chaetomorpha sp., nguồn nguyên liệu mới chưa được khai

thác trong nước và trên thế giới Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng kỹ thuật siêu âm kết hợp với một loại cellulase mới để thủy phân thành tế bào rong nhằm tăng cường khả năng trích ly protein Khác với các loại cellulase thông thường (có pH tối ưu trong vùng acid), enzyme cellulase mới hoạt động tốt trong vùng pH từ 6,5-7,5 nên thích

Trang 4

hợp sử dụng để hỗ trợ trích ly protein từ sinh khối rong là nhóm protein tan tốt trong môi trường trung tính hoặc kiềm nhẹ

Ngoài ra, đề tài có ý nghĩa khoa học khi cung cấp những thông tin hoàn toàn mới và có hệ thống về các nhóm protein trong rong

Chaetomorpha sp như thành phần acid amin, các phân đoạn protein

và kích thước phân tử của nhóm protein tan trong nước và tan trong kiềm; các đặc điểm về hình thái, cũng như khả năng kháng khuẩn, kháng oxy hóa, tính chất chức năng, khả năng tiêu hóa trong điều kiện

in vitro và in vivo của các chế chế phẩm protein concentrate từ rong Chaetomorpha sp

4 Các nội dung nghiên cứu chính của luận án

- Khảo sát quá trình trích ly và tinh sạch protein để thu 2 chế phẩm

protein tan trong nước và tan trong kiềm từ rong Chaetomorpha sp

- Xác định thành phần acid amin, hình thái và cấu trúc, các tính chất chức năng, hoạt tính sinh học và giá trị dinh dưỡng của protein concentrate từ rong

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN

1.1 Rong lục Chaetomorpha sp

Rong lục thuộc chi Chaetomorpha là các cơ thể đa bào được tạo

thành bởi các tế bào hình trụ, được đặc trưng bởi các sợi không phân nhánh

Ngành : Chlorophyta Lớp : Ulvophyceae

Bộ : Cladophorales

Họ : Cladophoraceae Chi : Chaetomorpha

Có khoảng 50 loài Chaetomorpha hiện được công nhận dựa trên

một số đặc điểm hình thái, chẳng hạn như hình thức tăng trưởng, kích

Trang 5

thước tế bào và hình dạng của các tế bào đính kèm (Leliaert, Frederik

và cộng sự 2011)

1.2 Protein từ rong

Hàm lượng protein trong rong có sự khác nhau tùy theo loài Kết quả khảo sát của Kumar (2010) trên 18 loài rong biển khác nhau thuộc 3 ngành Chlorophyta, Phaeophyta, Rhodophyta tại Ấn Độ cho thấy hàm lượng protein thay đổi từ 10 – 35% Hàm lượng protein trong rong còn

bị ảnh hưởng bởi chu kỳ mùa trong năm Theo Fleurence (1999), hàm

lượng protein của rong P palmate dao động từ 9 – 25% theo mùa với

lượng protein cao nhất thu được trong các tháng mùa xuân và mùa đông

Đối với rong lục Ulva lactuca, tháng thu nhận protein cao nhất là tháng

tám với 32,7% protein trên trọng lượng khô (Fattah và Sarry,1987) Protein từ rong có đầy đủ các thành phần acid amin thiết yếu với tỷ

lệ cân đối hơn nhiều so với các loại protein từ thực vật trên cạn Protein

từ rong cũng rất giàu acid aspartic và acid glutamic Đáng chú ý là lysine được biết đến với nồng độ tương đối thấp trong các nguồn protein thực vật nhưng lại rất dồi dào trong trong rong Chính vì thế, protein từ rong có thể được sử dụng như một nguồn dinh dưỡng có giá trị trong chế độ ăn uống của con người

Các loại protein có giá trị thu nhận từ rong bao gồm lectin và phycobiliprotein Bên cạnh đó, chế phẩm protein concentrate và protein isolate từ rong cũng có triển vọng sử dụng trong thực phẩm để thay thế cho protein động vật do có khả năng làm giảm nguy cơ bệnh tim mạch (Lammi và cộng sự, 2019)

1.3 Thu nhận protein từ rong

Tác nhân chủ yếu được sử dụng để trích ly protein từ rong là dung môi kiềm Tuy nhiên, việc trích ly protein bị hạn chế bởi các polysaccharides trong thành tế bào Phương án thường được lựa chọn

là sử dụng hệ enzyme thủy phân thành tế bào Fleurence và cộng sự (1995) đã nghiên cứu sử dụng các enzyme khác nhau trên các loài rong

