luận văn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
………
LÊ THỊ THẢO
NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG PROPEP TRONG THỨC ĂN CHO LỢN CON LAI GIỐNG NGOẠI (PIDU X LY) TỪ 21 –
56 NGÀY TUỔI TẠI CÔNG TY CP DABACO VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành : CHĂN NUÔI
Mã số : 60.62.40
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS.TÔN THẤT SƠN
HÀ NỘI – 2011
Trang 2LỜI CAM ðOAN
Tôi xin cam ñoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa từng ñược ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Tôi xin cam ñoan rằng, mọi sự giúp ñỡ cho việc thực hiện luận văn ñã ñược cám ơn và các thông tin trích dẫn ñã ñược chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2011
Tác giả
Lê Thị Thảo
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian học tập, nghiên cứu và thực hiện ñề tài tốt nghiệp, ngoài sự nỗ lực của bản thân tôi còn nhận ñược rất nhiều sự quan tâm giúp ñỡ quý báu của nhà trường, các thầy giáo, cô giáo và các bạn ñồng nghiệp
ðặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới thầy giáo
PGS.TS Tôn Thất Sơn, là người ñã tận tình trực tiếp hướng dẫn, giúp ñỡ tôi
trong suốt thời gian làm luận văn tốt nghiệp
Tôi xin cảm ơn chân thành tới các thầy giáo, cô giáo trong Bộ môn Dinh dưỡng - Thức ăn, Khoa Chăn nuôi - Nuôi trồng Thuỷ sản, Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội ñã góp ý và chỉ bảo ñể luận văn của tôi ñược hoàn thành
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới: Ban giám ñốc, các anh, chị cán bộ công nhân viên Công ty CP DABACO Việt Nam và Công ty TNHH MTV Lợn giống Lạc Vệ - Tiên Du – Bắc Ninh ñã tạo mọi ñiều kiện giúp ñỡ tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn của mình tới gia ñình, bạn bè ñã quan tâm, ñộng viên, giúp ñỡ và tạo ñiều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập, cũng như việc hoàn thành luận văn này
Hà Nội, ngày tháng năm 2011
Tác giả
Lê Thị Thảo
Trang 4mạc ruột non, hoạt tính của các enzyme tiêu hóa và khả năng tiết
2.3 Cai sữa cho lợn con và một số biện pháp khắc phục hiện tượng
.3.2 Một số biện pháp khắc phục hiện tượng khủng hoảng sinh lý sau cai sữa ở lợn con 10
2.4 ðặc ñiểm sinh trưởng, phát dục của lợn con và quá trình trao ñổi
2.7 ðặc ñiểm dinh dưỡng một số nguyên liệu sản xuất thức ăn cho lợn con 28
Trang 52.9 Thành phần dinh dưỡng của bột plasma (huyết tương ñộng vật phun
PHẦN III ðỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
4.6 Ảnh hưởng của việc bổ sung propep trong thức ăn ñến bệnh tiêu
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ADG (Average daily gain) Tăng khối lượng bình quân hàng ngày
Trang 7
DANH MỤC CÁC BẢNG
4.8 Hiệu quả sử dụng Propep ñối với lợn con sau cai sữa 21 – 56 ngày tuổi 65
Trang 8DANH MỤC BIỂU ðỒ, ðỒ THỊ
Trang 9PHẦN I
MỞ ðẦU
1.1 Tính cấp thiết của ñề tài
Hiện nay, một trong những biện pháp kỹ thuật ñược ứng dụng trong sản xuất nhằm nâng cao hiệu quả chăn nuôi lợn nái là rút ngắn thời gian cai sữa của lợn con
Số lượng lợn thịt/nái/năm bình quân cả nước chưa cao, năm 2005 bình quân nái ngoại ñạt 17,6 con/nái (1,8 lứa ñẻ/nái/năm), trong khi ñó các nước có trình ñộ chăn nuôi lợn tiên tiến là 18-22 con/nái/năm (2,2 – 2,4 lứa ñẻ/nái/năm)
ðể có thể tăng ñược số lứa ñẻ, số lợn con/nái/năm cần cai sữa sớm cho lợn con và có thức ăn tập ăn từ 7 – 21 ngày tuổi
Việc có thể cai sữa sớm thành công và ñàn lợn con phát triển tốt sau khi cai sữa, cần phải có thức ăn chất lượng tốt và phù hợp với ñặc ñiểm sinh lý tiêu hoá của lợn con trong giai ñoạn này Ngoài kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng hợp
lý thì việc xây dựng ñược khẩu phần ăn thích hợp cho lợn con tập ăn và thức ăn sau cai sữa có thể coi là chìa khoá của sự thành công Hai loại thức ăn này không những phải chứa ñầy ñủ và cân bằng các chất dinh dưỡng ñể ñáp ứng nhu cầu sinh trưởng phát triển mà còn phải dễ tiêu hoá, có khả năng kích thích tính thèm ăn và an toàn cho lợn con
Cho ñến nay, nhiều công ty thức ăn trong nước ñã nghiên cứu sản xuất ñược thức ăn tập ăn và sau cai sữa cho lợn con lai giống ngoại cho kết quả tốt
Thành công của sản xuất thức ăn cho lợn con tập ăn và sau cai sữa là nhờ
sử dụng bột huyết tương phun khô (bột Plasma) Tuy nhiên bột huyết tương lại
có giá thành cao, ñiều này ñã làm ảnh hưởng ñến hiệu quả chăn nuôi của các cơ
sở chăn nuôi lợn Nên ñể hạ giá thành sản xuất thức ăn cho lợn con, những nhà nghiên cứu trong nước và trên thế giới ñã sử dụng một số loại thức ăn giàu
Trang 10protein khác như protein ñỗ tương tinh chế, bột lòng ñỏ trứng…
Xuất phát từ yêu cầu thực tế trên chúng tôi tiến hành thực hiện ñề tài:
“Nghiên cứu sử dụng Propep trong thức ăn cho lợn con lai giống ngoại (PiDu x LY) từ 21 – 56 ngày tuổi tại Công ty Cổ phần Dabaco Việt Nam”
- Theo dõi chặt chẽ, số liệu thu ñược phải chính xác, ñảm bảo tính khách quan
- Số liệu ñược xử lý theo phương pháp thống kê trên chương trình Excel
và Minitab 14
Trang 11PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Một số ñặc ñiểm sinh lý tiêu hóa của lợn con
2.1.1 ðặc ñiểm tiêu hóa và hấp thu các chất dinh dưỡng ở lợn con
Hệ thống tiêu hóa của lợn con trong những ngày ñầu sơ sinh cả về cấu trúc hình thái học và hoạt ñộng của các enzyme tiêu hóa chỉ thích hợp với việc tiếp nhận và tiêu hóa sữa như là một nguồn dinh dưỡng duy nhất (Whitemore, 1993) [63] Trong 36 giờ ñầu sau khi sinh, thành ruột non của lợn con có khả năng hấp thu nguyên vẹn những globulin phân tử lượng lớn, một sự hấp thu tích cực và không chọn lọc ñược thực hiện nhờ các yếu tố ức chế trypsin và các enzyme tiêu hóa protein khác có mặt trong sữa ñầu của lợn nái và có trong thành ruột non của lợn con (Zintzen và Cs, 1971) [68] Chính nhờ có cơ chế ñó mà hàm lượng protein tổng số trong huyết thanh của lợn con tăng lên nhanh chóng vài giờ sau khi lợn con ñược bú sữa ñầu Khả năng hấp thu các kháng thể có phân tử lượng lớn chỉ có hiệu quả trong vòng 36 giờ ñầu sau khi sinh Sau thời ñiểm này, thành ruột non trở thành một bức rào chắn vững chắc không chỉ ñối với các globulin miễn dịch mà còn ñối với các vi khuẩn gây bệnh Cho ñến nay
cơ chế ñiều chỉnh khả năng hấp thu cũng như sự hình thành bức rào chắn như vậy vẫn chưa ñược giải thích một cách thỏa ñáng Có giả thuyết cho rằng bản chất sơ khai của niêm mạc ruột non và hormone ACTH có liên quan ñến khả năng này Lợn ñược cai sữa ở tuần tuổi thứ 3 – 4, ở giai ñoạn sau cai sữa , lợn con không còn ñược bú sữa mẹ mà việc thu nhận chất dinh dưỡng ñược lấy hoàn toàn từ thức ăn bên ngoài ðiều này ñã gây trở ngại rất lớn cho lợn con vì vậy tốc ñộ sinh trưởng, khả năng thu nhận thức ăn, sức ñề kháng của lợn con giảm mạnh, ñồng thời kéo theo sức mẫn cảm tăng lên do chức năng của các cơ quan trong cơ thể lợn con chưa hoàn chỉnh Tiến trình này ñược gọi là “ Sự kìm hãm
