1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá chất lượng tiểu cầu được sản xuất từ máu toàn phần và tiểu cầu chiết tách trên máy tách tế bào tự động tại bệnh viện chợ rẫy

86 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá chất lượng tiểu cầu được sản xuất từ máu toàn phần và tiểu cầu chiết tách trên máy tách tế bào tự động tại bệnh viện Chợ Rẫy
Tác giả Vũ Trần Duy
Người hướng dẫn PGS. TS. Nguyễn Tiến Thắng, TS. DS. Trần Văn Bảo
Trường học Trường Đại Học Công Nghệ TP. HCM
Chuyên ngành Công nghệ sinh học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2017
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 1,83 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đánh giá chất lượng tiểu cầu được sản xuất từ máu toàn phần và tiểu cầu chiết tách trên máy tách tế bào tự động tại bệnh viện chợ rẫy Đánh giá chất lượng tiểu cầu được sản xuất từ máu toàn phần và tiểu cầu chiết tách trên máy tách tế bào tự động tại bệnh viện chợ rẫy luận văn tốt nghiệp thạc sĩ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐỘNG TẠI BỆNH VIỆN CHỢ RẪY

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Chuyên ngành: Công nghệ sinh học

TP HỒ CHÍ MINH, tháng năm

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐỘNG TẠI BỆNH VIỆN CHỢ RẪY

Trang 3

CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP HCM

Cán bộ hướng dẫn khoa học : PGS TS Nguyễn Tiến Thắng

Luận văn Thạc sĩ được bảo vệ tại Trường Đại học Công nghệ TP HCM ngày 11 tháng 11 năm 2017

Thành phần Hội đồng đánh giá Luận văn Thạc sĩ gồm:

1 GS TSKH Nguyễn Trọng Cẩn Chủ tịch

Xác nhận của Chủ tịch Hội đồng đánh giá Luận sau khi Luận văn đã được sửa chữa (nếu có)

Chủ tịch Hội đồng đánh giá LV

Trang 4

TRƯỜNG ĐH CÔNG NGHỆ TP HCM

VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

TP HCM, ngày 31 tháng 08 năm 2017

NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ

Họ tên học viên: VŨ TRẦN DUY Giới tính: Nam

Ngày, tháng, năm sinh: 26.04.1984 Nơi sinh: Dồng Nai

Chuyên ngành: Công nghệ sinh học MSHV: 1541880002

I- Tên đề tài:

Đánh giá chất lượng tiểu cầu được sản xuất từ máu toàn phần và tiểu cầu chiết tách trên

máy tách tế bào tự động tại bệnh viện Chợ Rẫy

II- Nhiệm vụ và nội dung:

 Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng và chất lượng của KTC được sản xuất từ máu toàn phần và từ máy tự động

 Nghiên cứu sự thay đổi của các chỉ số huyết học, sinh hoá trong túi TC từ đó đánh giá được chất lượng của túi TC sau thời gian bảo quản

III- Ngày giao nhiệm vụ: 15.12.2017

IV- Ngày hoàn thành nhiệm vụ: 31.08.2017

V- Cán bộ hướng dẫn: PGS TS.Nguyễn Tiến Thắng

TS DS Trần Văn Bảo

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN KHOA QUẢN LÝ CHUYÊN NGÀNH

(Họ tên và chữ ký) (Họ tên và chữ ký)

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài này do chính tôi thực hiện, đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Những thông tin tham khảo trong luận văn đều được trích dẫn cụ thể nguồn sử dụng Các kết quả nghiên cứu trong luận văn do tôi tự thực hiện, phân tích một cách trung thực, khách quan và phù hợp với thực tiễn Các kết quả này chưa từng được công bố trong bất kỳ nghiên cứu nào khác

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 27 tháng 08 năm 2017

Học viên thực hiện luận văn

Vũ Trần Duy

Trang 6

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp của mình, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến tập thể giảng viên Khoa Công nghệ sinh học – Thực phẩm – Môi trường, trường đại học Công nghệ thành phố Hồ Chí Minh đã hết lòng tận tình chỉ dạy, truyền đạt kiến thức cho tôi trong suốt qúa trình học tập tại trường thời gian qua

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS TS Nguyễn Tiến Thắng

và TS DS Trần Văn Bảo – người đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình giúp đỡ và động viên cá nhân tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp này Với những kiến thức này làm nền tảng cho chúng tôi vận dụng vào công việc và cuộc sống

Xin chân thành cảm ơn sự hỗ trợ, giúp đỡ, động viên của toàn thể gia đình, bạn

bè trong suốt quá trình hoàn thành luận văn, cũng như trong suốt quá trình học tập vừa qua

Vì thời gian hạn hẹp và vốn kiến thức còn hạn chế nên cuốn báo cáo này sẽ không thể tránh những thiếu sót Rất mong sự chỉ bảo và đóng góp của quý thầy cô và các bạn để cuốn báo cáo này hoàn thiện hơn

Xin kính chúc quý Thầy, Cô sức khỏe và thành công trong sự nghiệp đào tạo những thế hệ tri thức tiếp theo trong tương lai

Một lần nữa xin chân thành cảm ơn!

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 15 tháng 07 năm 2017

Học viên thực hiện luận văn

Vũ Trần Duy

Trang 7

TÓM TẮT

Hiện nay máu và các chế phẩm máu được sử dụng ngày càng nhiều Trong các chế phẩm máu thì khối tiểu cầu (KTC) được sử dụng phổ biến Hiệu quả truyền tiểu cầu trên bệnh nhân phụ thuộc nhiều vào chất lượng khối tiểu cầu Vì vậy tiến hành nghiên cứu đánh giá chất lượng chế phẩm KTC được sản xuất tại bệnh viện Chợ Rẫy theo hai phương pháp Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 40 KTC điều chế từ máu toàn phần bằng phương pháp Buffy‐coat và 160 KTC gạn tách từ máy tách

tế bào tự động tại bệnh viện Chợ Rẫy; phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang, tiến cứu in vitro tại 1, 3, 5 ngày lưu trữ Kết quả và kết luận:

 Khối tiểu cầu (KTC) điều chế từ đơn vị máu toàn phần và KTC gạn tách từ người hiến máu bằng máy tách tế bào tự động đạt tiêu chuẩn chất lượng Việt Nam tại thông tư 26/2013/TT-BYT hướng dẫn hoạt động truyền máu

 Các thay đổi về các chỉ số huyết học và sinh hoá của KTC: Số lượng tiểu cầu, nồng độ glucose giảm và có mối tương quan thuận với sự thay đổi của chỉ số pH KTC theo ngày bảo quản Độ pH giảm tuy nhiên vẫn trong giới hạn cho phép Nồng độ LDH, ion Ca TP, K+, Na+ tăng theo ngày bảo quản

Trang 8

ABSTRACT

Nowadays, blood and blood products are more useful Especially, the platelet concentrates is commonly used Efficiency of platelet transfusions depends on plateletconcentrate„s quality Therefore, we conducted a study to evaluate the quality of platelet concentrate manufactured at Cho Ray Hospital Study design and methods: 40 units Buffycoat platelets and 160 units platelet concentrate separated from donor‟s bloodbyautomated cell separator (plateletpheresis) at Cho Ray Hospital Research method cross-sectional study, prospective study in vitro buffycoat platelets function after storage at 1, 3, 5 day Result and conclusion:

 The platelet concentrate separated from donor‟s whole blood and by automatic cell separators (plateletpheresis) achieved Vietnam‟s standard quality according to Circular No 26/2013 / TT-BYT (guidelines for blood transfusion operation)

 Some hematology, biochemical indexes of platelet concentrates were changed: decreasing number of platelets,Concentration of glucose during preserving time pH was decreased within limits, Concentration of LDH, ion Ca TP, K+, Na+ Increase by day of storage

Trang 10

MỞ ĐẦU

Truyền máu là một liệu pháp điều trị rất có hiệu quả trong nhiều bệnh lý và đã góp phần hỗ trợ quan trọng trong điều trị và bảo vệ sức khoẻ cộng đồng Do đó truyền máu cần phải được sử dụng đúng, hợp lý để phát huy tối đa hiệu quả và hạn chế tai biến truyền máu Nguyên tắc cơ bản của truyền máu hiện đại là chỉ truyền các thành phần máu mà người bệnh cần Với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật và sự hiểu biết đầy

đủ về mặt miễn dịch học, người ta đã có thể tách riêng từng thành phần của máu: hồng cầu (HC), tiểu cầu (TC), bạch cầu (BC) hạt trung tính, huyết tương tươi, tủa lạnh yếu tố VIII, các yếu tố đông máu,… Việc sử dụng các chế phẩm vừa mang lại hiệu quả về lợi ích kinh tế cho bệnh nhân (BN) vừa truyền đúng thành phần mà cơ thể thiếu giúp tránh lãng phí và hạn chế được tai biến xảy ra trong truyền máu

Trong các dạng chế phẩm máu thành phần, chế phẩm TC được sử dụng nhiều để truyền cho những BN cần truyền TC Bởi TC đóng vai trò quan trọng trong tất cả các giai đoạn đông cầm máu và góp phần vào quá trình làm lành vết thương Sự khiếm khuyết của TC về số lượng hay chất lượng đều có thể đưa đến các phản ứng với các mức độ từ nhẹ đến nặng khác nhau, hoặc không hiệu quả nhiều khi đe dọa đến tính mạng của BN (xuất huyết não, đường tiêu hóa, thận, ) Truyền khối tiểu cầu (KTC) là một liệu pháp điều trị thay thế quan trọng giúp BN tạm thời có đủ số lượng TC cần thiết để ngăn chặn quá trình chảy máu Với sự hiểu biết về tầm quan trọng của việc truyền máu theo đúng các thành phần thì một yêu cầu đưa ra cho các Trung tâm truyền máu là phải cung cấp đầy đủ về số lượng và đảm bảo chất lượng của KTC cung cấp cho BN

Ngoài sản xuất TC theo các phương pháp truyền thống từ các túi máu toàn phần hiện nay có khá nhiều các hãng sản xuất máy chiết tách TC tự động từ một người cho như: Haemonetic, Nigale, Trima,… phần nào đáp ứng được nhu cầu sử dụng ngày càng tăng trên thế giới cũng như ở Việt Nam Việc đánh giá chất lượng của mỗi loại KTC cũng có những tiêu chuẩn khác nhau Có những yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng TC

