luận văn
Trang 1bộ giáo dục và đào tạo Trường đại học nông nghiệp hà nội
-*** -
đào văn tiên
Một số giải pháp nâng cao chất lượng
đào tạo nghề tại trường trung cấp nghề
cơ khí xây dựng - coma
Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số: 60.34.05
Người hướng dẫn khoa học : pgs Ts Kim thị dung
hà nội - 2011
Trang 2LỜI CAM đOAN
Tôi xin cam ựoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa ựược sử dụng ựể bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam ựoan mọi sự giúp ựỡ cho việc thực hiện luận văn này ựã ựược cảm ơn sâu sắc, các thông tin trắch dẫn trong luận văn ựều ựã ựược ghi
rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2011
Tác giả luận văn
đào Văn Tiên
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và thực hiện ựề tài luận văn, tôi ựã nhận ựược
sự giúp ựỡ nhiệt tình và những lời ựộng viên, chỉ bảo ân cần của các cá nhân, tập thể, các cơ quan trong và ngoài trường đại học Nông nghiệp Hà Nội
Trước tiên, tôi xin trân trọng cảm ơn sâu sắc PGS.TS Kim Thị Dung ựã trực tiếp hướng dẫn và giúp ựỡ tôi về mọi mặt ựể hoàn thành luận văn thạc sỹ khoa học quản trị kinh doanh
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu trường đại học Nông nghiệp
Hà Nội, Ban chủ nhiệm Viện đào tạo Sau ựại học, Ban chủ nhiệm Khoa Kế toán và Quản trị kinh doanh, tập thể các thầy, cô giáo trong khoa và trực tiếp
là các thầy, cô giáo Bộ môn Tài chắnh ựã giúp ựỡ tôi về thời gian cũng như kiến thức ựể tôi hoàn thành quá trình học tập và hoàn thiện ựề tài
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn Ban Giám Hiệu, phòng đào tạo, các phòng, khoa có liên quan và các CBQL, GV của các trường Trung cấp nghề
Cơ khắ xây dựng, Các Doanh nghiệp trong Tổng Công ty cơ khắ xây dựng và Tổng Công ty cơ khắ xây dựng; các cán bộ phụ trách mảng ựào tạo nghề của
Sở Lđ Ờ TB&XH Hà Nội, cán bộ Tổng cục Dạy nghề, cán bộ quản lý của các doanh nghiệp cơ khắ xây dựng ựóng trên ựịa bàn Hà Nội và sự tắch cực của các em HSSV trong việc giúp tôi thu thập tài liệu, số liệu, thông tin cần thiết
và tổ chức, xây dựng các cuộc ựiều tra ựể thực hiện tốt ựề tài của mình
Tôi xin chân thành cảm ơn các ựồng nghiệp, bạn bè, các học viên lớp cao học Quản trị kinh doanh K18C ựã bên tôi giúp ựỡ, chia sẻ những khó khăn cùng tôi trong những năm qua
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn ựến thân nhân trong gia ựình ựã luôn tạo ựiều kiện giúp ựỡ tôi về mặt vật chất và ựộng viên tôi về mặt tinh thần trong thời gian học tập và hoàn thành luận văn thạc sỹ khoa học này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Trang 4MụC LụC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục bảng vi
Danh mục viết tắt vii
2 Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu 5
2.2 Chất lượng đào tạo nghề và các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng
2.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo nghề 14 2.3 Thực tiễn đào tạo nghề ở một số nước trên thế giới và Việt Nam 15
Trang 52.3.1 Đào tạo nghề ở một số nước trên thế giới 15
3 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu và phương pháp
3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Trường Trung cấp nghề cơ khí
3.1.3 Hoạt động đào tạo của nhà trường 32
3.1.4 Đặc điểm về lao động và cơ sở vật chất kỹ thuật của trường 34
3.1.5 Sứ mệnh và chiến lược phát triển của trường 38
3.1.6 Những thuận lợi và khó khăn của trường 40
3.2 Phương pháp nghiên cứu 41
3.2.3 Chỉ tiêu chủ yếu dùng trong phân tích 43
4.1 Thực trạng đào tạo và chất lượng đào tạo nghề của trường Trung nghề
4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo nghề của trường Trung
Trang 64.2.2 C¬ së vËt chÊt 57
Trang 7DANH MụC BảNG
Bảng 3.1 Số lượng cán bộ công nhân viên, giáo viên (năm 2010) 33 Bảng 3.2 Đội ngũ GV phân bố theo trình độ và độ tuổi (năm 2010) 35Bảng 3.3 Một số cơ sở vật chất, kỹ thuật chủ yếu của trường 35 Bảng 4.1 Các ngành nghề đào tạo trình độ Trung cấp nghề, Sơ cấp nghề
Bảng 4.2 Số lượng học sinh tốt nghiệp của trường phân theo loại hình đào tạo 48Bảng 4.3 Kết quả đào tạo của trường phân theo nhóm ngành 49Bảng 4.4 Kết quả đào tạo của trường theo hình thức đào tạo 50Bảng 4.5 Kết quả học tập của HS chính quy hệ trung cấp nghề 51Bảng 4.6 Kết quả học tập của HS chính quy hệ sơ cấp nghề 51 Bảng 4.7 Kết quả học tập của HS hệ bồi huấn nâng bậc 53
Bảng 4.9 Đánh giá chất lượng đào tạo từ 20 cán bộ trực tiếp quản lý tại các doanh nghiệp sử dụng lao động đối với hệ trung cấp nghề 54Bảng 4.10 Đánh giá chất lượng đào tạo từ 20 cán bộ trực tiếp quản lý tại các doanh nghiệp sử dụng lao động đối với hệ sơ cấp nghề 55Bảng 4.11 Chất lượng đầu vào của HS nhà trường năm học 2009 - 2010 56Bảng 4.12 Kết quả đánh giá của 30 giáo viên về cơ sở vật chất của trường 58Bảng 4.13 Trình độ tay nghề của đội ngũ giáo viên (năm 2010) 59Bảng 4.14 Trình độ sư phạm của đội ngũ GV nhà trường 61Bảng 4.15 Trình độ ngoại ngữ của đội ngũ GV nhà trường 62Bảng 4.16 Trình độ tin học của đội ngũ GV nhà trường 63Bảng 4.17 Kết quả xếp loại giảng dạy đối với đội ngũ GV trong nhà trường 65Bảng 4.18 Kết quả đánh giá của 30 GV về chương trình đào tạo Hệ trung cấp
Trang 8DANH MụC THUậT NGữ VIếT TắT
BGDĐT Bộ giáo dục đào tạo
BLĐTBXH Bộ lao động thương binh và xg hội
Trang 91 mở đầu
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Giáo dục và đào tạo giữ vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xg hội của quốc gia, nguồn nhân lực được đào tạo với chất lượng cao chính là năng lực cạnh tranh trong tiến trình hội nhập quốc tế và đảm bảo cho
sự phát triển bền vững của quốc gia Nhận thức rõ vai trò của giáo dục với sự phát triển kinh tế - xg hội của đất nước, Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X đg khẳng định "Ưu tiên hàng đầu cho việc nâng cao chất lượng dạy và học Đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và tăng cường cơ sở vật chất của nhà trường, phát huy khả năng
sáng tạo và độc lập suy nghĩ của học sinh, sinh viên" [15]
Hiện nay đất nước ta đang thừa nhân lực lao động giản đơn nhưng lại thiếu nhân lực trình độ cao thì vấn đề đào tạo nghề chất lượng cao có vai trò hết sức quan trọng, việc nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo nghề là rất cần thiết để xây dựng đội ngũ công nhân có năng lực chuyên môn cao, tay nghề giỏi, tư cách đạo đức tốt và có lòng yêu nghề
Trong khi sản xuất luôn thay đổi, với sự phát triển của khoa học và công nghệ, kỹ thuật cao đg tạo nên sự thay đổi lớn trong tất cả các lĩnh vực của xg hội, đó là sự xuất hiện của tự động hóa, các robot, máy CNC Để đáp ứng được sự thay đổi đó đòi hỏi chương trình đào tạo cần được đổi mới liên tục để phù hợp với yêu cầu của sản xuất
Bên cạnh đó, ở nước ta hiện nay, cơ khí đang được xem là một trong những ngành công nghiệp nền tảng, có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế, củng cố an ninh, quốc phòng của đất nước Ngày 26 tháng 12 năm
2002, Thủ tướng Chính Phủ đg phê duyệt Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn tới 2020 Chiến lược đg thể hiện rõ quan
điểm: Tập trung phát triển ngành cơ khí một cách có hiệu quả, bền vững trên
