1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khai thác và phát triển hoạt động du lịch lễ hội đền cờn phường quỳnh phương, thị xã hoàng mai, tỉnh nghệ an

37 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khai thác và phát triển hoạt động du lịch lễ hội đền cờn phường quỳnh phương, thị xã hoàng mai, tỉnh nghệ an
Trường học Trường Đại Học Nghệ An
Thể loại Báo cáo thực tập
Thành phố Hoàng Mai
Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 540,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đền Cờn - một di tích lịch sử văn hóa - một danh lắm thắng cảnh gắn với lễ hội mà dù có đi đâu xa xôi con người nơi đây vẫn hoan hỉ, háo hức hướng về với tên gọi thiêng liêng đó là lễ hộ

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành báo cáo thực tập của mình, trước tiên em xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc nhất tới cô giáo ……,với những kinh nghiệm quý báu của mình,cô đã nhiệt tình hướng dẫn, động viên, khích lệ em trong suốt thời gian qua, để em hoàn thiện bài báo cáo thực tập năm 4 này

Em cũng xin cảm ơn cơ quan UBND thị xã Hoàng Mai, Trung tâm Văn hóa

- Thông tin - Thể thao thị xã Hoàng Mai, đặc biệt là các anh chị trong Phòng Văn hóa - Thông tin thị xã Hoàng Mai, Thư viện Phường Quỳnh Xuân - thị xã Hoàng Mai … đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn, cung cấp tài liệu, tư liệu và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho em được thực tập để hoàn thiện bài báo cáo này

Tuy nhiên , do thời gian hạn chế đề tài nghiên cứu báo cáo thực tập không tránh khỏi khiếm khuyết, kính mong nhận được sự quan tâm chỉ bảo và góp ý của

cô giáo và các bạn để báo cáo đạt kết quả cao nhất

Em xin trân trọng cảm ơn

Sinh Viên

Trang 2

MỤC LỤC

1 Lí do chọn đề tài 4

2 Mục đích nghiên cứu 5

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

4 Phương pháp nghiên cứu 5

5 Đóng góp của đề tài 5

6 Bố cục 6

Chương 1: LÍ LUẬN CHUNG VỀ LỄ HỘI, DU LỊCH VÀ TỔNG QUAN VỀ PHƯỜNG QUỲNH PHƯƠNG, THỊ XÃ HOÀNG MAI, TỈNH NGHỆ AN 7

1.1 Khái niệm về lễ hội 7

1.1.1 Khái niện về lễ hội 7

1.1.2 Một số tên gọi và cách hiểu tương đương 9

1.2 Khái niện về du lịch 10

1.2.1 Khái niệm về du lịch 10

1.2.2 Các loại hình du lịch 10

1.3 Vai trò của lễ hội và du lịch trong đời sống hiện nay 11

1.3.1 Vai trò của lễ hội đối với đời sống - xã hội 11

1.3.2 Vai trò du lịch văn hóa trong đời sống xã hội hiện nay 12

1.4 Tổng quan về phường Quỳnh Phương, thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An 14

Chương 2: LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG ĐỀN CỜN PHƯỜNG QUỲNH PHƯƠNG, THỊ XÃ HOÀNG MAI, TỈNH NGHỆ AN 16

2.1 Lịch sử khu di tích Đền Cờn 16

2.1.1 Giới thiệu khái quát về Đền Cờn 16

2.1.2 Truyền thuyết về khu di tích đền Cờn 16

2.1.3 Cấu trúc khu di tích đền Cờn 17

2.1.4 Nghệ thuật điêu khắc và những hiện vật có giá trị của Đền Cờn 19

2.2 Lễ hội truyền thống Đền Cờn phường quỳnh phương, thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An 19

Trang 3

2.2.1 Diễn trình lẽ hội Đền Cờn 19 2.2.2 Những giá trị văn hóa – lịch sử của đền Cờn phường Quỳnh Phương - thị xã Hoàng Mai - tỉnh Nghệ An 22

Chương 3: NÂNG CAO HIỆU QUẢ KHAI THÁC, PHÁT TRIỂN VÀ HOẠT ĐỘNG DU LỊCH LỄ HỘI ĐỀN CỜN PHƯỜNG QUỲNH PHƯƠNG, 24 THỊ XÃ HOÀNG MAI, TỈNH NGHỆ AN 24 3.1 Những yếu tố khách quan để khai thác và phát triển du lịch lễ hội Đền Cờn phường Quỳnh Phương, thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An 24

3.1.1 Xây dựng và hoàn thiện cơ sở hạ tầng 24 3.1.2 Trùng tu tôn tạo cảnh quan khu di tích đền Cờn 25 3.1.3 Sự quan tâm chỉ đạo của các cấp chính quyền , cơ quan chức năng và toàn xã hội đối với lễ hội Đền Cờn 26