Trang 11

như người hiến máu, quá trình điều chế, điều kiện bảo quản Việc đánh giá được chất lượng TC được sản xuất từ máu toàn phần và từ người hiến TC trên máy tự động sẽ giúp các thầy thuốc lâm sàng cho chỉ định chính xác, phù hợp với nhu cầu sử dụng của

BN, cũng góp phần làm tăng hiệu quả điều trị và tiết kiệm chi phí cho BN Vì vậy thí

nghiệm được tiến hành nghiên cứu đề tài: “ĐÁNH GIÁ CHẤT LƢỢNG TIỂU CẦU ĐƢỢC SẢN XUẤT TỪ MÁU TOÀN PHẦN VÀ TIỂU CẦU CHIẾT TÁCH TRÊN MÁY TÁCH TẾ BÀO TỰ ĐỘNG TẠI BỆNH VIỆN CHỢ RẪY” nhằm hai

Trang 12

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Đặc điểm và chức năng của tiểu cầu (TC)

Tiểu cầu là một trong những tế bào (TB) máu có kích thước nhỏ, đường kính TC

3 – 4 µm, số lượng trong máu ngoại vi khoảng từ 150 – 400x109/L máu TC đóng vai trò quan trọng trong cơ chế đông máu, nhất là giai đoạn cầm máu ban đầu

1.1.1 Nguồn gốc và đặc điểm sinh sản của tiểu cầu

1.1.1.1 Nguồn gốc

Một vài mẫu TC được tìm thấy trong túi noãn hoàng vào tuần thứ 6 – 7 của thai

kỳ Sau đó chúng phát triển trong gan, lách và cuối cùng là ở tủy xương vào tuần 13

TC được hình thành từ sự vỡ ra của bào tương các mẫu TC theo cơ chế nội phân bào Tuần hoàn mao mạch phổi cũng là nơi phóng thích TC từ những mẫu TC trưởng thành

đã đi vào vòng tuần hoàn Một giả thuyết khác lại cho rằng TB mẫu TC duỗi dài một

phần bào tương sau đó chít hẹp lại từng đoạn và tách ra để tạo nên các TC (Bertolini et

al, 1993)

1.1.1.2 Yếu tố điều hòa sinh tiểu cầu

Theo nghiên cứu của Bertolini và cộng sự (1993) có rất nhiều cytokine tham gia vào việc điều hòa quá trình sinh TC, các chất này có thể tác động vào nhiều giai đoạn như tăng sinh, trưởng thành của mẫu TC và sự tạo thành TC Các cytokine có thể được

chia thành 4 nhóm chính dựa theo hoạt tính sinh học như sau:

 Nhóm tác động ở giai đoạn sớm: SCF (Stem cell factor), LIF (Leukemic inhibitory factor), IL-6, IL-11 Trong đó, SCF có tác động làm tăng sinh mẫu TC; LIF, IL-6 và IL-11 làm mẫu TC trưởng thành biểu hiện ở tăng kích thước TB, tăng sự phân múi của nhân

 Nhóm có tác động nhiều dòng: IL-3, GM-CSF (Granulo – mono colony stimulating factor), cả hai chất này đều có tác động kích thích sự tạo dòng mẫu TC, nhưng riêng IL-3 có tác dụng mạnh hơn

Trang 13

 Nhóm tác động ở giai đoạn muộn: erythropoietin (EPO), thrombopoietin (TPO) Trong đó, EPO có tác động trong quá trình trưởng thành của mẫu TC TPO có nguồn gốc từ gan; có 2 vai trò quan trọng: kích thích tăng sinh số lượng các mẫu TC, kích thích tăng tốc độ trưởng thành bào tương của mẫu TC (AABB, 1997) và tốc độ giải phóng của TC Hiện nay nhiều công trình đã nghiên cứu việc sử dụng TPO điều trị cho các BN giảm TC như là một biện pháp thay thế

 Nhóm có tác động ức chế: IL-4, interferon (IFN), TGF (Transforming growth factor), yếu tố TC 4 (PF-4) và thromboglobulin (TG) Trong nhóm này, PF-4, TG có nguồn gốc từ TC và IL-4, IFN có nguồn gốc từ ngoài TC Các chất này có tác động ức chế quá trình nội gián phân của mẫu TC

1.1.1.3 Đặc điểm sinh sản của tiểu cầu

Quá trình sinh TC là quá trình sinh sản và biệt hóa từ TB gốc vạn năng theo sơ

đồ sau:

Hình 1.1 Sơ đồ sinh tiểu cầu

(HSC: hemopoietic stem cells, MTC: mẫu tiểu cầu, TC: tiểu cầu)

Quá trình này diễn ra trong một vi môi trường phức tạp của tủy xương Mẫu TC

là TB đầu dòng của TC và là TB máu lớn nhất trong các TB máu ở tuỷ xương với nhân

to và chia nhiều múi, bào tương rộng chứa nhiều nhóm hạt, mỗi nhóm có khoảng 10 –

12 hạt ái kiềm Tủy xương có thể tái tạo 108 mẫu TC mỗi ngày Mỗi mẫu TC có thể

sinh được từ 1.000 đến 5.000 TC (Nguyễn Trường Sơn, 2000; Bertolini et al, 1993)

TC

Tiểu cầu

Trang 14

Thời gian sống của TC trung bình từ 8 – 12 ngày Sự thay đổi của TC gắn liền với sự lão hoá Tuy nhiên có một phần nhỏ TC có tình trạng tiêu huỷ ngẫu nhiên, đó là các TC tham gia vào quá trình đông máu sinh lý Nhìn chung khoảng 10% TC chết và được thay thế mỗi ngày

1.1.2 Hình thái và cấu trúc tiểu cầu

TC mang hình ảnh là các mảnh TB nhỏ, hình dạng không nhất định, thường là dạng hình đĩa, không nhân, đường kính 2 – 4 µm và thể tích khoảng 6 – 7 fl Ở trạng thái nghỉ, bề mặt TC trơn nhẵn; khi được hoạt hóa chúng sẽ nhanh chóng tạo ra các giả túc hình gai

Hình 1.2 Cấu trúc tiểu cầu

Dưới kính hiển vi quang học TC có một siêu cấu trúc phức tạp gồm lớp màng, các hạt, hệ thống vi ống, hệ thống các kinh mở và được chia thành các vùng sau:

Vùng ngoại vi: là màng TB có nhiều chỗ lõm rất sâu, màng gồm 3 lớp:

 Màng bào tương: màng này được cấu tạo bởi ba lá, hai lá ngoài có bản chất là phospholipid, còn lá giữa chứa cholesterol, glycolipid và glycoprotein Lớp màng này còn chứa bơm Na+/K+ -ATPase đóng vai trò kiểm soát môi trường ion của TC (Nguyễn Trường Sơn, 2000) Phospholipid là nguồn của các chất trung gian hoạt hoá TC và hỗ trợ cho cơ chế đông máu Các glycoprotein màng đóng vai trò như các thụ thể bề mặt

Trang 15

Bảng 1.1 Các thụ thể bề mặt chính của tiểu cầu

Glycoprotein thụ thể Chức năng/ chất liên kết

GPIIb/IIIa Thụ thể của fibrinogen, vWF, fibronectin

 Hệ thống ống dẫn đậm đặc: hệ thống ống dẫn đậm đặc tương đương với lưới cơ tương của cơ trơn Đó là nơi chính dự trữ calciumion hoá mà các chuyển động nội bào tương đương của nó kiểm soát sự hoạt hoá TC Nó có sự liên quan mật thiết với hệ thống ống dẫn bề mặt

Bào tương

Ở trạng bình thường, TC có dạng đĩa được bao quanh bởi một vòng các vi ống tạo thành một hệ ống đa trùng hợp đóng vai trò bộ khung TB đó là sườn vi ống Trong quá trình hoạt hoá TC, hệ vi ống tự giải trùng hợp và TC thay đổi hình dạng Hiện tượng tương tự xảy ra khi TC ở trong môi trường có chất loại bỏ calcium mạnh như EDTA TC có chứa nhiều protein cơ giúp TC thay đổi hình dạng, mọc giả túc, di động

và tiết các hạt Hai protein chính của hệ thống co rút là actin và myoisin và cũng có một hệ thống điều hoà phức hợp liên quan đến nhiều protein khác

Các hạt nội TC: phân biệt 3 loại hạt TC: hạt đậm đặc, hạt α và các hạt tiêu thể

 Các hạt đậm đặc: thường ít, số lượng từ 1 đến 10/TC, tương tự hệ thống ống đậm đặc chúng có chứa các calci cũng như serotonin và các hạt nucleotid Các hạt nucleotid đại diện là ATP, và nhất là ADP ADP và serotonin là các chất trung gian

Trang 16

hoạt hoá TC, hơn nữa serotonin có tác động trên tính vận mạch Cuối cùng ATP và ADP khác với các nucleotid bào tương không thể được tiết ra và là nguồn chuyển hoá của TC

 Các hạt α: loại hạt chiếm tỷ lệ cao nhất trong TC, mỗi TC có khoảng 50 – 80 hạt α, hạt này chứa một lượng phong phú các protein đóng nhiều vai trò khác nhau trong quá trình cầm máu, đông máu và sự lành vết thương (phục lục 1) (Nguyễn Trường Sơn, 2000)

 Các hạt tiêu thể: các tiêu thể TC chứa nhiều enzyme Sự tiết các thành phần của chúng cho thấy sự hoạt hoá TC tối đa Các enzyme được phóng thích từ lúc đó dễ làm tổn thương thành mạch

1.1.3 Đặc tính chính của tiểu cầu

1.1.3.1 Khả năng hấp phụ và vận chuyển các chất

TC có khả năng hấp phụ các chất trong huyết tương để tạo ra một lớp khí quyển bao xung quanh Nhờ đó các chất thiết yếu cho quá trình cầm máu nói chung và đông máu nói riêng được vận chuyển đến những nơi cần thiết

Ví dụ như TC có khả năng hấp thụ adrenalin, noradrenalin và các yếu tố đông máu của huyết tương

1.1.3.2 Khả năng kết dính của TC

TC có khả năng dãn ra và dính vào một số bề mặt Trong cơ thể thì TC không dính vào lớp TB nội mạc nhưng lại có thể dính rất nhanh với tổ chức dưới nội mạc, đặc biệt là với collagen Dính là sự khởi đầu cho sự bài tiết phóng thích các chất hoạt động,

là hiện tượng vật lý do lực hút tĩnh điện giữa TC với cơ chất TC còn có thể dính vào các bề mặt lạ như thuỷ tinh, lam kính, Các thành phần tham gia vào hiện tượng dính:

 Collagen: là chất quan trọng để TC bám dính, kích thích TC ngưng tập Collagen tồn tại ở vùng gian bào mạch máu

 GPIb: giúp cho hoạt động của chức năng dính

 vWF: gắn với TC qua GPIb như cầu nối TC với một lớp nội mô bị tổn thương

Trang 17

 Các yếu tố khác bao gồm: fibronectin, thrombospondin, ion Ca2+

Cơ chế gây ngưng tập phải qua trung gian liên kết của fibrinogen với GPIIb/IIIa

đã được hoạt hoá có mặt ở lớp ngoài bào tương Fibrinogen được xem như cầu nối những GPIIb/IIIa của các TC với nhau và do đó tạo ra được sự ngưng tập của TC Điều kiện để TC ngưng tập phải là màng TC phải nguyên vẹn không bị tổn thương và có mặt một số yếu tố huyết tương, đặc biệt là fibrinogen

1.1.3.4 Khả năng thay đổi hình dạng và phóng thích các chất

Khi được hoạt hóa (sau khi kết dính), TC có khả năng thay đổi hình dạng và bài xuất ra các chất

1.1.4 Sinh hoá của tiểu cầu

TC được tạo ra từ sự phân mảnh của bào tương mẫu TC Các TC không có nhân, vì vậy chúng không tổng hợp protein Hai quá trình chuyển hoá chính của TC lúc nghỉ là sự ly giải đường hay glycogen và sự phosphoryl hoá Các quá trình này tăng lên

rõ rệt khi TC bị hoạt hoá, ngoài ra các quá trình sinh hoá khác cũng xảy ra khi TC bị kích thích như sự dịch chuyển của ion calci, sự phosphoryl hoá protein, sự giải phóng các arachidonate,…

1.1.4.1 Chuyển hoá của TC khi nghỉ ngơi

TC sử dụng năng lượng từ ATP, chất này có thể được thành lập qua sự thoái giáng của glucose, acid béo, acid amin từ huyết tương hay môi trường nuôi dưỡng và

từ glycogen của TC (Nguyễn Trường Sơn, 2000)

Trang 18

 Chuyển hoá Carbohydrate của TC

Sự ly giải glucose và glycogen là con đường chuyển hoá chính của TC để tạo năng lượng Quá trình này phụ thuộc vào nồng độ glucose ngoại bào và oxy

Sự ly giải đường yếm khí là quá trình chuyển hoá glucose-6-phosphate thành lactate, glucose-6-phosphate được hình thành từ 2 đường: (1) sự phosphoryl hoá của glucose được vận chuyển qua màng TC bởi hexokinase và (2) được chuyển hoá từ glucose-1-phosphate, sản phẩm ly giải từ glycogen Glucose-6-phosphate cũng được chuyển hoá bởi con đường hexose monophosphate, quá trình này tạo thành CO2 và NADPH, chất này được dùng để tổng hợp acid béo (Nguyễn Trường Sơn, 2000) Sự ly giải đường trong điều kiện ái khí sẽ tạo ra pyruvate, chất này bị oxy hoá thành CO2 và

H2O ở trong ty thể của TC Enzyme đầu tiên của quá trình này là pyruvate dehydrogenase đóng vai trò trung tâm trong hiệu ứng Crabtree, Pasteur và đóng vai trò quan trọng trong sự biến đổi số lượng ATP được tạo thành bởi sự oxy – phosphoryl hoá trong điều kiện khác nhau của số lượng và phương cách phân lập TC

 Chuyển hoá lipid của TC

Acid béo được biến đổi thành acyl CoA qua enzyme acyl CoA synthetase, nhóm acyl được ester hoá tạo thành acid lipophosphatidic và sau đó tạo thành acid phosphatidic Chất này được dephosphoryl hoá tạo thành diglycerid Diglycerid là tiền chất của nhóm diacyl – glycerol trong thành phần của các phospholipid như phosphatidyl cholin, phosphatidyl ethanolamin và phosphatidyl serine

Các acid arachidonic được giải phóng từ glycerophospholipid Dưới tác dụng của các enzyme cyclo – oxygenase và lipooxygenase, acid arachidonic tự do sẽ chuyển hoá thành các sản phẩm eicosanoid Các sản phẩm này có thể là chất ức chế hay kích thích mạnh đối với TC

Trang 19

Hình 1.3 Chuyển hóa của acid arachidonic

Trong TC một phần nhỏ PGH2, sản phẩm của sự tương tác cyclooxygenase – arachidonate, được chuyển hoá thành các prostaglandin ổn định (PGE2, PGD2, PGFα), trong khi đó phần lớn sản phẩm chuyển thành thromboxane A2 dưới tác dụng của thromboxane synthetase

Qua con đường lipoxygenasse, acid arachidonic được chuyển hoá thành HPETE và 12-HETE

12-1.1.4.2 Hoạt hóa TC

Khi TC đến khu vực mạch máu bị tổn thương, chúng được kích hoạt bởi một loạt chất chủ vận bao gồm ADP, thrombin, thromboxanes,… tương tác với các thụ thể xuyên màng Kết quả cho phép kích hoạt các enzyme tham gia vào chuyển hóa, đặc biệt phosphatidyninositol 3-kinase và phospholipase C Kết quả quá trình hoạt động chuyển hóa trong nồng độ cao của Ca++ bào tương và phosphoryl hóa các protein bề mặt mang lại thay đổi hình dạng TC, giải phóng các chất trong hạt α và hạt đặc, kích thích phospholipase A2 và giải phóng thromboxan A2 (TXA2), cảm ứng một bề mặt gây đông máu và kích hoạt thụ thể GPIIb/IIIa

Trang 20

TXA2 được tổng hợp bởi TC kích hoạt từ acid arachidonic thông qua con đường cyclooxygennase (COX), sau khi hình thành TXA2 khuếch tán qua màng TB và kích hoạt TC khác Ở các TC TXA2 liên kết với các thụ thể G-protein (Gq, G12, hoặc G13) tất

cả đều kích hoạt phospholipase C (PLC) Enzyme này chuyển hóa phosphoinositide màng, ví dụ biphosphate 4,5 phosphatidylinositol (PIP2) thành tín hiệu truyền tin thứ hai inositoltriphosphate (IP3) và diacylglycerol (DAG) DAG gây kích hoạt protein kinase C nội TB (PKC) gây phosphoryl hóa protein IP3 làm tăng nồng độ Ca++ từ hệ thống ống đậm đặc vào bào tương

ADP được giải phóng từ TC và HC, TC trình diện ít nhất hai thụ thể của ADP là P2Y1 và P2Y12 chúng kết cặp với Gq và Gi tương ứng Hoạt hóa của P2Y12 ức chế adenylate cyclase làm giảm AMP vòng (cAMP: Cyclic adenosine monophosphate), hoạt hóa P2Y1 là nguyên nhân của sự gia tăng Ca++ nội bào Thụ thể P2Y12 là thụ thể chính để khuếch đại và duy trì hoạt hóa của TC đáp ứng với ADP

Thrombin nhanh chóng được tạo ra tại các điểm tổn thương của mạch máu từ protrombin lưu hành, là trung gian tạo fibrin, đại diện cho khả năng mạnh nhất của TC hoạt hóa

1.1.4.3 Ức chế TC

Kích hoạt TC được tạo ra bởi quá trình sinh hóa, để suy yếu hoặc ngăn chặn nó, chất sinh lý tối quan trọng là cAMP, nó được sản xuất trong TC là kết quả của một tín hiệu ngoại bào mà một phần lớn có nguồn gốc ngoài TC (ví dụ TB nội mô sản xuất PGI2) cGMP (cyclic guanosine monophosphate) là chất truyền tin thứ hai ức chế TC

 cGMP: TC có chứa guanylyl cyclase, nó hoạt động sau khi TC hoạt hóa, chuyển GTP thành cGMP Kích hoạt sinh lý của guanylyl cyclase là do acid béo không bão hòa nguồn gốc từ TC bao gồm cả acid arachidonic hoặc có thể bởi các phân tử khác có nguồn gốc từ các mạch máu EDRF ức chế chất chủ vận gây ra kích hoạt TC, thông qua kích hoạt chọn lọc của guanylyl cyclase TC Trong điều kiện sinh lý cGMP làm giảm các phản ứng của TC với chất chủ vận

Trang 21

 cAMP: tổng hợp của nó được điều tiết bởi adenylyl cyclase cAMP ức chế TC bằng nhiều cách, có thể ảnh hưởng tới cả hai khởi đầu và duy trì một phản ứng kích thích Nhiều bước riêng lẻ trong con đường chuyển tải tín hiệu ban đầu của chất chủ vận bị ảnh hưởng bởi cAMP cAMP làm giảm liên kết thrombin tới TC, điều này ức chế hình thành một tín hiệu phức tạp cAMP ức chế PLC, ảnh hưởng đến tín hiệu DG

để kích hoạt PKC làm tăng chuyển hóa của nó tới phosphoinositides nó cũng ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của PKC Quan trọng nhất cAMP đối kháng Ca++ thông qua sự đa dạng các cơ chế, ảnh hưởng đến giải phóng và hấp thu của Ca++ từ hệ thống ống đậm đặc của TC

Kích hoạt của TC là một mạng lưới phức tạp của các quá trình sinh hóa phụ thuộc lẫn nhau, có chức năng tạo một nút TC tại vị trí của mạch máu bị tổn thương Sự cân bằng giữa kích hoạt và ức chế TC được xác định bằng sự phối hợp dẫn truyền của các tín hiệu ngoại bào thông qua các con đường liên hệ với nhau trong TB và các tín hiệu thứ hai

1.1.5 Miễn dịch tiểu cầu

1.1.5.1 Các kháng nguyên tiểu cầu

Glycoprotein (GP) của TC: là thành phần chủ yếu của màng TC và đóng một vai trò quan trọng trong các chức năng của TC Cho đến nay người ta đã xác định có ít nhất 50 loại GP khác nhau, tuy vậy chỉ có khoảng 12GP được nghiên cứu kỹ lưỡng về tính KN

Về cấu trúc các GP này có sự khác nhau: 4 GP (Ib, Ic, IIb, αv) bao gồm một tiểu đơn vị lớn (chuỗi nặng) gắn đồng hóa trị với một tiểu đơn vị nhỏ (chuỗi nhẹ) bằng các cầu nối disulfua; 3 GP (Ia, IIa, IIIa) bao gồm một chuỗi polypeptide và nhiều cầu nối disulfua nội chuỗi: 5GP (IV, V, IX, chuỗi nặng HLA, β2-microglobulin) có một chuỗi polypeptide đơn