Trang 10cơ sở phát huy mọi nguồn lực trong nước kết hợp với nguồn lực bên ngoài Ưu tiên phát triển một số chuyên ngành và sản phẩm cơ khí trọng điểm để đáp ứng về cơ bản nhu cầu của nền kinh tế quốc dân, trong đó có ngành cơ khí xây dựng Cụ thể: Đầu tư chiều sâu, đầu tư mới các cơ sở chế tạo máy xây dựng với thiết bị và công nghệ hiện đại, đáp ứng cơ bản nhu cầu sản xuất: vật liệu xây dựng, thi công xây lắp các công trình lớn, xây dựng đô thị và nông thôn Phát huy lợi thế đối với lĩnh vực sản xuất kết cấu kim loại trong xây dựng và các dự án công nghiệp, tập trung chế tạo các thiết bị máy xây dựng có độ phức tạp cao, hiện đại mà thị trường trong nước và nước ngoài có nhu cầu
Tuy nhiên, hiện nay theo Ông Đào Đình Long, Tổng thư ký Hiệp hội Cơ khí Việt Nam, bốn yếu kém mà ngành cơ khí cần vượt qua là công nghệ lạc hậu, thiếu nhân lực, hợp tác thiếu chặt chẽ và chưa chủ động được nguyên liệu Cụ thể, nguồn nhân lực cơ khí hiện nay còn thiếu và yếu cả về số lượng lẫn chất lượng Nguồn nhân lực được đào tạo yếu, định hướng đào tạo cũng
chưa thật chính xác Số thợ cơ khí có tay nghề cao cũng giảm sút nhiều
Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nhất là sau khi nước ta
đg trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới luôn là vấn đề đặt ra đối với các ngành, các địa phương, trong đó có ngành xây dựng
Để đáp ứng được yêu cầu đó đòi hỏi chương trình đào tạo cần được đổi mới liên tục để phù hợp với yêu cầu của sản xuất
Theo dự báo đến năm 2010 dân số nước ta có thể lên tới 100 triệu người
trong đó có khoảng 56,8 triệu người ở độ tuổi lao động [11] Sức ép về dân số
và việc làm là vô cùng gay gắt do cung về lao động giản đơn hơn cầu rất nhiều, trong khi cung về lao động lành nghề lại không đáp ứng đủ cầu Với bối cảnh đó, chúng tôi thấy rằng đào tạo nghề có vai trò quan trong trong tiến trình phát triển kinh tế mỗi nước
Trường Trung cấp nghề Cơ khí xây dựng - Coma cũng đg và đang cố
Trang 11gắng đẩy mạnh triển khai việc đổi mới chương trình, giáo trình và các phương pháp dạy học trong tất cả các môn học và trong tất cả các hệ đào tạo nghề bảo đảm phù hợp với mục tiêu đào tạo của nhà trường nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề và đáp ứng được nhu cầu của xg hội Nhà trường đg đầu tư mua sắm thiết bị phục vụ quá trình giảng dạy, các thiết bị dạy học hiện đại, khuyến khích ứng dụng CNTT và các phương pháp giảng dạy mới vào quá trình dạy học nhằm nâng cao chất lượng dạy học Tuy nhiên trong những năm qua việc nâng cao chất lượng đào tạo nghề của nhà trường vẫn còn nhiều bất cập và gặp nhiều khó khăn
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Một số
giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề tại Trường Trung cấp nghề cơ khí xây dựng - Coma"
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng chất lượng đào tạo nghề của trường Trung cấp nghề cơ khí xây dựng - coma trong những năm qua đề ra những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề của trường trong những năm tới
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng đào tạo
và nâng cao chất lượng đào tạo trong các trường dạy nghề
- Phản ánh và đánh giá thực trạng chất lượng đào tạo nghề ở Trường Trung cấp nghề cơ khí xây dựng - Coma trong những năm qua
- Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề tại Trường Trung cấp nghề cơ khí xây dựng - Coma trong những năm tới
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những giải pháp nâng cao chất
lượng đào tạo nghề tại Trường Trung cấp nghề cơ khí xây dựng - Coma
Trang 121.3.2 Ph¹m vi nghiªn cøu
1.3.2.1 Ph¹m vi vÒ kh«ng gian
§Ò tµi ®−îc nghiªn cøu t¹i Tr−êng Trung cÊp nghÒ c¬ khÝ x©y dùng
- Coma §Þa chØ : Sè 73 - Cæ Bi - Gia L©m - Hµ Néi
Trang 132 Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu
2.1 Khái quát về đào tạo và đào tạo nghề
2.1.1 Khái niệm về đào tạo và đào tạo nghề
2.1.1.1 Khái niệm nghề
Khái niệm nghề theo quan niệm ở mỗi quốc gia đều có sự khác nhau nhất
định.Cho đến nay thuật ngữ “nghề” được hiểu và định nghĩa theo nhiều cách khác nhau Dưới đây là một số khái niệm về nghề [3]
+ Khái niệm nghề ở Nga được định nghĩa: Là một loại hoạt động lao
động đòi hỏi có sự đào tạo nhất định và thường là nguồn gốc của sự sinh tồn + Khái niệm nghề ở Pháp: Là một loại lao động có thói quen về kỹ năng,
kỹ xảo của một người để từ đó tìm được phương tiện sống
+ Khái niệm nghề ở Anh được định nghĩa: Là công việc chuyên môn đòi hỏi một sự đào tạo trong khoa học học nghệ thuật
+ Khái niệm nghề ở Đức được định nghĩa: Là hoạt động cần thiết cho xg hội ở một lĩnh vực lao động nhất định đòi hỏi phải được đào tạo ở trình độ nào
đó
Như vậy nghề là một hiện tượng xg hội có tính lịch sử rất phổ biến gắn chặt với sự phân công lao động, với tiến bộ khoa học kỹ thuật và văn minh nhân loại Bởi vậy được nhiều ngành khoa học khác nhau nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau
ở Việt Nam, nhiều định nghĩa nghề được đưa ra song chưa được thống nhất, chẳng hạn có định nghĩa được nêu: Nghề là một tập hợp lao động do sự phân công lao động xg hội quy định mà giá trị của nó trao đổi được Nghề mang tính tương đối, nó phát sinh, phát triển hay mất đi do trình độ của nền sản xuất và nhu cầu xg hội
Mặc dù khái niệm nghề được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau, song chúng tôi thấy đều thống nhất ở một số nét đặc trưng nhất định như sau:
Trang 14- Đó là hoạt động, là công việc về lao động của con người được lặp đi lặp lại
- Là sự phân công lao động xg hội, phù hợp với yêu cầu xg hội
- Là phương tiện để sinh sống
- Là lao động kỹ năng, kỹ xảo chuyên biệt có giá trị trao đổi trong xg hội
đòi hỏi phải có một quá trình đào tạo nhất định
- Hiện nay xu thế phát triển của nghề chịu tác động mạnh mẽ của tác
động KHKT và văn minh nhân loại nói chung và về chiến lược phát triển
KT-XH của mỗi quốc gia nói riêng Bởi vậy phạm trù "nghề" biến đổi mạnh mẽ và gắn chặt với xu hướng phát triển KT-XH của đất nước
2.1.1.2 Khái niệm về đào tạo
Đào tạo là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm truyền đạt các kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo trong lý thuyết và thực tiễn, tạo ra năng lực
để thực hiện thành công một hoạt động nghề nghiệp hoặc xg hội cần thiết Như vậy, đào tạo là sự phát triển có hệ thống kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo cho mỗi cá nhân để họ thực hiện một nghề hoặc một nhiệm vụ cụ thể một cách tốt nhất Đào tạo được thực hiện bởi các loại hình tổ chức chuyên ngành nhằm thay đổi hành vi và thái độ làm việc của con người, tạo cho họ khả năng đáp
ứng được tiêu chuẩn và hiệu quả của công việc chuyên môn
Đào tạo là quá trình biến đổi con người, từ đầu vào với phẩm chất và năng lực nhất định đến đầu ra có phẩm chất và năng lực cao hơn nhằm đáp ứng một yêu cầu cụ thể về phân công lao động xg hội tại một cơ sở đào tạo
Đào tạo là quá trình vận dụng một quy luật khách quan tác động vào con người nhằm hình thành nhân cách, tri thức, kỹ năng và ứng xử để họ có thể đảm nhận sự phân công lao động cụ thể của xg hội
2.1.1.3 Khái niệm về đào tạo nghề
Đào tạo nghề là những hoạt động nhằm mục đích nâng cao tay nghề hay
kỹ năng, kỹ xảo của mổi cá nhân đối với công việc hiện tại và trong tương lai” Đào tạo nghề bao gồm hai quá trình có quan hệ hữu cơ với nhau Đó là: + Dạy nghề: Là quá trình giảng viên truyền bá những kiến thức về lý
Trang 15thuyết và thực hành để các học viên có được một trình độ, kỹ năng, kỹ xảo, sự khéo léo, thành thục nhất định về nghề nghiệp