3.2 Khai tác và phát triển du lịch văn hóa trong lễ hội đền Cờn phường Quỳnh Phương, thị xã Hoàng mai, tỉnh Nghệ An 28

3.2.1 Xây dựng kịch bản chương trình lễ hội 28 3.2.2 Xây dựng và hình thành công tác hướng dẫn thuyết minh về lịch sử, truyền thuyết, về ý nghĩa lễ hội,về những giá trị văn hóa cho du khách 28 3.2.3 In ấn, quảng bá các giá trị văn hóa của lễ hội và cảnh quan thiên nhiên của khu di tích Đền Cờn 29 3.2.4 Liên kết hợp đồng với các nhà hàng, khách sạn, đáp ứng nhu cầu ăn nghỉ, niêm yết giá cả hàng hóa, đảm bảo lợi ích tiêu dùng cho du khách trong

và ngoài nước 31 3.2.5 Liên kết quan hệ với các công ty lữ hành du lịch các cơ sở địa phương, các quần thể di tích khác trong khu vực 31 3.2.6 Xây dựng hình thành các tour du lịch trên địa bàn thị xã Hoàng Mai 32

KẾT LUẬN 35

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Là một thành tố đặc biệt quan trọng trong kho tàng di sản văn hóa việt Nam

Lễ hội có vai trò to lớn, không thể tách rời trong đời sống của cộng đồng Việt Lễ hội là nơi sinh hoạt tôn giáo tín ngưỡng Nó là một nhu cầu thiết yếu gần gũi và gắn

bó với đời sống tâm linh của con người

Lễ hội trở thành bộ phận quan trọng trong đời sống vật chất và tinh thần của người dân Một diện mạo văn hóa mới của họ

Đền Cờn, một trong những ngôi đền linh thiêng và cổ kính nhất xứ Nghệ Đền Cờn - một di tích lịch sử văn hóa - một danh lắm thắng cảnh gắn với lễ hội mà dù

có đi đâu xa xôi con người nơi đây vẫn hoan hỉ, háo hức hướng về với tên gọi thiêng liêng đó là lễ hội Đền Cờn Sự linh thiêng ấy ứng với câu thơ của ông cha xưa mà đến đời nay vẫn còn lưu giữ:

“ Nhất Cờn, nhì Quả, tam Bạch Mã, tứ Chiêu Trưng”

Chính vì sự linh thiêng của ngôi đền, không chỉ trong những ngày lễ hội, mà quanh năm, nhất là vào mùa xuân, du khách thập phương từ mọi miền đất nước không quản đường sá xa xôi lại tụ hội về xứ Nghệ, đến với đền Cờn tế lễ để nguyện cầu những điều an lành, hạnh phúc và thịnh vượng cho bản thân và gia đình Trong thúc ước làng Phương Cần xưa đã có câu:

“Tha thướt gấu quần chân dép Màu nhởn nhơ khách thị, khách thành”

Gắn lễ hội với du lịch là cách tốt nhất để quảng bá lễ hội, là cách gìn giữ lưu truyền lễ hội Việc tổ chức Lễ hội đền Cờn ngày nay vẫn cần được tiếp tục nghiên cứu để bổ sung thêm một số nội dung nhằm gắn lễ hội với phát triển du lịch nhưng vẫn giữ được không khí trang nghiêm, sự linh thiêng của lễ hội Đây cũng là một

Trang 5

cách để qua đó có thể đáp ứng nhu cầu tham quan du lịch của các du khách gần xa Tạo cơ hội phát triển, tăng thu nhập cho người dân nơi đây Vì vậy em chọn đề tài:

“Khai thác và phát triển hoạt động du lịch lễ hội Đền Cờn phường Quỳnh Phương, thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An” làm bài báo cáo thực tập

2 Mục đích nghiên cứu

- Giới thiệu về lễ hội Đền Cờn

- Định hướng cho việc khai thác, phát triển lễ hội đền Cờn để phục vụ du lịch

- Đề ra những biện pháp khả thi để xây dựng, phát triển khu di tích lịch sử - văn hóa Đền Cờn

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Khai thác và phát triển hoạt động du lịch

Phạm vi nghiên cứu: Lễ hội Đền Cờn phường Quỳnh Phương, thị xã Hoàng Mai, Tỉnh Nghệ An

4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng những phương pháp sau:

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu

- Phương pháp điền dã

- Phương pháp trao đổi phỏng vấn

- Phương pháp phân tích tổng hợp tư liệu

5 Đóng góp của đề tài

Giới thiệu về lễ hội Đền Cờn thông qua đó làm sáng tỏ các vấn đề xung quanh

lễ hội, đi sâu nghiên cứu tổng kết phân tích đánh giá các giá trị văn hóa, vai trò và ý nghĩa của lễ hội Từ đó đưa ra các biện pháp nâng cao hiệu quả khai thác và phát

Trang 6

triển du lịch lễ hội Đền Cờn phường Quỳnh Phương, thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ

Trang 7

Chương 1

LÍ LUẬN CHUNG VỀ LỄ HỘI, DU LỊCH VÀ TỔNG QUAN VỀ PHƯỜNG QUỲNH PHƯƠNG, THỊ XÃ HOÀNG MAI, TỈNH NGHỆ AN 1.1 Khái niệm về lễ hội

1.1.1 Khái niện về lễ hội

Theo từ điển bách khoa Việt Nam (2005): Lễ là hệ thống các hành vi, động tác nhằm biểu hiện lòng tôn kính của con người đối với thần linh, phản ánh những ước

mơ chính đáng của con người trước cuộc sống mà bản thân họ chưa có khả năng thực hiện Như vậy theo định nghĩa này lễ là hình thức quy cách – nguyên tắc ứng

xử được thực thi với một đối tượng được cử lễ nào đó

Trong từ điển Bách khoa Việt Nam (2005): Hội là sinh hoạt văn hóa, tôn giáo nghệ thuật của cộng đồng, xuất phát từ nhu cầu cuộc sống, từ sự tồn tại và phát triển của cộng đồng, sự bình yên cho từng cá nhân, hạnh phúc cho từng gia đình, sự vững mạnh cho từng dòng họ, sự sinh sôi nảy nở của gia súc, sự bội thu của mùa

màng, mà từ bao đời nay quy tụ thành niềm mơ ước chung vào bốn chữ “nhân khang, vật thịnh”

Đoàn Văn Chúc lại cho rằng: “Hội là cuộc vui chơi bằng vô số hoạt động giải trí công cộng, diễn ra tại một địa điểm nhất định vào dịp cuộc lễ kỉ niệm một

sự kiện tự nhiên xã hội, nhằm diễn đạt sự phấn khích, hoan hỉ của công chúng dự lễ.”

Trong tiếng Việt, Hội là danh từ để chỉ sự tập hợp một số cá nhân vào trong một tổ chức nào đó, tồn tại trong một không gian và thời gian cụ thể Đôi khi hội chỉ là sự liên kết giữa các cá nhân, tổ chức có chung mục đích hoặc các mục đích gần giống nhau Hội còn được coi là cuộc vui tổ chức cho đông đảo người dự theo phong tục, tập quán, hay phong trào, trào lưu ở một thời điểm nào đó trong quá trình phát triển xã hội Đây chính là dịp người ta tổ chức hoạt động vui chơi giải trí

Trang 8

theo phong tục, tập quán truyền thống của các địa phương, vùng miền hoăc tổ chức vào các dịp đặc biệt trong năm để hướng tới, tôn vinh với mong muốn đạt được những mục tiêu, giá trị cụ thể nào đó trong đời sống văn hóa cộng đồng Như vậy, trong hội lưu giữ một phần kho tàng di sản văn hóa đặc sắc của địa phương và dân tộc

Trong hội, có thể tìm thấy những biểu tượng điển hình của sự thể hiện tâm lý cộng đồng, những đặc trưng của văn hóa dân tộc, những quan niệm, cách ứng xử đối với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội của các cá nhân và cả cộng đồng người Những hoạt động diễn ra trong hội luôn phản ánh và thể hiện một phần lịch

sử địa phương, đất nước Như vậy: “ Hội là tập hợp những hoạt động kinh tế, văn hóa - xã hội của một cộng đồng dân cư nhất định, là cuộc vui tổ chức cho đông đảo người dự theo phong tục truyền thống hoặc nhân những dịp đặc biệt Những hoạt động diễn ra trong hội phản ánh điều kiện, khả năng và trình độ phát triễn của địa phương, đất nước ở vào thời điểm diễn ra các sự kiện đó”

Qua các cách hiểu trên có thể hiểu:“Lễ hội là hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng diễn ra trên một địa bàn dân cư trong thời gian và không gian xác định; nhằm nhắc lại một sự kiện, nhân vật lịch sử hay huyền thoại; đồng thời là dịp để biểu hiện cách ứng xử văn hóa của con người với thiên nhiên - thần thánh và con người trong xã hội”

Lễ hội là một sinh hoạt văn hóa dân gian nguyên hợp mang tính cộng đồng cao của các tầng lớp nhân dân, diễn ra trong những chu kỳ về không gian và thời gian nhất định để tiến hành nhưng nghi thức mang tính biểu trưng về sự kiện nhân vật được thờ cúng Những hoạt động này nhằm để tỏ rõ những ước vọng của con người, để vui chơi giải trí trong tính cộng đồng cao Lễ hội là những hoạt động, những sinh hoạt văn hóa mà ở đó có sự gắn kết không thể tách rời của cả nội dung

và hình thức của hai thành tố cơ bản là Lễ và Hội

Trang 9

Lễ hội là sinh hoạt văn hoá cộng đồng, bởi vì đây là hoạt động văn hóa của tập thể, thuộc về tập thể , do tập thể tổ chức tiến hành Bất cứ lễ hội nào cũng gắn với địa bàn dân cư cụ thể, là hoạt động văn hóa của địa phương đó Lễ Hội là sự biểu

hiện đạo lí “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc, thể hiện cách ứng xử văn hóa với

thiên nhiên, thần thánh , con người, thông qua các hoạt động trong lễ hội Đó là những ứng xử tập thể, của cộng đồng cư dân với cả 2 đối tượng: siêu hình (thần thánh) và hữu hình (con người) Nó cũng phản ánh mối quan hệ, giao thoa giữa siêu và thực, giữa con người và con người trong những hoàn cảnh và hoạt động cụ thể

