1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

châu chấu sinh học 7 bùi quốc tảo thư viện tư liệu giáo dục

28 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 75,05 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Lễ - hội: Là loại hình sinh hoạt văn hoá tổng hợp rất đa dạng, một kiểu sinh hoạt tập thể của nhân dân sau một thời gian lao động mệt nhọc; hoặc là dịp để con người hướng về một sự ki[r]

Trang 1

THƯƠNG NGHIỆP

a Vai trò Trên thực tế, trong đời sống và SX con người có nhu cầu trao đổi với nhau về hàng hoá

và dịch vụ trên cơ sở tự nguyện, thoả thuận với nhau về giá cả mà 2 bên đều có lợi; sự trao đổi trên (giữa

các nhân, tập thể, giữa các quốc gia) đã xuất hiện một ngành mới thuộc lĩnh vực dịch vụ: đó là thương nghiệp Như vậy, thương nghiệp có nguồn gốc từ nền sản xuất hàng hoá, nó được phát triển song song với

sự phát triển của việc PCLĐXH và sự tập trung sản xuất trên qui mô lớn Ngày nay, thương nghiệp đangphát triển theo xu hướng khu vực hoá và quốc tế hoá toàn cầu Trong hoạt động thương nghiệp, việc traođổi hàng hoá, dịch vụ trong phạm vi một nước (gọi là nội thương), còn trao đổi với nước ngoài (gọi làngoại thương)

Vai trò của thương nghiệp thể hiện: làm cho mọi thứ hàng hoá ở khắp nơi trên TG có thể đến tay

người tiêu dùng; trong nền kinh tế thị trường, thương nghiệp còn thúc đẩy quá trình CMH’ sản xuất (tức là

ở một lãnh thổ nào đó có thể CMH’ SX một vài SP phục vụ cho các vùng khác và (ngược lại) các vùngkhác cũng sẽ cung cấp một số SP mà vùng có nhu cầu) Thương nghiệp đóng góp phần đáng kể vào cơ cấuGDP của cả nước; góp phần vào sự PCLĐ QTế

b Nội thương

- Dưới thời phong kiến, hoạt động nội thương đã được đẩy mạnh Vào thế kỉ XVI-XVII, hoạt động

này đã rất nhộn nhịp Trong đó, có một số đô thị nổi tiếng cho đến nay vẫn còn nhắc đến như Thăng Long(Hà Nội), Phố Hiến (Hưng Yên), Hội An (Quảng Nam), Thanh Hà (Thừa Thiên Huế), Gia Định (SàiGòn)

- Thời Pháp thuộc, bên cạnh các chợ quê, xuất hiện các chợ có qui mô lớn như Đồng Xuân (Hà

Nội), chợ Sắt (Hải Phòng), chợ Rồng (Nam Định), chợ Vinh (Nghệ An), chợ Đông Ba (Huế), chợ BếnThành (Sài Gòn) Hoạt động này tuy thăng trầm lúc lên - lúc xuống, nhưng nó là điều kiện rất cần thiết đểphục vụ cho đời sống và sản xuất xã hội

- Từ 1990 trở lại đây Sau một thời gian khó khăn và khủng hoảng, nhờ tác động của các chính

sách vĩ mô (đặc biệt là sự thay đổi cơ chế quản lý) ngành đã tìm ra lối ra và phát triển mạnh Sự phát triểnnày thể hiện ở tổng mức bán lẻ hàng hoá tăng khá nhanh (1990 là ~ 19.031,2 tỉ đồng, năm 1998 tăng lên180.500tỉ đồng (tăng ~ 9,5 lần) và đến năm 2002 là 272.793 tỉ đồng (gấp ~ 14,3 lần so với năm 1990)

- Tuy nhiên, hoạt động này diễn ra cũng không đều giữa các vùng lãnh thổ Những vùng có nền

kinh tế phát triển hoạt động này tấp nập hơn (ngược lại); ví dụ: năm 2002: Tổng mức bán lẻ hàng hóa củaĐông Nam Bộ chiếm 35,8% doanh số bán lẻ cả nước ĐB sông Cửu Long (19,5%), ĐB sông Hồng(19,0%); Thấp nhất là Tây Bắc (1,0%) Các tỉnh có tổng mức bán lẻ cao nhất TP HCM (25,4% cả nước),

Hà Nội (9,3%) Về thành phần kinh tế: tổng mức bán lẻ cao nhất là kinh tế ngoài QD (tập thể, tư nhân)chiếm 81,0%, đến kinh tế QD (17,2%) và khu vực kinh tế có vốn ĐTNN (1,8%) Vấn đề đặt ra là hoạtđộng của ngành còn phân tán, manh mún, hàng thật - hàng giả cùng tồn tại trên thị trường làm cho lợi íchcủa người kinh doanh và tiêu dùng chưa được bảo vệ đúng mức Vì thế, trong tương lai, cần gắn chặtthương mại - tiêu dùng - sản xuất; đẩy mạnh phát triển thị trường thương mại nội địa thống nhất trên phạm

vi cả nước Hình thành các tập đoàn thương mại mà nòng cốt là kinh tế QD Định hướng đến 2010, nộithương sẽ chiếm 3,7% giá trị gia tăng của khu vực dịch vụ và 13,3% GDP

Trang 2

c Ngoại thương

Là ngành đóng góp quan trọng cho sự phồn vinh của đất nước Ngay thời Bắc thuộc, nước Văn

Lang - Âu Lạc đã có quan hệ buôn bán với nước ngoài (đặc biệt là với các nước láng giềng như TrungQuốc) Thương mại bằng đường biển cũng rất phát triển, thời kỳ này đã buôn bán với nhiều nước phương

Tây Dưới thời phong kiến (giai đoạn đầu do chính sách bế quan toả cảng, hoạt động này chưa được phát

triển) Đến đời Lý - Trần buôn bán bắt đầu được phát triển, ngoài việc buôn bán với các nước láng giềng,thì việc buôn bán với phương Tây cũng rất tấp nập, các tàu buôn của Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hà Lan,

Anh, Pháp đã đến nước ta Dưới thời Pháp thuộc, việc buôn bán lại phụ thuộc vào chính quốc, mang tính chất độc quyền đã bóp chết các ngành thủ công truyền thống Trong 2 cuộc kháng chiến, hoạt động này gặp nhiều khó khăn Hoạt động này chỉ phát triển mạnh từ sau 1990 Trước đó, sự tan rã của hệ thống các

nước XHCN ở Đông Âu và Liên Xô (cũ), thị trường truyền thống của nước ta bị thu hẹp lại, nhưng chỉ saumột thời gian ngắn, chúng ta đã tìm kiếm được một số thị tường mới và hoạt động xuất - nhập khẩu cóchuyển biến rõ rệt Sau nhiều năm nhập siêu, đến 1992 cán cân xuất - nhập khẩu của nước ta đã cân bằng