+ Học nghề: Là quá trình tiếp thu những kiến thức về lý thuyết và thực hành của người lao động để đạt được một trình độ nghề nghiệp nhất định
Đào tạo nghề cho người lao động là giáo dục kỹ thuật sản xuất cho người lao động để họ nắm vững nghề nghiệp, chuyên môn bao gồm đào tạo nghề mới, đào tạo lại nghề, đào tạo bồi dưỡng nâng cao tay nghề:
+ Đào tạo nghề mới: Là đào tạo những người chưa có nghề, gồm những người đến tuổi lao động chưa được học nghề, hoặc những người trong độ tuổi lao động nhưng trước đó chưa được học nghề Đào tạo mới nhằm đáp ứng tăng thêm lao động đào tạo nghề cho xg hội
+ Đào tạo lại nghề: Là đào tạo đối với những người đg có nghề, có chuyên môn nhưng do yêu cầu mới của sản xuất và tiến bộ kỹ thuật dẫn đến việc thay đổi cơ cấu ngành nghề, trình độ chuyên môn Một số công nhân
được đào tạo lại cho phù hợp với cơ cấu ngành nghề và trình độ kỹ thuật mới
Đào tạo lại thường được hiểu là quá trình nhằm tạo cho người lao động có cơ hội để học tập một lĩnh vực chuyên môn mới để thay đổi nghề
+ Bồi dưỡng nâng cao tay nghề: Bồi dưỡng có thể coi là quá trình cập nhật hóa kiến thức còn thiếu, đg lạc hậu, bổ túc nghề, đào tạo thêm hoặc củng
cố các kỹ năng nghề nghiệp theo từng chuyên môn và thường được xác nhận bằng một chứng chỉ hay nâng lên bậc cao hơn [3]
Như vậy, xác định rõ ranh giới giữa đào tạo, bồi dưỡng và đào tạo lại nghề hiện nay là một việc phức tạp, khó khăn
Đào tạo nghề là một bộ phận quan trọng của hệ thống giáo dục quốc dân Luật giáo dục qui định hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm: Giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học và sau đại học Hệ thống đào tạo nghề trong hệ thống giáo dục quốc dân được thực hiện
ở các cấp khác nhau, ở lứa tuổi khác nhau và được phân luồng để đào tạo nghề phù hợp với trình độ văn hóa, khả năng phát triển của con người và độ tuổi Hệ
Trang 16thống khung trong giáo dục quốc dân cho thấy sự liên thông giữa các cấp học, các điều kiện cần thiết để học nghề hoặc các cấp học tiếp theo Nó là cơ sở quản lý giáo dục, nâng cao hiệu quả của đào tạo, tránh lgng phí trong đào tạo (cả người học và xg hội), tránh trùng lặp nội dung chương trình, đồng thời là cơ sở đánh giá trình độ người học và cấp các văn bằng, chứng chỉ tốt nghiệp
2.1.1.4 Các hình thức đào tạo nghề
Một trong những nhiệm vụ quan trọng của kế hoạch đào tạo là xác định các hình thức đào tạo thích hợp Hình thức đào tạo là cơ sở để xây dựng kế hoạch đào tạo, đồng thời cũng là cơ sở để tính toán hiệu quả kinh tế của đào tạo Tùy theo yêu cầu và điều kiện thực tế có thể áp dụng hình thức đào tạo này hay hình thức đào tạo khác Những hình thức đào tạo nghề đang được áp dụng chủ yếu hiện nay là:
- Kèm cặp trong sản xuất: Là hình thức đào tạo trực tiếp tại nơi làm việc, chủ yếu là thực hành ngay trong quá trình sản xuất do xí nghiệp tổ chức Kèm cặp trong sản xuất được tiến hành dưới hai hình thức: kèm cặp theo cá nhân và kèm cặp theo tổ, đội sản xuất Với kèm cặp theo cá nhân, mỗi thợ học nghề
được một công nhân có trình độ tay nghề cao hướng dẫn, người hướng dẫn vừa sản xuất vừa tiến hành dạy nghề theo kế hoạch Với hình thức kèm cặp theo
tổ, đội sản xuất, thợ học nghề được tổ chức thành từng tổ và phân công cho những công nhân dạy nghề thoát ly sản xuất chuyên trách trình độ nghề nghiệp và phương pháp sư phạm nhất định Quá trình đào tạo được tiến hành qua các bước:
Bước 1: Phân công những công nhân có tay nghề cao vừa sản xuất vừa hướng dẫn thợ học nghề Trong bước này, người hướng dẫn vừa sản xuất vừa phải giảng cho người học về cấu tạo máy móc thiết bị, nguyên tắc vận hành, qui trình công nghệ, phương pháp làm việc Người học theo dõi những thao tác, phương pháp làm việc của người hướng dẫn Đồng thời doanh nghiệp hoặc phân xưởng tổ chức dạy lý thuyết cho người học do kỹ sư hay kỹ thuật viên
đảm nhận
Trang 17Bước 2: Giao việc làm thử, người học bắt tay vào làm thử dưới sự kiểm tra uốn nắn của người hướng dẫn
Bước 3: Giao việc hoàn toàn cho người học nghề khi người học nghề có thể tiến hành công việc độc lập được, những người hướng dẫn vẫn thường xuyên theo dõi giúp đỡ
- Các lớp cạnh doanh nghiệp: Là các lớp do doanh nghiệp tổ chức nhằm
đào tạo riêng cho mình hoặc cho các doanh nghiệp cùng ngành, cùng lĩnh vực Chủ yếu đào tạo nghề cho công nhân mới được tuyển dụng, đào tạo lại nghề, nâng cao tay nghề, chuyển giao công nghệ, kỹ thuật mới Hình thức đào tạo này không đòi hỏi có đầy đủ cơ sở vật chất, kỹ thuật riêng, không cần bộ máy chuyên trách mà dựa vào các điều kiện sẵn có của doanh nghiệp Chương trình
đào tạo gồm hai phần: lý thuyết và thực hành sản xuất, phần lý thuyết được giảng tập trung do các kỹ sư, cán bộ kỹ thuật phụ trách, phần thực hành được tiến hành ở các phân xưởng do các kỹ sư hoặc công nhân lành nghề hướng dẫn
- Các trường chính qui: Đáp ứng yêu cầu sản xuất ngày càng phát triển trên cơ sở kỹ thuật hiện đại, các Bộ hoặc Ngành thường tổ chức các trường dạy nghề tập trung, qui mô lớn, đào tạo công nhân có trình độ cao, chủ yếu là
đào tạo đội ngũ công nhân kỹ thuật, kỹ thuật viên có trình độ cao Thời gian
đào tạo từ hai đến bốn năm tùy theo nghề đào tạo, ra trường được cấp bằng nghề Khi tổ chức các trường dạy nghề cần phải có bộ máy quản lý, đội ngũ giáo viên chuyên trách và cơ sở vật chất riêng cho đào tạo Để nâng cao chất lượng đào tạo các trường cần phải đảm bảo các điều kiện sau đây:
+ Phải có đội ngũ giáo viên đủ khả năng chuyên môn và kinh nghiệm giảng dạy
+ Phải được trang bị máy móc, thiết bị phục vụ cho giảng dạy và học tập, các phòng thí nghiệm, xưởng trường Nhà trường cần tổ chức các phân xưởng sản xuất vừa phục vụ cho giảng dạy vừa sản xuất của cải vật chất cho xg hội Nếu không có điều kiện tổ chức xưởng sản xuất thì nên để gần các doanh nghiệp lớn của ngành, tạo điều kiện thuận lợi cho dạy và học Các tài liệu và
Trang 18sách giáo khoa phải được biên soạn thống nhất cho các nghề, các trường
- Các trung tâm dạy nghề: Đây là loại hình đào tạo ngắn hạn, thường dưới một năm Chủ yếu là đào tạo phổ cập nghề cho thanh niên và người lao động
2.1.1.5 Hệ thống tổ chức đào tạo nghề
Hệ thống tổ chức đào tạo dạy nghề gồm các trường chính qui và các cơ
sở dạy nghề Hệ thống đào tạo chính qui: Bao gồm các trường thuộc Bộ, Ngành và các địa phương Số học sinh đào tạo các trường này được nhà nước giao chỉ tiêu hàng năm và cấp kinh phí cho các trường theo chỉ tiêu; qui chế thi, cấp bằng và cấp chứng chỉ theo qui định thống nhất của Nhà nước Các cơ
sở đào tạo nghề Theo bộ Luật Lao động bao gồm tất cả các cơ sở đào tạo ngoài hệ thống trường đào tạo chính qui như: các trường dạy nghề của các tổ chức, cơ quan, Tổng công ty, doanh nghiệp; các trung tâm đào tạo nghề quận, huyện; các trung tâm dịch vụ việc làm Các trung tâm đào tạo nghề quận, huyện và các trung tâm dịch vụ việc làm đào tạo các lớp do các ngành và các thành phần kinh tế yêu cầu Kinh phí của các cơ sở này một phần được ngân sách nhà nước cấp, một phần do Bộ, địa phương chủ quản và người học tự
đóng góp Các trường dạy nghề tư thục và các lớp dạy nghề tư nhân: do các tổ chức, cá nhân tự tổ chức theo qui định của Nhà nước Kinh phí học tập chủ yếu do người học phải đóng góp Hợp tác Quốc tế về đào tạo nghề: Sự mở của nền kinh tế, chính sách khuyến khích tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài khiến cho nhiều quốc gia, tổ chức quốc tế, các công ty lớn trên thế giới đg tìm
