luận văn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
-
PHAN KỲ
ðẶC ðIỂM SINH TRƯỞNG PHÁT TRIỂN, NĂNG SUẤT, CHẤT LƯỢNG CỦA MỘT SỐ GIỐNG LÚA MỚI VÀ NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN BÓN LÁ ðẾN GIỐNG LÚA HT1
Trang 2LỜI CAM ðOAN
Tôi xin cam ñoan ñây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng ñược ai công bố trong bắt kỳ công trình nào khác
Tôi xin cam ñoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn ñều ñã ñược chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày…tháng …năm 2011
Tác giả luận văn
Phan Kỳ
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và thực hiện ñề tài nghiên cứu, tôi luôn nhận ñược sự quan tâm của nhà trường, sự giúp ñỡ tận tình của các thầy cô, các ñồng nghiệp, bạn bè và gia ñình
Nhân dịp hoàn thành luận văn, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:
- PGS.TS Vũ Quang Sáng, người ñã tận tình giúp ñỡ, hướng dẫn tôi thực hiện ñề tài và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
- Tập thể các thầy cô giáo Khoa Sau ðại học; Khoa Nông học, ñặc biệt là các thầy cô trong Bộ môn Sinh lý thực vật - Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội ñã ñóng góp nhiều ý kiến quý báu về chuyên môn cho tôi hoàn thành luận văn
- Cảm ơn Lãnh ñạo và cán bộ nhân viên Trung tâm Giống cây trồng Hà Tĩnh, các ñồng nghiệp, bạn bè và người thân ñã tạo ñiều kiện thuận lợi, ñộng viên giúp ñỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Hà Nội, ngày… tháng… năm 2011
Tác giả luận văn
Phan Kỳ
Trang 42.2 Tình hình nghiên cứu và sản xuất lúa trên thế giới 7 2.3 Tình hình nghiên cứu và sản xuất lúa trong nước 12 2.4 Một số kết quả nghiên cứu về phân bón với lúa 20
3 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33
Trang 54.1 đánh giá ựặc ựiểm sinh trưởng phát triển và năng suất, chất
lượng của một số giống lúa mới trong vụ Xuân Ờ 2011 tại Can
4.1.2 Thời gian sinh trưởng và phát triển của cây lúa 45
4.1.4 Quá trình ra lá và kắch thước lá ựòng của các giống thắ nghiệm 52 4.1.5 động thái ựẻ nhánh của các giống lúa thắ nghiệm 54 4.1.6 Chỉ số diện tắch lá (LAI) của các giống lúa thắ nghiệm 56 4.1.7 Khả năng tắch lũy chất khô của các giống lúa thắ nghiệm 58 4.1.8 Khả năng chống chịu sâu bệnh của các giống lúa thắ nghiệm 59 4.1.9 Một số ựặc trưng hình thái của các giống lúa thắ nghiệm 62 4.1.10 Các yếu tố cấu thành năng suất của các giống lúa thắ nghiệm 65
4.1.12 Một số chỉ tiêu về phẩm chất của các giống lúa 69 4.2 Ảnh hưởng của phân bón lá ựến sinh trưởng phát triển và năng
suất của giống lúa HT1 vụ Xuân - 2011 tại Can Lộc - Hà Tĩnh 72 4.2.1 Ảnh hưởng của phân bón lá đầu trâu, Yogen No.2 và Seaweed Ờ
Rong biển 95% ựến thời gian sinh trưởng và phát triển của giống lúa HT1 vụ Xuân - 2011 tại Can Lộc - Hà Tĩnh 72 4.2.2 Ảnh hưởng của phân bón lá đầu trâu, Yogen No.2 và Seaweed Ờ
Rong biển 95% ựến ựộng thái tăng trưởng chiều cao cây của giống lúa HT1 vụ Xuân 2011 tại Can lộc - Hà Tĩnh 73 4.2.3 Ảnh hưởng của phân bón lá đầu trâu, Yogen No.2 và Seaweed Ờ
Rong biển 95% ựến ựộng thái ựẻ nhánh của giống lúa HT1 75 4.2.4 Ảnh hưởng của phân bón lá đầu trâu, Yogen No.2 và Seaweed Ờ
Rong biển 95% ựến chỉ số diện tắch lá của giống lúa HT1 76
Trang 64.2.5 Ảnh hưởng của phân bón lá ðầu trâu, Yogen No.2 và Seaweed –
Rong biển 95% ñến khả năng tích lũy chất khô của giống lúa
4.2.6 Ảnh hưởng của phân bón lá ðầu trâu, Yogen No.2 và Seaweed –
Rong biển 95% ñến khả năng chống chịu sâu bệng của giống lúa
4.2.7 Ảnh hưởng của phân bón lá ðầu trâu, Yogen N02 và Seaweed –
Rong biển 95% ñến các yếu tố cấu thành năng suất của giống lúa
4.2.8 Ảnh hưởng của phân bón lá ðầu trâu, Yogen N02 và Seaweed –
Rong biển 95% ñến năng suất của giống lúa HT1 84
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
P1000 Trọng lượng 1000 hạt
Trang 82.5 Sản lượng xuất khẩu gạo ở Việt Nam từ năm 2000 – 2010 18
4.7 Khả năng tích lũy chất khô của các giống lúa thí nghiệm vụ
4.8 Tình hình sâu bệnh trên các giống lúa thí nghiệm vụ Xuân -
Trang 94.12 Một số chỉ tiêu về phẩm chất hạt của các giống lúa thí nghiệm 704.13 Ảnh hưởng của phân bón lá ñến thời gian sinh trưởng và phát
triển của giống lúa HT1 vụ Xuân - 2011 tại Can Lộc - Hà Tĩnh 734.14 Ảnh hưởng của phân bón lá ñến ñộng thái tăng trưởng chiều cao
cây của giống lúa HT1 vụ Xuân - 2011 tại Can Lộc - Hà Tĩnh 744.15 Ảnh hưởng của phân bón lá ñến ñộng thái ñẻ nhánh của giống lúa
4.18 Ảnh hưởng của phân bón lá ñến khả năng chống chịu sâu bệnh
4.19 Ảnh hưởng của phân bón lá ñến các yếu tố cấu thành năng suất
4.20 Ảnh hưởng của phân bón lá ñến năng suất của giống lúa HT1 84
Trang 10
DANH MỤC HÌNH
4.1 ðộng thái tăng trưởng chiều cao cây của các giống lúa 514.2 Năng suất của các giống lúa vụ Xuân 2011 694.3 Ảnh hưởng của phân bón lá ñến ñộng thái tăng trưởng chiều cao
cây của giống lúa HT1 vụ xuân 2011 tại Can Lộc - Hà Tĩnh 754.4 Ảnh hưởng của phân bón lá ñến năng suất của giống lúa HT1 85
Trang 111 MỞ đẦU
1.1 đặt vấn ựề
đối với người Việt Nam nói riêng và phần lớn dân cư Châu Á nói chung cây lúa (oryza sativa) là loại cây trồng hết sức gần gũi và ựóng vai trò quan trọng trong dinh dưỡng Sản phẩm chắnh của cây lúa là gạo ựây là loại lương thực chắnh quan trọng trong bữa ăn hàng ngày Ở Việt Nam với bản sắc văn hoá nông nghiệp cây lúa và hạt gạo còn là một biểu tượng của cuộc sống Ca dao, khẩu ngữ chúng ta có câu "người sống về gạo, cá bạo về nước" Trong gạo tinh bột chiếm 80%, protein chiếm 6-10 %, lipit 0,5-2%, nhiều axit amin không thể thay thế và vitamin nhóm B không chỉ là nguồn lương thực, lúa gạo còn là nguồn nguyên liệu ựể chế biến ra các sản phẩm khác như bia, rượu, mạch nha các sản phẩm phụ từ lúa gạo còn ựược dùng trong chăn nuôi, cung cấp nguyên liệu cho một số ngành công nghệ như giấy, ựồ gia dụngẦ(Bùi Huy đáp, 1985) [8]
Tuy vậy hiện nay diện tắch trồng lúa ựang ngày càng bị thu hẹp do tốc ựộ
ựô thị hoá ngày càng tăng Bên cạnh ựó dân số toàn cầu ựang ngày một tăng lên ựã ựặt các nước trên thế giới ựặc biệt là những nước lấy nông nghiệp làm ngành sản xuất chắnh vào một tình thế hết sức khó khăn - thiếu hụt lương thực Trong thời ựại của chúng ta, con người ựã làm ựược nhiều ựiều kỳ diệu trong nhiều lĩnh vực khoa học như vũ trụ, hàng không, ựiện tử tin học, sinh học Tuy nhiên một vấn ựề rất cơ bản và thiết thực, gắn liền với sự sống của hàng trăm triệu người trên trái ựất vẫn chưa ựược khắc phục, ựó là an ninh lương thực Do ựó vấn ựề lương thực từng ựược ựặt ra như là một mối ựe doạ ựến sự an ninh và sự ổn ựịnh của thế giới trong tương lai Theo dự ựoán của các chuyên gia về dân số học nếu dân số tiếp tục gia tăng trong vòng 20 năm tới thì sản lượng lúa gạo phải tăng 80% mới ựáp ứng cho nhu cầu sống còn