Trang 22

1.1.5.2 Di truyển Kháng nguyên của tiểu cầu

KN đầu tiên được Moulinier phát hiện năm 1957 Phần lớn các KN này được biểu hiện trên các phân tử dính thuộc họ Integrin Các KN biểu hiện trên integrinβ3 (GP IIIa) cũng được xác định trên bề mặt TB nội mô, TB cơ trơn và TB sợi Các KN biểu hiện trên integrinα2 (GP Ia) cũng được tìm thấy trên TB lympho T hoạt hóa và TB nội

mô Ngược lại, các KN định vị trên integrin αIIb và trên GP Ibα và GP Ib β (thuộc nhóm

GP giàu leucin) thì thật sự đặc hiệu cho TC Các KN này đóng vai trò rất quan trọng

trong sinh bệnh học của bệnh xuất huyết giảm TC do nguyên nhân miễn dịch (Cesar et al., 1994) Cho đến nay người ta đã phát hiện nhiều KN đặc hiệu cho TC (phụ lục 2)

1.1.5.3 Kháng nguyên khác của tiểu cầu

Các KN khác của TC được chia ra làm hai nhóm chính: các KN hệ ABH và các

KN hệ HLA

Các KN nhóm máu: TC biểu hiện các KN nhóm máu ABH, P, Ii và Lewis

Tuy nhiên sự biểu hiện các KN này trên TC không mạnh mẽ và thường xuyên như trên

HC Một số KN được sản xuất nội sinh trong TC (ABH, Ii, P), một số được hấp phụ từ huyết tương (Lewis, ABH)

Các KN hệ HLA: TC chỉ biểu hiện các KN HLA lớp 1 (Ali et al., 1994) Các

phân tử HLA lớp 1 trên TC về số lượng tương đối giống như trên các TB lymphocyte Các phân tử này có nguồn gốc nội sinh do chính bản thân TC tổng hợp thành, tuy vậy một số tác giả khác cho là TC có thể hấp phụ một số phân tử HLA từ huyết tương một cách thụ động Sự biểu hiện các phân tử HLA trên TC của mỗi cá thể có thể thay đổi khác nhau và các KN HLA-C đều biểu hiện rất kém trên TC (Nguyễn Trường Sơn, 2000)

Trang 23

1.2 Sơ lược về tình hình sử dụng và các phương pháp sản xuất tiểu cầu trên thế giới và tại Việt Nam

1.2.1 Tình hình sử dụng tiểu cầu

Việc bảo quản KTC được bắt đầu từ những năm đầu của thập niên 50, Minor và Burnett đã dùng chai thuỷ tinh tráng silicon để chứa máu và tránh các TC bám dính, việc sản xuất KTC lúc này vẫn theo hệ thống hở Walter và Murphy đã sử dụng túi nhựa chứa máu bằng PVC giúp cho việc lưu trữ và ly tâm tách các thành phần máu được dễ dàng Từ thập niên 70, việc sản xuất KTC được dựa trên hệ thống kín với hệ thống 3 hay 4 túi chất dẻo được làm bằng tay hay máy tách TB máu bán tự động Hiện nay, các nước tiên tiến đã áp dụng các loại máy tách TB máu tự động giúp cho việc thu

thập được một SLTC lớn từ một người cho máu (Murphy et al., 1996)

Ở nước ta, việc sản xuất KTC đậm đặc được bắt đầu từ năm 1994 tại Viện huyết học truyền máu và theo quy trình hở Hiện nay ở các Trung tâm truyền máu và Trung tâm truyền máu bệnh viện Chợ Rẫy đã có máy tách TB máu tự động, nhu cầu sử dụng

TC chiết từ máy ngày càng cao hơn (Hà Thị Anh, 2009; Đỗ Trung Phấn, 2006) Số lượng kit TC sản xuất từ máy tự động trung bình một năm tại bệnh viện Chợ Rẫy là 11.000 đơn vị năm 2015 tăng lên 15.000 năm 2016 và đến tháng 6 năm nay lượng TC sản xuất cung cấp cho nhu cầu truyền máu của bệnh viện Chợ Rẫy và các bệnh viện trong năm tỉnh miền Đông Nam Bộ tăng lên đáng kể (8.000 đơn vị) Đặc biệt vào các thời điểm dịch bệnh sốt xuất huyết, viêm não Nhật Bản lượng TC sử dụng tăng lên rất nhiều Trung tâm truyền máu Chợ Rẫy và bệnh viện Huyết học truyền máu thành phố

là hai nơi cung cấp lượng TC chính cho khu vực phía Nam

1.2.2 Các phương pháp sản xuất khối tiểu cầu

1.2.2.1 Ly tâm điều chế các chế phẩm tiểu cầu

Ly tâm là phương pháp thông dụng để điều chế các chế phẩm máu Việc lựa chọn các chế độ ly tâm tuỳ theo mục đích điều chế và yêu cầu đặc tính các thành phẩm được điều chế Việc lựa chọn bước ly tâm đầu tiên quyết định loại chế phẩm được điều chế trong các bước sau cũng như ảnh hưởng đến các đặc tính chính của chế

Trang 24

phẩm (Trần Văn Bé, 1999; Loos et al., 1997)

Vận tốc di chuyển của các TB tuân theo công thức của Svedberg:

HC, bạch cầu hạt, lymphocyte, monocyte, TC và huyết tương (Loos et al., 1997)

Khi trạng thái cân bằng tỉ trọng nổi không đạt được, sự tách các thành phần máu được xác định bởi sự khác biệt giữa tốc độ lắng của các TB và tốc độ hướng tâm của dòng huyết tương, chủ yếu là do sự thay thế huyết tương bởi một lượng lớn HC đang lắng xuống Tốc độ lắng được xác lập bởi bình phương bán kính TB, TC có bán kính

đủ nhỏ để cho phép chúng có một chuyển động theo dòng chảy hướng tâm của huyết

tương (Loos et al., 1997; Murphy et al., 1996)

1.2.2.2 Sản xuất KTC từ huyết tương giàu tiểu cầu (HTGTC)

Phương pháp HTGTC được sử dụng đầu tiên vào thập kỷ 60 và cho đến nay vẫn được áp dụng rộng rãi tại Bắc Mỹ và một phần Châu Âu HTGTC có thể được tách bởi một lần ly tâm nhẹ, sau đó HTGTC được ly tâm mạnh lần thứ hai để tách được huyết tương nghèo tiểu cầu và KTC bị vón lại ở đáy túi Sau khi để ở nhiệt độ 20 – 24oC từ

60 – 120 phút, KTC có thể được sử dụng cho BN hay được bảo quản Để tách được tiểu cầu, tốc độ và thời gian ly tâm cần được tính toán sao cho đạt hiệu xuất cao nhất

mà vẫn duy trì được sự sống và chức năng của TC (Murphy et al., 1996)

Phương pháp HTGTC có ưu điểm là không bị mất HC trong quá trình sản xuất

do đó đảm bảo số lượng HC sử dụng cho người nhận, đạt hiệu suất tách TC cao từ 60 –

70% (Murphy et al., 1996) Tuy nhiên phương pháp này cũng có các nhược điểm là

Trang 25

giảm hiệu suất thu thập huyết tương Số lượng BC còn trong KTC cao hơn so với phương pháp buffy coat Một phần lớn BC nằm trong khối HC vì vậy ảnh hưởng tới việc bảo quản khối HC do các chất phóng thích từ BC và thời gian sản xuất lâu hơn (Rebulla, 1998)

1.2.2.3 Điều chế khối tiểu cầu từ lớp buffy coat

KTC điều chế theo phương pháp buffy coat từ những năm đầu thập kỷ 70 của thế kỷ XX Khi các nhà khoa học nhận thức được vai trò bất lợi của các bạch cầu còn

dư lại sau khi điều chế các chế phẩm máu (Murphy et al., 1996) Đơn vị máu toàn

phần lưu trữ không quá 24 giờ ở nhiệt độ 20 – 24oC, ly tâm mạnh để TC lắng chủ yếu ở lớp buffy coat cùng với bạch cầu Lớp buffy coat được tách ra tiếp tục xử lý để

có một KTC Lớp buffy coat được ly tâm nhẹ HC, bạch cầu lắng ở đáy túi, TC ở phía trên với plasma được tách ra Các nhà khoa học đã có nhiều cải tiến kỹ thuật nhằm đạt hiệu suất tách TC cao và loại bỏ càng nhiều bạch cầu càng tốt khi điều chế Phương pháp buffy coat có những ưu điểm là hiệu quả loại bỏ bạch cầu cao hơn, các TC được điều chế không bị vón cục sau lần ly tâm thứ nhất, do đó chúng không bị hoạt hoá trong quá trình bảo quản Tuy nhiên phương pháp này cũng bộc lộ nhược điểm như mất một lượng HC trong quá trình điều chế, về hiệu suất tách TC, phương pháp buffy coat thường đạt hiệu suất thấp hơn so với phương pháp huyết tương giàu tiểu cầu

Ứng dụng: KTC pool là KTC tiếp nhận từ 4 – 6 người hiến máu toàn phần

Khối tiểu cầu này có thể được điều chế trực tiếp từ buffy coat (đây là phương pháp hay được lựa chọn), thường 4 – 6 buffy coat tương thích nhóm máu được gộp lại một cách

vô trùng, sau đó ly tâm nhẹ, tiểu cầu được chuyển vào một túi bảo quản phù hợp Điều chế từ các túi tiểu cầu đơn: 4 – 6 đơn vị (ĐV) khối tiểu cầu đơn chuẩn bị bằng phương pháp huyết tương giàu tiểu cầu gộp lại Bảo quản tối đa 5 ngày, khi pool trong hệ thống

hở phải sử dụng trước 6 giờ

Trang 26

1.2.2.4 Gạn tách khối tiểu cầu bằng máy tách tiểu cầu tự động

Apheresis là một thuật ngữ Hy-lạp có ý nghĩa là gạn tách Máy gạn tách thành phần máu sẽ lấy máu ra khỏi cơ thể, trộn với chất chống đông và đưa vào hệ thống ly tâm, phân tách ra các lớp và gạn tách thành phần theo yêu cầu và trả lại cơ thể các thành phần còn lại một cách tự động dựa trên phần mềm của máy tách tự động đã được lập trình (Harmening Denise M.(ASCP), 2005) Các thành phần được phân tách và thu hồi gồm: HC, huyết tương, TC, BC

