luận văn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
- -
NGUYỄN MINH HẰNG
SỬ DỤNG VỎ ðỖ XANH TRONG KHẨU PHẦN ĂN CHO GÀ RI LAI LƯƠNG PHƯỢNG BỐ MẸ NUÔI
TẠI TRẠI THỰC NGHIỆM LIÊN NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS BÙI QUANG TUẤN
Hµ néi - 2011
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
- -
NGUYỄN MINH HẰNG
SỬ DỤNG VỎ ðỖ XANH TRONG KHẨU PHẦN ĂN CHO GÀ RI LAI LƯƠNG PHƯỢNG BỐ MẸ NUÔI
TẠI TRẠI THỰC NGHIỆM LIÊN NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành: Chăn nuôi M· sè: 60.62.40
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS BÙI QUANG TUẤN
Hµ néi - 2011
Trang 3LỜI CAM ðOAN
Tôi xin cam ñoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là trung thực và chưa từng ñược ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tôi xin cam ñoan rằng, mọi sự giúp ñỡ cho việc thực hiện luận văn ñã ñược cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này ñã ñược chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả
Nguyễn Minh Hằng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian học tập, nghiên cứu và thực hiện ñề tài tốt nghiệp, ngoài sự nỗ lực của bản thân tôi ñã nhận ñược rất nhiều sự quan tâm giúp ñỡ quý báu của nhà trường, các thầy giáo, cô giáo và các bạn ñồng nghiệp
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới PGS.TS Bùi Quang Tuấn ñã ñộng viên, hướng dẫn và chỉ bảo tận tình cho tôi trong suốt thời gian làm luận văn tốt nghiệp
Tôi xin cảm ơn chân thành tới các thầy giáo, cô giáo trong Bộ môn Dinh dưỡng - Thức ăn, Khoa Chăn nuôi - Nuôi trồng Thuỷ sản, Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội ñã góp ý và chỉ bảo ñể luận văn của tôi ñược hoàn thành
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới: Ban lãnh ñạo cùng toàn thể Các bộ công nhân viên Trung tâm Nghiên cứu và Huấn luyện chăn nuôi ñã tạo mọi ñiều kiện giúp ñỡ tôi thực hiện ñề tài và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
ðể hoàn thành luận văn này, tôi còn nhận ñược sự ñộng viên khích lệ của những người thân trong gia ñình và bạn bè Tôi xin chân thành cảm ơn những tình cảm cao quý ñó
Tác giả
Nguyễn Minh Hằng
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ðOAN 1
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC HÌNH vii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT viii
PHẦN I MỞ ðẦU 1
1.1 ðặt vấn ñề 1
1.2 Mục tiêu của ñề tài 2
PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 ðặc ñiểm một số loại nguyên liệu thức ăn cho gia súc, gia cầm 3
2.1.1 Nhóm thức ăn giàu năng lượng 3
2.1.2 Nhóm thức ăn giàu protein 5
2.1.2.1 Nhóm thức ăn giàu protein có nguồn gốc ñộng vật 6
2.1.2.2 Nhóm thức ăn giàu protein có nguồn gốc thực vật 9
2.2 Hiệu quả sử dụng thức ăn trong chăn nuôi gia cầm 10
2.3 Cơ sở lý luận về ñặc ñiểm tiêu hóa thức ăn của gia cầm .11
2.3.1 Mỏ 12
2.3.2 Khoang miệng 12
2.3.3 Thực quản 12
2.3.4 Diều 12
2.3.5 Thực quản dưới 12
2.3.6 Dạ dày tuyến 12
2.3.7 Dạ dày cơ (mề) 13
2.3.8 Ruột non 13
2.3.9 Ruột già 13
2.4 Khả năng sinh sản và những yếu tố ảnh hưởng ñến năng suất sinh sản ở gia cầm 13 2.4.1 Sinh lý sinh sản của gia cầm mái 13
Trang 62.4.2 Một số chỉ tiêu hình thái, chất lượng trứng 15
2.4.3 Một số yếu tố ảnh hưởng tới năng suất sinh sản của gia cầm mái 17
2.5 Năng lượng trong thức ăn chăn nuôi và nhu cầu về năng lượng của gia cầm 25
2.5.1 Sự chuyển hóa năng lượng trong cơ thể gia cầm 25
2.5.2 Nhu cầu năng lượng của gia cầm 27
2.6 ðặc ñiểm sinh học và tình hình nghiên cứu sử dụng vỏ ñỗ xanh làm thức ăn chăn nuôi 31
2.6.1 ðặc ñiểm sinh học 31
2.6.2 Tình hình nghiên cứu sử dụng vỏ ñỗ xanh làm thức ăn chăn nuôi 32
PHẦN III VẬT LIỆU, NỘI DUNG, ðỊA ðIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34
3.1 Vật liệu nghiên cứu 34
3.2 Nội dung nghiên cứu 34
3.3 ðịa ñiểm và thời gian nghiên cứu 34
3.4 Phương pháp nghiên cứu 35
3.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 35
3.4.2 Công thức thức ăn và nhu cầu dinh dưỡng của gà thí nghiệm 36
3.4.3 Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu 37
3.4.3.1 Phân tích thành phần hóa học của thức ăn thí nghiệm 37
3.4.3.2 Tỷ lệ nuôi sống 37
3.4.3.3 Khối lượng cơ thể 37
3.4.3.4 Tuổi thành thục sinh dục 37
3.4.3.5 Tỷ lệ ñẻ 37
3.4.3.6 Năng suất trứng 38
3.4.3.7 Hiệu quả sử dụng thức ăn 38
3.4.3.8 Một số chỉ tiêu ñánh giá chất lượng trứng 38
3.4.3.9 Các chỉ tiêu ấp nở 40
3.4 Phương pháp xử lý số liệu 40
PHẦN IV KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 41
4.1 Thành phần hóa học của nguyên liệu trong thức ăn thí nghiệm 41
4.2 Tỷ lệ nuôi sống của gà thí nghiệm qua các giai ñoạn 43
Trang 74.2.1 Tỷ lệ nuôi sống giai ñoạn 10 - 20 tuần tuối 43
4.2.1 Tỷ lệ nuôi sống giai ñoạn sinh sản (21 - 38 tuần tuổi) 44
4.3 Khối lượng trung bình cơ thể gà giai ñoạn 10 - 20 tuần tuổi .46
4.4 Tuổi thành thục sinh dục của ñàn gà thí nghiệm 50
4.5 Tỷ lệ ñẻ gà thí nghiệm 52
4.6 Năng suất trứng của ñàn gà thí nghiệm 55
4.7 Hiệu quả sử dụng thức ăn giai ñoạn gà ñẻ 57
4.8 Kết quả khảo sát trứng gà thí nghiệm 60
4.9 Kết quả ấp nở 63
4.10 Hiệu quả của việc sử dụng vỏ ñỗ xanh trong giai ñoạn 20 - 38 tuần tuổi 64
PHẦN V KẾT LUẬN VÀ ðỀ NGHỊ 68
5.1 Kết luận 68
5.2 ðề nghị 68
PHỤ LỤC 77
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Sơ ñồ bố trí thí nghiệm 35
Bảng 3.2 Công thức thức ăn thí nghiệm ñvị (%) 36
Bảng 3.3 Nhu cầu dinh dưỡng của gà thí nghiệm 36
Bảng 4.1 Kết quả phân tích thành phần dinh dưỡng của nguyên liệu thức ăn 41
Bảng 4.2 Tỷ lệ nuôi sống của ñàn gà thí nghiệm giai ñoạn 10 - 20 tuần tuổi 43
Bảng 4.3 Tỷ lệ nuôi sống của ñàn gà thí nghiệm giai ñoạn 21 - 38 tuần tuổi 45
Bảng 4.4 Khối lượng trung bình cơ thể gà qua các tuần tuổi 48
Bảng 4.5 Tuổi thành thục của ñàn gà thí nghiệm 51
Bảng 4.6 Tỷ lệ ñẻ của ñàn gà thí nghiệm (%) 53
Bảng 4.7 Năng suất trứng của ñàn gà thí nghiệm 56
Bảng 4.8 Hiệu quả sử dụng thức ăn giai ñoạn ñẻ trứng 58
Bảng 4.9 Kết quả khảo sát chất lượng trứng 60
Bảng 4.10 Khả năng ấp nở 63
Bảng 4.11 Tiêu tốn và chi phí thức ăn cho gà qua các giai ñoạn 65
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 4 1: Khối lượng trung bình cơ thể gà qua các tuần tuổi 49 Hình 4 2 Tỷ lệ ñẻ của ñàn gà thí nghiệm 54
Trang 105 TTTA: Tiêu tốn thức ăn
6 ME: Năng lượng trao ñổi
7 VCK: Vật chất khô
8 DXKN: Dẫn xuất không nitơ
9 CSLD: Chỉ số lòng ñỏ
10 CSLT: Chỉ số lòng trắng
Trang 11ña tiềm năng của giống
Trong bối cảnh hiện nay giá thức ăn chăn nuôi ñang tăng cao vì vậy bên cạnh những nghiên cứu về thành phần dinh dưỡng việc có những nghiên cứu sử dụng các nguồn nguyên liệu sẵn có, giá rẻ ñể phối trộn nhằm tạo ra nguồn thức
ăn có giá thành hạ, góp phần tăng hiệu quả cho người chăn nuôi là rất cần thiết
Xã Dương Liễu thuộc huyện Hoài ðức tỉnh Hà Tây có nghề chế biến nông sản rất phát triển Sản phẩm chế biến ngoài chính phẩm còn có nguồn phụ phẩm rất lớn trong ñó có cám vỏ ñỗ xanh là phụ phẩm của ngành chế biến nhân
ñỗ xanh, mỗi năm xã Dương Liễu sản xuất ra khoảng 300 tấn cám vỏ ñỗ xanh (Mai Thị Thơm, Bùi Quang Tuấn, 2006) các nguồn phụ phẩm này rất sẵn có và
rẻ tiền Cám vỏ ñỗ xanh có ñặc ñiểm protein thô cao và năng lượng thấp rất thích hợp ñể phối hợp trong khẩu phần cho gia cầm sinh sản
Trong những năm vừa qua, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ñã cho nhập giống gà Lương Phượng từ Trung Quốc với ưu ñiểm năng suất cao tuy nhiên chất lượng thịt lại kém thơm ngon Trung tâm Nghiên cứu và Huấn luyện chăn nuôi ñã cho lai và chọn tạo con trống Ri và mái Lương Phượng ñó là con lai có năng suất chất lượng cao, phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng Trung tâm ñang áp dụng khẩu phần cho gà Ri lai Lương Phượng với mức năng lượng
Trang 12giai ñoạn hậu bị là 2650 Kcal và giai ñoạn ñẻ là 2700 Kcal tuy nhiên qua theo dõi và mổ khảo sát chúng tôi thấy rằng gà quá béo, tích mỡ nhiều ñiều ñó chứng
tỏ trong thức ăn năng lượng bị dư thừa ðối với gà sinh sản gà tích luỹ mỡ làm giảm tỷ lệ ñẻ và dễ bị stress nhiệt ảnh hưởng lớn ñến hiệu quả kinh tế ðể khắc
phục tình trạng trên chúng tôi ñã tiến hành nghiên cứu ñề tài:“Sử dụng vỏ ñỗ
xanh trong khẩu phần ăn cho gà Ri lai Lương Phượng bố mẹ nuôi tại Trại thực nghiệm Liên Ninh.”