Trang 12sau cai sữa” và dẫn ñến sự phát triển không ñầy ñủ của các chức năng tiêu hóa
Tỷ lệ axit chlohidric (HCl) và sự tiết enzyme thấp có thể làm gia tăng số lượng
vi khuẩn bất lợi trong ñường ruột và làm ảnh hưởng tiêu cực ñến sức khỏe lợn con ðiều này lý giải sự mẫn cảm ñặc biệt của lợn con sau cai sữa ñối với hiện tượng rối loạn tiêu hóa
2.1.2 Hoạt tính của các enzyme tiêu hóa và sự tiêu hóa enzyme trong hệ thống dạ dày ruột của lợn
Hoạt ñộng tiêu hóa thức ăn diễn ra trong ñường dạ dày ruột của lợn con trong 3 tuần ñầu sau khi sinh chủ yếu là tiêu hóa enzyme Bởi vậy bất kỳ sự thay ñổi về khẩu phần cũng như chế ñộ nuôi dưỡng ñều dẫn tới sự thay ñổi tương ứng của hệ thống các enzyme tiêu hóa
Lợn con khi mới sinh có khả năng tiết các enzyme tiêu hóa rất phù hợp cho việc tiêu hóa sữa Do ñó, enzyme lactose ñược tiết với hàm lượng cao, enzyme lipase ñược tiết với hàm lượng ñủ ñể tiêu hóa mỡ và protease tiêu hóa protein trong sữa
a Hoạt tính của các enzyme lipase và sự tiêu hóa mỡ
Lúc sơ sinh, hoạt tính của các enzyme tiêu hóa mỡ trong ñường tiêu hóa của lợn con rất cao và tăng không ñáng kể theo tuổi Tuy nhiên theo Corring và
Cs (1978) [33] cho rằng hoạt tính của các enzyme lipase tuyến tụy tăng dần theo tuổi, khối lượng tuyến tụy tăng dần trong giai ñoạn bú sữa và tương ứng, hoạt tính enzyme lipase tăng dần từ ngày thứ 2 ñến 35 ngày tuổi Tương ứng với
sự tăng dần hoạt tính của các enzyme lipase, tỷ lệ tiêu hóa mỡ của lợn con tăng dần theo tuổi và phụ thuộc vào nguồn mỡ (tỷ lệ tiêu hóa mỡ cao nhất ở mỡ sữa, sau ñến mỡ lợn, dầu oliu và thấp nhất là tinh dầu ngô) (Zintzen và Cs, 1971) [68] và ñộ dài của chuỗi axit béo trong mỡ
b Hoạt tính của các enzyme protease và sự tiêu hóa protein
Hoạt tính của các enzyme tiêu hóa protein như: pepsin, trysin,
Trang 13chymotrysin phụ thuộc vào pH của môi trường dạ dày ruột và tăng lên theo tuổi cùng với sự tăng cường sản xuất axit chlohydric của niêm mạc dạ dày Theo Zintzen và Cs (1971) [68], ñộ pH trong dịch vị của lợn con lúc sơ sinh là 3, sau
ñó tăng dần ñạt mức pH bằng 5 ở 3 ngày tuổi sau ñó tiếp tục giảm do khả năng sản xuất axit chlohydric và ñạt mức pH bằng 2 ở 21 ngày tuổi Do không có khả năng sản xuất dù axit chlohydric và men pepsin, nên trong giai ñoạn dưới 21 ngày tuổi, khả năng tiêu hóa protein nguồn gốc thực vật và ñộng vật (trừ sữa) của lợn con rất kém, ñồng thời môi trường pH cao trong dịch dạ dày làm tăng
khả năng nhiễm mầm bệnh, ñặc biệt là các chủng E.coli trong ruột non, hơn nữa
sự phân giải protein bởi men pepsin không hoàn hảo dẫn ñến những mạch peptid dài chưa phân giải ñược ñưa xuống ruột non làm tăng nguy cơ bị tiêu chảy của lợn con (Ruth Miclat Sonaco, 1996) [59] Hoạt tính của các enzyme tiêu hóa protein ở lợn con phụ thuộc rất lớn vào nguồn và chất lượng của protein trong thức ăn (Corring, 1980) [32] Hoạt tính của các enzyme trysin và chymotrysin trong dịch tiêu hóa ở ruột non của lợn con trong giai ñoạn 28 – 35 ngày tuổi ñược ăn khẩu phần có protein từ sữa cao hơn ñáng kể so với những lợn con ñược nuôi dưỡng bằng khẩu phần có protein từ ñậu tương Tỷ lệ tiêu hóa protein sữa,
kể cả sữa lợn và sữa bò ở lợn con ñều rất cao (95 – 99%) Khả năng tiêu hóa protein nguồn gốc thực vật và ñộng vật khác ở lợn con tăng theo tuổi Theo Leibholz (1982) [46], tỷ lệ tiêu hóa biểu kiến casein ở lợn con giai ñoạn 9 – 14 ngày tuổi là 94,6%; 21 – 24 ngày tuổi là 96,9% Protein bột cá và khô dầu ñậu tương tương ứng là: 86,6%; 87,6% và 83,1%; 87,8% Theo Zinzten và Cs (1971) [68], sự khác biệt về tỷ lệ tiêu hóa ñối với các loại protein trong ñường tiêu hóa của lợn con là do sự khác biệt về khả năng ñông ñặc của chúng trong ñường tiêu hóa, mà chính khả năng này lại quyết ñịnh thời gian lưu lại của chúng trong ñường dạ dày ruột Quãng thời gian lưu lại này của protein ñậu tương là 19 giờ, của casein là 42 giờ ðường lactose trong sữa có tác dụng kích thích khả năng
Trang 14tiêu hóa casein Tỷ lệ tiêu hóa protein của lợn con không chỉ phụ thuộc vào nguồn gốc và chất lượng protein mà còn phụ thuộc tỷ lệ protein trong thức ăn, hiệu quả sử dụng protein sẽ bị giảm khi mức protein trong khẩu phần tăng
c Hoạt tính của các enzyme tiêu hóa gluxit và sự tiêu hóa gluxit ở lợn con
Sự phát triển và hoạt tính của các enzyme tiêu hóa gluxit ở lợn con rất không ñồng ñều, các enzyme lactose có hoạt tính rất cao ngay từ những ngày ñầu sau khi sinh và giảm rất nhanh ở 3 tuần tuổi, trong khi ñó hoạt tính của các enzyme tiêu hóa gluxit khác như amylase, maltose và saccharase tăng rất chậm Theo Hartman và cộng sự (1961), trong mô tuyến tụy của lợn con lúc sơ sinh hoàn toàn không có enzyme amylase, hoạt tính của enzyme này tăng nhanh khi
lợn con ñược 35 – 40 ngày tuổi Leibholz (1982) [46] ñã có thông báo rằng
hoạt tính của enzyme amylase bắt ñầu thể hiện ở ngày tuổi thứ 7 sau khi sinh nhưng không ñáng kể và tăng dần theo tuổi, hoạt tính của enzyme maltose tăng 1,5 lần từ 7 – 28 ngày tuổi Tương ứng với hoạt tính của hệ enzyme tiêu hóa gluxit, tỷ lệ tiêu hóa của tất cả các loại gluxit ở lợn con ñều rất thấp (trừ lactose) Khả năng tiêu hóa tinh bột của lợn con chỉ ñạt 25% ở tuần tuổi ñầu tiên, 50% ở tuần tuổi thứ 3 và tiếp tục tăng cùng với tiến trình hoàn thiện của cơ quan tiêu hóa (Zinzten và Cs, 1971[68]) Tuy nhiên, tỷ lệ tiêu hóa tinh bột của lợn con còn phụ thuộc nhiều vào nguồn gốc của tinh bột, phương pháp chế biến thức ăn hạt
và mức ñộ cân ñối axit amin trong khẩu phần (Leibholz, 1982) [46]
2.2 Ảnh hưởng của việc cai sữa ñến sự thay ñổi hình thái học của niêm mạc ruột non, hoạt tính của các enzyme tiêu hóa và khả năng tiết axit chlohydric (HCl) ở lợn con sau cai sữa
2.2 1 Sự thay ñổi hình thái học của niêm mạc ruột non ở lợn con cai sữa
Cấu trúc ñặc trưng nhất của niêm mạc ruột non ở ñộng vật có vú nói chung và lợn con nói riêng là sự tồn tại của các lông nhung, ñơn vị hấp thu nhỏ nhất của cơ quan tiêu hóa Vùng niêm mạc giữa các lông nhung tồn tại các hốc
Trang 15nhỏ, nơi mà từ ựó dịch ruột và các chất lỏng khác ựược tiết vào khoang ruột Ở những lợn con khỏe mạnh, chiều cao của lông nhung dài gấp 3 Ờ 4 so với chiều rộng của các hốc giữa chúng (Ruth Miclat Sonaco, 1996) [59]
Tương quan giữa chiều cao lông nhung và ựộ sâu của các hốc phản ánh tình trạng sức khỏe khả năng hấp thu của niêm mạc ruột non Nhiều công trình nghiên cứu ựã chứng tỏ, giữa chiều cao lông nhung và tốc ựộ sinh trưởng của lợn con giai ựoạn sau cai sữa có tương quan rất chặt chẽ Hệ số tương quan giữa tốc ựộ sinh trưởng và chiều cao lông nhung niêm mạc ruột non ở lợn con sau cai sữa là: r = 0,63 (P<0,05) Trong một công trình nghiên cứu khác của Pluske và
Cs (1996) [56], cho thấy hệ số tương quan này là r = 0,78 (P<0,05) điều này rất
dễ hiểu vì sự giảm chiều cao lông nhung dẫn ựến giảm diện tắch hấp thu, giảm hàm lượng enzyme trong mỗi tế bào niêm mạc ruột đã có rất nhiều những công trình nghiên cứu khẳng ựịnh cai sữa làm giảm chiều cao của lông nhung và tăng