Từ sau 1993 nhập siêu tăng lên nhưng về bản chất khác thời kỳ trước

- Về thị trường đã được mở rộng theo hướng đa phương hoá Ngoài thị trường truyền thống (Nga

và Đông Âu), đã hội nhập được với nhiều thị trường mới (các nước tư bản và đang phát triển), chúng ta đãquan hệ với nhiều công ty và các tổ chức phi chính phủ khác

- Về cơ chế quản lý cũng có thay đổi, xoá bỏ cơ chế cũ, mở rộng quyền hoạt động đến tận các

ngành, các cơ sở địa phương và tăng cường sự quản lý của Nhà nước bằng pháp luật

- Về cơ cấu giá trị hàng X - NK: Xuất khẩu chủ yếu là các nhóm hàng CN nhẹ - TTCN, CN nặng,

khoáng sản và hàng nông sản chiếm ưu thế tuyệt đối Về cơ cấu hàng nhập khẩu chủ yếu là TLSX,nguyên-nhiên liệu-thiết bị toàn bộ, dầu khí và HTD

Bảng 5.7 Tổng giá trị xuất - nhập khẩu 1990 - 2008 (Triệu USD)

khẩu Xuất khẩu Nhập khẩu

+ Về xuất khẩu quan trọng nhất là các nước Châu Á (chiếm 65,5% giá trị xuất khẩu), châu Âu

(24,0%) Các nước và lãnh thổ nhập khẩu nhiều nhất là Nhật Bản (2.438 triệu USD, chiếm 18,2% giá trịxuất khẩu cả nước), Hoa Kỳ (14,5%), Trung Quốc (9,0%)

Trang 3

+ Về nhập khẩu, nước ta nhập khẩu nhiều hàng nhất từ các nước ở C.Á (78,4% giá trị nhập khẩu

cả nước) đến C.Âu (14,9%) Trong số này, quan trọng nhất là Đài Loan (12,8%), Singapo (12,8%), HànQuốc (11,6%) và Trung Quốc (10,9%)

d Các cửa khẩu trao đổi buôn bán với bên ngoài Trong việc trao đổi, buôn bán với nước ngoài,

thì vận tải đường biển có ý nghĩa hàng đầu; với các nước láng giềng và vùng biên giới thì đường bộ cũng

có tầm quan trọng nhất định Đến 2008 Việt Nam đã mở 16 cửa khẩu QTế, 13 cửa khẩu QGia, 29 cửakhẩu địa phương và 62 chợ biên giới

- Với Trung Quốc, chúng ta có đường biên giới chung dài 1.400km, việc giao lưu chính thức qua 4

cửa khẩu quốc tế (Móng Cái, Hữu Nghị, Thanh Thuỷ, Lào Cai); 6 cửa khẩu quốc gia và 14 cửa khẩu địaphương; Số chợ biên giới là 26 (Quảng Ninh 3, Lạng Sơn 5, Cao Bằng 7, Hà Giang 6, Lào Cai 4, LaiChâu 1)

- Với Lào (phía Tây), đường biên giới 2.069 km, có 6 cửa khẩu quốc tế (Tây Trang, Nậm Cắn, Cầu

Treo, Cha Lo, Lao Bảo, Bờ Y), 4 cửa khẩu quốc gia và 1 cửa khẩu địa phương Có 7 chợ biên giới (LaiChâu, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Kon Tum)

- Với Cămpuchia, đường biên giới 1.080km, có 6 cửa khẩu quốc tế (Lệ Thanh, Hoa Lư, Xa Mát,

Mộc Bài, Vĩnh Xương, Xà Xía), 3 cửa khẩu quốc gia, 14 cửa khẩu địa phương Số chợ biên giới 29: GiaLai (3), Bình Phước (1), Tây Ninh (3), Long An (5), Đồng Tháp (5), An Giang (10), Kiên Giang (2).Bảng 5.8 Các cửa khẩu vùng biên giới trên bộ (2007)

Lạng Sơn Hữu Nghị ChiMa,Bình Nghi Tân Thanh, Cốc Nam

Lào Cai Lào Cai Mường Khương Bát Sát, Bắc Hà

Lai Châu Tây Trang

Trang 4

Đồng Tháp Thường Phước Thông Bình, Sở Thượng, Dinh Bà

An Giang Vĩnh Xương Tịnh Biên Đồng Đức, Khánh Bình, Bắc Đai, Vĩnh Hội Đông

Kiên Giang Xà Xía

e Định hướng phát triển Trong tương lai hoạt động X-NK sẽ triển khai theo hướng khai thác các

lợi thế so sánh của nước ta để mở rộng khối lượng hàng xuất khẩu Chuyển dịch cơ cấu hàng XK theohướng: Tăng tỉ trọng hàng CN và dịch vụ; Giảm dần tỉ trọng hàng nông sản sơ chế; Nâng cao chất lượnghàng xuất khẩu, chiếm lĩnh và củng cố thị trường Trong hàng nhập khẩu, tăng tỉ trọng nhập khẩu kĩ thuật,giảm dần tỉ trọng HTD & nguyên, nhiên liệu

Đến sau 2010, dự kiến sẽ hình thành

- TT thương mại quốc tế là đầu mối X-NK, nơi giao dịch và dịch vụ thương mại quốc tế, nằm ở đô

thị loại 1có tổng mức xuất nhập khẩu hàng năm trên 4,0 tỉ USD Hai trung tâm thương mại quốc tế này sẽ

là Hà Nội (16,1 tỉ USD) và TP HCM (27,3 tỉ USD)

- TT thương mại quốc gia là đầu mối giao dịch giữa các vùng trong nước với tổng kim ngạch XK

1,0 tỉ USD/năm Dự kiến thành lập 3 trung tâm (Hải Phòng, Đà Nẵng và Vũng Tàu)

- TT thương mại vùng là đầu mối giao dịch trong vùng Dự kiến 7 trung tâm (Cần Thơ, Biên Hoà,

Nha Trang, Buôn Ma Thuột, Vinh, Hạ Long, Việt Trì)

- TT thương mại cửa khẩu là đầu mối giao dịch với các nước láng giềng Dự kiến Móng Cái, Đồng