1.2 Mục tiêu của ñề tài
- Sử dụng vỏ ñỗ xanh ñể làm giảm mức năng lượng trong khẩu phần ăn cho gà Ri lai Lương phượng giai ñoạn hậu bị và ñẻ trứng
- Tận dụng ñược nguồn phụ phẩm vỏ ñỗ xanh làm thức ăn cho gia cầm
Trang 13PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 ðặc ñiểm một số loại nguyên liệu thức ăn cho gia súc, gia cầm
Dinh dưỡng thức ăn là một trong những yếu tố quyết ñịnh tới năng suất chăn nuôi nói chung và chăn nuôi gia cầm nói riêng Muốn thức ăn có chất lượng tốt thì cần phải có các loại nguyên liệu ñảm bảo các chỉ tiêu dinh dưỡng theo quy ñịnh Trong phạm vi của ñề tài này chúng tôi chỉ ñề cập tới một số nguyên liệu chính thường dùng trong chăn nuôi gia cầm
2.1.1 Nhóm thức ăn giàu năng lượng
Tất cả các loại thức ăn có hàm lượng protein dưới 20% và xơ thô dưới 18% ñược xếp vào nhóm thức ăn giàu năng lượng (Irma, 1983), (Kellem và Church, 1998) Nhóm thức ăn giàu năng lượng bao gồm các loại hạt ngũ cốc như ngô, lúa mỳ, cao lương…, các phụ phẩm của ngành xay xát như: tấm, cám, gạo…, các loại thức ăn củ như sắn, khoai lang, khoai tây…và các chất dầu mỡ Dưới ñây là một số nguyên liệu chính
* Ngô
Ngô là loại hạt quan trọng nhất dùng trong thức ăn chăn nuôi cho gia cầm
do các nguyên nhân liên quan ñến ñặc ñiểm thực vật và giá trị dinh dưỡng, nó thường chiếm 45 – 70% trong khẩu phần ăn hằng ngày của gia cầm (Ward và Fedge, 1996) So với các loại thức ăn ngũ cốc khác thì ngô là loại thức ăn giàu năng lượng (1 kg hạt ngô có từ 3200 – 3300 kcal ME) Ngô chứa 65% tinh bột, hàm lượng xơ thấp từ 2 – 6%, protein thô dao ñộng từ 8 – 13% tính theo vật chất khô (Vũ Duy Giảng và cộng sự, 1997)
Axit amin hạn chế nhất trong ngô là Lys Gần ñây người ta ñã tạo ra ñược một số giống ngô mới giàu axit amin hơn, như giống Oparque – 2 có hàm lượng Lysin cao hơn nhiều so với ngô bình thường, song vẫn nghèo Metionin Một giống ngô mới nữa là Floury – 2 có hàm lượng Lysin và Metionin cao hơn giống
Trang 14ngô Oparque Ờ 2 Nếu dùng loại ngô này thì không cần bổ sung thêm Metionin (NRC, 1994)
Hàm lượng lipit của ngô có từ 3 Ờ 6%, chủ yếu là các loại axit béo chưa
no, ngoài ra ngô còn chứa một hàm lượng ựáng kể caroten (tiền vitamin A) và sắc tố màu xantophyll Theo Tôn Thất Sơn và Cs (2006) trong thực vật có chứa rất nhiều xantophyll (C40H56O2), ựây là những dẫn xuất có chứa oxy của caroten Các xantophyll ựều là cấu tử chủ yếu của các sắc tố vàng của hoa, lá, nụ, quả Trong ngô vàng thì thành tố này tồn tại dưới dạng cryptoxanthin và zeaxanthin
Vì vậy, khi cho gia cầm ăn ngô vàng hoặc ngô ựỏ thì màu sắc của lòng ựỏ trứng
sẽ ựậm hơn bình thường, da gà sẽ vàng ựẹp hơn điều này làm tăng giá trị chất lượng của sản phẩm
Nhược ựiểm chắnh khi dùng ngô là nguy cơ nhiễm aflatoxin từ nấm mốc
Aspergillus flavus, Aspergillus parasiticus, nhất là với ngô tại các vùng ựược thu
hoạch trong mùa mưa không ựủ ựiều kiện phơi hoặc sấy khô ựúng mức Theo nhiều nghiên cứu của Nguyễn Chắ Hanh và Cs (1996) thì khi bắt ựầu ựưa ngô vào bảo quản, ngô ựã bị nhiễm nấm mốc (100.103 khuẩn lạc/gam) nhưng chưa xuất hiện aflatoxin Sau 2 tháng bảo quản ựã xuất hiện aflatoxin ở mức thấp (40ộg/kg) Mức ựộ nhiễm nấm mốc, ựộc tố tăng dần và ựạt mức cao sau 5 tháng bảo quản (200.103 khuẩn lạc/gam và 553,2ộg aflatoxin/1 kg hạt) Trong vụ hè thu, khi bảo quản ngô hạt thì sự biến ựổi thành phần hóa học và sự sản sinh aflatoxin thấp hơn khi bảo quản trong vụ ựông xuân Bên cạnh ựó, trong ngô còn chứa hàm lượng bột ựường và mỡ cao nên ngô rất dễ bị mọt phá hoại Mọt xuất hiện nhiều nhất trong ngô ở giai ựoạn chuyển từ khô hanh sang nóng ẩm Trong
10 Ờ 15 ngày, mọt có thể ăn hỏng toàn bộ kho ngô hàng chục tấn (đào Văn Huyên, 1995)
Với những ựặc tắnh như trên, nếu ngô không bị nhiễm mốc thì có thể ựược
sử dụng tối ựa làm nguồn cung cấp năng lượng trong khẩu phần thức ăn cho gia cầm cho ựến khi nào giá cả còn chấp nhận ựược
Trang 15* Cám gạo
Cám gạo là nguồn thực phẩm của ngành xay xát gạo Lượng cám thu ñược bình quân là 10% khối lượng lúa (Dương Thanh Liêm, 2005) Việt Nam hiện có sản lượng gạo xuất khẩu ñứng thứ 2 thế giới nên nguồn cám gạo rất dồi dào
Cám gạo là sản phẩm có giá trị dinh dưỡng cao Trong cám gạo có chứa khoảng 10 – 13% protein thô, 10 – 15% lipit thô, 8 – 9% xơ thô và 9 - 10% khoáng tổng số Ngoài ra trong cám gạo còn rất giàu vitamin nhóm B, ñặc biệt là vitamin B1 Trong 1 kg cám gạo có 22,2 mg vitamin B1; 13,1 mg B6 và 0,43
mg Biotin (Vũ Duy Giảng, 1996)
Cám gạo chứa khoảng 14 – 18% là dầu (BoGohl, 1993), vì vậy, cám gạo
có mùi thơm ngon và gia cầm rất thích ăn Nhưng ñây cũng chính là nhược ñiểm của cám, bởi vì trong dầu cám có men lipaza làm phân giải các axit béo không no nên dễ làm cho mỡ bị ôi thiu, giảm chất lượng của cám, khi ñó cám sẽ trở nên ñắng
và khét Trong cám gạo hàm lượng photpho cao hơn hàm lượng canxi gấp 10 lần nhưng lại có tới 70% photpho ở dạng phitin không hấp thu ñược
*Hạt mì và cám mì
Lúa mì là loại cây lương thực trồng phổ biến ở các vùng ôn ñới Tùy theo màu sắc của hạt có các loại màu ñỏ nâu, trắng và tía Các loại hạt hoặc cám của hạt lúa mì có thể dùng trong thức ăn chăn nuôi Hạt mì và cám mì có hàm lượng ñạm thô khoảng 14 – 16% (Dương Thanh Liêm, 2005) Hạt mì và cám mì có hàm lượng NSP cao nên khó tiêu hóa, nhất là với gà Khi sử dụng cần kèm theo các enzyme tiêu hóa NSP ñể làm tăng giá trị dinh dưỡng
2.1.2 Nhóm thức ăn giàu protein
Theo Irma (1983), Kellems và Church (1998), thức ăn giàu protein là tất cả các loại thức ăn có hàm lượng protein trên 20%, xơ thô dưới 18% Thức ăn giàu protein gồm hai loại là thức ăn giàu protein có nguồn gốc ñộng vật như: bột cá, bột thịt xương, bột máu… và thức ăn giàu protein có nguồn gốc từ thực vật như: hạt ñỗ tương, hạt lạc, hạt vừng, hạt ñậu xanh, khô dầu ñỗ tương, khô dầu lạc, khô dầu dừa, khô dầu hướng dương…
Trang 162.1.2.1 Nhóm thức ăn giàu protein có nguồn gốc ñộng vật
Thức ăn giàu protein có nguồn gốc ñộng vật thường có giá trị sinh học cao, khả năng tiêu hóa và hấp thu tốt hơn so với thức ăn protein có nguồn gốc thực vật Phần lớn chúng là những nguồn protein khá cân ñối các axit amin cần thiết Trong các loại thức ăn cung cấp protein có nguồn gốc ñộng vật cho gia cầm ñiển hình nhất là bột cá
Bột cá rất giàu protein, chất lượng protein cao Loại bột cá tốt chứa trên 50% protein, tỷ lệ axit amin cân ñối, có nhiều axit amin chứa lưu huỳnh Trong
1 kg bột cá có chứa 52g Lys, 15 – 20g Met, 8 – 10g Cys, giàu Ca, P với tỷ lệ tương ñối cân ñối (Ca khoảng 6 – 7 %, P khoảng 4%), giàu vitamin B12, B1, ngoài ra còn có cả vitamin A và D
Từ nhiều kết quả nghiên cứu, các nhà khoa học nhận ñịnh protein trong bột
cá có giá trị sinh học cao Trong bột cá có ñủ các axit amin không thay thế, dễ tiêu hoá như Met, Cys, Lys, Thre, Tryp Theo Fin (2000), hàm lượng Lys trong bột cá trích (herring) là 6,1%, gần gấp ñôi so với hàm lượng Lys có trong bột ñỗ tương (3,1%) và gần gấp ba so với hàm lượng Lys có trong bột sữa (2,5%) Tác giả cũng cho biết: hàm lượng Met và Cys trong bột cá (2,6 – 2,9%) cao hơn trong ñỗ tương (1,5%) Sự có mặt của bột cá trong khẩu phần sẽ khắc phục ñược sự thiếu hụt các axit amin này khi sử dụng khẩu phần có nguồn gốc protein thực vật là chính