ựộ sâu của các hốc niêm mạc ruột ở lợn con trong những ngày ựầu cai sữa (Smith, 1984 [60]; Cera và Cs, 1990 [30]; Theo Mc Carcken và Kelly, 1993 [49]), chiều cao của các lông nhung và tăng ựộ sâu của các hốc nhỏ giữa chúng
có trong niêm mạc ruột non giải thắch cho hiện tượng giảm khả năng tiêu thụ thức ăn, giảm khả năng hấp thu các chất dinh dưỡng, tăng tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy sau cai sữa và dẫn ựến giảm thậm chắ làm ngừng tốc ựộ sinh trưởng của lợn con trong giai ựoạn sau cai sữa (hiện tượng ức chế sau cai sữa)
2.2.2 Hoạt tắnh của các enzyme ở lợn con cai sữa
đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu chứng tỏ rằng cai sữa làm giảm hoạt tắnh của các enzyme tiêu hóa trong chất chứa dạ dày ruột của lợn con Hoạt tắnh của enzyme tuyến tụy giảm trong tuần ựầu tiên sau cai sữa (Lindemann và
Cs, 1986) [47] Miller và Cs (1984) [51] có thông báo về sự giảm hoạt tắnh của các enzyme trypsin và chymotrypsin của tuyến tụy Theo Lidemann và Cs (1986) [47], hoạt tắnh của enzyme amylase giảm 82%, trypsin giảm 45% trong
Trang 16tuần ñầu tiên sau cai sữa ở 35 ngày tuổi sau ñó tăng dần và ñạt mức bình thường
ở 45 ngày tuổi
2.2.3 Khả năng tiết axit chlohydric (HCl)
Một số hạn chế của lợn con sau cai sữa là khả năng tiết axit dạ dày kém
Có một số ảnh hưởng tiêu cực liên quan ñến hạn chế này của lợn Trước hết, axit chlohyric là axit hoạt hóa men pepsinogen thành pepsin hoạt ñộng ñể thực hiện quá trình tiêu hóa protein, pH thích hợp cho pepsin hoạt ñộng là 1,5 – 2,5 Vì vậy, với pH ñường dạ dày cao ñã làm giảm hiệu quả tiêu hóa protein Mặt khác
pH dạ dày còn giữ một vai trò quan trọng trong việc phòng ngừa sự xâm nhập của vi khuẩn ngoài môi trường vào hệ thống tiêu hóa Khi pH cao sẽ làm tăng khả năng rối loạn tiêu hóa của lợn
Do khả năng tiết acid dạ dày bị hạn chế, nhiều nghiên cứu về việc bổ sung acid hữu cơ vào khẩu phần cho lợn con sau cai sữa ñã ñược tiến hành Phần lớn các axit ñược sử dụng trong lĩnh vực này là lactic, propionic, formic, butyric với mức bổ sung 0,05 – 3,0%
2.2.4 Một số yếu tố ảnh hưởng ñến sự thay ñổi hình thái học của niêm mạc ruột non ở lợn con cai sữa
a Tuổi cai sữa
Cai sữa càng sớm, càng ñột ngột, tốc ñộ giảm chiều cao lông nhung và tăng chiều sâu của các hốc niêm mạc ruột càng cao như vậy và những rối loạn tiêu hóa, hấp thu diễn ra càng trầm trọng
Theo Windmusller (1982) [65]., Souba (1993) [61], Wu và Knabe (1993) [66]., trong sữa lợn nái tồn tại một loại acid amin là L-glutamin có ý nghĩa rất quan trọng trong việc bảo vệ, kích thích sự phát triển và duy trì các chức năng sinh lý bình thường của các tế bào biểu mô ruột non Sự ngừng cung cấp sữa làm mất ñi vai trò của L-glutamin và ñó cũng là một trong những nguyên nhân cơ bản làm giảm chiều cao lông nhung, tăng ñộ sâu của các crypt (mào ruột) trong niêm
Trang 17mạc ruột non Theo Lindemann và Cs (1986[47]), chiều cao của lông nhung giảm
30 – 65% ở lợn con cai sữa 21 ngày và 27% ở lợn con cai sữa 35 ngày
b Sự thay ñổi về thức ăn
Chuyển trạng thái vật lý của thức ăn từ lỏng sang ñặc, dẫn ñến làm giảm chiều cao của các lông nhung trong những ngày ñầu sau khi cai sữa Theo Robertson và Cs (1985[57]), Bark và Cs (1986) [27], có một giai ñoạn ñói tạm thời trong những ngày ñầu sau cai sữa trong ñó sức tiêu thụ thức ăn của lợn con giảm ñi rõ rệt và vì vậy lợn con không hấp thu ñủ các chất dinh dưỡng ñể ñáp ứng nhu cầu duy trì ñồng thời sự giảm mức tiêu thụ thức ăn dẫn ñến thiếu sự cung cấp dưỡng chất liên tục trong ñường dạ dày ruột cũng là một trong những nguyên nhân làm tăng chiều sâu của các hốc niêm mạc và chiều cao lông nhung
c Nguồn protein trong khẩu phần
Protein sữa ít ảnh hưởng tới sự thay ñổi hình thái của niêm mạc ruột, trái lại những protein có nguồn gốc thực vật và ñộng vật có ảnh hưởng rõ rệt ñến sự thay ñổi hình thái các lông nhung cũng như các hốc niêm mạc Các nghiên cứu cho thấy chiều cao của lông nhung niêm mạc ruột non của lợn ñược ăn khẩu phần có protein sữa cao hơn so với ở lợn con ñược tập ăn khẩu phần có protein ñậu tương Nguyên nhân của sự khác biệt này là do sự khác biệt về cấu trúc kháng nguyên của các loại protein trong thức ăn (Miller và Cs, 1984 [51])
2.3 Cai sữa cho lợn con và một số biện pháp khắc phục hiện tượng khủng hoảng sinh lý sau cai sữa ở lợn con
2.3.1 Cai sữa cho lợn con
Ở nước ta trước ñây do kỹ thuật chăn nuôi còn hạn chế nên phần lớn lợn con cai sữa nuôi tới 45 – 50 ngày tuổi Những năm gần ñây ñể tăng năng suất sinh sản lợn nái (tăng số lứa ñẻ/nái/năm nhằm tăng số lợn con cai sữa/nái/năm)
ñã cai sữa lợn con sớm hơn
Hiện nay, cai sữa lợn con sớm vào lúc 21 – 28 ngày tuổi Việc cai sữa lợn
Trang 18con sớm hơn cũng làm cho nái khó ựộng dục sớm và cũng không rút ngắn chu
kỳ sinh của nái bao nhiêu, nhưng lợn con khó nuôi hơn, tốn kém hơn nếu cai sữa quá sớm (Võ Văn Ninh, 2001[18])
Mặc dù vậy cai sữa ở lứa tuổi nào cũng phải ựảm bảo lợn con nuôi tiếp sinh trưởng và phát triển tốt, nuôi ựến 2 tháng tuổi ựạt 18 Ờ 20kg ở lợn lai và lợn ngoại và nuôi ựến 3 tháng tuổi ựạt ựến 20 Ờ 22 kg, có trường hợp ựạt 25kg
Việc cho ăn hạn chế trong thời gian sau cai sữa có hiệu quả rõ rệt ựối với việc phòng tránh bệnh ỉa chảy Số lần cho ăn ảnh hưởng ựến khả năng tiêu hóa của lợn, khi cho ăn 3 lần/ ngày thì sẽ tiêu hóa ựược 13,5% nhưng khi cho ăn 5 lần/ngày thì sẽ tiêu hóa ựược 19,7%
2.3.2 Một số biện pháp khắc phục hiện tượng khủng hoảng sinh lý sau cai sữa ở lợn con
Cai sữa là một stress lớn nhất thể hiện ở việc bị thay ựổi dạng, nguồn thức ăn; thay ựổi về không gian, môi trường sống; ngoài ra còn chịu tác ựộng của việc ghép ựànẦ mà lợn con gặp phải trong những ngày chập chững bước vào một cuộc sống ựộc lập Những stress này là nguyên nhân của những khủng hoảng về sinh lý, ựặc biệt là những thay ựổi sâu sắc về hình thức và chức năng của hệ thống tiêu hóa thể hiện bằng sự giảm khả năng thu nhận thức ăn, giảm tỷ
lệ tiêu hóa, hấp thu những chất dinh dưỡng mà hậu quả cuối cùng là giảm năng suất sinh trưởng của lợn con trong giai ựoạn ựầu sau cai sữa Chắnh những khủng hoảng về sinh lý này là một trở ngại rất lớn trong việc nuôi dưỡng và cai sữa sớm cho lợn con Có nhiều biện pháp kỹ thuật ựã ựược áp dụng nhằm khắc
phục những khủng hoảng sinh lý
* Tập cho lợn con ăn sớm
đã có nhiều công trình nghiên cứu chứng tỏ rằng cho lợn con ăn thêm trong giai ựoạn bú sữa làm tăng khả năng tiêu thụ thức ăn, tăng tỷ lệ tiêu hóa các chất dinh dưỡng trong giai ựoạn sau cai sữa, ựặc biệt khi năng suất của lợn mẹ
Trang 19thấp Hoạt tính của enzyme surcarase, maltase, trypsin, amylase tuyến tụy tăng lên ñáng kể ở những lợn con ñược ăn thêm thức ăn trong giai ñoạn bú sữa Việc
ăn sớm và ăn ñược nhiều thức ăn trong thời gian bú sữa không những làm giảm
