NHIỆM VỤ VÀ NỘI DUNG: -Xác định ảnh hưởng của các yếu tố thái độ đối với việc chăm sóc sức khỏe, cảm xúc tích cực mong đợi, cảm xúc tiêu cực dự kiến, quy chuẩn chủ quan, nhận thức về ki
Trang 1Gái ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HCM xi
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
-
HOÀNG PHƯƠNG THẢO
CÁC TIỀN TỐ CỦA Ý ĐỊNH KHÁM SỨC KHOẺ TỰ NGUYỆN
CỦA NGƯỜI DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
Trang 2CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA – ĐHQG- HCM
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS TS Lê Nguyễn Hậu
2 Thư ký: TS Phạm Xuân Kiên
3 Phản biện 1: TS Trần Thị Kim Loan
4 Phản biện 2: PGS.TS Nguyễn Mạnh Tuân
5.Uỷ viên: PGS.TS.Vương Đức Hoàng Quân
Xác nhận của Chủ tịch hội đồng đánh giá Luận văn và Trưởng Khoa Quản lý chuyên ngành sau khi luận văn đã được sửa chữa (nếu có)
Trang 3ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HCM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ
Họ tên học viên: Hoàng Phương Thảo MSHV: 1670442
Ngày, tháng, năm sinh: 06/12/1987 Nơi sinh: Đà Lạt – Lâm Đồng
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh Mã số: 60340102
I TÊN ĐỀ TÀI:
Các tiền tố của ý định hành vi khám sức khoẻ tự nguyện của người dân tỉnh Lâm Đồng - Một ứng dụng của mô hình hành vi hướng mục đích
II NHIỆM VỤ VÀ NỘI DUNG:
-Xác định ảnh hưởng của các yếu tố thái độ đối với việc chăm sóc sức khỏe, cảm xúc tích cực mong đợi, cảm xúc tiêu cực dự kiến, quy chuẩn chủ quan, nhận thức về kiểm soát hành vi và tần suất hành vi trong quá khứ đến mong muốn và ý định sử dụng dịch vụ khám sức khỏe tự nguyện
III NGÀY GIAO NHIỆM VỤ: 12/02/2018
IV NGÀY HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ: 05/07/2018
V CÁN BỘ HƯỚNG DẪN: PGS TS Lê Nguyễn Hậu
Trang 4LỜI CÁM ƠN
Đầu tiên tôi xin bày tỏ lời biết ơn chân thành và sâu sắc nhất đến PGS TS
Lê Nguyễn Hậu Thầy đã luôn tận tình hướng dẫn, giúp đỡ, động viên tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp này Những chỉ dẫn, góp ý sâu sắc của Thầy là động lực lớn lao trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và công tác của bản thân tôi
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến quý Thầy, Cô của Trường Đại học Bách Khoa thành phố Hồ Chí Minh Đặc biệt, xin cảm ơn các Thầy, Cô của Khoa Quản lý Công nghiệp đã nhiệt tình hướng dẫn, giảng dạy cho tôi trong suốt quá trình học tập tại Trường Chương trình học đã giúp tôi lĩnh hội được những kiến thức mới, đồng thời cũng là hành trang vững chắc giúp tôi có cơ hội được áp dụng thực tiễn trong công việc cũng như trong cuộc sống Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến quý Thầy, Cô đã tạo điều kiện tốt nhất để tôi nghiên cứu và hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Tôi muốn gửi lời cảm ơn đến các Anh, Chị đã hỗ trợ tôi trong quá trình học tập cũng như làm luận văn, tôi cũng chân thành cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè, người thân đã hỗ trợ tôi trong quá trình khảo sát, đó cũng là cơ sở để tôi thực hiện được đề tài này
Cuối cùng, tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến gia đình, là nguồn động viên rất lớn cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn
Một lần nữa, tôi chân thành gửi lời tri ân đến PGS TS Lê Nguyễn Hậu cùng toàn thể Thầy Cô, gia đình, bạn bè và đồng nghiệp
Người thực hiện luận văn
Hoàng Phương Thảo
Trang 5TÓM TẮT
Mọi người ai cũng mong muốn mình có sức khoẻ tốt Tuy nhiên, thực tế cho
thấy việc thăm khám sức khoẻ đang bị nhiều người bỏ qua nếu không bị bắt buộc
Vậy đâu là nguyên nhân dẫn đến việc tự nguyện đi hay không đi khám sức khoẻ của
người dân? Để tìm câu trả lời, nghiên cứu này áp dụng mô hình hành vi hướng mục
đích (MGB) nhằm xác định ảnh hưởng của các yếu tố bao gồm thái độ đối với việc
chăm sóc sức khỏe, cảm xúc tích cực mong đợi, cảm xúc tiêu cực dự kiến, quy
chuẩn chủ quan, nhận thức về kiểm soát hành vi và tần suất hành vi trong quá khứ
đến mong muốn và ý định sử dụng dịch vụ khám sức khỏe định kỳ tự nguyện của
người dân, với bối cảnh nghiên cứu ở tỉnh Lâm Đồng
Nghiên cứu được tiến hành thông qua hai giai đoạn: nghiên cứu sơ bộ và
nghiên cứu chính thức Nghiên cứu sơ bộ (gồm kiểm tra và hoàn chỉnh thang đo ở
bước định tính, nghiên cứu định lượng sơ bộ) được thực hiện thông qua các đối
tượng trên 35 tuổi không thuộc diện khám sức khoẻ định kỳ theo luật lao động bằng
bảng câu hỏi có cấu trúc với kích thước mẫu n=80 Bước này nhằm đánh giá độ tin
cậy và tính đơn hướng của thang đo (sử dụng phần mềm SPSS 20) Nghiên cứu
định lượng chính thức được thực hiện thông qua bảng câu hỏi chi tiết có cấu trúc,
dữ liệu được thu thập từ 250 các đối tượng trên cá nhân trên 35 tuổi không thuộc
diện khám sức khoẻ định kỳ theo luật lao động Sau khi đánh giá độ tin cậy, độ giá
trị của thang đo, dữ liệu được sử dụng để kiểm định các giả thuyết và mô hình
nghiên cứu bằng mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) trên phần mềm AMOS 20
Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng các nhân tố thái độ, quy chuẩn chủ quan ,
cảm xúc tích cực mong đợi, cảm xúc tiêu cực dự kiến, nhận thức về kiểm soát hành
vi, tần suất hành vi trong quá khứ quan trọng trong MGB gắn liền với mong muốn
khám sức khoẻ tự nguyện và mong muốn là tác động trung gian đáng kể đến ý định
khám sức khoẻ tự nguyện Bên cạnh đó kết quả nghiên cứu cho thấy 07 giả thuyết
được ủng hộ trong số 08 giả thuyết mà nghiên cứu đề xuất, Ngoài ra có thể lý giải
tại sao những mong muốn trong việc khám sức khoẻ tự nguyện phải được dẫn dắt
bởi hệ quả của cảm xúc tiêu cực dự kiến và cảm xúc mong đợi tích cực trong việc
đạt đến ý định khám sức khỏe định kỳ tự nguyện tại Lâm Đồng
Trang 6behavioral control and frequency past behavioral expectations, desire and intention
on voluntary health
Examination of citizens of lam dong province The research was conducted in two stages: preliminary research and formal study Preliminary studies (including preliminary qualitative study, preliminary quantitative study) is conducted through the over 35-year-olds who are not subject to periodic health checks in accordance with the labor law by a structured question with sample size n = 80 The purpose of this sub-stage was to evaluate the reliability and the monotonicity of the scale (by using SPSS 20 software) The formal quantitative study was conducted through a structured questionnaire, which was collected from 250 individuals over 35 years of age who were not subject to periodic health checks under the labor law This research performs reliability analysis, exploratory factor analysis (EFA), confirmatory factor analysis (CFA), structural equation modeling (SEM)