1.1.2 Một số tên gọi và cách hiểu tương đương

Trong thực tiễn đời sống văn hóa ở Việt Nam, người ta cũng thường dùng một số tên gọi với cách hiểu tương đương như cụm từ “Lễ hội” và đồng thời biểu thị tính chất hay xuất xứ của lễ hội Theo dòng tên gọi dân gian thì lễ hội có 9 cách gọi tên như sau: Trò, hội, đám xứ, tiệc làng, việc làng, hội làng, làng vào đám, làng

mở hội

Còn theo các nhà ngiên cứu thì lễ hội còn có những tên như: lễ hội, hội lễ, lễ hội truyền thống, lễ hội dân gian, lễ hội cổ truyền, lễ hội dân gian truyền thống, niên hoan du lịch làng nghề truyên thống, ngày hội văn hóa thể thao các dân tộc, lễ hội văn hóa thể thao du lịch, liên hoan du lịch quốc tế, lễ hội du lịch, lễ hội mới, festival…

Qua hai hệ thống tên gọi trên, cho ta thấy rằng: hệ thống tên gọi thứ nhất xuất phát từ hoạt động nội tại của hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng do chính những người tổ chức nói về hoạt đông do chính họ tiến hành Còn hệ thống tên gọi thứ hai do những người từ bên ngoài nhìn vào lễ hội với tư cách một thành tố văn hóa, đặt lễ hội trong môi trường hoạt động của nó để diễn giải về nó

Trang 10

1.2 Khái niện về du lịch

1.2.1 Khái niệm về du lịch

Có rất nhiều cách phát biểu khác nhau về khái niệm du lịch, tùy thuộc vào góc

độ tiêp cận của các nhà nghiên cứu Ví như Asher có quan niệm: “Du lịch là nghệ thuật đi chơi của cá nhân”, hay quan niệm: “ Du lịch là hoạt động của con người rời khỏi nơi cư trú thường xuyên đến một nơi khác nhằm thẩm nhận giá trị vật chất

và tinh thần độc đáo, đặc sắc, khác lạ không nhằm mục đích sinh lợi và đồng tiền”

của Trần Nhoãn Hoặc coi du lịch là sự mở rộng không gian văn hóa của con người

(Nguyễn Khắc Viện)…

Hội nghị liên hợp quốc về du lịch tại Roma cho rằng: “Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của các cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hòa bình Nơi họ đến không phải là nơi làm việc

của họ”

1.2.2 Các loại hình du lịch

Loại hình du lịch là một tập hợp các sản phẩm du lịch có đặc điểm giống nhau, hoặc vì chúng thõa mãn nhu cầu, động cơ du lịch tương tự hoặc được cùng bán cho một nhóm khách hành hoặc vì chúng có một cách phân phối, một cách tổ

chức như nhau hoặc được sắp xếp theo một giá bán nào đó

Có nhiều cách phân loại về loại hình du lịch, tùy thuộc vào cách thức tiếp cận

của các nhà nghiên cứu

+ Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ bao gồm: Du lịch quốc tế, du lịch nội địa + Căn cứ vào đối tượng khác nhau bao gồm: Du lịch trẻ em, du lịch thanh niên, du lịch trung niên, du lịch người già

+ Căn cứ vào hình thức tổ chức bao gồm: Du lịch đi lẻ, du lịch theo đoàn + Căn cứ vào phương tiện bao gồm: Du lịch motor, du lịch bus, du lịch xe đạp,

du lịch tàu hỏa

Trang 11

+ Căn cứ theo nhu cầu nảy sinh hoạt động du lịch thì bao gồm có các loại hình sau: Du lịch chữa bệnh, du lịch nghỉ ngơi, giải trí, du lịch thể thao săn bắn, câu cá, leo núi; du lịch tôn giáo, du lịch thăm thân, du lịch công vụ thực hiện nhiệm vụ, công tác nghề nghiệp nào đó: hội nghị, hội thảo, triển lãm…