Trang 12của cư dân mới Trong ựiều kiện eo hẹp ựó người ta phải suy nghĩ ựến một chiến lược ựể tăng sản lượng lúa gạo Một trong những chiến lược quan trọng
là ứng dụng công nghệ sinh học vào việc tạo giống mới và qua ựó hi vọng sẽ ựem lại cho thế giới một nguồn thực phẩm mới an toàn hơn và có giá trị dinh dưỡng cao
Việt Nam chúng ta với hơn 70% dân số làm nông nghiệp nên phải luôn coi trọng việc phát triển nông nghiệp nhất là sản xuất lúa gạo Tuy hiện nay Việt Nam là nước xuất khẩu gạo lớn thứ 2 sau Thái Lan nhưng công tác chọn tạo giống ựể ựáp ứng yêu cầu ngày càng nâng cao sản lượng là một việc làm hết sức cần thiết Trong sản xuất muốn ựưa năng suất lên cao ngoài các yếu tố như ựất ựai, khắ hậu, thời tiết, trình ựộ thâm canh thì giống và phân bón là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới năng suất và sản lượng Tuy nhiên trong quá trình sản xuất các giống lúa ựang ngày một thoái hoá, việc sử dụng các loại phân bón chưa hợp lý, các tắnh trạng tốt giảm sút vì vậy ta cần phải thay thế nó bằng một số giống mới có hiệu quả hơn, sử dụng các loại phân bón hợp lý hơn Ngày nay với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, nhiều giống lúa mới ựã ựược tạo ra từ các trung tâm nghiên cứu và nhập nội nhưng các giống này lại chỉ thắch hợp với từng vùng sinh thái nhất ựịnh, trong khi ựó nước ta với ựịa hình phức tạp ựã tạo ra nhiều vùng sinh thái khác nhau, ựồng thời nhằm phát huy ựược tối ựa tiềm năng năng suất của các giống lúa Do ựó cần phải tiến hành ựánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển, năng suất và các biện pháp tác ựộng kỹ thuật ựể tìm ra giống mới thắch hợp với từng vùng, từng ựịa phương
Nằm ở phắa bắc miền Trung, Hà Tĩnh có ựiều kiện khắ hậu rất phức tạp, mùa hè nắng nóng còn có thêm gió nóng Tây Nam ựã ựẩy nhiệt ựộ lên cao có ngày lên tới 39-400C Với ảnh hưởng của gió mùa đông Bắc ựã làm cho Hà Tĩnh có một mùa ựông lạnh, nhiệt ựộ có thể xuống ựến 90C Hà Tĩnh cũng là
Trang 13nơi xảy ra nhiều thiên tai bão lụt, hạn hán do ñó việc bố trí thời vụ ở ñây gặp nhiều khó khăn Mặt khác, Hà Tĩnh cũng là tỉnh có số dân ñông do ñó yêu cầu sản lượng lúa hàng năm phải cao mới ñáp ứng ñược nhu cầu lương thực cho người dân Do vậy, cần phải có sự ñánh giá, chọn lựa những giống lúa ngắn ngày năng suất cao, chất lượng tốt, có khả năng chống chịu sâu bệnh và thích ứng với ñiều kiện miền Trung
Xuất phát từ cơ sở trên chúng tôi ñã tiến hành nghiên cứu ñề tài "ðặc ñiểm sinh trưởng phát triển, năng suất, chất lượng của một số giống lúa mới và nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón lá ñến giống lúa HT1 vụ Xuân – 2011 tại Hà Tĩnh ”
Trang 141.2 Mục ựắch và yêu cầu
1.2.1 Mục ựắch
Từ các giống tham gia thắ nghiệm ựã ựược lai tạo và nhập nội, tiến hành ựánh giá ựược các ựặc trưng, ựặc tắnh cơ bản về sinh trưởng, phát triển và năng suất, chất lượng của các giống nhằm tìm ra các giống lúa tốt phù hợp với ựiều kiện ựất ựai, khắ hậu thời tiết ở ựịa phương cũng như xác ựịnh ựược phân bón lá thắch hợp nhất góp phần vào việc xây dựng quy trình thâm canh tăng năng suất, tăng thu nhập cho người trồng lúa tại Hà Tĩnh
1.2.2 Yêu cầu
- đánh giá ựược khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất, chất lượng của các giống lúa thắ nghiệm ựể tìm ựược các giống thắch hợp gieo trồng tại Hà Tĩnh
- đánh giá ựược ảnh hưởng của việc sử dụng phân bón lá ựối với cây lúa
ựể xác ựịnh ựược loại phân bón lá tốt nhất ựến sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống lúa HT1
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của ựề tài
1.3.1 Ý nghĩa khoa học
Xác ựịnh có cơ sở khoa học các giống lúa sinh trưởng phát triển, chống chịu sâu bệnh tốt và cho năng suất cao, chất lượng tốt đồng thời làm sáng tỏ vai trò của phân bón lá ựối với cây lúa tại Hà Tĩnh
Trang 152 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Nguồn gốc và phân bố của cây lúa
2.1.1 Nguồn gốc
Cây lúa là loại cây trồng ựã gắn bó lâu ựời với con người Nhiều người nhầm tưởng rằng Trung Quốc hay Ấn độ là quê hương của cây lúa nhưng không phải vậy Theo kết quả khảo cổ học trong vài thập niên qua quê hương ựầu tiên của cây lúa là vùng đông Nam Á và đông Dương, những nơi mà dấu ấn của cây lúa ựã ựược ghi nhận là khoảng 10000 năm trước công nguyên Còn ở Trung Quốc bằng chứng về cây lúa lâu ựời nhất chỉ 5900 ựến 7000 năm về trước thường thấy ở các vùng xung quanh sông Dương Tử Từ đông Nam Á nghề trồng lúa dần dần ựược du nhập sang Trung Quốc rồi tới Nhật Bản, Hàn Quốc
Về mặt thực vật học lúa trồng hiện nay do lúa dại qua quá trình chọn lọc
tự nhiên và chọn lọc nhân tạo mà thành Lúa trồng hiện nay thuộc họ hoà thảo loại oryza (Bùi Huy đáp, 1980) [7] Trên thế giới có hai loại cây lúa trồng Cây lúa trồng Oryza sativa ựược thuần hoá ở Châu Á nên ựược gọi là lúa trồng Châu Á Cây lúa trồng Oryza glaberrima ựược thuần hoá ở Châu Phi nên ựược gọi là lúa trồng Châu Phi [7]
2.1.2 Phân bố
Cây lúa có khả năng thắch nghi với nhiều vùng sinh thái khác nhau Nó
có thể ựược trồng ở Châu Á, Châu Âu, Châu Phi, Châu Mỹ và Châu đại Dương, ở bán cầu bắc ựến vĩ ựộ 500 B và bán cầu nam ựến vĩ ựộ 350 N Lúa còn ựược trồng từ vùng ven biển ựến ựộ cao 3000 m trên mặt nước biển ở dãy núi Himalaya, từ những ựồng ngập sâu tới 3-4 m ở Bangladesh ựến nương cao hầu như không lúc nào nương có lớp nước phủ [20] Tuy nhiên năng suất của lúa trồng là rất khác nhau Với vùng có kỹ thuật cao như Australia năng suất
có thể ựạt tới 70-80 tạ/ha nhưng ở Ấn độ năng suất chỉ ựạt 26 tạ/ha Năm
1966 T Doyle nghiên cứu năng suất lúa trên thế giới chủ yếu là lúa Châu Á
Trang 16ñã phân biệt: từ vĩ tuyến 230B lên tới 560B ở nửa cầu bắc là vùng có năng suất lúa Châu Á cao nhất 26 tạ/ha Từ vĩ tuyến 230B ñến xích ñạo qua vùng chấn
tô của lúa châu Á ở Ấn ðộ biên giới Thái Lan- Myanma lại là vùng có năng suất lúa Châu Á thấp nhất chỉ ñạt 13 tạ/ha Từ xích ñạo ñi về vùng ôn ñới bán cầu Nam ñến vĩ tuyến 350N có năng suất lúa Châu Á 17 tạ/ha
2.1.3 Vai trò, tầm quan trọng của cây lúa
Lúa là loại cây trồng gắn bó với truyền thống sản xuất nông nghiệp của nhiều quốc gia Nó là loại lương thực quan trọng trong bữa ăn hàng ngày của hàng tỉ người trên trái ñất Sản phẩm chính của lúa là gạo trong gạo chứa nhiều chất dinh dưỡng vitamin nhóm B và các axit amin không thay thế Ngoài cung cấp lương thực cho nhân dân trong nước lúa gạo còn là một mặt
hàng xuất khẩu của nhiều quốc gia góp phần trong tăng trưởng kinh tế
Thành phần của các chất chứa trong 100g gạo lứt:
Trang 172.2 Tình hình nghiên cứu và sản xuất lúa trên thế giới
2.2.1 Tình hình nghiên cứu lúa trên thế giới