Khi so sánh protein của bột cá với một số nguồn protein khác, Fin (2000) cho biết: hàm lượng protein thô của bột cá hơn hẳn các loại thức ăn khác, bột cá Chilê có hàm lượng protein thô là 73%, bột cá trích (herring) hàm lượng protein
Trang 17thô là 77% ; trong khi ñỗ tương chỉ ở mức 35% protein thô, bột sữa là 37% protein thô Không chỉ có thế, hàm lượng protein dễ tiêu hoá ở bột cá cũng tương ñối cao (69 – 72%), ñỗ tương là 32%, bột sữa là 33% Như vậy cả về lượng và chất, protein của bột cá ñều hơn hẳn protein của các loại thức ăn khác
Nhiều tác giả còn cho biết: Trong bột cá còn có các “yếu tố chưa xác ñịnh ñược” làm tăng tỷ lệ ấp nở trứng của gia cầm ðặc biệt ñối với gà thịt chỉ cần sử dụng ở mức 3,9% trong thức ăn hỗn hợp ñã làm tăng hiệu quả sử dụng thức ăn, kích thích sinh trưởng Do ñó, chất lượng của bột cá có ảnh hưởng rất quan trọng tới chất lượng thức ăn hỗn hợp Chất lượng bột cá phụ thuộc rất nhiều vào loại cá và các bộ phận của cá ñem chế biến Nếu bột cá chế biến từ những loại
cá nhỏ hoặc ñầu cá, vây cá thì hàm lượng protein rất thấp (từ 20 – 25%), trong khi ñó bột cá ñược chế biến từ cá lớn thì hàm lượng protein trên 50% Theo tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN, 2005) thì bột cá loại I phải ñạt trên 50% protein, loại II: 40 – 50% protein và loại III: 35 – 40% protein
Ở nước ta chất lượng của bột cá ñang là một vấn ñề cần ñược quan tâm
Do phương tiện ñánh bắt cá khác nhau nên chất lượng bột cá cũng bị ảnh hưởng Với những tàu thuyền nhỏ không có hầm lạnh bảo quản cá trong thời gian dài ñánh bắt cá ngoài khơi nên ngư dân phải bảo quản bằng cách ướp muối ðiều này làm cho hàm lượng muối ăn trong những loại bột cá này thường rất cao, có khi lên tới 20 – 30% Do ñó nếu cho gia cầm sử dụng loại bột cá này thì không những không có lợi mà còn làm cho chúng bị ngộ ñộc Vì vậy, trước khi dùng bột cá ñể xây dựng khẩu phần cần phải tiến hành phân tích thành phần dinh dưỡng của nó nhất là hàm lượng muối
* Bột thịt, bột thịt xương
ðây là sản phẩm từ lò mổ gia súc bao gồm tất cả phần còn lại của ñộng vật không dùng làm thức ăn cho người ñược như phổi, ruột già, gân, móng, lông
Trang 18và có thể cả xương Nếu có cả xương thì ñược gọi là bột thịt xương (Dương Thanh Liêm, 2005) Bột thịt và bột thịt xương có thể sản xuất ở hai dạng khô và
ẩm Ở dạng khô, các nguyên liệu ñược ñun nóng trong một bếp hơi ñể tách mỡ, phần còn lại là bã Ở dạng ẩm, các nguyên liệu ñược ñun nóng bằng hơi nước có dòng ñiện chạy qua, sau ñó rút nước, ép ñể tách mỡ và sấy khô
Bột thịt chứa 60 – 70% protein thô, bột thịt xương chứa 45 – 55% protein thô Chất lượng protein của hai loại này ñều cao, axit amin hạn chế là Met và Tryp Hàm lượng lipit dao ñộng trong khoảng 3 – 13%, trung bình là 9% Bột thịt xương giàu khoáng hơn bột thịt, ñặc biệt là hàm lượng Ca, P, Mg Tuy nhiên
cả hai loại này ñều rất giàu vitamin B1
Hai loại thức ăn này thường ñược bổ sung vào khẩu phần ăn của gia súc, gia cầm ñể làm cân bằng axit amin trong ñó và có thể sử dụng mức tối ña cho gia cầm tới 15% trong khẩu phần ðiểm cần lưu ý khi sử dụng là phải bảo quản bột thịt và bột thịt xương trong ñiều kiện thích hợp ñể tránh làm thất thoát vitamin và mỡ khỏi bị ôi thiu Và ñiều quan trọng cần nhớ là bột thịt cũng như các sản phẩm chế biến từ ñộng vật cần phải xử lý nhiệt kỹ lưỡng ñể tránh các mầm bệnh còn hiện diện Trước ñây, mầm bệnh ñược quan tâm nhiều là Salmonella, nhưng ngày nay vi khuẩn gây thương hàn ñã trở thành mối quan tâm thứ hai sau bệnh bò ñiên vốn rất dễ lây lan qua các sản phẩm ñộng vật, nhất
là từ thức ăn gia súc có nguồn gốc ñộng vật Vì vậy hiện nay xu hướng các nước châu Âu hạn chế hoặc ngưng hẳn việc sử dụng bột thịt/bột thịt xương trong khẩu phần ăn ñộng vật, nhất là trên thú nhai lại và bò
Trang 192.1.2.2 Nhóm thức ăn giàu protein có nguồn gốc thực vật
* ðỗ tương
Nếu như ngô ñược xem là loại hạt chủ lực trong thức ăn gia cầm ñể cung cấp năng lượng thì ñỗ tương là loại hạt chủ lực ñược sử dụng cung cấp protein trong thức ăn chăn nuôi Trong ñỗ tương có khoảng 38 – 42% protein thô, 18 – 22% dầu Protein của ñỗ tương có chứa ñầy ñủ các axit amin cần thiết như Cys, Lys, nhưng Met là axit amin hạn chế thứ nhất trong hạt ñỗ tương Trong
ñỗ tương có chất ức chế men trypsin, chymotrysin Sự có mặt của các chất này ñã làm giảm ñi giá trị sinh học protein của ñỗ tương, giảm khả năng tiêu hóa của peptit, nhưng các chất này có thể bị phá hủy bởi nhiệt ñộ Vì vậy, cần phải
có biện pháp xử lý nhiệt thích hợp như rang, hấp, luộc chín hoặc dùng tia hồng ngoại ñể nâng cao tỷ lệ tiêu hóa và khử các chất ñộc có trong hạt ñỗ tương
* Khô dầu ñỗ tương
Khô dầu ñỗ tương là phụ phẩm của ngành ép dầu ñỗ tương ðây là một trong những nguồn thức ăn protein thực vật có giá trị nhất Thành phần cơ cấu axit amin của nó có thể ngang với protein ñộng vật, trừ Met Khô dầu ñỗ tương
có thể phối hợp tỷ lệ cao, ñến 30% trong khẩu phần thức ăn cho cả gà con, gà broiler và gà ñẻ (Ward và Fedge, 1996) Bởi vì trong khô dầu ñỗ tương có hàm lượng protein cao (42 – 44,7%) nhưng năng lượng chỉ ở mức thấp 2400 – 2530 kcal/kg ở thể khô không khí (Smith, 1991) Tỷ lệ sử dụng của khô dầu ñỗ tương trong khẩu phần ăn cho gà con và gà broiler là 25%, gà dò (hậu bị) sử dụng từ
15 – 20% và gà ñẻ sử dụng từ 20 – 25% Hàng năm nước ta nhập ñến trên 400.000 tấn cả ñỗ tương nguyên dầu và khô dầu ñỗ tương Chúng ta cần chú ý rằng, công nghệ ép dầu (ép máy hoặc ép thủ công) có ảnh hưởng rất lớn ñến chất lượng của khô dầu ñỗ tương
Trang 202.2 Hiệu quả sử dụng thức ăn trong chăn nuôi gia cầm
Theo Chamber và Cs (1984), hiệu quả sử dụng thức ăn (HQSDTA) ñược ñịnh nghĩa là mức ñộ tiêu tốn thức ăn cho một ñơn vị sản phẩm Từ mức ñộ tiêu tốn thức ăn (TTTA) người ta tính ñược chi phí thức ăn
Chi phí thức ăn thường chiếm ñến 70% giá thành sản phẩm của chăn nuôi Chính vì vậy, HQSDTA là một chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật quan trọng, nó quyết ñịnh tới giá thành chăn nuôi và là mối quan tâm lớn nhất của các nhà chăn nuôi Không những thế, ñây còn là chỉ tiêu quan trọng trong công tác giống vật nuôi nói chung và gia cầm nói riêng Việc chọn lọc về tốc ñộ tăng trọng thường kèm theo sự cải tiến HQSDTA Chambers và Cs (1984) xác ñịnh hệ số tương quan di truyền giữa khối lượng cơ thể và tốc ñộ tăng trọng với lượng thức ăn tiêu thụ là rất cao (0,5 – 0,9) còn hệ số tương quan di truyền giữa tốc ñộ sinh trưởng và HQSDTA
có giá trị âm và biến ñộng từ -0,2 ñến -0,8
HQSDTA phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác nhau ðoàn Xuân Trúc và