Đăng, Lào Cai, Mộc Bài, Vĩnh Xương, Cầu Treo

DU LỊCH

a Vai trò Du lịch, theo “Pháp lệnh du lịch” do Chủ tịch nước ta kí 20/02/1999: “Du lịch là hoạt

động của con người ở ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình; nhằm thoả mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một thời gian nhất định” (Điểm 1, Điều 10, trang 8) Du lịch đã và đang trở thành

nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống VH - XH, nó phát triển mạnh mẽ như là một ngành kinh tếquan trọng của nhiều nước Từ sau chiến tranh TG II (đặc biệt là từ 1950) trở lại đây, hoạt động du lịchtrên TG trở nên rất nhộn nhịp Năm 1950, số khách du lịch quốc tế ~ 25,3 triệu, doanh thu 2,4 tỉ USD.Năm 1990, số khách du lịch đã tăng lên ~ 454,9 triệu và doanh thu trên 255,0 tỉ USD Gần đây tốc độ tăngtrưởng có chững lại chút ít, nhưng năm 2001 gẫn đạt 693,0 triệu khách với doanh thu ~ 462,2 tỉ USD

Trong nền kinh tế và đời sống xã hội, du lịch có vai trò rất quan trọng: Trước hết, nó góp phần

làm tăng sản phẩm trong nước (người ta coi đây là ngành có đóng góp hàng đầu cho nền kinh tế), ví dụ,năm 2001, TSP của ngành du lịch trên thế giới đạt 3.400 tỉ USD, chiếm 10,2% GNP toàn cầu, lôi cuốn ~

203 triệu lao động (10,6% LLLĐ thế giới) Tạo thêm việc làm cho người lao động Là giấy thông hànhcủa hoà bình Góp phần khai thác, bảo tồn các di sản văn hoá dân tộc, bảo vệ và tôn tạo môi trường thiênnhiên - xã hội (hiện nay, ở nước ta, ngành này đã thu hút ~ trên 150.000 lao động) Du lịch còn là “giấythông hành của hòa bình”, là phương tiện để giáo dục lòng yêu quê hương, đất nước, giữ gìn và phát huy

Trang 5

bản sắc dân tộc Du lịch làm cho con người hiểu biết lẫn nhau, nắm vững hơn về lịch sử, văn hóa, phongtục tập quán của dân tộc Du lịch còn góp phần khai thác, bảo tôn các di sản văn hóa và dân tộc, bảo vệ vàtôn tạo môi trường thiên nhiên, xã hội.

b Tài nguyên du lịch

● Khái niệm: Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, di tích cách mạng, giá

trị nhân văn, công trình LĐ sáng tạo của con người có thể SD nhằm thoả mãn nhu cầu du lịch Là yếu tố

cơ bản để hình thành các điểm DL, khu DL nhằm tạo ra sự hấp dẫn du lịch

● Tài nguyên du lịch tự nhiên: Là tổng thể tự nhiên với các thành phần của nó có thể góp phần

khôi phục và phát triển thể lực, trí lực của con người, khả năng lao động và sức khoẻ của họ Tài nguyên này được lôi cuốn vào phục vụ cho nhu cầu cũng như sản xuất dịch vụ du lịch Tài nguyên du lịch tự

nhiên bao gồm:

- Địa hình

+ Địa hình Karstơ, nước ta có khoảng 6,0 vạn ha đá vôi lộ ra trên bề mặt (tập trung chủ yếu từ

160B trở ra), lại nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới-ẩm-gió mùa rất thuận lợi cho quá trình karstơ pháttriển Nước ta có đủ dạng karstơ trên mặt, ngầm (hang, động) có khả năng thu hút khách du lịch Hiện nay,

đã phát hiện hàng trăm hang động với tổng chiều dài 135km Lớn nhất là các hang động ở vùng núi đá vôi

Kẻ Bàng (Quảng Bình), tổng chiều dài 73 km, ở Cao Bằng 26 km, ở Lạng Sơn 13 km, ở Sơn La trên12km Ở Kẻ Bàng, các hang động tạo thành một hệ thống liên hoàn, tập trung ở thượng nguồn sông Son,chúng phân bố như một dòng sông, khi thì lộ ra, khi thì đi ngầm trong núi (dài nhất và đẹp nhất là độngPhong Nha) Các hang của nước ta có cấu tạo phức tạp, những hang lớn thường có nhiều phòng, nhiềunhánh, thông ra ngoài bằng nhiều cửa, tuy nhiên cũng có hang chỉ có một phòng rộng như hang Dơi ởHữu Lũng, Lạng Sơn, rộng 200m, cao 120m, dài 328m Các hang động ở vùng miền núi, vịnh Hạ Long,Bái Tử Long và vùng Ninh Bình đều có nhiều dạng cột đá, chuông đá, măng đá rất hấp dẫn khách dulịch

Có thể chia các hang động của nước ta thành 3 khu vực chính: Ở Đông Bắc, các hang chỉ phát triển theo chiều ngang và ngắn (trong đó, dài nhất là hang Cả trên 3.342m, tính cả 3 tầng hang) Ở Tây Bắc, các hang phần lớn phát triển theo chiều thẳng đứng, phân bậc rõ rệt Ở Bắc Trường Sơn, các hang chỉ

phát triển theo chiều ngang và hầu hết là tuyến chảy của sông các con sông hiện nay

Bảng 5.9 Một số hang động dài nhất ở nước ta (tính đến 1997)

dài (m)

Độ sâu

Chiềudài (m)

Độ sâu(m)

Trang 6

Rục Caroon Q.Bình 2800 45 Ngườm Khu C.Bằng 804 36

(Nguồn: Tuyển tập các công trình khoa học, Trường ĐHKHTN, ngành Địa lý, 1998) + Dạng địa hình bờ biển, đường bờ biển nước ta dài 3.260km, có nhiều bãi tắm, cùng hệ thống

đảo, quần đảo ven bờ Từ Móng Cái - Hà Tiên có hàng loạt các bãi tắm đẹp như Trà Cổ, Bãi Cháy, ĐồSơn, Hải Thịnh, Sầm Sơn, Cửa Lò, Thiên Cầm, Đá Nhảy, Nhập Lệ, Cửa Tùng, Thuận An, Cảnh Dương,Lăng Cô, Non Nước, Mĩ Khê, Sa Huỳnh, Qui Nhơn, Đại Lãnh, Dốc Lết, Nha Trang, Ninh Chữ, Mũi Né,Vũng Tàu, Long Hải, Phước Hải Theo đánh giá của Tổ chức du lịch thế giới (WTO), dải bờ biển cónhững bãi tắm đẹp nhất nước ta là từ bãi Đại Lãnh (Khánh Hoà) dưới chân đèo Cả qua vịnh Văn Phong -Nha Trang - Ninh Chữ (Riêng vịnh Văn Phong có thể tạo nên khu du lịch biển có thể cạnh tranh được vớicác khu DL biển của các nước trong khu vực như Pattaya (Thái Lan) Bãi biển của nước ta dài, rộng, nềnchắc chắn, độ dốc chỉ 2 - 30, độ mặn nước biển dưới 300/00, độ trong của nước biển dao động từ 0,3- 0,5m(riêng ở Đại Lãnh và Văn Phong dao động từ 3 - 5m)