Trong thống kê nông nghiệp của FAO các loại lương thực truyền thống chủ yếu ñược sản xuất và tiêu thụ trên thế giới bao gồm năm loại là lúa mì, lúa gạo, ngô, kê và ñại mạch Trong ñó lúa mì và lúa gạo là hai loại lương thực cơ bản nhất dùng cho con người Ngày nay do sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ nhiều ngành nghề mới ra ñời nhưng chưa có ngành nào dù hiện ñại ñến ñâu cũng không có thể thay thế ñược sản xuất lúa gạo [9] Tuy vậy sự phát triển của khoa học công nghệ ñã hỗ trợ rất nhiều cho công tác chọn tạo các giống mới có năng suất cao, chất lượng tốt cũng như những biện pháp kỹ thuật hỗ trợ cho sản xuất nông nghiệp
Vào ñầu thế kỉ 20 cả thế giới vẫn phải ñang ñối mặt với nạn ñói Hàng triệu người ở các quốc gia vẫn sống trong tình cảnh thiếu lương thực Do vậy vấn ñề ñặt ra là phải nâng cao năng suất của các giống lúa ñể ñảm bảo lương thực cho người dân Vào những năm ñầu của thập kỉ 60 các giống lúa có năng suất cao, chống ñổ ngã, chịu phân như IR2, IR5 ra ñời, mở ñầu cho cuộc cách mạng xanh
Với sự thành lập của Viện nghiên cứu lúa quốc tế IRRI nhiều giống lúa mới ñã ra ñời Năm 1966 IRRI ñã cho ra ñời giống lúa IR8 ñây là giống lúa thấp cây, lá thẳng, ñẻ nhánh khoẻ, không mẫn cảm với chu kì quang, chống
ñổ tốt và cho năng suất cao Sau ñó là hàng loạt các giống mới như IR5, IR22, IR36 Các nước cũng ñã lai tạo ra 178 giống có thành phần di truyền từ IR và thích hợp với mỗi ñịa phương [6] Năm 1970 Viện ñã ñưa ra giống lúa chín sớm và chống sâu ñục thân IR 747, B2- 6, giống chống bệnh bạc lá IR 497- 84- 3, IR 498- 1- 88
Viện lúa IRRI là nơi chuyên lai tạo, chọn lọc giống lúa mới và bảo tồn quỹ gen Tại Viện có hơn 83000 mẫu giống lúa ñể ñánh giá và làm vật liệu chọn giống cho các quốc gia trên thế giới Từ Viện lúa IRRI nhiều chương
Trang 18trình hợp tác quốc tế ñược mở ra Những chương trình này hỗ trợ ñắc lực cho các nhà khoa học nghiên cứu, chọn tạo, sản xuất ra giống mới và sử dụng triệt
ñể ưu thế lai nhằm không ngừng nâng cao năng suất ñể luôn luôn ñáp ứng nhu cầu lương thực của toàn cầu
Hiện nay các giống lúa thấp cây ñược tạo ra theo phương pháp truyền thống vẫn ñược tiếp tục nghiên cứu nhưng năng suất có chiều hướng "kịch trần" Trước tình hình ñó nhiều nước ñã tập trung nghiên cứu những giống lúa siêu cao sản ñể tạo ra bước nhảy vọt mới về năng suất Việc nghiên cứu về lúa lai nhằm sử dụng ưu thế lai ñối với sản xuất lúa là một khám phá lớn theo hướng ñó Trung Quốc là nước ñã nghiên cứu và ñưa vào sản xuất thành công thành tựu khoa học kỹ thuật về lúa lai ñược ñánh giá là một phát minh lớn về khoa học kỹ thuật trong nghề trồng lúa của thế kỉ 20 (Nguyễn Văn Luật, 2001) [19] Năm 1964 Trung Quốc bắt ñầu nghiên cứu về lúa lai, Viên Long Bình và cộng sự ñã tìm ra ñược cây lúa có tính bất dục ñực ñây là công cụ di truyền quan trọng ñể bắt ñầu sự nghiệp nghiên cứu lúa lai Nhưng phải ñến năm 1973 các nhà khoa học Trung Quốc mới tìm ñủ 3 dòng: dòng bất dục ñực
di truyền tế bào chất, dòng duy trì bất dục và dòng phục hồi bất dục Từ ñây
ñã tạo ra các giống lúa ưu thế lai ñầu tiên như: Nam ưu số 2, Sán ưu số 2, Uỷ
ưu số 6 [20] Lúa lai ra ñời ñã giúp cho nền sản xuất lúa Trung Quốc phá ñược hiện tượng ñội trần về năng suất lúa Năng suất lúa tăng ñã xoá ñược nạn thiếu lương thực ở ñất nước rộng lớn và ñông dân này
Năm 2000 khoa học cây lúa ñã chứng kiến một thành tựu quan trọng ñó
là việc tạo ra cây lúa có khả năng sản xuất và tồn trữ chất o - carotene trong hạt gạo ðứng ñầu trong nhóm nghiên cứu này là giáo sư Ingopotrycus thuộc Viện nghiên cứu lúa liên bang Thuỵ Sĩ và tiến sĩ Peter Beyer thuộc trường ñại học Feiberg ðức Ở cây lúa có chứa chất Gerani diphotphate (GGDP) một tiền chất quan trọng trong tổng hợp õ- carotene, nhưng tiến trình không tổng hợp ñược do thiếu các enzim cần thiết, các nhà khoa học trên ñã nạp vào 3
Trang 19gen ñể tạo ra các enzim bị thiếu này Kết quả là họ ñã thành công trong biến ñổi giống lúa Taipei 309 thuộc nhóm japinik trở thành giồng lúa ñầu tiên tạo ñược õ- carotene trong hạt gạo, ñược giới báo chí gọi là lúa vàng
Bên cạnh tạo ra giống lúa chứa tiền chất vitamin A trong gạo, nhóm nghiên cứu của giáo sư Ingo Potrycus và nhóm nghiên cứu của tiến sĩ T.Goto
ở Nhật ñang tiến hành nghiên cứu ñể tạo giống lúa có hàm lượng sắt cao trong gạo bằng cách chuyển nạp gen tạo ra chất Feritin- là một loại protein dự trữ giàu sắt trong cây ñậu Gen ñiều khiển tổng hợp Feritin trong cây ñậu ñã ñược phân lập và chuyển vào cây lúa nhờ vi khuẩn, hiệu quả là làm tăng hàm lượng sắt trong hạt gạo ñể khắc phục bệnh thiếu máu
Gần ñây Thái Lan ñã lai tạo ñược giống lúa giàu chất sắt, giống này có hàm lượng sắt trong gạo lớn gấp 30 lần so với các giống thường Ngoài ra còn chứa protein, kẽm và các tác nhân chống oxy hoá [19]
2.2.2 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới
Lúa là một trong ba cây lương thực quan trọng trên thế giới, là cây có giá trị dinh dưỡng cao Theo thống kê của tổ chức lương thực thế giới (FAO, 2008), hiện nay trên thế giới có 114 nước trồng lúa, trong ñó có 18 nước có diện tích trồng lúa trên 1 triệu ha tập trung ở Châu Á, có 31 nước có diện tích trồng lúa trong khoảng 100.000 ha – 1.000.000 ha Vùng phân bố khá rộng, lúa có thể trồng ở những vùng có vĩ ñộ cao như Hắc Long Giang (Trung Quốc) 530B, Nhật, Italia, Nga 450B ñến Nam bán cầu, vùng phân bố chủ yếu ở Châu Á từ 300B ñến
100N [20] Tuỳ thuộc vị trí ñịa lí, ñiều kiện tự nhiên, xã hội và trình ñộ thâm canh của mỗi nước mà năng suất và sản lượng có sự chênh lệch nhau
Cũng theo thống kê của FAO (2008), diện tích canh tác lúa toàn thế giới năm 2007 là 156,95 triệu ha, năng suất bình quân 4,15 tấn/ha, sản lượng 651,74 triệu tấn (Bảng 2.1) Trong ñó, diện tích lúa của châu Á là 140,3 triệu
ha chiếm 89,39 % tổng diện tích lúa toàn cầu, kế ñến là châu Phi 9,38 triệu ha (5,97 %), châu Mỹ 6,63 triệu ha (4,22 %), châu Âu 0,60 triệu ha (0,38 %),
Trang 20châu ðại dương 27,54 nghìn ha chiếm tỷ trọng không ñáng kể Những nước
có diện tích lúa lớn nhất là Ấn ðộ 44 triệu ha; Trung Quốc 29,49 triệu ha; Indonesia 12,16 triệu ha; Bangladesh 11,20 triệu ha; Thái Lan 10,36 triệu ha; Myanmar 8,20 triệu ha và Việt Nam 7,30 triệu ha
Bảng 2.1: Diện tích, năng suất, sản lượng lúa trên thế giới năm 2007
(triệu ha)
Năng suất (tấn/ha)
Sản lượng (triệu tấn)
Trang 21Mỹ và Trung Quốc là hai nước có năng suất lúa dẫn ựầu thế giới với số liệu tương ứng của năm 2007 là 8,05 và 6,34 tấn/ha Việt Nam có năng suất lúa 4,86 tấn/ha cao hơn năng suất bình quân của thế giới là 4,15 tấn/ha nhưng chỉ ựạt 60,30 % so với năng suất lúa bình quân của Mỹ
Những nước có sản lượng lúa nhiều nhất thế giới năm 2007 là Trung Quốc 187,04 triệu tấn, kế ựến là Ấn độ 141,13 triệu tấn; Indonesia 57,04 triệu tấn; Bangladesh 43,50 triệu tấn; Việt Nam 35,56 triệu tấn; Myanmar 32,61 triệu tấn và Thái Lan 27,87 triệu tấn