Cs (1993) cho biết TTTA cho một ñơn vị sản phẩm phụ thuộc vào ñặc ñiểm di truyền của từng dòng giống gia cầm Bùi ðức Lũng và Lê Hồng Mận (1993) cho biết nuôi gà broiler ñến 9 tuần tuổi tiêu tốn 2,39 – 2,41 kg thức ăn cho một kg tăng trọng ðoàn Xuân Trúc và Cs (1993) nghiên cứu trên 4 công thức lai AV35, AV53, V135, V153 cho biết TTTA cho một kg tăng trọng ở 56 ngày tuổi của các công thức lai tương ứng là 2,34kg; 2,23kg; 2,26kg; 2,32kg
Theo Phùng ðức Tiến (1996), gà broiler Ross 208 nuôi chung trống mái ñến 63 ngày tuổi tiêu tốn là 2,29 kg thức ăn cho một kg tăng trọng Nuôi riêng
gà trống tiêu tốn 2,19kg và gà mái tiêu tốn 2,39kg thức ăn cho một kg tăng trọng Như vậy, gà trống tiêu tốn thức ăn cho một kg tăng trọng thấp hơn gà mái, nghĩa là gà trống có HQSDTA tốt hơn gà mái Theo Bùi Quang Tiến và Cs (1994), ñối với gà broiler Ross 208 nuôi ở hai chế ñộ dinh dưỡng, tiêu tốn thức
ăn cho một kg tăng trọng từ 2,25 – 2,36 kg, gà Ross 208 V35 tiêu tốn 2,35 – 2,45 kg thức ăn cho một kg tăng trọng
Trang 21Hiệu quả sử dụng thức ăn không những phụ thuộc vào ñặc ñiểm di truyền của từng dòng giống gia cầm mà nó còn phụ thuộc vào chế ñộ dinh dưỡng Nguyễn Thị Mai (2001) cho biết, các mức năng lượng khác nhau trong thức ăn cũng ảnh hưởng ñến HQSDTA với P<0,05 Tác giả cho biết cùng hàm lượng protein, khi tăng mức năng lượng trong 1kg thức ăn từ 2900 ñến 3200 kcal ñã làm tăng HQSDTA Nói cách khác ñã làm giảm tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng cơ thể gà broiler ở 7 tuần tuổi từ 2,41 xuống 2,15 kg
Hàm lượng protein trong thức ăn cũng ảnh hưởng ñến HQSDTA Cùng mức năng lượng, sử dụng hàm lượng protein là 25 – 23 và 21% tương ứng với 3 giai ñoạn nuôi thì hiệu quả sử dụng thức ăn tốt hơn mức 23 – 21 và 19 % protein Giảm tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng cơ thể từ 2,40 xuống 2,21kg Sự khác nhau là có ý nghĩa thống kê với P<0,05 (Nguyễn Thị Mai, 1996)
Nghiên cứu mối quan hệ giữa mức năng lượng và hàm lượng protein trong khẩu phần với HQSDTA, Hopf (1973) cho biết khi tăng mức năng lượng
từ 2800 lên 3300kcal, ñồng thời tăng tương ứng hàm lượng protein từ 21,0 lên 24,8% cho gà broiler ñã làm tăng HQSDTA, giảm tiêu tốn thức ăn cho 1kg tăng khối lượng cơ thể từ 2,0 xuống 1,7kg
Nhìn chung, HQSDTA là chỉ tiêu có ý nghĩa quyết ñịnh ñến hiệu quả trong chăn nuôi Do vậy, ñể nâng cao HQSDTA cần cho gia cầm ăn theo nhu cầu và phù hợp với ñặc ñiểm sinh lý ở mỗi giai ñoạn khác nhau
2.3 Cơ sở lý luận về ñặc ñiểm tiêu hóa thức ăn của gia cầm
Gia cầm có tốc ñộ trao ñổi chất và năng lượng cao hơn so với ñộng vật có
vú Cường ñộ tiêu hóa mạnh ở gia cầm ñược xác ñịnh bằng tốc ñộ di chuyển của thức ăn qua ống tiêu hóa Ở gà con, tốc ñộ là 30-39cm/giờ; ở gà lớn hơn là 32-40cm/giờ và ở gà trưởng thành là 40-42cm/giờ (Nguyễn ðức Hưng, 2006) Chiều dài của ống tiêu hóa gia cầm không lớn, thời gian mà khối thức ăn ñược giữ lại trong ñó không vượt quá 2-4 giờ, ngắn hơn rất nhiều so với ñộng vật khác
Trang 22Sơ ñồ tiêu hóa chung của gà: Mỏ → Khoang miệng → Thực quản → Diều →Dạ dày tuyến → Dạ dày cơ (mề) → Lá lách → Túi mật → Gan → Các ống mật→ Tuyến tụy → Ruột hồi manh tràng → Ruột non → Ruột thừa → Ruột già → Ổ nhớp
2.3.1 Mỏ
Chia ra làm ba phần: ñầu mỏ, thân mỏ, gốc mỏ
Là nơi thu nhận thức ăn, ở gà việc lấy thức ăn ñược thực hiện bằng thị giác và xúc giác
2.3.2 Khoang miệng
Chia làm hai phần: Phần trên có vòm miệng cứng ngắn, ñược phủ lớp màng nhầy, phần dưới có lưỡi Lưỡi gia cầm nằm ở ñáy khoang miệng, có hình dạng và kích thước phù hợp với mỏ Trên bề mặt phía trên của lưỡi có những gai rất nhỏ hóa sừng hướng về cổ họng có tác dụng giữ khối thức ăn và ñẩy chúng
về thực quản
2.3.3 Thực quản
Nằm song song với khí quản, là một ống có 2 lớp cơ ñàn hồi, trong thực quản
tiết ra dịch nhầy có chức năng vận chuyển thức ăn từ khoang miệng xuống diều
Trang 23tuyến hình túi phức tạp, những chất tiết của nó ñược ñi ra bởi 50 -74 lỗ trong các núm ñặc biệt của các nếp gấp ở màng nhầy Dịch dạ dày ñược tiết vào trong khoang của dạ dày tuyến, có HCl, men Pepsin, men bào tử và Muxin Dung tích nhỏ chỉ có tác dụng thấm dịch và chuyển thức ăn xuống dạ dày cơ
2.3.7 Dạ dày cơ (mề)
Cấu tạo bởi những lớp cơ khỏe, thành dày, tiết mành hóa sừng có ý nghĩa
cơ học ngoài ra còn giữ cho vách dạ dày khỏi bị tác ñộng của những yếu tố bất lợi Dạ dày cơ có tác dụng nhào trộn, co bóp nghiền nát thức ăn
2.3.8 Ruột non
Ngắn, giống như ruột non của gia súc, có cấu tạo ñầy ñủ, có nhiều tuyến, nhiều nhung mao, có khả năng và tốc ñộ hấp thu thức ăn lớn Mặt khác, do tuyến ngoại tiết tương ñối phát triển nên khả năng tiêu hóa tốt
2.3.9 Ruột già
Cuối ruột già có hai manh tràng, là cơ quan tiêu hóa xơ chính của gà nhờ vào sự hoạt ñộng của vi sinh vật Phần cuối của trực tràng có lỗ huyệt cũng là nơi ñổ ra của ñường tiết niệu, thải phân, ñồng thời thực hiện chức năng sinh dục
2.4 Khả năng sinh sản và những yếu tố ảnh hưởng ñến năng suất sinh sản ở gia cầm
2.4.1 Sinh lý sinh sản của gia cầm mái
Quá trình hình thành và rụng trứng là một quá trình sinh lý phức tạp dưới
sự ñiều khiển của thần kinh và hormone Hormone FSH và LH của tuyến yên kích thích sự sinh trưởng của tế báo trứng Bản thân buồng trứng (các tế bào nang) lại tiết ra oestrogen kích thích hoạt ñộng của ống dẫn trứng, ñồng thời ức chế tuyến yên tiết ra FSH làm kìm hãm trứng chín LH quy ñịnh sự rụng trứng khi trong ống dẫn trứng có trứng thì oestrogen ức chế tuyến yên tiết ra LH làm kìm hãm sự rụng trứng Thường thì sự rụng trứng xảy ra một lần trong ngày, thời ñiểm rụng trứng thường sau 30 phút ñẻ quả trứng trước Nếu trứng ñẻ sau
16 giờ thì sự rụng trứng sẽ chuyển sang ngày hôm sau Tính chu kỳ của rụng
Trang 24trứng phụ thuộc vào nhiều yếu tố: ñiều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc, lứa tuổi, trạng thái sinh lý
Sau khi rụng, tế bào trứng sẽ rơi vào ống dẫn trứng Ống dẫn trứng là một ống dài có nhiều khúc cuộn, tại ñại ñây xẩy ra quá trình thụ tinh và hình thành trứng Kích thức của ống dẫn trứng phụ thuộc vào lứa tuổi và trạng thái sinh lý gia cầm Khi chưa ñẻ, ống dẫn trơn thẳng có ñường kính gần như nhau trên toàn bộ các phần Sau khi ñẻ, các phần của ống dẫn trứng có các kích thước khác nhau, tùy thuộc vào chức năng của ống dẫn trứng người ta chia thành các phần sau:
- Phễu (loa kèn): ñây là phần nằm ngay dưới buồng trứng dài 4 - 7cm, ñường kính 8 - 9cm, gồm phễu và cổ phễu Hai phần này ñược cố ñịnh tại vị trí này nhờ màng treo ruột Bề mặt phễu xếp nếp, không có tuyến, còn niêm mạc của phễu có các tuyến hình ống tiết ra một chất dịch như lòng trắng trứng và hình thành một phần dây chằng lòng ñỏ, trứng dừng lại ở ñây từ 10 - 15 phút
- Phần tạo lòng trắng: là phần lớn nhất trong ống dẫn trứng, niêm mạc có nhiều tuyến hình ống, tại ñây hình thành lòng trắng Chất tiết lúc ñầu ñặc sau loãng, tại ñây hình thành tiếp dây chằng lòng ñỏ Trứng dừng ở ñây 3 giờ