1.3 Vai trò của lễ hội và du lịch trong đời sống hiện nay

1.3.1 Vai trò của lễ hội đối với đời sống - xã hội

Là một thành tố đặc biệt quan trọng trong kho tàng di sản văn hóa Việt Nam,

lễ hội truyền thống có vai trò to lớn, không thể tách rời đời sống của cộng đồng dân tộc Lễ hội là nơi con người gửi gắn những ước mơ những khát vọng mà cuộc sống hằng ngày không đáp ứng được cho họ, nơi họ giấu tâm tư tình cảm, nơi gắn kết con người lại gần nhau… Lễ hội còn là nơi con người giải trí thư giãn sau những vất vả mệt nhọc của cuộc sống thường nhật với bộn bề toan tính Cụ thể:

- Lễ hội là dịp tưởng nhớ, tạ ơn và đòi hỏi của đông đảo quần chúng nhân dân đối với đối tượng mà họ thờ cúng

- Lễ hội giúp con người ta trở về, đánh thức cội nguồn

- Lễ hội góp phần giữ gìn, bảo lưu và phát triển những truyền thống tốt đẹp của quê hương và dân tộc

- Lễ hội góp phần cố kết và nâng cao các mối quan hệ trong xã hội

- Lễ hội là nơi vui chơi giải trí, thu nạp năng lượng cho cuộc sống mới

- Lễ hội đáp ứng nhu cầu đi tìm hạnh phúc, ý nghĩa cuộc sống của con người ngoài cái thông thường của đời thường bằng việc xác lập niềm tin và thể hiện niền tin trước siêu nhiên

- Lễ hội làm cho diện mạo của đời sống văn hóa thêm sinh động, đa dạng và là một nguồn lực quan trọng của tinh thần xã hội

- Lễ hội là môi trường dễ cảm thông giữa cá nhân, nhóm, cộng đồng… có nền văn hóa khác nhau cũng như thõa mãn nhu cầu giao tiếp

Trang 12

Thực tế của đời sống văn hóa tâm linh ở nước ta đã khẳng định vai trò của lễ hội Nó đã góp phần xây dựng một nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc Giúp Việt Nam xác lập được nền văn hóa trong quá trình hội nhập quốc tế

1.3.2 Vai trò du lịch văn hóa trong đời sống xã hội hiện nay

Trên con đường tiến tới tiến bộ xã hội, nhân loại ngày càng nhận ra rằng, bên cạnh yếu tố kinh tế, kĩ thuật yếu tố văn hóa được đưa vào sản xuất và đời sống sẽ tạo ra những bước phát triển không ngờ Văn hóa là động lực và đồng thời cũng là mục tiêu của sự phát triển Đối với du lịch, văn hóa càng có vai trò và vị trí quan trọng , là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển nhanh chóng và bền vững của du lịch Sự phát triển du lịch của một số nước có nền văn hóa lâu đời như Hi Lạp, Trung quốc, Ai Cập, Pháp, Italia… cùng với sự thay đổi hướng đi của du khách trong những năm gần đây tới văn hóa phương Đông huyền bí chính là những minh chứng hùng hồn, chính văn hóa đã là yếu tố quyết định hướng phát triển du lịch theo hướng du lịch văn hóa

Thực ra, khai thác di sản văn hóa cho phát triển du lịch trên thế giới không phải là ý tưởng mới Tuy nhiên cho đến gần đây, khái niệm du lịch văn hóa mới được hình thành và phát triển

Ngày nay, do bản thân khái niệm văn hóa được mở rộng, đối tượng của du lịch văn hóa không chỉ lầ các di tích cổ, mà còn bao hàm tất cả những sản phẩm vật chất

và tinh thần của con người như các di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật, các sinh hoạt lễ hội, văn nghệ dân gian, các sản phẩm thủ công truyền thống, văn hóa ẩm thực… Đặc biệt yếu tố con người – chủ thể sáng tạo ra các nền văn hóa

Du lịch văn hóa không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà quan trọng hơn nó là một phương tiện truyền tải những giá trị văn hóa của một cộng đồng tới một cộng đồng khác, hoặc tới những thế hệ khác trong bản thân cộng đồng, giúp họ hiểu được và trân trọng các giá trị đó, từ đó hình thành nhân cách và thế giới quan nền tảng truyền thống dân tộc, nâng cao ý thức bảo tồn các giá trị văn hóa đó

Trang 13

Phát triển du lịch văn hóa có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống Điều đó đồng nghĩa với việc duy trì và phát triển môi trường xã hội nhân văn lành mạnh an toàn, yếu tố quan trọng của phát triển du lịch bền vững

Nước ta là một nước có nền văn hóa độc đáo với hàng ngàn di tích lịch sử, trong đó có nhiều di tích có nhiều giá trị đặc biệt, hàng trăm làng nghề thủ công truyền thống, nhiều lễ hội diễn ra trong năm với những hình thức sinh hoạt đa dạng, phong phú và sôi động Đây cũng là đất nước của cộng đồng 54 dân tộc sinh sống trong sự đoàn kết Mỗi dân tộc lại có những phong tục, tập quán một nền văn nghệ dân gian riêng biệt Tiềm năng quí giá đó là điều kiện và tiền đề thúc đẩy sự phát triển của ngành du lịch văn hóa nước ta