Theo Daniel Workman (2008), thị trường gạo toàn cầu năm 2007 ước ựạt
30 triệu tấn Trong ựó châu Á xuất khẩu 22,1 triệu tấn chiếm 76,3 % sản lượng gạo xuất khẩu toàn cầu, kế ựến là Bắc và Trung Mỹ 3,1 triệu tấn (10,6
%), châu Âu 1,6 triệu tấn (5,4 %); Nam Mỹ 1,2 triệu tấn (4,2 %); châu Phi
952 ngàn tấn (3,3 %) Sáu nước xuất khẩu gạo hàng ựầu thế giới năm 2007 là Thái Lan 10 triệu tấn chiếm 34,5 % của tổng lượng gạo xuất khẩu, Ấn độ 4,8 triệu tấn (16,5 %), Việt Nam 4,1 triệu tấn (14,1 %), Mỹ 3,1 triệu tấn (10,6 %), Pakistan 1,8 triệu tấn (6,3%), Trung Quốc (bao gồm cả đài Loan) là 901 nghìn tấn (3,1 %)
So với năm 2000, diện tắch lúa toàn cầu năm 2007 ựã tăng 2,85 triệu ha, năng suất tăng 0,21 tấn/ha, sản lượng tăng 52,78 triệu tấn
Lúa gạo là cây lương thực chắnh của châu Á đặc biệt ở vùng đông Nam Á (Bùi Huy đáp, 1978) Lúa, ngô, sắn, mắa là những cây trồng chắnh, là thu nhập chủ yếu của nông hộ
Trang 22Bảng 2.2: Diện tích, năng suất, sản lượng một số cây trồng chính
ở châu Á năm 2007
Cây trồng
Diện tích (triệu ha)
Năng suất (tấn/ha)
Sản lượng (triệu tấn)
Diện tích (triệu ha)
Năng suất (tấn/ha)
Sản lượng (triệu tấn)
Nguồn: Hoang Kim et al 2008 trích dẫn từ FAOSTAT 2008
2.3 Tình hình nghiên cứu và sản xuất lúa trong nước
2.3.1 Tình hình nghiên cứu lúa ở Việt Nam
Ở Việt Nam sản xuất lúa chiếm tỉ trọng lớn trong sản xuất nông nghiệp, thu hút hơn 70% dân số và 70% lao ñộng xã hội cả nước Lúa gạo còn là mặt hàng xuất khẩu vừa có kim ngạch lớn vừa có tính truyền thống lâu ñời Do ñó việc nghiên cứu các giống lúa cho năng xuất cao, phẩm chất tốt luôn ñược nhà
nước ta quan tâm
Công tác chọn tạo giống mới ở nước ta ñược ñánh dấu bằng sự nhập nội giống IR8 mà nhân dân ta thường quen gọi là lúa "thần nông" ðây là giống thấp cây, dáng khoẻ, chịu phân, kháng bệnh tốt và cho năng suất cao Ở miền Bắc cùng với một số dòng mới ñược tách ra và nhân lên từ IR8 và một số giống lúa thấp cây ñược lai tạo ra ñã làm cho sản lượng thóc tăng lên ñáng kể
Trang 23từ 10,8 triệu tấn năm 1976 ựã tăng lên 26,3 triệu tấn năm 1996 trong cả nước
Do đảng và Nhà nước ta ựã luôn quan tâm ựến công tác chọn tạo giống nên sau khi ựất nước thống nhất nhiều trung tâm giống cây trồng ựã ựược thành lập trong cả nước Một số trung tâm ựã thu ựược những kết quả nhất ựịnh Trung tâm giống cây trồng Ma Lâm - Bình Thuận ựã chọn tạo ựược hai tập ựoàn lúa với khoảng 800 giống Trong ựó có hai giống lúa ML48 và TH6 ựược rất nhiều nông dân các tỉnh miền Trung và miền đông Nam Bộ ưa chuộng và ựưa vào gieo cấy Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam ựược thành lập vào năm 1952 nhưng ngay từ giai ựoạn 1954-1963 Viện ựã tuyển chọn ựược nhiều giống lúa mới: Nam Ninh, Trà Trung Tử, 828, 813, NN1 Trong thời kì ựổi mới nhờ sử dụng công nghệ sinh học trong nghiên cứu phân loại, ựánh giá tắnh ựa dạng di truyền Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam ựã tạo ra các giống cây trồng chất lượng cao ựạt tiêu chuẩn xuất khẩu như các giống BM
9895, Xi 23, AYT 77, giống lúa lai HYT 57 Bằng các phương pháp chọn tạo giống mới như nuôi cấy bao phấn, nuôi cấy tế bào sôma, lai xa, ựột biến, ưu thế lai, lai tạo kết hợp với ựột biến, lai tạo kết hợp với nuôi cấy bao phấn ựược áp dụng nhiều hơn vào kêt quả bước ựầu ựã tạo nhiều dòng, giống mới có giá trị như OM 3007-16-27, OM 3007-42-94, DT 122, BM 9963 đây là những dòng giống mang nhiều ựặc ựiểm quắ như tiềm năng năng xuất cao, chất lượng gạo tốt, chống chịu sâu bệnh và các ựiều kiện bất thuận như phèn, mặn, hạn, úng [8] Viện lúa ựồng bằng sông Cửu Long cũng ựã tạo ra ựược một số giống lúa mới giống AS 1007 và AS 996 thông qua cặp lai IR64/ oryza rufifogon Nhóm nghiên cứu lúa tổ tài nguyên cây trồng thuộc Viện lúa ựồng bằng sông Cửu Long cũng ựã tăng cường chọn lọc giống lúa năng suất cao chống chịu bệnh cháy lá phù hợp với nhiều vùng sinh thái ở ựồng bằng sông Cửu Long như: MTL364 có nguồn gốc từ tổ hợp lai IR64/ MTL14 MTL384 ựược lai tạo từ tổ hợp lai MTL142 và lúa thơm cực ngắn
Trang 24Vừa qua Viện lúa ựồng bằng sông Cửu Long công bố ựã nghiên cứu ứng dụng thành công công nghệ chuyển nạp gen tạo ra giống lúa mới giàu vi chất dinh dưỡng từ ba giống lúa IR64, MTL250 và Taipei 309, ựặc tắnh ưu ựiểm vượt trội của giống lúa mới này là có hàm lượng cao các vi chất như: vitamin A, E, sắt, kẽm những vi chất rất cần thiết ựối với con người Ngoài ra dòng lúa biến ựổi gen còn gia tăng ựáng kể chất oryzanol chất quan trọng hơn cả vitamin E có tác dụng chống oxi hoá, giúp làm giảm hàm lượng cholesterol trong máu Dòng lúa biến ựổi này còn có cả các ưu ựiểm kháng sâu bệnh, ựảm bảo tắnh an toàn sinh học, dễ trồng có thể ựưa vào sản xuất lúa hàng hoá vì chúng khắc phục ựược những khiếm khuyết về tắnh không ổn ựịnh thường gặp ở cây biến ựổi gen [22] Với sự phát triển ngày càng cao của xã hội yêu cầu ựặt ra ựối với các nhà chọn tạo giống là không những chỉ chọn tạo giống có tiềm năng năng suất cao mà còn phải cần có chất lượng tốt Mục ựắch không chỉ phục vụ cho tiêu dùng trong nước mà còn ựể ựáp ứng cho nhu cầu xuất khẩu góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của lúa gạo Việt Nam trên thị trường quốc tế đáp ứng nhu cầu ựó Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam ựã tiến hành chọn tạo và ựã thành công với ba giống BM9603, HT1 và N97 [26]
Như vậy cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật mới, công tác chọn lọc lai tạo các giống lúa mới ựã ra ựời ựáp ứng những ựòi hỏi ngày càng cao của con người Xu hướng trong nghiên cứu của các nhà khoa học nông nghiệp hiện nay là tập trung nghiên cứu cải tiến hệ thống cây trồng trên các vùng ựất bằng cách ựưa thêm một số loại cây trồng mới vào hệ canh tác nhằm tăng sản lượng nông sản/ 1 ựơn vị diện tắch canh tác/ 1 năm với mục ựắch xây dựng nền nông nghiệp sinh thái phát triển bền vững (Phạm Văn Tiêm, 2005) [27]
2.3.2 Tình hình sản xuất lúa gạo ở Việt Nam
Việt Nam là nước có nền nông nghiệp với lịch sử phát triển hàng nghìn năm trong ựó cây lúa có vị trắ rất quan trọng Trong mười năm gần ựây sự phát
Trang 25triển của sản xuất lúa gạo Việt Nam ựã ựạt ựược những thành tắch nổi bật ựóng góp ựáng kể vào sự nghiệp ựổi mới của cả nước Việt Nam ựã trở thành nước xuất khẩu gạo thứ hai trên thế giới sau Thái Lan Tuy nhiên sản xuất lúa gạo ở Việt Nam còn nhiều thách thức trong chiến lược an toàn lương thực, trong sự ựa dạng sinh học của một nền nông nghiệp bền vững ựặc biệt là khả năng nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế (Nguyễn Hữu Nghĩa, 1996) [22]
Bảng 2.3: Diện tắch, năng suất và sản lượng lúa ở Việt Nam
từ năm 2000 Ờ 2010
(triệu ha)
Năng suất (tấn/ha)
Sản lượng (triệu tấn)
(Nguồn: Niên giám thống kê Việt Nam qua các năm)