Trang 6

đỏ, kết quả là hoạt động của các carrageenase và cellulase đã giúp hiệu quả thu nhận protein tăng 10 lần Ngoài ra sử dụng sóng siêu âm để trích ly các thành phần protein, carbohydrate… từ rong cũng được nghiên cứu nhiều

Trong số các phương pháp trích ly mới hiện nay, có thể kể đến phương pháp SFE sử dụng CO2 siêu tới hạn và phương pháp PLE sử dụng dung môi lỏng ở điều kiện nhiệt độ và áp suất cao để tách các chất có khả năng kháng khuẩn, kháng ung thư và kháng oxi hóa từ

rong S.pallidum và H.elongate (Fitzgeral 2011)

Sau khi nhận được dịch chiết protein thô, nhiều phương pháp khác nhau được sử dụng để tinh sạch protein Trong nhóm các phương pháp truyền thống có phương pháp kết tủa bằng các tác nhân như dung môi hữu cơ, muối trung tính, kết tủa tại điểm đẳng điện Protein sau đó được tiếp tục tinh sạch bằng các phương pháp hiện đại như thẩm tích, lọc màng, sắc kí lọc gel, sắc kí trao đổi ion, sắc kí ái lực… để thu được sản phẩm có độ tinh sạch cao hơn

1.4 Các tính chất của chế phẩm protein concentrate

Chế phẩm protein concentrate được đánh giá thông qua các chỉ tiêu: thành phần và hàm lượng acid amin, hình thái và cấu trúc, tính chất chức năng và giá trị dinh dưỡng để có thể sử dụng trong công nghiệp thực phẩm Bên cạnh đó, một số tính chất sinh học đặc biệt của chế phẩm protein cũng được xác định nhằm đánh giá triển vọng ứng dụng của nguồn protein mới trong các lĩnh vực khác

Trang 7

CHƯƠNG 2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP

2.1 Vật liệu nghiên cứu

Rong Chaetomorpha sp được thu nhận sau 15 – 20 ngày phát triển,

được thu tại các ao nuôi tôm quảng canh tại huyện Giá Rai, Bạc Liêu Rong được vận chuyển trong thùng xốp trong ngày đến phòng thí nghiệm Rong được rửa để loại tạp chất, sau đó phơi khô, xay nhỏ và sấy tới độ ẩm 5%, bảo quản trong bình hút ẩm ở nhiệt độ phòng

Enzyme

Cellulase của hãng Genecor (Mỹ), tên thương mại là Crestone Conc có khả năng hoạt động tốt trong vùng pH trung tính từ 6,0 – 7,5, nhiệt độ từ 450C – 550C; có hoạt tính 1.100 UI/ml

2.2 Sơ đồ nghiên cứu

Sơ đồ nghiên cứu thể hiện ở hình 2.2

2.3 Bố trí thí nghiệm

2.3.1 Xác định các nhóm protein trong rong

Phương pháp của Hu và Esen (1981) được sử dụng để xác định các nhóm protein trong rong dựa vào khả năng hòa tan của chúng trong các dung môi khác nhau

2.3.2 Khảo sát ảnh hưởng của quá trình xử lý nguyên liệu đến hiệu suất trích ly protein

Các yếu tố được nghiên cứu trong quá trình xử lý nguyên liệu gồm ảnh hưởng của nhiệt độ sấy rong (40-1050C) và kích thước xay rong (0,25-1mm)

Trang 8

Khảo sát quá trình

xử lý nguyên liệu Sấy, xay nhỏ

hóa quá trình trích

ly nhóm protein tan trong nước Dịch trích

Tủa protein

Khảo sát điều kiện kết tủa protein

Thẩm tích loại muối

Sấy đông khô Hình thái, cấu trúc

Tính chất chức năng

Tính chất sinh học Giá trị dinh dưỡng

Bã rong

Dịch trích protein

PC tan trong nước

và tan trong kiềm Rong nguyên liệu

Hình 2.2 Sơ đồ quy trình thu nhận protein concentrate từ rong

Chaetomorpha sp

Trang 9

2.3.3 Khảo sát ảnh hưởng của các yếu tố đến quá trình tríc-h ly nhóm protein tan trong nước có sự hỗ trợ của enzyme

Các yếu tố khảo sát là loại dung dịch đệm (sử dụng làm dung môi trích ly), pH (5,0-8,0), tỷ lệ nguyên liệu và dung môi (1:5 đến 1:30), nồng độ enzyme (50-150 UI/g), thời gian (1-8 giờ) và nhiệt độ trích ly (300C đến 700C) Hàm mục tiêu là hiệu suất trích ly protein và Phycocyanin