sự teo ñi của các lông nhung mà còn làm giảm khả năng nhiễm E.coli và tỷ lệ
tiêu chảy của lợn con ở giai ñoạn sau cai sữa (Ruth Miclat Sonaco, 1996 [59])
Ngày nay các trang trại lớn, chăn nuôi theo quy mô công nghiệp thì thường cho lợn tập ăn vào ngày thứ 7 sau khi sinh Lượng thức ăn tiêu thụ không nhiều nhưng giúp cho lợn làm quen với thức ăn dạng khô và kích thích quá trình tiết men tiêu hóa ñể ñáp ứng với nhu cầu tiêu hóa ngay sau cai sữa
Thức ăn cung cấp cho lợn con có hàm lượng dinh dưỡng cao, cân bằng theo nhu cầu của giai ñoạn sinh trưởng Thức ăn tập ăn ñược xử lý giúp lợn dễ tiêu hóa, hấp thu và tránh gây rối loạn tiêu hóa cho lợn con
* ða dạng hóa khẩu phần
Nuôi dưỡng lợn con mới cai sữa bằng khẩu phần ña dạng, gồm nhiều loại nguyên liệu thức ăn dễ tiêu hóa Nhờ tính ña dạng hóa khẩu phần, các thành phần dinh dưỡng ñược cân bằng hơn, tính ngon miệng tốt hơn Thông qua ñó ñã làm tăng khả năng tiêu thụ thức ăn và tốc ñộ sinh trưởng của lợn con
* Chế biến thức ăn theo các phương pháp thích hợp
Việc chế biến thức ăn không chỉ nhằm loại bỏ mầm bệnh, ñộc tố trong thức ăn mà còn giúp tăng tính ngon miệng và tăng tỷ lệ tiêu hoá các chất dinh dưỡng trong khẩu phần Do ñặc ñiểm tiêu hoá của lợn sau cai sữa, nhiều công ty thức ăn ñã sử dụng các biện pháp chế biến như: hấp sấy, nổ bỏng, ép ñùn ñể tăng khả năng tiêu hoá và hấp thu, giảm rối loạn tiêu hoá cho lợn
* Tăng mật ñộ các chất dinh dưỡng trong khẩu phần
Do tồn tại mâu thuẫn giữa tiềm năng sinh trưởng cao và sức chứa của hệ tiêu hoá bị hạn chế, nên trong khẩu phần của lợn con giai ñoạn sau cai sữa cần phải có hàm lượng các chất dinh dưỡng cao, ñặc biệt là hàm lượng năng lượng
Trang 20và các axit amin thiết yếu (Campbell và Taverner, 1994 [28])
* Tạo môi trường sống phù hợp
Nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy nhiệt ựộ, ựộ ẩm và vệ sinh môi trường
có ảnh hưởng rất lớn ựến năng suất lợn con sau cai sữa Kết quả của các nghiên cứu trước ựã ựưa ra vùng nhiệt ựộ tối ưu cho lợn con Ở tuần ựầu sau khi sinh, nhiệt ựộ chuống nuôi thắch hợp cho lợn là 33 - 350C, tuần thứ hai là 31 - 320C, từ
21 ngày ựến 35 ngày tuổi là 28 - 30oC và giảm dần ựến 45 Ờ 60 ngày tuổi là 24 -
26oC (Tài liệu tập huấn - kỹ thuật chăn nuôi lợn ngoại, TTNC Lợn Thụy Phương,
2004 [15])
Trong thực tế, những biến ựộng thời tiết thường tạo ra môi trường nhiệt ựộ rất khác biệt với vùng nhiệt ựộ tối thắch của lợn con và ựó chắnh là một trong số những nguyên nhân dẫn tới những khủng hoảng sinh lý sau cai sữa (Hitoshi Mikami, 1994 [38])
* Chuyển ựổi thức ăn từ từ
Trong chăn nuôi, ựể hạn chế stress cho lợn sau cai sữa khi chuyển ựổi thức
ăn từ thức ăn tập ăn sang thức ăn cho giai ựoạn sau cai sữa nên chuyển ựổi từ từ Ngày ựầu sau cai sữa, cho lợn ăn hoàn toàn thức ăn tập ăn, ngày thứ hai trộn Ử thức ăn sau cai sữa với ớ thức ăn tập ăn, ngày thứ ba trộn ơ thức ăn sau cai sữa với ơ thức ăn tập ăn, ngày thứ tư trộn ớ thức ăn sau cai sữa với Ử thức ăn tập ăn
và ựến ngày thứ năm mới cho lợn ăn hoàn toàn thức ăn giai ựoạn sau cai sữa
* Cung cấp các chất bổ sung trong thức ăn của lợn
Trong những thập kỷ gần ựây, chất bổ sung trong thức ăn ựã giữ một vai trò ựặc biệt trong ngành chăn nuôi Chất bổ sung ựã nâng cao năng suất chăn nuôi vì vậy ựã tạo lợi nhuận cao cho các nhà sản xuất thức ăn chăn nuôi và người chăn nuôi
đã từ lâu người ta biết rằng trong quá trình phối hợp khẩu phần, nếu chỉ dùng nguyên liệu thức ăn có nguồn gốc hữu cơ như ngô, cám, lúa mỳ, ựại mạch,
Trang 21ñậu tương, bột cá…thì rất khó có ñược một khẩu phần cân bằng tối ưu ñể có thể ñáp ứng ñầy ñủ nhu cầu dinh dưỡng của gia súc, gia cầm ðể khắc phục hiện tượng ñó công nghiệp sản xuất các chất bổ sung vào thức ăn ñã ra ñời và tạo nên một bước nhảy vọt mới trong ngành dinh dưỡng ñộng vật
Theo Vũ Duy Giảng (1993) [19] thức ăn bổ sung là một chất khoáng hay một chất hữu cơ ở dạng tự nhiên hay tổng hợp, khác với thức ăn thông thường ở chỗ không ñồng thời cung cấp năng lượng, protein hay chất khoáng và dùng với liều lượng rất nhỏ gần như liều thuốc
Các chất có thể bổ sung vào thức ăn cho lợn con sau cai sữa có thể là: Vitamin, khoáng vi lượng, các chất bổ trợ (chất chống oxy hóa, enzyme, probiotic, prebiotic ), men tiêu hóa nhằm làm tăng sức ñề kháng của lợn con, cân ñối khẩu phần thức ăn, làm cho lợn con hấp thu thức ăn tốt hơn
2.4 ðặc ñiểm sinh trưởng, phát dục của lợn con và quá trình trao ñổi protein trong cơ thể lợn
2.4.1 ðặc ñiểm sinh trưởng, phát dục của lợn con
Sinh trưởng là quá trình tăng lên, lớn lên về kích thước, chiều cao, chiều rộng, chiều sâu, tăng lên của khối lượng, thể tích của cơ thể tính theo tuổi Sinh trưởng là không thay ñổi bản chất của tế bào giữa tế bào ñược sinh ra và tế bào gốc ban ñầu ở từng cơ quan, bộ phận khác nhau như hệ cơ, hệ xương, hệ thần kinh, hệ tiết niệu vv
Phát dục là quá trình hình thành các tổ chức, các bộ phận mới của cơ thể ngay từ giai ñoạn ñầu tiên của bào thai và trong cả quá trình phát triển của cơ thể sinh vật, là tính ñặc hiệu của ARN và AND trong sự phát triển của phôi, là vai trò của gen mang tính di truyền của tổ tiên
Lợn con có tốc ñộ sinh trưởng và phát dục nhanh Theo tốc ñộ tăng khối lượng của lợn con thấy rằng: khối lượng lợn con lúc 10 ngày tuổi gấp 2 lần lúc sơ sinh, lúc 21 ngày tuổi gấp 4 lần, lúc 30 ngày tuổi gấp 5 – 6 lần, lúc 40 ngày tuổi
Trang 22gấp 7 – 8 lần, lúc 50 ngày tuổi gấp 10 lần và lúc 60 ngày tuổi gấp 12 – 14 lần
Lợn con bú sữa có tốc ñộ sinh trưởng, phát dục nhanh nhưng không ñồng ñều qua các giai ñoạn Tốc ñộ sinh trưởng nhanh nhất là 21 ngày sau khi sinh, sau 21 ngày tốc ñộ sinh trưởng giảm xuống Sự giảm tốc ñộ sinh trưởng này do nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu là do lượng sữa của lợn mẹ bắt ñầu giảm và hàm lượng hemoglobin trong máu lợn con bị giảm
Do lợn con có tốc ñộ sinh trưởng, phát dục nhanh nên khả năng tích lũy các chất dinh dưỡng của chúng diễn ra rất mạnh, cụ thể: lợn con ở 20 ngày tuổi mỗi ngày có thể tích lũy ñược 9 – 14g protein/kg khối lượng cơ thể Trong khi
ñó ở lợn lớn (lợn trưởng thành) chỉ tích lũy ñược 0,3 – 0,4g protein/kg khối lượng cơ thể Ngược lại, ñể tăng ñược 1kg khối lượng cơ thể, lợn con cần ít năng lượng hơn, nghĩa là tiêu tốn thức ăn ít thức ăn hơn lợn lớn, vì tăng khối lượng của lợn con chủ yếu là tăng khối lượng nạc, mà ñể sản xuất ra 1kg thịt nạc thì cần ít năng lượng hơn ñể sản xuất ra 1kg thịt mỡ (ñể tăng 1kg thịt nạc thì cần khoảng 15MjDE, trong khi ñó ñể tăng ñược 1kg thịt mỡ phải cần tới 50MjDE)
Sinh trưởng và phát dục là sự phát triển chung của cơ thể sống Hai quá trình này không có ranh giới, chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Sự phát triển của cơ thể là kết quả của sự sinh trưởng và phát dục dưới dạng ñộng thái,
mà cơ sở vật chất của nó là sự tăng lên về khối lượng và thể tích bằng các chiều