Trước cách mạng tháng tám năm 1945 nền nông nghiệp nước ta ựộc canh cây lúa với trình ựộ canh tác lạc hậu, năng suất thấp ở mức 10-12 tạ/ha Từ năm 1945 ựến nay sản lượng lúa gạo nước ta không ngừng tăng lên đặc biệt
là sau khi ban hành Nghị Quyết 10 của Bộ Chắnh trị khóa VI về nông nghiệp, sản xuất lúa nước ta ựã có sự phát triển mới đánh dấu bằng sự kiện từ một nước ựói kém, năm 1989 nước ta ựã xuất khẩu ựược một 1,4 triệu tấn gạo Từ
ựó ựến nay lượng gạo xuất khẩu ựã tăng ựều Nước ta trở thành một nước xuất
Trang 26khẩu gạo quan trọng với phẩm chất gạo ngày càng tốt Hiện nay sản lượng lúa
cả nước tăng cao nhưng năng suất giữa các vùng có sự chênh lệch nhau Ở vùng ñồng bằng một số nơi ñã ñạt ñược năng suất cao 10-12 tấn/ha nhưng ở vùng trung du miền núi năng suất bình quân chỉ ñạt 2 tấn/ha
Qua số liệu bảng 2.3 ta thấy:
Về diện tích: Từ năm 2000 - 2010 sản xuất lúa của nước ta diện tích ñang có xu hướng giảm, từ 7,67 triệu ha năm 2000 xuống còn 7,39 triệu ha năm 2010 Hiện nay theo xu hướng phát triển của thời ñại tốc ñộ ñô thị hoá ngày càng tăng lên Một phần diện tích canh tác ñã ñược chuyển ñổi ñể mở rộng các khu dân cư, xây dựng cơ sở hạ tầng Trong xu hướng chung ñó diện tích trồng lúa ngày càng bị thu hẹp
Về năng suất: Từ năm 2000 ñến nay năng suất lúa ngày càng tăng ðạt ñược ñiều ñó là nhờ sự ñổi mới trong cơ chế quản lý của ðảng và nhà nước
mà mở ñầu là từ Nghị Quyết 10 Tiếp ñó là do nhân dân ta ñã biết ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất ñặc biệt là sử dụng những giống mới có tiềm năng năng suất cao, phẩm chất tốt
Về sản lượng: Nhìn chung từ năm 2000 ñến nay sản lượng chung của
cả nước cũng ngày một gia tăng Tuy từ năm 2000 ñến nay diện tích có giảm nhưng do sử dụng các giống lúa mới có năng suất cao ñặc biệt là diện tích lúa lai tăng ñã làm cho sản lượng tăng lên ðiều này ñã giúp cho Việt Nam giữ vững vị trí thứ 2 trong những nước xuất khẩu gạo trên thế giới
Việc sản xuất nông nghiệp nước ta trải dài trên bảy vùng sinh thái từ Nam vào Bắc Vùng ñồng bằng sông Cửu Long là vựa lúa lớn nhất của cả nước, diện tích và sản lượng lớn gấp gần 3 lần diện tích và sản lượng lúa ñồng bằng sông Hồng Lượng gạo nước ta xuất khẩu chủ yếu ñược tập trung sản xuất ở vùng này Vùng ñồng bằng sông Hồng là vựa lúa lớn thứ 2 của cả nước Hàng năm hai vựa lúa ñồng bằng sông Hồng và ñồng bằng sông Cửu Long chiếm gần 70%
Trang 27tổng sản lượng lúa toàn quốc Nhìn chung năng suất lúa của ựồng bằng sông Hồng cao hơn ựồng bằng sông Cửu Long nhưng ở ựây diện tắch ựang ngày càng
bị thu hẹp do ựô thị hoá và công nghiệp hoá, ựiều kiện thời tiết cũng không thuận lợi cho hướng thâm canh tăng vụ Vì vậy khả năng cho phép tăng sản lượng không nhiều so với ựồng bằng sông Cửu Long [22] đối với những vùng còn lại
do ựiều kiện tự nhiên không thuận lợi do ựó sản lượng chỉ chiếm một phần nhỏ
so với hai vùng trên điều ựó ựược thể hiện ở bảng 2.4
Bảng 2.4: Sản lượng lúa 7 vùng của nước ta
đồng bằng sông Hồng
Khu bốn cũ
Duyên hải Nam Trung
Bộ
Tây Nguyên
đông Nam
Bộ
đồng bằng sông Cửu Long
Trang 28Như vậy vấn ựề ựặt ra ựối với ngành sản xuất nông nghiệp nước ta hiện nay là cần phải khắc phục những hạn chế của các vùng sinh thái ựể từ ựó thu hẹp sự chênh lệch về năng suất lúa giữa các vùng để làm ựược ựiều ựó ta cần phải ựẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học cũng như một loạt các vấn ựề liên quan ựến sản xuất
Khi nước ta gia nhập vào AFTA ựã có nhiều cơ hội, nhưng cũng có rất nhiều thách thức mới ựối với nền kinh tế nước ta nói chung và ngành nông nghiệp nói riêng Do ựó cần phải biết phát huy những thế mạnh vốn có cũng như tìm mọi cách khắc phục những khó khăn yếu kém của mình ựể tận dụng những cơ hội mới góp phần phát triển kinh tế Hiện nay Việt Nam ựã là nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai thế giới
Bảng 2.5: Sản lượng xuất khẩu gạo ở Việt Nam từ năm 2000 Ờ 2010
Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 Sản
lượng
(triệu
tấn)
3,477 3,721 3,236 3,810 4,063 5,255 4,642 4,580 4,745 5,969 6,886
Nguồn: Niên giám thống kê Việt Nam qua các năm
Qua số liệu trên ta thấy sản lượng gạo xuất khẩu của nước ta tăng dần qua các năm đạt ựược kết quả như vậy là do nước ta ựã chú trọng ựầu tư các giống mới, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất
2.3.3 Tình hình sản xuất lúa gạo ở Hà Tĩnh
Hà Tĩnh là tỉnh thuộc vùng Bắc Trung Bộ, phắa Bắc giáp tỉnh Nghệ An, phắa Nam giáp tỉnh Quảng Bình, phắa Tây giáp nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào, phắa đông là biển đông, Hà Tĩnh nằm trong khu vực nhiệt ựới gió mùa nóng ẩm, mưa nhiều Ngoài ra, Hà Tĩnh còn chịu ảnh hưởng của khắ hậu chuyển tiếp giữa miền Bắc và miền Nam, với ựặc trưng khắ hậu nhiệt ựới ựiển
Trang 29hình của miền Nam và có một mùa ñông giá lạnh của miền Bắc Hà Tĩnh có 2 mùa rõ rệt: từ tháng 4 ñến tháng 10, mùa này nóng, khô hạn kéo dài kèm theo nhiều ñợt gió Tây Nam (gió Lào) khô nóng, nhiệt ñộ có thể lên tới 40oC, trung tuần tháng 9 ñến tháng 10 thường có nhiều ñợt bão kèm theo mưa lớn gây lũ lụt, từ tháng 11 ñến tháng 3 năm sau kéo theo gió lạnh và mưa phùn kéo dài
Hiện nay trong xu thế phát triển chung, Hà Tĩnh cũng không ngừng ñẩy mạnh sản xuất và ñã có những bước tiến mới, chúng ta có thể nhận thấy ñiều này qua số liệu bảng sau:
Tình hình sản xuất lúa ở Hà Tĩnh trong những năm gần ñây
(Nghìn ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (Nghìn tấn)
Nguồn: Cục Thống kê Hà Tĩnh qua các năm
Qua bảng số liệu bảng trên ta thấy:
Về diện tích: Trong những năm gần ñây diện tích ñang có xu hướng giảm
do việc mở rộng các khu ñô thị, khu công nghiệp, xây dựng cơ sở hạ tầng và việc chuyển ñổi cơ cấu cây trồng ở những diện tích không chủ ñộng nước Diện tích một số vùng ñồng bằng chuyển diện tích thấp trũng sang nuôi trồng thủy sản Ở những vùng bán sơn ñịa thì chuyển từ trồng lúa sang trồng màu Việc chuyển ñổi này ñã góp phần nâng cao thu nhập cho người dân, hạn chế
Trang 30Về năng suất: Năng suất biến ñộng không ñáng kể qua các năm, riêng năng suất năm 2007 giảm mạnh so với các năm khác Nguyên nhân là do năm
2007 ñã bị ảnh hưởng của cơn bão số 2 và cơn bào số 5 kèm theo mưa to, gió lớn ñã làm cho nhiều diện tích ñất trồng lúa bị ngập và hư hỏng nặng
Về sản lượng: Mặc dù những năm gần ñây diện tích có xu hướng giảm nhưng sản lượng thay ñổi không ñáng kể Riêng năm 2007 do những nguyên nhân như ñã nêu ở trên nên sản lượng giảm so với các năm khác Tuy vậy nhìn chung sản lượng lúa của cả tỉnh ñã có sự chuyển biến tích cực ðạt ñược như vậy là nhờ sụ chỉ ñạo của tỉnh trong việc chuyển ñổi cơ cấu mùa vụ, sử dụng các giống cây trồng hợp lý, ứng dụng tốt các tiến bộ khoa học kỹ thuật, mạnh dạn ñưa vào sản xuất các giống lúa có năng suất cao như: Khang dân