đến Việt Nam hợp tác trong nhiều lĩnh vực Chúng ta có thể khai thác khả năng của các tổ chức nước ngoài trong việc đào tạo bồi dưỡng nghề với hình thức đào tạo thông qua hợp đồng giữa các bên, qua các dự án đầu tư có khoản mục đào tạo mới và đào tạo lại Hệ thống đào tạo nghề Căn cứ vào thời gian
đào tạo, đào tạo dạy nghề được chia làm hai loại: Đào tạo dạy nghề dài hạn (cả đào tạo mới và đào tạo lại): Là hình thức đào tạo phổ biến tại các trường chính qui của Nhà nước, các Bộ, Ngành và các tỉnh Thời gian đào tạo nghề dài hạn thường từ một năm trở lên Đào tạo dạy nghề ngắn hạn: Là cách tổ
Trang 19chức dạy nghề trong thời gian ngắn (từ ba đến mười hai tháng) Người học vừa học lý thuyết vừa thực hành theo hình thức kèm cặp tại nơi sản xuất, chủ yếu
là rèn luyện kỹ năng thực hành nghề, chuyển giao công nghệ… Nhằm tạo cơ hội cho người học tìm được việc làm hoặc tự tạo ra việc làm
2.1.2 Đặc điểm của trường đào tạo nghề
Hiện nay các trường đào tạo nghề ở nước ta phần lớn là do nhà nước quản lý, chỉ có ít các trường dân lập, ở đây ta chỉ đề cập các trường dạy nghề công lập Đặc điểm chung của các trường này hiện nay là:
- Trường có nhiều ngành nghề khác nhau
- Mỗi GV có thể dạy nhiều môn khác nhau
- Cơ sở vật chất còn nghèo nàn lạc hậu, thiết bị và công nghệ phục vụ dạy nghề không theo kịp thực tế sản xuất
- Trình độ GV không cao
- Trình độ đầu vào của HS thấp
- Có nhiều đối tượng đào tạo, bậc thợ và thời gian đào tạo khác nhau
2.1.3 Mục tiêu, chương trình đào tạo nghề
2.1.3.1 Mục tiêu đào tạo nghề
- Mục tiêu của đào tạo nghề là đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ có năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo,
có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ nhằm tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
- Đào tạo nghề trình độ sơ cấp nhằm trang bị cho người học nghề năng lực thực hành một nghề đơn giản hoặc năng lực thực hành một số công việc của một nghề
Trang 20- Đào tạo nghề trình độ trung cấp nhằm trang bị cho người học nghề kiến thức và năng lực thực hành các công việc của một nghề, có khả năng làm việc độc lập và ứng dụng kỹ thuật, công nghệ vào công việc
- Đào tạo nghề trình độ cao đẳng nhằm trang bị cho người học nghề kiến thức và năng lực thực hành các công việc của một nghề, có khả năng làm việc độc lập và tổ chức làm việc theo nhóm; giải quyết các tình huống phức tạp trong thực tế; có khả năng ứng dụng kỹ thuật, công nghệ vào công việc
2.1.3.2 Chương trình đào tạo nghề
- Chương trình đào tạo nghề thể hiện mục tiêu đào tạo nghề; quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung, phương pháp, hình thức đào tạo nghề, cách thức đánh giá kết quả đào tạo đối với mỗi mô-đun, môn học và mỗi nghề
- Chương trình đào nghề trình độ sơ cấp được thực hiện dưới một năm
đối với người có nhu cầu học nghề, có trình độ học vấn, sức khỏe phù hợp với nghề cần học
- Chương trình đào tạo nghề trình độ trung cấp được thực hiện ba năm
đối với người có bằng tốt nghiệp trung học cơ sở; từ một đến hai năm đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông
- Chương trình đào tạo nghề trình độ cao đẳng được thực hiện từ hai đến
ba năm đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông; từ một năm rưỡi
đến hai năm đối với người có bằng tốt nghiệp trung cấp
- Chương trình khung do Bộ LĐTBXH ban hành quy định về cơ cấu, nội dung, số lượng và thời lượng cho các mô-đun, môn học; tỷ lệ thời gian giữa lý thuyết và thực hành, bảo đảm mục tiêu của từng trình độ cho mỗi nghề
- Căn cứ vào chương trình khung đg được quy định và nhiệm vụ của các
đơn vị đào tạo nghề, người đứng đầu các đơn vị tổ chức xây dựng và ban hành chương trình đào tạo nghề trình độ sơ cấp, trình độ trung cấp, trình độ cao
đẳng trên cơ sở kết quả thẩm định của hội đồng thẩn định chương trình
Trang 212.2 Chất lượng đào tạo nghề và các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo nghề
2.2.1 Chất lượng đào tạo nghề
2.2.1.1 Chất lượng
Chất lượng là gì? Có rất nhiều định nghĩa và cách lý giải khác nhau Có ý kiến cho rằng chất lượng là sự xuất chúng, tuyệt hảo, là giá trị bằng tiền, là sự biến đổi về chất và là sự phù hợp với mục tiêu Các quan niệm về chất lượng chúng ta có thể thấy qua 6 định nghĩa sau:
+ Chất lượng là “tổng thể những tính chất, thuộc tính cơ bản của sự vật (sự việc)… làm cho sự vật (sự việc) này phân biệt với sự vật (sự việc) khác” (Từ điển tiếng Việt phổ thông)
+ Chất lượng là “cái làm nên phẩm chất, giá trị của sự vật” hoặc là “cái tạo nên bản chất sự vật, làm cho sự vật này khác sự vật kia” (Từ điển tiếng Việt thông dụng – Nhà xuất bản Giáo dục – 1998)
+ Chất lượng là “mức hoàn thiện, là đặc trưng so sánh hay đặc trưng tuyệt
đối, dấu hiệu đặc thù, các dữ kiện, các thông số cơ bản” (Oxford Poket Dictationary)
+ Chất lượng là “tiềm năng của một sản phẩm hay dịch vụ nhằm thỏa mgn nhu cầu người sử dụng” (Tiêu chuẩn Pháp – NFX 50-109)
+ Chất lượng là “tập hợp các đặc tính của một thực thể (đối tượng) tạo cho thực thể (đối tượng) đó khả năng thỏa mgn những nhu cầu đg nêu ra hoặc nhu cầu tiềm ẩn” (TCVN- ISO 8402)
Tóm lại: Chất lượng là khái niệm trừu tượng, phức tạp và là khái niệm
đa chiều, nhưng chung nhất đó là khái niệm phản ánh bản chất của sự vật và dùng để so sánh sự vật này với sự vật khác
2.2.1.2 Chất lượng đào tạo nghề
Khái niệm “chất lượng” đg trừu tượng và phức tạp thì khái niệm về “chất lượng đào tạo nghề ” càng phức tạp hơn bởi liên quan đến sản phẩm là giá trị của con người, một sự vật, sự việc Như vậy có thể hiểu chất lượng là để chỉ sự
Trang 22Khái niệm chất lượng đào tạo nghề là để chỉ chất lượng các công nhân
kỹ thuật được đào tạo trong hệ thống giáo dục nghề nghiệp theo mục tiêu và chương trình đào tạo xác định trong các lĩnh vực ngành nghề khác nhau, biểu hiện một cách tổng hợp nhất ở mức độ chấp nhận của thị trường lao động, của
xg hội đối với kết quả đào tạo
Chất lượng đào tạo nghề còn phản ánh kết quả đào tạo của các cơ sở đào tạo nghề, của cả hệ thống đào tạo nghề
Chất lượng đào tạo nghề biến đổi theo thời gian và theo không gian dưới tác động của các yếu tố
2.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo nghề
Để đo lường chất lượng đào tạo nghề chúng ta thường tập trung vào 2 khối đối tượng: bản thân người công nhân kỹ thuật và cơ sở đào tạo nghề ( Chất lượng cơ sở đào tạo) Quá trình đào tạo nghề có một số đặc trưng khác với giáo dục phổ thông và giáo dục đại học Đó là quá trính đào tạo trên cơ sở thiếp thu kết quả giáo dục phổ thông để đào tạo về nghề nghiệp cho học sinh học nghề Việc đào tạo để hình thành năng lực nghề nghiệp giữ vai trò then chốt, chủ đạo Quá trình đào tạo chú trọng đến một hệ thống các kỹ năng thông qua thực hành, luyện tập Đó chính là những yêu cầu, vị trí công tác, hoạt động nghề nghiệp của người công nhân kỹ thuật
Như vậy chất lượng đào tạo nghề phụ thuộc vào các yếu tố [2]:
- Chất lượng đầu vào: bản thân người học nghề: Trình độ văn hóa, sở trường nguyện vọng, sức khỏe, tình trạng kinh tế … của người học nghề
Trang 23- Quá trình đào tạo (hoạt động đào tạo nghề của cơ sở đào tạo nghề) + Mục tiêu, nội dung, chương trình đào tạo;
+ Đội ngũ giáo viên, phương pháp đào tạo và cán bộ quản lý; (phẩm chất, năng lực)
+ Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học phù hợp đáp ứng nghề đào tạo (số lượng, chất lượng, hiệu quả hoạt động)