- Bộ phận tạo vỏ (ñoạn eo): là phần hơi thu hẹp và dài khoảng 8cm, niêm mạc có những nếp xếp nhỏ, ở 4cm ñầu gần như không có ống tuyến, 4cm sau có các tuyến tiết ra phần lòng trắng và các chất hình thành lên 2 lớp màng dưới vỏ, lớp trong ñược cấu tạo bởi những bó protein mảnh hơn, lớp ngoài cấu tạo bởi những bó protein thô và dầy hơn Hai lớp màng này tách nhau tài ñầu lớn của trứng ñể hình thành buồng khí Các dung dịch nước và muối có thể thấm qua màng này ñi vào lòng trắng, trứng dừng lại ở ñây 60 - 75 phút
- Tử cung (dạ con): ñoạn cuối của phần này tạo vỏ có phần nở to ra thành
tử cung dài 8 - 12cm Niêm mạc có nhiều nếp xếp, nếp xếp theo chiều ngang và xiên Tuyến và vách của dạ con tiết ra chất dịch tiếp tục tham gia vào quá trình hình thành lòng trắng và tham gia vào quá trình hình thành vỏ trứng Thời gian hình thành vỏ trứng diễn ra rất chậm
Trang 25- Âm ñạo: là phần cuối của ống dấn trứng, là cửa ngõ ñẻ trứng ra ngoài cơ thể Âm ñạo là một ñoạn dài từ 7 - 12cm Niêm mạc nhẵn không có tuyến ống lớp biểu mô của âm ñạo tiết ra chất dịch tham gia hình thành lớp màng keo mỏng trên bề mặt vỏ trứng ñể tạo ñiều kiện cho việc ñẻ trứng dễ dàng Khi ñẻ
âm ñạo lồi ra khỏi lỗ huyệt giữ cho trứng khỏi bẩn
Thời gian trứng lưu lại trong ống dẫn trứng thường 20 - 24h Ở gia cầm thời gian hình thành quả trứng là 24- 28h Nếu quá trình hình thành trứng nhỏ hơn 24h thì gia cầm ñẻ liên tục (1 quả/ngày), chu kỳ ñẻ trứng kéo dài 4 - 6 tháng hoặc hơn Nếu thời gian hình thành trứng chín lớn hơn 24h thì gia cầm ñẻ cách nhật
2.4.2 Một số chỉ tiêu hình thái, chất lượng trứng
- Hình dạng trứng
ðược quyết ñịnh bởi phần sau của ống dẫn trứng, thông thường trứng có hình dạng elip thon, có một có một ñầu hơi tù Hình dạng trứng không biến ñổi theo mùa song quả trứng ñầu của chu kỳ ñẻ thường dài và nhỏ hơn những quả trứng sau Theo Nguyễn Duy Hoan (1999), hình dạng của trứng không phụ thuộc nhiều vào khối lượng gà mái mà phụ thuộc phần lớn vào cấu tạo và ñặc ñiểm chức năng của ống dẫn trứng Nguyễn Thị Thanh Bình (1998), cho biết chỉ
số hình dạng trứng là 1,3 - 1,4 Ngô Giản Luyện (1994), cho rằng chỉ số hình dạng ảnh hưởng tới vị trí ñĩa phôi khi ấp Những trứng có hình dạng không bình thường gọi là trứng dị hình, trong chăn nuôi thường gặp một số trứng dị hình như: trứng vỏ mềm, trứng giả, trứng hai lòng ñỏ, trứng trong trứng, trứng biến dạng
- Khối lượng trứng
Khối lượng trứng không những là một trong những chỉ tiêu quan trọng ñể ñánh giá chất lượng trứng mà còn là một chỉ tiêu ñánh giá sản lượng trứng Khối lượng trứng phụ thuộc vào chiều dài, chiều rộng, khối lượng lòng trắng, lòng ñỏ
và khối lượng vỏ trứng Trong kỹ thuật chọn ấp, những quả trứng có khối lượng xung quanh khối lượng trung bình của giống luôn có kết quả ấp nở tốt nhất Theo Orlow (1974), khối lượng trứng có liên quan mật thiết với tỷ lệ ấp nở,
Trang 26thậm chí là tỷ lệ gà con loại 1, thông thường trứng có khối lượng trung bình có
Chất lượng vỏ trứng ñược thể hiện qua ñộ dày và ñộ chịu lực của vỏ trứng
ðộ dày của vỏ trứng có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình ấp Vỏ trứng dày nhất ở ñầu nhọn và mỏng dần ở hai bên ñến ñầu tù thì mỏng hơn ðộ bền vỏ trứng gà ñược coi là tốt khi ñộ chịu lực phải 3 - 5 kg/cm2, những quả có ñộ chịu quá cao tỷ lệ nở sẽ thấp còn những quả có ñộ chịu lực thấp dễ dập vỡ
- Chất lượng lòng trắng, lòng ñỏ
Chất lượng bên trong của trứng ñược thể hiện thông qua trọng lượng các chỉ số lòng trắng, lòng ñỏ Tỷ lệ khối lượng của lòng trắng/lòng ñỏ là 2/1 là phù hợp với yêu cầu trứng ấp
Chỉ số lòng trắng ñược xác ñịnh qua tỷ lệ giữa chiều cao lòng trắng ñặc và ñường kính bình thường của lòng trắng Nguyễn Mạnh Hùng và cs (1994), cho rằng thông thường chỉ số này dao ñộng trong khoảng từ 0,08 ñến 0,09 Còn Nguyễn Thị Thanh Bình (1998) cho biết hệ số di truyền của tính trạng này khá cao từ 0,2 - 0,78 Theo Nguyễn Quý Khiêm (1996), trứng của mái tơ và mái già
có tỷ số lòng trắng thấp hơn trứng của gà mái ñang trong ñộ tuổi sinh sản Ngoài
ra trứng mùa hè, trứng bảo quản lâu cũng có chỉ số thấp hơn trứng mùa ñông và trứng mới ñẻ
Chỉ số lòng ñỏ trứng là giá trị khảo sát trong vòng 24h kể từ khi thu trứng
và nó thể hiện mối quan hệ giữa chiều cao và ñường kính lòng ñỏ
Trang 27Bằng các dụng cụ riêng người ta ño ñược chiều cao của lòng ñỏ (H) và ñường kính của nó (D) Từ các số liệu, người ta xác ñịnh ñược tỷ số giữa chiều cao lòng ñỏ và ñường kính lòng ñỏ, tỷ số này gọi là chỉ số lòng ñỏ
Chỉ số lòng ñỏ biểu hiện trạng thái và chất lượng của lòng ñỏ, chỉ số này càng cao thì trứng có phẩm chất càng tốt, trứng gia cầm tươi chỉ số này là 0,4 -
0, 5 Chỉ số này thay ñổi phụ thuộc vào ñặc ñiểm loài, giống, cá thể, nó giảm dần theo thời gian bảo quản trứng
Theo tài liệu của trung tâm gà giống Ba Vì thì chỉ số này của gà Leghorn ở dòng BVI là 0,49, dòng BVII là 0,50; một số kết quả nghiên cứu khác cho biết chỉ số lòng ñỏ của gà Ri là 0,46.7
Theo Ngô Giản Luyện (1994), giá trị này giảm xuống còn 0,33 thì lòng ñỏ
ñã bị biến dạng
- ðơn vị Haugh
ðơn vị Haugh, ñây là một ñại lượng biểu thị mối quan hệ giữa khối lượng trứng và chiều cao lòng trắng ñặc ðơn vị Haugh càng cao thì chất lượng trứng càng tốt Thực nghiệm cho biết, những quả trứng chênh lệch nhau dưới 8 ñơn vị Haugh thì có chất lượng trứng tương ñương nhau Ngoài chỉ số nêu trên, một số chỉ số cũng ñược sử dụng ñể ñánh giá chất lượng trứng như: mật ñộ và kích thước
lỗ khí, ñộ lớn buồng khí
2.4.3 Một số yếu tố ảnh hưởng tới năng suất sinh sản của gia cầm mái
Sức ñẻ trứng của gia cầm chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau, mỗi yếu tố ảnh hưởng ñến sức ñẻ trứng ở mức ñộ nhất ñịnh Một số yếu tố chính ảnh hưởng ñến sức ñẻ trứng của gia cầm như các yếu tố di truyền cá thể, giống dòng gia cầm, tuổi, chế ñộ dinh dưỡng, ñiều kiện ngoại cảnh (Nguyễn Thị Mai
và Cs, 2009)
* Các yếu tố di truyền cá thể
- Sức ñẻ trứng: là một tính trạng số lượng có lợi ích kinh tế quan trọng của gia cầm ñối với con người Có 5 yếu tố di truyền ảnh hưởng ñến sức ñẻ
Trang 28trứng của gia cầm: tuổi thành thục sinh dục, cường ñộ ñẻ trứng, tính nghỉ ñẻ, thời gian kéo dài chu kỳ ñẻ trứng sinh học và tính ấp bóng
+ Tuổi thành thục sinh dục là một yếu tố năng suất trứng và có liên quan ñến sức ñẻ trứng của gia cầm Thành thục sớm cũng là một tính trạng mong muốn, tuy nhiên cần phải chú ý ñến khối lượng cơ thể Tuổi bắt ñầu ñẻ và kích thước cơ thể có tương quan nghịch Chọn lọc theo hướng tăng khối lượng trứng
sẽ làm tăng khối lượng cơ thể gà và làm tăng tuổi thành thục sinh dục Tuổi thành thục sinh dục của cá thể ñược xác ñịnh thông qua tuổi ñẻ quả trứng ñầu tiên Tuổi thành thục của một nhóm hay một ñàn gia cầm ñược xác ñịnh theo tuổi ñạt tỷ lệ ñẻ 5% (Nguyễn Thị Thanh Bình, 1998)
Thể trạng và ñộ dài ngày chiếu sáng ảnh hưởng ñến khả năng thành thục sinh dục, những gà thuộc giống có tầm vóc nhỏ thì phần lớn bắt ñầu ñẻ trứng sớm hơn những giống gà có tầm vóc lớn