Tối ưu hóa quá trình trích ly: sử dụng mô hình quy hoạch thực nghiệm bậc 2 với sự hỗ trợ của phần mềm Modde 5.0

2.3.4 Khảo sát ảnh hưởng của các yếu tố đến quá trình trích ly nhóm protein tan trong kiềm

Các yếu tố được khảo sát gồm tỷ lệ dung môi và nguyên liệu (1:10 đến 1:30), nồng độ dung môi (0,5-1,5%), nhiệt độ (300C-700C) và thời gian trích ly (30-90 phút) Hàm mục tiêu là hiệu suất trích ly nhóm protein tan trong kiềm Quá trình trích ly protein tan trong kiềm được tối ưu hóa sử dụng mô hình quy hoạch thực nghiệm bậc 2 với sự hỗ trợ của phần mềm Modde 5.0

2.3.5 Nghiên cứu quá trình tinh sạch protein

Khảo sát quá trình kết tủa protein bằng các phương pháp khác nhau: kết tủa đẳng điện bằng HCl, kết tủa bằng dung môi ethanol, kết tủa bằng muối amoni sulphate và nâng cao độ tinh sạch bằng phương pháp thẩm tích Hàm mục tiêu là hiệu suất thu sản phẩm và hàm lượng protein trong chế phẩm protein

2.3.6 Nghiên cứu các đặc điểm hình thái và cấu trúc của chế phẩm protein từ rong

Protein được tách phân đoạn bằng sắc ký lọc gel, sử dụng cột 50x1,5 cm và hạt Biogel P100 có kích thước 100 – 200 mesh (10 – 40µm) Các phân đoạn protein thu được sau quá trình sắc ký được xác định kích thước phân tử Chế phẩm protein concentrate cũng được sử

Trang 10

dụng để xác định thành phần acid amin và quan sát hình thái trên kính hiển vi điện tử

2.3.7 Xác định tính chất sinh học của chế phẩm protein concentrate

Thử nghiệm hoạt tính kháng khuẩn trên 3 chủng vi khuẩn gây bệnh

cho người là: S aureus, E coli, P aeruginosa

Thử nghiệm hoạt tính kháng oxy hoá dựa trên các cơ chế: bắt gốc

tự do DPPH, bắt gốc tự do ABTS•+, tương tác với ion Fe2+ và ức chế quá trình peroxy hóa lipid màng tế bào

2.3.8 Xác định tính chất chức năng của chế phẩm protein

Xác định các tính chất chức năng của chế phẩm protein concentrate từ rong bao gồm: khả năng tạo bọt và độ ổn định của bọt; khả năng tạo gel; khả năng hòa tan; khả năng hấp thu nước; khả năng tạo nhũ So sánh với chế phẩm protein concentrate từ đậu nành

2.3.9 Đánh giá giá trị dinh dưỡng trong điều kiện in vitro

Xác định các chỉ tiêu sau của chế phẩm protein concentrate:

- Khả năng tiêu hóa (IVPD)

- Chỉ số điểm acid amin (AAS)

- Chỉ số tiêu hoá protein dựa theo acid amin (PDCAAS)

2.3.10 Đánh giá giá trị dinh dưỡng trong điều kiện in vivo

Mô hình in vivo được thực hiện trên đối tượng chuột bạch, với 4 nhóm

có các chế độ ăn riêng biệt

- Nhóm 1: Chế độ ăn không chứa protein

- Nhóm 2: Chế độ ăn thường (thức ăn Viện Pasteur cung cấp)

- Nhóm 3: Chế độ ăn AIN 93 có chứa protein APC

- Nhóm 4: Chế độ ăn AIN 93 có chứa protein từ đậu nành

Các chỉ tiêu đánh giá: Hệ số tăng trọng (PER), Tỷ lệ hấp thu protein tịnh (NPR) và giá trị sinh học của protein (BV)

2.4 Phương pháp phân tích

Trang 11

- Các thành phần hóa sinh của rong được xác định theo phương pháp LAPS (Standard compositional laboratory analytical procedure) được

mô tả bởi Dien và cộng sự, 2010

- Hàm lượng protein hòa tan thu được sau quá trình trích ly được xác định bằng phương pháp Lowry và Bradford