+ Tài chính (kinh phí định mức đào tạo, vật tư thực hành, chi phí quản lý, thù lao giáo viên …)
+ Dịch vụ đào tạo (cư xá, tư vấn việc làm, thông tin thị trường lao động …)
- Học sinh tốt nghiệp: Năng lực và phẩm chất đạt được sau khi đào tạo theo mục tiêu đào tạo; Sức khỏe đáp ứng nghề nghiệp; Kỹ năng sống (giao tiếp, hoạt động xg hội)
- Tham gia thị trường lao động (từ 6 đến 12 tháng kể từ khi ra trường): trình độ chuyên môn đáp ứng yếu cầu làm việc (năng suất, tổ chức hoạt động); Mức độ hoàn thành nhiệm vụ công nhân kỹ thuật; Tính sáng tạo và thích nghi trong công việc Việc đánh giá kết quả giáo dục cần phản ánh được chất lượng nhân cách có phù hợp hay không với yêu cầu đề ra Cần phải xem xét chất lượng đầu vào (tuyển sinh học sinh học nghề), chất lượng của quá trình đào tạo và chất lượng đầu ra (tốt nghiệp và tham gia vào cuộc sống) Đánh giá chất lượng đào tạo không chỉ nhiệm vụ của các đơn vị đào tạo nghề mà còn là của
xg hội Đặc biệt là sự đánh giá trực tiếp của những người sử dụng sản phẩm
đào tạo (các doanh nghiệp, các nhà sản xuất …)
2.3 Thực tiễn đào tạo nghề ở một số nước trên thế giới và Việt Nam
2.3.1 Đào tạo nghề ở một số nước trên thế giới
2.3.1.1 Trung Quốc
Từ khi thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 1949, Giáo dục nghề nghiệp (GDNN) đg trải qua một quá trình điều chỉnh sửa đổi, cải cách, hoàn thiện và phát triển vững chắc Từ khi Trung Quốc bước vào kỷ nguyên lịch sử mới của cải cách và mở cửa với thế giới bên ngoài vào năm
Trang 241978, GDNN rất được coi trọng để phát triển NNL đáp ứng nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế và hiện đạt hoá đất nước Năm 1991, Hội đồng Nhà nước
đưa ra “Quyết định về phát triển nghề và giáo dục kỹ thuật một cách mạnh mẽ” xác định nhiệm vụ và mục tiêu để phát triển dạy nghề “Đề cương về cải cách và phát triển giáo dục tại Trung Quốc” do Uỷ ban Trung ương Đảng Cộng sản và Hội đồng Nhà nước đồng soạn thảo năm 1993 yêu cầu chính quyền địa phương các cấp nhận thức tầm quan trọng to lớn của GDNN, đề ra những kế hoạch tổng quát và phát triển GDNN một cách mạng mẽ nhằm
động viên mọi sáng kiến của tất cả các ngành, xí nghiệp, cơ sở và mọi thành phần xg hội cung cấp dạy nghề dưới các hình thức và trình độ khác nhau Năm 1996, “Luật dạy nghề” đầu tiên được chính thức thực hiện, đưa ra cơ sở pháp lý để bảo vệ phát triển và hoàn chỉnh dạy nghề “Quyết định tăng cải cách giáo dục và quảng bá chất lượng giáo dục” của Hội đồng Nhà nước
năm 1999 nhấn mạnh hệ thống giáo dục áp dụng trong nền KTTT định hướng
XHCN Ngoài ra, kinh phí cho GDNN được bố trí thông qua nhiều nguồn khác nhau: phân phối ngân sách của chính phủ, quĩ tự lập của các xí nghiệp, quĩ tài trợ, tiền quyên góp, vốn vay không lgi, phí tự nguyên do học viên
đóng góp Nhà nước quy định bắt buộc dùng 1,5% số tiền phải trả cho
công nhân trong xí nghiệp vào việc huấn luyện công nhân “Nhân lực là nguồn lực chủ yếu của Trung Quốc và đất nước Trung Quốc phải biến dân số hùng mạnh của mình thành một nguồn lực lớn với nguồn nhân tài phong phú”
- Tổng Bí thư kiêm Chủ tịch nước Hồ Cẩm Đào nói Với chiến lược này Trung Quốc đg đạt những thành tựu đáng kể Đó là:
- Triển khai nhanh chóng mô hình dạy nghề: trong 15 năm, từ năm
1986 đến năm 2001, tỉ lệ học sinh chính qui cấp 3, trong số học sinh trung học giảm từ 81%xuống còn 54,7%, trong khi tỉ lệ học sinh trung học nghề
tăng từ 19% lên 45,3%; các cơ sở dạy nghề cấp 2 đg cho tốt nghiệp 50 triệu
học sinh, bồi dưỡng hàng triệu CNKT, nhà quản lý và các lao động khác có
trình độ cấp hai và sơ cấp với tay nghề và kỹ thuật cao;
Trang 25- Có bước tiến lớn trong cấu trúc đội ngũ giáo viên dạy nghề, về cơ bản đáp ứngnhu cầu dạy nghề nhiều dạng khác nhau với trình độ khu vực và quốc tế;
+ Tăng chất lượng dạy nghề;
+ Phát triển nhanh chóng dạy nghề tại vùng nông thôn;
+ Hợp tác và trao đổi quốc tế về dạy nghề được đẩy mạnh
Thành tựu sau 20 năm đổi mới, năm 1998, kinh tế phát triển nhanh chóng và bền vững, GDP trong năm 1998 là 7,9553 ngàn tỉ Nhân dân tệ, gấp 2,07 lần GDP năm 1991 nếu so về giá cả Từ năm 1991 đến 1997, GDP tăng trưởng hàng năm với tỉ lệ bình quân 10,8% [5] [10] [16]
2.3.1.2 Nhật Bản
Nhật Bản coi NNL là yếu tố quyết định tương lai của đất nước Từ đầu thập niên1980, Nhật Bản đg đề ra mục tiêu: đào tạo những thế hệ mới có tính năng động, sáng tạo, có kiến thức chuyên môn sâu, có khả năng suy nghĩ và làm việc độc lập, khả năng giao tiếp quốc tế để đáp ứng những đòi hỏi của thế giới, với sự tiến bộ không ngừng của khoa học và xu thế cạnh tranh - hợp tác toàn cầu Luật Dạy nghề (Vocational Tranining Law) được ban hành năm 1958, được chỉnh sửa vào năm 1978, hướng vào thiết lập và duy trì hệ thống huấn luyện nghề nghiệp, bao gồm hệ thống “dạy nghề công” mang tính hướng nghiệp và “dạy nghề được cấp phép” là giáo dục và huấn luyện nghề cho từng nhóm công nhân trong hgng xưởng do các công ty đảm nhiệm và được chính quyền công nhận là dạy nghề Các hình thức huấn luyện nghề gồm: “dạy nghề cơ bản” cho giới trẻ mới ra trường; “dạy tái phát triển khả năng nghề nghiệp” chủ yếu cho những công nhân không có việc làm; và “nâng cao tay nghề” cho công nhân đang làm việc trong các hgng xưởng Những thay đổi về cấu trúc KT-XH, sự tiến bộ nhanh chóng của KHCN đg tác động đến nhiều lĩnh vực và nội dung huấn luyện làm mở rộng khung dạy nghề truyền thống Kết quả là đến năm 1985, Luật Dạy nghề được chỉnh sửa và đổi tên thành Luật Khuyến khích Phát triển Nguồn nhân lực
Trang 26(Human Resource Development Promotion Law) và cụm từ “phát triển nguồn nhân lực” được dùng để chỉ quan niệm mới về dạy nghề Hiện nay, Nhật Bản thực hiện phát triển NNL theo một hệ thống huấn luyện suốt đời [5]
[16] [17]
2.3.1.3 Hàn Quốc
Hàn Quốc là một nước có hoàn cảnh lịch sử khá đặc biệt nhưng đg biết vươn mình từ một nước rất nghèo về tài nguyên thiên nhiên, GDP/đầu
người 90,9 đô-la năm 1962 trở thành một quốc gia có nền kinh tế hùng
hậu đứng thứ 11 trên thế giới với GDP/đầu người đạt 22.029 đô la năm
2005 Bí quyết của Hàn quốc là dựa vào phát triển nguồn nhân lực trong một nước nghèo tài nguyên thiên nhiên để phát triển kinh tế Giáo dục là nhân tố chủ yếu để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và chính sách về giáo dục luôn được xây dựng phù hợp với đòi hỏi của nền kinh tế Chính phủ Hàn Quốc đưa ra một chiến lược tham gia toàn diện vào quá trình toàn cầu hoá vào giữa thập kỷ 1990, mà quan trọng nhất là hệ thống giáo dục phải được cải thiện triệt để, để đào tạo một số lượng đủ những công dân trẻ, sáng tạo và dám làm, những nhà lgnh đạo tương lai của đất nước Trong bản báo cáo của Chính phủ về giáo dục mang tên “Hình ảnh Hàn Quốc trong Thế kỷ 21” đg khẳng định: “Giáo dục và Đào tạo phải hướng tới mục tiêu bồi dưỡng tính sáng tạo, tinh thần kỷ luật tự giác, tính cạnh tranh, phát triển khả năng và nhân cách bảo vệ, phát huy sức mạnh, ý chí dân tộc, năng lực trí tuệ của người Hàn Quốc lên những trình độ cao nhất,
đưa Hàn Quốc trở thành một quốc gia có vai trò chủ chốt trong các vấn đề của thế giới” Trong những năm gần đây, tỷ lệ ngân sách chi cho giáo dục
và đào tạo ở Hàn Quốc luôn ở mức 18 – 20% Hướng tới tương lai đó là mục tiêu của nền giáo dục Hàn Quốc hiện đại Cùng với sự phát triển kinh