Căn cứ vào kỹ thuật ly tâm dòng chảy liên tục hay không người ta phân thành hai loại máy:

 Máy sử dụng kỹ thuật ly tâm dòng chảy không liên tục: máu được xử lý theo nhiều chu kỳ, mỗi chu kỳ hoạt động bao gồm: lấy ra một thể tích máu nhất định, ly tâm phân tách máu ra các thành phần khác nhau (HC, BC, huyết tương,…), lấy ra một thành phần rồi sau đó trả các thành phần còn lại về cho người hiến máu Các chu kỳ lặp lại cho đến khi đạt được lượng thành phần gạn tách theo yêu cầu Những thế hệ máy này có thể lấy máu tại một hoặc hai vị trí tĩnh mạch, tuy nhiên kỹ thuật sử dụng với một vị trí tĩnh mạch thường được áp dụng hơn (Harmening Denise M.(ASCP), 2005) Các loại máy phổ biến như Haemonetic, Nigale,

Hình 1.4 Nguyên lý kỹ thuật ly tâm dòng chảy không liên tục

1.Đường máu vào; 2 Lớp huyết tương; 3.Lớp Buffycoat; 4.Lớp hồng cầu;

5.Đường trả về

 Máy sử dụng kỹ thuật ly tâm dòng chảy liên tục: máy sử dụng kỹ thuật này thực hiện đồng thời liên tục các hoạt động gồm: lấy máu ra từ một vị trí tĩnh mạch, ly tâm

Trang 27

phân tách các thành phần khác nhau, gạn tách một thành phần theo yêu cầu và trả lại các thành phần còn lại về một vị trí tĩnh mạch khác nhờ hệ thống bơm cho từng đường

đi của các thành phần máu Các loại máy phổ biến như Cobe Spectra, Trima, Comtec, Fenwal CS 3000 Plus,…(Harmening Denise M.(ASCP), 2005)

1.2.2.5 Ứng dụng kỹ thuật gạn tách (apheresis) trong gạn tách các thành phần máu bằng máy tách TB tự động

a) Gạn tách khối tiểu cầu (Platelepheresis)

Truyền TC được chỉ định cho BN bị chảy máu hoặc BN tăng yếu tố nguy cơ chảy máu thứ phát do giảm SLTC trong máu hoặc do tiểu cầu mất chức năng Trong trường hợp này có thể truyền TC pool (TC được tách ra từ nhiều ĐV máu toàn phần) hoặc tiểu cầu apheresis Trong chương trình TC apheresis, tách tiểu cầu và một phần huyết tương từ người cho còn hồng cầu, bạch cầu, phần lớn huyết tương sẽ được trả lại người cho, các thành phần tách ra được bảo quản trong túi dẻo đặc biệt Sản lượng của KTC phụ thuộc rất lớn vào SLTC trước gạn tách của người cho, hiện tại tiêu chuẩn SLTC trước cho của người hiến TC lớn hơn hoặc bằng 200x109 TC/l, SLTC trong KTC là 3x1011 đối với đơn vị TC 250 ml, và 6x1011 đối với đơn vị 500 ml, vì được thực hiện trong một chương trình khép kín vì vậy thời gian bảo quản là 5 ngày, nhiệt

độ bảo quản từ 20 – 24oC và phải được lắc liên tục (Hà Hữu Nguyện, 2012), độ pH là 6,4 – 7,4 (Council of Europe Publishing, 2004)

b) Gạn tách huyết tương (Plasmapheresis)

Huyết tương có thể gạn tách bằng phương pháp này, huyết tương sau gạn tách được sử dụng làm huyết tương tươi đông lạnh (fresh frozen plasma: ffp), một số ngân hàng máu còn sử dụng huyết tương này để truyền cho BN và sản xuất các sản phẩm của huyết tương như albumin hay globulin Chương trình này có thể thu được huyết tương miễn dịch để điều trị BN bị ức chế miễn dịch hoặc BN bị nhiễm thủy đậu, herpes (Hà Hữu Nguyện, 2012; Harmening Denise (ASCP), 2005)

Trang 28

c) Gạn tách bạch cầu (Leukopheresis)

Gạn tách BC đa nhân trung tính truyền cho BN giảm BC nặng do nhiễm trùng hoặc điều trị bằng hóa chất Việc thu nhận số lượng lớn BC là cần thiết, tuy nhiên lại gặp một số vấn đề đối với người hiến Trong gạn tách HC, tiểu cầu là dễ hơn vì ta có thể tăng thể tích trong lòng mạch hoặc giảm khả năng tiêu thụ hằng ngày Việc lựa chọn sản phẩm này không phổ biến vì thiếu những dữ liệu ý nghĩa cho việc sử dụng bạch cầu trung tính trong lâm sàng, cộng với những phản ứng phụ có thể xảy ra (Hà Hữu Nguyện, 2012; Harmening Denise (ASCP), 2005)

d) Gạn tách hồng cầu (Erythrocyte apheresis)

Những tiến bộ trong kỹ thuật của gạn tách giúp ta có thể được khối hồng cầu Thông thường người ta thường tiến hành tách một đơn vị khối hồng cầu và một đơn vị huyết tương cho mỗi lần gạn tách Tuy nhiên giá thành của khối hồng cầu được gạn tách bằng phương pháp này còn khá cao so với khối hồng cầu được sản xuất từ túi máu toàn phần (Harmening Denise (ASCP), 2005)

1.3 Bảo quản và sử dụng KTC

Bảo quản KTC là phương pháp nuôi dưỡng TC trong huyết tương hay môi trường nhân tạo, đảm bảo cho tiểu cầu vẫn duy trì được sự sống và các chức năng cần thiết khi truyền vào cơ thể BN Nhiều yếu tố có thể tác động đến việc bảo quản KTC

như nhiệt độ, độ pH, môi trường, phương thức lắc,… (Bode et al., 1994; Holme et al., 1994; Moroff et al., 1994) Các yếu tố này tạo nên sự thay đổi về cấu trúc, sinh hóa và

miễn dịch của các tiểu cầu trong quá trình bảo quản KTC

Chất lượng KTC được đánh giá bằng cách sử dụng các thông số SLTC, thể tích KTC, số lượng HC, BC và độ pH cho mỗi đơn vị KTC Tuy nhiên các chỉ số đánh giá chất lượng KTC phụ thuộc yêu cầu của từng quốc gia (phục lục 4, 5)

Theo tiêu chuẩn của Hiệp hội các ngân hàng máu Hoa Kỳ (AABB), khối tiểu cầu điều chế từ đơn vị máu toàn phần có số lượng tiểu cầu ≥ 5,5x1010 TC/đơn vị, pH ≥ 6,2 tại thời điểm cuối của bảo quản, ít nhất 90% số đơn vị khối tiểu cầu phải đáp ứng yêu cầu

Trang 29

Khối tiểu cầu gạn tách từ người hiến máu bằng máy có số lượng tiểu cầu ≥ 3,0x1011 TC/đơn vị, pH ≥ 6,2 tại thời điểm cuối của bảo quản, ít nhất 90% số đơn vị khối tiểu cầu phải đáp ứng yêu cầu

Tiêu chuẩn chất lƣợng KTC quy định tại thông tƣ 26/2013/TT-BYT cụ thể nhƣ sau:

 KTC điều chế từ đơn vị máu toàn phần

KTC được điều chế từ đơn vị máu toàn phần bảo quản ở nhiệt độ từ 20oC đến

24oC trong 24 giờ kể từ khi lấy máu

Tiêu chuẩn chất lượng:

 Thể tích đơn vị: thể tích từ 40 ml đến 60 ml điều chế từ mỗi đơn vị máu toàn phần có thể tích từ 250 ml trở lên

 Đếm SLTC (số lượng tiểu cầu): có tối thiểu 13 x 109 TC/đv khối tiểu cầu điều chế từ mỗi thể tích 100 ml máu toàn phần Có ít nhất 75% số đơn vị được kiểm tra phải đạt tiêu chuẩn này

 Đếm SLBC (số lượng bạch cầu) trong mỗi đơn vị KTC

+ Ít hơn 0,05 x 109

bạch cầu đối với KTC điều chế bằng phương pháp tách lớp

BC – TC Có ít nhất 75% số đơn vị được kiểm tra phải đạt tiêu chuẩn này

+ Ít hơn 0,2 x 109 bạch cầu đối với KTC điều chế bằng phương pháp huyết tương giàu TC Có ít nhất 75% số đơn vị được kiểm tra phải đạt tiêu chuẩn này

+ Độ pH phải đạt từ 6,4 đến 7,4 khi đo ở 22oC ở cuối thời gian bảo quản

+ Xét nghiệm nuôi cấy phát hiện vi khuẩn phải có kết quả âm tính

Trang 30

 Khối tiểu cầu gạn tách từ người hiến máu

KTC gạn tách là KTC lấy trực tiếp từ người hiến máu bằng máy tách TB tự động

Tiêu chuẩn chất lượng

 Thể tích mỗi đơn vị không dao động quá 15% thể tích ghi trên nhãn

 Mỗi đơn vị KTC gạn tách (250 ml) có SLTC tối thiểu 300 x 109, trong trường hợp KTC gạn tách có thể tích 120 ml đến dưới 250 ml có SLTC tối thiểu 150 x 109

KTC có thể được sản xuất theo qui trình kín hay hở Đối với qui trình kín, KTC

có thể bảo quản đến 5 ngày, trong khi đó KTC chỉ có thể bảo quản 3 ngày khi được sản xuất theo qui trình hở do nguy cơ nhiễm trùng tăng lên (AABB, 1997) Theo Ricardi thì các khối tiểu cầu được sản xuất bằng phương pháp BC hay HTGTC được bảo quản hơn 3 ngày đều làm tăng các phản ứng truyền máu (Nguyễn Trường Sơn, 2000)

Tốc độ và thời gian ly tâm cũng ảnh hưởng đến quá trình bảo quản KTC, theo Solberg C thì sử dụng qui trình ly tâm với tốc độ cao và thời gian ngắn sẽ đạt hiệu suất cao hơn, đồng thời sự mất tiểu cầu trong quá trình bảo quản cũng thấp hơn so với tốc

độ chậm và thời gian dài (Solberg et al., 1988)

