Bài tập học kỳ môn Tố tụng Dân sự 2020 đề tài số 14: : Phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự ở toà án cấp sơ thẩm, phúc thẩm. BTL điểm cao có phụ lục danh mục tài liệu tham khảo sẵn.
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Tòa án giải quyết vụ án dân sự là nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và được đánh giá là hoàn thiện, có nhiều nội dung mới được luật hóa, từng bước đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, bảo đảm tốt hơn quyền con người trong lĩnh vực tố tụng, đặc biệt là các quy định của pháp luật tố tụng về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự Tuy nhiên, qua một thời gian đi vào cuộc sống đã cho thấy vẫn còn một số vướng mắc, bất cập, việc áp dụng trên thực tế cũng không thống nhất dẫn đến có nhiều quan điểm khác nhau Vì vậy, em sẽ đi phân tích, đánh giá một số quy định của pháp luật tố tụng về đình chỉ giải quyết vụ án, từ đó nêu ra thực trạng quy định pháp luật và đề xuất, kiến nghị
nhằm góp phần hoàn thiện hơn Chính vì thế, em chọn đề tài số 14: : Phân tích,
đánh giá các quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự ở toà án cấp sơ thẩm, phúc thẩm.” Đây là đề tài mang ý nghĩa
thực tiễn và lý luận sâu sắc
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
GĐ-TANDTC Giải đáp – Tòa án nhân dân tối cao
Trang 2NỘI DUNG
I LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ I.1 Khái niệm
“Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là việc Tòa án quyết định ngừng việc giải
quyết vụ án dân sự khi có những căn cứ do pháp luật quy định.” 1
I.2 Đặc điểm
Bản chất của việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là việc Tòa án dừng hẳn việc giải quyết vụ án dân sự, bao gồm các hoạt động tố tụng có liên quan Ngay sau khi quyết định đình chỉ có hiệu lực pháp luật thì về nguyên tắc đương sự không có quyền khởi kiện lại vụ án đó, trừ trường hợp pháp luật mà pháp luật có quy định khác
Một là, đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là hoạt động của cơ quan tiến hành
tố tụng nhằm chấm dứt hẳn việc giải quyết vụ án dân sự
Thứ hai, đình chỉ giải quyết vụ án dân sự được coi là hợp pháp khi thỏa mãn những căn cứ do pháp luật quy định Đây là điều kiện tiên quyết đảm bảo cho quyết định đình chi việc giải quyết vụ án đúng pháp luật, khách quan, minh bạch và không ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
Thứ ba, chủ thể có thẩm quyền ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự
là Thẩm phán, Hội đồng xét xử
Thứ tư, hình thức đình chỉ giải quyết vụ án dân sự phải được thể hiện bằng quyết định Và quyết định này phải được Tòa án nêu rõ căn cứ, lý do đình chỉ
Thứ năm, trình tự, thủ tục ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dâ sự theo quy định của pháp luật Việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự ở mỗi thời điểm khác nhau sẽ được áp dụng các quy định về thẩm quyền ra quyết định, căn cứ ra quyết định, thủ tục ra quyết định khác nhau
Thứ sáu, hậu quả pháp lý khi quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự có hiệu lực pháp luật thì các đương sự không có quyền yêu cầu khởi kiện lại vụ án đó nữa và mọi hoạt động tố tụng của Tòa án sẽ chấm dứt, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác
1 Theo định nghĩa trong giáo trình Luật Tố tụng dân sự của Trường Đại học Luật Hà Nội.
Trang 3II QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ HIỆN HÀNH
VỀ ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ
II.1 Quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự ở toà án cấp sơ thẩm
II.1.1 Căn cứ để đình chỉ giải quyết vụ án dân sự ở tòa án cấp sơ thẩm
Các căn cứ để sau khi thụ lý vụ án thuộc thẩm quyền của minh, Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự được quy định tại Khoản 1 Điều 217 BLTTDS 2015.2
Căn cứ thứ nhất, nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết mà quyền, nghĩa
vụ của họ không được thừa kế Đây là trường hợp phát sinh sự kiện pháp lý là đương sự chết nhưng đặc thù của quan hệ pháp luật (quan hệ nhân thân, quan hệ cấp dưỡng) thì quyền và nghĩa vụ này không thể chuyển giao được cho chủ thể khác nên trong trường hợp thuộc căn cứ trên, Tòa án phải ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án Điều này cũng đồng nghĩa với các trường hợp quyền và nghĩa vụ gắn với nhân thân của con người sẽ không được thừa kế như quyền, nghĩa vụ cấp dưỡng, nuôi con…Trường hợp một bên đương sự chết sẽ dẫn tới đối tượng cần được giải quyết trong vụ án không còn nữa Do đó, Tòa án phải chấm dứt việc giải quyết vụ án Căn cứ trên hoàn toàn phù hợp với các vụ việc có một hoặc nhiều quan hệ nhân thân cần được xem xét để giải quyết Ví dụ, các bên đương sự có đơn yêu cầu vấn đề về nuôi con chung của hai vợ chồng, ai là người nuôi, ai là người cấp dưỡng…hoặc quan hệ tài sản gắn liền với nhân thân
Tuy nhiên, đối với giải quyết tranh chấp về nhân thân, có phải lúc nào Tòa án cũng ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án khi đương sự chết hay không
Ví dụ: A khởi kiện B yêu cầu B công khai xin lỗi trên phương tiện thông tin đại chúng về việc B xúc phạm danh dự nhân phẩm của A vì tội dâm ô với trẻ dưới
16 tuổi Trong quá trình giải quyết, Tòa án thụ lý giải quyết A chết Về nguyên tắc, Tòa án sẽ ra quyết định đình chỉ vụ án Tuy nhiên, đình chỉ có hợp lý không khi các con của A vẫn muốn tiếp tục làm rõ và chứng minh sự trong sạch của A và buộc B xin lỗi A dù A đã chết
2 Khoản 1 Điều 217 BLTTDS 2015.
Trang 4Căn cứ thứ hai, cơ quan, tổ chức đã bị giải thể, phá sản mà không có cơ quan, tổ chức, cá nhân nào kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức
đó 3
Đây là trường hợp cơ quan, tổ chức trước bị giải thể, phá sản được quyền
tham gia hoặc có nghĩa vụ tham gia vào vụ án dân sự với tư cách là đương sự trong
vụ án đó Và sau khi bị giải thể, phá sản thì không có cơ quan, tổ chức, cá nhân nào thừa kế quyền, nghĩa vụ tố tụng của cơ quan tổ chức đồng nghĩa với việc chủ thể chịu tác động trực tiếp của vụ án dân sự không còn Vì thế, Tòa án cần ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự
Cần phân biệt căn cứ này với căn cứ tạm đình chỉ giải quyết vụ án được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 214 Điểm khác biệt cơ bản vẫn nằm ở hai thuật ngữ
“chưa có” và “không có” Xét về mặt thực chất, trường hợp tại Điều 214 là các
trường hợp chuyển đổi hình thức tổ chức, cách thức hoạt động của cơ quan tổ chức Vấn đề thừa kế quyền và nghĩa vụ chỉ là vấn đề tạm thời kéo dài trong một thời gian nhất định Nhưng quy định tại điều 217 là trường hợp các cơ quan, tổ chức bị giải thể, phá sản – dừng hẳn quá trình hoạt động trên thực tế của cơ quan, tổ chức
Vì thế, Tòa án phải chấm dứt giải quyết vụ án và ra quyết định đình chỉ
Tùy từng cơ quan, tổ chức, hình thức hoạt động mà thủ tục về giải thể, phá
sản được quy định cụ thể trong từng văn bản quy phạm pháp luật khác nhau Đối với chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh sẽ vấn thừa kế quyền và nghĩa
vụ tố tụng đối với các khoản nợ chưa thanh toán4 Công ty cổ phần, công ty TNHH, công ty hợp danh thì Tòa án sẽ đình chỉ giải quyết theo cách thức khác Khi Tòa án tuyên bố công ty cổ phần, công ty TNHH phá sản mà chủ nợ không phải vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan chưa tham gia việc đòi nợ theo thủ tục của luật phá sản quy định thì coi như người đó từ bỏ quyền đòi nợ.5 Mặt khác, công ty TNHH, công ty cổ phần bị tuyên bố phá sản thì tư cách chủ thể của thành viên trong công ty TNHH, cổ đông cũng bị chấm dứt nên họ không có nghĩa vụ tài sản với các khoản nợ của công ty Trường hợp các chủ nợ chưa tham gia đòi nợ mà thông qua thủ tục phá sản khởi kiện công ty để đòi nợ mà Tòa án đã thụ lý thì có thể coi đây là trường hợp công ty bị tuyên bố phá sản mà không có cá nhân, cơ