ño cùng với sự thay ñổi sâu sắc về chức năng sinh lý của các cơ quan, bộ phận của cơ thể
Quá trình sinh trưởng và phát dục của gia súc nói chung, cũng như của lợn nói riêng ñều tuân theo quy luật tự nhiên của sinh vật: quy luật sinh trưởng, phát dục không ñồng ñều; quy luật sinh trưởng, phát dục theo giai ñoạn và quy luật theo chu kỳ
Khi nghiên cứu về sinh trưởng và phát dục của lợn theo ñộ sinh trưởng người ta quan tâm ñến:
Trang 23- ðộ sinh trưởng tuyệt ñối
- ðộ sinh trưởng tương ñối
- ðộ sinh trưởng tích lũy
2.4.1.1.ðộ sinh trưởng tuyệt ñối
ðộ sinh trưởng tuyệt ñối là khối lượng, kích thước của các chiều của cơ thể tăng lên sau một ñơn vị thời gian
Công thức tính ñộ sinh trưởng tuyệt ñối:
A: ñộ sinh trưởng tuyệt ñối (g/ngày hoặc kg/tháng)
W1: khối lượng, kích thước tại thời ñiểm t1
W0: khối lượng, kích thước tại thời ñiểm t0
2.4.1.2 ðộ sinh trưởng tương ñối
ðộ sinh trưởng tương ñối là tỷ lệ phần trăm tăng lên của khối lượng, kích thước, thể tích của cơ thể ở lần khảo sát sau so với lần khảo sát trước
ðộ sinh trưởng tương ñối ñược tính theo công thức:
R: ñộ sinh trưởng tương ñối (%)
W1: khối lượng, kích thước ở lần khảo sát sau (g, kg, cm, m)
W0: khối lượng, kích thước ở lần khảo sát trước (g, kg, cm, m)
2.4.1.3 ðộ sinh trưởng tích lũy
ðộ sinh trưởng tích lũy là khả năng tích lũy các chất hữu cơ ñược thực hiện nhờ quá trình ñồng hóa và dị hóa, biểu thị tốc ñộ sinh trưởng về khối lượng,
Trang 24kích thước các chiều ño của cơ thể sau một thời gian sinh trưởng Sinh trưởng tích lũy cao thì cho năng suất thịt cao, cho nên việc theo dõi sinh trưởng tích lũy
có ý nghĩa về mặt kinh tế
2.4.2 Quá trình trao ñổi protein trong cơ thể lợn
Quá trình trao ñổi protein diễn ra không ngừng trong cơ thể của lợn, ngay
cả khi chúng ở trong ñiều kiện bị nhịn ñói hoàn toàn hoặc ñược nuôi dưỡng bằng khẩu phần hoàn toàn không có protein hoặc amino axit Protein trong các mô, các tổ chức trong cơ thể của lợn ñang sinh trưởng không bao giờ ở trong trạng thái tĩnh, chúng thường xuyên bị phân giải thành các polypeptit, các axit amin ñể rồi các axit amin này lại ñược hòa vào dòng các amino axit nội ngoại bào ñi vào con ñường trao ñổi và tổng hợp nên protein của các mô trong cơ thể
Khi ñộng vật ăn thức ăn chứa protein, dưới tác dụng của các men tiêu hóa, protein ñược phân giải thành các axit amin hoặc chuỗi axit amin liên kết Các phần tử nhỏ này ñược hấp thu qua ruột vào máu tới gan và tuần hoàn qua các mô bào ñể tổng hợp albumin của huyết tương Một phần các axit amin ñược ñưa ñi xa hơn vào các mô và tế bào ñể ñược sử dụng tổng hợp nên các protein ñặc hiệu của
mô và tế bào Chẳng hạn tổng hợp tyroxin trong tuyến giáp, các globulin miễn dịch trong các tế bào, tương bào, các enzyme tiêu hóa Một phần các axit amin ñó ñược dùng làm nguyên liệu năng lượng Khi các axit amin trong máu không ñúng với tỷ lệ mà các mô ñòi hỏi, phần dư thừa sẽ bị bài xuất ra ngoài cơ thể
2.5 Nhu cầu dinh dưỡng của lợn con
2.5.1 Số lượng thức ăn ăn vào và số lần cho ăn trong ngày
Cho ăn với một lượng nhỏ với khoảng cách ñều ñặn ñã nâng cao ñược năng suất của lợn con Với phương pháp nuôi dưỡng này có thể khắc phục ñược
2 vấn ñề, một là tránh tồn dư lâu thức ăn trong máng, tránh rơi vãi thức ăn, hai là tăng khả năng tiêu hoá hấp thu của lợn con
Sau khi cai sữa lợn con thường bị khủng hoảng, tránh tình trạng ñó cần
Trang 25giảm lượng thức ăn hàng ngày
Ngày cai sữa giảm 1/2 lượng thức ăn so với ngày trước cai sữa
Ngày tiếp theo giảm 1/3 lượng thức ăn so với ngày trước cai sữa
Ngày tiếp theo giảm 1/4 lượng thức ăn so với ngày trước cai sữa
Sau ñó nếu quan sát thấy lợn không có vấn ñề về tiêu hoá cho ăn bình thường như trước ngày cai sữa rồi tăng dần theo nhu cầu của lợn con
Theo Lê Hồng Mận và Xuân Giao (2004) [7] mức ăn hàng ngày cho lợn con
từ 10 - 45 ngày tuổi như sau:
Bảng 2.1 Mức ăn hàng ngày cho lợn con từ 10 - 45 ngày tuổi
Nguồn: Lê Hồng Mận và Xuân Giao (2004)
Sự ăn quá nhiều có thể dẫn ñến ứ máu trong dạ dày, ruột Việc cho ăn hạn chế trong thời gian sau cai sữa có hiệu quả rõ rệt ñối với việc phòng tránh bệnh
ỉa chảy Số lần cho ăn ảnh hưởng ñến khả năng tiêu hoá của lợn: Khi cho lợn ăn
3 lần/ngày thì sẽ tiêu hoá ñược 13,5% nhưng khi cho ăn 5 lần/ngày thì sẽ tiêu hoá ñược 19,7%
2.5.2 Nhu cầu về năng lượng của lợn
Năng lượng là một trong ba thành phần chiếm chi phí cao nhất khi xây dựng khẩu phần ăn cho lợn Nói chung, lợn cần năng lượng cho duy trì, sản xuất và sinh sản Giá trị năng lượng thức ăn cũng như nhu cầu năng lượng cho lợn thường ñược biểu thị theo năng lượng tiêu hoá (DE) hay năng lượng trao ñổi (ME) Nhiều tác giả
ñã ñưa ra cách ước tính giá trị năng lượng, trong ñó, ñáng chú ý là công thức của
Bo Gohl ñưa ra năm 1982 và của Lã Văn Kính năm 2003
Theo Bo Gohl (1982) [dẫn theo 16], giá trị năng lượng DE hoặc ME ñược
Trang 26ước tính bằng công thức sau:
DE (kcal/kg) = 5,78X1 + 9,42X2 + 4,4X3 + 4,07X4
ME (kcal/kg) = 5,01X1 + 8,93X2 + 3,44X3 + 4,08X4 X1, X2, X3 và X4 lần lượt là protein thô tiêu hoá, chất béo tiêu hoá, xơ thô tiêu hoá và chiết chất không nitơ tiêu hoá tính bằng g/kg thức ăn
Các công thức ñề nghị của Lã Văn Kính có ưu ñiểm là không cần xác ñịnh thành phần dinh dưỡng ở dạng tiêu hoá, giúp giảm ñược nhiều công sức và thời gian thí nghiệm So với công thức của Bo Gohl, các công thức này có sai
số, tuy nhiên sai số không lớn Ví dụ, ngũ cốc và phụ phẩm của ngũ cốc có sai
số thấp nhất là 0,7% và cao nhất 3,8% (Vũ Duy Giảng, 2005 [21])
Con vật ăn trước hết là ñể thoả mãn nhu cầu năng lượng Khi nồng ñộ năng lượng khẩu phần thấp, lượng thức ăn thu nhận tăng lên và ngược lại, nồng
ñộ năng lượng khẩu phần cao, lượng thức ăn thu nhận sẽ giảm Tuy nhiên, nếu nồng ñộ năng lượng khẩu phần dưới 9MJ DE/kg hoặc trên 15MJ DE/kg thì lợn không có khả năng ñiều chỉnh lượng thức ăn thu nhận phù hợp với nhu cầu năng lượng của chúng (Vũ Duy Giảng, 2007[22]) Vì vậy, ñáp ứng ñủ nhu cầu năng lượng cho vật nuôi là công việc ñầu tiên khi tính toán, xây dựng khẩu phần
Nhu cầu năng lượng cho gia súc ñang sinh trưởng phụ thuộc vào thành phần và tốc ñộ tích luỹ các chất trong cơ thể, ñặc biệt là tốc ñộ tích luỹ protein
và tốc ñộ tích luỹ mỡ
Theo Nguyễn Thiện và Cs (2008) [10], năng lượng cần cho tích luỹ protein trong cơ thể dao ñộng từ 7,1 ñến 14,6 Mcal DE/kg, trung bình là 12,6
Trang 27Mcal DE/kg Năng lượng cần cho tích luỹ mỡ từ 9,5 ñến 16,3 Mcal DE/kg, trung bình là 12,5 Mcal DE/kg
Với lợn con, nhu cầu về năng lượng chủ yếu là cho duy trì và tăng trưởng Ngày ñầu tiên sau khi sinh, 1 lợn con nặng 1kg cần khoảng 900 ñến 1.000KJ Năng lượng này ñược ñáp ứng từ năng lượng dự trữ trong cơ thể và sữa ñầu Tuy nhiên, năng lượng dự trữ trong cơ thể lợn con thấp, chỉ khoảng 420KJ/kg trọng lượng sơ sinh Vì vậy, lợn con phải hấp thu ñược khoảng 160g sữa ñầu trên 1kg trọng lượng sơ sinh ñể sống