Trang 31

1.3.1.2 Người hiến máu

Số lượng tiểu cầu trong đơn vị KTC được truyền, ảnh hưởng đến tiểu cầu phục hồi trong BN và cho phép kéo dài khoảng cách giữa các lần truyền Xác định các yếu

tố của người hiến máu ảnh hưởng đến sản lượng của tiểu cầu thu hoạch được như thế nào giúp cho việc lựa chọn người hiến, để có được sản lượng tiểu cầu cao nhất và kết quả lâm sàng do đó tốt hơn Tối ưu hoá sản lượng tiểu cầu là một vấn đề đang nổi lên trong các dịch vụ truyền máu Chaudhary (2006) nghiên cứu các yếu tố từ người hiến máu ảnh hưởng tới sản lượng khối tiểu cầu máy trên hai hệ thống dòng chảy liên tục và không liên tục đã kết luận: có một mối quan hệ trực tiếp giữa số lượng tiểu cầu người hiến và SLTC thu được, không có sự tương quan như vậy với Hb người hiến, không có

sự tương quan giữa giới tính, tuổi và cân nặng của người hiến với SLTC thu được

1.3.1.3 Ảnh hưởng của quá trình điều chế khối tiểu cầu

 Ảnh hưởng của phương pháp điều chế tới chất lượng khối tiểu cầu

Nguyễn Trường Sơn (2000), so sánh hai phương pháp điều chế khối tiểu cầu từ lớp buffy coat và huyết tương giàu tiểu cầu thấy hiệu suất thu hoạch tiểu cầu cao hơn

ở phương pháp huyết tương giàu tiểu cầu, lượng bạch cầu còn lại trong khối tiểu cầu thấp hơn đáng kể so với phương pháp sản điều chế từ lớp buffy coat

Một số nghiên cứu khác lại chứng minh rằng KTC được điều chế từ máu toàn phần theo phương pháp buffy coat có chất lượng cao hơn so với điều chế bằng phương pháp huyết tương giàu tiểu cầu, chất lượng tốt hơn trong thời gian bảo quản Vì vậy điều chế khối tiểu cầu theo phương pháp buffy coat đã được sử dụng ở châu Âu trong hơn hai thập kỷ qua Tuy nhiên KTC điều chế bằng phương pháp buffy coat lại có tỷ lệ nhiễm khuẩn cao hơn Hiện nay với các biện pháp phòng chống nhiễm khuẩn tốt từ khâu thu gom, điều chế cùng với các phương pháp bất hoạt vi khuẩn, làm giảm nguy

cơ nhiễm khuẩn KTC Những lợi thế của phương pháp điều chế KTC bằng lớp buffy coat đã thuyết phục các dịch vụ truyền máu Canada thực hiện theo phương pháp này

Khối tiểu cầu gạn tách từ người hiến máu bằng máy tương đương với 6 – 10 đơn

vị (3 – 5x1011 TC) khối tiểu cầu điều chế từ đơn vị máu toàn phần hiện giờ trở thành

Trang 32

một nguồn tiểu cầu chính ở nhiều quốc gia, do sự bất đồng miễn dịch thấp và khả năng lây truyền bệnh truyền nhiễm qua đường truyền máu giảm, do giảm tiếp xúc với nhiều người hiến máu, việc kiểm soát chất lượng tốt hơn

Hiện nay có nhiều loại máy tách TB khác nhau Tenorio và cộng sự (2002) đã so sánh ngẫu nhiên chất lượng KTC gạn tách bằng bốn loại máy Amicus, Spectra, CS3000+ và MCS plus Chất lượng của tất cả các KTC thu được đều được chấp nhận,

xu hướng sản lượng TC thu được từ máy tách Spectra cao hơn Các máy tách TB Amicus và Spectra có hiệu quả cao

Tác giả Col Swrup (2009) cho rằng SLTC tốt hơn khi dùng máy tách TB Baxter

CS 3000, nhưng hiệu quả thu được tốt hơn với Haemonetics MCS+

Số lượng BC còn lại nhiều hơn ở KTC gạn tách bằng máy MCS+ Kết hợp với một số yếu tố khác: thời gian chạy máy, sự thoải mái của người hiến TC, chi phí,… tác giả kết luận, Haemonetic MCS+ là sự lựa chọn tốt hơn Baxter CS 3000

Strasser (2005), nghiên cứu chất lượng khối tiểu cầu gạn tách bằng máy cho kết quả các thiết bị thế hệ mới (Comtec, Trima) cho sản lượng tiểu cầu tốt, số lượng bạch cầu còn lại trong khối tiểu cầu đáp ứng rất tốt tiêu chuẩn đề ra

Bảo quản tiểu cầu dưới dạng đơn hay pool, các tác giả nghiên cứu có những đánh giá khác nhau Nhiều tác giả cho rằng nên bảo quản tiểu cầu dưới dạng túi đơn để tránh nhiễm trùng Theo nghiên cứu của Heddle (2005) có khác biệt về một số chỉ tiêu trong khối tiểu cầu đơn và pool trong thời gian bảo quản Ngày bảo quản thứ năm độ

pH thấp hơn đáng kể ở khối tiểu cầu pool so với khối tiểu cầu đơn Ngày bảo quản thứ bảy sự khác biệt đáng kể đã được ghi nhận với pH, pCO2, sốc trương lực thấp với khối tiểu pool trong khi pO2, lactate và điểm hình thái cao hơn Tuy nhiên khối tiểu cầu pool bảo quản đến 5 ngày cho kết quả chỉ số CCI sau 24 giờ không thấp hơn so với khối tiểu cầu đơn

Trang 33

Sweeney (2004), thấy không có bằng chứng sự suy giảm chất lượng và sự trộn lẫn các lymphocyte của các cá thể khác nhau cũng không kích thích phản ứng miễn dịch ở khối tiểu cầu pool bảo quản trong 7 ngày

1.3.2 Thay đổi một số yếu tố trong thời gian bảo quản

Một thách thức lớn cho các ngân hàng máu là thời gian bảo quản tiểu cầu hạn chế trong điều kiện ngân hàng máu tiêu chuẩn Có hai lý do chính mà khối tiểu cầu có thời hạn sử dụng ngắn đó là nguy cơ nhiễm khuẩn, tuy nhiên lý do này có thể được giảm thiểu bằng cách kiểm tra vi khuẩn của sản phẩm hoặc sử dụng các quá trình bất hoạt tác nhân gây bệnh Lý do thứ hai về hạn dùng của tiểu cầu là trong khoảng thời gian bảo quản tiểu cầu cho thấy bằng chứng của sự suy giảm chất lượng, liên quan đến thay đổi một số yếu tố trong quá trình bảo quản

1.3.2.1 Thay đổi độ pH trong thời gian bảo quản

Độ pH là một thông số quan trọng và có giá trị cho đánh giá chất lượng của các khối tiểu cầu, theo hướng dẫn của châu Âu, Hoa Kỳ yêu cầu đo pH như là một tham số cần thiết kiểm soát chất lượng khối tiểu cầu AABB đã khuyến cáo các khối tiểu cầu có

độ pH < 6,2 không được sử dụng, qui định độ pH của khối tiểu cầu > 6,4 và không truyền khối tiểu cầu khi độ pH > 7,6

Tiểu cầu sử dụng năng lượng chủ yếu từ sự tiêu thụ glucose theo con đường Embden – Meyerhoff Trong túi chứa TC, do điều kiện yếm khí nên sự chuyển hóa glucose sẽ tạo thành lactate Sự tích tụ lactate trong KTC là nguyên nhân chính gây ra

độ pH giảm pH đảm bảo cho việc bảo quản KTC được duy trì từ 6,5 – 7,4 một số tiêu chuẩn chỉ đòi hỏi > 6,2 Theo Kilkson, nếu pH giảm thấp hơn 6,8 thì TC sẽ bị trương lên và chuyển dạng từ hình đĩa sang hình cầu, những thay đổi này có thể hồi phục nếu

có TB được đưa trở lại với pH sinh lý Khi pH giảm xuống dưới 6 thì toàn bộ TC sẽ chuyển dạng hình cầu không hồi phục, các TB tạo nên các tua cứng từ bào tương và

dần dần mất khả năng tiêu thụ oxy (Kilkson et al., 1984) Theo nghiên cứu của

Bertolini và cộng sự (1993) cũng đã cho thấy khi pH < 6,3 thì TC bị mất hình dạng đĩa

và chức năng, nếu pH từ 6,4 – 6,6 thì chỉ có sự biểu hiện GP Ib trên bề mặt bị giảm

Trang 34

trong khi các chức năng khác không có sự khác biệt với nhóm đối chứng Từ đó tác giả cho rằng không phải chỉ có lactate là nguyên nhân gây ra các thay đổi của TC trong quá trình bảo quản

1.3.2.2 Thay đổi nồng độ glucose và lactate

Tiêu thụ glucose là chuyển hóa chính của TC, 85% nhu cầu năng lượng của chúng có được nhờ chuyển hóa hiếu khí, trong đó glucose trải qua quá trình đường phân, tiếp theo là oxy phosphoryl của các sản phẩm tạo ra CO2 và H2O, một số acid béo tự do và các acid amin cũng tham gia quá trình này 15% nhu cầu năng lượng còn lại được đáp ứng bởi đường phân kỵ khí, trong đó glucose được chuyển đổi thành lactate Việc chuyển hóa glucose tạo ra ATP theo cơ chế oxy hóa hiệu quả gấp 18 lần

so với đường phân kỵ khí Larry và cộng sự (2003), cũng như Tulika (2011), trong nghiên cứu của mình đã đề cập việc suy giảm nồng độ glucose trong thời gian bảo quản, sự tiêu thụ glucose có mối tương quan thuận với sự tạo thành lactate, dẫn tới suy giảm chất lượng khối tiểu cầu

1.3.2.3 Hoạt độ Lactate dehydrogenase

Lactate dehdrogenase (LDH) là một enzyme xúc tác phản ứng biến đổi từ lactate thành pyruvate LDH có trong thành phần TB chất của TC, khi TC bị tổn thương nó sẽ

phóng thích enzyme này vào môi trường (Holme et al., 1994) Các nghiên cứu đều cho

thấy hoạt động của LDH thường tăng dần từ ngày 1 đến ngày 5 trong quá trình bảo quản

1.3.2.4 Biến đổi hình thái tiểu cầu trong quá trình bảo quản

Những thay đổi sinh hoá, cấu trúc và chức năng của TC trong quá trình bảo quản trong điều kiện ngân hàng máu, được gọi chung là tổn thương bảo quản TC Gần đây các chỉ số tiểu cầu như SLTC, mean platelet volume (MPV), platelet distribution width (PDW), platelet larger cell ratio (P-LCR) đã được sử dụng đánh dấu cho việc kiểm soát chất lượng của KTC PDW là một dấu hiệu của sự thay đổi kích thước tiểu cầu, có thể là dấu hiệu của tiểu cầu kích hoạt, các tác giả đã quan sát thấy PDW tăng ở ngày thứ 7 của thời gian bảo quản Tuy nhiên Beyan và cộng sự (2006), cho rằng trong

