1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

DI TÍCH LỊCH sử văn hóa ĐÌNH XUÂN BẢNG THỊ TRẤN XUÂN TRƯỜNG TỈNH NAM ĐỊNH

21 30 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 236,92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì thế, trong quá trình thực tập tại phòng văn hóa huyện Xuân Trường tỉnh Nam Định được quan sát các anh chị trong nghề làm việc và tìm hiểu nghiên cứu về các di tích lịch sử đình đền ch

Trang 1

MỤC LỤC

I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI : 3

II ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU : 3

1, ĐỐI TƯỢNG : 3

2, PHẠM VI NGHIÊN CỨU : 4

3, MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU : 4

III NỘI DUNG 5

CHƯƠNG I : ĐÔI NÉT VỀ HUYỆN XUÂN TRƯỜNG TỈNH NAM ĐỊNH 5

CHƯƠNG II : ĐỊA ĐIỂM PHÂN BỐ - ĐƯỜNG ĐẾN DI TÍCH 5

CHƯƠNG III : SỰ KIỆN NHÂN VẬT LỊCH SỬ VÀ CÁC LỄ HỘI LIÊN QUAN TỚI DI TÍCH 5

CHƯƠNG IV : KHẢO TẢ DI TÍCH 5

CHƯƠNG V : TÌNH TRẠNG BẢO QUẢN, NHÂN XÉT GIÁ TRỊ DI TÍCH VÀ Ý KIẾN ĐỀ NGHỊ CỦA ĐỊA PHƯƠNG 5

KẾT LUẬN 5

NỘI DUNG 6

CHƯƠNG I: ĐÔI NÉT VỀ HUYỆN XUÂN TRƯỜNG TỈNH NAM ĐỊNH 6

1 VỊ TRÍ ĐỊA LÝ 6

2 LỊCH SỬ VÙNG ĐẤT “ ĐỊA LINH NHÂN KIỆT” HUYỆN XUÂN TRƯỜNG TỈNH NAM ĐỊNH 7

CHƯƠNG II : ĐỊA ĐIỂM PHÂN BỐ - ĐƯỜNG ĐẾN DI TÍCH 9

1 ĐỊA ĐIỂM PHÂN BỐ DI TÍCH 9

2 ĐƯỜNG ĐI ĐẾN : 9

CHƯƠNG III: SỰ KIỆN NHÂN VẬT LỊCH SỬ VÀ CÁC LỄ HỘI LIÊN QUAN ĐẾN DI TÍCH : 10

1 SỰ KIỆN NHÂN VẬT LỊCH SỬ LIÊN QUAN ĐẾN DI TÍCH 10

2 PHẦN LỄ HỘI LIÊN QUAN ĐẾN DI TÍCH 11

Trang 2

CHƯƠNG IV : KHẢO TẢ DI TÍCH 14

1 CÔNG TRÌNH KIẾN TRÚC 14

2 NGHỆ THUẬT ĐIÊU KHẮC TRÊN ĐỒ THỜ TỰ 16

CHƯƠNG V : TÌNH TRẠNG BẢO QUẢN , NHẬN XÉT GIÁ TRỊ DI TÍCH VÀ Ý KIẾN ĐỀ NGHỊ CỦA ĐỊA PHƯƠNG 19

1 TÌNH TẠNG BẢO QUẢN DI TÍCH 19

2 NHẬN XÉT GIÁ TRỊ DI TÍCH 19

3 Ý KIẾN ĐỀ NGHỊ CỦA ĐỊA PHƯƠNG 20

KẾT LUẬN 21

Trang 3

I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI :

Đất nước ta có một nền văn hóa đa dạng phong phú, nó như một bức tranh sống động bởi sự hòa quyện nhiều màu sắc mà ở đó đền, chùa, đình làng ở nông thôn là một gam màu chủ đạo để làm nên bức tranh đó Ai xa xứ về quê tới đầu làng những ngôi đền, chùa, đình làng rêu phong văng vẳng chuông ngân đã tạo nên sự hối thúc mãnh liệt, đầy sức sống cho mỗi con người, để ai đi xa cũng mong sớm có ngày trở lại Người xưa có câu "Dĩ nông vi bản" là một nước nông nghiệp chính vì thế hệ thống đền, chùa, đình làng luôn gắn bó mật thiết với đời sống tinh thần của mỗi người dân nông thôn Nó không chỉ có vị trí đặc biệt trong văn hóa làng mà còn có tác động sâu sắc, toàn diện đến xã hội cổ truyền Đền, chùa, đình làng của người Việt không chỉ là không gian tôn giáo, nơi phục vụ các hoạt động thờ cúng, tâm linh, thể hiện lòng hiếu

mộ của con người, là nơi sinh hoạt cộng đồng, in dấu những hương ước, lệ làng, những thiết chế lâu đời Vì thế, trong quá trình thực tập tại phòng văn hóa huyện Xuân Trường tỉnh Nam Định được quan sát các anh chị trong nghề làm việc và tìm hiểu nghiên cứu về các di tích lịch sử đình đền chùa ở trong địa bàn tỉnh em cũng đã được tham gia trong các chuyến đi thực tế tại các đình cổ ở huyện Xuân Trường tỉnh NamĐịnh trong đó có đền Xuân Bảng thuộc thị trấn Xuân Trường, huyện Xuân Trường tỉnh Nam Định

Bởi vậy em chọn đề tài: “DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA ĐÌNH XUÂN BẢNG THỊ TRẤN XUÂN TRƯỜNG TỈNH NAM ĐỊNH ”, làm đề tài nghiên cứu

với hy vọng nghiên cứu một cách hệ thống về hệ thống kiến trúc đình làng làng Xuân Bảng ở địa phương Qua đó làm rõ được những giá trị văn hoá, lịch sử tích cực để phát huy những di tích văn hóa cổ

II ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU :

1, ĐỐI TƯỢNG :

Đình Xuân Bảng thị trấn Xuân Trường huyện Xuân Trường tỉnh Nam Định Nghiên cứu về niên đại di tích, lịch sử các vị thần qua các thời đại các câu truyện truyền thuyết, những điền tích sắc phong….cũng như nghệ thuật kiến trúc điêu khắc hội họa.Từ đó thấy được vai trò của nó đối với đời sống tinh thần của người dân địa phương

Trang 4

- Những người khách thập phương có thể biết về di tích, tìm hiểu về di tích, biết

về nguồn gốc nhân vật đang thờ tự tại đình cùng với những cổ vật từ thời xa xưa để lại Hiểu biết hơn về lễ hội làng diễn ra hàng năm tại đình Xuân Bảng

Trang 5

III NỘI DUNG

CHƯƠNG I : ĐÔI NÉT VỀ HUYỆN XUÂN TRƯỜNG TỈNH NAM ĐỊNH

1 Vị trí địa lý

2 Lịch sử vùng đất “địa linh nhân kiệt” huyện Xuân Trường tỉnh Nam Định

CHƯƠNG II : ĐỊA ĐIỂM PHÂN BỐ - ĐƯỜNG ĐẾN DI TÍCH

1 Địa điểm phân bố di tích

2 Đường đi đến

CHƯƠNG III : SỰ KIỆN NHÂN VẬT LỊCH SỬ VÀ CÁC LỄ HỘI LIÊN QUAN TỚI DI TÍCH

1 Sự kiện nhân vật lịch sử liên quan đến di tích

2 lễ hội liên quan đến di tích

CHƯƠNG IV : KHẢO TẢ DI TÍCH

1 Công trình kiến trúc

2 Nghệ thuật điêu khắc trên đồ thờ tự

CHƯƠNG V : TÌNH TRẠNG BẢO QUẢN, NHÂN XÉT GIÁ TRỊ DI TÍCH

VÀ Ý KIẾN ĐỀ NGHỊ CỦA ĐỊA PHƯƠNG

1 Tình trạng bảo quản di tích

2 Nhận xét giá trị di tích

3 Ý kiến đề nghị của địa phương

KẾT LUẬN

Trang 6

NỘI DUNG

Mỗi làng quê Việt Nam đều có một ngôi đình, đền thờ thành hoàng làng ( vị thần bảo trợ của làng) Vào mỗi dịp tết đình, đền trở thành trung tâm văn hóa của làng, mà