Khả năng tiêu hoá chất béo của lợn con tăng từ 69% trong tuần ñầu sau cai sữa lên tới 88% ở tuần thứ 4 Do ñó, trong 2 tuần ñầu sau khi cai sữa, lượng chất béo bổ sung nên hạn chế ở mức 2 - 3% khẩu phần, sau ñó, từ tuần thứ 3 - 4,
tỷ lệ chất béo trong khẩu phần có thể tăng lên 4 - 5%
Nhu cầu năng lượng ở lợn con tăng lên theo tuần tuổi Từ tuần tuổi thứ 3, lượng sữa mẹ bắt ñầu giảm dần, trong khi ñó, tốc ñộ tăng trưởng của lợn con lại tăng nhanh, vì vậy, cần bổ sung năng lượng ngoài nguồn sữa mẹ cho lợn con Khi ñược 3 tuần tuổi, lượng thức ăn bổ sung chỉ cần khoảng 5%, nhưng ở 5 tuần tuổi, lượng thức ăn bổ sung chiếm tới 1/3 nhu cầu dinh dưỡng của lợn con (Frank Aheme và Cs, 2006 [3])
Ở Việt Nam, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (1986) cũng khuyến cáo mức bổ sung năng lượng cho lợn con từ 10 - 60 ngày tuổi Mức bổ sung ñược trình bảy trong bảng 2.2
Bảng 2.2 Mức bổ sung năng lượng cho lợn con theo ngày tuổi
Ngày tuổi ME bổ sung
Trang 28Thức ăn cung cấp năng lượng là thành phần chính trong khẩu phần của lợn Lợn con ñòi hỏi nguồn thức ăn giàu năng lượng và dễ tiêu Thức ăn cung cấp năng lượng cho lợn con từ 2 nguồn chính là các hạt ngũ cốc và dầu, mỡ
Các hạt ngũ cốc chứa nhiều tinh bột, có khả năng tiêu hoá cao và ngon miệng ðiểm hạn chế của chúng là thành phần axit amin không cân ñối Ngô thường ñược lựa chọn ñể phối hợp khẩu phần cho lợn con 1kg ngô hạt có 3.200
- 3.300 Kcal ME Ngô chứa 65% tinh bột, tỷ lệ xơ thấp, tỷ lệ chất béo tương ñối cao, 4 - 6% (Vũ Duy Giảng và Cs, 1999 [23])
Dầu và mỡ có năng lượng trao ñổi cao hơn các loại hạt ngũ cốc khoảng 2,25 lần (tính trên cùng ñơn vị trọng lượng) Nếu bổ sung 1% dầu hoặc mỡ vào khẩu phần sẽ làm giảm 2% tiêu tốn thức ăn (Palmer J Holden và Cs, 2006 [11] ) Ngoài ra, bổ sung dầu hoặc mỡ còn giúp làm giảm ñộ bụi, giảm hao hụt trong quá trình sản xuất Tuy nhiên, dầu và mỡ thường khó bảo quản, dễ bị ôi, làm giảm tính ngon miệng và khả năng tiêu hoá nên cần phải ñặc biệt chú ý ñến vấn
ñề này trong sản xuất thức ăn cho lợn con
2.5.3 Nhu cầu về protein và các axit amin
Protein liên quan ñến quá trình phát triển của hệ cơ và tạo nạc Trong chăn nuôi hiện nay, tỷ lệ nạc là một chỉ tiêu quan trọng ñể xác ñịnh hiệu quả kinh tế Chính vì vậy, khẩu phần của lợn cần ñảm bảo ñủ protein, ñặc biệt là sự cân ñối của các axit amin thiết yếu nhằm giúp cho quá trình tạo nạc tối ña
Theo Võ Trọng Hốt (2006)[17], khoảng 15% trọng lượng cơ thể là protein, trong ñó 6 - 13% protein ñược chu chuyển hàng ngày ñể duy trì Trong quá trình chu chuyển, có 6% protein bị mất ñi Hàm lượng protein chu chuyển hàng ngày tỷ lệ nghịch với sự phát triển và trọng lượng cơ thể lợn, nghĩa là lợn càng lớn, trọng lượng cơ thể càng cao thì hàm lượng protein chu chuyển càng giảm Có thể căn cứ vào hàm lượng protein chu chuyển ñể xác ñịnh nhu cầu protein cho duy trì thông qua hệ số nhu cầu duy trì
Trang 29Ví dụ lợn 20kg có 13% lượng protein chu chuyển hàng ngày, hệ số nhu cầu duy trì là 0,0012 (= 0,15 x 0,13 x 0,06) Nhu cầu protein cho duy trì là 24g protein/ngày (= 0,0012 x 20 x 1000)
Thông thường, khẩu phần thức ăn cho lợn con phải ñảm bảo ñược 120 - 130g protein tiêu hoá/ñơn vị thức ăn, tương ñương protein thô của khẩu phần là
17 - 19% (Nguyễn Quế Côi, 2006 [9])
Trong quá trình tiêu hoá, protein từ thức ăn sẽ ñược phân giải thành các axit amin và ñược hấp thu vào máu Các axit amin này sẽ ñược cơ thể tổng hợp nên protein ñặc hiệu của mô và tế bào Một phần các axit amin ñược sử dụng ñể tạo năng lượng Phần axit amin dư thừa sẽ bị bài xuất ra khỏi cơ thể
Ở lợn sinh trưởng, có 10 axit amin quan trọng mà cơ thể không tự tổng hợp ñược, ñó là: lysine, methionine, tryptophan, threonine, isoleucine, valine, leucine, histidine, arginine và phenylalnine Các axit amin này ñược cung cấp từ nguồn thức ăn bên ngoài hoặc từ các axit amin công nghiệp
Những axit amin có mặt trong khẩu phần ăn với số lượng ít nhất nhưng có vai trò quan trọng ñối với cơ thể ñược gọi là axit amin giới hạn thứ nhất Thức
ăn hạt ngũ cốc có axit amin giới hạn thứ nhất là lysine; thức ăn hạt ñậu tương là methionine Do ñó, khi xây dựng khẩu phần cho lợn sinh trưởng, cần phải bổ sung thêm các axit amin công nghiệp Bằng cách giảm hàm lượng protein có trong thức ăn và duy trì hàm lượng các axit amin thiết yếu tại mức ñủ nhu cầu của ñộng vật, ta có thể làm giảm lượng nitơ thải ra qua phân, tránh gây ô nhiễm môi trường (Dick Ziggers, 2003 [35]) Theo Tanksley T.D và Cs (2006) [12], bất cứ khẩu phần nào cung cấp ñầy ñủ số lượng 3 loại axit amin là lysine, tryptophan, threonine thì sẽ cung cấp ñầy ñủ các loại axit amin cần thiết khác ñể
có tăng trọng tối ưu
Sự cân bằng của các axit amin trong khẩu phần là rất cần thiết vì nếu thiếu một trong các axit amin nói trên ñều dẫn ñến sự thiếu hụt protein của cơ thể
Trang 30ñồng thời gây lãng phí các axit amin khác Theo D’Mello (1993) [dẫn theo 26], mất cân bằng axit amin làm giảm lượng thức ăn thu nhận ở gia súc non và có ảnh hưởng ñến hiệu quả hấp thu của axit amin giới hạn thứ nhất
ðể có sự tích luỹ protein thoả mãn thì tất cả axít amin trong thức ăn phải ñảm bảo ñầy ñủ số lượng cũng như chất lượng Sự cân bằng axít amin trong khẩu phần của lợn là rất cần thiết ñể tổng hợp protein ở các mô Khi thiếu một trong những axít amin cần thiết sẽ dẫn ñến thiếu protein của cơ thể NRC (1998) [4] ñã ñưa ra nhu cầu về năng lượng trao ñổi (ME), protein thô và một số axít amin cho lợn con (bảng 2.3)
Bảng 2.3 Nhu cầu ME, protein thô và một số axít amin cho lợn con
Trang 310,66; 0,88 và 1,05%
Theo PIC (2008) [54], cho rằng axit amin lý tưởng tiêu hoá của lợn con nằm trong khoảng từ 3,6 - 22,7 kg ðặt Lysine làm chuẩn thì tỷ lệ các loại axit amin khác ñược tính như sau :
Bảng 2.4 Tỷ lệ các axit amin thiết yếu tính theo Lysine (theo PIC, 2008)
Bảng 2.5 Tỷ lệ các axit amin thiết yếu tính theo Lysine (theo Chung và
Trang 32Theo Le Bellego và Cs (2002) [45], tỷ lệ Methionine + Cystine: Lysine cho lợn con từ 11 – 27 kg là 58%, với tỷ lệ này sinh trưởng tuyệt ñối ñạt cao nhất 522 (g/con/ngày) và tiêu tốn thức ăn (kg/kg tăng khối lượng cơ thể ñạt thấp nhất là 1,51
Nguồn cung cấp protein trong thức ăn của lợn con chủ yếu là bột cá chất lượng cao, các loại bột sữa, khô ñậu tương… Các protein có nguồn gốc ñộng vật thường ñược ưu tiên sử dụng vì protein có nguồn gốc thực vật thường gây phản ứng trong ruột lợn con, ảnh hưởng tới quá trình tiêu hoá thức ăn
Ngoài hai nhóm cung cấp protein ñộng vật nói trên, khô ñậu tương ñược coi là nguồn cung cấp ñạm thực vật rất có giá trị Trong hạt ñậu tương có một số yếu tố phi dinh dưỡng như saponine, isoflavon, chất kìm hãm trypsine, hemaglutinine sẽ làm giảm sự hấp thu protein thức ăn (Nguyễn Thiện và Cs, 2008) [10] Tuy nhiên, những chất này bị phá huỷ dưới tác dụng của nhiệt ñộ Vì vậy, ñậu tương phải ñược xử lý ñúng kỹ thuật trước khi sử dụng làm thức ăn cho lợn nhằm phát huy tối ña hiệu quả dinh dưỡng và không gây ñộc Khô ñậu tương tách vỏ có hàm lượng xơ thấp, tỷ lệ tiêu hoá cao nên ñược ưu tiên sử dụng trong sản xuất thức ăn cho lợn con