Results show that attitudinal factors, subjective norms, positive anticipated emotions, negative anticipated emotions, perceived behavioral control, and frequency past behavioral are important in MGB is associated with the desire for voluntary health checks, and desirable is a significant mediating effect on voluntary health care In addition, the results of the study showed that seven hypotheses were supported by the eight hypotheses proposed by the study It can also be explained why the desire for a voluntary health check must be guided by the consequences of, positive anticipated emotions, negative anticipated emotions in attaining the intent
of a periodic medical examination voluntary in Lam Dong
Trang 7LỜI CAM ĐOAN CỦA TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Tôi tên Hoàng Phương Thảo – hiện là học viên Lớp Cao học Ngành Quản trị kinh doanh Khóa 2016 của Trường Đại học Bách Khoa thành phố Hồ Chí Minh tại
Lâm Đồng Tôi xin cam đoan đề tài nghiên cứu: Các tiền tố của ý định hành vi khám sức khoẻ tự nguyện của người dân tỉnh lâm đồng - Một ứng dụng của mô hình hành vi hướng mục đích là do tôi tự nghiên cứu dựa trên các nghiên cứu
trước, không sao chép kết quả nghiên cứu của bất kỳ ai Dữ liệu được thu thập từ
250 đối tượng trên 35 tuổi không thuộc khám sức khoẻ định kỳ theo luật lao động Tôi xin cam đoan những điều trên là đúng sự thật, nếu sai phạm, tôi sẽ chịu hoàn
toàn trách nhiệm và chịu mọi hình phạt theo quy định của trường
Người thực hiện luận văn
Hoàng Phương Thảo
Trang 8MỤC LỤC
LỜI CÁM ƠN i
TÓM TẮT ii
ABSTRACT iii
MỤC LỤC v
DANH MỤC PHỤ LỤC viii
DANH MỤC BẢNG ix
THUẬT NGỮ TIẾNG ANH x
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1
1.1 Lý do hình thành đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 4
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
1.4 Ý nghĩa đề tài 5
1.5 Bố cục dự kiến luận văn 5
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 6
2.1 Mô hình hành động theo dự định (Theory of Planned Behavior – TPB) 6
2.1.1 Thái độ (Attitudes) 6
2.1.2 Quy chuẩn chủ quan (Subjective Norm) 6
2.1.3 Kiểm soát hành vi nhận thức (Perceived Behavior Control) 7
2.1.4 Ý định (Intention) 7
2.2 Mô hình hành vi hướng mục đích (Goal – Directed Behaviour) 8
2.2.1 Cảm xúc mong đợi (Anticipated Emotions) 8
2.2.2 Cảm xúc mong đợi tích cực: 9
2.2.3 Cảm xúc tiêu cực dự kiến: 9
2.2.4 Tần suất hành vi trong quá khứ (Frequency of Past Behavior) 9
2.2.5 Mong muốn (Desire) 10
2.3 Các giả thuyết nghiên cứu 10
Trang 92.3.1 Mối quan hệ giữa thái độ và mong muốn: 10
2.3.2 Mối quan hệ giữa quy chuẩn chủ quan và mong muốn 11
2.3.3 Mối quan hệ giữa cảm xúc và mong muốn 12
2.3.4 Mối quan hệ giữa nhận thức về kiểm soát hành vi và mong muốn 13
2.3.5 Mối quan hệ giữa tần suất hành vi trong quá khứ, mong muốn và ý định 14 2.3.6 Mối quan hệ giữa mong muốn và ý định 14
2.4 Mô hình nghiên cứu 15
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
3.1 Thiết kế nghiên cứu 17
3.2 Thang đo 20
3.3 Kết quả nghiên cứu sơ bộ 22
3.3.1 Kết quả kiểm tra và hoàn chỉnh thang đo ở bước định tính sơ bộ 22
3.3.2 Nghiên cứu định lượng sơ bộ 23
3.4 Nghiên cứu định lượng chính thức 23
3.5 Kích thước mẫu và cách chọn mẫu 24
3.6 Phương pháp thu thập dữ liệu 24
3.7 Phương pháp phân tích dữ liệu 25
3.7.1 Thống kê mô tả 25
3.7.2 Phương pháp đánh giá độ tin cậy của thang đo 25
3.7.3 Kiểm định sự hội tụ của các khái niệm trong thang đo thông qua phân tích EFA 25
3.7.4 Phân tích nhân tố khẳng định (CFA) 26
3.7.5 Mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) 27
3.8 Tóm tắt chương 3 27
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 29
4.1 Tổng hợp mẫu khảo sát 29
4.2 Thống kê mô tả 30
4.3 Kiểm định sơ bộ thang đo 31
Trang 104.3.1 Kiểm định độ tin cậy của thang đo 31
4.3.2 Kiểm định tính đơn hướng và giá trị hội tụ của thang đo 34
4.4 Kiểm định độ giá trị của các thang đo 37
4.4.1 Phân tích nhân tố khẳng định CFA lần 1 38
4.4.2 Phân tích nhân tố khẳng định CFA lần cuối 38
4.5 Kiểm định độ giá trị hội tụ và độ tin cậy tổng hợp 39
4.6 Kiểm định độ giá trị phân biệt của các thang đo 40
4.7 Kiểm định mô hình cấu trúc 41
4.8 Kiểm định giả thuyết 43
4.9Thảo luận kết quả 45
4.10 Tóm tắt 48
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 49
5.1 Tóm tắt nội dung và kết quả nghiên cứu 49
5.2Hàm ý quản trị 50
5.3Kết luận và đề xuất kiến nghị 53
5.3 Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO 56
PHỤ LỤC 60
LÝ LỊCH TRÍCH NGANG
Trang 11DANH MỤC PHỤ LỤC
Phụ lục 01 Thang đo gốc 60
Phụ Lục 02 Bảng Khảo Sát 62
Phụ Lục 03 Kết Quả Phân Tích Nhân Tố Khẳng Định Cfa 65
3.1 Mô hình thang đo lần 1 65
3.2 Hệ số đo lường lần 1 65
3.3 Mô hình thang đo lần cuối 68
3.4 Hệ số đo lường lần cuối 69
Phụ Lục 04 Kết Quả Phân Tích Mô Hình Lý Thuyết 71
4.1 Mô hình lý thuyết 71
4.2 Trọng số hồi quy – Chuẩn hóa 71
4.3 Kết quả kiểm định Bootstrap 72
Trang 12DANH MỤC BẢNG
Bảng 0.1 Hai giai đoạn thực hiện trong thiết kế nghiên cứu 18
Bảng 3.2 Tóm tắt các thang đo 20
Bảng 3.3 Kết quả nghiên cứu định lượng sơ bộ 23
Bảng 4.1 Bảng tóm tắt phân bố mẫu 30
Bảng 4.2 Kết quả phân tích độ tin cậy Cronbach’s Alpha 31
Bảng 0.3 Kết quả phân tích nhân tố khám phá EFA và Cronbach’s Alpha 34
Bảng 4.4 Trọng số hồi quy chuẩn hóa, độ tin cậy tổng hợp và tổng phương sai trích của thang đo Error! Bookmark not defined.9 Bảng 4.5 Độ giá trị phân biệt của thang đo 40
Bảng 4.6 Kết quả ước lượng mô hình cấu trúc 42
DANH MỤC HÌNH Hình 2.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất Error! Bookmark not defined.6 Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu Error! Bookmark not defined.9 Hình 4.1 Kết quả phân tích mô hình lý thuyết dạng chuẩn hóa 42
Trang 13THUẬT NGỮ TIẾNG ANH
Theory of Reasoned Action : Mô hình hành động hợp lý
The Theory of Planned Behavior : Mô hình hành vi theo kế hoạch
The model of goal-directed behaviour : Mô hình hành vi hướng mục đích
Perceived Behavior Control : Kiểm soát hành vi nhận thức Anticipated Emotions : Cảm xúc mong đợi
Frequency of Past Behavior : Tần suất hành vi trong quá khứ
Trang 14CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
1.1 Lý do hình thành đề tài
Tổ Chức Y tế Thế Giới WHO (The World Health Organization) đã định nghĩa: “Sức khỏe không chỉ là tình trạng vắng bóng của bệnh chứng hay tàn tật, mà còn là tình trạng hạnh phúc về thể chất, tinh thần và xã hội” Mỗi cá nhân trong chúng ta đều mong muốn có được sức khoẻ tốt, khi sức khoẻ trở nên yếu kém, người ta luôn tìm nguyên nhân để điều trị và phục hồi sức khoẻ trở lại bình thường Cũng theo WHO, để nâng cao hiệu quả chăm sóc sức khoẻ cá nhân, vịệc kiểm tra và phát hiện sớm các vấn đề về sức khoẻ thông qua việc thực hiện khám sức khoẻ luôn
là một giải pháp được khuyến khích Giải pháp này đặc biệt có ý nghĩa đối với mọi công dân trên 35 tuổi ở Việt Nam trong đó có Lâm Đồng