3 Khoản 2 Điều 217 BLTTDS 2015.
4 Khoản 1 Điều 110 Luật Phá sản 2014 – Phụ lục.
5 Khoản 1 Điều 51 Luật Phá sản 2014 – Phụ lục.
Trang 5quan tổ chức nào thừa kế quyền hoặc người khởi kiện không có quyền khởi kiện để
ra quyết định đình chỉ vụ án.6
Căn cứ thứ ba, người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện hoặc nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, trừ trường hợp họ đề nghị xét xử vắng mặt hoặc vì sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan 7
Đối với trường hợp khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện: Quy định này được áp dụng đối với những yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn mà bị đơn không có yêu cầu phản tố, người có quyền và nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập Đây là căn cứ được Tòa án áp dụng nhiều nhất để ra quyết định đình chỉ giải quyết
vụ án dân sự Trường hợp vụ án có yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập thì áp dụng quy định tại Khoản 2 Điều 217 BLTTDS 2015 và được hướng dẫn cụ thể tại mục 7 phần VI Giải đáp số 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07 tháng 4 năm 2017.8
Đối với trường hợp nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, trừ trường hợp họ đề nghị xét xử vắng mặt hoặc vì sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan9 Trường hợp này, nguyên đơn có đơn giải quyết vắng mặt tức là nguyên đơn vẫn mong muốn Tòa án giải quyết vụ án dân sự mặc dù họ không có mặt trực tiếp để tham gia tố tụng, khi đó, nguyên đơn có thể gửi đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt họ Đơn cử như đang trên đường đến Tòa án theo giấy triệu tập lần thứ hai của Tòa thì bị tai nạn, hoặc gặp thiên tai, trong gia đình có tang ở thời điểm đó… Với lý do này, Tòa án không thể ra quyết đình đình chỉ vụ án được vì sẽ không đảm bảo được quyền và lợi ích hài hòa cho các đương sự
Căn cứ thứ tư, đã có quyết định của Tòa án mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã là một bên đương sự trong vụ án mà việc giải quyết vụ án
có liên quan đến nghĩa vụ, tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã đó 10 Quy định này
là phù hợp với Điều 71 của Luật Phá sản 2014 Trong quá trình Tòa án giải quyết
vụ án dân sự nếu một trong các bên đương sự của vụ án doanh nghiệp, hợp tác xã
đã có quyết định mở thủ tục phá sản thì các quyền, nghĩa vụ của đương sự sẽ được
6 Trần Thị Ngọc Trung (2015), “Đình chỉ giải quyết vụ viện dân sự trong Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành”, Luận
văn thạc sỹ, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội.
7 Điểm c Khoản 1 Điều 227 BLTTDS 2015
8 Phụ lục.
9 Sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục
được, mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép
10 Điểm d, khoản 1 Điều 217 BLTTDS 2015.