18, Xi 21, X 23, Nhị ưu 838
2.4 Một số kết quả nghiên cứu về phân bón với lúa
Ở Việt Nam, diện tích ñất canh tác bình quân ñầu người trong vòng 65 năm qua ñã giảm từ 2.548 m2 xuống còn 732 m2/người, tương ñương với mức
ñộ giảm 1,1%/năm [3] Như vậy trong nông nghiệp hiện nay, sản lượng cây trồng sẽ ñược quyết ñịnh chủ yếu bằng yếu tố năng suất thông qua thâm canh
và áp dụng các kỹ thuật mới trong công tác chọn tạo giống, bảo vệ thực vật và chế biến, bảo quản sau thu hoạch, trong ñó vai trò của phân bón là cực kỳ quan trọng ðiều này cũng phù hợp với kinh nghiệm lâu ñời của ông cha ta là “Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống” Phân bón góp phần làm tăng năng suất cây trồng thông qua nhiều cơ chế tác ñộng khác nhau, song quan trọng hơn cả là phân bón cung cấp cho cây trồngnhững dinh dưỡng cần thiết mà ñất không ñủ khả năng cung cấp, duy trì ñộ phì nhiêu trong quá trình canh tác Ngoài ra, cùng với năng suất kinh tế, phân bón làm tăng lượng sinh khối cây do ñó tăng nguồn hữu cơ trả lại cho ñất, góp phần ổn ñịnh ñộ phì của ñất
Theo kết quả tổng kết của Mai Văn Quyền (2002) trên 60 thí nhiệm khác
Trang 31nhau, thực tiễn ở 40 nước có khí hậu khác nhau cho thấy: Nếu ñạt năng suất lúa 3 tấn thóc/ha, thì lúa lấy ñi hết 50kg ñạm, 260kg lân, 80kg kali, 10kg CaO, 6kg Mg, 5kg S và nếu ruộng lúa ñạt năng suất ñến 6 tấn/ha thì lượng dinh dưỡng cây lúa lây ñi là 100kg ñạm, 50kg lân, 160kg kali, 19kg CaO, 12kg Mg, 10kg S [24] Lấy trung bình, cứ tạo 1 tấn thóc cây lúa lấy ñi hết 17kg ñạm, 8kg lân, 27kg kali, 3kg CaO, 2kg Mg và 1,7kg S [23]
* Phân ñạm (N) ñối với cây lúa
Theo Yoshida (1980), ñạm là nguyên tố dinh dưỡng quan trọng nhất ñối với cây lúa trong các giai ñoạn sinh trưởng và phát triển
Theo kết quả nghiên cứu của Mitsui (1973) về ảnh hưởng của ñạm ñến hoạt ñộng sinh lý của lúa như sau :
Sau khi tăng lượng ñạm thì cường ñộ quang hợp, cường ñộ hô hấp và hàm lượng diệp lục của cây lúa tăng lên, nhịp ñộ quang hợp, hô hấp không khác nhau nhiều nhưng cường ñộ quang hợp tăng mạnh hơn cường ñộ hô hấp gấp 10 lần cho nên vai trò của ñạm làm tăng tích luỹ chất khô (Nguyễn Thị Lẫm, 1994) [18]
Viện Nông hoá thổ nhưỡng ñã tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của ñất, mùa vụ và liều lượng phân ñạm bón vào ñến tỷ lệ ñạm do cây lúa hút [12] Không phải do bón nhiều ñạm thì tỷ lệ ñạm của lúa sử dụng nhiều Ở mức phân ñạm 80 kgN/ha, tỷ lệ sử dụng ñạm là 46,6%, so với mức ñạm này có phối hợp với phân chuồng tỷ lệ ñạm hút ñược là 47,4% Nếu tiếp tục tăng liều lượng ñạm ñến 160N và 240N có bón phân chuồng thì tỷ lệ ñạm mà cây lúa
sử dụng cũng giảm xuống Trên ñất bạc màu, so với ñất phù sa sông Hồng thì hiệu suất sử dụng ñạm của cây lúa thấp hơn Khi bón liều lượng ñạm từ 40N - 120N thì hiệu suất sử dụng phân giảm xuống, tuy lượng ñạm tuyệt ñối do lúa
sử dụng có tăng lên [4]
Kết quả nghiên cứu sử dụng phân bón ñạm trên ñất phù sa sông Hồng
Trang 32của Viện khoa học Nông nghiệp Việt Nam ựã tổng kết các thắ nghiệm 4 mức ựạm từ năm 1992 ựến năm 1994, kết quả cho thấy: Phản ứng của phân ựạm ựối với cây lúa phụ thuộc vào thời vụ, loại ựất và giống lúa [11]
Viện nghiên cứu lúa ựồng bằng sông Cửu Long ựã có nhiều thắ nghiệm về ảnh hưởng của liều lượng ựạm khác nhau ựến năng suất lúa vụ đông Xuân và
Hè Thu trên ựất phù sa ựồng bằng sông Cửu Long Kết quả nghiên cứu trung bình nhiều năm, từ năm 1985 - 1994 của Viện lúa ựồng bằng sông Cửu Long, kết quả này ựã chứng minh rằng: Trên ựất phù sa ựược bồi hàng năm có bón 60
P2O5 và 30 K2O làm nền thì khi bón ựạm ựã làm tăng năng suất lúa từ 15 - 48,5% trong vụ đông Xuân và Hè Thu tăng từ 8,5 - 35,6% Hướng chung của hai vụ ựều bón ựến mức 90N có hiệu quả cao hơn cả, bón trên mức 90N này năng suất lúa tăng không ựáng kể [13] Theo Nguyễn Thị Lẫm (1994) [18], khi nghiên cứu về bón phân ựạm cho lúa cạn ựã kết luận : Liều lượng ựạm bón thắch hợp cho các giống có nguồn gốc ựịa phương là 60N/ha đối với những giống thâm canh cao như (CK136) thì lượng ựạm thắch hợp từ 90 - 120N/ha Theo Nguyễn Như Hà (1999), khi nghiên cứu ảnh hưởng của mật ựộ cấy
và ảnh hưởng của liều lượng ựạm tới sinh trưởng của giống lúa ngắn ngày thâm canh cho thấy: Tăng liều lượng ựạm bón ở mật ựộ cấy dày có tác dụng tăng tỷ lệ nhánh hữu hiệu [11]
Phân ựạm ựối với lúa lai là rất quan trọng Lúa lai có bộ rễ khá phát triển, khả năng huy ựộng từ ựất rất lớn nên ngay trường hợp không bón phân năng suất lúa lai vẫn cao hơn lúa thuần Các nhà nghiên cứu Trung Quốc ựã kết luận : cùng một mức năng suất, lúa lai hấp thu lượng ựạm và lân thấp hơn lúa thuần, ở mức năng suất 75 tạ/ha lúa lai hấp thu ựạm thấp hơn lúa thuần 4,8%, hấp thu lân thấp hơn 18,2% nhưng hấp thu kali cao hơn 30% Với ruộng lúa cao sản thì lúa lai hấp thu ựạm cao hơn lúa thuần 10%, hấp thu kali cao hơn 45%, còn hấp thu lân thì bằng lúa thuần [18]
Trang 33Kết quả thắ nghiệm trong chậu cho thấy: Trên ựất phù sa sông Hồng bón ựạm ựơn ựộc làm tăng năng suất lúa lai 48,7% trong khi ựó năng suất giống lúa CR203 chỉ tăng 23,1% Với thắ nghiệm ựồng ruộng, bón ựạm, lân cho lúa lai có kết quả rõ rệt [4] Nhiều thắ nghiệm trong phòng cũng như ngoài ựồng ruộng cho thấy hiệu quả của ựạm, 1kgN bón cho lúa lai làm tăng năng suất 9 - 18kg thóc,
so với lúa thuần thì tăng 2 - 13kg thóc Như vậy, trên các loại ựất có vấn ựề như ựất bạc màu, ựất gley khi các yếu tố khác chưa ựược khắc phục về ựộ chua, lân
và kali thì vai trò của phân ựạm không phát huy ựược, do bón ựạm, lân nên năng suất lúa lai tăng có 17,7% trên ựất bạc màu và 11,5% trên ựất gley
Với ựất phù sa sông Hồng, bón ựạm với mức 180kg/ha trong vụ Xuân và 150kgN/ha trong vụ Mùa cho lúa lai vẫn không làm giảm năng suất lúa Tuy nhiên, ở mức ựạm bón 120kgN/ha làm cho hiệu quả cao hơn các mức khác [11] Thời kỳ bón ựạm là thời kỳ rất quan trọng trong việc nâng cao hiệu lực của phân ựể làm tăng năng suất lúa Với phương pháp bón ựạm (bón tập trung vào giai ựoạn ựầu và bón nhẹ vào giai ựoạn cuối) của Việt Nam vẫn cho năng suất lúa cao, năng suất lúa tăng thêm từ 3,5 tạ/ha [1], [2], [18], [25]
Kết quả nghiên cứu thời kỳ bón ựạm cho thấy rất rõ hiệu quả của phân ựạm trên ựất phù sa sông Hồng ựạt cao nhất ở thời kỳ bón lót từ 50 - 75% tổng lượng ựạm, lượng ựạm bón nuôi ựòng chỉ từ 12,5 - 25%
* Phân lân (P 2 O 5 ) ựối với cây lúa
Năm 1996, theo Mai Thành Phụng và một số tác giả cho rằng trên ựất phèn nặng, muốn trồng lúa có hiệu quả cần phải liên tục cải tạo: Sử dụng nước ngọt tưới ựể rửa phèn, bón phân lân liều lượng cao trong những năm ựầu ựể tắch luỹ lân Trên ựất phù sa sông Cửu Long ựược bồi hàng năm, bón lân vẫn