Ngoài ra, tuổi thành thục sinh dục sớm hay muộn phụ thuộc vào giống, loài, giới tính, thời gian nở ra trong năm… Gà hướng trứng tuổi thành thục sớm hơn gà hướng thịt Thời gian gà ñẻ mạnh là vào những ngày ngắn của thu ñông, ñiều ñó cũng nói lên rằng thời gian chiếu sáng trong ngày ảnh hưởng ñến tuổi thành thục sinh dục Theo ðặng Hữu Lanh và Cs (1999) cho biết, hệ số di truyền của tính trạng này là h2 = 0,32
+ Cường ñộ ñẻ trứng là sức ñẻ trứng trong một thời gian ngắn Theo Card L.E (1968) và Nesheim (1970) cho rằng, cường ñộ ñẻ trứng thường ñược xác ñịnh theo khoảng thời gian 30 – 60 ngày và 100 ngày Các tác giả này còn cho biết, ñối với các giống gà chuyên trứng cao sản thường có cường ñộ ñẻ trứng lớn nhất vào tháng thứ hai và ba sau ñó giảm dần ñến hết năm ñẻ Nguyễn Mạnh Hùng và Cs (1994) cùng nhiều tác giả khác cho biết, có sự tương quan rất chặt chẽ giữa cường ñộ ñẻ trứng của 3 – 4 tháng ñầu tiên với sức ñẻ trứng cả năm Vì vậy, người ta thường dùng cường ñộ ñẻ trứng ở 3 – 4 tháng tuổi ñầu tiên ñể dự
Trang 29đốn sức đẻ trứng của gia cầm mà ghép đơi và chọn lọc giống Cường độ đẻ trứng cịn liên quan mật thiết với thời gian hình thành trứng và chu kỳ đẻ trứng
+ Thời gian nghỉ đẻ: Ở gà, thường cĩ hiện tượng nghỉ đẻ trong một thời gian, cĩ thể kéo dài trong năm đầu đẻ trứng, từ vài ngày tới vài tuần, thậm chí kéo dài 1 – 2 tháng Thời gian nghỉ đẻ thường vào mùa đơng, nĩ cĩ ảnh hưởng trực tiếp đến sản lượng trứng cả năm Gia cầm thường thay lơng vào mùa đơng nên thời gian này gà nghỉ đẻ Trong điều kiện bình thường, lúc thay lơng đầu tiên là thời điểm quan trọng để đánh giá gà đẻ tốt hay xấu Những đàn gà thay lơng sớm, thời gian bắt đầu thay lơng từ tháng 6 – 7 và quá trình thay lơng diễn
ra chậm, kéo dài 3 – 4 tháng là những đàn gà đẻ kém Ngược lại, cĩ những đàn
gà thay lơng muộn, thời gian thay lơng bắt đầu từ tháng 10 – 11, quá trình thay lơng diễn ra nhanh là đàn gà đẻ tốt ðặc biệt ở một số đàn gà cao sản, thời gian nghỉ đẻ chỉ 4 – 5 tuần và lại đẻ ngay khi chưa hình thành xong bộ lơng mới Cĩ con gà đẻ ngay trong thời kỳ thay lơng
+ Thời gian kéo dài chu kỳ đẻ trứng sinh học: Chu kỳ đẻ trứng sinh học liên quan đến thời vụ nở của gia cầm con Tùy thuộc vào thời gian nở mà sự bắt đầu và kết thúc của chu kỳ đẻ trứng sinh học cĩ thẻ xảy ra trong thời gian khác nhau trong năm Thường ở gà, chu kỳ này kéo dài một năm; ở gà tây, vịt, ngỗng chu kỳ này ngắn hơn và theo mùa Chu kỳ đẻ trứng sinh học cĩ mối tương qua thuận với tính thành thục sinh dục, nhịp độ đẻ trứng, sức bền đẻ trứng và chu kỳ
đẻ trứng Giữa tuổi thành thục và thời gian kéo dài chu kỳ đẻ trứng sinh học cĩ mối tương quan nghịch rõ rệt
+ Tính ấp bĩng hay bản năng địi ấp trứng: ðây là phản xạ khơng điều kiện cĩ liên quan đến sức đẻ trứng của gia cầm Trong tự nhiên, tính ấp bĩng giúp gia cầm duy trì nịi giống Bản năng địi ấp rất khác giữa các giống và các dịng Các dịng nhẹ cân cĩ tần số thể hiện bản năng địi ấp thấp hơn các dịng nặng cân Gà Leghorn và gà Goldline hầu như khơng cịn bản năng địi ấp Bản năng địi ấp là một đặc điểm di truyền của gia cầm, nĩ là một phản xạ nhằm
Trang 30hoàn thiện quá trình sinh sản Song với thành công trong lĩnh vực ấp trứng nhân tạo, ñể nâng cao sản lượng trứng của gia cầm cần rút ngắn và làm mất hoàn toàn bản năng ấp trứng Bởi vì bản năng ấp trứng là một yếu tố ảnh hưởng ñến sức bền ñẻ trứng và sức ñẻ trứng
- Các yếu tố di truyền cá thể phụ thuộc vào các gen khác nhau và ảnh hưởng ở mức ñộ khác nhau ñến sức ñẻ trứng Muốn nâng cao sức ñẻ trứng qua một số ít thế hệ phải bắt ñầu chọn lọc trên cả 5 yếu tố nói trên
* Giống, dòng gia cầm
Giống, dòng gia cầm có ảnh hưởng rất lớn ñến sức sản xuất trứng của gia cầm Các giống khác nhau có khả năng ñẻ trứng là khác nhau: giống gà Kabir sản lượng trứng trung bình là 195 quả/mái/năm, gà Brown Nick sản lượng trứng trung bình là 300 quả/mái/năm Các giống gà ñược chọn lọc theo hướng chuyên trứng thường có sản lượng trứng cao hơn các giống gà kiêm dụng và các giống
gà chuyên thịt, các giống gà nội thường có sản lượng trứng thấp hơn so với các giống gà nhập ngoại
* Tuổi gia cầm
Tuổi gia cầm cũng có liên quan ñến năng suất trứng Sản lượng trứng của
gà giảm dần theo tuổi, thường thì sản lượng năm thứ hai giảm 15 – 20% so với năm thứ nhất (Nguyễn Thị Mai và Cs, 2009) Một số loại gia cầm như vịt và ngỗng thì sản lượng trứng năm thứ hai cao hơn năm thứ nhất
* Chế ñộ dinh dưỡng
Thức ăn và dinh dưỡng có quan hệ chặt chẽ với khả năng ñẻ trứng Muốn gia cầm có sản lượng trứng cao, chất lượng trứng tốt thì phải ñảm bảo một khẩu phần ăn ñầy ñủ và cân bằng các chất dinh dưỡng theo nhu cầu Quan trọng nhất
là cân bằng giữa năng lượng và protein, cân bằng các axit amin, cân bằng các chất khoáng và vitamin Thức ăn có chất lượng kém sẽ không thể cho năng suất cao, thậm chí còn gây bệnh cho gia cầm Các loại thức ăn bảo quản không tốt bị nhiễm nấm mốc, các loại thức ăn bị nhiễm ñộc kim loại nặng, thuốc bảo vệ thực
Trang 31vật… Thậm chí các loại thức ăn hỗn hợp ñảm bảo ñầy ñủ và cân bằng các chất dinh dưỡng nhưng bảo quản không tốt cũng sẽ không phát huy ñược tác dụng
trong chăn nuôi gia cầm (Nguyễn Thị Mai và Cs, 2009)
* ðiều kiện ngoại cảnh
Các yếu tố ngoại cảnh như nhiệt ñộ, ñộ ẩm, ánh sáng, mùa vụ ảnh hưởng rất lớn tới sức ñẻ trứng của gia cầm
Mùa vụ có ảnh hưởng rõ rệt ñến sức ñẻ trứng của gà Ở nước ta vào mùa
hè sức ñẻ trứng giảm xuống so với mùa xuân, ñến mùa thu thì sức ñẻ trứng của
gà lại tăng lên
Nhiệt ñộ môi trường xung quanh có liên quan mật thiết với sản lượng trứng Nhiệt ñộ thích hợp cho gia cầm ñẻ trứng là 18 – 240 C Nếu nhiệt ñộ dưới giới hạn thì gia cầm phải huy ñộng năng lượng ñể chống rét và nhiệt ñộ cao trên nhiệt ñộ giới hạn thì cơ thể gia cầm phải thải nhiệt Nhiệt ñộ môi trường cao làm giảm lượng thức ăn thu nhận, giảm hiệu quả sử dụng thức ăn từ ñó làm giảm năng suất trứng và chất lượng trứng (Nguyễn Thị Mai và Cs, 2009) Vỏ trứng mỏng hơn bình thường nếu kết hợp với dinh dưỡng không hợp lý thì gia cầm ñẻ trứng không có vỏ
Liên quan chặt chẽ với nhiệt ñộ là ñộ ẩm không khí của chuông nuôi ðộ
ẩm thích hợp từ 65- 70% ðộ ẩm thấp sẽ làm lượng bụi trong chuồng nuôi tăng lên, ñây là một tác nhân gây bệnh ñường hô hấp Ngược lại ñộ ẩm cao là ñiều kiện thuận lợi cho các loại vi sinh vật gây bệnh phát triển, nhất là các bệnh ñường tiêu hóa ðộ ẩm cao kết hợp với nhiệt ñộ cao sẽ gây stress nóng ẩm rất bất lợi với gia cầm, làm giảm khả năng ñẻ trứng, chất lượng trứng và giảm hiệu quả chăn nuôi
Ngoài nhiệt ñộ và ñộ ẩm, chế ñộ chiếu sáng cực kỳ quan trọng trong chăn nuôi gia cầm nói chung và gà ñẻ trứng nói riêng Gia cầm không chỉ cần ánh sáng ñể nhìn và tìm thức ăn, nước uống, nơi ở…mà nó còn khởi ñộng cơ quan sinh dục Theo Nguyễn Thị Mai và Cs (2009) võng mạc và não bộ của gia cầm