* Mối quan hệ giữa năng lượng, protein và khả năng sinh trưởng của lợn con
Mọi quá trình sinh học diễn ra trong cơ thể ñều cần có năng lượng Quan
hệ giữa protein và năng lượng càng cân ñối thì hiệu quả sử dụng thức ăn, năng suất và chất lượng sản phẩm càng cao Khẩu phần giàu protein nhưng nghèo năng lượng làm giảm tốc ñộ sinh trưởng và năng suất vật nuôi, hiệu quả sử dụng thức ăn kém
Khi cân ñối khẩu phần, chúng ta cần quan tâm ñến tỷ lệ năng lượng/protein thô hay nói chính xác hơn là năng lượng/lysine
Theo NRC (1998)[4] lợn 5 - 10kg, nhu cầu năng lượng là 3.265kcal ME/kg, nhu cầu protein thô là 23,7%, tỷ lệ năng lượng/protein thô là 137,76; lợn
Trang 3310 - 20kg, nhu cầu năng lượng là 3.265kcal ME/kg, nhu cầu protein là 20,9%,
tỷ lệ năng lượng/protein thô là 156,22
Cũng theo NRC (1998) [4], số gram lysine tổng số trên 1Mcal ME ñối với lợn 3 - 5kg là 4,59; lợn 5 - 10kg là 4,13 và lợn 10 - 20kg là 3,52 Kết quả nghiên cứu của Lã Văn Kính và Cs (2002) [6] trên lợn con sau cai sữa từ 28 - 63 ngày tuổi cho thấy, khẩu phần có mức lysine g/MJ DE từ 1 - 1,1 (tỷ lệ % của methionine, methionine+cystine, threonine và tryptophan so với lysine lần lượt
là 40, 57, 63 và 18) cho tăng trọng và tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng tốt nhất, 358g/ngày và 1,48kg thức ăn/kg tăng trọng; các mức lysine g/MJ DE là 0,8
- 0,9 chỉ cho tăng trọng 309 và 305g/ngày và tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng
là 1,73 kg thức ăn/kg tăng trọng (hỗn hợp thức ăn có mật ñộ năng lượng là 15 -
16 MJ DE/kg (tương ñương 3.406 và 3.632 kcal ME/kg)
Theo Marcio và CS (2009) [48], thì ñối với lợn con từ 10-20kg mức Lysine tiêu hoá lý tưởng là 1,02%, mức protein tiêu hoá lý tưởng là 18%
Mức lysine/DE (g/MJ) tối ưu ñối với lợn là 0,95 - 1,05 Với tỷ lệ này, tốc
ñộ tích luỹ protein ñạt 170 - 175g/ngày
* Ảnh hưởng của sự cung cấp quá thừa axit amin trong khẩu phần
Trước hết sự cung cấp quá thừa hoặc nhiều axit amin trong khẩu phần thường dẫn tới làm giảm khả năng tiêu thụ thức ăn, giảm tốc ñộ sinh trưởng hoặc giảm hiệu quả sử dụng thức ăn của lợn Một trường hợp khác cũng thường ñược quan sát thấy là sự cân bằng trong quan hệ tỷ lệ giữa các axit amin ñặc biệt là các axit amin không thay thế trong khẩu phần bị phá vỡ do cung cấp quá dư thừa một hay nhiều axit amin làm tăng thêm nhu cầu của gia súc ñối với một số loại axit amin khác như trường hợp cung cấp quá thừa lysine ở lợn ñang sinh trưởng làm tăng nhu cầu của chúng ñối với argrinine (Edmonds và Cs, 1987 [36])
Trang 342.5.3 Nhu cầu về khoáng chất
Trong cơ thể chất khoáng ñảm nhiệm nhiều vai trò khác nhau như tham gia cấu tạo tế bào và mô; tham gia tạo áp suất thẩm thấu; tham gia hệ thống ñệm; ổn ñịnh protein trong trạng thái keo của tế bào; ngoài ra một số ion có vai trò ñặc biệt như kích thích hay kìm hãm enzyme Cơ thể lợn có trên 20 loại chất khoáng, trong ñó có 10 loại cần thường xuyên ñược bổ sung vào khẩu phần Dựa vào nhu cầu và sự có mặt trong cơ thể, người ta phân chia ra các chất khoáng ña lượng và các chất khoáng vi lượng
- Nhóm khoáng ña lượng: Canxi, photpho, magie, natri, kali, clo
- Nhóm khoáng vi lượng: Sắt, ñồng, kẽm, mangan, iốt
Các nguyên tố khoáng có vai trò nhất ñịnh trong cơ thể Giữa chúng có mối quan hệ tương tác lẫn nhau, có thể làm tăng hoặc giảm khả năng hấp thu của một hay nhiều nguyên tố khác ðồng thời, việc thiếu hay thừa khoáng ñều có ảnh hưởng nghiêm trọng ñến cơ thể vật nuôi, làm giảm khả năng sinh trưởng, từ
ñó dẫn ñến giảm năng suất và hiệu quả chăn nuôi Vì vậy, khi cân ñối khẩu phần, cần tính toán bổ sung hợp lý các nguyên tố khoáng nhằm tạo hiệu quả hấp thu tối ưu nhất
2.5.4 Nhu cầu về vitamin
Vitamin tham gia vào hầu hết quá trình trao ñổi chất và hoạt ñộng cơ thể
nó như một chất xúc tác sinh học, xúc tiến việc tổng hợp, phân giải các chất dinh dưỡng (trong cơ thể có tới 850 loại men trong ñó có khoảng 120 loại có thành phần của vitamin tham gia) Chỉ với một lượng rất nhỏ, vitamin giúp cho vật nuôi sinh trưởng và phát triển bình thường, nâng cao sức ñề kháng của cơ thể Một số vitamin có thể tự tổng hợp ñược trong cơ thể lợn, ñáp ứng ñủ nhu cầu hàng ngày Một số khác ñược cung cấp từ thức ăn Tuy nhiên, trong quá trình chế biến và bảo quản thức ăn, giá trị của vitamin bị giảm ñi rất nhiều Do
ñó, cần phải bổ sung thêm vitamin vào khẩu phần nhằm tạo năng suất tối ưu
Trang 35Có khoảng hơn 15 loại vitamin ñược coi là thành phần không thể thiếu trong khẩu phẩn ăn cho gia súc, gia cầm Chúng ñược chia làm hai nhóm:
- Nhóm vitamin hoà tan trong dầu mỡ: Vitamin A, D, E, K
- Nhóm vitamin hoà tan trong nước: Vitamin C, vitamin nhóm B
Vai trò của các vitamin ñã ñược khẳng ñịnh từ lâu và ñáp ứng ñủ nhu cầu vitamin cho vật nuôi là một việc làm quan trọng khi phối hợp khẩu phần Bổ sung vitamin giúp tăng hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi Hiện nay, vitamin ñược bán dưới dạng ñơn chất hoặc ñã ñược trộn sẵn thành premix vitamin Premix vitamin có ñầy ñủ các loại vitamin cần thiết cho vật nuôi và ñược tính toán với
tỷ lệ phù hợp với nhu cầu sinh trưởng, phát triển của từng loại vật nuôi theo các giai ñoạn khác nhau
2.6.5 Nhu cầu về nước uống
Nước không phải là nguồn cung cấp năng lượng nhưng lại rất cần thiết cho sự sống Trong cơ thể ñộng vật, nước chiếm tới 60 - 75% khối lượng Lượng nước trong cơ thể giảm dần từ 75 - 80% khi mới sinh xuống còn 45 - 60% ở ñộng vật trưởng thành Nước là dung môi giúp hoà tan, hấp thu và vận chuyển các chất dinh dưỡng, là môi trường của nhiều phản ứng sinh hoá học xảy ra trong cơ thể Cơ thể bị mất nước nghiêm trọng có thể chết
Nhu cầu nước của vật nuôi phụ thuộc vào số lượng thức ăn ăn vào, nhiệt
ñộ môi trường và sản phẩm sản xuất ra Mỗi lứa tuổi khác nhau có nhu cầu lượng nước tối thiểu khác nhau Lợn con ñang bú mẹ ít có nhu cầu về nước uống
vì lượng nước này ñược cung cấp qua sữa (hàm lượng nước trong sữa lợn mẹ chiếm tới 90%) Trong 4 ngày ñầu, lượng nước trung bình tiêu thụ ở lợn con theo mẹ là 46ml/ngày Lợn con theo mẹ nuôi trong chuồng có nhiệt ñộ 28 -
320C, nhu cầu nước tăng 4 lần so với lợn con theo mẹ ở nhiệt ñộ chuồng nuôi là
200C (Trần Duy Khanh, 2007) [14] Sau khi lợn con bắt ñầu tập ăn, nhu cầu về nước uống tăng dần và phụ thuộc chủ yếu vào lượng thức ăn tiêu thụ
Trang 36Ở lợn cai sữa, lượng nước thu nhận có thể ñược tính theo công thức của sau: Lượng nước thu nhận (lít/ngày) = 0,149 + (3,053 x kg thức ăn thu nhận/ngày)
Theo William K và Preston (1991) [64], nhu cầu nước uống cho các loại lợn ñược trình bày trong bảng 2.6
Bảng 2.6 Nhu cầu nước uống của lợn qua các giai ñoạn
Loại lợn Lít/con/ngày Lít/kg thức ăn
