1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Phân tích bài thơ Tràng giang của nhà thơ Huy Cận

9 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 1,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Toàn cảnh sông dài, trời rộng tưởng như rất hùng tráng nhưng tuyệt nhiên không có lấy một bóng con người; không một chuyến đò, đồng thời cây cầu – biểu tượng gắn kết, tạo sự gần gũi g[r]

Trang 1

VĂN MẪU LỚP 11

ĐỀ BÀI: PHÂN TÍCH BÀI THƠ TRÀNG GIANG CỦA HUY CẬN

A SƠ ĐỒ TÓM TẮT GỢI Ý

B DÀN BÀI CHI TIẾT

1 Mở bài

- Giới thiệu nhà thơ Huy Cận và bài thơ Tràng giang

- Dẫn dắt vào vấn đề

Trang 2

2 Thân bài

- Khái quát chung

• Hoàn cảnh sáng tác: Tràng giang được viết vào mùa thu năm 1939, cảm xúc được khơi gợi từ cảnh sông Hồng mênh mang sông nước

• Xuất xứ: rút từ tập “Lửa thiêng”

• Thể thơ: thất ngôn

• Nhan đề: nhan đề bài thơ Tràng giang gợi lên không khí những bài thơ cổ: một dòng sông dài rộng, những khoảng cách xa xôi, những chia li cách trở (chàng ở đầu sông Tương, thiếp ở cuối sông Tương .) Tràng giang còn gợi tên con sông Trường giang, nơi Thôi Hiệu viết Hoàng Hạc lâu, Liù Bạch viết Hoàng Hạc lâu, tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng

• Lời đề từ: giản dị, ngắn gọn với chỉ bảy chữ nhưng đã thâu tóm được cảm xúc chủ

đạo của cả bài: “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài” Trước cảnh“trời rộng”, “sông

dài” sao mà bát ngát, mênh mông của thiên nhiên, lòng con người dấy lên tình cảm

“bâng khuâng” và nhớ Từ láy “bâng khuâng” được sử dụng rất đắc địa, nó nói lên

được tâm trạng của chủ thể trữ tình, buồn bã, u sầu, cô đơn, lạc lõng Và con “sông dài”, nghe miên man tít tắp ấy cứ vỗ sóng đều đặn khắp các khổ thơ, cứ cuộn sóng lên mãi trong lòng nhà thơ làm rung động trái tim người đọc

- Phân tích

• Khổ 1: cảnh sóng gợn, thuyền trôi, củi trôi và nỗi buồn điệp điệp

o Những hình ảnh cổ điển: một dòng tràng giang phẳng lặng, một con thuyền lặng

lẽ trôi, một cành củi khô nhỏ bé

o Cảm giác buồn của con người hiện đại:

✓ Sóng gợn tràng giang nhưng lại buồn điệp điệp (điệp từ điệp điệp – từ cái hữu hình của sóng trên tràng giang mà nhận ra cái vô hình là nỗi buồn của con người)

✓ Thuyền và nước bên nhau nhưng giữa thuyền và nước là sự xa cách hững

hờ Thuyền và nước theo hai chiều đối nghịch (về – lại), nổi lên giữa cuộc chia li là sầu trăm ngả

✓ Cành củi bé nhỏ giữa tràng giang mênh mông, nhà thơ còn cố tình làm rõ:

Trang 3

Cành củi ở đây không chỉ là cành củi mà còn là cảm nhận về thận phận bé nhỏ của con người