Trang 6giải quyết theo thủ tục phá sản Vì vậy, Tòa án đang giải quyết vụ án dân sự đó sẽ đình chỉ giải quyết vụ án kể từ ngày có quyết định phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã của Tòa án có thẩm quyền, đồng thời Tòa án chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án đang tiến hành thủ tục phá sản để giải quyết
Căn cứ thứ năm, nguyên đơn không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản
và chi phí tố tụng khác theo quy định của Bộ luật này Đây là căn cứ đình chỉ giải
quyết vụ án dân sự mới được bổ sung nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tiễn và nâng cao trách nhiệm của đương sự đối với yêu cầu của mình Căn cứ điều 164 BLTTDS
2015, người yêu cầu định giá tài sản phải nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản nên nếu người yêu cầu định giá tài sản mà không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản thì vụ án không thể giải quyết được nên quy định này là hợp lý
Căn cứ thứ sáu, đương sự có yêu cầu áp dụng thời hiệu trước khi Tòa án cấp
sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ án và thời hiệu khởi kiện đã hết 11 Quy
định này là phù hợp với khoản 2 Điều 149 BLTTDS 2015 và điều 184 BLTTDS
2015 liên quan đến thời hiệu khởi kiện Đây là những căn cứ phát sinh trước khi Tòa án thụ lý vụ án nhưng vì thời hiệu khởi kiện có thể được bắt đầu lại nên Tòa án vẫn thụ lý vụ án Sau khi đương sự đã cung cấp đầy đủ chứng cứ mà không chứng minh được là còn thời hiệu khởi kiện thì Tòa án sẽ ra quyết định đình chỉ giải quyết
vụ án dân sự là hợp lý Các quy định này sẽ đảm bảo quyền tiếp cận công lý của nhân dân tốt hơn
Căn cứ thứ bảy, các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 192 của Bộ luật này mà Tòa án đã thụ lý 12 Các căn cứ tại khỏa 1 Điều 192 được quy định như sau:
+ “Người khởi kiện không có quyền khởi kiện” thì đây là trường hợp Tòa
xem xét nhận thấy đây không phải là chủ thể của quyền yêu cầu khởi kiện, theo đó:
Họ không phải chủ thể có quyền lợi bị xâm phạm hoặc tranh chấp, không phải là người đại diện hợp pháp hoặc không phải là chủ thể có quyền khởi kiện để bảo vệ lợi ích của người khác hoặc bảo vệ lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng theo quy
định tại Điều 187 BLTTDS 2015 “Người khởi kiện không có đủ năng lực hành vi TTDS” đây là những người bị mất năng lực hành vi dân sự, khó khăn trong nhận
thức và làm chủ hành vi, hạn chế năng lực hành vi, người dưới 15 tuổi khi tham gia các giao dịch dân sự đều phải thông qua người đại diện theo pháp luật
11 Điểm e, khoản 1 Điều 217 BLTTDS 2015.
12 i m g, kho n 1 i u 217 BLTTDS 2015 Đ ể ả Đ ề
Trang 7“Chưa có điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật” 13 Đây đều là các trường hợp mà Tòa án phải ra quyết định đình chỉ vụ án
+Sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc quyết định đã có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền… Căn cứ nhằm tránh việc một vụ án bị giải quyết nhiều lần khi nguyên đơn,
bị đơn trong vụ án vẫn như bản án quyết định đã có hiệu lực pháp luật Sau khi Tòa
án đã thụ lý mới phát hiện ra sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã
có hiệu lực thì buộc phải ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự
+ Hết thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 195 của Bộ luật này mà người khởi kiện không nộp biên lai thu tiền tạm ứng án phí cho Tòa án, : Trường hợp này
hiếm xảy ra trên thực tế vì nếu chiếu theo quy trình trình tự thủ tục tố tụng sẽ rất ítTòa án nào lại thụ lý vụ án khi đương sự chưa nộp biên lai thu tiền tạm ứng án phí Quy định này đã hành chính hóa thủ tục tố tụng và không đảm bảo quyền tiếp cận công lý của công dân Nếu thiết kế một cửa để Tòa án có thể đồng thời thu tiền tạm ứng án phí và nhận hồ sơ khởi kiện thay cho cách làm hiện nay thì sẽ thuận lợi hơn cho người dân trong việc khởi kiện.14
+ Vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Căn cứ này phân
biệt với trường hợp chuyển đơn khởi kiện và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án khác giải quyết do vụ án không thuộc thẩm quyền theo cấp hoặc lãnh thổ của Tòa án nhận đơn khởi kiện hoặc đã thụ lý vụ án.15
+ Người khởi kiện không sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện theo yêu cầu của Thẩm phán quy định tại khoản 2 Điều 193 của Bộ luật này Xét về góc độ lý luận,
đây là trường hợp Tòa án thụ lý không đúng Nếu sau thụ lý, Tòa mới phát hiện ra mặc dù trước đó người khởi kiện đã không sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện theo yêu cầu của Tòa án thì Tòa án phải ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án Căn cứ này nhằm thể hiện sự ràng buộc trách nhiệm của người khởi kiện, tránh tình trạng ỷ lại cho Tòa giải quyết, đảm bảo quyền tự định đoạt của đương sự, thể hiện tinh thần thượng tôn pháp luật