Khám sức khỏe tổng quát là một biện pháp hữu ích, giúp chúng ta có cơ sở nhận định chung về sức khỏe của bản thân, thông qua kết quả xét nghiệm và việc tư vấn của trực tiếp bác sĩ, giúp chúng ta được phát hiện sớm những dấu hiệu không bình thường, có nguy cơ dẫn đến bệnh tật Xã hội càng phát triển thì càng nhiều bệnh hiễm họa tác động đến con người, và con người luôn bị đe dọa đến sức khỏe bởi chính bản thân chúng ta từ: lối sống, ăn uống, tác động của môi trường v.v Tuy nhiên, chúng ta có được may mắn đang sống trong thời đại văn minh, sự bùng nổ của sự phát triển khoa học, đặc biệt là trong y học đã có nhiều thành quả vượt bậc giúp cho việc chữa trị những bệnh mà trước đây tưởng chừng là vô phương Quy luật của bệnh tật là khi có một mầm bệnh trong cơ thể, phải có một thời gian để mầm bệnh phát triển (giai đoạn này được gọi là ủ bệnh), sau đó bệnh biểu hiện ra bên ngoài còn gọi là giai đoạn phát bệnh, sau đó bệnh sẽ ngày càng nặng (biến chứng), dần dần ảnh hưởng trầm trọng đến sức khỏe có khi gây tử vong Hiện nay, với sự tiến bộ của y học hầu hết các bệnh đều có thể phát hiện sớm và có biện pháp chữa khỏi Ở các nước phát triển việc khám sức khỏe định kỳ là bắt buộc, bởi vì
“phòng bệnh thì tốt hơn là chữa bệnh” Theo tính toán của tổ chức y tế thế giới chi phí cho việc phòng bệnh thấp hơn rất nhiều lần chi phí chữa bệnh Sức khỏe tốt là một trong những yếu tố quan trọng nhất trong cuộc sống và không bao giờ nên đánh
Trang 15đổi Phát hiện bệnh sớm làm nên sự thay đổi hoàn toàn và quan trọng giúp mỗi cá nhân theo dõi những nguy cơ tiềm tàng về sức khỏe để có thể sống khỏe mạnh và tránh phải điều trị đắt đỏ về sau
Khám sức khỏe đang dần xóa bỏ thói quen có bệnh mới chữa của đại đa số
người dân Việt Nam Theo các chuyên gia y tế, việc khám sức khỏe tổng quát không chỉ giúp chúng ta có cái nhìn toàn diện về tình trạng sức khỏe của mình mà còn giúp tầm soát bệnh, bảo trì sức khỏe hàng năm, phát hiện sớm và điều trị kịp thời các bệnh lý nguy hiểm, tránh được các biến chứng xấu do bệnh, điều chỉnh chế
độ dinh dưỡng, lối sống, chế độ làm việc phù hợp hơn để nâng cao chất lượng cuộc sống và tuổi thọ.Việc khám sức khỏe tổng quát chỉ làm mất của chúng ta một khoảng thời gian ngắn và chi phí thấp so với những gì chúng ta đạt được Khi chúng
ta hiểu rõ được tình trạng sức khỏe của mình, chúng ta sẽ an tâm vui sống và phấn đấu hết mình cho sự nghiệp Còn nếu không may mắn khi chúng ta mắc phải một căn bệnh nào đó, thì chúng ta sẽ có cơ hội phát hiện nó trong thời gian sớm nhất và
có thể chữa trị kịp thời Việc phát hiện bệnh kịp thời thực sự rất quan trọng và là điều may mắn đối với người bị những bệnh nguy hiểm vì một số bệnh chỉ có khả năng chữa trị khỏi khi được phát hiện sớm, nếu phát hiện ở giai đoạn muộn thì chữa trị rất tốn kém và thường hiệu quả không cao
Bên cạnh đó khám sức khỏe theo luật lao động đã trở nên khá quen thuộc với những cá nhân hiện đang công tác tại các tổ chức, công ty, cơ quan ban ngành Tuy nhiên khám sức khỏe tổng quát đối với người dân không thuộc diện được thăm khám sức khoẻ thường bị bỏ qua, thông thường khi nào bị bệnh mới khám Đây là một thói quen nguy hiểm, bởi khám sức khỏe định kỳ có thể phát hiện ngay từ đầu các bệnh mà lâu nay ta không biết để có thể điều trị sớm, mang lại cuộc sống có ý nghĩa Thực tế cho thấy việc khám sức khoẻ tại Tỉnh Lâm Đồng chưa được hiểu đúng và thực hiện nghiêm túc như các nước phát triển Ý thức tự giác chăm lo cho sức khoẻ của người dân nơi đây chưa được chú trọng, việc thăm khám sức khoẻ cá nhân luôn bị bỏ ngỏ Vậy đâu sẽ là yếu tố tác động nhằm đánh thức người dân tỉnh Lâm Đồng trong việc bảo vệ sức khoẻ bằng cách thăm khám sức khoé tự nguyện…Ngành y tế tại Lâm Đồng trước đây được xem là lĩnh vực dịch vụ công
Trang 16của các đơn vị nhà nuớc như Bệnh viên Đa Khoa tỉnh Lâm Đồng và các trạm y tế phường Đến năm 2008 sự ra đời của bệnh viện tư nhân Hoàn Mỹ Đà Lạt đã làm cho lĩnh vực y tế nơi đây dần có những thay đổi Khách hàng khi đến với bệnh viện
tư nhân được tiếp đón tốt hơn, khách hàng có cảm giác thân thiện, gần gũi và dễ dàng chia sẽ thông tin Nối tiếp theo là các phòng khám tư nhân lần lượt hình thành ngày càng rộng rãi với những chương trình khuyến mãi kích thích nhu cầu của khách hàng trong dịch vụ y tế… Từ đó, người dân có nhiều lựa chọn hơn trong dịch
vụ khám sức khoẻ tự nguyện (không phải do công ty, cơ quan tổ chức hay do nhu cầu thủ tục hành chính nào đó)
Tuy đã có nhiều cơ sở cung cấp dịch vụ khám sức khoẻ định kỳ tại Lâm Đồng và những lợi ích của việc khám sức khoẻ định kỳ cũng đã được đề cập nhiều trên các phương tiện truyền thông, các chương trình chăm sóc sức khoẻ cộng đồng, v.v… Thực tế cho thấy thành phần tham gia sức khoẻ định kỳ chủ yếu là theo dạng
cơ quan hay công ty thực hiện theo quy định của luật lao động và thông tư 14/2013/TT-BYT Những đối tượng không thuộc diện nêu trên rất ít thực hiện khám sức khoẻ tự nguyện
Chăm sóc sức khoẻ thường xuyên để phòng ngừa bệnh tật được xem là cần thiết, đáng quan tâm cho tình trạng sức khỏe của mọi người ở mọi lứa tuổi Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng chăm sóc sức khoẻ dẫn đến kết quả sức khỏe được tốt hơn và chất lượng cuộc sống cũng theo đó tốt hơn đem lại hạnh phúc cho mọi người Tuy nhiên, thực tế cho thấy số người tự nguyện khám sức khoẻ còn ít, đặc biệt là những người có hoàn cảnh khó khăn về tài chính Và tỷ lệ các cá nhân có vấn
đề về sức khoẻ thường nằm ở nhóm tuổi trên 35 Hơn nữa, việc thăm khám sức khoẻ thường xuyên sẽ góp phần lớn trong tầm soát bệnh tật có ảnh hưởng đáng kể
và tích cực đến sức khoẻ cá nhân Vấn đề đặt ra là vì sao có tình trạng người dân ít thực hiện khám sức khoẻ tổng quát và các tổ chức y tế cần làm gì để cải thiện tình hình? Làm sao để người dân có ý thức tự nguyện thăm khám sức khỏe của mình thường xuyên ? Để giúp hiểu được ý định của con người trong việc khám sức khoẻ
tự nguyện các mô hình nhận thức xã hội đã được phát triển và thông qua trong nghiên cứu khoa học về ý định hành vi Hầu hết các mô hình cố gắng xác định và
Trang 17giải thích các kỳ vọng, phán đoán, niềm tin và ý định dẫn tới việc thực hiện các hành vi khác nhau Liệu rằng ý định khám sức khỏe tự nguyện sẽ chịu ảnh hưởng như thế nào bởi các yếu tố duy lý như đã được nghiên cứu nhiều sử dụng các lý thuyết nổi tiếng như TRA, TPB…? Những yếu tố giải thích hành vi như thái độ, quy chuẩn chủ quan hay kiểm soát hành vi đã được nghiên cứu thực nghiệm khá nhiều, kể cả trong ngành y tế Tuy nhiên yếu tố cảm xúc ảnh hưởng đến mong muốn
và ý định hành vi trong sử dụng dịch vụ khám sức khỏe định kỳ thì chưa tìm thấy có nghiên cứu nào ở Việt Nam Các phản ứng cảm xúc được dự đoán chung liên quan đến ý định khám sức khỏe tự nguyện của người dân như thế nào? Và phải chăng ý định sẽ được dẫn dắt bởi hệ quả của cảm xúc?
Từ những câu hỏi trên liệu rằng các cảm xúc ảnh hưởng đến ý định như thái
độ (Attitudes), cảm xúc mong đợi tích cực (Positive Anticipated Emotion), cảm xúc tiêu cực dự kiến (Negative Anticipated Emotion), quy chuẩn chủ quan (Subiective Norm), kiểm soát hành vi nhận thức (Perceived Behavior Control), tần suất hành vi trong quá khứ (Frequency of Past Behavior) sẽ được giải thích ra sao ?