ở đó tất cả kho tàng văn hóa tích lũy từ đời này qua đời khác đượcthể hiện đầy đủ nhất

" Đình " theo nghĩa hán tự, là một ngôi nhà để chú ngụ, nghỉ tạm Theo một số nhà nghiên cứu, từ "đình " xuất hiện sớm nhất trong lịch sử Việt Nam là từ thế kỷ thứ

II đến thứ III Tuy nhiên giả thiết này còn thiếu cơ sở khoa học Thời nhà Trần đình với tư cách là trạm nghỉ chân đã được ghi trong Đại Việt sử ký toang thư " thượng hoàng chiếu xuống rằng, trong nước ta phàm chỗ nào có đình trạm đều phải đặt tượng phật để thờ" Thời nhà Mạc từ chức năng ngôi nhà công cộng, đình trở thành công trình đa chức năng.Nó là nơi thờ thành hoàng làng và là nơi hội họp của làng xã.Nơi đay thường diễn ra các cuộc hội họp của các hương lão, chức sắc trong làng về việc công, hoặc phân sử kiện tụng, đồng thời là nơi cúng lễ.Điều này đã được các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước gki nhận

Đình đã suất hiện ở nhiều vùng nông thôn Việt Nam, Nam Định cũng là một tronh những nơi có nhiều đình cổ mang giá trị văn hóa từ thời xa xưa.Đình Xuân Bảng thuộc Thị Trấn Xuân Trường tỉnh Nam Định cũng là một trong những đình cổ có nhiều giá trị văn hóa lớn

CHƯƠNG I: ĐÔI NÉT VỀ HUYỆN XUÂN TRƯỜNG TỈNH NAM ĐỊNH

- Xuân Trường là một huyện phía nam của tỉnh Nam Định

- Phía Bắc Xuân Trường giáp huyện Vũ Thư tỉnh Thái Bình, phía Đông Bắc giáp huyện Kiến Xương tỉnh Thái Bình

- Phía Nam Xuân Trường giáp huyện Hải Hậu, phía Đông Nam giáp huyện Giao Thủy tỉnh Nam Định

- Phía Tây giáp huyện Trực Ninh tỉnh Nam Định

- Ranh giới phía Bắc với tỉnh Thái Bình là sông Hồng Ranh giới phía Tây với huyện Trực Ninh là sông Ninh Cơ Ranh giới phía Đông Nam với huyện Giao Thủy là sông Sò Làng Hành Thiện, xã Xuân Hồng nắm ở ngã ba sông Hồng và sông Ninh Cơ,

Trang 7

tiếp giáp với huyện Vũ Thư tỉnh Thái Bình và huyện Trực Ninh tỉnh Nam Định

TRƯỜNG TỈNH NAM ĐỊNH

Xuân Trường là vùng đất thuộc đồng bằng sông Hồng được bao bọc bởi ba con sông lớn là : sông Hồng, sông Sò, sông Ninh Cơ Vùng đất ấy là nơi “đất lành chim đậu” với quá trình hình thành và phát triển gần một nghìn năm nay