• Khổ 2: cảnh cồn bến hoang vắng trong nắng chiều bát ngát

o Bức tranh phía bên kia tràng giang với những nét đơn sơ: mấy cồn đất nhỏ thưa thớt, những làn gió nhẹ thổi qua

o Bức tranh vẫn tiếp tục gợi lên nỗi buồn và cô đơn, bởi vì những cồn đất chỉ là

lơ thơ cồn nhỏ, gió chỉ là gió đìu hiu Câu thơ gợi một hình ảnh trong Chinh phụ

ngâm: “Bến Phì gió thổi đìu hiu mấy gò”

o Một chút âm thanh mơ hồ: từ đâu gợi cảm giác mơ hồ, âm thanh lại rất nhỏ: làng xa – vãn chợ chiều

o Cảm nhận về nỗi buồn không chỉ trong không gian mà cả trong thời gian Đây

là cảm nhận chỉ con người thời hiện đại mới có Thời gian ngả sang chiều, giữa tràng giang và bầu trời càng cách xa, theo hai chiều đối nghịch: nắng xuống – trời lên Khoảng xa cách càng trở nên đặc biệt với cái nhìn của nhà thơ: trời lên sâu chót vót Trời không chỉ trên đầu mà còn là trời soi bóng xuống trường giang, vũ trụ mở ra vô tận

o Thân phận bé nhỏ và cô đơn của con người càng thấm thía trong sự so sánh: sông dài, trời rộng – bến cô liêu Sông dài trời rộng là không gian ba chiều, bến

cô liêu là cái bến Chèm, nơi nhà thơ đang ngồi, như cũng chính là thân phận con người

• Khổ 3: cảnh hàng bèo trồi trên dòng sông mênh mông, cảnh bãi bờ xanh, vàng tít táp

o Những hình ảnh quen thuộc: những cánh bèo mặt nước, những bãi bờ với những cây cỏ tiếp nối bên tràng giang đến tận chân trời

o Hình ảnh của thân phận con người: bèo dạt về đâu (lạc loài, trôi nổi) Cảm giác

cô đơn khiến nhà thơ muốn tìm đến một sự gần gũi, một sự kết nối, rồi để thấm

thía một sự đơn độc trọn vẹn Hai từ “không” trong hai câu thơ như hai cái lắc

đầu buồn bã Chỉ có con người đơn độc giữa không gian vô tình, vô cảm

• Khổ 4: cảnh bầu trời mây trắng, cánh chim nghiêng, sóng sỏng dợn dợn gợi nỗi nhớ nhà

Trang 4

o Giữa bầu trời có một cánh chim nhỏ nghiêng xuống, tạo nên một bức tranh lạ Đây không còn là bức tranh cổ: chỉ có một cánh chim đơn độc, không phải một đàn chim vẫn bay trong những bức tranh chiều quen thuộc Đặc biệt cảm giác của nhà thơ: chim nghiêng cánh nhỏ – bóng chiều sa Bóng chiều như đổ sập xuống theo cánh chim nhỏ

o Không nhìn vào không gian nữa, nhà thơ nhìn vào chính tâm hồn mình Nhà thơ gọi tâm hồn mình là lòng quê, gợi nhớ đến “hồn quê” của Thúy Kiều nơi đất

khách: “Hồn quê theo ngọn mây Tần xa xa”

o Dùng điệp từ “dợn dợn” để nói về sóng trên tràng giang mà nói về tâm trạng của

chính mình: một cảm giác ngất ngây choáng váng

o Cuối cùng đọng lại từ tràng giang là: nhớ nhà Nói không khói hoàng hôn, nhà

thơ muốn nhắc đến hai câu kết trong bài thơ Hoàng Hạc lâu của Thôi Hiệu: (Quê

hương khuất bóng hoàng hôn/ Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai )

- Nhận xét:

• Nội dung

o Vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên, nỗi sầu của cái tôi cô đơn trước vũ trụ rộng lớn

o Niềm khao khát hòa nhập với cuộc đời và lòng yêu quê hương, đất nước tha thiết của tác giả

• Nghệ thuật:

o Sự kết hợp hài hòa giữa sắc thái cổ điển và hiệ đại

o Nghệ thuật đối, bút pháp tả cảnh giàu tính tạo hình, hệ thống từ láy giàu giá trị biểu cảm