có hiệu quả rất rõ Vụ đông xuân, bón 20 Kg P2O5/ha ựã tăng năng suất ựược 20% so với công thức không bón lân Tuy nhiên, bón thêm với liều lượng cao hơn, năng suất lúa có tăng nhưng không rõ cho nên ruộng thâm canh thường
Trang 34ñược bón phối hợp từ 20 - 30 kg P2O5 là ñủ Trong vụ Hè thu, cây lúa có nhu cầu lượng lân cao và hiệu quả xuất hiện rõ hơn vụ Xuân, bón 20 kg P2O5 thì ñã bội thu ñược 43,7%, tiếp tục bón tăng lượng lân năng suất lúa có tăng nhưng không rõ [4]
Năm 1994, kết quả thí nghiệm bón lân cho lúa của trường ðại học Nông nghiệp II tại xã Thuỷ Dương - Huyện Hương Thuỷ (Thừa Thiên - Huế) cho thấy: Trong vụ Xuân bón lân cho lúa từ 30 - 120 kg P2O5/ha ñều làm tăng năng suất lúa từ 10 - 17% Với liều lượng bón 90 kg P2O5 là ñạt năng suất cao nhất và nếu bón hơn liều lượng 90 kg P2O5/ha thí năng suất có xu hướng giảm Trong vụ Hè thu, với giống lúa VM,1, bón supe lân hay lân nung chảy ñều làm tăng năng suất rất rõ rệt [1]
Tất cả các thí nghiệm trong chậu và ngoài ñồng ñều cho thấy hiệu suất sử dụng lân ở lúa lai là 10 - 12 kg thóc/kg P2O5 so với lúa thuần là 6 - 8 kg thóc/ kg P2O5 [4]
* Phân kali (K 2 O) ñối với cây lúa
Năm 1996, Mai Văn Quyền cho biết: Trên vùng ñất xám ở ðức Hoà - Long An, Viện Khoa học Nông nghiệp miền Nam năm 1993 ñã thí nghiệm với 2 giống lúa KSB 218 - 9 - 3 và giống 2B cho thấy ở các công thức bón từ mức 30 ñến 120 kg K2O/ha ñều làm cho năng suất lúa cao hơn ñối chứng từ 15,8 - 32,4% với giống KSB - 218 và từ 6 - 18,7% ñối với giống 2B
Dinh dưỡng kali là một trong 3 yếu tố dinh dưỡng quan trọng ñối với cây lúa, trước tiên là cây lúa hút kali, sau ñó hút ñạm ðể thu ñược 1 tấn thóc, cây lúa lấy ñi 22 - 26 kg K2O nguyên chất, tương ñương với 36,74 - 43,4 kg KCl (60% K), kali là nguyên tố ñiều khiển chất lượng tham gia vào các quá trình hình thành các hợp chất và vật chất, kali còn có tác dụng làm tăng tỷ lệ ñường, giúp vận chuyển chất dinh dưỡng nhanh chóng về hoa và tạo hạt Kết quả thí nghiệm của IRRI tiến hành tại 3 ñiểm khác nhau trong 5 năm
Trang 35(1968 - 1972) cho thấy: Kali có ảnh hưởng rất rõ tới năng suất lúa ở cả 2 vụ trong năm Trong ñiều kiện mùa khô với mức 140N, 60P2O5 và bón 60kg
K2O/ha thì năng suất lúa ñạt 6,78 tấn/ha, cho bội thu năng suất do bón kali là 12,8 kg thóc/kg K2O Trong mùa mưa với mức 70N, 610P2O5; bón 60 kg
K2O/ha thì năng suất lúa ñạt 4,96 tấn/ha cho bội thu năng suất do bón kali trung bình năm vụ ñạt 440 kg thóc, với hiệu suất phân bón là 6,1 kg thóc/ kg K2O Trên ñất phù sa sông Hồng, trong thâm canh lúa ngắn ngày, ñể ñạt ñược năng suất lúa hơn 5 tấn/ ha ở vụ Mùa và trên 6 tấn/ha ở vụ Xuân, nhất thiết phải bón kali ðể ñạt năng suất lúa Xuân 7 tấn/ha thì cần bón 102 - 135 kg K2O/ha/vụ (với mức 193 kg N/ha, 120 kg P2O5/ha) và năng suất lúa vụ mùa ñạt 6 tấn cần bón 88 - 107 kg K2O/ha/vụ (với mức 160kg N/ha/vụ, 88kg P2O5/ha/vụ) Hiệu suất phân kali có thể ñạt 6,2 - 7,2 kg thúc/ kg K2O [11], [25]
Vai trò cân ñối ñạm và kali càng lớn khi lượng ñạm sử dụng càng cao Nếu không bón kali thì hệ số sử dụng ñạm chỉ ñạt 15 - 30% trong khi bón kali thì hệ
số này tăng lên ñến 39 - 49% Như vậy, năng suất tăng không hẳn là do kali (bởi
vì bón kali riêng không tăng năng suất) mà là kali ñiều chỉnh dinh dưỡng ñạm, làm cho cây sử dụng ñược nhiều ñạm và các dinh dưỡng khác nhiều hơn
Trong vụ Xuân ở miền Bắc, nhiệt ñộ thấp, thời tiết âm u nên hiệu lực sử dụng phân kali cao hơn, cho nên cần bón kali nhiều ở vụ này [2]
Dinh dưỡng kali ñối với giống lúa lai Lúa lai sử dụng kali cao hơn ñạm, hút kali mạnh vào giai ñoạn lúa làm ñòng ñến giai ñoạn lúa trỗ hoàn toàn [12] Thời gian lúa hút kali kéo dài hơn lúa hút ñạm và lân, lúa hút kali ñến cuối thời
kỳ sinh trưởng [17] Nhu cầu kali của cây lúa rõ nhất ở 2 thời kỳ: thời kỳ ñẻ nhánh và làm ñòng Nếu thời kỳ ñẻ nhánh thiếu kali thì ảnh hưởng ñến năng suất lúa Tuy nhiên, lúa hút kali nhiều nhất ở thời kỳ làm ñòng, từ cuối giai ñoạn ñẻ nhánh ñến trỗ lúa lai hấp thu kali nhiều hơn lúa thuần Sau khi trỗ bông, lúa thuần giảm dần hút kali trong khi lúa lai vẫn hấp thu kali mạnh
Trang 36Kali ñược sử dụng, trong nguyên sinh chất tế bào như một tác nhân kích thích các hoạt ñộng chuyển hoá vật chất vô cơ thành hữu cơ ñồng thời thúc ñẩy quá trình vận chuyển sản phẩm quang hợp vận chuyển lên lá, vào hoa và hạt Sự có mặt của kali thời kỳ sau trỗ của lúa lai là một ưu thế thúc ñẩy quá trình mẩy của hạt giúp nâng cao năng suất Lúa lai có khả năng ñồng hoá dinh dưỡng cao nhất là ñạm với kali Lượng ñạm hút thường trên 20 - 22 kg N/tấn thóc và lượng hút kali cũng tương tự Trong vụ Xuân ñể ñạt năng suất cao thì cần phải bón sớm Bón kali là yêu cầu bắt buộc với lúa lai ngay cả trên ñất giàu kali [17]
Trong những năm gần ñây, nông lâm nghiệp Việt Nam ñã có những bước phát triển vượt bậc Tốc ñộ tăng trưởng bình quân hàng năm 4,3%; sản xuất lương thực tăng 5,8%, năng suất lúa tăng 52% Từ một nước nông nghiệp thường xuyên phải nhập khẩu lương thực, ñến năm 2000 Việt Nam trở thành nước xuất khẩu gạo thứ 2 thế giới [30], trong ñó phân bón có nhiều ñóng góp tích cực Cho ñến nay Việt Nam mới chỉ sản xuất ñáp ứng khoảng 20% nhu cầu về ñạm và 80% nhu cầu về lân Số phân bón thiếu hụt hàng năm Nhà nước phải bỏ ra hàng nửa tỷ USD ñể nhập khẩu
Do sự thiếu cân ñối trong việc bón các yếu tố dinh dưỡng cũng như các yếu tố ngoại cảnh khác nên hiệu quả sử dụng phân bón hoá học không cao, gây lãng phí và ảnh hưởng xấu ñến môi trường Số liệu thống kê cho thấy, lượng sử dụng phân khoáng ở Việt Nam chưa cao so với một số nước trên thế giới, song do bón phân khoáng không cân ñối, thiếu hợp lý và không ñòng bộ nên hiệu quả sử dụng phân bón thấp Ở Việt Nam, hiệu quả sử dụng phân bón ñạt 35 - 45% ñối với ñạm và 50 - 60% ñối với lân và kali ðiều ñó làm gia tăng sự mất cân ñối về dinh dưỡng ñối với cây trồng, trong khi lượng hút các chất dinh dưỡng cùng với sản phẩm thu hoạch vượt quá lượng dinh dưỡng bón vào Kết quả là
Trang 37nguồn dự trữ dinh dưỡng chứa trong ñất ngày càng cạn kiệt Việc tăng lượng phân ñạm bón lên gấp ñôi từ năm 1985 - 1992 ñã dẫn ñến mất cân ñối hàng năm khoảng 5000.000 tấn K2O mà cây trồng bắt buộc lấy
ñi từ ñất Thêm vào ñó khoảng 200.000 tấn K2O hoàn toàn bị lấy ñi khỏi ñất Việt Nam theo các sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu Sự thiếu hụt lân cũng ở mức trầm trọng khoảng 20.000 tấn [1]
Bón phân không cân ñối dẫn ñến tình trạng vừa thừa vừa thiếu dinh dưỡng ñồng thời gây nên hiện tượng chai cứng, giảm ñộ phì, thay ñổi tính chất vật lý , hoá học và sinh học của ñất trồng Việt Nam thuộc vùng nhiệt ñới nóng ẩm, mưa nhiều, hiện tượng xói mòn, rửa trôi do thời tiết là ñiều không thể tránh khỏi Nếu không có biện pháp canh tác, bón phân và sử dụng phân bón hợp lý chỉ qua một vụ mưa lượng mùn bị rửa trôi bằng cả thời gian chục năm hình thành và tích tụ Do không cân ñối dinh dưỡng ñất nên hiện tượng suy kiệt dinh dưỡng ñất ñã và ñang xảy ra ngày càng trầm trọng