tế, người dân Hàn Quốc đang cố gắng tạo ra những điều kiện tốt nhất có thể cho việc đào tạo thế hệ trẻ [5] [18]
2.3.1.4 Singapore
Trang 27Ngay từ khi mới thành lập, Singapore đg đề ra chính sách phát triển giáo dục, đào tạo và chủ trương là xây dựng nền giáo dục mang nét đặc trưng của dân tộc Chính phủ Singapore luôn coi việc khai thác và sử dụng nguồn lực là nội dung quan trọng của chiến lược phát triển kinh tế Nguyên Thủ tướng Lý Quang Diệu đg nói: “Biến tài năng trời phú của một dân tộc thành
kỹ năng chuyên môn là nhân tố trọng đại quyết định thành tựu phát triển
đất nước” Vào thập kỷ 1980, ngân sách dành cho giáo dục của Singapore mỗi năm tăng trung bình khoảng 30% Mức chi cho giáo dục và đào tạo chỉ
đứng thứ hai sau ngân sách quốc phòng, đg vượt các nước phát triển như Mỹ, Nhật Bản v.v… vào thập niên 1990 Việc không ngừng tăng cường đầu tư cho con người, tích cực thúc đẩy cải cách và điều chỉnh giáo dục chính là nhân tố quan trọng thúc đẩy nền kinh tế Singapore phát triển nhanh chóng [5] [19]
2.3.1.5 Nauy
Mới đây, tại Hội thảo “Đẩy mạnh công tác đào tạo nghề tại Việt Nam thông qua hợp tác công tư” được tổ chức vừa qua tại TP.HCM, ông Kurt Nilsen, chuyên gia cao cấp của Liên bang các DN Na Uy đg chia sẻ với các
DN Việt Nam mô hình đào tạo và dạy nghề tại Na Uy Đây thực sự là mô hình
đào tạo nghề rất thiết thực và thành công, thiết nghĩ các TTDN cũng như các
DN Việt nên học hỏi
- Mô hình đào tạo
Mô hình chung của đào tạo nghề ở Na Uy là “2+2”, nghĩa là 2 năm học
đại cương và 2 năm học nghề tại nhà máy hoặc DN Ngoài ra, dựa trên mô hình chung này, các tổ chức đào tạo nghề Na Uy đg thiết lập và xây dựng thêm nhiều mô hình biến thể linh hoạt và uyển chuyển như “mô hình 1+ 3” (1 năm học tại trường và 3 năm học nghề), “mô hình 0+ 4” (cả 4 năm đều học nghề) v.v…
Các cơ sở dạy nghề ở Na Uy có được sự liên kết chặt chẽ đối với các đối tượng liên quan Đặc biệt là có sự hợp tác ba bên chặt chẽ của Tổ chức giới chủ, Công đoàn và đại diện cơ quan giáo dục từ cấp quốc gia, đến cấp tỉnh và
Trang 28địa phương Các đối tác liên quan đặc biệt ủng hộ với độ tin cậy cao về chất lượng đào tạo của mô hình dạy nghề này Thêm vào đó, trong tình hình thị trường lao động tương đối khan hiếm hiện nay, các chủ DN rất quan tâm đến việc thực tập sinh
Trái với Na Uy, thị trường lao động Việt Nam đang bị các DN “thả nổi” Các DN và các TTDN ở Việt Nam chưa thực sự bắt tay hợp tác với nhau nên mới có tình trạng thợ đào tạo ra không đáp ứng nhu cầu của DN, thị trường lao động Việt Nam ở trong tình trạng “thừa mà thiếu” DN luôn “than” khó tuyển dụng lao động có kĩ năng và chuyên môn nghề nghiệp và ngược lại, người lao động cũng luôn trong tình trạng phải “nhảy việc” thường xuyên do không tương thích với DN
Về tính liên kết giữa các bên liên quan trong công tác đào tạo và dạy nghề, rõ ràng các DN Việt Nam cần phải học hỏi nhiều từ các mô hình đào tạo nghề của Na Uy
- Nguyên tắc đào tạo
ở Na Uy, những người lựa chọn con đường học nghề sẽ kí hợp đồng với một công ty mà công ty này phải được cơ quan có thẩm quyền công nhận là
DN đào tạo Trong khoảng thời gian 2 năm thực hành về một ngành nghề cụ thể, DN cần phải bảo đảm nguyên tắc: Năm 1 các công nhân lành nghề sẽ hướng dẫn về kĩ thuật Năm 2 giảm bớt hướng dẫn, tăng việc tự học Học viên
sẽ được hưởng lương học việc trong cả 2 năm học Sau khi kết thúc học việc, học viên sẽ được trao chứng chỉ và bắt đầu có thể tìm kiếm việc làm Các mô hình đào tạo nghề khác cũng hoạt động dựa trên nguyên tắc của mô hình “2+2”
Về nội dung chương trình dạy nghề sẽ do Các tổ chức 3 bên cấp quốc gia có nhiệm vụ xây dựng giáo trình dạy nghề và tổ chức đào tạo nghề Nội dung đào tạo được soạn thảo dựa trên nguyên tắc: Xây dựng kiến thức cơ bản
về đọc, viết, làm toán, khoa học, ngoại ngữ và các kĩ năng thực tiễn Các tổ chức ba bên cấp khu vực – Ban đào tạo- chịu trách nhiệm xác định quy
Trang 29mô đào tạo nghề, kinh phí của chính phủ cấp cho đào tạo nghề, cung cấp dịch
vụ đào tạo nghề, giám sát và tổ chức các cuộc thi cấp chứng chỉ đào tạo nghề v.v…
Ông Kurt Nilsen cho biết hầu hết các nội dung của chương trình đào tạo nghề đều dựa trên triết lý của Cựu Thủ tướng Na Uy – Gro Harlem Brundtland: “Mục tiêu chung của tất cả hệ thống giáo dục đào tạo nghề là phải cung cấp được kiến thức đồng bộ giữa lý thuyết và thực hành để người học có thể ứng dụng những kinh nghiệm thực tế vào cuộc sống”
Theo đánh giá của tiêu chuẩn quốc tế, hệ thống đào tạo nghề của Na Uy khá toàn diện và ít khiếm khuyết khi kết hợp quá trình đào tạo nghề với chương trình giáo dục phổ thông Sự kết hợp này đg tạo điều kiện để những người thợ có thể học lên cao hơn khi họ muốn để có một tương lai sự nghiệp vững vàng hơn [20]
2.3.2 Đào tạo nghề ở Việt Nam
Đào tạo nghề ở Việt Nam có lịch sử khá lâu đời, gắn liền với sự phát triển của các làng nghề, của sản xuất nông nghiệp Hầu như ở bất cứ làng quê nào cũng có những dấu ấn của sự học nghề và dạy nghề Sau này, cùng với sự phát triển và đa dạng hoá các ngành nghề sản xuất, các nghề thuộc lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ cũng đg được tổ chức đào tạo Tuy nhiên, đào tạo nghề
có tính hệ thống và gắn với sản xuất công nghiệp chỉ thực sự bắt đầu, kể từ khi hình thành Tổng cục Đào tạo Công nhân kỹ thuật năm 1969 Từ đó đến nay, trải qua nhiều thăng trầm, nhưng đào tạo nghề đg khẳng định được vai trò của mình trong việc tạo ra một đội ngũ lao động kỹ thuật cho các ngành kinh tế
quốc dân và để lại một số dấu ấn trong quá trình phát triển của lĩnh vực này
Giai đoạn từ năm 1969 đến 1975 Đây là thời kỳ khó khăn của cách mạng Việt Nam, khi đế quốc Mỹ điên cuồng bắn phá miền Bắc sau sự kiện Tết Mậu Thân năm 1968, nhưng Đảng ta vẫn chủ trương thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược là giải phóng miền Nam và xây dựng chủ nghĩa xg hội ở Miền Bắc Với tầm nhìn xa trông rộng, Đảng và Nhà nước ta đg đề ra
Trang 30quyết sách tập trung đẩy mạnh công tác đào tạo nghề Việc thành lập Tổng cục Đào tạo Công nhân Kỹ thuật trực thuộc Bộ Lao động theo Nghị định số 2000/CP của Chính phủ ngày 9 tháng 10 năm 1969 là sự thể hiện rõ quyết sách này và có thể nói đây là mốc lịch sử quan trọng trong sự nghiệp phát triển ngành dạy nghề Tổng cục này khi đó có bốn đơn vị là: Vụ Giáo dục; Vụ
Tổ chức Cán bộ và Chính sách; Vụ kế hoạch; Văn phòng ; nhiệm vụ quan trọng hàng đầu khi ấy là xây dựng chiến lược phát triển đào tạo CNKT, trong
đó có việc hình thành và phát triển hệ thống các trường CNKT ở miền Bắc Chủ trương lớn nhất trong giai đoạn này được thể hiện trong Nghị định 42/CP ngày 10/3/1970 của Chính phủ khi khẳng định đào tạo bồi dưỡng đội ngũ CNKT là một nhiệm vụ cách mạng cực kỳ trọng yếu” Tính đến năm 1975, riêng miền Bắc đg có 185 trường dạy nghề, 2 trường Sư phạm Kỹ thuật đào tạo giáo viên dạy nghề, 4.624 giáo viên, quy mô đào tạo hệ dài hạn mỗi năm lên
đến 160.000 học sinh, khoảng 600.000 công nhân kỹ thuật và nhân viên nghiệp vụ Song song với đào tạo ở trong nước chúng ta đg đưa đi đào tạo ở nước ngoài 42.600 học sinh để có thể vận hành được những máy móc, trang thiết bị do các nước XHCN viện trợ Giai đoạn từ năm 1975 đến 1986 Ngay khi đất nước thống nhất, Tổng cục Đào tạo CNKT đg tiếp quản và đưa 28 trường trung học kỹ thuật và 10 trung tâm huấn nghệ ở phía Nam vào hoạt
động, mở thêm trường Sư phạm Kỹ thuật tại Vĩnh Long và Trường Cán bộ Quản lý tại Tp Hồ Chí Minh Để có thể ứng dụng những tri thức khoa học vào