13 Hướng dẫn tại Điều 3 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP – Phụ lục.
14 Trần Anh Tuấn (Chủ biên, 2016), “Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng dân sự của nước Công hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2015”, NXB.Tư pháp.
15 Hướng dẫn bởi Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP – Phụ lục.
Trang 8+ Người khởi kiện rút đơn khởi kiện Đây là trường hợp sau khi thụ lý vụ án
mới phát hiện ra đương sự đã rút đơn khởi kiện trước khi thụ lý nên lúc này đối tượng xét xử không còn, Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án
Căn cứ cuối cùng và cũng không kém phần quan trọng chính là điều khoản quét “các trường hợp khác mà pháp luật có quy định” Đây là quy định mở, mang
tính dự báo nhằm tạo cơ sở pháp lý, căn cứ vững chắc cho Tòa án áp dụng pháp luật ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự mà trong Bộ luật tố tụng dân sự chưa quy định nhưng đã đươnc quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật khác hoặc sau khi BLTTDS có hiệu lực thi hành mới được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật được ban hành ngay sau đó hoặc trong các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.16
II.1.2 Thẩm quyền ban hành
Theo Điều 219 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì thẩm quyền ban hành quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự tại cấp sơ thẩm được xác định như sau:
Trước khi mở phiên tòa, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án dân sự
có thẩm quyền ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự Mặc dù không hề có quy định trực tiếp giải thích thời điểm trước khi mở phiên tòa là thời điểm nào trong các giai đoạn giải quyết vụ án dân sự Trong thực tiễn xét xử của Tòa án cũng
áp dụng thống nhất thời điểm trước khi mở phiên tòa có thể hiểu là thời điểm trước khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử Như vậy, trước khi có quyết định đưa vụ án
ra xét xử, thẩm quyền ban hành quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự tại cấp
sơ thẩm thuộc về Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án
Tuy nhiên, trường hợp sau khi Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử sở thẩm thì mới quyết định căn cứ để đình chỉ giải quyết vụ án quy định tại Điều 217 BLTTDS 2015 thì thẩm quyền đình chỉ giải quyết vụ án thuộc về chủ thể nào? Quan điểm thứ nhất cho rằng đây thuộc thẩm quyền của Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án dân sự vì vẫn thuộc khoảng thời gian trước khi mở phiên tòa
sơ thẩm, rút ngắn thời gian tố tụng, tiết kiệm thời gian, kinh phí cho cơ quan nhà nước mà vẫn đúng với quy định của pháp luật Quan điểm thứ hai cho rằng dù vẫn trước thời gian tại phiên tòa nhưng Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm đồng nghĩa với việc toàn bộ hồ sơ vụ án đã được “chốt” nên Hội đồng xét xử
16 Tạ Thị Thùy Linh, “Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự ở Tòa án cấp sơ thẩm và thực tiễn thực hiện tại Tòa án”,
Luận văn thạc sĩ luật học (2017), Hà Nội.