+ Hệ thống các đảo, quần đảo Hiện nay cả nước có 9 huyện đảo, nhiều xã đảo với 18 vạn dân,

trải dọc vùng ven biển từ Quảng Ninh - Kiên Giang Năm 1995, trong chương trình nghiên cứu biển (đềtài KT-03-12) thì nước ta có 2.773 đảo lớn nhỏ ở ven bờ (tính đến 100km) Diện tích 1.720 km2, trong đó

có 84 đảo có diện tích từ 1 km2, chiếm 92,7% tổng diện tích đảo ven bờ; các đảo có diện tích 10

km2 (là 24 đảo) và 100 km2 (là 3 đảo) Các đảo lớn nhất Phú Quốc (557km2), Cái Bầu (194km2), Cát

Bà (153km2), Trà Bản (76,4km2), Côn Lôn (57,4km2) Về phân bố, tập trung chủ yếu ở vùng biển Bắc Bộ

và vùng vịnh Thái Lan Những tỉnh có nhiều đảo nhất là Quảng Ninh (2078 đảo, chiếm 74,94%), HảiPhòng (243 đảo), và 8,76%), Kiên Giang (159 đảo và 5,3%), Khánh Hoà (106 đảo và 8,82%) Trong sốcác đảo trên, có ý nghĩa cho du lịch nhất là đảo Phú Quốc (Kiên Giang), Cát Bà (Hải Phòng)

Bảng 5.10 Phân bố các đảo ven bờ phân theo vùng

Các vùng Hệ thống đảo Trong đó: Các đảo có diện tích 1 km2

- Khí hậu Khí hậu cũng được coi là một dạng của tài nguyên du lịch Trong các chỉ tiêu của khí

hậu, đáng quan tâm nhất là 2 chỉ tiêu nhiệt độ và độ ẩm của không khí Ngoài ra, cũng cần quan tâm đến

các yếu tố khác như mưa, gió, ấp suất khí quyển, ánh nắng mặt trời và những hiện tượng thời tiết đặc biệt.Nước ta, khí hậu nhiệt đới - gió mùa tương đối thích hợp cho sức khoẻ của con người, khi hậu có sự phânhoá cả theo thời gian và không gian, biên độ dao động nhiệt trung bình không quá 150C, càng vào phíaNam càng thấp dần (Nha Trang 50C, Nam Bộ chỉ còn 2-30C), lượng mưa 1.500 - 2.000mm Như vậy,hoạt động du lịch của nước ta còn tuỳ thuộc theo mùa của khí hậu, có thể diễn ra chỉ vài tháng hoặc cảnăm như ở các tỉnh phía Nam Riêng mùa hè là mùa du lịch quan trọng nhất, có thể phát triển với nhiềuloại hình du lịch (đặc biệt là du lịch biển) Trở ngại chính của khí hậu cho hoạt động du lịch là các tai biến

Trang 7

của thiên nhiên là mưa, bão, gió mùa Đông Bắc lạnh ở miền Bắc, gió bụi trong mùa khô, lũ lụt trong mùamưa, các hiện tượng thời tiết đặc biệt.v.v.

- Tài nguyên nước

Phục vụ cho du lịch bao gồm nước trên mặt, nước ngầm và nước khoáng, không chỉ cung cấp cho

nhu cầu của các khu du lịch, mà còn tạo ra các loại hình du lịch đa dạng như du lịch hồ, du lịch sôngnước Do đặc điểm của khí hậu nhiệt đới - gió mùa cùng với các nguyên nhân khác, sông ngòi nước tatuy nhiều, nhưng ít có giá trị cho du lịch (trừ hệ thống sông Cửu Long và một vài con sông khác như sôngHương )

Về các hồ, nước ta có nhiều hồ với nguồn gốc khác nhau: Hồ tự nhiên lớn có giá trị cho du lịch là

hồ Ba Bể, hồ ở độ cao 145m/biển, diện tích ~ 500 ha, dài 7km, chỗ rộng nhất là 2km, độ sâu TB ~ 30m,

hồ bị thắt khúc thành ba hồ nhỏ (Pé Lầm, Pé Lù, Pé Lèng) Về các hồ nhân tạo, có 2 nguồn gốc (thuỷ điện

và thuỷ lợi), có giá trị hàng đầu là hồ thuỷ điện Hoà Bình, Dầu Tiếng (Tây Ninh), Thác Bà (Yên Bái), NúiCốc (Thái Nguyên), Đồng Mô - Ngải Sơn (Hà Tây)

Về nước ngầm, nước khoáng có giá trị đặc biệt là là nước khoáng thiên nhiên (dưới đất) chứa một

số thành phần vật chất đặc biệt như các nguyên tố hoá học, khí, nguyên tố phóng xạ, hoặc một số tính chấtvật lý như nhiệt độ, độ pH có tác dụng cho sức khoẻ của con người, đã SD cho chữa bệnh, du lịch và

được phân loại thành các nhóm chủ yếu sau: Nhóm nước khoáng cacbonic (là nhóm nước khoáng quí),

dùng cho giải khát, chữa một số bệnh như cao huyết áp, xơ vữa động mạch nhẹ, các bệnh về thần kinhngoại biên Tiêu biểu trong nhóm này là nước khoáng Vĩnh Hảo, khai thác từ 1928, SP có mặt cả ở các

nước ĐNÁ Nhóm nước khoáng silic, có tác dụng chữa các bệnh về đường tiêu hoá, thấp khấp, phụ khoa

Có ở Kim Bôi (Hoà Bình), Hội Vân (Bình Định) Nước khoáng Kim Bôi có lượng Ca, Na khá lớn, nhiệt