Vùng đất Xuân Trường ngày nay, từ xa xưa là một trong những vùng đất mà biển bồi tạo nên, vào thế kye thứ VI, nơi đây được gọi là cửa biển “ Đại Nha” Theo Sử sách thì huyện Xuân Trường ngày nay vốn là một phần đất của hương Giao Thủy xưa kia Tên Giao Thủy xuất hiện khoảng thế kỷ X Một số sách sử, trong đó có “ đại việt

sử ký toàn thư”, khi chép về các sứ quân Ngô có nói rõ Ngô Nhật Khánh (cháu Ngô Quyền) ngoài việc chiếm giữ quê hương Đường Lâm, còn xây dựng căn cứ ở vùng Giao Thủy(thuộc Nam Định ngày nay) Đầu thế kỷ X Giao Thủy là vùng đất cửa sông giáp biển.( bao gòm từ đất Nam Trực trở xuống)

ở vùng này khi Ngô Quyền đánh thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng đã

có tả tướng tiên phong Nguyễn Công Thành lập công lớn, sau chiến thắng Ngô Quyền

đã giao cho ông chấn giữ vùng cửa sông Giao Thủy Ông sinh năm đinh sửu(917) và mất năm nhâm thì(992), nhiều làng ở phía Nam tỉnh Nam Định đã lập đền thờ ông Tới thời Đinh (nửa cuối thế kỷ X) ngay từ khi chưa lên ngôi hoàng đế, Đinh Tiên Hoàng

đã nhiều lần tới đánh cá trên sông Giao Thủy và ngủ đêm ở chùa Nghiêm Quang Dân làng Kiên Lao(xã Xuân Kiên) còn lưu giữ một truyền thuyết rất đẹp là: khi Lê Đại Hành(941-1006) thống lĩnh tướng soái đi tiêu diệt quân Tống sâm lược, dân làng Kiên Lao đã tích cức đóng thuyền, chuẩn bị các phương tiện, vận tải giúp vua đánh giặc Khi chiến thắng, Lê Hoàn đã về Kiên Lao khen thưởng quân sỹ Tới đời Trần(thế kỷ XIII) huyện Giao Thủy(bao gồm cả đất của hai huyện Xuân Trường và Giao Thủy ngày nay)là một trong bốn huyện thuộc phủ Thiên Trường( Mỹ Lộc Thượng Nguyên Nam Châu và Giao Thủy) Còn tại sao tiền nhân lại lấy tên Giao Thủy đặt cho vùng đất này? Phải chăng Giao Thủy xưa là nơi giao hòa và trị thủy, là nơi được bồi đắp do nước của sông Hồng gặp thủy triều của biển Đông dâng lên làm cho phù sa ngưng đọng tạo thành? Giao Thủy- vì thế có thể coi lafnowi giao hòa giữa nước của dòng

Trang 8

sông mẹ(sông Cái) với nước của biển Đông Đến đời Tự Đức(1862)phủ Thiên Trường được đổi thành phủ Xuân Trường, như vậy tên Xuân Trường được xuất hiện từ thế kỷ XIX, nhưng không chỉ địa dạnh huyện như hiện nay mà là địa danh của một phủ.tới năm 1934( đời vua Bảo Đại)phủ Xuân Trường chỉ còn là một đơn vị hành chính cấp huyện, cùng với huyện Giao Thủy thuộc tỉnh Nam Định Cho tới năm 1948 mới chính thức đổi phủ Xuân Trường thành Huyện Xuân Trường

Tháng 12/1967 theo quyết định của chính Phủ: hai huyện Xuân Trường và Giao Thủy hợp nhất thành huyện Xuân Thủy Sau 30 năm hợp nhất ngày 26/2/1997 chính phủ có nghị định 19/CP chính thức tách huyện Xuân Thủy thành hai huyện Xuân Trường và Giao Thủy Huyện Xuân Trường tái lập chính thức đi vào hoạt động theo đơn vị hành chính mới từ 1/4/1997 Huyện có diện tích hơn 112km vuông, dân số hơn

18 vạn người trong đó 28,5% đồng bào theo đạo thiên chúa với các đơn vị hành chính cấp xã gồm: thị trấn Xuân Trường, Xuân Châu, Xuân Thượng, Xuân Hồng, Xuân Thủy, Xuân Thành, Xuân Phong, Xuân Đài, Xuân Bắc, Xuân Ngọc, Xuân Phương, Xuân Trung, Xuân Phú, Xuân Vinh, Xuân Kiên, Xuân Hòa, Xuân Ninh, Xuân Tiến và Thọ Nghiệp