Trang 9sơ thẩm là chủ thể có thẩm quyền ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân.17Thẩm phán đã ra quyết định đưa vụ án ra xét xử rồi nên không thể ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án nữa nên Hội đồng xét xử sẽ có thẩm quyền quyết định
II.1.3 Thủ tục ban hành
Theo quy định khoản 2,3 tại Điều 217 BLTTDS 2015 đã quy định tương đối
rõ ràng về thủ tục ban hành quyết định đình chỉ vụ án dân sự
“2 Trường hợp nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện hoặc đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng, không đề nghị xét xử vắng mặt và trong vụ án đó có bị đơn yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập thì giải quyết như sau:
a) Bị đơn rút toàn bộ yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan rút toàn bộ yêu cầu độc lập thì Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án;
b) Bị đơn không rút hoặc chỉ rút một phần yêu cầu phản tố thì Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; bị đơn trở thành nguyên đơn, nguyên đơn trở thành bị đơn;
c) Bị đơn rút toàn bộ yêu cầu phản tố, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không rút hoặc chỉ rút một phần yêu cầu độc lập thì Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu phản tố của
bị đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trở thành nguyên đơn, người nào bị khởi kiện theo yêu cầu độc lập trở thành bị đơn.”
3 Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, xóa tên vụ án đó trong số thụ lý và trả lại đơn khởi kiện, tài liệu chứng cứ kèm theo cho đương sự nếu có yêu cầu, trong trường hợp này tòa án phải sao chụp và lưu lại để làm cơ sở giải quyết khiếu nại, kiến nghị khi có yêu cầu
Quy định tại Khoản 3 Điều 217 đã khắc phục được hạn chế tại Khoản 2 Điều
192 BLTTDS 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011 Đây là cơ sở cho việc giải quyết khiếu nại, kiến nghị sau này Đồng thời rút ngắn thời hạn gửi quyết định đình chỉ
vụ án cho đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện và Viện kiểm sát cùng cấp chỉ còn 03 ngày làm việc thay vì 05 ngày làm việc như trong BLTTDS 2004 sửa đổi, bổ sung 2011.18
17 Hà Thị Giáng, “Đình chỉ việc giải quyết vụ án dân sự từ thực tiễn thực hiện tại các Tòa án nhân dân ở
Thành phố Hà Nội”, (2019).
Trang 10II.1.4 Hình thức ban hành
Hình thức của quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự ở cấp sơ thẩm phải được lập thành văn bản Mẫu, nội dung của quyết định này được quy định chi tiết tại Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP19 bao gồm các mẫu 45 – DS đối với trường hợp Thẩm phán ra quyết định, mẫu 46 – DS với trường hợp Hội đồng xét xử ra quyết định
II.1.5 Hiệu lực pháp lý
Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật ngay mà có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm Theo quy định tại Khoản 2 Điều 273 Thời hạn kháng cáo thì thời hạn kháng cáo là
07 ngày kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án Nếu hết thời hạn nếu trên mà không có kháng cáo, kháng nghị thì quyết định đình chỉ giải quyết vụ án chính thức
có hiệu lực pháp luật và chấm dứt việc giải quyết vụ án đó Tuy nhiên, ở thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm thì quyết định này vẫn có thể bị kháng cáo kháng nghị
II.1.6 Hậu quả pháp lý
Thứ nhất, đối với quyền khởi kiện lại của đương sự: Khi đã có quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, đương sự không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa
án giải quyết vụ án dân sự đó nếu việc khởi kiện vụ án không có gì khác Vì thế nên thời hạn kháng cáo quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là yếu tố vô cùng quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của người khởi kiện
Thứ hai, về tiền tạm ứng án phí: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 217 BLTTDS
2015 thì đối với trường hợp đình chỉ giải quyết vụ án do nguyên đơn được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng thì khoản tiền tạm ứng án phí mà đương sự đã nộp sẽ được nộp vào để xung quỹ nhà nước Trường hợp người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện, Tòa án ra quyết định đình chỉ thì toàn bộ tiền án phí sẽ được trả cho họ theo điểm d,đ,e,g khoản 1 Điều 217
Thứ ba, quyền kháng cáo, kháng nghị: Khi quyết định đình chỉ giải quyết vụ
án dân sự theo thủ tục sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật thì có thể bị kháng cáo,
18 Trần Anh Tuấn (Chủ biến, 2016), Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng dân sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2015, NXB.Tư pháp.
19 Nghị quyết 01/2017/NQ-HĐTP ngày 13/01/2017 của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao ban hành một số biểu mẫu trong Tố tụng dân sự