Trong thơ ca cố điển cũng như hiện đại, chỉ riêng việc khắc họa hình ảnh một cánh chim lẻ loi đi gợi lên một cái gì đó cô đơn, tội nghiệp, gợi lên cái buồn vắng, trống trải trong tâm h[r]
Trang 1VĂN MẪU LỚP 11
ĐỀ BÀI: PHÂN TÍCH KHỔ CUỐI BÀI THƠ TRÀNG GIANG CỦA HUY CẬN
A SƠ ĐỒ TÓM TẮT GỢI Ý
B DÀN BÀI CHI TIẾT
1 Mở bài
- Giới thiệu bài thơ Tràng giang và tác giả Huy Cận
- Dẫn dắt vào vấn đề: khổ cuối bài thơ Tràng giang
2 Thân bài
Trang 2- Khái quát chung
• Xuất xứ bài thơ: rút từ tập thơ Lửa thiêng
• Hoàn cảnh sáng tác: Mùa hè – thu năm 1939, chàng thanh niên 20 tuổi Huy Cận đang là sinh viên trường Cao đẳng Nông lâm (Canh Nông) Hà Nội, chiều chiều thứ bảy, chủ nhật, chàng thích một mình đạp xe đạp từ Yên Phụ (Huy – Xuân ở dốc Hàng Than) ngược đê lên mạn Chèm Vẽ (huyện Từ Liêm) Ngắm cảnh sông Hồng bát ngát, dọc hai bờ đê tít tắp, cảnh làng mạc cô liêu, trong tâm hồn thi sĩ lại nổi lên nỗi sầu không gian, sầu vũ trụ miên man, và dậy lên nỗi nhớ quê hương Hà Tĩnh Đêm về, chàng viết bài thơ Chiều trên sông theo thể lục bát, sau đổi thành thất ngôn, 4 khổ và đặt nhan đề mới: Tràng giang với câu thơ đề từ cũng của chính mình: Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài
• Thể thơ: thất ngôn
• Ba khổ thơ đầu: là bức tranh thiên nhiên, cảnh u buồn, đìu hiu mênh mông sóng nước…
- Phân tích (khổ cuối bài thơ)
• Hai câu đầu:
o Màu sắc cổ điển hiện rõ ở các hình ảnh: mây, núi, cánh chim, bóng chiều
o Hình ảnh: "Lớp lớp mây cao đùn núi bạc" khiến người đọc liên tưởng tới hai câu thơ của Đỗ Phủ trong bài Tlui hứng: “Giang gian ba lãng kiêm thiên dũng Tái thượng phong vân tiếp địa âm” (Lưng trời sóng gợn lòng sông thẳm Mặt đất
mây đùn cửa ải xa)
o Lớp lớp mây trắng "đùn" lên, chồng lên nhau thành những núi mây ánh hoàng
hôn chiếu vào như dát bạc, núi mây trở thành núi bạc Cảnh tượng thật hùng vĩ nhưng không vì thế mà nỗi sầu vợi đi Những núi mày kia vẫn là những núi buồn khổng lồ
o Hình ảnh cánh chim lẻ loi, cô độc bay nghiêng trong ánh hoàng hôn đã trở thành
tín hiệu thẩm mĩ trong thơ cổ điển: “Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi” (Bà Huyện Thanh Quan) hay “Chim hôm thoi thót về rừng” (Nguyễn Du)
o Hình ảnh cánh chim không chỉ có ý nghĩa báo hiệu hoàng hôn mà còn là biểu tượng cho cái tôi nhỏ nhoi, cô độc trước cuộc đời ảm đạm.Cả bài thơ thiếu hẳn
sự sống Cánh chim nhỏ là dấu hiệu duy nhất của sự sống nhưng cái mầm sống
Trang 3ấy xuất hiện khi hoàng hôn đang tàn và nỗi sầu dậy khắp bầu trời Cánh chim biểu hiện cho khát vọng, cho sự vươn tới, cho niềm ước mơ và sự háo hức,
Nhưng nỗi sầu dâng kín, "bóng chiều" đổ, cánh chim chao nghiêng như một tia
nắng rót xuống Hình ảnh ấy mới buồn thương và tội nghiệp biết bao!
• Hai câu cuối:
o Đưa người đọc trở về một tứ thơ Đường của Thôi Hiệu: “Nhật mộ hương quan
hà xứ thị/ Yên hà giang thượng sử nhân sầu”
o Tuy cách xa nhau hàng nghìn nãm, hai nhà thơ đều có cảm giác buồn nhớ quê khi đứng trước cảnh sông nước lúc chiều tà Huy Cận đã đưa khói hoàng hôn và nỗi sầu xa xứ từ trong Đường thi cổ điển vào Tràng giang để gợi ra nhiều liên tưởng làm cho ý thơ thêm sâu, tình thơ thêm nặng và câu thơ thêm phần cổ kính
o Điểm khác biệt là Huy Cận không thấy khói, sóng mà vẫn rất buồn, rất nhớ Nỗi
buồn của Thôi Hiệu là nỗi buồn vì không thể hòa nhập cái "tiểu ngã" của mình vào cái "đại ngã" của vũ trụ để thoát tục lên tiên Huy Cận, chàng thi sĩ thơ mới
đi tìm đồng cảm, tri âm giữa cõi người nhưng chỉ gặp cô đơn, trống vắng Nỗi buồn của Huy Cận là nỗi buồn đau của một cái tôi cá nhân luôn đối diện với chính nỗi cô đơn của lòng mình
o Lối hô ứng từ ngữ của khổ thơ này với khổ thơ đầu: các từ láy "lớp lớp", "dợn dợn" hô ứng với "điệp điệp", "song song" tạo nên cảm giác chồng chất tầng tầng
lớp lớp những con sóng (cũng là những nỗi sầu) Cả bài thơ là sự cộng hưởng của ngôn từ để làm thành một khối sầu lớn mà trong lòng nó luôn có những con sóng vật vã, thao thức
3 Kết bài:
- Nêu đánh giá, cảm nhận chung về khổ thơ cuối cũng như mạch cảm xúc chung của bài thơ
- Mở rộng vấn đề bằng suy nghĩ và liên tưởng của mỗi cá nhânTả cảnh ngụ tình
C BÀI VĂN MẪU
"Thơ mới" xuất hiện như một dàn đồng ca đa sầu, đa cảm nhưng "ảo não" nhất là hồn
thơ Huy Cận Bình vẻ thơ của con người này, Xuân Diệu viết:
Trang 4"Trong thơ Việt Nam nghe bay dậy một tiếng địch buồn Không phải sáo thiên thai, không phải diệu ái tỉnh, không phải lời ly tao kể chuyện một cái "tôi", mà ấy là một bản ngậm ngùi dài: có phải tiếng đìu hiu của khóm trúc, bông lau; có phải niềm than vãn của
bờ sộng, bãi cát; có phải mặt trăng một mình đang cảm thương cùng các vì sao?… Thơ Huy Cận đó ư? Ai nhắc làm chi những nỗi tha thiết của ngàn đời, ai động đến cái lớp sầu dưới đáy hồn nhân thế, những lời muôn năm than thầm trong lòng vạn vật, ai thuật lại mà não nuột lắm sao?”
Chẳng cần tới tập "Lửa thiêng", chỉ riêng bài thơ "Tràng giang" cũng đủ làm nên hồn thơ "ảo não" – Huy Cận Và đây là khổ thơ sâu lắng, tha thiết nhất trong trường buồn
"Tràng giang":
"Lớp lớp mây cao đùn núi bạc Chim nghiêng cảnh nhớ bóng chiều sa Lòng quê dợn dợn vời con nước Không khỏi hoàng hôn cũng nhớ nhà"
Nếu như trong ba khổ thơ đầu, tám trạng buồn – "nỗi buồn thế hệ, nỗi buồn không tìm được lối ra nên như kéo dài triền miên" (Huy Cận) của thi nhân dàn trải theo cái mênh
mông, vô định của sông nước, thì tới khổ thơ cuối, tâm trạng ấy dã được mở lên chiều cao, lan tỏa trong không gỉan hoàng hôn của bụổi chiều tàn:
"Lớp lớp mây cao đùn núi bạc Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa"
"Thiên nhiên, tạo vật buồn nhưng đôi lúc bộc lộ vẻ đẹp kì vĩ, lạ lùng", đó là lời tự bạch
của tác giả vẻ hai câu thơ này Thật vậy, không gì vui và rạo rực bằng lúc bình minh, nhưng
cũng không gì buồn tan tác bằng buổi ngày tàn, khi "bóng chiều sa" Nhưng chính lúc ấy, trong thơ Huy Cận, nơi “Tràng giang” lại rạng lên vẻ đẹp tráng lệ với "lớp lớp'" những tầng mây hợp thành "núi mây" khổng lồ được những vạt nắng chiếu rọi thành "núi bạc”
Đó là cảnh thực, song cũng là một hình ảnh nghệ thuật đẹp tuyệt diệu Viết được hình
tượng "núi bạc", thi nhân phải có một sự cảm nhận vẻ đẹp rất tinh tế, và đó phải là một hồn thơ yêu quê hương, đất nước đằm thắm Hình ảnh "núi bạc" ấy sinh động hơn, hùng
Trang 5vĩ hơn qua động từ “đùn” Mây trắng hết lớp này đến lớp khác như những búp bông trắng
nở ra trên trời cao, ánh chiều trước khỉ vụt tắt rạng lên vẻ đẹp” (Huy Cận) Nhà thơ tâm sự: Ông học được chữ “đùn” trong bài dịch thơ của Đỗ Phủ:
"Lưng trời sóng gọn lòng sông thẳm Mặt đất mây đùn cửa ải xa"
Ta thấy trong suốt hành trình "Tràng giang", hình ảnh thi nhân cô đơn trong từng
cánh vật đổi thay nhưng cùng chung dáng vẻ: trôi nổi, mông lung, lạc loài, vô định: một cành củi khổ bập bềnh trôi trên sóng (Củi một cành khô lạc mấy dòng), một đám bèo xanh
trôi nối trên sông “Bèo dạt về đâu hàng nối hàng”… Và tới khổ thơ cuối hình ảnh thi nhân,
nỗi buồn của thi nhân lại thấp thoáng ấn hiện trong một hình ảnh cô đơn, lạc loài nữa, một hình ảnh rất tội nghiệp Đó là một cánh chim nhỏ nhoi, cánh chim đang chở nặng bóng chiều, nghiêng cánh cố bay về nơi chân trời xa vắng
Trong thơ ca cố điển cũng như hiện đại, chỉ riêng việc khắc họa hình ảnh một cánh chim lẻ loi đi gợi lên một cái gì đó cô đơn, tội nghiệp, gợi lên cái buồn vắng, trống trải
trong tâm hồn, huống chi trong thơ Huy Cận, đó lại là một cánh chim “nghiêng cánh nhỏ"
và đang chở nặng “bóng chiều sa” cứ xa mờ đối lập lại hình ảnh "núi bạc" hùng vĩ trong
trời nước bao la Sự tương phản ấy khiến cảnh Tràng giang đã mênh mông, xa vắng lại càng mêng mông hơn, và Tràng giang đã buồn lại càng buồn hơn Hãy nghe thềm lời tự bình cùa tác giả:
"Cánh chim bay liệng tuy gợi lên một chút ấm cúng cho cảnh vật nhưng mông lung quá và nỗi buồn đến đây càng thêm da diết trong nhớ thương Nó không đóng khung trong cảnh sông nước ở trước mặt mà mò ra tít chân trời của miền quê xa"
Hình ảnh cánh chim bay trong buổi hoàng hôn là hình ảnh ướt lệ, tượng trưng trong thơ ca cổ điển Không gian ấy, cánh chim ấy đã từng là nơi bao thi nhân xưa thả những tâm tình tha thiết, thấm thía vào đó Và có lẽ đó sẽ còn là nơi để thi nhân muôn đời gửi gắm những nỗi niềm sâu kín
Trong dòng suy nghĩ ấy, một lần nữa, cánh chim lẻ loi, cô đơn, lạc đàn “nghiêng cánh nhỏ” trong “Tràng giang” lại gợi cho ta nhớ tới tâm tuởng, nỗi buồn bơ vơ, trống trải của
Trang 6một người lữ thứ xa quê đang cô đơn thả những mánh hồn theo “cánh chim mỏi” cố bay
về nơi chân trời xa vắng để tìm một điểm dừng chân:
"Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi”
(Bà Huyện Thanh Quan)
Đó là sự đồng điệu, giao cảm giữa cái hiện đại và cái cổ điền trong thơ Huy Cận Cánh
chim ấy “bóng chiều sa ấy ngoài Hụy Cận thật khó tìm trong làng 'Thơ mới” Và đúng như
Hoài Thanh nhận xét:
Trong nền văn học mới, Hụy Cận đã làm một việc táo bạo: tìm về cảnh xưa, nơi bao người đã sa lầy – tôi muốn nói sa vào khuôn sáo Người nối cùng ta nỗi buồn nơi quán chật, đèo cao, nổi buồn của sông dài trời rộng, nỗi buồn của người lữ thứ
Hai câu thơ đầu của khổ thơ cuối rất hay Nếu như câu thơ 'lớp lớp mây cao đùn núi bạc" gợi lên cái cao, cái bồng bềnh của cảnh mây trời thì câu thơ tiếp theo lại trĩu xuống theo hình ảnh “bóng chiều sa” Chữ “sa” rất hay có lẽ bóng chiều ấy đang chở nặng những tâm tình buồn nhớ của thi nhân nên mời có chữ “sa” chứ không phái là "xa", bởi nếu đó
là “bóng chiều xa” thì nỗi buồn của thi nhân chỉ giản đơn là một nỗi buồn man mác trước cảnh vật lúc giao thời, chứ đâu còn là “nỗi buồn thế hệ”, nồi buồn không tìm đuợc lối ra nên kéo dài triển miên của thi nhân Tầm trạng cô đơn cùng “nỗi sầu nhận thế” như ngưng
đọng và không thể giải tỏa trong không gian của bóng chiều xa ấy, và nó còn thể hiện sâu đậm trong hình ảnh thi nhân một mình đứng lẻ loi giữa vũ trụ bao la, lặng lẽ cảm nhận cái vĩnh hằng Cái vô cùng, vô tận cửa không gian đối lập với kiếp người hữu hạn:
Lòng quê dợn dợn vời con nước Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà Trong suốt hành trình “Tràng Giang” ta luôn gặp những từ láy: “điệp điệp” “song song”, “đìu hiu”, “lớp lớp”…tựa như một bản nhạc buồn với những âm thanh tha thiết, và nốt nhạc kết thúc là “dợn dợn” nó gợi lên một nhịp sóng: sóng nước, sóng lòng “Dợn dợn”
diễn tả sự rợn ngợp của nhà thơ trước cảnh trời nước mênh mông trong khoảng khắc gắn liền với tình quê, cố hương
“Dừng chân đứng tại, trời, non, nước
Trang 7Một mảnh tình riêng: ta với tà”
(Qua đèo Ngang) hay:
"Quê hương khuất bóng hoàng hôn Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai"
(Hoàng Hạc Lâu – Tản Đà dịch) Gợi lên từ tứ thơ ấy của Thôi Hiệu hai câu thơ Đường:
"Lồng quê dợn dợn vài con nước Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà"
Cũng là tấm "tình quê" của Huy Cận Nhưng dây là một tình quê tha thiết hơn, sâu nặng hơn và cũng mãnh liệt hơn, bởi tấm "tình quê" ấy được toát lên trong một câu thơ
vừa cổ điển, vừa hiện đại: cổ điển ở cảnh xưa: khói sóng, ở kết cầu thơ Đuờng; hiện đại ở cách nói trái ngược với ý Thôi Hiệu – một sự cách tân mới mẻ, độc đáo của một hồn thơ
đầy "lãng mạn" Xưa kia, đứng trên lầu Hoàng Hạc, Thôi Hiệu nhìn thấy khói sương phủ
mờ trên sông mà tình quê thổn thức Nhưng nay Huy Cận không cần cái mờ ảo cùa khói sóng tác động vào thị giác, tri giác, cũng không cần cái se lạnh thấm vào da thịt – không
cần những thứ vốn đã gợi buồn (khói sóng) tác động, nhưng "tình quê" Huy Cận vẫn trào
dâng:
"Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà"
Rõ ràng tâm tình cùa Huy Cận sâu lắng hơn, mãnh liệt hơn, nó luôn thường trực
trong tâm hồn và luôn sẵn sàng tỏa ra, thấm vào vạn vật Huy Cận có lần tâm sự: cái "nhớ"
ở đây không đơn thuần chỉ là nhớ quê huơng Hà Tĩnh – nơi chôn nhau cắt rốn, mà "nhớ nhà" nên hiểu theo nghĩa rộng là nhớ quê hương, đất nước Việt Nam Ổng còn kể: khi phát
xít Đức xâm lược nước Pháp, chiếm đóng Paris, nhà thơ Aragon cảm thấy lạc loài ngay chính trên quê hương của mình Tới nay, trước cảnh nhân dân cơ cực, lầm than, sống cuộc đời nô lệ dưới ách thống trị của thực dân Pháp, thi sĩ Huy Cận lại có tâm sự lạc loài ấy
Chính vì thế mà Huy Cận đã nói: “Lúc dó tôi buồn hơn Thôi Hiệu đời nhà Đường" Ân tình
thi sĩ Huy Cận dành cho quê hương, đất nước thật là sâu nặng
Trang 8Khố thơ đã khép lại về tứ thơ, nhưng cái tình quê buồn tha thiết, sâu lắng thì như
kéo dài, vang vọng mãi theo cái âm điệu "dập dềnh như sóng nước Tràng giang" của hai
câu thơ cuối
Đây là khổ thơ rất hay: hay ở sự kết hợp nhuần nhuyễn thơ ca truyền thống – những nét cố điển của thơ Đường với những nét kiện dại; hay ở cảm xúc vũ trụ thế hiện ở cảnh đẹp thiên nhiên hùng vĩ, thơ mộng nhưng thấm đượm nỗi buồn tâm trạng cửa thi nhân –
"nỗi buồn sông núi, nỗi buồn về đất nước" (Huy Cận) Nồi buồn khơi nguồn từ tâm ra ngoại
cảnh, rồi từ ngoại cảnh trờ về tim – lặng lẽ thế nhưng sâu nặng và mãnh liệt vô cùng:
“Một chiếc linh hồn nhỏ Mang mang thiên cổ sầu"
"Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài" Cảm hửng của lời đề tựa ấy dàn trải trong ba
khổ thơ đầu, để rồi hội tụ và kết tinh trong khổ thơ cuối – khố thơ có thể xem như một bài thứ tứ tuyệt hay, bộc lộ chân thực nhất, sâu đậm nhất tình yều quê hương cửa tác giả
Và ở hoàn cảnh đất nước bị quân giặc giày xéo, càng yêu quê hương thắm thiết bao nhiêu,
thi nhân lại càng "ảo não", càng "buồn" bấy nhiêu
Ai đó đã nói: thơ đích thực nâng đỡ lòng người, khơi gợi những gì đẹp đẽ nhất tiềm
ẩn nơi đáy sâu tâm hồn để vươn tới cái cao cả "Tràng giang", đặc biệt là khổ thơ cuối đã
thực sự khơi dậy trong tâm hồn bạn đọc một tình yêu thiêng liêng, cao quí một tình yêu đất nước
Trang 9Website HOC247 cung cấp một môi trường học trực tuyến sinh động, nhiều tiện ích thông minh, nội dung bài giảng được biên soạn công phu và giảng dạy bởi những giáo viên nhiều năm kinh nghiệm, giỏi về kiến thức chuyên môn lẫn kỹ năng sư phạm đến từ các trường Đại học và các
trường chuyên danh tiếng
- Luyên thi ĐH, THPT QG: Đội ngũ GV Giỏi, Kinh nghiệm từ các Trường ĐH và THPT danh tiếng xây dựng các khóa luyện thi THPTQG các môn: Toán, Ngữ Văn, Tiếng Anh, Vật Lý, Hóa Học và Sinh Học
- Luyện thi vào lớp 10 chuyên Toán : Ôn thi HSG lớp 9 và luyện thi vào lớp 10 chuyên Toán các
trường PTNK, Chuyên HCM (LHP-TĐN-NTH-GĐ), Chuyên Phan Bội Châu Nghệ An và các trường Chuyên khác cùng TS.Trần Nam Dũng, TS Pham Sỹ Nam, TS Trịnh Thanh Đèo và Thầy Nguyễn Đức Tấn
II Khoá Học Nâng Cao và HSG
- Toán Nâng Cao THCS: Cung cấp chương trình Toán Nâng Cao, Toán Chuyên dành cho các em HS THCS lớp 6, 7, 8, 9 yêu thích môn Toán phát triển tư duy, nâng cao thành tích học tập ở trường và đạt điểm tốt
ở các kỳ thi HSG
- Bồi dưỡng HSG Toán: Bồi dưỡng 5 phân môn Đại Số, Số Học, Giải Tích, Hình Học và Tổ Hợp dành cho
học sinh các khối lớp 10, 11, 12 Đội ngũ Giảng Viên giàu kinh nghiệm: TS Lê Bá Khánh Trình, TS Trần
Nam Dũng, TS Pham Sỹ Nam, TS Lưu Bá Thắng, Thầy Lê Phúc Lữ, Thầy Võ Quốc Bá Cẩn cùng đôi HLV đạt
thành tích cao HSG Quốc Gia
III Kênh học tập miễn phí
- HOC247 NET: Website hoc miễn phí các bài học theo chương trình SGK từ lớp 1 đến lớp 12 tất cả các
môn học với nội dung bài giảng chi tiết, sửa bài tập SGK, luyện tập trắc nghiệm mễn phí, kho tư liệu tham khảo phong phú và cộng đồng hỏi đáp sôi động nhất
- HOC247 TV: Kênh Youtube cung cấp các Video bài giảng, chuyên đề, ôn tập, sửa bài tập, sửa đề thi miễn
phí từ lớp 1 đến lớp 12 tất cả các môn Toán- Lý - Hoá, Sinh- Sử - Địa, Ngữ Văn, Tin Học và Tiếng Anh
Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai
Học mọi lúc, mọi nơi, mọi thiết bi – Tiết kiệm 90%
Học Toán Online cùng Chuyên Gia
HOC247 NET cộng đồng học tập miễn phí HOC247 TV kênh Video bài giảng miễn phí