độ ổn định 370C, thích hợp cho việc chữa các bệnh khớp, dạ dày, viêm đại tràng Nước khoáng Hội Vân,

có hàm lượng silic cao, nhiệt độ tới 790C, chữa được các bệnh viêm loét dạ dày, đại tràng, cổ tử cung, điều

hoà chức năng tiêu hoá Nhóm nước khoáng brôm - iôt - bo có tác dụng chữa bệnh ngoài da, thần kinh,

phụ khoa, Ở nước ta, 2 nhà nghỉ Cẩm Phả (Quang Ninh) và Tiên Lãng (Hải Phòng) đã SD nguồn nướckhoáng Quang Hanh Ngoài ra, còn có một số loại khác cũng có giá trị cho du lịch nghỉ ngơi, chữa bệnh

- Tài nguyên sinh vật

Khi nhu cầu của con người ngày càng cao thì những thị hiếu về DL cũng đa dạng; con người sau

những ngày LĐ căng thẳng, họ muốn thư giãn, muốn hoà mình vào thiên nhiên, từ đó xuất hiện một loại

hình du lịch mới "Du lịch sinh thái", trong đó các khu bảo tồn thiên nhiên có vai trò đặc biệt

Về tài nguyên sinh vật, thì tài nguyên rừng và động vật có ý nghĩa rất quan trọng không những vềmặt kinh tế, sinh thái, mà còn có ý nghĩa lớn với du lịch, đặc biệt là các khu rừng nguyên sinh cùng cácloài động vật quí hiếm

Đối với tài nguyên sinh vật, không phải tất cả đều là đối tượng của du lịch tham quan Tuỳ theomục đích du lịch, mà có các hệ thống chỉ tiêu khác nhau Ví dụ với loại hình du lịch săn bắn thể thao; cácchỉ tiêu săn bắn được qui định là các loài sinh vật không ảnh hưởng đến quĩ gien, loài động vật dưới nước,trên mặt đất, trên cây phải nhanh nhẹn; diện tích phải rộng, địa hình tương đối dễ vận động; xa khu dân

cư, đảm bảo tầm bay của đạn và sự an toàn của khách; cấm dùng súng dân dụng và chất nổ nguy hiểm

Trang 8

Năm 2007, cả nước đã qui hoạch và mở rộng hệ thống vườn quốc gia, các khu bảo tồn thiên nhiên,bao gồm: 30 vườn quốc, 65 khu dự trữ thiên nhiên và bảo tồn loài – sinh cảnh.

8 khu đã được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển của thế giới: Cần Giờ, Cát Tiên, Cát

Bà, Châu thổ sông Hồng (thuộc 3 tỉnh Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình) gồm vườn quốc gia Xuân Thủy

và khu bảo tồn thiên nhiên Tiền Hải, U Minh Thượng, Khu dự trữ sinh quyển Tây Nghệ An, trung tâm làvườn quốc gia Pù Mát (12/02/2008), Cù Lao Chàm (05/2009), Cà Mau (05/2009)

Một trong những mục tiêu xây dựng hệ thống vườn quốc gia là để bảo vệ các khu cảnh quan tựnhiên, phục vụ mục đích khoa học, giáo dục và du lịch sinh thái

Bảng 5.11 30 vườn quốc gia của Việt Nam (tính đến năm 2007)

(ha)

NămTh/ lập Đặc điểm đặc trưng

1 Cúc Phương

N.Bình-H.Bình-T.Hóa 22200 1962 Rừng trên núi đá vôi Voọc mông trắng.

2 Cát Bà Hải Phòng 15200 1986 Rừng á nhiệt đới trên núi đá vôi.

Voọc đầu trắng

4 Bạch Mã T-T-Huế 22031 1991 Rừng á nhiệt đới miền Trung Trĩ,

sao, voọc chà vá

5 Ba Bể Bắc Cạn 7610 1992 Rừng,hồ trên núi Voọc mũi hếch

6 Bến En Thanh Hóa 38153 1992 Rừng nhiệt đới thường xanh

7 Cát Tiên Đ.Nai – L.Đồng

Rừng ĐNBộ Voi, cá sấu, ngan cánhtrắng

8 Yok Đôn Đắc Lắk 58200 1992 Rừng khộp Voi, bò rừng,bò tót

9 Côn Đảo Bà Rịa - VT 19998 1993 Rừng trên đảo Động vật biển

10 Tam Đảo

T.Nguyên-T.Quang

V.Phúc-36883 1996 Rừng á nhiệt đới, sam bông Voọc

mũi hếch, voọc đen

11 Tràm chim Đồng Tháp 7588 1998 Rừng tràm Sếu đầu đỏ

12 Bái Tử Long Quảng Ninh 15783 2001 Rừng trên đảo

13 Phong

Các kiểu rừng miền Trung Thú linhtrưởng, mang lớn

14 Phú Quốc Kiên Giang 31422 2001 Rừng trên đảo

15 Pù Mát Nghệ An 91113 2001 Các kiểu rừng miền Trung

16 Chư MomRay Kon Tum 56621 2002 Các kiểu rừng khu vực Đông Dương

17 Chư Yang Sin Đắc Lắc 58974 2002 Rừng trên núi cao Tây Nguyên

18 H.Liên Sơn Lào Cai 29845 2002 Rừng á nhiệt đói

19 Lò Gò-Xamát Tây Ninh 18756 2002 Rừng chuyển tiếp

20 U Minh

21 Vũ Quang Hà Tĩnh 55029 2002 Rừng Bắc Trường Sơn

22 Xuân Sơn Phú Thọ 15045 2002 Rừng kín thường xanh, cây họ dầu

23 BùGiaMập Bình Phước 26032 2002 Rừng nhiệt đới ẩm

24 Kôn Ka Kinh Gia Lai 41780 2002 Rừng kín thường xanh mưa nhiệt đới

25 Xuân Thủy Nam Định 7100 2003 Rừng ngập mặn Chim nước, di trú

Trang 9

26 Núi Chúa Ninh Thuận 29865 2003 Rừng khô Nam Trung Bộ

28 Bidoup NúiBà Lâm Đồng

29 U Minh Hạ Cà Mau

30 Phước Bình Ninh Thuận

● Tài nguyên du lịch nhân văn

Tài nguyên du lịch nhân văn là các đối tượng, hiện tượng do con người làm ra trong suốt quá trình tồn tại và có giá trị cho du lịch Nhóm tài nguyên này có những đặc trưng riêng, có giá trị nhận thức

hơn là giải trí, ít chịu ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, thường tập trung ở nơi đông dân, mức độ thu hútkhách du lịch lớn, có sự lựa chọn (khách du lịch thường có trình độ văn hóa, có yêu cầu nhận thức ) Tàinguyên du lịch nhân văn của nước ta rất đa dạng, phong phú Quan trọng là các di tích (lịch sử, văn hoá,kiến trúc, nghệ thuật ) và các lễ hội