đào tạo, năm 1977, Viện Nghiên cứu Khoa học Dạy nghề đg được thành lập Quan hệ quốc tế được mở rộng, một số nước XHCN như Liên Xô, CHDC
Đức, Bungari, Tiệp Khắc, Hungari v.v… đg giúp đỡ xây dựng các trường CNKT bao gồm cả việc đào tạo giáo viên, học sinh và hỗ trợ trang thiết bị dạy
và học Để tăng cường vai trò đào tạo nghề phục vụ phát triển kinh tế- xg hội của đất nước, theo Nghị định 151/CP ngày 24 tháng 6 năm 1978, Tổng cục Dạy nghề được thành lập trực thuộc Hội đồng Chính phủ trên cơ sở Tổng cục
Đào tạo CNKT Theo Nghị định số 109/CP ngày 12/3/1981, Tổng cục Dạy
Trang 31nghề có nhiệm vụ thống nhất quản lý công tác dạy nghề trên phạm vi toàn quốc và hình thành Ban Giáo dục Chuyên nghiệp ở một số địa phương Trong giai đoạn này, đào tạo nghề đg có những bước tiến đáng kể:
- Hình thành hệ thống các trường sư phạm kỹ thuật (gồm một trường cao đẳng sư phạm kỹ thuật và 3 trường sư phạm kỹ thuật)
- Từ năm 1981 bắt đầu hình thành hệ thống Trung tâm dạy nghề ở quận, huyện, thị xg để đào tạo nghề ngắn hạn cho người lao động theo phương châm
“Nhà nước, tập thể và người dân cùng chăm lo sự nghiệp dạy nghề” Có thể nói, ngay từ giai đoạn này, dạy nghề đg là một trong những ngành đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân thực hiện xg hội hóa, nhằm tăng cường nguồn lực cho công tác này;
- Quan hệ quốc tế được tiếp tục mở rộng Liên Xô đg giúp đào tạo 16.600 công nhân kỹ thuật, viện trợ nâng cấp 4 trường SPKT và 12 trường dạy nghề; Cộng hòa dân chủ Đức đào tạo hơn 10.000 công nhân kỹ thuật và nâng cấp 3 trường dạy nghề; Tiệp Khắc đg đào tạo và tuyển ở lại lao động 27.000 công nhân kỹ thuật Đồng thời, chúng ta cũng gửi 28.000 học sinh học nghề
và thực tập sinh sản xuất sang Trung Quốc, Triều Tiên, Hunggari, Rumani, Ba Lan và Bungari Đội ngũ công nhân kỹ thuật tốt nghiệp từ các nước Đông Âu
đg tiếp cận với nền sản xuất tiên tiến, tác phong công nghiệp nên đg có những
đóng góp quan trọng trong các lĩnh vực của nền kinh tế, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của đất nước Tính đến hết năm học 1985-1986, toàn quốc đg có 5 trường Sư phạm kỹ thuật đào tạo giáo viên dạy nghề, 298 trường dạy nghề trên toàn quốc
Việc đạt được những thành tựu đáng kể trong quá trình phát triển kinh
tế kể từ khi bắt đầu thực hiện chương trình cải cách quốc gia “Đổi mới” đg mang lại một thách thức rất lớn cho hệ thống giáo dục kỹ thuật và đào tạo nghề Nền kinh tế phát triển cần một lực lượng lao động có kỹ năng nghề, nhưng Việt Nam lại đang thiếu lao động chuyên môn được đào tạo bài bản ở mọi trình độ Hậu quả là việc thiếu nguồn nhân lực có trình độ trong các
Trang 32ngành kinh tế có tiềm năng tăng trưởng và tạo việc làm gây ra những tác động tiêu cực đến chất lượng của các quá trình sản xuất, do đó ảnh hưởng đến quá trình phát triển bền vững Đồng thời, vấn đề việc làm cũng trở nên căng thẳng Hàng năm, trên 1 triệu lao động mới cần có việc làm, tuy nhiên tiềm năng sử dụng lao động của các ngành đang tăng trưởng không thể được tận dụng hết
do thiếu lực lượng lao động đg qua đào tạo
Phạm vi của các chương trình đào tạo nghề ban đầu và đào tạo nâng cao hiện nay đều chưa thể đáp ứng được nhu cầu và định hướng trong tương lai, và
có xu hướng không linh hoạt Chính phủ Việt Nam đg nhận thức được những vấn đề này và đg nỗ lực đáng kể nhằm cải cách và mở rộng hệ thống đào tạo nghề về:
- Cơ chế cấp tài chính hiệu quả
- Tổ chức hợp tác với các doanh nghiệp
- Sử dụng và bảo dưỡng trang thiết bị hiện đại
- Biên soạn chương trình đào tạo theo định hướng thị trường
- Đào tạo các nhân viên quản lý và giảng dạy có năng lực
- Trao đổi kinh nghiệm trong mạng lưới đào tạo quốc tế
- Đối thoại trong và liên khu vực và nâng cao tính minh bạch
Việc tiếp tục phát triển hệ thống giáo dục kỹ thuật và đào tạo nghề định hướng theo nhu cầu được coi là một nhiệm vụ rất quan trọng trong quá trình cải cách (hiện đại hoá, phát triển, hội nhập vào nền kinh tế thế giới, hỗ trợ tạo việc làm và xóa đói giảm nghèo) Chính phủ Việt Nam đang đặt mục tiêu tăng tỷ lệ lao động đg qua đào tạo từ 26% vào năm 2010 lên 50% vào năm 2020 (Chiến lược của Bộ LĐTBXH) Việc Luật Giáo dục được thông qua vào năm 2005 và Luật Dạy nghề được thông qua vào năm 2006 đg tạo cơ sở vững chắc cho việc tiếp tục xây dựng các quy định và chức năng điều hành của Chính phủ trong lĩnh vực giáo dục kỹ thuật và dạy nghề cũng như vai trò của nền kinh tế [4]
Trang 332.3.3 Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam
Nguồn nhân lực đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế của mỗi quốc gia, trong đó có Việt Nam Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực không thể không nói đến vai trò của công tác đào tạo nghề Nhận thức được tầm quan trọng của công tác đào tạo nghề cũng như vai trò của nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế, Việt Nam cần phải học tập các mô hình dạy nghề tiên tiến của các quốc gia trên thế giới, áp dụng vào thực tiễn nước ta để nâng cao chất lượng đào tạo nghề, đáp ứng hiệu quả yêu cầu hội nhập và phát triển
Các mô hình hướng nghiệp dạy nghề cho học sinh ngay từ khi còn trên ghế trường phổ thông hay đào tạo nghề có sự tham gia của các doanh nghiệp, trực tiếp đào tạo thực hành nghề cho học sinh tại các xí nghiệp, doanh nghiệp, tạo cho các em học sinh môi trường học tập cũng giống như môi trường làm việc sẽ nâng cao được hiệu quả của đào tạo nghề Đặc biệt, sự thống nhất trong quá trình quản lý đào tạo nghề sẽ tạo điều kiện để chất lượng đào tạo nghề được đảm bảo
và phát triển Sự tham gia của các doanh nghiệp vào công tác đào tạo nghề sẽ tạo
ra sự tin cậy và ủng hộ lẫn nhau giữa Nhà trường và doanh nghiệp
Nếu các mô hình đào tạo nghề tiên tiến của các nước được nhân rộng tại Việt Nam, chắc chắn con đường học nghề sẽ thu hút nhiều học sinh, thanh niên hơn Theo đó chất lượng đào tạo và dạy nghề tại Việt Nam sẽ được cải thiện đáng
kể [4]
Trang 343 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
và phương pháp nghiên cứu
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Trường Trung cấp nghề cơ khí xây dựng - Coma
3.1.1.1 Quá trình hình thành
Trường Trung cấp nghề cơ khí xây dựng – Coma (gọi tắt là Trường trung cấp nghề) là đơn vị trực thuộc Tổng Công ty Cơ khí xây dựng (gọi tắt là Tổng Công ty), được thành lập theo quyết định số 1532/QĐ-BXD ngày 07/11/2006 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng trên cơ sở trường Công nhân kỹ thuật Cơ khí xây dựng và Quyết định số 163/QĐ-HĐQT ngày 30 tháng 7 năm 2008 của Hội
đồng quản trị Tổng Công ty Cơ khí xây dựng về việc sắp xếp các đơn vị thành viên trực thuộc Tổng Công ty Cơ khí xây dựng; Trường hoạt động theo pháp luật của nước Cộng hoà xg hội chủ nghĩa Việt Nam, Luật Dạy nghề, Điều lệ Trường Trung cấp nghề do Bộ Lao động - Thương binh và Xg hội ban hành,
Điều lệ tổ chức và hoạt động của Tổng Công ty Cơ khí xây dựng
Trang 35Trường Trung cấp nghề Cơ khí xây dựng - coma
- Tên giao dịch bằng tiếng Anh:
construction machinery technical college
- Tên viết tắt: COMA-TECO
- Trụ sở chính của trường: Số 73 Đường Cổ Bi - Xg Cổ Bi - Huyện Gia
lâm - Thành phố Hà Nội
3.1.1.3 Quản lý nhà nước đối với Trường Trung cấp nghề Cơ khí xây dựng Coma
- Trường Trung cấp nghề Cơ khí xây dựng chịu sự quản lý Nhà nước của