Trang 35

đánh giá chức năng tiểu cầu chỉ số tiểu cầu một mình là không phù hợp, cần kết hợp với các phương pháp đánh giá khác

Nếu độ pH của KTC giảm xuống dưới 6,0 hoặc lên trên 7,4 sẽ làm thay đổi hình thái tiểu cầu, từ dạng hình đĩa sang hình cầu, mất đáng kể khả năng phục hồi trong cơ thể khi được truyền Phép đo các chỉ số tiểu cầu có tiềm năng lớn đánh giá chất lượng của khối tiểu cầu, đặc biệt là khi phân tích kết hợp với độ pH

1.4 Vai trò có hại của bạch cầu trong bảo quản và truyền KTC

Trong suốt một thời gian dài BC được coi là một thành phần tự nhiên trong máu toàn phần và chế phẩm máu, vì vậy người ta không có ý định loại trừ chúng ra khỏi các chế phẩm máu Các nghiên cứu đầu tiên về vai trò có hại của BC được biết đến từ năm

1957 khi Brittingham và Chaplin ghi nhận vai trò của BC và TC trong phản ứng lạnh tim khi truyền máu Sau này nhiều nghiên cứu khác đã chứng minh vai trò của bạch cầu trong việc gây ra các phản ứng bất lợi như sốt lạnh run, gây miễn dịch khác allele,

truyền các virus hướng bạch cầu, (Meryman, 1989; Ali et al., 1994; Sirchia et al.,

1997)

Skinnider nghiên cứu về nguồn gốc các bạch cầu trong các KTC được sản xuất

bằng phương pháp HTGTC hay máy tách tự động tiểu cầu cho thấy thành phần

lymphocyte T, B, CD4 và CD8 trong KTC cũng tương tự như máu ngoại biên Ở các chế phẩm máu đã được lọc bạch cầu thì tỉ lệ bạch cầu còn lại theo thứ tự là CD4, CD8, lymphocyte B, bạch cầu hạt và monocyte (Nguyễn Trường Sơn, 2000)

Sau này, cùng với sự phát triển của các nghiên cứu về sinh học phân tử sinh hoá, miễn dịch của bạch cầu, người ta càng nhận thấy vai trò có hại của bạch cầu trong truyền máu và càng hoàn thiện các kỹ thuật nhằm loại bỏ hay bất hoạt các bạch cầu để

ảnh các phản ứng có hại cho người nhận (Sirchia et al., 1997)

Trang 36

Vai trò có hại của bạch cầu trong truyền máu:

Phản ứng sốt lạnh run (PƢSLR) không do nguyên nhân tán huyết

Phản ứng sốt lạnh run do truyền máu chiếm khoảng 1% khi truyền các chế phẩm máu, phản ứng này có thể xảy ra ở mức độ nhẹ như tăng thân nhiệt ít, có thể ở mức độ nặng hơn như lạnh run, sốt cao hay rất nặng như hội chứng suy hô hấp cấp, có thể dẫn đến tử vong nếu không điều trị kịp thời

Vai trò của BC trong PƯSLR cho đến nay đã được thừa nhận, tuy nhiên cơ chế nào mà bạch cầu tác động lên cơ thể để gây ra phản ứng này vẫn đang được nghiên cứu Có tác giả cho rằng PƯSLR xảy ra khi có sự tương tác giữa kháng thể chống HLA của người nhận với BC của người cho và đưa đến sự giải phóng các chất trung gian hoá học

cho rằng loại bỏ BC càng nhiều càng tốt cũng là một biện pháp hiệu quả để ngăn ngừa tình trạng nhiễm CMV (Sirchia et al., 1997)

Ức chế miễn dịch

Truyền máu khác allele cùng loài có thể tạo ra các sự thay đổi về chức năng miễn dịch trong cơ thể người nhận (Nguyễn Trường Sơn, 2000)

Có nhiều giả thuyết giải thích cơ chế của hiện tượng ức chế miễn dịch Theo

thuyết "lựa chọn" thì truyền máu là một biện pháp giúp phân loại BN thành hai nhóm:

các cá thể có đáp ứng và các cá thể không đáp ứng Các cá thể không đáp ứng được coi

là dễ dung nạp với KN ghép, vì thế đời sống của mảnh ghép được kéo dài hơn Một giả thuyết khác cho rằng sự điều biến miễn dịch sau truyền máu có thể do sự hoạt hoá của

Trang 37

TB lympho T ức chế, mặc dù không xuất hiện một quần thể TB lympho T ức chế đặc hiệu nhưng cũng có các bằng chứng cho thấy có sự ức chế không đặc hiệu qua trung gian đại thực bào, TB mono và TB lympho T Một giả thuyết khác là thuyết "diệt clon” được đề xuất bởi Terasaki, tuy nhiên giả thuyết này cho đến nay ít được chấp nhận Một số tác giả cho rằng có sự thành lập kháng thể chống idiotype, kháng thể này đóng vai trò như một kháng thể cạnh tranh với KN lạ tại thụ thể của TB lympho T giành cho

KN Một số nghiên cứu cho thấy vai trò của các prostaglandin, đặc biệt là prostaglandin E2 (PGE2), PGE có thể ức chế sự đáp ứng miễn dịch qua trung gian TB nồng độ cao

Gần đây, Dzik W.H cho rằng cơ chế tự ức chế miễn dịch sau truyền máu khác allele có thể được giải thích bằng giả thuyết microchime Theo thuyết này, sau khi truyền máu khác allele vào trong cơ thể người nhận, các TB tua, các TB này là TB trình diện KN mạnh nhất, của người cho sẽ tồn tại dai dẳng, sự tồn tại này sẽ làm giảm tính kích thích của các TB lympho T đang ở trong trạng thái nghỉ và các TB này kém phản ứng với các KN đặc hiệu khác allele

Trong lâm sàng, hiện tượng ức chế miễn dịch này có thể đóng vai trò có lợi trong các cuộc ghép nhưng đồng thời nó cũng biểu hiện nhiều phản ứng bất lợi cho người nhận, các nghiên cứu gần đây cho thấy truyền máu nhiều lần có thể dẫn đến tình

trạng tăng nguy cơ nhiễm trùng cũng như là tăng khả năng phát triển các khối u

Tóm lại, vai trò bất lợi của bạch cầu trong thực hành truyền máu cho đến nay đã

được làm sáng tỏ Nhằm mục đích tránh các phản ứng bất lợi các BN, các nhà khoa học

phải nghiên cứu các biện pháp nhằm giảm thiểu số lượng bạch cầu cũng như các chất sinh học được phóng thích từ chúng trong chế phẩm máu

Trang 38

1.5 Nhiễm khuẩn của khối tiểu cầu

Nhiễm khuẩn các sản phẩm máu làm lây truyền vi khuẩn khi truyền máu là một tai biến truyền máu đe dọa tính mạng người bệnh, do điều kiện bảo quản thuận lợi cho phát triển của vi khuẩn Tai biến nhiễm khuẩn thường thấy trong truyền TC, điều này

có thể được lý giải do KTC được bảo quản ở nhiệt độ 22oC, điều kiện nhiệt độ thích hợp thúc đẩy sự tăng trưởng của vi khuẩn, thậm trí với một số lượng vi khuẩn rất nhỏ

Khả năng KTC bị nhiễm khuẩn phụ thuộc vào loại và thời hạn sử dụng của các sản phẩm TC Nghiên cứu của Ness P và cộng sự (2001) báo cáo một tỷ lệ nhiễm khuẩn của KTC điều chế từ máu toàn phần gấp 5 lần so với tiểu cầu gạn tách bằng máy

từ một người hiến Tỷ lệ tăng của các bệnh nhiễm trùng liên quan đến truyền tiểu cầu, liên quan trực tiếp với thời gian bảo quản của các đơn vị được truyền, chính vì vậy FDA đã yêu cầu giảm thời gian bảo quản tiểu cầu từ 7 ngày xuống còn 5 ngày Năm

2004, AABB đề xuất các tiêu chuẩn mới để giảm thiểu truyền các đơn vị TC bị nhiễm khuẩn, các ngân hàng máu hoặc dịch vụ truyền máu phải có phương pháp để hạn chế

và phát hiện nhiễm vi khuẩn trong tất cả các KTC

Nguyên nhân gây nhiễm khuẩn KTC, thường là kết quả của nhiễm vi khuẩn từ

da người hiến máu tại thời điểm lấy máu tĩnh mạch và ít hơn từ người hiến máu bị nhiễm trùng không triệu chứng hoặc trong quá trình điều chế Một loạt các vi khuẩn có thể phát triển trong các sản phẩm tiểu cầu và đạt đến mức độ nguy hiểm trong suốt thời gian bảo quản Những vi khuẩn này phần lớn gram dương là tác nhân gây bệnh của hệ

vi sinh vật da, ví dụ tụ cầu khuẩn (Staphylococci), Corynebacteria, và các loài thuộc chi Bacillus Trong khi đó nhiễm các vi khuẩn gram âm ít gặp hơn, kết quả hầu như

gây tử vong

1.6 Các xét nghiệm kiểm tra, đánh giá chất lƣợng khối tiểu cầu

Các xét nghiệm cần thiết theo quy định của Thông tư 26/2013/TT-BYT như xét nghiệm sàng lọc virus: HbsAg, Anti-HIV, Anti-HCV, ký sinh trùng sốt rét, xoắn khuẩn giang mai đều âm tính Xét nghiệm sinh học phân tử NAT viêm gan B, C và HIV phải

Trang 39

âm tính, sàng lọc kháng thể bất thường âm tính Các tiêu chuẩn về số lượng, thể tích, số lượng bạch cầu,… theo đúng thông tư

Độ pH phải đạt từ 6.4 đến 7.4 và nuôi cấy phát hiện vi khuẩn phải âm tính vào cuối thời gian bảo quản

Điều kiện bảo quản và hạn sử dụng: theo khuyến nghị của nhà sản xuất túi lấy tiểu cầu, nhưng không quá 5 ngày kể từ ngày gạn tách tiểu cầu khi bảo quản ở nhiệt độ

từ 20oC đến 24oC, kèm lắc liên tục (Bộ Y Tế, 2013)

Các phương pháp đánh giá chức năng của tiểu cầu:

Đánh giá hình thái học của tiểu cầu và các chỉ tiêu sinh hoá của khối tiểu cầu: đối với tiểu cầu bảo quản các thử nghiệm trong ống nghiệm của tiểu cầu thường không tương quan tốt với hiệu năng của tiểu cầu trong cơ thể Tuy nhiên mức ATP, glucose, lactate của KTC cung cấp một số dấu hiệu hoạt động của TC Sự sụt giảm SLTC với gia tăng lactate dehydrogenase trong môi trường có thể được sử dụng như một thước

đo của phá vỡ TB Độ pH của KTC trên 7,6 và dưới 6,2 vào cuối thời gian bảo quản tương quan với giảm chức năng của tiểu cầu trong cơ thể

 Chức năng tiểu cầu được đánh giá bằng độ ngưng tập tiểu cầu với ADP, collagen, epinephrine,

 Hiệu quả cầm máu trên lâm sàng: hiệu quả của truyền tiểu cầu trong cơ thể được chứng minh là rất khó khăn để xác định Trước đây thời gian máu chảy được coi như là một thử nghiệm về hiệu quả của tiểu cầu, nhưng nhiều nghiên cứu được công bố

đã chứng minh thiếu sự tương quan giữa chảy máu trong phẫu thuật và thời gian chảy máu, có sự thay đổi của thời gian chảy máu ngay cả với một BN duy nhất Hiện nay để đánh giá hiệu quả truyền tiểu cầu, người ta quan sát sự biến đổi của SLTC (thường

>20.000/mm3) sau khi truyền TC Tính chỉ số CCI (Corrected Count Increment)

CCI =

Khi CCI sau truyền 10 đến 60 phút ≥ 5000 truyền tiểu cầu có kết quả

Trang 40

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện tại Trung tâm truyền máu bệnh viện Chợ Rẫy trong thời gian từ 2/2017 tới 8/2017

Đối tượng nghiên cứu:

 Tiểu cầu sản xuất từ máu toàn phần 350 ml: 40 KTC

 Tiểu cầu chiết tách từ một người từ máy chiết tách tế bào tự động, máy Haemonetic và máy Nigale: 160 KTC

2.2 Các trang thiết bị, hóa chất, dụng cụ sử dụng trong quá trình nghiên cứu

 Máy sàng lọc các bệnh nhiễm trùng: hiệu Architect 2: i2000 SR, hiệu Diasorin: Eti_Max 3000

 Hệ thống máy sàng lọc sinh học phân tử NAT

Kỹ thuật sinh học phân tử dựa trên nguyên lý phản ứng khuyếch đại nhân lên gấp bội các vật liệu di truyền có nguồn gốc từ các virus gây bệnh và tăng khả năng phát hiện khi lượng virus này quá ít trong máu Việc áp dụng NAT đã góp phần ngăn ngừa hữu hiệu nguy cơ lây truyền virus do người hiến máu nhiễm tác nhân gây bệnh ở giai đoạn cửa sổ Kỹ thuật này cho phép rút ngắn thời gian cửa sổ từ 90 ngày xuống còn từ

30 đến 40 ngày đối với viêm gan C, từ 60 ngày xuống còn 20 đến 30 ngày đối với viêm gan B Đặc biệt, NAT có thể phát hiện HIV chỉ 11 ngày sau khi nhiễm bệnh, trong khi với xét nghiệm điện hóa phát quang phải cần tới 20 ngày Bên cạnh đó, kỹ thuật NAT còn có thể phát hiện những trường hợp nhiễm virus thể ẩn, tức là những người đã nhiễm bệnh một thời gian dài, nhưng virus chỉ tồn tại tiềm tàng trong các tế bào và cơ thể người nhiễm không sản sinh ra kháng thể, do đó không thể phát hiện được bằng các xét nghiệm gián tiếp

Ngày đăng: 18/04/2021, 16:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[12] Bertolini F., Porretti L.,Lauri E., Rebulla P., Sirchia G. (1993), “Role of lactate in platelet storage lesion”, Vox Sang, Vol 65, pp 194 – 198 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Role of lactate in platelet storage lesion"”, "Vox Sang
Tác giả: Bertolini F., Porretti L.,Lauri E., Rebulla P., Sirchia G
Năm: 1993
[13] Bode A.P., Knupp C.L (1994), “Effect of cold storage on platelet glycoprotein Ib and vesiculation”, Transfusion, Vol 34, No 8, pp 825 – 827 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Effect of cold storage on platelet glycoprotein Ib and vesiculation"”, "Transfusion
Tác giả: Bode A.P., Knupp C.L
Năm: 1994
[14] Cesar J.M., Garcia A., Monteguado J., Monteagudo J., Espinosa J.I., Lodos J.C., Castillo R., Navarro J.L. (1994), “Von Willebrand factor availibility in platelet concentrates stored for 5 days”, Am – J – Hematol., Vol 45, No 2, pp 109 – 111 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Von Willebrand factor availibility in platelet concentrates stored for 5 days"”, "Am – J – Hematol
Tác giả: Cesar J.M., Garcia A., Monteguado J., Monteagudo J., Espinosa J.I., Lodos J.C., Castillo R., Navarro J.L
Năm: 1994
[16] Col D Swarup, Brig PS Dhot, Col S Arora (2009), “Study of Single Donor Platelet (SDP) Preparation by Baxter CS 3000 plus and Haemonetics MCS plus”, MJAFI, Vol. 65, No. 2, pp. 137 – 140 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Study of Single Donor Platelet (SDP) Preparation by Baxter CS 3000 plus and Haemonetics MCS plus
Tác giả: Col D Swarup, Brig PS Dhot, Col S Arora
Năm: 2009
[17] Council of Europe Publishing (2004), “Platelet recovery”, Guide to preparation use and quality assurance of blood component, 10 th edition, pp.121 – 127 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Platelet recovery"”, "Guide to preparation use and quality assurance of blood component
Tác giả: Council of Europe Publishing
Năm: 2004
[18] Erwin F. Strasser, Marco Schuster, Kerstin Egler, Jửrg Bauer, Volker Weisbach, Jürgen Ringwald, Robert Zimmermann, Jürgen Zingsem, and Reinhold Eckstein (2005), “Frequently used plateletpheresis techniques result in variable target yields and platelet recruitment of donors”, Transfusion; 45: pp. 788 – 797 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Frequently used plateletpheresis techniques result in variable target yields and platelet recruitment of donors
Tác giả: Erwin F. Strasser, Marco Schuster, Kerstin Egler, Jửrg Bauer, Volker Weisbach, Jürgen Ringwald, Robert Zimmermann, Jürgen Zingsem, and Reinhold Eckstein
Năm: 2005
[21] Heddle NM, Barty RL, Sigouin CS, Boye DM, Nelson EJ, Blajchman MA, Kelton JG (2005), “In vitro evaluation of prestorage pooled leukoreduced whole blood – derived platelets stored for up to 7 days”, Transfusion; 45 (6), pp 904 – 910 Sách, tạp chí
Tiêu đề: In vitro evaluation of prestorage pooled leukoreduced whole blood – derived platelets stored for up to 7 days
Tác giả: Heddle NM, Barty RL, Sigouin CS, Boye DM, Nelson EJ, Blajchman MA, Kelton JG
Năm: 2005
[22] Holme S., Heaton W.A., Moroff G. (1994), “Evaluation of platelet concentrates stored for 5 days with reduced plasma volume”, Transfusion, Vol 34, No 1, pp 34 – 43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Evaluation of platelet concentrates stored for 5 days with reduced plasma volume"”, "Transfusion
Tác giả: Holme S., Heaton W.A., Moroff G
Năm: 1994
[23] Kilkson H., Holme S.,Murphy S. (1984), “Platelet metabolism during storage at 22 o C”, Blood, Vol 64, No 2, pp 406 – 414 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Platelet metabolism during storage at 22"o"C"”, "Blood
Tác giả: Kilkson H., Holme S.,Murphy S
Năm: 1984
[24] Larry J. Dumont, VandenBroeke T (2003), “Seven – day storage of apheresis platelets: report of an in vitro study”, Transfusion, 43(2), pp. 143 – 150 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Seven – day storage of apheresis platelets: report of an in vitro study"”, "Transfusion
Tác giả: Larry J. Dumont, VandenBroeke T
Năm: 2003
[25] Loos J.A., Wautier J.L. (1997), “Leucocyte depletion: a biotechnical transfusion story”, Transfus-Clin-Biol., Vol 5, pp 64 – 74 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Leucocyte depletion: a biotechnical transfusion story
Tác giả: Loos J.A., Wautier J.L
Năm: 1997
[26] Meryman H.T. (1989), “Transfusion – induced alloimmunization and immunosuppression and the effects of leucocyte depletion”, Trans – Med – Rev., Vol 3, No 3, pp 180 – 193 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Transfusion – induced alloimmunization and immunosuppression and the effects of leucocyte depletion"”, "Trans – Med – Rev
Tác giả: Meryman H.T
Năm: 1989
[27] Moroff G., Holme S., George V.M., Heaton W.A. (1994), “Effect of platelets properties on exposure to temperature below 20 o C for short periods during storage at 20 – 24 o C”, Transfusion, Vol 34, No 4, pp 317 – 321 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), “Effect of platelets properties on exposure to temperature below 20"o"C for short periods during storage at 20 – 24"o"C"”", Transfusion
Tác giả: Moroff G., Holme S., George V.M., Heaton W.A
Năm: 1994
[28] Murphy S., Heaton W.A., Rebulla P. (1996), “Platelet production in the old world and the new”, Transfusion, Vol 36, pp.751 – 754 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Platelet production in the old world and the new"”, "Transfusion
Tác giả: Murphy S., Heaton W.A., Rebulla P
Năm: 1996
[29] Rebulla P. (1998), “In vitro and in vivo properties of various types of platelet”, Vox Sang., Vol 74, suppl 2, pp 217 – 222 Sách, tạp chí
Tiêu đề: In vitro and in vivo properties of various types of platelet"”, "Vox Sang
Tác giả: Rebulla P
Năm: 1998
[30] Sirchia G., Rebulla P. (1997), “Evidence-based medicine: the case of white cell reduction”, Transfusion, Vol 37, pp 543 – 549 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Evidence-based medicine: the case of white cell reduction"”, "Transfusion
Tác giả: Sirchia G., Rebulla P
Năm: 1997
[15] Chaudhary K. (2005), Patern of blood and product utilization in a Tertiary care hospital in India. Vox Sanguinis vol 89, 2005,64 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w