Di tích văn hoá - lịch sử là những không gian vật chất cụ thể, khách quan, trong đó chứa đựng các

giá trị điển hình do tập thể hoặc cá nhân con người sáng tạo ra trong lịch sử để lại Các di tích và thắngcảnh lại được chia ra các di tích văn hoá khảo cổ, di tích lịch sử, di tích văn hoá nghệ thuật và các thắngcảnh Ngoài di tích, còn phải kể đến các bảo tàng, bởi vì nó cũng có giá trị thu hút khách du lịch Cho đến

2003, cả nước có gần 4 vạn di tích các loại (trong số này có 2.715 di tích được Bộ văn hoá xếp hạng; đượcchia ra di tích lịch sử chiếm (51,2%); di tích kiến trúc nghệ thuật (44,2%); di tích khảo cổ (1,3%); thắngcảnh (3,3%)

Về viện bảo tàng, cả nước có 117 (trong đó, bảo tàng TW (6), bảo tàng thành phố (79), bảo tàng

chuyên ngành (32 thì có 24 thuộc lực lượng vũ trang) Tổng số hiện vật đang lưu giữ là 1.997.701, trong

đó đã trưng bày 87.515 hiện vật, và 606.886 hiện vật đang được kiểm kê khoa học (có 489 trống đồng)

- Lễ - hội: Là loại hình sinh hoạt văn hoá tổng hợp rất đa dạng, một kiểu sinh hoạt tập thể của

nhân dân sau một thời gian lao động mệt nhọc; hoặc là dịp để con người hướng về một sự kiện lịch sửtrọng đại nào đó như tưởng nhớ tổ tiên, ôn lại truyền thống, hay nhằm giải quyết những nỗi lo âu, khátkhao, ước mơ mà cuộc sống thực tại chưa khắc phục được Lễ hội là một dạng tài nguyên du lịch nhân

văn, nó là một tấm thảm muôn màu mà ở đó mọi sự đều đan quyện vào nhau: “Thiêng liêng và trần tục; Nghi lễ và đôn hậu; Truyền thống và phóng khoáng; Giàu có và khốn khổ; Cô đơn và đoàn kết; Trí tuệ và tài năng ”

Lễ hội bao gồm 2 phần: phần lễ và phần hội

Trang 10

Phần lễ, các lễ hội dù lớn hay nhỏ bao giờ cũng có phần nghi lễ với những nghi thức trang nghiêm,

trọng thể, mở đầu cho ngày hội Phần mở đầu này thường mang tính tưởng niệm hướng về một sự kiệntrọng đại, một vị anh hùng lỗi lạc có ảnh hưởng đến sự phát triển của xã hội, hoặc bày tỏ lòng tôn kính cácbậc thánh hiền, thần linh, cầu mong cho thiên thời - địa lợi - nhân hoà và phồn vinh hạnh phúc

Phần hội, thường là những hoạt động điển hình tượng trưng cho tâm lý cộng đồng, văn hoá dân

tộc, chứa đựng những quan niệm của cả dân tộc với thực tế lịch sử, với xã hội và thiên nhiên Trong hộithường có những trò vui, thi hát tượng trưng cho sự nhớ ơn người xưa, tất cả những gì tiêu biểu cho mộtvùng đất đều được phô diễn ra, đem lại niềm vui cho mọi người Phần hội thường gắn liền với tình yêu,giao duyên nam nữ Với khách du lịch, thông qua lễ hội họ có dịp hiểu sâu thêm phong tục tập quán, lốisống cũng như truyền thống của một địa phương

Ở nước ta, lễ hội thường diễn ra vào thời điểm thiêng liêng chuyển giao giữa 2 mùa, đánh dấu sự

kết thúc chu kỳ lao động này chuyển sang chu kỳ lao động khác Phần lớn lễ hội tập trung vào nhữngtháng đầu năm sau Tết cổ truyền, thường gắn với sinh hoạt văn hoá dân gian như hát đối đáp của ngườiMường; múa xoè, ném còn của người Thái; hát sli, hát lượn, hát then của người Nùng; lễ đâm trâu, háttrường ca thần thoại của các DT Tây Nguyên

Về qui mô, có thể diễn ra trên một vùng rộng lớn, nhưng cũng có khi chỉ ở trên một vùng nhỏ 1

làng hoặc 1 xã

Về thời gian, có lễ hội chỉ diễn ra vài ngày, có lễ hội diễn ra vài tháng như Hội Chùa Hương (Hà

Nội) kéo dài 3 tháng Có lễ hội thu hút đông đảo khách từ nhiều vùng đất nước như Hội Đền Hùng (PhúThọ), Chùa Hương (Hà Nội), Đền Bà (Tây Ninh)

Trong chương trình chào đón giao thừa khi đất nước bước sang thiên niên kỷ mới Ban Chỉ đạo

Nhà nước về du lịch và Bộ VH-TT đã chọn 13 lễ hội tiêu biểu của các địa phương trong cả nước Lễ hội Đền Gióng (Hà Nội);Chùa Hương (Hà Nội);Phủ Giày (Nam Định); Đền Hùng (Phú Thọ); Trường Yên (Ninh Bình); Yên Tử (Quảng Ninh); Tây Sơn (Bình Định); Hội đâm trâu (Tây Nguyên); Hội đua bò (An Giang); Hội đua thuyền (Sóc Trăng); Hội chọi trâu (Đồ Sơn); Nghinh Ông (Bà Rịa – Vũng Tàu); Katê (Ninh Thuận).

● Các dạng tài nguyên nhân văn khác

Văn hoá dân tộc cũng là đối tượng hấp dẫn của hoạt động du lịch Nước ta, 54 dân tộc với những phong tục, tập quán độc đáo Các hoạt động văn hoá - nghệ thuật đặc sắc, đa dạng Các món ăn đặc sản dân tộc ở các vùng khác nhau cũng thu hút du khách Các làng nghề với những sản phẩm đặc sắc mang

tính nghệ thuật cao (đặc biệt là các nghề chạm khắc, đúc đồng, dệt tơ lụa, sơn mài, gốm sành sứ, v.v.)

c Sự phát triển của du lịch ở Việt Nam

- Ngành du lịch nước ta chính thức ra đời khi Công ty Du lịch Việt Nam được thành lập ngày 09/07/1960, theo Nghị định 26/CP của CP Sau 1975, ở miền Nam một số Công ty du lịch lần lượt được

hình thành như Saigon Tourist, OSC Việt Nam đã hoà vào mạng lưới du lịch của cả nước Tuy nhiên, dulịch chỉ thực sự chuyển biến từ sau đổi mới (đặc biệt từ sau 1990), bởi vì du lịch không thể phát triển cùngvới chiến tranh cũng như với cơ chế bao cấp cũ Từ một Công ty ban đầu nằm trong Bộ Ngoại giao, đếnnay về mặt quản lý hành chính Nhà nước chúng ta có Tổng cục Du lịch và nhiều Sở du lịch ở 64 tỉnh

Trang 11

thành cả nước Sự phát triển du lịch gắn liền với các dòng khách du lịch Pháp lệnh Du lịch đã chỉ rõ

“Khách du lịch là người đi du lịch, hoặc kết hợp đi du lịch, trừ rường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để thu nhập ở nơi đến".