Xuất phát từ bối cảnh nêu trên, đề tài nghiên cứu này được hình thành với ý tưởng ứng dụng mô hình MGB (Model of Goal – Directed Behavior) của Perugini
và Bagozzi (2001) để góp thêm những yếu tố về cảm xúc nhằm giải thích tốt hơn hành vi/ý định sử dụng dịch vụ khám sức khỏe định kỳ tự nguyện của người dân tại tỉnh Lâm Đồng
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Xác định ảnh hưởng của các yếu tố thái độ đối với việc chăm sóc sức khỏe, cảm xúc tích cực mong đợi, cảm xúc tiêu cực dự kiến, quy chuẩn chủ quan, nhận thức về kiểm soát hành vi và tần suất hành vi trong quá khứ đến mong muốn và ý định sử dụng dịch vụ khám sức khỏe định kỳ tự nguyện
Kết quả của nghiên cứu sẽ là cơ sở giúp các cơ sở y tế và các đơn vị quản lý
y tế cộng đồng hiểu rõ hơn về hành vi, ý định sử dụng dịch vụ khám sức khỏe tự nguyện của người dân Từ đó làm tiền đề để xây dựng các chiến lược, những hành động cụ thể nhằm kích thích nhu cầu khám sức khoẻ tự nguyện, nhu cầu bảo vệ sức khoẻ của người dân cũng như đem đến kết quả kinh doanh tốt hơn cho các đơn vị
Trang 181.3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là người dân tại tỉnh Lâm Đồng có tuổi đời trên 35 tuổi và không thuộc diện khám sức khỏe định kỳ bắt buộc theo quy định của Luật lao động như đã nêu trên
1.4 Ý nghĩa đề tài
Về mặt lý thuyết, nghiên cứu này kỳ vọng sẽ góp thêm một thực nghiệm từ Việt nam nhằm kiểm chứng mô hình MGB vốn không được phổ biến như TPB trong các nghiên cứu về hành vi
Về thực tiễn, kết quả của nghiên cứu sẽ là cơ sở giúp các cơ sở y tế và các đơn vị quản lý y tế cộng đồng ở Lâm Đồng hiểu rõ hơn về hành vi, ý định sử dụng dịch vụ khám sức khỏe tự nguyện của người dân Từ đó làm tiền đề để xây dựng và thực hiện các hoạt động phù hợp
1.5 Bố cục dự kiến luận văn
Luận văn bao gồm 5 chương:
Chương 1: Giới thiệu về đề tài Nêu tổng quan về nghiên cứu, lý do hình thành đề tài, trình bày mục tiêu, phạm vi và phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn và bố cục của đề tài
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu tương tự đã thực hiện trước đây, mô hình nghiên cứu đề xuất và các giả thuyết trong mô hình
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Trình bày phương pháp nghiên cứu để kiểm định thang đo, sự phù hợp của mô hình nghiên cứu với các giả thuyết đề ra và thông tin về mẫu
Chương 4: Phân tích dữ liệu và thảo luận kết quả
Chương 5: Tóm tắt các kết quả chính của nghiên cứu, các kết luận và kiến nghị Những đóng góp và hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo
Trang 19CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Chương 2 nhằm hệ thống cơ sở lý thuyết về ảnh hưởng các yếu tố thái độ, quy chuẩn chủ quan, cảm xúc mong đợi tích cực, cảm xúc dự kiến tiêu cực, kiểm soát hành vi nhận thức, tần suất hành vi trong quá khứ đến mong muốn và ý định sử dụng dịch vụ khám sức khỏe tự nguyện và mối quan hệ giữa các khái niệm
2.1 Mô hình hành động theo dự định (Theory of Planned Behavior – TPB)
TPB là một sự mở rộng của mô hình TRA của Fishbein (Fishbein & Ajzen 1975) Khi TRA (Theory of Reasoned Action ) bắt đầu áp dụng trong khoa học xã hội, các nhà ngiên cứu nhận ra rằng TRA có nhiều hạn chế TRA rất thành công khi áp dụng dự báo những hành vi nằm trong tầm kiểm soát của ý chí con người Tuy nhiên với những hành vi nằm ngoài tầm kiểm soát thì dù họ có động cơ rất cao từ thái độ và chuẩn chủ quan thì họ vẫn không hành động vì bị sự can thiệp của các điều kiện môi trường Ajzen (1985) đã sửa đổi TRA cách thêm vào yếu tố kiểm soát hành vi nhận thức để báo dự định Kiểm soát nhận thức hành vi có vai trò như sự tự đánh giá của mỗi cá nhân với khả năng liên quan đến việc thực hiện hành động của họ và mô hình TRA sau khi có sự sửa đổi này được gọi là TPB Nói cách khác TPB là mô hình được mở rộng từ TRA, giữ nguyên cấu trúc của TRA nhưng có thêm yếu tố kiểm soát nhận thức hành vi
độ của người tiêu dùng hướng tới thực hiện một hành vi đã được chứng minh là một yếu tố dự báo hành vi mạnh mẽ (Fishbein & Ajzen 1975)
2.1.2 Quy chuẩn chủ quan (Subjective Norm)
Quy chuẩn chủ quan (Subjective Norm) là các áp lực xã hội được nhận biết
để thực hiện/hay không thực hiện một hành vi Theo mô hình giá trị kỳ vọng, Quy
Trang 20chuẩn chủ quan được xác định bởi tổng tập hợp các niền tin có thể nhận biết liên
quan đến các kỳ vọng của những người (nhóm người) quan trọng
2.1.3 Kiểm soát hành vi nhận thức (Perceived Behavior Control)
Ajzen (1985) mở rộng thuyết TRA trong thuyết hành động theo dự tính (TPB) bằng cách thêm vào một cấu trúc mới “nhận thức kiểm soát hành vi” như là một yếu tố quyết định về ý định hành vi và hành vi Nhận thức kiểm soát hành vi liên quan đến nhận thức của người tiêu dùng về khả năng của họ để thực hiện một hành vi nhất định TPB cho phép dự đoán các hành vi mà mọi người không có toàn quyền kiểm soát của ý chí Nhận thức kiểm soát hành vi phản ánh nhận thức của những hạn chế nội bộ (tự hiệu quả) cũng như những hạn chế bên ngoài trong hành vi như nguồn lực sẵn có
dù giả định này rất hữu ích và được điều chỉnh bởi nhiều nhà nghiên cứu, nhưng hoàn toàn không thể giải thích được hành vi khi người tiêu dùng không có toàn quyền kiểm soát hành vi đó Khoảng cách lý thuyết này dẫn đến sự phát triển tiếp theo của TRA để trở thành lý thuyết về hành vi theo kế hoạch (TPB)
Lý thuyết về hành vi nhằm giải thích toàn diện bởi Ajzen (1991) Nhiều nhà nghiên cứu tin rằng đó là một trong những lý thuyết có ảnh hưởng và được hỗ trợ tốt nhất
Trang 21để dự đoán hành vi của con người (Shaw và cộng sự 2000; Smith và cộng sự 2008; Coumeya và cộng sự 1999; Armitage 2005) Ý tưởng chính của Lý thuyết hành vi
để giải thích là thái độ không liên quan trực tiếp đến hành vi được thực hiện, nhưng thông qua ý định hành vi như một biến kiểm duyệt Ý định được xác định bởi thái
độ đối với hành vi, tiêu chuẩn chủ quan và kiểm soát nhận thức hành vi Mặc dù nó
đã được thử nghiệm và áp dụng trong nhiều bối cảnh khác nhau (như Giles và cộng
sự, 2004; Shih & Fang, 2004), lý thuyết vẫn tiếp tục mở rộng dẫn đến mô hình Hành vi hướng mục đích (MGB)
2.2 Mô hình hành vi hướng mục đích (Goal – Directed Behaviour)
Mô hình hành vi hướng mục đích (Model of Goal-Directed Behavior – MBG)
là sự mở rộng của mô hình Thuyết hành vi dự định (TPB) (Ajzen, 1991) Theo mô hình TPB hành vi được xác định chủ yếu bởi dự tính thực hiện hành vi và những
dự tính này được xác định bởi thái độ, quy chuẩn chủ quan, kiểm soát hành
vi nhân thức Tuy nhiên có một vài sự nghi ngờ giá trị của TPB về khả năng giải thích ý định và hành vi trong những trường hợp mà chúng chỉ là phương tiện để đạt được những mục tiêu lớn hơn (chứ không đơn thuần là đạt đến sự kết thúc hành vi)
Mô hình hành vi hướng mục MBG (Perugini & Bagozzi, 2001) được xem là sự mở rộng của TPB, dựa trên nền tảng của mô hình TPB, nhưng có thêm vào những khái niệm liên quan đến những cảm xúc tích cực và tiêu cực của khách hàng nhằm xem xét khía cạnh cảm xúc với cách tiếp cận đối với hành vi của con nguời
Ngoài ra tiền thân của ý định hành vi thông qua những mong muốn hành vi như là một khái niệm trung gian Bổ sung các hành vi trong quá khứ như dự đoán
về mong muốn, ý định và hành vi để làm tăng hiệu quả trong mô hình
2.2.1 Cảm xúc mong đợi (Anticipated Emotions)
Một khái niệm mới được xem là khía cạnh nổi bật trong MGB so với TPB đó
là yếu tố cảm xúc và yếu tố này với mục đích chuyển gần hơn đến quá trình hành động Được xem là cơ chế giải thích cho các quá trình đằng sau sự hoạt động của cảm xúc, nó chính là sự điều chỉnh ảnh hưởng đến mong muốn (Bagozzi, 1992; Carver & Scheier, 1990, 1998) Cảm xúc dự kiến được xem như là kết quả tình cảm tác động đến việc đạt được mục tiêu (Hunter, 2006)
Trang 222.2.2 Cảm xúc mong đợi tích cực:
Cảm xúc mong đợi tích cực được định nghĩa là những hệ quả cảm xúc mà người ta liên tưởng đến nếu đạt được mục tiêu (Hunter, 2006) Do đó cảm xúc mong đợi tích cực là cảm xúc đến từ việc dự báo hoàn thành mục tiêu (Perugini & Bagozzi, 2001) Cường độ của Cảm xúc mong đợi tích cực tác động đến hành động
và được xem là động lực để đưa ra hành động (Perugini & Bagozzi, 2001) Đồng thời mong muốn hướng tới một ý định hành vi nhất định được xác định bằng việc đánh giá cảm xúc mong đợi tích cực Trong một nghiên cứu về ảnh hưởng, Bagozzi, Wong và Yi (1999) nhận thấy rằng cảm xúc mong đợi tích cực có ảnh hưởng tới mong muốn, tùy thuộc vào hoàn cảnh
2.2.3 Cảm xúc tiêu cực dự kiến:
Cảm xúc dự kiến tiêu cực được định nghĩa là những hệ quả cảm xúc mà người ta liên tưởng đến nếu không thực hiện hành vi, thất bại của mục tiêu (Hunter, 2006) Do đó cảm xúc tiêu cực dự kiến là cảm xúc đến từ việc dự báo thất bại của mục tiêu (Perugini & Bagozzi, 2001) Đồng thời mong muốn hướng tới một ý định hành vi nhất định được xác định bằng việc đánh giá cảm xúc tiêu cực dự kiến Trong một nghiên cứu về ảnh hưởng, Bagozzi, Wong và Yi (1999) nhận thấy rằng cảm xúc tiêu cực dự kiến có ảnh hưởng tới mong muốn, tùy thuộc vào hoàn cảnh
2.2.4 Tần suất hành vi trong quá khứ (Frequency of Past Behavior)
Một phân tích gần đây đã tổng kết 64 nghiên cứu và tìm ra những bằng chứng mạnh mẽ cho tác động của tần suất hành vi trong quá khứ đối với cả ý định
và hành vi tương lai (Ouellette & Wood, 1998) Các tác giả đề xuất hai quy trình thông qua đó tần suất hành vi trong quá khứ sẽ hướng dẫn hành vi trong tương lai Khi một hành vi được thực hiện tốt trong một môi trường không đổi, tần suất hành
vi trong quá khứ sẽ ảnh hưởng đến sức mạnh thói quen và do đó có một thái độ trực tiếp về hành vi trong tương lai Tuy nhiên, khi các hành vi không được học hỏi hay khi chúng được thực hiện trong các bối cảnh không ổn định, tần suất hành vi trong quá khứ đóng góp trực tiếp vào các ý định bởi vì “mọi người có thể hình thành ý định tốt đẹp về các hành vi mà họ thường xuyên thực hiện trong quá khứ” (Ouellette & Wood, 1998) Lý do thứ hai cũng có thể được mở rộng đến những ảnh
Trang 23hưởng trực tiếp của tần suất hành vi trong quá khứ đối với mong muốn
2.2.5 Mong muốn (Desire)
Mong muốn đã được xác định bởi Perugini và Bagozzi (2004) là “ một trạng thái của tâm lý được xem là một tác nhân có động cơ của cá nhân để thực hiện một hành động hoặc để đạt được một mục tiêu.” Trạng thái tâm lý này là kết quả của một số xử lý nội bộ nhận thức và tình cảm , và kích hoạt ngay trước khi ý định được hình thành Nói cách khác, mong muốn là động lực thúc đẩy ý định Một định nghĩa khác về khao khát là “Động lực chủ động của quá trình ra quyết định mang tính phi tập thể, và phục vụ cho việc tích hợp hàng loạt các nhận thức tình cảm, nhận thức, nhận thức về bản thân và đánh giá xã hội của người ra quyết định trước khi tạo ra ý định” (Bagozzi, 2003)
Một số nhà triết học cho rằng mong muốn có một mối quan hệ đặc biệt với các ý định theo nghĩa rằng khi một người nhận thức và chấp nhận mong muốn hành động của mình, điều này sẽ thúc đẩy anh ta hoặc cô ta hình thành ý định Davis (1984) gọi đây là 'điều kiện kết nối cho các ý định
Tuy nhiên trong MGB, hành vi hướng mục tiêu là công cụ để đạt được mục tiêu Do đó, đặc điểm mong muốn liên quan đến hiệu suất của một hành vi nhất định bởi vì nó có lợi cho đạt được mục tiêu Quan điểm động lực này thường được đề cập đến trong văn học triết học như là hoạt động của một mong muốn bên ngoài, đó
là “một ước muốn cho một cái gì đó vì sự tin tưởng của nó đối với cái gì khác mà ta mong muốn” (Mele, 1995)
2.3 Các giả thuyết nghiên cứu
2.3.1 Mối quan hệ giữa thái độ và mong muốn:
Thái độ (Attitudes) đối với hành vi này đề cập đến “khuynh hướng tâm lý được biểu hiện bằng cách đánh giá một thực thể cụ thể có mức độ ưu ái hoặc không thích hợp” (Eagly & Chaiken, 1993) Một cá nhân sẽ đánh giá các lợi ích có thể có hoặc các tổn thất có được từ một hành vi cụ thể để xác định xem có tham gia vào hành vi cụ thể hay không (Baker, Al-Gahtani & Hubona, 2007) Theo đó, có thể giả định rằng một cá nhân có một mong muốn mạnh mẽ để tham gia vào hành vi khi kết quả mong đợi của hành vi đó được đánh giá tích cực Thái độ đối với một hành vi
Trang 24nhất định phản ánh một đánh giá tổng thể về hành vi cụ thể và ảnh hưởng đến mong muốn của một cá nhân tham gia vào hành vi đó (Lee, Han & Lockyer, 2012) Ảnh hưởng của thái độ đối với mong muốn đã được chứng minh trong một số nghiên cứu của MGB (Lee, Han & Lockyer, 2012)
Dựa trên các nghiên cứu trước đây, có thể giả định rằng nếu một cá nhân có thái độ tích cực đối với hành vi khám sức khỏe trong dịch vụ y tế khám chữa bệnh tại Lâm Đồng, thái độ này sẽ tăng cường mong muốn về dịch vụ đó Do đó, giả thuyết rằng:
Giả thuyết 1 (H1): Thái độ đối với việc chăm sóc sức khỏe cá nhân có mối
quan hệ tích cực với mong muốn khám sức khỏe tự nguyện của người dân tại Lâm Đồng
2.3.2 Mối quan hệ giữa quy chuẩn chủ quan và mong muốn
Fishbein và Ajzen (1975) đã xác định khái niệm về quy chuẩn chủ quan như
là một nhận thức về áp lực xã hội trong trường hợp có hoặc không thực hiện một hành vi cụ thể Một cá nhân có thể xem xét và tuân thủ ý kiến của người khác để thực hiện một hành vi cụ thể Điều này có nghĩa là quyết định và hành vi của một cá nhân bị ảnh hưởng lớn bởi những người mà họ tham khảo nổi bật (Bearden & Etzel, 1991) Những người giới thiệu nổi bật thuờng là các cá nhân hoặc nhóm mà người
đó tin rằng sẽ ủng hộ hoặc không ủng hộ hành vi của mình Những người tham khảo quan trọng thường bao gồm cha mẹ, vợ chồng, bạn thân, đồng nghiệp, và, trong một
số trường hợp, những người như bác sĩ, kế toán, vân vân Theo Ajzen (1988), "Các
cá nhân tin rằng hầu hết những người tham khảo với họ mà họ có động cơ tuân theo đều nghĩ rằng họ nên thực hiện hành vi này sẽ cảm nhận được áp lực xã hội để làm như vậy" (trang 121) Nhiều nghiên cứu của MGB cho thấy rằng tiêu chuẩn chủ quan là một yếu tố quan trọng trong sự hình thành mong muốn (Lee, Han & Lockyer, 2012) Sự mong muốn có thể được tăng cường khi những thay đổi chủ quan sẽ mạnh mẽ hơn trong trường hợp mức độ các yếu tố khác ảnh hưởng đến ý định hành vi không thay đổi (Lee, Han & Lockyer, 2012)
Vì vậy, có thể giả thuyết rằng nếu một cá nhân nhận thức rằng người khác đánh giá dịch vụ khám chữa bệnh tại Lâm Đồng là một hoạt động tích cực có giá trị
Trang 25thì mong muốn của cá nhân trong dịch vụ y tế khám chữa bệnh tại Lâm Đồng sẽ được tăng lên Vì vậy, giả thuyết sau đây được đề xuất:
Giả thuyết 2 (H2): Quy chuẩn chủ quan có mối quan hệ tích cực với mong
muốn khám sức khỏe tự nguyện của người dân tại Lâm Đồng
2.3.3 Mối quan hệ giữa cảm xúc và mong muốn
Một trong những hạn chế của TPB là nó không xem xét khía cạnh tình cảm của ý định hành vi (Perugini & Bagozzi, 2001) Mọi người có thể có những cảm xúc hướng tới những hành vi tương lai không chắc chắn (Triandis, 1977) Cụ thể, mong đợi lợi ích tâm lý bằng cách thực hiện một hành vi cụ thể gây ra cảm xúc tích cực
dự đoán, trong khi mong đợi thiệt hại về tâm lý do không thực hiện hành vi dẫn đến tiêu cực cảm xúc dự đoán (Bagozzi, Baumgartner, & Pieters, 1998) Điều này có nghĩa là dự đoán phản ứng trước cảm tính đối với việc thực hiện một hành vi có thể
là các yếu tố quyết định quan trọng của hành vi (Van der Pligt & De Vries, 1998) Trong MGB, các cảm xúc mong đợi tích cực và cảm xúc tiêu cực dự đoán ảnh hưởng đến mong muốn cùng với các biến ban đầu của TPB, những cảm xúc này dẫn đến quá trình tự điều chỉnh năng động ngụ ý bằng cách đánh giá thành công hay thất bại trong việc thực hiện hành vi (Carver & Scheier, 1998) Gleicher et al (1995) lưu