2.7 ðặc ñiểm dinh dưỡng một số nguyên liệu sản xuất thức ăn cho lợn con
Dinh dưỡng thức ăn là một trong những yếu tố quyết ñịnh tới năng suất chăn nuôi Muốn thức ăn có chất lượng tốt thì cần phải có các loại nguyên liệu ñảm bảo các chỉ tiêu dinh dưỡng Trong phạm vi ñề tài này chúng tôi chỉ ñề cập tới một số nguyên liệu chính thường dung trong sản xuất thức ăn lợn con
2.7.1 Nhóm thức ăn giàu năng lượng
Nhóm thức ăn giàu năng lượng bao gồm các loại hạt ngũ cốc như ngô, lúa mỳ, cao lương…, các phụ phẩm của ngành xay xát như: tấm, cám, gạo…, các loại thức ăn củ như sắn, khoai lang, khoai tây…và các chất dầu mỡ Dưới ñây là một số nguyên liệu chính
* Ngô
Ngô thường ñược lựa chọn ñể phối hợp khẩu phần cho lợn con 1kg ngô
Trang 37hạt có 3.200 - 3.300 Kcal ME Ngô chứa 65% tinh bột, tỷ lệ xơ thấp, tỷ lệ chất béo tương ựối cao, 4 - 6% (Vũ Duy Giảng và Cs, 1999 [23])
Hàm lượng lipit của ngô có từ 3 Ờ 6%, chủ yếu là các loại axit béo chưa no, ngoài ra ngô còn chứa một hàm lượng ựáng kể caroten (tiền vitamin A) và sắc tố màu xantophyll Theo Tôn Thất Sơn và Cs (2006) [13], trong thực vật có chứa rất nhiều xantophyll (C40H56O2), ựây là những dẫn xuất có chứa oxy của carotene
Nhược ựiểm chắnh khi dùng ngô là nguy cơ nhiễm aflatoxin từ nấm mốc Aspergillus flavus, Aspergillus parasiticus, nhất là với ngô tại các vùng ựược thu hoạch trong mùa mưa không ựủ ựiều kiện phơi hoặc sấy khô ựúng mức.Trong
vụ hè thu, khi bảo quản ngô hạt thì sự biến ựổi thành phần hóa học và sự sản sinh aflatoxin thấp hơn khi bảo quản trong vụ ựông xuân Bên cạnh ựó, trong ngô còn chứa hàm lượng bột ựường và mỡ cao nên ngô rất dễ bị mọt phá hoại Mọt xuất hiện nhiều nhất trong ngô ở giai ựoạn chuyển từ khô hanh sang nóng
ẩm Trong 10 Ờ 15 ngày, mọt có thể ăn hỏng toàn bộ kho ngô hàng chục tấn (đào Văn Huyên, 1995 [1])
* Tấm gạo
Tấm là phần gẫy của hạt gạo nên giá trị dinh dưỡng giống như gạo, tấm chứa nhiều chất bột ựường 72,8% nhưng ắt protein (chứa từ 8-9% protein thô) và chất béo hơn cám Trong cám gạo có chứa khoảng 10 Ờ 13% protein thô, 10 Ờ 15% lipit thô, 8 Ờ 9% xơ thô và 9 - 10% khoáng tổng số Ngoài ra trong cám gạo còn rất giàu vitamin nhóm B, ựặc biệt là vitamin B1.Tuy nhiên tấm gạo rất tốt cho hệ tiêu hoá của lợn và cho mỡ chắc
Trang 38Bảng 2.7 Thành phần hoá học của nguyên liệu sử dụng trong sản xuất thức ăn cho lợn con thí nghiệm ( từ 21 – 56 ngày tuổi)
thô (%)
Béo thô %)
Xơ thô (%)
Tro thô (%)
Ca (%)
P (%)
2.7.2 Nhóm thức ăn giàu protein
2.7.2.1 Nhóm thức ăn giàu protein có nguồn gốc ñộng vật
Thức ăn giàu protein có nguồn gốc ñộng vật thường có giá trị sinh học cao, khả năng tiêu hóa và hấp thu tốt hơn so với thức ăn protein có nguồn gốc thực vật Phần lớn chúng là những nguồn protein khá cân ñối các axit amin cần thiết Trong các loại thức ăn cung cấp protein có nguồn gốc ñộng vật cho lợn ñiển hình nhất là bột cá
Bột cá rất giàu protein, chất lượng protein cao Loại bột cá tốt chứa trên 50% protein, tỷ lệ axit amin cân ñối, có nhiều axit amin chứa lưu huỳnh Trong
1 kg bột cá có chứa 52g Lys, 15 – 20g Met, 8 – 10g Cys, giàu Ca, P với tỷ lệ
Trang 39tương ñối cân ñối (canxi khoảng 6 – 7 %, photpho khoảng 4%), giàu vitamin B12, B1, ngoài ra còn có cả vitamin A và D
Từ nhiều kết quả nghiên cứu, các nhà khoa học nhận ñịnh protein trong bột
cá có giá trị sinh học cao Trong bột cá có ñủ các axit amin không thay thế, dễ tiêu hoá như Met, Cys, Lys, Thre, Tryp Theo Fin (2000) [37], hàm lượng Lys trong bột
cá trích (herring) là 6,1%, gần gấp ñôi so với hàm lượng Lys có trong bột ñỗ tương (3,1%) và gần gấp ba so với hàm lượng Lys có trong bột sữa (2,5%) Tác giả cũng cho biết: hàm lượng Met và Cys trong bột cá (2,6 – 2,9%) cao hơn trong ñỗ tương (1,5%) Sự có mặt của bột cá trong khẩu phần sẽ khắc phục ñược sự thiếu hụt các axit amin này khi sử dụng khẩu phần có nguồn gốc protein thực vật là chính
Khi so sánh protein của bột cá với một số nguồn protein khác, Fin (2000) [37] cho biết: hàm lượng protein thô của bột cá hơn hẳn các loại thức ăn khác, bột cá Chilê có hàm lượng protein thô là 73%, bột cá trích (herring) hàm lượng protein thô là 77% ; trong khi ñỗ tương chỉ ở mức 35% protein thô, bột sữa là 37% protein thô Không chỉ có thế, hàm lượng protein dễ tiêu hoá ở bột cá cũng tương ñối cao (69 – 72%), ñỗ tương là 32%, bột sữa là 33% Như vậy cả về lượng và chất, protein của bột cá ñều hơn hẳn protein của các loại thức ăn khác
Ở nước ta chất lượng của bột cá ñang là một vấn ñề cần ñược quan tâm
Do phương tiện ñánh bắt cá khác nhau nên chất lượng bột cá cũng bị ảnh hưởng Với những tàu thuyền nhỏ không có hầm lạnh bảo quản cá trong thời gian dài ñánh bắt cá ngoài khơi nên ngư dân phải bảo quản bằng cách ướp muối ðiều này làm cho hàm lượng muối ăn trong những loại bột cá này thường rất cao, có khi lên tới 20 – 30% Vì vậy, trước khi dùng bột cá ñể xây dựng khẩu phần cần phải tiến hành phân tích thành phần dinh dưỡng của nó nhất là hàm lượng muối
2.7.2.1 Nhóm thức ăn giàu protein có nguồn gốc thực vật
*ðỗ tương
ðỗ tương là loại hạt chủ lực ñược sử dụng cung cấp protein trong thức ăn
Trang 40chăn nuôi Trong ñỗ tương có khoảng 38 – 42% protein thô, 18 – 22% dầu Protein của ñỗ tương có chứa ñầy ñủ các axit amin cần thiết như Cys, Lys, nhưng Met là axit amin hạn chế thứ nhất trong hạt ñỗ tương Trong ñỗ tương
có chất ức chế men trypsin, chymotrysin Sự có mặt của các chất này ñã làm giảm ñi giá trị sinh học protein của ñỗ tương, giảm khả năng tiêu hóa của peptit, nhưng các chất này có thể bị phá hủy bởi nhiệt ñộ Vì vậy, cần phải có biện pháp xử lý nhiệt thích hợp như rang, hấp, luộc chín hoặc dùng tia hồng ngoại ñể nâng cao tỷ lệ tiêu hóa và khử các chất ñộc có trong hạt ñỗ tương
* Khô dầu ñỗ tương
Khô dầu ñỗ tương là phụ phẩm của ngành ép dầu ñỗ tương ðây là một trong những nguồn thức ăn protein thực vật có giá trị nhất Thành phần cơ cấu axit amin của nó có thể ngang với protein ñộng vật, trừ Met Hàng năm nước ta nhập ñến trên 400.000 tấn cả ñỗ tương nguyên dầu và khô dầu ñỗ tương Chúng
ta cần chú ý rằng, công nghệ ép dầu (ép máy hoặc ép thủ công) có ảnh hưởng rất lớn ñến chất lượng của khô dầu ñỗ tương
2.8 Bệnh tiêu chảy ở lợn con
Trong chăn nuôi lợn con, bệnh tiêu chảy ở lợn con là khá phổ biến và gây thiệt hại nhiều về kinh tế, gọi thông thường là bệnh lợn con ỉa phân trắng Dưới ñây, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về nguyên nhân gây bệnh cũng như một số biện pháp khắc phục của bệnh tiêu chảy ở lợn con
* Nguyên nhân gây bệnh
Có nhiều nguyên nhân gây ra tiêu chảy, tuỳ từng giai ñoạn, lứa tuổi của lợn mà có các nguyên nhân khác nhau
+ ðiều kiện ngoại cảnh
ðiều kiện ngoại cảnh có tác ñộng rất lớn ñến sức khoẻ vật nuôi, ñặc biệt ñối với lợn con, khả năng phòng vệ của cơ thể là chưa hoàn thiện Thực tế, lợn con thường bị tiêu chảy vào những ngày mưa nhiều, ñộ ẩm cao, trời lạnh, gió mùa