Ngoài ra, phân bón hoá học có chứa nhiều kim loại nặng ñặc biệt là cadmium (Cd) khi ñược bón vào ñất, cây trồng sẽ sử dụng và gây nên nguy cơ tích luỹ kim loại nặng trong nông sản
Thực tế sản xuất nông nghiệp trên thế giới và Việt Nam ñã khẳng ñịnh, phân bón trong giai ñoạn vừa qua ñã có nhiều ñóng góp tích cực Số lượng, chất lượng và chủng loại phân bón ngày một tăng cao, góp phần quan trọng trong việc bảo ñảm an ninh lương thực Song mặt khác, việc sử dụng gia tăng phân bón hoá học trong sự mất cân ñối nghiêm trọng giữa các yếu tố dinh dưỡng ñã gây ra nhiêu ảnh hưởng xấu ñến hiệu quả sản xuất và môi trường sinh thái ðể phát triển nông nghiệp bền vững, cần phải có chiến lược an toàn dinh dưỡng cho ñất và cây trồng: ñó là bảo ñảm cung cấp ñủ liều lượng càn thiết các chất dinh dưỡng thiết yếu ñúng lúc cây cần, theo tỷ lệ cân ñối giữa các chất trong phân bón phù hợp với yêu cầu từng loại cây trên các vùng ñất
Trang 38trồng dưới các ñiều kiện thời tiết, khí hậu khác nhau An toàn dinh dưỡng cho cây và ñất trồng cũng có nghĩa bảo ñảm và phát triển hệ sinh thái ñất ðất tồng không chỉ là tập hợp các nguyên tố hoá học mà còn là một thế giới sống - nơi trú ngụ và sinh sống của hàng triệu triệu sinh vật, nơi từng giờ, từng phút diễn ra hàng loạt các phản ứng lý, hoá và sinh học Thông qua các phản ứng
lý, hoá, sinh học và các hoạt ñộng của sinh vật sống, ñất trồng mới có ñiều kiện ñể hồi phục và cân bằng thông qua các quy luật của tự nhiên Nếu phá vỡ các quy luật này ñất sẽ bị huỷ hoại và không phát huy ñược vai trò của nó Bảo ñảm an toàn dinh dưỡng cho cây và ñất trồng không chỉ nâng cao năng suất, chất lượng nông sản, giảm chi phí sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế
mà còn góp phần bảo vệ môi sinh, môi trường thông qua việc tạo thế cân bằng trong tự nhiên, giảm bớt hoá chất ñộc sử dụng trong phòng trừ sâu bệnh hại cây trồng Chiến lược an toàn dinh dưỡng cho cây và ñất trồng là sử dụng cân ñối lượng phân bón cho cây trồng phù hợp với nhu cầu dinh dưỡng và ñiều kiện ñất ñai, khí hậu
Một trong những tiến bộ khoa học thường xuyên, liên tục ñược áp dụng vào sản xuất nông nghiệp ñó chính là việc sử dụng các loại phân bón thế hệ mới ñược nhập khẩu từ các nước có ngành nông nghiệp phát triển như: Mỹ, Canada, Pháp, ðức…vv
Các quan niệm về dinh dưỡng cây trồng ñã có những thay ñổi ñáng kể trong những năm gần ñây Trước kia và cả hiện nay vẫn còn ñang phổ biến cách hiểu dinh dưỡng cây trồng là các khoáng chất ñược cấp bằng các loại phân bón có chứa N, P, K Các kinh nghiệm canh tác cũng tập trung vào các chương trình bón các phân bón vô cơ này, trong ñó phân ñạm ñược sử dụng tăng lên nhiều ñáng kể
Ngày nay, quan niệm về dinh dưỡng cây trồng ñang thay ñổi Những người trong nông nghiệp ñã thấy rằng cần phải ñánh giá lại các quan niệm
Trang 39trước kia về việc sử dụng phân bón vô cơ, về vai trò của từng loại phân bón với sự phát triển của cây trồng, thấy rõ hơn cây trồng cần nhiều chất dinh dưỡng hơn, ví dụ như các vi lượng, các trung lượng, các dinh dưỡng hữu cơ như các axít amin, các vitamin và cần một chương trình phân bón cân ñối Các chất dinh dưỡng này làm tăng năng suất, chất lượng nông sản và tăng khả năng chống chịu sâu bệnh, sự thay ñổi bất thường của thời tiết
Chúng ta thường ñược biết cây lấy nước và chất dinh dưỡng từ ñất qua
rễ, nhưng ít ai chý ý rằng rễ chỉ chiếm rất nhỏ phần trong ñất (chỉ 1 - 2%), nhưng lại biết rất rõ là ñạm, lân, kali bị mất ñi rất nhiều vào môi trường, cây trồng chỉ sử dụng ñược dưới 50% lượng phân bón sử dụng ðể tăng suất, sử dụng nhiều phân bón là giải pháp hàng ñầu, dẫn ñến phân bón ngày càng phải dùng nhiều và hiệu quả sử dụng cũng ngày càng ít ñi
Trong quá trình trồng cây, rất nhiều kinh nghiệm ñã ñược ñúc kết qua sử dụng phân bón N, P, K ñể có kết quả tốt nhất, những chỉ dẫn quen thuộc là tính trực tiếp lượng phân bón theo năng suất cây trồng Nhưng chúng ta cũng thấy rằng từ mấy chục năm nay, về cơ bản vẫn sử dụng các loại phân bón cũ, năng suất ñến chất lượng nông sản phụ thuộc chủ yếu vào kinh nghiệm và sự may rủi Việc áp dụng phân bón mới và phương thức bón phân bón mới tạo ra
sự chủ ñộng cao trong việc nâng cao năng suất và chất lượng nông sản Phương pháp canh tác mới ñược áp dụng phổ biến ở các nước nông nghiệp phát triển là cung cấp chất dinh dưỡng cho cây qua lá Việc cung cấp chính xác lượng dinh dưỡng theo từng giai ñoạn phát triển của cây sẽ làm giảm ñáng kể phân bón phải sử dụng
Bón phân qua lá là một tiến bộ kỹ thuật ñược dùng nhiều trong thời gian gần ñây Tuy vậy, bón phân qua lá không thể hoàn toàn thay thế ñược 100% bón phân qua ñất Các loại phân bón qua lá là những hợp chất dinh dưỡng, có thể là các nguyên tố ña lượng, trung lượng hoặc vi lượng, ñược hoà tan trong
Trang 40nước và phun lên cây ñể cây hấp thu ðây là một cách bón phân mới ñược phổ biến trong những năm gần ñây, bởi vì thông thường phân ñược bón vào ñất và cây hấp thu chất dinh dưỡng qua rễ
Bón phân qua lá phân phát huy hiệu lực nhanh Tỷ lệ cây sử dụng chất dinh dưỡng thường ñạt ở mức cao, cây sử dụng ñến 95% chất dinh dưỡng bón qua lá, trong khi bón qua ñất cây chỉ sử dụng 45 - 50%
Các công trình nghiên cứu khoa học cũng như thực tế sản xuất cho thấy
là bón phân qua lá có tác dụng rõ rệt trong việc làm tăng năng suất và phẩm chất nông sản, tăng giá trị thương phẩm của nông sản hàng hoá
Hiện nay trên thị trường nước ta có rất nhiều loại phân bón qua lá Trong ñó có những loại do các xí nghiệp trong nước sản xuất như: Comix, HB
101, Toba, Humavit, Humid, ðầu Trâu,… Các loại phân bón qua lá nhập từ nước ngoài: Atomix, Open all,…
Những năm gần ñây, chúng ta biết thêm rằng cây còn có thể nhận các chất dinh dưỡng qua lá Từ những năm 1950, các nhà khoa học Mỹ ñã chứng minh ñược rằng cây trồng có thể tiếp nhận nhiều chất dinh dưỡng qua lá, chủ yếu qua khí khổng của lá Hiệu quả sử dụng của các chất dinh dưỡng phun qua lá hơn từ 10 - 20 lần so với bón qua ñất Sau này, các nhà khoa học Ý còn thấy rằng nhiều chất dinh dưỡng hữu cơ khác ví dụ như các axít amin cũng có thể ñi vào cây qua lá và hiệu quả của nó rất bất ngờ
Kinh nghiệm nhiều năm ho thấy sử dụng kết hợp phân bón (chất dinh dưỡng) qua ñất và qua lá là ho kết quả tốt nhất
Bón gốc và phun chất dinh dưỡng qua lá ñều rất quan trọng cho cây trồng Bón vào ñất rất quan trọng khi cây mới bắt ñầu phát triển Khi cây ñã phát triển, có lá thì phun chất dinh dưỡng qua lá là tốt nhất Phun qua lá sẽ cung cấp kịp thời cho cây trồng các chất dinh dưỡng chính, các vi lượng , rất cần cho năng suất và chất lượng sản phẩm