Trang 32rất nhạy cảm với kích thích của ánh sáng Cơ chế dẫn truyền kích thích của ánh sáng là cơ chế thần kinh - thể dịch mà tuyến yên là trung tâm truyền dẫn, chỉ những ánh sáng có bước sóng dài mới ñi qua ñược Vì vậy, muốn kích thích cơ quan sinh dục, cần sử dụng ánh sáng ấm với nhiều màu ñỏ và cam Ánh sáng tác ñộng ñến sức ñẻ trứng từ hai khía cạnh là thời gian chiếu sáng và bản chất của ánh sáng Khi sử dụng chế ñộ chiếu sáng trong chuồng nuôi gà, không chỉ ñảm bảo thời gian và cường ñộ chiếu sáng mà còn phải chú ý ñến màu sắc của ánh sáng Nếu muốn kích thích gà ăn nhiều, hoạt ñộng tìm ổ ñẻ hiệu quả, tránh ñẻ rơi trứng trên sàn ñối với gà ñẻ thì nên sử dụng ánh sáng trắng lạnh với nhiều màu xanh Cần tăng cường ánh sáng ñỏ ñối với gà mái ñẻ nhất là giai ñoạn chuẩn bị vào ñẻ (giai ñoạn tiền ñẻ trứng) Yêu cầu của gà ñẻ về thời gian chiếu sáng là từ 12 – 16 giờ/ngày, cường ñộ chiếu sáng 10,8 lux ñủ cho năng suất trứng cao nhất Trong chăn nuôi gà ñẻ, có thể sử dụng ánh sáng tự nhiên hoặc nhân tạo ñể chiếu sáng cho gà với cường ñộ chiếu sáng từ 3 – 3,5 W/m2 (Ron Meijerhof, 2006)
* Năng suất trứng và tỷ lệ ñẻ
Năng suất trứng là số trứng một gia cầm mái sinh ra trong một ñơn vị thời gian ðối với gia cầm ñẻ trứng, ñây là chỉ tiêu năng suất quan trọng nhất, phản ánh trạng thái sinh lý và khả năng hoạt ñộng của hệ sinh dục Năng suất trứng là một tính trạng số lượng nên nó phụ thuộc nhiều vào giống, ñặc ñiểm của cá thể, hướng sản xuất, mùa vụ và dinh dưỡng
Hutt F.B, (1978) ñề nghị tính sản lượng trứng từ khi gia cầm ñẻ quả trứng ñầu tiên Theo tác giả trên sản lượng trứng cũng ñược tính theo năm sinh học
365 ngày, kể từ ngày ñẻ quả trứng ñầu tiên Trong thời gian gần ñây, sản lượng trứng ñược tính theo tuần tuổi Nhiêu hãng gia cầm nổi tiếng như Shaver (Canada), Lohmann (ðức), sản lượng trứng ñược tính ñến 70-80 tuần tuổi
Năng suất trứng là tính trạng có mối tương quan nghịch chặt chẽ với tốc
ñộ sinh trưởng sớm, do vậy trong chăn nuôi gà sinh sản, cần chú ý cho gà ăn hạn
Trang 33chế trong giai ựoạn gà dò, gà hậu bị ựể ựảm bảo năng suất trứng trong giai ựoạn sinh sản Năng suất trứng phụ thuộc nhiều vào số lượng và chất lượng thức ăn, phụ thuộc vào mức năng lượng, hàm lượng protein và các thành phần khác trong khẩu phần thức ăn Năng suất trứng có hệ số di truyền không cao, nhưng lại dao ựộng lớn Nguyễn Văn Thiện (1995) cho biết, hệ số di truyền năng suất trứng của gà là 0,12 - 0,3
Về tỷ lệ ựẻ gà có tỷ lệ ựẻ thấp trong mấy tuần ựầu của chu kỳ ựẻ, sau ựó tăng dần và ựạt tỷ lệ cao ở những tuần tiếp theo rồi giảm dần và ựạt tỷ lệ ựẻ thấp
ở cuối thời kỳ sinh sản Sản lượng trứng/năm của một quần thể gà mái cao sản, ựược thể hiện theo quy luật cường ựộ dẻ trứng cao nhất vào tháng thứ hai, thứ ba sau ựó giảm dần ựến hết năm ựẻ để tiến hành chọn giống về sức ựẻ trứng Hutt F.B., 1978 ựã áp dụng ổ ựẻ có cửa sập tự ựộng ựể kiểm tra số lượng trứng của từng gà mái Các tác giả cho rằng sản lượng trứng 3 tháng ựẻ ựầu và sản lượng trứng cả năm có tương quan di truyền chặt chẽ (0,7- 0,9)
Năng suất trứng của gà đông Tảo/36 tuần ựẻ ựạt 67,71 quả/mái (Nguyễn đăng Vang và cộng sự, 1999) Năng suất trứng của gà Lương Phượng Hoa/48 tuần ựẻ ựạt trung bình 158,63 quả/mái (Vũ Ngọc Sơn và cộng tác viên, 1999) Phùng đức Tiến và cộng sự (2003) nghiên cứu trên gà Ai Cập, công bố năng suất trứng từ 22 Ờ 61 tuần ựạt 175,36 quả/mái
* Khả năng thụ tinh và ấp nở
Kết quả thụ tinh là chỉ tiêu quan trọng ựể ựánh giá khả năng sinh sản của
con giống, phụ thuộc vào các yếu tố như tuổi, tỷ lệ trống mái, mùa vụ, dinh dưỡng, chọn ựôi giao phối,ẦTỷ lệ nở là chỉ tiêu ựánh giá sự phát triển của phôi, sức sống của gia cầm non Khả năng ấp nở phụ thuộc vào chất lượng trứng, tỷ lệ phôi, kỹ thuật ấp nở,Ầđối với những trứng có chỉ số hình dạng chuẩn, khối lượng trung bình của giống sẽ cho tỷ lệ ấp nở cao nhất
Hệ số di truyền của tỷ lệ trứng thụ tinh là 0,11 - 0,13, hệ số di truyền của
Trang 34tỷ lệ ấp nở 0,10 - 0,14 (Nguyễn Văn Thiện, Trần đình Miên, 1995)
Nguyễn đăng Vang và cộng sự (1999) cho biết ở gà đông tảo tỷ lệ trứng
có phôi ựạt 89,54 % và tỷ lệ nở loại 1/trứng ấp ựạt 70,08 % Theo Nguyễn Văn Thạch (1996) , gà Ri nuôi bán thâm canh tỷ lệ phôi ựạt 93,42 % và nở/phôi ựạt 90,51 %
Khả năng thụ tinh phụ thuộc vào nhiều yếu tố như di truyền, dinh dưỡng,
ựiều kiện ngoại cảnh,tuổi và tỷ lệ ghép trống mái
- Yếu tố di truyền: loài, giống khác nhau thì có tỷ lệ thụ tinh khác nhau, nếu cho giao phối cận huyết sẽ làm giảm tỷ lệ thụ tinh
- Yếu tố dinh dưỡng: dinh dưỡng của ựàn bố mẹ ảnh hưởng trực tiếp tới tỷ
lệ thụ tinh Nều trong khẩu phần không ựầy ựủ chất dinh dưỡn, thiếu các loại vitamim nhóm A, E sẽ làm cho cơ quan sinh dục phát triển không bình thường, ảnh hưởng tới khả năng sinh tinh và hoạt ựộng sinh dục
- điều kiện ngoại cảnh: ựiều kiện khắ hậu mà cụ thể là tiểu khắ hậu chuồng nuôi ( nhiệt ựộ, ựộ ẩm, sự thông thoáng và chế ựộ chiếu sáng) là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới tỷ lệ thụ tinh Tỷ lệ thụ tinh của gia cầm thường cao vào mùa xuân và mùa thu, giảm vào mùa hè nhất là những ngày nắng nóng Nếu
ựộ ẩm quá thấp không những gà dễ mắc các bệnh về hô hấp mà còn dễ mắc các bệnh về chân gây ảnh hưởng tới quá trình giao phối làm giảm tỷ lệ thụ tinh
- Tuổi gia cầm: tuổi gia cầm ảnh hưởng rõ rệt tới tỷ lệ thụ tinh Thường ở
gà trống, tinh hoàn ựạt kắch thước tối ựa ở 28 - 30 tuần tuổi, giai ựoạn này thường ựạt tỷ lệ thụ tinh rất cao Nếu nuôi dưỡng hợp lý, tinh hoàn sẽ phát triển tốt và bắt ựầu có tỷ lệ thoái hóa sau 48 tuần tuổi
- Tỷ lệ trống/mái: ựể tỷ lệ thụ tinh cao cần có tỷ lệ trống mái thắch hợp Các giống, loài gia cầm khác nhau thì tỷ lệ trống/mái khác nhau Gia cầm hướng trứng thường tỷ lệ 1/8, hướng thịt là 1/10
Trang 352.5 Năng lượng trong thức ăn chăn nuôi và nhu cầu về năng lượng của gia cầm
2.5.1 Sự chuyển hóa năng lượng trong cơ thể gia cầm
Khi thức ăn ñược gia cầm ăn vào, tổng số năng lượng trong thưc ăn ñược gọi là năng lượng tổng số Nó là tổng năng lượng thoát ra khi ñốt một ñơn vị
khối lượng mẫu thức ăn trong máy ño năng lượng (Bomb calorimeter)
Khi ñốt: 1 g gluxit giải phóng 4,1 kcal
1 g protein giải phóng 5,65 kcal
1 g lipit giải phóng 9,3 kcal
(Vũ Duy Giảng, 1996)
Năng lượng tổng số sẽ bị mất mát trong quá trình tiêu hóa và chuyển hóa
Có 4 dạng năng lượng trong thức ăn của gia cầm, ñó là năng lượng thô, năng lượng tiêu hóa, năng lượng trao ñổi và năng lượng thuần Tỷ lệ giữa các dạng năng lượng này trong thức ăn của gia cầm ñược Smith (1993) thể hiện như sau:
Trang 36Năng lượng thô (Gross energy - GE)
(100%)
Năng lượng trong phân (Energy in faeces - FE)
(22,22%) Năng lượng tiêu hóa
(Digestible energy - DE)
(77,78%)
Năng lượng trong nước tiểu (Urine energy - UE)
(5,56%) Năng lượng trao ñổi
(Metabolizable energy - ME)
(72,22%)
Nhiệt thất thoát (Heat Incriment - HI) (11,11 - 33,33%) Năng lượng thuần
(Net energy - NE) (38,99 - 61,11%)
Năng lượng cho duy trì Năng lượng cho sản xuất
- Chuyển hóa cơ bản - Tăng trưởng cơ thể
- Các hoạt ñộng tự ñộng - Vỗ béo
- Duy trì thân nhiệt - Cho lông