Nhiều di tích đã được bạn bè quốc tế biết đến như là biểu tượng của Việt Nam như di tích của thủ đô Hà Nội ngàn năm văn hiến, quần thể kiến trúc cố đô Huế, Thánh địa Mỹ Sơn, phố cổ Hội An, khu thắng cảnh Hương Sơn, nhiều lễ hội đi vào tâm thức của khách du lịch quốc tế như: hội Đền Hùng, chùa Hương… Điều đặc biệt hơn nữa là ở nước ta, hầu hết các di tích lịch sử văn hóa đều phân bố ở những nơi có cảnh quan thiên nhiên đẹp và hấp dẫn Đây là những yếu tố hết sức thuận lợi cho các cuộc du lịch sinh thái và văn hóa, ngoài ra nó còn là chiếc nam châm có sức hút mạnh mẽ đến du khách Việt Nam

Sự ra đời và phát triển của du lịch văn hóa đã làm sống lại ý thức bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa cổ xưa của cả cộng đồng dân cư lẫn bản thân du khách tại các điểm di tích lịch sử văn hóa, lễ hội cổ truyền và làng nghề truyền thống Đó cũng chính là yếu tố để du lịch văn hóa có thể tồn tại và phát triển bởi du lịch văn hóa có thể hiểu đơn thuần là du lịch đến các điểm có di tích lịch sử văn hóa, làng nghề, lễ hội, phong tục tập quán, lối sống độc đáo, đặc sắc của dân tộc, của đất nước

Trang 14

Trong cuộc sống hiện đại ngày nay, du lịch đã trở thành một bộ phận tất yếu của xã hội Du lịch không những là nghành kinh tế mũi nhọn của các quốc gia mà còn là cầu nối giao lưu giữa các dân tộc, quốc gia và các vùng miền trong một đất nước Bạn bè quốc tế trước đây biết đến Việt Nam là 1 quốc gia phải trải qua nhiều thập kỉ chiến tranh với các thế lực xâm lược mạnh hơn gấp nhiều lần và họ đã anh dũng đánh bại các thế lực xâm lược đó, bảo vệ toàn vện lãnh thổ non sông của đất nước Bởi vậy ngày nay, khi khách du lịch đến với việt Nam họ thường ngạc nhiên

và tự hỏi “không hiểu vì sao những con người mãnh liệt, dũng cảm lập nhiều kì tích trong chiến tranh như vậy lại cuốn hút khách tham quan bởi sự hiền hậu, chân tình, và thân thiện chứ không phải bằng những hào quang chiến thắng” Có lẽ một

phần câu trả lời đang ẩn mình trong tính cách và tuyền thống của người Việt, bởi trải qua hàng ngàn năm lịch sử, người Việt đã tạo dựng cho mình một phong cách, một nền văn hóa thuần phong mĩ tục riêng

Du lịch văn hoá là một trong những loại hình du lịch bền vững, hấp dẫn du khách, có nhiều điều kiện, nguồn lực để phát triển Việt Nam, một đất nước trải dài theo thời gian thông qua năm tháng đã được tích lũy một kho tàng văn hóa lớn và

nó ngày càng có sức hút sự quan tâm chú ý của mọi người trên các quốc gia khác nhau

Phần lớn hoạt động du lịch văn hoá gắn liền với địa phương- nơi lưu giữ niều

lễ hội văn hóa, với nhiều loại như du lịch tôn giáo, du lịch tham quan, du lịch nghiên cứu, du lịch giải trí… việc thu hút khách du lịch tham gia du lịch văn hóa đã góp phần tạo ra dòng chảy mới cải thiện đời sống tinh thần của nhân dân

1.4 Tổng quan về phường Quỳnh Phương, thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ

An

Phường Quỳnh Phương là một phường thuộc thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ

An, Việt Nam

Địa giới hành chính của Phường Quỳnh Phương:

Trang 15

- phía Đông giáp biển Đông

- Tây giáp phường Quỳnh Dị

- Nam giáp xã Quỳnh Liên

- Bắc giáp xã Quỳnh Lập

Phường có diện tích 3,45 km², dân số năm 2013 là 15.790 người, mật độ dân

số đạt 4.571 người/km²

Tiền thân là xã Quỳnh Phương thuộc huyện Quỳnh Lưu Ngày 3 tháng 4 năm

2013, được nâng lên thành phường thuộc Thị xã Hoàng Mai theo Nghị quyết 47/2013/NQ-CP của Chính phủ

Trang 16

Chương 2

LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG ĐỀN CỜN PHƯỜNG QUỲNH PHƯƠNG,