- Hàm lượng Phycocyanin được xác định bằng cách sử dụng thiết bị

đo quang phổ UV-Vis (Bennett và Bogorad, 1973)

- Cấu trúc của rong nguyên liệu và chế phẩm protein được quan sát bằng kính hiển vi điện tử quét (SEM)

- Thành phần acid amin của chế phẩm protein được xác định bằng HPLC, sử dụng cột Aminex của Biorad và đầu dò RI

- Kích thước phân tử của các phân đoạn protein được xác định bằng điện di và LC-MS/MS

2.5 Phương pháp xử lý số liệu

Tất cả các thí nghiệm được thực hiện 3 lần lặp lại Kết quả được

xử lý thống kê bằng phần mềm Statghraphics, đánh giá sự khác biệt

giữa các kết quả thu được ở mức ý nghĩa α=0,05

Số liệu tối ưu hóa quá trình trích ly bằng quy hoạch thực nghiệm

bậc 2 được xử lý bằng phần mềm Moodle 5.0

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1 Thành phần protein trong rong

3.1.1 Xác định thành phần sinh hóa của rong

Hàm lượng carbohydrate và protein trong sinh khối rong

Chaetomorpha lần lượt là 47,19% và 12,68% Hàm lượng protein trong rong Chaetomorpha sp không cao (12,68%-20%) khi so sánh với hàm

lượng protein trong đậu nành là nguồn nguyên liệu thực vật thường được sử dụng để thu nhận các chế phẩm protein concentrate và isolate Tuy nhiên việc tách chiết protein từ rong, theo sau đó là sử dụng bã rong

Trang 12

sau khi tách protein để sản xuất ethanol sinh học và phân bón vi sinh sẽ tạo ra chuỗi giá trị khép kín của nguyên liệu với nhiều sản phẩm đa dạng, tạo công ăn việc làm cho người nông dân, mở ra hướng phát triển bền vững cho nguồn nguyên liệu hiện đang bị bỏ phí này

3.1.2 Xác định các nhóm protein trong rong

Rong sẽ được xử lý lần lượt bằng nước cất; NaCl 0,5M; ethanol 70%

và NaOH 0,1M để xác định các nhóm protein

Kết quả cho thấy trong rong Chaetomorpha sp., nhóm protein tan

trong kiềm chiếm tỷ lệ cao nhất 55,27%, nhóm protein tan trong nước chiếm 34,33% so với tổng lượng protein Hai nhóm protein tan trong muối và cồn có tỷ lệ thấp tương ứng là 6,07% và 4,32%

Kết quả phân tích các nhóm protein trong rong là cơ sở cho việc lựa chọn dung môi thích hợp cho quá trình trích ly protein Từ kết quả trên, chúng tôi quyết định lựa chọn khảo sát quá trình trích ly của hai nhóm protein có hàm lượng cao trong rong là nhóm tan trong nước và nhóm tan trong kiềm

3.2 Khảo sát ảnh hưởng của quá trình xử lý nguyên liệu đến hiệu suất trích ly protein

Sinh khối rong sau khi thu hoạch cần được phơi sấy để có thể bảo quản trong thời gian dài Tuy nhiên, nhiệt độ sấy quá cao có thể làm biến tính protein và ảnh hưởng đến thành phần acid amin Kích thước rong sau khi xay cũng ảnh hưởng đến diện tích tiếp xúc bề mặt giữa nguyên liệu và dung môi, do đó ảnh hưởng đến hiệu quả trích ly Kết quả cho thấy nhiệt độ sấy ở 600C và kích thước nguyên liệu nhỏ hơn 0,1mm là tốt nhất cho quá trình trích ly protein

3.3 Khảo sát quá trình trích ly nhóm protein tan trong nước với

sự hỗ trợ của cellulase

Ở các tế bào thực vật thành tế bào cấu tạo từ cellulose rất chắc chắn,

do đó để việc phá vỡ tế bào có hiệu quả, ngoài sự hỗ trợ của các tác

Trang 13

động vật lý như sóng siêu âm, enzyme cellulase cũng được sử dụng để cắt đứt các liên kết của thành tế bào và giải phóng protein Kết quả nghiên cứu cho thấy sử dụng đệm phosphate 0,1M pH 7 với tỷ lệ nguyên liệu:dung dịch đệm 1:20 là thích hợp cho hoạt động của enzyme Nồng độ cellulase sử dụng là 100UI/g, thời gian và nhiệt độ trích ly tối ưu lần lượt là 60 phút và 500C Các điều kiện này cũng là điều kiện thích hợp để thu nhận Phycocyanin Hàm lượng Phycocyanin thu được cao nhất là 0,39 mg/g rong khô, chiếm khoảng 1% so với tổng hàm lượng của nhóm protein tan trong nước thu được trong dịch trích (38,36 mg/g rong khô)