Trang 37Năng lượng thô (GE) là năng lượng giải phóng ra khi ñốt mẫu thức ăn trong máy ño năng lượng (Bombe calorimetrique) Năng lượng này sẽ bị mất mát trong quá trình tiêu hóa và chuyển hóa
Năng lượng tiêu hóa (DE) là phần cũn lại sau khi ñem năng lượng thô trừ
ñi năng lượng ở phân (FE)
Năng lượng trao ñổi (ME) của gia cầm là phần năng lượng còn lại sau khi lấy năng lượng tiêu hóa trừ ñi năng lượng chứa trong nước tiểu (UE)
Năng lượng tiêu hóa trong cơ thể gia cầm bị mất ñi trong quá trình trao ñổi chất dưới dạng chất thải axit uric (axit uric thấm lẫn vào phân có màu trắng)
Cứ 1g axit uric chứa 1197 KJ còn gọi là năng lượng nước tiểu
Năng lượng thuần (NE) là phần năng lượng còn lại sau khi lấy năng lượng trao ñổi trừ ñi năng lượng nhiệt (HI)
Năng lượng thuần là phần năng lượng cuối cựng dựng cho duy trì và sản xuất ðối với gia cầm, phân và nước tiểu ñược thải ra ñồng thời Vì thế trong thực tiễn sản xuất, giá trị năng lượng của thức ăn thường ñược biểu thị dưới dạng năng lượng trao ñổi
2.5.2 Nhu cầu năng lượng của gia cầm
Cơ thể sống nói chung và của gia cầm nói chung rất cần năng lượng Trong cơ thể năng lượng ñóng vai trò duy trì sự sống và ñảm bảo cho hoạt ñộng của các tổ chức, cũng như các quá trình tổng hợp các sản phẩm của cơ thể ñược diễn ra một cách bình thường Nhu cầu năng lượng của gia cầm cần ñược cung cấp từ thức ăn và năng lượng ñược giải phóng ra nhờ quá trình oxy hóa các chất dinh dưỡng của thức ăn như gluxit, lipit và protein
Nhu cầu về năng lượng trao ñổi của gia cầm ñược thể hiện bằng số Kcal hoặc KJ/con/ngày (Smith, 1993) và phải ñược cân ñối với protein và các chất dinh dưỡng khác 40 - 50% năng suất của gia cầm phụ thuộc vào mức năng lượng ñược ñưa vào cơ thể
Trang 38Nhu cầu năng lượng cho gia cầm bao gồm năng lượng cho duy trì, năng lượng cho sản xuất (tăng trưởng và tạo sản phẩm) Muốn có năng lượng cho sản xuất cần có năng lượng cho duy trì Con vật luôn luôn sử dụng năng lượng của thức ăn trước tiên cho duy trì sau ñó mới cho sản xuất (Singh, 1988)
* Nhu cầu năng lượng cho duy trì
Mỗi một cơ thể gia cầm ngoài yêu cầu năng lượng cho sản xuất thịt và trứng sẽ cần một lượng năng lượng nhất ñịnh ñể duy trì mọi hoạt ñộng sinh lý (hoạt ñộng sống) của chúng, còn gọi là cho quá trình trao ñổi cơ bản như quá trình tiêu hóa thức ăn, hoạt ñộng cơ, hoạt ñộng thần kinh thể dịch, ñiều hòa thân nhiệt Với ñiều kiện nuôi dưỡng bình thường, nhu cầu năng lượng cho hoạt ñộng chiếm khoảng 50% so với nhu cầu năng lượng cho trao ñổi cơ bản (Singh, 1988) Tổng chi phí ME cho trao ñổi cơ bản của gia súc lớn lớn hơn gia súc nhỏ nhưng nếu tính theo 1 kg thể trọng thì gia súc càng nhỏ chi phí ME cho trao ñổi
cơ bản càng lớn (nhu cầu ME cho trao ñổi cơ bản/kg thể trọng ở gà cao gấp 3 lần so với bò) (Mc Donal,1988)
Người ta xác ñịnh nhu cầu năng lượng duy trì cho con vật bằng cách nghiên cứu năng lượng trao ñổi cơ bản của con vật lúc nhịn ñói Con vật ñược nhốt trong phòng kín có nhiệt ñộ môi trường thích hợp và dường như không vận ñộng Nhu cầu năng lượng này là nhu cầu năng lượng trao ñổi cơ bản hay năng lượng duy trì lý thuyết Nghiên cứu mối tương quan giữa năng lượng trao ñổi cơ bản với 1 kg khối lượng cơ thể và nhận thấy chỉ tiêu này rất biến ñộng ở các loài gia cầm khác nhau Tiếp theo người ta tìm mối tương quan giữa năng lượng trao ñổi cơ bản với 1m2 bề mặt da thì nhận thấy chỉ tiêu này ít biến ñộng hơn, nhưng
do việc ño diện tích bề mặt da của gia cầm là rất khó Cuối cùng người ta tìm ra mối tương quan chặt chẽ giữa năng lượng trao ñổi cơ bản với 1 kg của tổng khối lượng cơ thể có số mũ là 0,75 Khối lượng cơ thể (W) với số mũ 0,75 (W0,75) ñược gọi là khối lượng cơ thể trao ñổi Các số liệu thực nghiệm cho thấy nhu cầu năng lượng trao ñổi cơ bản ở những con vật trưởng thành tính trên 1 kg khối
Trang 39lượng cơ thể trao ñổi ñều xấp xỉ 70 kcal trong 1 ngày ñêm Tuy nhiên, con số này chỉ mang tính tương ñối vì năng lượng trao ñổi cơ bản còn phụ thuộc vào ñặc ñiểm cá thể, giới tính, trạng thái sinh lý cũng như các giai ñoạn phát triển của con vật
Người ta xác ñịnh năng lượng trao ñổi cơ bản của vật nuôi bằng cách tính lượng oxy tiêu thụ của con vật trong 1 ngày ñêm và lượng nitơ thải ra qua nước tiểu khi nhốt con vật trong chuồng thí nghiệm ñặc biệt Năng lượng trao ñổi cơ bản ñược coi là năng lượng duy trì lý thuyết Trong thực tế sản xuất, năng lương duy trì của con vật thường cao hơn ñáng kể so với năng lượng duy trì lý thuyết Bởi vì con vật ñược nuôi trong ñiều kiện bình thường, chúng chịu ảnh hưởng của nhiệt ñộ môi trường và tiêu thụ nhiều năng lượng hơn cho vận ñộng cơ thể, chẳng hạn như vận ñộng tìm kiếm thức ăn Do ñó, trong thực tế thường phải ñưa thêm các hệ số vào ñể tính năng lượng duy trì cho từng loại gia súc gia cầm ở các lứa tuổi khác nhau
Những vật nuôi có khối lượng cơ thể càng lớn thì năng lượng duy trì càng cao Năng lượng thức ăn dùng ñể duy trì cơ thể là không có lợi cho người chăn nuôi Do ñó, người chăn nuôi cần cho con vật ăn ñầy ñủ ñể rút ngắn thời gian nuôi ñối với những vật nuôi lấy thịt Như vậy là ñã làm giảm tổng năng lượng duy trì Mặt khác cũng cần giữ ấm cho vật nuôi khi thời tiết lạnh ñể giảm bớt nhiệt thất thoát, góp phần giảm bớt chi phí thức ăn
Nhu cầu năng lượng duy trì cho gà mái ñẻ ñược xác ñịnh bởi nhiều thí nghiệm và thường bằng 115 lcal ME/kg KLCT trong ñiều kiện nhiệt ñộ môi trường 25oC (Emmans, 1972) Với nhiệt ñộ môi trường khác nhau nhu cầu năng lượng cho duy trì cũng khác nhau Nếu theo công thức của Swanson dẫn theo tài liệu của Leslie (1979) sẽ tính ñược nhu cầu năng lượng duy trì ME/kg KLCT ở các nhiệt ñộ khác nhau như sau:
Ở nhiệt ñộ 10o C bằng 148 kcal
Ở nhiệt ñộ 21o C bằng 124 kcal
Trang 40Ở nhiệt ñộ 32o C bằng 99 kcal
Theo Scott (1976) , nhu cầu năng lượng cho duy trì ñược tính như sau:
Nhu cầu năng lượng cho duy trì (kcal) = 83.W0,75
Trong ñó: W: Khối lượng sống (kg)
Theo Oluyemi (1979), nhu cầu ME cho duy trì cơ thể gà (cho trao ñổi cỏ bản và hoạt ñộng bình thường) là 0,0093 kcal/g thể trọng ñối với gà sinh trưởng)
và 0,0047 kcal/g thể trọng (ñối với gà ñẻ trứng)
* Nhu cầu năng lượng cho sản xuất
Nhu cầu năng lượng cho sản xuất bao gồm năng lượng cho sinh trưởng và cho sản xuất trứng
- Nhu cầu năng lượng cho sinh trưởng: Khi bắt ñầu vào giai ñoạn ñẻ trứng
gà mái tơ vẫn bắt ñầu phát triển cơ thể Theo tài liệu của Swanson thì nhu cầu năng lượng cho sinh trưởng của gà có thể tính theo công thức sau:
Theo Oluyemi (1979), thì nhu cầu năng lượng cho 1 g tăng trọng là 1,5 - 3,0 kcal, nó phụ thuộc vào hàm lượng mỡ tích lũy vào tế bào
Cũng có những tính toán cho tiết hơn như Wu, Han (1982) ñã xác ñịnh nhu cầu năng lượng cho 1 g tăng trọng ở hai giai ñoạn tuổi khác nhau, dưới 4 tuần tuổi cần 2,5 kcal và trên 4 tuần tuổi cần 3,8 kcal cho 1 g tăng trọng
Nhu cầu năng lượng trao ñổi cho sản xuất trứng: ðể xác ñịnh nhu cầu năng lượng ME cho sản xuất trứng phải dựa vào giá trị năng lượng của 1 g trứng
và hiệu quả sử dụng năng lượng ME cho sản xuất trứng