THỊ XÃ HOÀNG MAI, TỈNH NGHỆ AN 2.1 Lịch sử khu di tích Đền Cờn

2.1.1 Giới thiệu khái quát về Đền Cờn

Phường Quỳnh Phương – thị xã Hoàng Mai – tỉnh Nghệ An cách thành phố Vinh khoảng 75 km về phía Bắc, cách Hà Nội 220 km về phía Nam

Tọa lạc ở vị trí sơn thủy hữu tình, trong khung cảnh thiên nhiên khoáng đạt,

đền Cờn thật xứng với danh tiếng của nó: “nhất CỜn, nhì Quả, Bạch Mã, Chiêu Trưng” Khi xứ nghệ có 4 đền nổi tiếng nhất là đền Cờn, đền Quả, đền Bạch Mã,

đền Chiêu Trưng thì đền Cờn được coi là đứng đầu bởi tính thiêng liêng, qui mô kiến trúc bề thế, có nhiều mảng nghệ thuật dặc sắc

Đền Cờn với tục thờ Tứ Vị Thánh Nương là một sự kết hợp độc đáo giữa tín ngưỡng thờ mẫu và lễ hội cầu ngư Nó không chỉ có giá trị về mặt văn hóa tâm linh

mà còn có giá trị lịch sử chính trị rất lớn lao đó là việc từng ngầm giúp đỡ quân đội nhà Trần rồi nhà Lê vượt biển bình an, chiến thắng Chiêm Thành ttrong những lần chinh phạt phương Nam

2.1.2 Truyền thuyết về khu di tích đền Cờn

Có nhiều sách đề cập đến đền Cờn và Tứ Vị Thánh Nương, từ quốc sử như

Đại Việt sử kí toàn thư đến các sách viết theo lối địa chí, kí sự,… như Thượng kinh

ký sự, Lịch triều hiến chương loại chí, Đại Nam thống nhất chí,Thanh Chương huyện chí, An Tĩnh cổ lục,

Theo sách Đại Việt sử kí toàn thư của Ngô Sĩ Liên, bản dịch tập II, NXB

KHXH, Hà Nội 1967:

“Lập đền thần ở cửa biển Cần Hải.Trước đây (mùa đông, tháng12, tân hợi năm thứ 19-1311) vua (Trần Anh Tông Hoàng đế) thân chinh đi đánh chiêm thành, đến cửa biển Cần Hải (nguyên trước là Càn Hải, vì tránh tên húy nên đổi là Càn

Trang 17

Hải) đóng quân ở đây, đêm chiêm bao thấy có nữ thần khóc và nói:“Thiếp là cung phi nhà Triệu Tống, bị giặc bức bách, gặp sóng gió chết đuối trôi dạt đến đây, Thượng đế phong cho làm thần Biển ở đây đã lâu, nay thấy bệ hạ đem quân đi, thiếp xin giúp đỡ lập công” Khi tỉnh dậy vua cho gọi các bô lão ở đấy hỏi sự thực, ban tế 1 tuần rồi mới đi, thì biển không nổi sóng, tiến thẳng đến thành Chà Bàn, bắt được vua chiêm đêm về Đến nay (tháng6,nhâm tý, năm thứ 20 đời vua Trần Anh Tông) sai Hữu ty lập đền, tuế thì cúng tế”

2.1.3 Cấu trúc khu di tích đền Cờn

“Nhất Cờn, nhì Quả, tam Bạch Mã, tứ Chiêu Trưng”

Quần thể di tích đền Cờn bao gồm có hai đền: Đền Cờn Trong và Đền Cờn Ngoài

Đền Cờn trong có kiến trúc cổ kính và nằm trên mảnh đất có phong thủy đẹp Đền làm trên đồi Quạ (do đó còn có tên là đền Quạ) Phía sau ngôi đền có 2 đồi nhỏ nhô cao, giăng dài ra 2 bên như cánh phượng Tại hai đồi có 2 giếng nước, tương truyền đây là mắt phượng Trước mặt là dòng sông Mai Giang thơ mộng, bên kia sông Mai Giang là núi Voi thuộc dãy núi Xước, và sau lưng là biển

Trước đây đền có 5 tòa, ba tòa trong làm theo kiểu chữ công gồm:

- Tòa 1: Hậu cung chính điện gồm 3 gian nằm ngang

- Tòa 2: Thượng điện gồm 3 gian nằm dọc

- Tòa 3: Trung điện, cũng có 3 gian nằm ngang

- Tòa 4: Tòa ca vũ( hay còn gọi là tòa bái đường)

- Tòa 5: Tiền môn (hay còn gọi là tòa nghi môn)3gian

Theo nhiều bô lão kể lại, khuôn viên đền cờn trước kia rất rộng Hai bên tòa ca

vũ có tả vu và hữu vu Tả vu và hữu vu là nơi ăn uống, xem hát múa, nó cũng là nơi chuẩn bị lễ vật, cổ bàn… trước khi lễ thần