Trang 9

CHƯƠNG II : ĐỊA ĐIỂM PHÂN BỐ - ĐƯỜNG ĐẾN DI TÍCH

Từ năm 1969 đình Xuân Bảng thuộc xã Xuân Hùng, nay thuộc thị trấn Xuân Trường Đình Xuân Bảng tọa lạc trên một vùng đất bằng phẳng, ba phía Bắc Tây Nam đều có ngòi nước bao bọc (khi xưa là sông nhỏ) xung quanh là cánh đồng rất phì nhiêu năm hai vị chiêm mùa chồng lúa nước sai bông nặng hạt

2 ĐƯỜNG ĐI ĐẾN :

Về đình Xuân Bảng có thể đi theo các đường rải đá, rải nhựa sau đây :

- Từ huyện Giao Thủy ta có thể ngược đường lên thành phố Nam Định đi theo con đường chính khoảng 7km đến thị trấn Xuân Trường, đình Xuân Bảng nằm ngay cạnh trục đường chính

- Từ huyện Hải Hậu đi thẳng tới tượng đài Trường Chinh, tới ngã tư ngay cạnh tượng đài dẽ tay phải đi khoảng 2km là tới đình

- Từ thành phố Nam Định đi về huyện Trực Ninh đi tiếp qua cầu Lạc Quần tới ngã ba dẽ tay trái đi thẳng tới tượng đài Trường Chinh, tới ngã tư ngay cạnh tượng đài

dẽ tay phải đi khoảng 2km nữa là tới đình

Trang 10

CHƯƠNG III: SỰ KIỆN NHÂN VẬT LỊCH SỬ VÀ CÁC LỄ HỘI LIÊN QUAN ĐẾN DI TÍCH :

1 SỰ KIỆN NHÂN VẬT LỊCH SỬ LIÊN QUAN ĐẾN DI TÍCH

Đình Xuân Bảng được lập nên để thờ tướng công Ngô Miễn(1371-1407)và vợ ông là Nguyễn Thị Lệnh Theo gia phả : ông người kinh bắc, đậu Thái học sinh(tiến sỹ) năm 1388đời vua Trần Sau ông làm quan, phò giúp nhà Hồ, giữ chức “ Hành Khiển hữu tham chi chính sự” (trông coi chính sự trong triều)

Khi giặc Minh sang xâm chiếm nước ta, Ngô Miễn đã cùng quan quân nhà Hồ chống giặc tới cùng Thành Tây Đô thất thủ, vua quan nhà Hồ chạy vào Hà Tĩnh Hồ

Đỗ, Phạm Lục Tài, Nguyễn Ngạn Quang, Đào Hồng… đều bị bắt Bọn Trần Nhật Chiêu, Nguyễn Cẩn, Đỗ Mẫn… đầu hàng giặc Duy có Hành Khiển hữu tham tri chính

sự Ngô Miễn nhảy xuống sông tuẫn tiết.(đại việt sử ký toàn thư tập 2 trang 218) Khi ông chết vợ ông là bà Nguyễn Thị Lệnh ngửa mặt lên trời mà than “ chồng ta thờ vua, một đời ăn lộc, ngày nay giữ tiết nghĩa mà chết, thế là chết xứng đáng, còn oán hận gì nữa? nếu thiếp muốn sống cho qua ngày chẩng lẽ lại không còn chỗ đến nữa hay sao? Nhưng đạo chồng ơn vua, một chốc mà phụ bạc thì thiếp không nỡ nào! Chi bằng xin theo nhau”, nói rồi bà cũng nhảy xuống sông tự vẫn.(đại việt sử ký toàn thư tập 2 trang

218 nhà xuất bản khoa học xã hội Hà Nội 1988)

Gương sáng của ông Ngô Miễn vag phu nhân Nguyễn Thị Lệnh xứng đáng được nhân dân thờ phụng

Ông Ngô Miễn còn có công tụ tập người thuộc 10 họ: Ngô, Đỗ, TRần, Hoàng,

Tạ, Phạm, Nguyễn, Đinh, Vũ, Đào tới vùng Sơn Nam (Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình, Thái Bình)và vùng Nhật Nam (Hà Tĩnh) khai đền lập trang ấp

Đình Xuân Bảng còn thờ hai vị quận công: Trần Thận Đoan sinh khoảng năm

1650, 24 tuổi ông ra làm quan, năm 40 tuổi ông được phong hầu Khi về, ông được phong chức “Quận Công”

Trần Nhân Tăng (1664-1729)là người văn võ song toàn, làm quan dưới hai triều vua Lê Hy Tông và Lê Dụ Tông:”đặc tiến phụ quốc thượng tướng quân” “phó quan tri

Trang 11

nội giám, tổng thái giám” được phong “hữu hiệu quế hương hầu Quận Công” Nhân dân thường gọi ông là “Quận Quế”

Năm 1930 lá cờ đảng đã tung bay trên đỉnh cột cờ trước đình Xuân Bảng Thời kì tonongr khởi nghĩa năm 1945, đình Xuân Bảng là nơi tụ họp nhân dân trong vùng để tham gia đoàn quân đi lấy phủ Xuân trường Năm 1947 đại hội đại biểu đảng bộ tỉnh Nam Địnhđã tổ chức tại đình Xuân Bảng

Cứ mỗi độ xuân về hay mỗi khi có tiết lễ ở các vùng, người dân của nhiều làng trong huyện Xuân Trường lại tưng bừng mở hội Những ngôi đền cổ kính rêu phong xuốt tháng năm trầm mặc trong cảnh “thiền”lại có dịp sống động trong không khí linh thiêng của ngày lễ hội với sự hội tụ của dân làng kính cẩn dâng hương, rước kiệu tưởng nhớ công lao của cá vị tướng, vị thần có công dựng làng giữ nước Hoạt động lễ hội là sự biểu hiện phong phú về nội dung lịch sử và ý nghĩa giáo dục truyền thoongd

củ lễ hội Hoạt động này gồm phần lễ và phiên hội hầu hết tập trung ở phần lễ, mang ý nghĩa tâm linh thể hiện sự sung bái ngưỡng vọng nhớ ơn của cộng đồng với danh nhân được tôn thờ

Hàng năm, đến các ngày kỷ niệm Thành hoàng nhân dân thị trấn Xuân Trường thường tổ chức dâng hương tưởng niệm.Nhưng dịp trung tuần tháng hai là tổ chức linh đình hơn cả.Dịp này thường kéo dài từ 3 đến 5 ngày, quy tụ đông đảo bà con gần xa trong dịp đầu xuân nên rất đông vui

Lễ hội thường có tế lễ dâng hương ở đình và chùa Các dòng họ chuẩn vị lễ vật theo nếp cũ quê hương Rước kiệu từ các đền phủ về đình và chùa, các hội công tử rước cờ, các hội khác thì múa lân, múa rồng tạo không khí sôi động trong ngày hội Lệ làng Xuân Bảng còn có rước ra sông ngay gần đình lấy nước, nước đó được đựng vào chóe trong cung cấm làm nước thánh, họ quan niệ đây là nước sạch lấy ở giữa dòng sông dùng để dâng các ban và phải chăng đây cũng là giọt nước từ dòng sông quê hương đã gắn bó với mảnh đất con người thị trấn Xuân Trường

Ngoài các nghi thức tế, lễ, rước kiệu còn có lệ giao hảo với thôn nội bên cạnh Quan niệm dân gian cho thần hai làng cùng thời, cùng dòng dõi con Lạc cháu Hồng,

Ngày đăng: 18/04/2021, 13:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w