3 Kết bài:

- Nêu nhận xét, đánh giá, cảm nhận chung về bài thơ

- Mở rộng vấn đề bằng suy nghĩ và liên tưởng của mỗi cá nhân

C BÀI VĂN MẪU

Không chỉ là một trong những bài thơ hay của Huy Cận mà “Tràng giang” còn là một

trong những bài thơ tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1930-1945) Mới đọc, không ít

Trang 5

yêu quê hương đất nước nhưng kì thực bấy nhiêu chưa đủ với “Tràng giang” Bài thơ là

lời bộc bạch của một tâm hồn cô đơn, bơ vơ ngay giữa quê hương mình Hay nói đúng hơn thì đó là nỗi buồn của cả một thế hệ chứ không riêng gì một hồn thơ

Bài thơ “Tràng giang” của Huy Cận được “thai nghén” và “sinh nở” từ những buổi

chiều tác giả đứng trên bến Chèm của con sông Hồng đỏ nặng phù sa Ban đầu bài thơ có

tên “Chiều trên bến sông” nhưng sau này Huy Cận đặt lại thành “Tràng giang” Hai chữ

“Tràng giang” đã gợi lên hình ảnh một con sông dài, mênh mông và bát ngát Dường như

dòng sông ấy đã chảy từ xa xưa của lịch sử, đã đi qua bao nền văn học, đã chứng kiến biết

bao nhiêu thế hệ người sinh ra và mất đi Không những thế, điệp vần “ang” không chỉ gợi

tả sự dài rộng của con sông mà còn khiến nó trở nên mênh mang hơn, âm hưởng hơn trong tâm trí người đọc

Mở đầu bài thơ là một cảnh sông nước mênh mông bất tận:

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp Con thuyền xuôi mái nước song song Thuyền về, nước lại sầu trăm ngả Củi một cành khô lạc mấy dòng

Ngay câu đầu của bài thơ đã cho thấy hình một con sông mang nỗi buồn mênh mang,

lan tỏa: “sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp” Trên dòng sông buồn muôn con sóng ấy

là một con thuyền nhỏ buông mái chèo xuôi theo dòng nước Ở đây, hình ảnh thuyền và

nước chỉ “song song” với nhau chứ không gắn bó với nhau đã gợi lên sự lạc lõng, lênh

đênh của con thuyền trôi nổi giữa dòng nước trăm ngả, thuyền biết theo ngả nào Trong khi đó, câu thơ cuối lại phắc họa rõ nét hơn sự nhỏ nhoi, lạc lõng, vô định ấy bằng hình

ảnh: “Củi một cành khô lạc mấy dòng” Dường như cái nhìn của nhà thơ giữa “trời rộng,

sông dài” chỉ tập trung vào các vật nhỏ như sóng, thuyền, củi khô đã khiến sự đối lập được

đẩy cao, làm rõ không gian sông nước bao la, vô định, rời rạc, hờ hững

Đến khổ thơ thứ hai dường như nỗi buồn hiu quạnh như được tăng lên gấp bội và thấm sâu vào cảnh vật:

Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu

Trang 6

Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều Nắng xuống trời lên sâu chót vót Sông dài, trời rộng, bến cô liêu

Toàn bộ khổ thơ khiến cho người đọc cảm tưởng một nỗi buồn cuốn xiết, tê tái lấy tất cả Một cái cồn nhỏ lơ thơ, vắng vẻ, lại thêm ngọn gió đìu hiu nên càng thêm buồn bã hơn, não nề hơn Ngay cả những tiếng huyên náo của buổi chợ chiều mà cũng nghe không

rõ Khong biết chắc là tiếng đó phát ra từ đâu và không thể xác định được là có đúng âm thanh ấy hay không Trong khi đó thì trời và sông lại thật sự mênh mông và vô định

Không phải trời “cao” mà là trời “sâu” Lấy chiều sâu để gợi cái hun hút, không thấy cao sâu như thế nào của trời đất Hình ảnh sông nước mênh mông và một chữ “cô liêu” ở cuối

đoạn dường như đã lột tả hết nỗi buồn sâu thẳm đã thấm vào không gian ba chiều Con người ở đó trở nên bé nhỏ, có phần rợn ngợp trước vũ trụ rộng lớn và không khỏi cảm thấy lạc loài giữa cái mênh mông cái xa vắng của thời gian, của đất trời

Nỗi buồn quạnh quẽ tiếp tục thấm nhuần sang khổ thứ ba Một loạt những hình ảnh lại được hiện lên nhưng tất cả đều nhằm nói lên chỉ một tâm trạng:

Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng;

Mênh mông không một chuyến đò ngang Không cầu gợi chút niềm thân mật Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng

Sang khổ thơ này, dường như có một sự chuyển biến, sự vận động của thiên nhiên,

không còn u buồn và tĩnh lặng đến thê lươngtrước nữa qua hình ảnh “bèo dạt” Thế nhưng

“bào dạt về đâu” lại khiến cho người ta dễ thất vọng bởi cánh bèo trôi dạt vô định, không

biết nơi nào để bấu víu mà cứ lặng lẽ dạt “về đâu” mặc cho số kiếp Toàn cảnh sông dài,

trời rộng tưởng như rất hùng tráng nhưng tuyệt nhiên không có lấy một bóng con người; không một chuyến đò, đồng thời cây cầu – biểu tượng gắn kết, tạo sự gần gũi giữa con người với con người – cũng không có mà chỉ có thiên nhiên (bờ xanh) nối tiếp với thiên nhiên (bãi vàng) đầy xa vắng, hoang sơ

Trang 7

Và có lẽ ở khổ thơ cuối, bút pháp nghệ thuật của tác giả được đẩy lên cao nhất với nét vẽ chấm phá rất đắc điệu:

Lớp lớp mây cao đùn núi bạc Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa Lòng quê dợn dợn vời con nước Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà

Có thể nói tư tưởng cả bài thơ cũng như tâm tình của nhà thơ được gửi gắm qua khổ

thơ cuối này Hình ảnh “mây cao đùn núi bạc” mang dáng dấp của thơ Đường đã tạo nên

ấn tượng về sự hùng vĩ của thiên nhiên Trước cảnh sông nước, mây trời bao la ấy, bỗng thấy xuất hiện một cánh chim nhỏ bé, chao nghiêng Hình ảnh cánh chim đơn lẻ trong một buổi chiều tà cũng để gợi lên một nỗi buồn xa vắng Thậm chí có nhận định cho rằng, người đọc cảm tưởng như cả thiên nhiên đất trời rộng lớn đang đè nặng lên đôi cánh nhỏ

bé ấy, cho nên cánh chim mới sa xuống như vậy Thiên nhiên rộng lớn và hùng vĩ bao nhiêu thì cánh chim lại nhỏ bé, đơn độc và mệt mỏi bấy nhiêu Nếu quan sát trong chính thời điểm ấy của cuộc đời nhà thơ thì phải chăng cánh chim ấy chính là một tâm hồn yêu nước tha thiết nhưng nhỏ nhoi, yếu ớt trước sự xâm lăng, đàn áp của giặc ngoại quốc? Buồn mà bất lực

Rất có thể vì thế mà hai câu sau nhà thơ đã nhắc đến quê nhà:

Lòng quê dợn dợn vời con nước Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà

Giữa thiên cảnh bao la hùng vĩ nhưng thấm đẫm nỗi buồn man mác đã khiến cho tác giả nhớ đến quê hương, nhớ đến những con người thân quen một thời của mình Nhà thơ buồn trước không gian hoang vắng, sóng gợn tràng giang hiu hắt khiến ông nhớ tới quê hương như một nguồn ấm áp Một mình đối diện với khung cảnh vô tình, quạnh vắng thì

có lẽ nơi quê nhà chính là niềm an ủi lớn nhất đối với một tâm hồn đang hết sức cô đơn, lạc lõng

Bài thơ “Tràng giang” của Huy Cận không chỉ vẽ lên một bức tranh thiên nhiên u

buồn, hiu quạnh mà qua đó còn khắc họa được tâm trạng cô liêu, đơn độc của con người

Trang 8

và một tình yêu quê hương, mong ngóng về quê hương chân thành, sâu sắc của nhà thơ Nỗi buồn ấy chính là xuất phát từ thực tại lúc bấy giờ: xã hội cộng đồng truyền thống với những mối dây liên hệ đã đứt tung để thay vào đó là một xã hội đô thị với những cái tôi rời rạc, bơ vơ

Trang 9

Website HOC247 cung cấp một môi trường học trực tuyến sinh động, nhiều tiện ích thông minh, nội dung bài giảng được biên soạn công phu và giảng dạy bởi những giáo viên nhiều năm kinh

nghiệm, giỏi về kiến thức chuyên môn lẫn kỹ năng sư phạm đến từ các trường Đại học và các

trường chuyên danh tiếng

I Luyện Thi Online

- Luyên thi ĐH, THPT QG: Đội ngũ GV Giỏi, Kinh nghiệm từ các Trường ĐH và THPT danh tiếng xây dựng các khóa luyện thi THPTQG các môn: Toán, Ngữ Văn, Tiếng Anh, Vật Lý, Hóa Học và Sinh Học

- Luyện thi vào lớp 10 chuyên Toán: Ôn thi HSG lớp 9 và luyện thi vào lớp 10 chuyên Toán các

trường PTNK, Chuyên HCM (LHP-TĐN-NTH-GĐ), Chuyên Phan Bội Châu Nghệ An và các trường Chuyên khác cùng TS.Trần Nam Dũng, TS Pham Sỹ Nam, TS Trịnh Thanh Đèo và Thầy Nguyễn Đức Tấn

II Khoá Học Nâng Cao và HSG

lớp 6, 7, 8, 9 yêu thích môn Toán phát triển tư duy, nâng cao thành tích học tập ở trường và đạt điểm tốt

ở các kỳ thi HSG

- Bồi dưỡng HSG Toán: Bồi dưỡng 5 phân môn Đại Số, Số Học, Giải Tích, Hình Học và Tổ Hợp dành cho

học sinh các khối lớp 10, 11, 12 Đội ngũ Giảng Viên giàu kinh nghiệm: TS Lê Bá Khánh Trình, TS Trần

Nam Dũng, TS Pham Sỹ Nam, TS Lưu Bá Thắng, Thầy Lê Phúc Lữ, Thầy Võ Quốc Bá Cẩn cùng đôi HLV đạt

thành tích cao HSG Quốc Gia

III Kênh học tập miễn phí

- HOC247 NET: Website hoc miễn phí các bài học theo chương trình SGK từ lớp 1 đến lớp 12 tất cả các

môn học với nội dung bài giảng chi tiết, sửa bài tập SGK, luyện tập trắc nghiệm mễn phí, kho tư liệu tham khảo phong phú và cộng đồng hỏi đáp sôi động nhất

- HOC247 TV: Kênh Youtube cung cấp các Video bài giảng, chuyên đề, ôn tập, sửa bài tập, sửa đề thi miễn

phí từ lớp 1 đến lớp 12 tất cả các môn Toán- Lý - Hoá, Sinh- Sử - Địa, Ngữ Văn, Tin Học và Tiếng Anh

Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai

Học mọi lúc, mọi nơi, mọi thiết bi – Tiết kiệm 90%

Học Toán Online cùng Chuyên Gia

HOC247 NET cộng đồng học tập miễn phí HOC247 TV kênh Video bài giảng miễn phí

Ngày đăng: 18/04/2021, 12:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w