Ngoài ra, trong khuôn viên Đền Cờn còn có khuôn viên nhà đồ Nhà đồ có 4

Trang 18

đồ tế khí kể cả những mảnh ván của thuyền bơi, những bộ phận của kiệu rước thần… Mỗi giáp một rương

Nhà làm theo kiểu tứ trụ, kẻ truyền, cột cái cao khoảng 5m, cột nhà, khóa giang, xà nhà cho đến thượng lương, hoành tải đều được bào trơn đóng bén, không chạm trổ hoa lá mà đánh vécni đậm trông bóng loáng

Đền Cờn Trong được xây dựng vào thời Trần, phát triển quy mô lớn ở thời

Lê, trùng tu nhiều ở thời Nguyễn, bởi vậy, di tích mang đậm phong cách văn hóa cuối Lê đầu Nguyễn Trải qua thời gian, ngôi Đền hiện chỉ còn tòa Nghi môn, Chính điện, Trung điện, Hạ điện và tòa ca vũ Đi qua cổng Đền vào sân, bước lên

10 bậc đá sẽ tới tòa Nghi môn Đây là một tòa nhà hình chữ công bề thế, gồm có hai tầng, 8 mái, liền tiếp sau nó là Chính điện, Trung điện và Hạ điện

Năm 2002, tòa thượng điện mới xây dựng lại gồm 1 gian 2 hồi Gian giữa rộng khoảng 4m, 2 hồi mỗi hồi rộng khoảng 5m, như vậy nhà dài khoảng 11m, chiều rộng khoảng 8m, trong đó hè rộng hơn 1m

Đền Cờn ngoài cách đền Cờn trong khoảng 1km Đền tọa lạc trên hòn thằn lằn hay còn gọi là hòn Rắn, tên chữ là Hùng Vương Phía sau là núi Hạc Đền thờ các vị thần như: Đế Bính, Trương Thế Kiệt, Lục Tú Phu… các vị thần này trước được thờ ở đền Cờn trong, song do quan niệm Nho Giáo bất đồng cung nên đến thời Lê đền thờ được xây riêng Đền được đặt trên núi ngay sát cửa biển

Đền cũng có 3 tòa bố cục theo kiểu chữ tam, nhưng qui mô nhỏ hơn đền Trong, làm vào đời Gia Long Hiện tại Đền còn chỉ có 2 tòa, hướng mặt ra biển Đông Cả 2 tòa đều làm bằng gỗ theo kiểu tứ trụ, nhưng đơn giản

- Tòa trong (thượng điện) có chiều dài khoảng 9m, chiều rộng khoảng 6m, được chia làm 3 gian

- Tòa ngoài (Hạ điện), rộng hơn thượng điện, có chiều dài khoảng 11m, chiều rộng 7m, kể cả hè Và cũng có 3gian Trong ba gian của tòa Hạ điện này, hai gian giữa đặt 2 tượng ông Hoàng Chín và ông Hoàng Mười Hai gian tả hữu gian bên

Ngày đăng: 18/04/2021, 13:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Đổng Chi (chủ biên), (2000), Sách “kho tàng truyện cổ tích Việt Nam” tập II,Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: kho tàng truyện cổ tích Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đổng Chi (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
2. Nguyễn Ngọc Định (chủ biên), (2010), Đền Cờn lịch sử và lễ hội, Nxb Văn hóa Dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đền Cờn lịch sử và lễ hội
Tác giả: Nguyễn Ngọc Định (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Văn hóa Dân tộc
Năm: 2010
3. Ninh Viết Giao ( biên soạn), (2009), Đền Cờn tục thờ tứ vị thánh nương và quần thể di tích văn hóa ở xã Quỳnh Phương, Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đền Cờn tục thờ tứ vị thánh nương và quần thể di tích văn hóa ở xã Quỳnh Phương
Tác giả: Ninh Viết Giao ( biên soạn)
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 2009
4. Cao Đức Hải (chủ biên), Quản lí lễ hội và sự kiện, Nxb Đại Học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lí lễ hội và sự kiện
Nhà XB: Nxb Đại Học Quốc Gia Hà Nội
5. Ngô Sĩ Liên (chủ biên),( 1967), Đại Việt Sử Kí Toàn Thư, bản dịch tập II, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt Sử Kí Toàn Thư
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
7. Dương Văn Sáu (chủ biên), 2004, Lễ hội Việt Nam trong sự phát triển du lịch, Trường Đại học văn hóa Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội Việt Nam trong sự phát triển du lịch
8. Hồ Đức Thọ,( 2001), Đền Cờn với lịch sử văn hóa trong tâm thức dân gian, Nxb văn hóa dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đền Cờn với lịch sử văn hóa trong tâm thức dân gian
Nhà XB: Nxb văn hóa dân tộc
9. Tổng quan du lịch, (2005), Trường Đại học văn hóa Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan du lịch
Tác giả: Tổng quan du lịch
Năm: 2005

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w