- Khách du lịch quốc tế, trước 1990 nhìn chung tăng chậm về số lượng: năm 1970 (1.816 lượt

khách), 1986 (54.353), 1987 (73.363), 1988 (110.390) và 1989 (187.526) Từ đầu 1990 đến nay, nhờchính sách đổi mới cùng với “sự bùng nổ” du lịch, khách du lịch đến Việt Nam đã tăng cả về số lượng vàdoanh thu: năm 1990 chỉ mới có 25,0 vạn lượt khách đến Việt Nam, thì đến cuối tháng 12/1994 ngườikhách thứ 1,0 triệu đã đến sân bay Nội Bài (Hà Nội) Thời gian sau đó do ảnh hưởng của cuộc khủnghoảng tài chính ở ĐNÁ nên khách du lịch đến Việt Nam cũng giảm (2002 là 2,6 triệu, 2003 là 2,2 triệu, và

2008 tăng lên 4,235 triệu lượt người)

Về thị trường: khách du lịch vào nước ta đông nhất là Trung Quốc đến Nhật Bản và Hoa Kỳ Mụcđích đến (2008): khách đi du lịch (61,69%), thương mại (19,93%), thăm thân nhân (12,05%), mục đíchkhác (6,33%) Về phương tiện đến bằng đường hàng không (77,51%), đường bộ (18,91%), đường thuỷ(3,58%)

So với khu vực ĐNÁ, Việt Nam đứng thứ 6 về số khách du lịch (sau Thái Lan, Malaixia, Xingapo,Inđônêxia, Philipin) Khách du lịch đến nhiều nhất là Hà Nội và TP HCM

Bảng 5.12 Cơ cấu khách DL QTế đến Việt Nam theo quốc tịch năm 1995, 1999,

2005 và 2008

(1000 lượt người)

(%)

(1000 lượt người)

(%)

(1000 lượt người)

(%)

(1000 lượt người)

18,0 0

Trang 12

9 3 5 Thăm thân nhân 432,7

- Du lịch nội địa: Ở trong nước, nhu cầu du lịch của nhân dân cũng đã tăng (đặc biệt ở các TP lớn).

Do vậy, khách du lịch trong nước cũng tăng nhanh, năm 1990 (1,0 triệu lượt người) đến 1998 (9,6 triêụ),năm 2002 đã tăng lên 13,0 triệu lượt người

- Doanh thu từ du lịch phụ thuộc vào thời gian lưu trú và mức chi tiêu của khách, năm 1996, doanh

thu đạt 9.500 tỉ đồng, năm 2008 là 14568,1 tỉ đồng

Bảng 5.13 Doanh thu của ngành du lịch từ 2000 – 2007

Doanh thu

- Doanh thu của các cơ sở lưu trú Tỷ đồng 3268.5 6016.6 9932.1 14568.1

- Doanh thu của các cơ sở lữ hành Tỷ đồng 1190.0 2633.2 4761.2 7712.0

+ Khách Việt Nam đi DL NNgoài " 99.0 150.7 370.6 360.8

- Cơ sơ lưu trú: Tổng số khách sạn: Năm 1997, cả nước có 319 khách sạn từ 1-5 sao với tổng số

15.530 phòng (217 khách sạn QD, 86 khách sạn tư nhân, 16 khách sạn liên doanh) Khoảng 18% kháchsạn đạt tiêu chuẩn từ 3 sao trở lên Đến năm 2002, cả nước có 428 khách sạn được xếp hạng từ 1- 5 saovới 24.433 phòng (có 265 khách sạn QD, 124 khách sạn tư nhân và 39 khách sạn liên doanh) Số kháchsạn từ 3 sao trở lên là (121), 5 sao (15), 4 sao (21), 3 sao (85), đều tập trung ở các TP lớn Về số lượng phòng, 80% tổng số phòng hiện có tập trung ở các trung tâm du lịch như TP HCM, Hà Nội, Hải Phòng,

Huế, Đà Nẵng, Vũng Tàu, Hạ Long Riêng Hà Nội đã có vài trăm khách sạn các loại Có 6 khách sạn 5sao (Sofitej, Metropole, Daewoo, Sofiten Plaza Hanoi, Hilton Hanoi Opera, Hanoi, Horison, và NikkoHanoi)

Trang 13

- Các cơ sở vui chơi, giải trí Nếu các cơ sở này càng đa dạng, hấp dẫn thì thời gian lưu trú của

khách lâu hơn và doanh thu cũng từ đó tăng theo Ở nước ta, các cơ sở này thường đơn điệu, qui mô nhỏ,thiếu hấp dẫn Hiện nay chỉ có khu vui chơi giải trí ở Đầm Sen và Suối Tiên (TPHCM) là lớn hơn cả, songcũng chưa đủ để phục vụ cho nhu cầu của địa phương

- Về số lao động trong ngành: Nhìn chung tăng khá nhanh, năm 1992 lao động trong ngành là 3,5

vạn người thì đến 2001 tăng lên là 15,0 vạn người, song vẫn tập trung chủ yếu ở Hà Nội và TP HCM, còn

ở các khu vực khác thì cả về số lượng cũng như chất lượng còn hạn chế

- Nguồn vốn đầu tư: Việc phát triển du lịch có quan hệ tới nguồn vốn đầu tư Ở nước ta, sau khi

Luật đầu tư ra đời (1988), số vốn đầu tư nước ngoài tăng lên nhanh chóng (ví dụ, năm 1988 chỉ có 37 dự

án đầu tư nước ngoài, thì đến năm 2002 đã có 754 dự án) Đối với du lịch, đầu tư nước ngoài vào kháchsạn, du lịch thời kỳ từ 1998 - 2000 là 230 dự án, tổng số vốn đăng ký là 7,4 tỉ USD (trong đó vốn phápđịnh là 2,8 tỉ USD) Các nước và vùng lãnh thổ đầu lớn nhất vào du lịch là Singapo (42 dự án với vốnđăng ký hơn 2,0 tỉ USD), Đài Loan (23 và 1,4 tỉ), Hồng Công (63 và gần 1,4 tỉ), Hàn Quốc (15 và trên 700triệu), Nhật Bản (23 và gần 480 triệu)

d Các vùng du lịch

● Vùng du lịch Bắc Bộ

- Khái quát Phạm vi bao gồm Miền núi – trung du Bắc Bộ, Đồng bằng sông Hồng và các tỉnh

Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh Có thủ đô Hà Nội là trung tâm của vùng và có tam giác động lực tăngtrưởng du lịch (Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh) Diện tích 150.083 km2 Dân số 37.956,2 ngàn người(45,0% diện tích và 45,67% dân số cả nước) Mật độ 253 ng/km2 - năm 2005 Vùng có 7 tỉnh ở phía bắc làQuảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu và Điện Biên giáp với 3 tỉnh QuảngĐông, Quảng Tây và Vân Nam (TQ) Có 5 tỉnh ở phía tây (Điện Biên, Sơn La, Thanh Hóa, Nghệ An và

Hà Tĩnh) giáp với 5 tỉnh của Lào (Luông Pha Băng, Hủa Phăn, Xiêng Khoảng và Khăm Muộn) Phía đônggiáp vịnh Bắc Bộ, đường bờ biển dài ~ 1.000km, có hàng ngàn đảo lớn nhỏ Vùng này thể hiện đầy đủ vàtập trung nhất các đặc điểm về đất nước - con người Việt Nam Thiên nhiên phong phú, đa dạng và cónhiều nét độc đáo của cảnh quan nhiệt đới - gió mùa - ẩm Ở đây có những vùng núi non hiểm trở, cónhững đỉnh núi rất cao như đỉnh Phanxipăng (3.143m) cao nhất Đông Dương Có những khu rừng nhiệt

đới nguyên sinh, rất phong phú về số lượng giống loài thực - động vật Có đồng bằng châu thổ màu mỡ, vựa lúa lớn thứ 2 cả nước Vùng biển giàu hải sản, có nhiều hải cảng và bãi tắm đẹp Khí hậu của vùng

cũng rất đặc sắc (trừ các vùng núi cao bị rét lạnh mấy tháng mùa đông), còn lại nhìn chung khí hậu ônhoà, nhiệt ẩm dồi dào, thích nghi với sự phát triển của các loài thực - động vật nhiệt đới Là địa bàn cư trúđầu tiên của người Việt đã tạo nên nền văn minh lúa nước sông Hồng Hàng năm cứ vào tháng 3 (âm lịch),

nhân dân hành hương về giỗ tổ Hùng Vương tại núi Hy Cương, Phong Châu, Phú Thọ Vùng còn bảo tồn

được nhiều di tích lịch sử, nhiều công trình văn hoá, nghệ thuật có giá trị cùng với các danh nhân kiệt xuấtnổi tiếng như Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Chí Minh Về phong tục, tập quán, do cưtrú trên nhiều vùng tự nhiên - kinh tế khác nhau, cho nên con người ở đây cũng có phong tục, tập quánkhác nhau Điều này tạo nên những đặc trưng đa dạng, kỳ thú, hấp dẫn khách du lịch cả trong và ngoàinước Ví dụ, văn hoá Mường, Thái (ở Tây Bắc), văn hoá Tày, Nùng (ở Đông Bắc), hay các làng nghề nổitiếng ở vùng Đồng bằng sông Hồng (Bắc Ninh, Hà Nam, phố cổ Hà Nội) Bên cạnh dạng quần cư nông

Trang 14

thôn, hiện nay các đô thị cũng phát triển khá nhanh cùng với quá trình công nghiệp hóa Vùng có nhiềutrung tâm công nghiệp lớn, tập trung nhiều đầu mối giao thông vận tải quan trọng cả đường sắt, ô tô, sông,hàng không Có Hà Nội, trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học – kĩ thuật quan trọng nhất cảnước.

- Tiềm năng du lịch

Về mặt tự nhiên Vùng có những cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ, nên thơ của vùng núi rừng như

Sa Pa ở độ cao 1.500m, mờ ảo trong sương mù, cheo leo trên sườn dãy Hoàng Liên Sơn., nơi nghỉ mát lýtưởng của Việt Nam Có những vùng rất ồn ào như thác nước Bản Dốc, Đầu Đẳng (Cao Bằng), lại cónhững nơi rất tĩnh mịch trong cánh rừng già với hệ sinh thái rừng rậm nhiệt đới điển hình như vườn quốcgia Cúc Phương (Ninh Bình), Ba Vì (Hà Tây), Cát Bà (H.Phòng) Các dạng địa hình karstơ lại rất phổbiển ở Bắc Bộ, tạo nên nhiều cảnh thiên nhiên đẹp như “ Hạ Long cạn” ở Ninh Bình, Tam Cốc, BíchĐộng, Hương Sơn (Hà Tây), được mệnh danh là “Nam Thiên đệ nhất động” Bãi biển rộng, phẳng lì, chanhoà ánh nắng và gió lộng như ở Trà Cổ (Quảng Ninh), Đồ Sơn (Hải Phòng), Sầm Sơn (Thanh Hoá), Cửa

Lò (Nghệ An) Tiêu biểu nhất là Hạ Long (di sản thiên nhiên thế giới) Khí hậu của vùng ấm áp, tronglành thích hợp cho hoạt động du lịch Những tháng hè nóng bức của vùng nhiệt đới từ tháng V - IX lại làđiều kiện để kích thích mạnh mẽ dòng người đi du lịch nghỉ mát, tắm biển; có các bãi biển, vùng núi cao;khách du lịch nước ngoài lại khao khát muốn tận hưởng ánh nắng chói chang của vùng nhiệt đới, nhất làvào thời kỳ mùa đông ở xứ họ Trong vùng có những đặc sản trên rừng, dưới biển rất đa dạng (cá, tômhùm, sò huyết, cua biển, bào ngư đến măng rừng, nấm hương, thịt chim, thú rừng, đến các loại dược liệunhư sâm, nhung, tam thất ) Có nguồn nước khoáng dùng chữa bệnh, giải khát như Kim Bôi (Hoà Bình),Quang Hanh (Quảng Ninh), Tiền Hải (Thái Bình), Tiên Lãng (Hải Phòng), Mỹ Lâm (Tuyên Quang).Bảng 5.14 Các tài nguyên du lịch tự nhiên điển hình

Nướ c khoá ng

Bôi ↑ →

Hồ Ba Bể

Ngày đăng: 18/04/2021, 14:54

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w