Bộ Xây dựng, quản lý Nhà nước về dạy nghề của Bộ Lao động - Thương binh
và Xg hội; đồng thời chịu sự quản lý theo lgnh thổ của Uỷ ban nhân dân Thành phố Hà Nội nơi trường đặt trụ sở và chịu sự quản lý trực tiếp, toàn diện của Tổng Công ty Cơ khí Xây dựng
3.1.1.4 Nhiệm vụ của trường
- Tổ chức đào tạo công nhân kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ ở trình độ Trung cấp nghề, sơ cấp nghề nhằm trang bị cho người học năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khoẻ, đạo đức nghề nghiệp, ý thức tổ chức ký luật, tác phong công nghiệp tạo điều kiện cho họ có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học lên trình độ cao hơn,
đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động
- Tổ chức xây dựng, duyệt và thực hiện các chương trình, giáo trình học liệu dạy nghề đối với ngành nghề được phép đào tạo
- Xây dựng kế hoạch tuyển sinh, tổ chức tuyển sinh học nghề
- Tổ chức các hoạt động dạy và học, thi, kiểm tra, công nhận tốt nghiệp, cấp bằng, chứng chỉ nghề theo quy định của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xg hội
- Tổ chức thực hiện việc đào tạo lại, bồi dưỡng nâng cao trình độ về chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ, công nhân ngành Cơ khí xây dựng, tổ chức bồi dưỡng và thi nâng bậc cho công nhân
Trang 36- Tuyển dụng, quản lý đội ngũ giáo viên, cán bộ, công nhân viên của trường đủ về số lượng, phù hợp với ngành nghề, quy mô, trình độ đào tạo theo
đúng qui định của pháp luật và quy định của Tổng Công ty,
- Thực hiện các hoạt động nghiên cứu khoa học, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, chuyển giao công nghệ, tổ chức sản xuất kinh doanh và dịch vụ khoa học, kỹ thuật theo quy định của pháp luật
- Phối hợp với các doanh nghiệp, các tổ chức, cá nhân, gia đình học sinh học nghề trong hoạt động dạy nghề
- Tổ chức hoạt động đưa người lao động và chuyên gia Việt Nam đi làm
việc có thời hạn ở nước ngoài
3.1.2 Cơ cấu tổ chức của trường
Theo Quyết định số 227/QĐ-HĐQT ngày 03 tháng 12 năm 2008 của Chủ tịch Hội đồng quản trị Tổng công ty cơ khí xây dựng quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Trường Trung cấp nghề cơ khí xây dựng, cơ cấu tổ chức của Nhà trường bao gồm: ban giám hiệu, các phòng chức năng, các khoa chuyên môn, các hội đồng trường Cơ cấu này được minh hoạ
qua sơ đồ (hình 3.1)
3.1.2.1 Ban giám hiệu
Ban giám hiệu bao gồm: 01 hiệu trưởng và 02 phó hiệu trưởng
Hiệu trưởng nhà trường do Tổng giám đốc Tổng Công ty cơ khí xây dựng
bổ nhiệm với nhiệm kỳ 05 năm Hiệu trưởng chỉ đạo toàn bộ hoạt động của Nhà trường, chịu trách nhiệm trước Tổng giám đốc về các hoạt động của Nhà trường
Phó hiệu trưởng nhà trường gồm: 01 Phó hiệu trưởng phụ trách công tác
Đào tạo và 01 Phó hiệu trưởng phụ trách công tác Nội chính của nhà trường Các Phó hiệu trưởng này do Tổng giám đốc Tổng Công ty cơ khí xây dựng bổ nhiệm với nhiệm kỳ 05 năm, có nhiệm vụ hỗ trợ và giúp việc cho hiệu trưởng trong từng lĩnh vực, từng bộ phận
Trang 37
Hình 3.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức của nhà trường
Khoa tổng hợp
Ban giám hiệu
Khoa điện
PHòNG TC-HC
Phòng tài chính kế toán
Hội đồng trường Các đoàn thể
Khoa cơ khí công nóng Khoa gia
Các khoa chuyên môn Phòng đào
tạo
Trang 383.1.2.2 Các phòng chức năng
Nhà trường có 03 phòng chức năng giúp việc cho Ban giám hiệu, đặt dưới
sự chỉ đạo trực tiếp của hiệu trưởng, gồm: phòng Đào tạo, phòng Tài chính -
Kế toán, phòng Tổ chức - Hành chính Đứng đầu mỗi phòng chức năng là trưởng phòng Trưởng phòng có trách nhiệm điều hành hoạt động của phòng mình, chịu trách nhiệm trước hiệu trưởng Nhà trường về toàn bộ hoạt động của phòng Mỗi phòng có 01 phó trưởng phòng giúp việc cho trưởng phòng Trưởng phòng và các phó trưởng phòng do hiệu trưởng Nhà trường bổ nhiệm với nhiệm kỳ 05 năm
Chức năng và nhiệm vụ của từng phòng như sau:
- Phòng Đào tạo:
* Giúp ban giám hiệu quy hoạch công tác đào tạo tương ứng với từng giai
đoạn phát triển của Nhà trường;
* Giúp ban giám hiệu xây dựng các mục tiêu đào tạo, kế hoạch đào tạo và chương trình đào tạo của từng ngành, nghề đào tạo, bậc đào tạo;
* Tổ chức thực hiện các quyết định của hiệu trưởng Nhà trường trong việc đào tạo;
* Xây dựng kế hoạch giảng dạy theo từng khoá học, năm học, học kỳ; kế hoạch thi hết học phần, thi tốt nghiệp;
* Theo dõi việc thực hiện tiến độ giảng dạy, lịch trình giảng dạy, thời khoá biểu; tổ chức quản lý là lưu trữ điểm của học sinh, sinh viên; quản lý bằng tốt nghiệp của học sinh, sinh viên;
* Kế hoạch hóa và tổ chức thực hiện, theo dõi các hoạt động thực nghiệm, thực tập giữa khóa, thực tập tốt nghiệp và lao động dịch vụ;
* Giúp ban giám hiệu tổng kết, phân tích và đánh giá kết quả đào tạo, chất lượng đào tạo của từng ngành, từng cấp bậc đào tạo;
* Thường trực công tác tuyển sinh của Nhà trường;
* Quản lý công tác giáo viên chủ nhiệm, thư viện của Nhà trường
Trang 39* Giúp hiệu trưởng chỉ đạo và tổ chức thực hiện công tác học sinh, sinh viên trong trường: tổ chức quản lý hồ sơ của học sinh, sinh viên; theo dõi và kiểm tra việc rèn luyện của học sinh, sinh viên; quản lý công tác thi đua, khen thưởng, kỷ luật học sinh, sinh viên;
* Phối hợp với giáo viên chủ nhiệm, các phòng chức năng liên quan trong việc quản lý việc học tập, rèn luyện của học sinh, sinh viên
* Tư vấn cho hiệu trưởng phương án khai thác, sử dụng nguồn kinh phí, nguồn vốn hoạt động của hiệu quả nhất
* Giúp hiệu trưởng tổ chức thực hiện các chính sách, chế độ đối với viên chức và người lao động của Nhà trường, thực hiện các chính sách, chế độ đối với học sinh, sinh viên;
Trang 40* Quản lý công tác vệ sinh, y tế, an ninh trật tự của Nhà trường;
* Giúp hiệu trưởng chỉ đạo và tổ chức thực hiện những những quyết định của hiệu trưởng về việc phân phối, sử dụng, quản lý và tu sửa cơ sở vật chất của Nhà trường: nhà làm việc, giảng đường, phòng thực hành, xưởng thực tập,
ký túc xá, nhà ăn, nhà văn hoá ;
* Giúp hiệu trưởng xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện việc đầu tư cơ
sở vật chất, mua sắm trang thiết bị cần thiết phục vụ cho hoạt động của trường;
* Tổ chức quản lý và thực hiện các hoạt động hỗ trợ đào tạo và các hoạt
động phục vụ đời sống vật chất và tinh thần của người lao động và học sinh;
3.1.2.3 Các khoa và tổ bộ môn
Các khoa được thành lập tương ứng với từng nhóm ngành hoặc ngành đào tạo hoặc nhóm môn học; được đặt dưới sự chỉ đạo của hiệu trưởng Hiện nay, Nhà trường có 04 khoa: khoa Tổng hợp, khoa Điện, khoa Gia công nóng và khoa Cơ khí Mỗi khoa có 01 trưởng khoa và 01 phó trưởng khoa do hiệu trưởng nhà trường bổ nhiệm với nhiệm kỳ 05 năm Nhiệm vụ chủ yếu của các khoa đó là:
- Giúp hiệu trưởng chỉ đạo và tổ chức thực hiện những những quyết định của hiệu trưởng liên quan đến các vấn đề chuyên môn, nhân sự, học sinh của khoa
- Giúp hiệu trưởng quản lý chuyên môn liên quan đến ngành, chuyên ngành, nghề đào tạo của khoa
- Phân công giáo viên giảng dạy theo đúng chương trình, kế hoạch giảng dạy của từng học kỳ, năm học, khoá học; tổ chức các hoạt động nghiên cứu khoa học, đổi mới phương pháp giảng dạy, bồi dưỡng giáo viên, công tác hội giảng
- Tổ chức biên soạn giáo trình, bài giảng các môn học có liên quan do khoa phụ trách, tổ chức biên soạn đề thi hết học phần các môn học, đề thi tốt nghiệp, chấm bài thi, báo cáo tốt nghiệp của học sinh, sinh viên