ý rằng những cảm xúc mong đợi này ảnh hưởng đến cả ý định hành vi và hành vi thực tế Trong các nghiên cứu thực nghiệm, Perugini và Bagozzi (2001) cho thấy rằng hai cảm xúc dự đoán có vai trò quan trọng trong việc hình thành mong muốn Một người dự đoán kết quả đạt được hoặc hậu quả của việc không đạt được mục tiêu với những cảm xúc tương ứng tích cực hoặc tiêu cực (Perugini & Bagozzi, 2001) Những cảm xúc dự kiến liên quan đến trạng thái tình cảm mà một cá nhân mong muốn trải nghiệm khi thành công đạt được mục tiêu cụ thể (Bagozzi & Yi, 1988) Do đó, các cảm xúc dự đoán ảnh hưởng đến ham muốn hành vi vì các cấu trúc cảm xúc thể hiện động lực hedon trong việc thúc đẩy tình hình tích cực của công việc, tránh tình huống tiêu cực (Leone et al., 2004) Trong các nghiên cứu thực nghiệm, Perugini và Bagozzi (2001) cho thấy rằng hai cảm xúc dự đoán có vai trò quan trọng trong việc hình thành ham muốn
Trang 26Do đó cảm xúc tích cực và cảm xúc tiêu cực được dự đoán đều là những biến
số quan trọng trong bối cảnh dịch vụ y tế khám chữa bệnh tại Lâm Đồng, giả định rằng:
Giả thuyết 3 (H3): Cảm xúc tích cực mong đợi có mối quan hệ tích cực với
mong muốn khám sức khỏe tự nguyện của người dân tại Lâm Đồng
Giả thuyết 4 (H4): Cảm xúc tiêu cực dự kiến có ảnh hưởng tích cực đến mong
muốn khám sức khỏe tự nguyện của người dân tại Lâm Đồng
2.3.4 Mối quan hệ giữa nhận thức về kiểm soát hành vi và mong muốn
Nếu nguồn lực cần thiết hoặc cơ hội để thực hiện một hành vi cụ thể được chuẩn bị đầy đủ mong muốn của một cá nhân và ý thức hành vi cho hành vi được tăng cường (Perugini & Bagozzi, 2001) Tuy nhiên, nếu một cá nhân trong tình huống mà các nguồn lực hoặc cơ hội là không đủ, mong muốn của mình và ý định hành vi cho hành vi sẽ giảm Đặc điểm của hành vi con người có thể được giải thích với khái niệm về kiểm soát hành vi nhận thức Nhận thức kiểm soát hành vi đề cập đến sự dễ dàng nhận thấy hoặc khó khăn trong việc thực hiện hành vi Sự kiểm soát hành vi nhận thức của một người càng lớn, thì mạnh mẽ hơn nên là ý định thực hiện hành vi Ví dụ: nếu một người cho rằng mình có các nguồn lực cần thiết (ví dụ: thời gian, phương tiện giao thông) đi nghỉ, họ có xu hướng hình thành ý định thực hiện hành vi đó Kiểm soát hành vi nhận thức cũng được xem như là một yếu tố mệnh lệnh cần thiết của MGB Một số học giả chứng minh rằng việc ra quyết định của một cá nhân có thể bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi kiểm soát hành vi nhận thức, cho thấy sự tự tin của cá nhân hoặc khả năng thực hiện hành vi cụ thể trong MGB (Lee, Han & Lockyer, 2012) Nói cách khác, mong muốn và ý định hành vi cho một hành
vi cụ thể có xu hướng tăng cường khi các nguồn lực cần thiết hoặc cơ hội thực hiện hành vi được chuẩn bị đầy đủ (Perugini & Bagozzi, 2001) Nếu một cá nhân có đủ nguồn lực hoặc cơ hội để khám sức khỏe tự nguyện, điều này có thể làm tăng mong muốn của cá nhân và ý định hành vi cho việc khám sức khỏe Perugini và Bagozzi (2001) cho rằng nhận thức kiểm soát hành vi củng cố mong muốn, ý đồ hành vi và hành vi thực tế của cá nhân Tuy nhiên, mối liên hệ giữa kiểm soát hành vi nhận thức và hành vi thực tế không được xem xét trong nghiên cứu này vì biến cuối cùng
Trang 27của nghiên cứu hiện tại là ý định về hành vi chứ không phải là một hành vi thực tế
Nói cách khác, trong nghiên cứu này kiểm soát hành vi nhận thức được giả định là ảnh hưởng đến mong muốn trong dịch vụ y tế khám chữa bệnh tại Lâm Đồng Vì vậy, giả định rằng:
Giả thuyết 5 (H5): Nhận thức về kiểm soát hành vi có mối quan hệ tích cực
với mong muốn khám sức khỏe tự nguyện của người tại Lâm Đồng
2.3.5 Mối quan hệ giữa tần suất hành vi trong quá khứ, mong muốn và ý định
Nếu một cá nhân thực hiện một hành vi nào đó nhiều lần, người đó cũng có mong muốn và ý định để thực hiện hành vi (Lee, Han & Lockyer, 2012) Tính năng hành vi này của con người có thể được giải thích với khái niệm hành vi trong quá khứ Hành vi trong quá khứ có thể góp phần làm giảm các rủi ro nhận thức liên quan đến hành vi cụ thể thông qua việc thực hiện hành vi lặp đi lặp lại và thường xuyên (c) Hành vi trong quá khứ được xác định là một nhân tố tiên đoán đáng kể các hành vi trong tương lai bởi vì nó được coi là một proxy của thói quen (Conner
& Armitage, 1998) Trong MGB, người ta giả thuyết rằng tính năng mới của hành
vi trong quá khứ chỉ dự đoán hành vi thực tế nhưng tần số của hành vi trong quá khứ được giả định là dự báo về mong muốn, ý định và hành vi thực tế (Bagozzi & Dholakia, 2006) Tần suất cho thấy hiệu suất của hành vi trong một thời gian dài tương đối dài, điển hình là một năm Lần truy cập gần đây thể hiện hiệu suất của một hành vi trong khoảng thời gian tương đối ngắn, thường là vài tuần hoặc vài tháng Tuy nhiên, ảnh hưởng tính năng mới của hành vi trong quá khứ không được xem xét vào thời điểm này vì biến phụ thuộc cuối cùng trong nghiên cứu này không phải là hành vi thực tế mà là ý đồ hành vi Do đó, mối quan hệ giả định với hành vi trong quá khứ được đề xuất như sau:
Giả thuyết 6 (H6): Tần suất khám sức khỏe trong quá khứ có mối quan hệ tích
cực với mong muốn khám sức khỏe tự nguyện của người dân tại Lâm Đồng
Giả thuyết 7 (H7): Tần suất khám sức khỏe trong quá khứ có quan hệ tích cực
với ý định khám sức khỏe tự nguyện của người dân tại Lâm Đồng
2.3.6 Mối quan hệ giữa mong muốn và ý định
Nhiều nghiên cứu cho thấy mong muốn là biến số bỏ qua trong lý thuyết quá
Trang 28trình ra quyết định trong quá khứ làm giảm khoảng cách giữa các quá trình nhận thức và hành vi (Bagozzi, 1992; Lee, Han & Lockyer, 2012; Perugini & Bagozzi, 2001) Nếu một cá nhân có mong muốn thực hiện một hoạt động nào đó, cá nhân sẽ
có động lực để thực hiện hành vi đó do những suy nghĩ và cảm xúc mạnh mẽ đối với các hoạt động này Tuy nhiên, mặc dù một cá nhân có đủ niềm tin để thực hiện một hành vi cụ thể, hành vi thực tế có thể không được thực hiện mà không mong muốn như là một cam kết động lực cho hành vi đó Perugini và Bagozzi (2004) xem xét mong muốn như là một trạng thái của tâm trí, theo đó một cá nhân có một kích thích cá nhân để thực hiện một hành động hoặc để đạt được một mục tiêu Perugini
và Bagozzi (2004) cũng khẳng định rằng các khái niệm mong muốn và ý định sẽ được xem xét tương ứng bởi vì mong muốn kém hiệu quả hơn, ít liên quan đến hành động và được ban hành trong khung thời gian dài hơn ý định Mong muốn thực hiện hành động này được bổ sung để tăng sức mạnh dự đoán trong việc giải thích ý định,
vì nó là nguồn động lực chủ yếu để thực hiện hành động (Malle, 1999, Malle & Knobe, 1997) Do đó, mong muốn là một nguyên nhân gần gũi, và "là bước đầu tiên hướng tới một quyết định hành động, thường là theo sau là một ý định làm như vậy" Các nghiên cứu thực nghiệm đã chứng minh rằng mong muốn là một yếu tố tiên đoán mạnh mẽ ý định (Bagozzi, 1992; Perugini & Bagozzi, 2001) Vì vậy, giả thuyết sau đây được đề xuất:
Giả thuyết 8 (H8): Mong muốn có mối quan hệ tích cực với ý định hành vi
khám sức khỏe định kỳ tự nguyện của người dân tại Lâm Đồng
2.4 Mô hình nghiên cứu
Với tám giả thuyết giả thuyết được hình thành và biện luận ở trên, mô hình nghiên cứu được xây dựng và trình bày ở hình 2.1 Theo đó, hành vi khám sức khỏe
tự nguyện tại Lâm Đồng đuợc giải thích bởi các yếu tố như thái độ (H1), quy chuẩn chủ quan (H2), cảm xúc tích cực mong đợi (H3), cảm xúc tiêu cực dự kiến nếu không thực hiện hành vi (H4), nhận thức về kiểm soát hành vi (H5), tần suất hành
vi trong quá khứ ảnh huởng đến mong muốn (H6), và ý định (H7), đồng thời mong muốn có ảnh hưởng tích cực đến ý định khám sức khỏe định kỳ tự nguyện tại Lâm Đồng (H8)
Trang 29(Perceived Behavior Control)
Mong muốn (Desires) KSK TN
Cảm xúc tích cực mong đợi
(Positive Anticipated Emotions)
Ý định (Intention) KSK TN
Tần suất hành vi trong quá khứ (Frequency of Past Behavior)
Hình 2.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất
Trang 30CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nội dung của chương ba nhằm mô tả phương pháp đã được sử dụng để đánh giá thang đo và kiểm định mô hình lý thuyết cùng các giả thuyết đã đề ra trong chương hai Chương này gồm năm phần chính: (1) thiết kế nghiên cứu, trình bày chi tiết quy trình nghiên cứu: nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức; (2) trình bày các thang đo lường khái niệm nghiên cứu; (3) kết quả nghiên cứu sơ bộ; (4) kích thước mẫu và cách chọn mẫu; (5) phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu
3.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu sẽ được thực hiện thông qua 2 giai đoạn: phỏng vấn sơ bộ định tính và nghiên cứu định lượng
- Giai đoạn phỏng vấn sơ bộ định tính
Phỏng vấn định tính nhằm hiệu chỉnh bổ sung thang đo cho phù hợp
Hiệu chỉnh thang đo: dựa vào các ý kiến đóng góp để hiệu chỉnh thang đo cho phù hợp với bối cảnh nghiên cứu và trở thành thang đo chính thức
Mục đích của việc làm này nhằm kiểm tra tính phù hợp của các khái niệm trong mô hình, mức độ rõ ràng của từ ngữ, các phát biểu tức là các biến quan sát, giai đoạn này giúp đảm bảo các phát biểu được hiểu đúng nghĩa, tránh sự trùng lặp hay có cần bổ sung thêm biến quan sát không, và sau đó thực hiện điều chỉnh thang
đo để sử dụng cho nghiên cứu định lượng Giai đoạn này nhằm cung cấp thông tin toàn diện tại nơi nghiên cứu được tiến hành, chủ yếu sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu hay mặt đối mặt giúp kiểm tra được mức độ hiểu của người được phỏng vấn đối với các thang đo gốc, điều chỉnh, bổ sung hoặc loại bỏ những biến không phù hợp cho nghiên cứu Kiểm tra và hoàn thiện thang đo ở bước định tính sơ bộ được thực hiện thông qua thảo luận tay đôi với 10 đối tượng tuổi trên 35 và không thuộc diện khám sức khoẻ định kỳ theo luật lao động Sau khi hiệu chỉnh sẽ hoàn thiện thang đo sau đó dùng thang đo để thực hiện nghiên cứu định lượng sơ bộ trên 80 mẫu khảo sát
- Giai đoạn nghiên cứu định lượng sơ bộ:
Trang 31Nghiên cứu định lượng sơ bộ được thực hiện nhằm mục đích đánh giá sơ bộ
về độ tin cậy và giá trị của các thang đo đã thiết kế để điều chỉnh các thang đo cho phù hợp với lĩnh vực nghiên cứu tương ứng; làm cơ sở cho việc xây dựng bảng câu hỏi cho nghiên cứu chính thức Nghiên cứu này thực hiện thông qua bảng câu hỏi sơ
bộ Kích cỡ mẫu cho nghiên cứu định lượng sơ bộ là n = 80 và được chọn theo phương pháp lấy mẫu thuận tiện (phương pháp chọn mẫu phi xác suất) (kết quả nghiên cứu sơ bộ bằng phương pháp định lượng được trình bày cụ thể ở phần 3.3.2) Bên cạnh đó kết quả cho thấy thang đo có độ tin cậy cao và đạt giá trị hội tụ, phương sai trích, tính đơn hướng Từ đó cho thấy thang đo hoàn toàn phù hợp dùng
để nghiên cứu chính thức
- Giai đoạn nghiên cứu chính thức
Nghiên cứu chính thức được tiến hành bằng phương pháp nghiên cứu định lượng, thông qua phương pháp khảo sát trực tiếp các cá nhân trên 35 tuổi không thuộc diện khám sức khỏe theo luật lao động bằng bảng câu hỏi chính thức với kích thước mẫu n = 250 Nghiên cứu này dùng để kiểm định mô hình lý thuyết và các giả thuyết trong mô hình
Tóm lại, nghiên cứu được thực hiện thông qua hai giai đoạn, với phương pháp, kỹ thuật và mục đích được trình bày tại bảng 3.1
Bảng 3.1 Hai giai đoạn thực hiện trong thiết kế nghiên cứu
2 Chính thức Định lượng Phỏng vấn qua bảng
câu hỏi chính thức
Kiểm định thang đo,
mô hình và các giả thuyết
Quy trình nghiên cứu
Quy trình nghiên cứu chi tiết được thực hiện theo các bước như hình 3.1 sau:
Trang 32Hình 0.1 Quy trình nghiên cứu
Nguồn: Dựa theo quy trình nghiên cứu của (Tho, 2011)
Trang 333.2 Thang đo
Thang đo nháp được xây dựng từ việc tham khảo các thang đo được sử dụng trong các nghiên cứu trước đây nhằm đo lường các biến tiềm ẩn (khái niệm nghiên cứu) Nội dung các phát biểu được trình bày trong phụ lục 1, tóm tắt các khái niệm
và số biến quan sát được trình bày trong bảng 3.2 sau:
2 Attitude02 Không hiệu quả- Có hiệu quả
3 Attitude03 Không có lợi- Có lợi
4 Attitude04 Ngớ ngẫn -Thông minh
cảm thấy thất vọng
Perugini và Bagozzi 2001
Trang 34Emotions)
14 NAE14
Nếu đi khám sức khỏe mà không biết được chính xác mình có bệnh gì hay không thì Anh/Chị
cảm thấy buồn
15 NAE15
Nếu đi khám sức khỏe mà không biết được chính xác mình có bệnh gì hay không thì Anh/Chị
cảm thấy tiếc
16 NAE16
Nếu đi khám sức khỏe mà không biết được chính xác mình có bệnh gì hay không thì Anh/Chị
Perugini và Bagozzi 2001
19 PBC19 Đối với Anh/Chị việc thực hiện
đi khám sức khỏe là dễ dàng
20 PBC20 Nếu muốn, Anh/Chị có thể thực
hiện việc đi khám sức khỏe?
Perugini và Bagozzi 2001
22 SN22
Xin cho biết mức độ ủng hộ của người thứ hai đối với việc Anh/Chị đi khám tổng quát để kiểm tra sức khỏe
23 SN23
Xin cho biết mức độ ủng hộ của người thứ ba đối với việc Anh/Chị đi khám tổng quát để kiểm tra sức khỏe
Trang 3525 Desire25 Anh/Chị mong muốn định kỳ đi
28 Intention28 Anh/Chị dự định đi khám sức
30 FPB Xin cho biết số lần anh/chị đã đi
khám sức khoẻ trước đây
Perugini và Bagozzi 2001
3.3 Kết quả nghiên cứu sơ bộ
3.3.1 Kết quả kiểm tra và hoàn chỉnh thang đo ở bước định tính sơ bộ
Các thang đo được sử dụng đều thể hiện nội dung của các khái niệm nghiên cứu, với sự khác nhau về văn hóa, trình độ phát triển kinh tế xã hội Thang đo gốc nghiên cứu trong bối cảnh ăn kiêng và tập thể dục nên khi áp dụng thang đo vào nghiên cứu khám sức khoẻ tự nguyện tại tỉnh Lâm Đồng tất yếu có nhiều nội dung chưa thực sự phù hợp và cần điều chỉnh Hơn nữa, đối với trường hợp cụ thể của nghiên cứu này thuộc ngành dịch vụ y tế, là một trong những ngành có nét đặc thù riêng không giống với những ngành dịch vụ khác, do vậy nghiên cứu định tính được thực hiện với kỹ thuật thảo luận tay đôi nhằm điều chỉnh thang đo nháp ban đầu Thang đo sau khi được điều chỉnh gọi là thang đo nháp được sử dụng cho nghiên cứu định lượng sơ bộ Thang đo được sử dụng là thang đo Likert 7 bậc (Tương ứng theo mức độ từ 1 = Hoàn toàn không đồng ý đên mức độ 7= Hoàn toàn đồng ý) (kết quả xem phụ lục 3)
Trang 363.3.2 Nghiên cứu định lượng sơ bộ
Thang đo nháp được đánh giá thông qua nghiên cứu định lượng sơ bộ với kích thước mẫu n = 80 Mỗi thang đo nháp được đánh giá bằng phương pháp phân tích nhân tố khám phá EFA và phương pháp hệ số độ tin cậy Cronbach’s Alpha nhằm kiểm định sơ bộ tính đơn hướng và độ tin cậy Các biến (thang đo hoàn chỉnh)
sẽ được sử dụng trong nghiên cứu định lượng chính thức Kết quả được trình bày trong Bảng 3.3 như sau:
Bảng 3.3 Kết quả nghiên cứu định lượng sơ bộ
biến
Hệ số tải
Cronbach's Alpha
Nhỏ nhất
Lớn nhất
2 Cảm xúc mong đợi tích cực
(Positive Anticipated Emotions) 5 0.707 0.857 0.894
3 Cảm xúc dự kiến tiêu cực (Negative
4 Kiểm soát hành vi nhận thức
(Perceived Behavior Control) 3 0.764 0.869 0.843
5 Quy chuẩn chủ quan (Subiective
3.4 Nghiên cứu định lƣợng chính thức
Thang đo chính thức được sử dụng cho nghiên cứu định lượng chính thức, kết quả được sử dụng để kiểm định thang đo và mô hình nghiên cứu Các thang đo chính thức được đánh giá sơ bộ lại bằng phương pháp phân tích nhân tố khám phá EFA và phương pháp phân tích độ tin cậy Cronbach’s Alpha Bước tiếp theo các thang đo này được kiểm định bằng phương pháp phân tích nhân tố khẳng định CFA,
Trang 37các biến quan sát có trọng số nhỏ (< 0.50) sẽ bị loại Mặt khác, tại bước này cũng sẽ kiểm định được giá trị hội tụ, tính đơn hướng, giá trị phân biệt và độ tin cậy tổng hợp của thang đo Tiếp theo, mô hình lý thuyết và giá trị liên hệ lý thuyết sẽ được kiểm định trong mô hình cấu trúc tuyến tính SEM
3.5 Kích thước mẫu và cách chọn mẫu
Trên thực tế, kích thước mẫu càng lớn nghiên cứu càng tốt nhưng nó tỉ lệ thuận với chi phí và thời gian Hiện nay, các nhà nghiên cứu xác định kích thước mẫu cần thiết thông qua các công thức kinh nghiệm cho từng phương pháp xử lý Trong phương pháp phân tích nhân tố khám phá EFA, kích thước mẫu thường được xác định dựa vào (1) kích thước tối thiểu và (2) số lượng biến đo lường đưa vào phân tích Theo (Hair & ctg, 2006) cho rằng để sử dụng EFA, kích thước mẫu tối thiểu phải là 50, tốt hơn là 100 và tỉ lệ biến quan sát (observations)/biến đo lường (items) là 10:1, nghĩa là 1 biến đo lường cần tối thiểu là 10 biến quan sát, tốt nhất là 10:1 trở lên (Tho, 2011)
Nghiên cứu này sử dụng phương pháp phân tích SEM, xét đến độ phức tạp của mô hình SEM thì mẫu dự kiến 250 Để đảm bảo đạt kích thước mẫu n = 250 như đã đề ra, dự kiến phát ra 350 bảng câu hỏi để dự phòng những trường hợp trả lời không đạt yêu cầu, không nghiêm túc Số lượng bảng câu hỏi được phân bổ đến các đối tượng trên 35 tuổi không thuộc diện khám sức khoẻ theo luật lao động
Mẫu được chọn theo phương pháp thuận tiện với biến kiểm soát là giới tính,
độ tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp và mức thu nhập
3.6 Phương pháp thu thập dữ liệu
Việc thu thập dữ liệu đã được thực hiện trong thời gian năm tuần, dựa trên bảng câu hỏi đã được thiết kế sẵn, có câu hỏi gạn lọc đối tượng và được khảo sát trực tiếp với người dân tại các nơi như chợ, khu phố, hộ dân, siêu thị, hoặc khách hàng đến giao dịch tại ngân hàng (nơi tác giả đang công tác) Bảng câu hỏi được thiết kế dưới dạng câu hỏi là câu hỏi cấu trúc (đóng) với các loại câu hỏi và câu trả lời đã được liệt kê sẵn và người được khảo sát chọn câu trả lời của họ đánh giá theo thang điểm cho trước Thang đo được sử dụng là thang đo Likert 7 bậc ( Theo mức
độ 1 = Hoàn toàn không đồng ý đến 7= Hoàn toàn đồng ý)
Trang 383.7 Phương pháp phân tích dữ liệu
Sau khi thu thập, toàn bộ các bảng khảo sát được xem xét và loại đi 62 bảng không đạt yêu cầu như chưa trả lời hoàn chỉnh bảng khảo sát, hoặc phần thông tin tổng quát trả lời chưa từng đi khám sức khoẻ nhưng phần nội dung chính lại trả lời khám vài lần trước đây( chưa hợp lệ), hay các phiếu khảo sát thuộc diện khám sức khoẻ của bộ lao động sau đó mã hóa, nhập liệu, làm sạch dữ liệu và phân tích bằng phần mềm SPSS 22 và AMOS 20
3.7.1 Thống kê mô tả
Thống kê mô tả mẫu thu thập được theo các biến phân loại: Giới tính, tuổi, nghề nghiệp, thu nhập
3.7.2 Phương pháp đánh giá độ tin cậy của thang đo
Đánh giá độ tin cậy của thang đo thông qua hệ số Cronbach’s Alpha và hệ số tương quan biến tổng Giá trị alpha nằm từ 0 đến 1, giá trị càng lớn cho biết độ tin cậy càng cao giữa các biến Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng khi Cronbach’s Alpha
từ 0.8 trở lên đến gần 1 thì thang đo lường là tốt, từ 0.7 đến 0.8 là sử dụng được Các biến có hệ số tương quan biến tổng nhỏ hơn 0.3 sẽ bị loại và thang đo sẽ được chọn khi hệ số Cronbach’s Alpha lớn hơn 0.6 (Hair & ctg., 2010) Theo Trọng và Ngọc (2008) thì Cronbach’s Alpha trên 0,6 là có thể sử dụng được trong trường hợp thang đo là mới hoặc mới đối với người trả lời trong bối cảnh nghiên cứu
Bên cạnh đó khi phân tích với phần mềm SPSS, hệ số Cronbach’s Alpha if Item Deleted cũng được xem xét, nếu hệ số tương ứng của các mục hỏi lớn hơn hệ
số Cronbach’s Alpha tương ứng thì mục hỏi đó nên được loại bỏ để tăng độ tin cậy cho thang đo (Trọng & Ngọc, 2008), tuy nhiên cũng cần xem xét để đảm bảo về độ giá trị nội dung cho khái niệm cần đo
3.7.3 Kiểm định sự hội tụ của các khái niệm trong thang đo thông qua phân tích EFA
Phân tích nhân tố khám phá EFA (Exploratory Factor Analysis) được thực hiện để kiểm định sự hội tụ của các biến thành phần về khái niệm Mô hình phân tích nhân tố được xem là phù hợp khi hệ số đo lường thích hợp mẫu KMO (Kaiser-
Trang 39Meyer-Olkin) có giá trị từ 0.5 trở lên Kiểm định Bartlett xem xét giả thuyết H0: độ tương quan giữa các biến quan sát bằng không trong tổng thể Nếu kiểm định này có
ý nghĩa thống kê (Sig ≤ 0.05) thì các biến quan sát có tương quan với nhau trong tổng thể (Trọng & Ngọc, 2008)
Hệ số tải (factor loading) cho biết tương quan giữa từng biến với nhân tố Hệ
số càng lớn thì biến đại diện trong nhân tố càng lớn Tổng phương sai trích cho biết mức ý nghĩa của các nhân tố được rút trích Độ giá trị hội tụ với biến quan sát tải lên nhân tố chung có hệ số tải < 0.3 sẽ bị loại (Hair & ctg., 2010), độ giá trị phân biệt với biến quan sát không tải lên nhân tố khác với hệ số tải > 0.3 và tổng phương sai trích ≥ 50% (Thọ, 2013)
3.7.4 Phân tích nhân tố khẳng định (CFA)
Sau khi phân tích nhân tố, các biến không đảm bảo giá trị hội tụ sẽ tiếp tục bị loại khỏi mô hình cho đến khi các biến quan sát được nhóm theo các nhóm biến Các nhân tố sẽ được đưa vào phân tích CFA
Phân tích nhân tố khẳng định (CFA): là phương pháp phân tích dựa trên sự hiểu biết nhân định về các nhân tố tiềm ẩn trong mô hình thông qua lý thuyết hoặc thực nghiệm (thông qua EFA) Phân tích nhân tố khẳng định cho phép nhà nghiên cứu khẳng định sự tồn tại của các nhân tố trong mô hình, dữ liệu nghiên cứu có tương thích với dữ liệu thị trường hay không Phương pháp sử dụng ước lượng sử dụng là ước lượng bằng hàm hợp lý cực đại (Maximum likelihood estimation)
Mô hình được xem là phù hợp với dữ liệu thị trường khi các chỉ số: Chi-square hiệu chỉnh theo bậc tự do (Chi-square/df) nhỏ hơn 2, một số trường hợp nghiên cứu có thể nhỏ hơn 3, chỉ số thích hợp so sánh CFI (Comparative fit index), chỉ số Turker - Lewis TLI (Turker – Lewis index), lớn hơn 0.9 mô hình được xem là tốt, các chỉ số NFI, AGFI trên 0.8 cũng có thể chấp nhận được (Sharama, 2005), chỉ số RMSEA (Root Mean Square Error of Approximation) tốt ở mức dưới 0.05 Thọ và Trang (2011) cho rằng nếu mô hình nhận được các giá trị TLI, CFI >= 0.9, CMIN/df <= 2, RMSEA <= 0.08 thì mô hình phù hợp với dữ liệu thị trường
Trang 403.7.5 Mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM)
Một trong những kỹ thuật phức hợp và linh hoạt nhất sử dụng để phân tích mối quan hệ phức tạp trong mô hình nhân quả là mô hình mạng SEM (Structural Equation Modeling)
Bản chất của mô hình SEM là đòi hỏi các nhà nghiên cứu trước hết thực hiện khai báo các giá trị xuất phát ban đầu được gọi là mô hình giả thiết Từ mô hình giả thiết, thông qua một chuỗi vòng lặp các chỉ số biến đổi để cuối cùng cung cấp cho nhà nghiên cứu một mô hình xác lập, có khả năng giải thích tối đa sự phù hợp giữa
mô hình với bộ dữ liệu thu thập thực tế
Kiểm định Bootstrap: Bootstrap được sử dụng để ước lượng lại các tham số
mô hình nhằm kiểm tra độ tin cậy của các ước lượng Trong Bootstrap, máy tính sẽ chọn ra những mẫu khác theo phương pháp lặp lại, và có thay thế Và từ mẫu máy tính chọn ra này có thể tính được trung bình của các ước lượng (các trọng số hồi quy…) Hiệu số giữa trung bình các ước lượng từ Bootstrap và các ước lượng ban đầu gọi là độ chệch Trị tuyệt đối các độ chệch này càng nhỏ, càng không có ý nghĩa thống kê càng tốt
3.8 Tóm tắt chương 3
Tóm lại nội dung chương ba báo cáo lại phương pháp nghiên cứu đã được thực hiện thông qua hai giai đoạn: nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức để đánh giá thang đo các khái niệm nghiên cứu và mô hình lý thuyết
Giai đoạn nghiên cứu sơ bộ được thực hiện thông qua kỹ thuật thảo luận tay đôi với 10 đối tượng trên 35 tuổi không thuộc diện khám sức khoẻ định kỳ theo luật lao động Nghiên cứu định lượng sơ bộ được thực hiện thông qua kỹ thuật phỏng vấn trực tiếp 80 người Chương này cũng trình bày kết quả nghiên cứu sơ bộ, kết quả cho thấy các biến sau khi được điều chỉnh, bổ sung trong bước kiểm tra và hoàn thiện thang đo ở bước định tính sơ bộ hầu hết đều đạt được yêu cầu và sử dụng cho nghiên cứu chính thức
Nghiên cứu chính thức được thực hiện bằng phương pháp nghiên cứu định lượng với kích thước mẫu là 250 Dữ liệu khảo sát được thu thập bằng cách phỏng vấn trực tiếp các đối tượng trên 35 tuổi không thuộc diện khám sức khoẻ theo luật