Tối ưu hoá quá trình trích ly protein tan trong nước

Thủy phân sinh khối rong bằng enzyme là một phản ứng trong hệ dị thể, vì vậy khả năng tiếp xúc của enzyme với cơ chất là vấn đề quan trọng Tỷ lệ nguyên liệu/cơ chất:dung dịch đệm cao sẽ làm tăng độ nhớt môi trường, hạn chế khả năng truyền khối Ngược lại, sử dụng nồng độ

cơ chất thấp sẽ làm loãng dịch trích và gây khó khăn trong quá trình trích ly tiếp theo bằng dung môi kiềm Trong thí nghiệm này pH 7 và tỷ

lệ nguyên liệu/cơ chất:dung môi 1:20 được giữ cố định ở mức tối ưu Quá trình tối ưu hóa được thiết lập với 3 thông số biến đổi là nồng

độ enzyme (X1), nhiệt độ (X2) và thời gian trích ly (X3), sử dụng mô hình tối ưu hóa ba yếu tố trực giao cấp 2 có tâm xoay với 3 thí nghiệm

ở tâm Phương trình hồi quy mô tả hàm lượng protein hòa tan thu được trong dịch trích như sau:

Y1 = 37,024 + 3,452 X1 + 2,322 X3 – 3,137 X1 – 1,417 X3

Nồng độ enzyme và thời gian trích ly ảnh hưởng đáng kể đến hiệu suất trích ly protein, tuy nhiên sự tương tác của các yếu tố này lại không có ảnh hưởng đến hàm lượng protein thu được trong dịch trích (p>0.05) Các điều kiện tối ưu của quá trình trích ly là nồng độ enzyme

là 121 UI/g cơ chất, nhiệt độ và thời gian trích ly tương ứng là 400C là

Trang 14

90 phút Hàm lượng protein hòa tan dự đoán theo phương trình hồi quy và thu được trong thực nghiệm là 38,921 và 37,651 mg/g rong khô, khác biệt 3,27%

3.4 Khảo sát quá trình trích ly nhóm protein tan trong kiềm bằng dung môi NaOH

Các kết quả khảo sát đơn yếu tố cho thấy, các thông số kỹ thuật phù hợp đối với quá trình trích ly nhóm protein tan trong kiềm bao gồm tỷ lệ cơ chất và dung môi (1:20), nồng độ NaOH 1%, thời gian

và nhiệt độ trích ly tương ứng là 60 phút và 500C

Trên cơ sở các kết quả này, quá trình tối ưu hóa được thực hiện theo mô hình trực giao cấp 2 có tâm xoáy với 3 thí nghiệm tại tâm Các yếu tố có ảnh hưởng lớn tới quá trình trích ly được lựa chọn làm thông số biến đổi là thời gian trích ly (X4) và nồng độ NaOH (X5) Phương trình hồi quy mô tả hàm lượng protein hòa tan thu được trong dịch trích như sau:

Y2 = 65,180 + 6,321 X4 + 10,224 X5 – 5,509 X4 X5 – 8,259 X5

Kết quả cho thấy nồng độ NaOH và thời gian trích ly thể hiện ảnh hưởng tương hỗ của đến hàm lượng protein Khi sử dụng nồng độ NaOH thấp sẽ cần nhiều thời gian để quá trình trích ly đạt hiệu suất tối ưu Ngược lại khi sử dụng NaOH ở nồng độ cao, quá trình trích ly

sẽ nhanh chóng đạt tới trạng thái cân bằng và việc kéo dài thời gian sẽ không làm tăng đáng kể hiệu suất trích ly Hàm lượng protein hoà tan

dự đoán đạt cao nhất 68,651 mg/g rong khô tại nồng độ NaOH là 1,2%

và thời gian trích ly là 72 phút, khác biệt 0,8% so với kết quả thực

nghiệm

Đánh giá hiệu quả trích ly protein bằng các phương pháp

Ngày đăng: 18/04/2021, 22:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm