1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Bài giảng Thi tìm hiểu Đảng Bộ Quảng Nam 78 năm

39 692 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài giảng Thi tìm hiểu Đảng Bộ Quảng Nam 78 năm
Trường học Trường Đại học Quảng Nam
Chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng Sản Việt Nam
Thể loại Bài giảng
Năm xuất bản 2023
Thành phố Quảng Nam
Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 301,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đại hội bầu Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh gồm 25 ủy viên chính thức và 5 ủy viên dự khuyết, đồng chí Nguyễn Xuân Hữu BảyHữu làm Bí thư, đồng chí Cao Sơn Pháo, Lê Bình làm Phó Bí thư.. Cùng

Trang 1

CUỘC THI TèM HIỂU “ĐẢNG BỘ QUẢNG NAM -78 NĂM XÂY DỰNG VÀ TRƯỞNG THÀNH”

Cõu số 01:

Đảng bộ tỉnh Quảng Nam được thành lập vào thời gian nào, ở đõu, do

ai làm Bớ thư ? Hóy nờu ý nghĩa của sự kiện trờn ?

Trả lời:

Vào cuối những năm 20 của thế kỷ 20, sau một loạt các biến động lớn nhcuộc khủng hoảng kinh tế lớn cha từng thấy nổ ra năm 1929, cộng với hậu quảkhốc liệt của cuộc khai thác thuộc địa trên quy mô lớn của thực dân Pháp đã đẩynền kinh tế Việt Nam đến chỗ suy sụp, kiệt quệ và làm cho đời sống của nhândân lao động trong nớc lâm vào bớc đờng cùng Quần chúng công nông và cáctầng lớp nhân dân lao động khác, những ngời chịu nhiều đau khổ nhất dới áchthống trị thực dân phong kiến không thể không bớc vào trận chiến đấu mới chocác quyền cơ bản của dân tộc và quyền sống của mình Tình hình ấy đòi hỏi phải

có một chính đảng cách mạng chân chính ra đời để tập hợp, tổ chức, và lãnh đạotoàn dân đứng lên làm cách mạng

Đến thời điểm năm 1929, Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hộingày càng bộc lộ những hạn chế là không đủ sức đa phong trào cách mạng tiếptục tiến lên, nội bộ Hội có sự phân hoá Những thành viên tiên tiến trong ViệtNam Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội, thật sự giác ngộ chủ nghĩa Mác-

Lênin, đợc rèn luyện trong trong phong trào “vô sản hoá ,”, đã sớm nhận thức đợcnhu cầu bức thiết phải cải tổ Hội và lập ra một chính đảng của giai cấp côngnhân nhằm tiến hành đấu tranh chống đế quốc, chống phong kiến, giành độc lậpcho dân tộc, tự do, dân chủ cho nhân dân, do đó họ quyết định giải thể Hội vàthành lập đảng cộng sản

Vì vậy, tháng 3-1929, chi bộ cộng sản đầu tiên đợc tổ chức tại Hà Nội

D-ới sự lãnh đạo của chi bộ này, Đại hội Thanh niên Bắc kỳ họp ngày 28-3 đã nhấttrí tán thành chủ trơng thành lập đảng cộng sản Tháng 5 năm 1929, tại HơngCảng (Trung Quốc), Đại hội lần thứ nhất của Việt Nam Thanh niên Cách mạng

Đồng chí Hội đợc tiến hành Trong Đại hội vấn đề thành lập đảng đợc thảo luận,nhng không đợc nhất trí Đoàn đại biểu Bắc Kỳ rút khỏi Đại hội về nớc, ra tuyên

bố giải thích lý do rút khỏi Đại hội và kêu gọi công nhân, nông dân, các tầng lớpnhân dân cách mạng ủng hộ chủ trơng thành lập đảng Ngày 17-6-1929, tại sốnhà 312 Khâm Thiên, Hà Nội, Đông Dơng Cộng sản Đảng đợc thành lập Tuyênngôn và Điều lệ của Đảng đợc công bố Tờ Búa Liềm, cơ quan Trung ơng Đảng

Cùng thời gian đó, tháng 8-1929, đại diện của kỳ bộ Tân Việt ở Trung Kỳ

đã vào Sài Gòn họp bàn với kỳ bộ Nam Kỳ về việc triệu tập hội nghị thành lập

đảng cộng sản Hội nghị họp ngày 1-1-1930 tại Hà Tĩnh quyết định thành lập

Đông Dơng Cộng sản Liên đoàn

Trang 2

Mặc dù còn phân tán và khó tránh khỏi những nhợc điểm của thời kỳ mới

ra đời, nhng cả 3 tổ chức cộng sản đều tự nhận là chính đảng của giai cấp côngnhân và đều ra sức vận động quần chúng

Việc thống nhất ba tổ chức cộng sản thành một chính đảng cách mạng duynhất của giai cấp công nhân đã trở thành yêu cầu bức thiết Ngày 27-10-1929,Quốc tế Cộng sản đã gửi th yêu cầu các tổ chức cộng sản thống nhất lại thànhmột đảng cộng sản suy nhất Quốc tế Cộng sản đã giao cho Nguyễn Aùi Quốctrách nhiệm thay mặt Quốc tế Cộng sản thực hiện nhiệm vụ thống nhất này

Nhờ hoạt động không mệt mỏi của lãnh tụ Nguyễn ái Quốc và nhiều đồngchí cách mạng tiền bối mà những điều kiện thống nhất và thành lập Đảng ngàycàng chín muồi Ngày 3 tháng 2 năm 1930, dới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn

ái Quốc, Hội nghị hợp nhất 3 tổ chức Cộng sản đã nhất trí thành lập một đảngthống nhất là Đảng Cộng sản Việt Nam Tham dự hội nghị có lãnh tụ Nguyễn Ái

Quốc, đại diện của Quốc tế Cộng sản; 2 đại biểu của Đông Dơng Cộng sản

Đảng; 2 đại biểu của An Nam Cộng sản Đảng và 2 đại biểu ngoài nớc Đông

D-ơng Cộng sản liên đoàn vì mới thành lập, không kịp cử ngời đến dự Sau hội nghị

hợp nhất, ngày 24-2-1930, đại diện của BCHTW lâm thời của Đảng đã chấp

thuận để cho Đông Dơng Cộng sản liên đoàn gia nhập Đảng Cộng sản Việt

Nam Lúc này, tổng số đảng viên của Đảng có khoảng trên 300 ngời

Nh vậy, hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam vào ngày

3-2-1930, có ý nghĩa nh Đại hội thành lập Đảng, do Hồ Chí Minh chủ trì, sáng lập.

Sự ra đời của Đảng là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác-Lênin, t tởng HồChí Minh với phong trào công nhân, phong trào yêu nớc Việt Nam

Cơng lĩnh đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam (Chánh cơng vắn tắt của

Đảng và Sách lợc vắn tắt của Đảng) do Nguyễn ái Quốc soạn thảo, đợc Hội nghị

thành lập Đảng thông qua, sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin trong điều

kiện cách mạng Việt Nam Hội nghị thông qua Lời kêu gọi của Nguyễn ái Quốc

thay mặt Quốc tế Cộng sản và Đảng Cộng sản Việt Nam gửi đến đồng bào, đồngchí trong cả nớc nhân dịp thành lập Đảng Cơng lĩnh nêu rõ cách mạng Việt

Nam phải hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, đánh đổ chế độ thực dân phong kiến, tiến lên xây dựng xã hội cộng sản (cách mạng xã hội chủ nghĩa).

Trong giai đoạn đầu phải chống đế quốc và phong kiến, thực hiện mục tiêu

Độc lập dân tộc

”, và Ngời cày có ruộng , ”, trong đó nhiệm vụ chống đế quốc,giải phóng dân tộc đợc đặt lên hàng đầu Phải xây dựng lực lợng cách mạng rộnglớn của toàn dân, trong đó công nhân giữ vai trò lãnh đạo, công nhân và nông

dân là hai động lực chính của cách mạng Phơng pháp cách mạng là sử dụng bạo lực cách mạng Cách mạng Việt Nam phải có sự lãnh đạo của Đảng Cộng

sản mới giành đợc thắng lợi Cách mạng Việt Nam là một bộ phận có quan hệmật thiết với cách mạng thế giới; tăng cờng đoàn kết với giai cấp vô sản và cácdân tộc bị áp bức trên thế giới, kể cả nhân dân Pháp

Ở Quảng Nam-Đà Nẵng, sau những cuộc vận động cách mạng đầu thế kỷ

20 bị thất bại, nhân dân càng khao khát tự do bao nhiêu thì lại càng nung nấu ýchí cách mạng bấy nhiêu Từ các phong trào đấu tranh đòi thực dân Pháp thả cụPhan Bội Châu bị chúng đa đi an trí tại Huế (1925), rồi phong trào để tang cụPhan Chu Trinh (1926), là những luồng sinh khí mới thổi bùng lên ngọn lửa yêunớc của các tầng lớp nhân dân trong tỉnh

Trong những năm 1925-1927, cú nhiều sỏch bỏo tiến bộ lưu hành vào tỉnh

ta, đặc biệt là “Bỏo Người cựng khổ”, “Việt Nam Hồn” do Nguyễn Ái Quốcsỏng lập đó được cỏc tầng lớp nhõn dõn, nhất là cỏc thanh niờn yờu nước truyềntay nhau đọc Cỏc tài liệu của Nguyễn Ái Quốc và hoạt động của Hội Việt NamCỏch mạng thanh niờn đó hõm núng bầu nhiệt huyết và lũng yờu nước của nhõndõn trong tỉnh Bắt đầu từ đõy, những hạt giống đỏ của của cỏch mạng Việt Nam

Trang 3

nảy mầm trên đất Quảng Năm 1927, Ban Vận động Hội Việt Nam cách mạngthanh niên tỉnh Quảng Nam được thành lập ở Huế rồi sau đó chuyển về Đà Nẵnghoạt động Tháng 9 năm 1927, chi bộ Hội Việt Nam cách mạng thanh niên đượcthành lập do Đỗ Quang làm Bí thư Thời gian này, ở Đà Nẵng còn có một tổ HộiViệt Nam cách mạng thanh niên do Nguyễn Tường phát triển trong một số cán

bộ cốt cán của Hội Ái hữu lái xe miền Trung, gồm Phan Văn Định, Nguyễn VănGiao Tháng 10 năm 1927, ở Hội An, một chi bộ Hội Việt Nam cách mạngthanh niên được thành lập do Phan Thêm làm Bí thư (tức Cao Hồng Lãnh)

Trên cơ sở 3 đầu mối trên, đầu năm 1928, một cuộc hội nghị thành lậpHội Việt Nam cách mạng thanh niên tỉnh Quảng Nam được tổ chức, bầu ra BCHlâm thời do đồng chí Đỗ Quang làm Bí thư Tháng 9 năm 1928, chủ trương “vôsản hoá” của VNTNCMĐCH ra đời, tuyên truyền chủ nghĩa Mác-Lênin vào giaicấp công nhân Tháng 6 năm 1929, Đông Dương Cộng sản Đảng đã phân côngmột số cán bộ lãnh đạo vào miền Trung và Tây Nguyên để xây dựng tổ chứcĐảng Cuối tháng 6 năm 1929, Xứ uỷ lâm thời Trung Kỳ được thành lập Đồngchí Nguyễn Phong Sắc được cử vào Đà Nẵng để lập cơ quan Phân Xứ uỷ Điềunày cũng tạo thuận lợi cho việc xây dựng tổ chức Đông Dương Cộng sản Đảngtỉnh Quảng Nam Do đó, tháng 9 năm 1929, Đảng bộ Đông Dương Cộng sảnĐảng tỉnh Quảng Nam được thành lập, do đồng chí Phan Văn Định làm Bí thưTỉnh uỷ lâm thời

Sau hội nghị hợp nhất thành lập Đảng Cộng sản đã họp ở Hương Cảng(Trung Quốc) Ở tỉnh ta, Tỉnh bộ lâm thời Đông Dương Cộng sản Đảng nhất tríchủ trương hợp nhất của TW Đảng Vì thế, ngày 28-3-1930, Ban Chấp hành lâmthời Tỉnh Đảng bộ Quảng Nam ra thông báo về thành lập Đảng bộ và công bố từnay chỉ có một Đảng cộng sản duy nhất là Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạophong trào cách mạng của nhân dân Ban chấp hành Tỉnh uỷ lâm thời gồm cácđồng chí Phan Văn Định, Phạm Thâm, Nguyễn Thái do Phan Văn Định làm Bíthư, Phạm Thâm làm Phó bí thư và Nguyễn Thái làm ủy viên

Như vậy, không bao lâu sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, Đảng bộtỉnh Quảng Nam cũng được thành lập Điều đó chứng tỏ ảnh hưởng của chủnghĩa Mác-Lênin, của các tổ chức tiền thân của Đảng đã khá sâu rộng trongphong trào đấu tranh của địa phương, đặc biệt những đảng viên thuộc thế hệ đầutiên của Đảng bộ đã nhạy bén trong việc nắm bắt chủ trương và kịp thời chuyểnhướng lập Đảng bộ nhằm đáp ứng yêu cầu của cách mạng lúc bấy giờ

Sự ra đời của Đảng bộ đánh dấu mốc lịch sử quan trọng của Đảng bộ vànhân dân tỉnh Quảng Nam bước vào thời kỳ mới, thời kỳ có Đảng lãnh đạo cuộcđấu tranh giải phóng dân tộc, dân chủ theo ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa

xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam, mở ra một trang sử mới cho truyền thống

vẻ vang của quê hương đất Quảng dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh

Chính vì cuộc sống nô lệ kéo dài hơn nửa thế kỷ và kinh nghiệm từ nhữngcuộc đấu tranh thất bại của những năm đấu tranh chống Pháp theo hệ tư tưởngphong kiến và tư sản đã làm cho nhân dân ta thức tỉnh và gởi gắm niềm tin tuyệtđối vào Đảng ta, coi đây là tổ chức duy nhất có thể giương cao ngọn cờ chống

Trang 4

thực dân Pháp, giành lại độc lập cho dân tộc, vì thế ngay sau khi mới ra đời,Đảng bộ đã kết nạp gần 100 đảng viên, nhiều xã, huyện trong tỉnh đã có chi bộ

từ rất sớm

Về sau, khi được Xứ uỷ tăng cường thêm ba cán bộ tham gia vào Tỉnh uỷ,đồng chí Định đã đề cử Phạm Thâm thay thế mình phụ trách Bí thư Tỉnh uỷ vìđiều kiện đi lại hoạt động nông thôn của đồng chí Thâm có nhiều thuận lợi hơn

Câu số 02: Từ khi thành lập đến nay, Đảng bộ tỉnh Quảng Nam (cả Đảng bộ tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, Đảng bộ tỉnh Quảng Đà - Đặc khu Quảng Đà, Đảng bộ tỉnh Quảng Nam trước tháng 01 năm 1997) đã trải qua mấy kỳ Đại hội, được tổ chức tại đâu, vào thời gian nào ?

Trả lời: Từ khi ra đời đến nay, Đảng bộ tỉnh Quảng Nam nhiều lần thay

đổi tên gọi, nhiều lần phải chia tách hoặc xáp nhập theo sự chia tách hoặc xápnhập về mặt địa giới của tỉnh Vì vậy, BCH Tỉnh Đảng bộ cũng theo đó mà chia

ra hoặc nhập vào nhiều lần, và các đồng chí Bí thư Tỉnh uỷ cũng được bầu cửthông qua các kỳ Đại hội Đảng bộ tỉnh, thông qua các cuộc họp hoặc hội nghịBCH, hoặc cũng có thể do TW hoặc Khu uỷ chỉ định sau khi chia tách và xápnhập Tỉnh Đảng bộ

Để hiểu rõ nguồn gốc về đất và con người xứ Quảng, chúng ta cần tìmhiểu sơ lược lịch sử hình thành tỉnh Quảng Nam

Đất Quảng Nam thuộc Việt Nam từ năm 1306, do vua Champa là ChếMân cắt 2 châu Ô - Lý làm sính lễ cho vua Trần Anh Tông khi cưới công chúaHuyền Trân về làm hoàng hậu vương quốc Champa Đến năm 1471, dưới thờivua Lê Thánh Tông thành lập Quảng Nam thừa tuyên đạo của nước Đại Việt.Danh xưng Quảng Nam bắt đầu có từ đó trong lịch sử mở nước của tiền nhân.Qua nhiều lần điều chỉnh địa giới và tên gọi: xứ Quảng Nam vào năm 1490, trấnQuảng Nam vào năm 1520, dinh Quảng Nam vào năm 1602 Năm 1832 (MinhMạng thứ 13) đổi thành tỉnh Quảng Nam cho đến năm 1945 Thời kỳ sau 1945,Quảng Nam lại thêm nhiều lần điều chỉnh địa giới và tên gọi Năm 1952, Chínhphủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã sát nhập Quảng Nam và Đà Nẵng thànhmột đơn vị hành chính là tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng Sau hiệp định Genève(1954), miền Nam - Việt Nam bị đặt dưới sự cai trị của chính quyền Sài Gòn,năm 1962 vùng đất này bị chia thành hai đơn vị hành chính: tỉnh Quảng Nam vàtỉnh Quảng Tín, Đà Nẵng là thành phố thủ phủ của tỉnh Quảng nam Cũng trongthời gian trên, về phía ta, Uỷ ban kháng chiến Quảng Nam - Đà Nẵng chia tỉnhthành 2 đơn vị hành chính: tỉnh Quảng Nam và tỉnh Quảng Đà (Đà Nẵng làthành phố trực thuộc tỉnh Quảng Đà) Sau khi miền Nam hoàn toàn thống nhất(1975), tỉnh Quảng Nam và tỉnh Quảng Đà sát nhập thành tỉnh Quảng Nam - ĐàNẵng Đến năm 1997, tại kỳ họp thứ 9 của Quốc hội khoá X, tỉnh Quảng Namđược tái lập từ việc chia tách tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng thành hai đơn vị hànhchính trực thuộc trung ương: thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam

Trang 5

Như vậy, xét về mặt lịch sử, Quảng Nam là một tỉnh rộng, bao hàm cácđịa danh trực thuộc (gồm Quảng Nam, Quảng Đà và thành phố Đà Nẵng) Còntên gọi Đà Nẵng do Pháp lập ra, là thành phố trực thuộc tỉnh Quảng Nam NóiQuảng Nam là trong đó có Đà Nẵng Từ ngày có Đảng, về phía ta, có khi tách

Đà Nẵng ra, có khi nhập vào Còn Quảng Nam, Quảng Đà là 2 tỉnh được tách ra

từ Quảng Nam vào cuối năm 1962 Dù tách hay nhập, nhưng trong tâm tư, tìnhcảm của dân chúng vẫn chung là Quảng Nam, có cùng nguồn gốc và âm hưởnggiọng nói Vì vậy, nói Tỉnh uỷ Quảng Nam-Đà Nẵng hay Tỉnh uỷ Quảng Đà,Tỉnh uỷ Quảng Nam, Đặc khu uỷ Quảng Đà trong thời chiến tranh chống Pháp,chống Mỹ cũng đều là các đồng chí, đồng đội đã từng chung một chiến hào,chung một chủ trương, quan điểm, chung một lập trường giai cấp, một mục tiêucách mạng phải hướng tới Có đồng chí trước đây là Bí thư Tỉnh uỷ QuảngNam-Đà Nẵng, nhưng sau khi chia tách lại được bố trí làm Bí thư Tỉnh uỷQuảng Đà, hoặc Quảng Nam, hoặc Đặc khu Quảng Đà hoặc ngược lại Vì vậy,mặc dù lúc chia tách, chúng ta có cái riêng về mặt tổ chức, nhưng lại có cáichung về tổng thể chiến lược cách mạng trong lãnh đạo toàn dân trong tỉnh thựchiện cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, kể cả về sau này khi đã giànhđược độc lập, tiến lên xây dựng CNXH ở Quảng Nam-Đà Nẵng

Chính trong hoàn cảnh như vậy, việc xác định số lần tổ chức Đại hội TỉnhĐảng bộ Quảng Nam-Đà Nẵng nói chung và Đại hội riêng cho từng Đảng bộQuảng Nam, Quảng Đà, hoặc Đặc Khu Quảng Đà rất khó Về cơ bản, việc xácđịnh số lần Đại hội của Tỉnh Đảng bộ Quảng Nam mang tính kế thừa số lần Đạihội của tỉnh Đảng bộ Quảng Nam-Đà Nẵng trước khi chia tách; cộng thêm sốlần Đại hội (thường là trùng nhau) trong thời chiến của Đảng bộ Quảng Nam,Đảng bộ Quảng Đà, Đảng bộ Đặc khu Quảng Đà; cộng thêm số lần Đại hội củaĐảng bộ Quảng Nam-Đà Nẵng sau ngày giải phóng, và cộng thêm số lần Đạihội Đảng bộ Quảng Nam sau ngày chia tách năm 1997

Trong giai đoạn từ tháng 3-1930 đến tháng 1-1948, phong trào cách mạngnhiều lúc rơi vào hoàn cảnh hết sức khó khăn, địch khủng bố dã man, thậm chí

có lúc Tỉnh ủy mất liên lạc với cơ sở, song được nhân dân che chở, đùm bọc,Đảng bộ tỉnh vẫn tồn tại và phát triển, lãnh đạo nhân dân tiến hành cách mạnggiải phóng quê hương, góp phần làm nên thắng lợi vĩ đại của cuộc Cách mạngTháng Tám năm 1945 trên cả nước Trong thời kỳ này, do Tỉnh Đảng bộ còncòn yếu về mặt lực lượng, đảng viên phải hoạt động bí mật, hoặc bán công khai,phong trào có lúc gần như tan rã, nên Đảng bộ tỉnh không thể tổ chức Đại hộiđược mà chỉ tổ chức được 11 lần hội nghị Tỉnh ủy, hội nghị đại biểu Đảng bộtỉnh Qua các lần họp hoặc hội nghị Tỉnh uỷ của Tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng haycủa Tỉnh Quảng Nam, Tỉnh Quảng Đà hoặc Đặc khu uỷ Quảng Đà, nội dungchủ yếu là triển khai nghị quyết của TW Đảng, của Liên Khu uỷ Khu V, bầuBCH Tỉnh Đảng bộ, và đề ra phương hướng, nhiệm vụ hướng vào mục tiêu đấutranh giải phóng quê hương, nhưng không được xem như là những kỳ Đại hộiĐảng bộ tỉnh BCH Đảng bộ tỉnh cũng như các đồng chí Bí thư Tỉnh uỷ thường

là được cấp trên chỉ định, hoặc BCH cử ra để lãnh đạo phong trào Về sau, kể từ

Trang 6

năm 1945 trở đi, khi lực lượng đã phát triển mạnh mẽ, Đảng bộ mới có điều kiện

tổ chức Đại hội Đảng bộ, gồm các đại hội sau:

Đại hội lần thứ I: Ngày 6-1-1949, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng

Nam-Đà Nẵng (QN-ĐN) lần thứ nhất được tổ chức tại xã Tam Anh, huyện Tam

Kỳ (nay là huyện Núi Thành) Đại hội bầu Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh gồm 25

ủy viên chính thức và 5 ủy viên dự khuyết, đồng chí Nguyễn Xuân Hữu (BảyHữu) làm Bí thư, đồng chí Cao Sơn Pháo, Lê Bình làm Phó Bí thư Sau đó, đồngchí Nguyễn Xuân Hữu về Liên khu V công tác, đồng chí Cao Sơn Pháo làm Bíthư

Đại hội lần thứ II: Từ ngày 21-2 đến ngày 2-3-1950, QN-ĐN mở Đại hội

đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ II, tại làng Bà Bầu, xã Tam Anh, huyện Tam Kỳ(nay thuộc huyện Núi Thành) Đại hội đã ra nghị quyết phát động, đẩy mạnhchiến tranh du kích; bầu Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh gồm 21 đồng chí, trong

đó có 3 dự khuyết; đồng chí Cao Sơn Pháo làm Bí thư, đồng chí Lê Bình làmPhó Bí thư

Từ năm 1950 đến năm 1952, tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng làhai đơn vị hành chính độc lập

Đại hội lần thứ III: Từ tháng 3 năm 1952, tỉnh Quảng Nam và thành phố

Đà Nẵng lại hợp thành một đơn vị hành chính là tỉnh QN-ĐN Cùng thời điểmnày, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh QN-ĐN lần thứ III được tổ chức tại xã TiênLập, huyện Tiên Phước, bầu Ban Chấp hành mới gồm 29 đồng chí, đồng chí VõToàn làm Bí thư; đồng chí Võ Văn Đặng làm Phó Bí thư, trực tiếp làm Bí thưthành phố Đà Nẵng

Đại hội lần thứ IV: Tháng 1-1960, Tỉnh ủy QN-ĐN tổ chức Đại hội đại

biểu lần thứ IV, tại thôn Adhur, bên bờ sông A Vương, huyện Tây Giang Đạihội quán triệt Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng; bầu Ban Chấp hành mớigồm 20 đồng chí, đồng chí Trương Chí Cương làm Bí thư Tỉnh ủy, đồng chíPhạm Tứ làm Phó Bí thư Đến cuối năm 1960, đồng chí Trương Chí Cương vềcông tác tại Khu ủy V, đồng chí Phạm Tứ được chỉ định làm Bí thư Tỉnh ủy vàTỉnh ủy được bổ sung 5 đồng chí

Đại hội lần thứ V: Tháng 12-1962, Tỉnh ủy QN-ĐN tổ chức Hội nghị tại

Nà Cau, xã Phước Gia, Phước Sơn, nay thuộc huyện Hiệp Đức, thực hiện Nghịquyết của Khu ủy V về việc tách tỉnh QN-ĐN thành 2 tỉnh: Quảng Nam vàQuảng Đà

Liền sau đó, tại tại Nà Cau, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Nam lầnthứ V được tiến hành Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh gồm 23 đồngchí, Bí thư Tỉnh ủy là đồng chí Phạm Tứ và Phó Bí thư là đồng chí Vũ TrọngHoàng (khoảng 3 tháng sau, đồng chí Phạm Tứ được điều về Khu ủy V, đồngchí Vũ Trọng Hoàng làm Bí thư)

* Tháng 1-1963, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Đà lần thứ V tổchức tại làng Đào, xã Sông Côn, huyện Thống Nhất (nay là huyện Đông Giang).Đại hội bầu Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh gồm 16 đồng chí, đồng chí Hồ Nghinh

Trang 7

được bầu giữ chức Bí thư Tỉnh ủy Sau đó, đồng chí Trần Thận được bổ sunglàm Phó bí thư.

Đại hội lần thứ VI: Tháng 12-1964, tỉnh Quảng Nam và Quảng Đà cùng

tổ chức Đại hội Đảng bộ tỉnh, tập trung đánh giá tình hình từ đại hội lần trướcđến đại hội lần này và phát động nhân dân nổi dậy diệt ác, phá kèm

Quảng Nam tổ chức Đại hội Đảng bộ lần thứ VI tại Đồng Linh, xã BìnhPhú, huyện Thăng Bình, bầu Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh gồm 15 đồng chí Bíthư Tỉnh ủy là đồng chí Vũ Trọng Hoàng, Phó Bí thư là đồng chí Đào ĐắcTrinh

Quảng Đà tổ chức Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ VI tại Ô Rây, xã Tư,huyện Đông Giang, bầu Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh gồm 20 đồng chí, đồngchí Hồ Nghinh làm Bí thư Tỉnh ủy và đồng chí Trần Thận làm Phó Bí thư

Tháng 11-1967, Khu ủy V quyết định sáp nhập tỉnh Quảng Đà và thànhphố Đà Nẵng thành Đặc khu Quảng Đà Ban Chấp hành mới được cử ra gồm 24đồng chí, đồng chí Hồ Nghinh làm Bí thư, hai đồng chí Trần Thận và Mai ĐăngChơn làm Phó Bí thư Sau đó, đến trước Tết Mậu Thân, đồng chí Hồ Nghinhđược điều về Khu, đồng chí Trương Chí Cương, Phó Bí thư Khu uỷ được Khu

ủy Khu 5 cử về làm Bí thư Đặc khu Quảng Đà

Đại hội lần thứ VII: Từ ngày 14 đến 18-10-1967, Đảng bộ Quảng Nam

tiến hành Đại hội lần thứ VII tại Trại 154, xã Đốc, huyện Bắc Trà My, bầu BanChấp hành Đảng bộ tỉnh gồm 25 đồng chí, đồng chí Vũ Trọng Hoàng được bầulại làm Bí thư; các Phó Bí thư: Hoàng Nguyên Trường, Đào Đắc Trinh vàHoàng Minh Thắng

Đại hội lần thứ VIII: Từ ngày 16 đến ngày 30-11-1969, Đại hội Đảng bộ

tỉnh Quảng Nam lần thứ VIII tổ chức tại xã Cót, huyện Bác Trà My, bầu BanChấp hành gồm 29 đồng chí, đồng chí Trần Thận làm Bí thư Tỉnh uỷ, đồng chí

Đỗ Thế Chấp làm Phó Bí thư

Đến tháng 7 năm 1970, đồng chí Hoàng Minh Thắng, Phó Chính uỷ Sưđoàn 3 được điều về làm Bí thư Tỉnh uỷ Quảng Nam thay cho đồng chí TrầnThận đi nhận công tác mới

Đại hội lần thứ IX: Từ ngày 20 đến ngày 25-8-1971, Đảng bộ Đặc khu

Quảng Đà mở Đại hội lần thứ IX, tại xã Tà Pơ, huyện Nam Giang, bầu Ban chấphành gồm 21 đồng chí; Bí thư là đồng chí Hồ Nghinh, Phó Bí thư là đồng chíTrần Văn Đán

Đại hội lần thứ X: Từ ngày 10 đến 20-3-1973, Đại hội Đảng bộ tỉnh

Quảng Nam lần thứ X được tổ chức tại xã Tiên Sơn, huyện Tiên Phước; Đại hộibầu Ban Chấp hành Đảng bộ gồm 20 đồng chí, Bí thư Hoàng Minh Thắng, cácPhó Bí thư: Võ Quỳnh và Đỗ Thế Chấp (tức Đỗ Diệm)

Từ ngày 4 đến ngày 10-9-1973, diễn ra Đại hội Đảng bộ Đặc khu Quảng

Đà lần thứ X Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Đảng bộ gồm 29 đồng chí Bí thưTrần Thận, hai Phó Bí thư là Trần Văn Đán (tức Trần Hiện) và Phạm Đức Nam

Trang 8

Ngày 4-10-1975, Thường vụ Khu ủy 5 và UBND cách mạng lâm thờiKhu Trung Trung Bộ ra Quyết định số 119/QĐ về việc hợp nhất tỉnh QuảngNam và Đặc khu Quảng Đà thành tỉnh QN-ĐN Ban Chấp hành Đảng bộ lâmthời được chỉ định 36 đồng chí, đồng chí Hồ Nghinh làm Bí thư, đồng chí VõVăn Đồng và đồng chí Hoàng Minh Thắng làm Phó Bí thư.

Đại hội lần thứ XI: Từ ngày 12 đến ngày 18-11-1976, Đại hội đại biểu

Đảng bộ QN-ĐN lần thứ XI (vòng 1) tiến hành tại thành phố Đà Nẵng Tiếpđến, từ ngày 25-4 đến 2-5-1977, diễn ra Đại hội Đảng bộ tỉnh QN-ĐN lần thứ

XI (vòng 2) Đại hội bầu Ban Chấp hành Đảng bộ gồm 41 đồng chí Bí thư Tỉnh

ủy là đồng chí Hồ Nghinh, hai Phó Bí thư là đồng chí Võ Văn Đồng và HoàngMinh Thắng

Đại hội lần thứ XII: Từ 12 đến 16-12-1979, Đại hội Đảng bộ QN-ĐN lần

thứ XII tiến hành tại thành phố Đà Nẵng Đại hội bầu Ban Chấp hành Đảng bộtỉnh gồm 44 đồng chí Đồng chí Hồ Nghinh được bầu lại làm Bí thư và các đồngchí Võ Văn Đồng, Hoàng Minh Thắng làm Phó Bí thư

Đại hội lần thứ XIII: Ngày 6-1-1983, Đại hội Đảng bộ tỉnh QN-ĐN lần

thứ XIII (vòng 1) và từ ngày 31-1 đến 4-2-1983, Đại hội Đảng bộ (vòng 2) bầuBan Chấp hành Đảng bộ 49 đồng chí Đồng chí Hoàng Minh Thắng được bầulàm Bí thư và các đồng chí Võ Văn Đồng, Phạm Đức Nam, Nguyễn ThànhLong, Phó Bí thư

Đại hội lần thứ XIV: Từ ngày 21 đến 29-10-1986, Đại hội Đảng bộ tỉnh

QN-ĐN lần thứ XIV tiến hành tại thành phố Đà Nẵng, bầu Ban Chấp hành Đảng

bộ tỉnh gồm 52 đồng chí Đồng chí Nguyễn Văn Chi làm Bí thư, các đồng chíNguyễn Thành và Trần Đình Đạm làm Phó Bí thư

Đại hội lần thứ XV: Từ ngày 16 đến 19-10-1991, Đại hội Đảng bộ tỉnh

QN-ĐN lần thứ XV đã bầu Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh 49 đồng chí Đồng chíNguyễn Văn Chi được bầu lại làm Bí thư, các đồng chí Lê Quốc Khánh và TrầnĐình Đạm được bầu làm Phó Bí thư

Hội nghị đại biểu giữa nhiệm kỳ khóa XV được tiến hành từ ngày 29 đến31-3-1994 Hội nghị đã kiện toàn Ban Chấp hành Đảng bộ, đồng chí Mai ThúcLân làm Bí thư, đồng chí Trương Quang Được và Lê Quốc Khánh làm Phó Bíthư

Đại hội lần thứ XVI: Từ ngày 23 đến 27-4-1996, Đại hội Đảng bộ tỉnh

lần thứ XVI tại Đà Nẵng, bầu Ban Chấp hành mới gồm 47 đồng chí Đồng chíMai Thúc Lân làm Bí thư, các đồng chí Trương Quang Được và Nguyễn ĐứcHạt làm Phó Bí thư

Thực hiện Nghị quyết kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa IX, về việc chia táchtỉnh QN-ĐN thành 2 đơn vị hành chính trực thuộc Trung ương: tỉnh Quảng Nam

và thành phố Đà Nẵng Ngày 12-12-1996, Ban Chấp hành Trung ương đã raQuyết định số 123-QĐNS/TW về việc thành lập Đảng bộ Quảng Nam, chỉ địnhBan Chấp hành lâm thời gồm 36 đồng chí, Ban Thường vụ 11 đồng chí, đồng

Trang 9

chí Mai Thúc Lân làm Bí thư, các đồng chí Nguyễn Đức Hạt và Lê Trí Tập làmPhó Bí thư.

Đại hội lần thứ XVII: Từ ngày 9 đến 10-10-1997, Đại hội đại biểu Đảng

bộ tỉnh Quảng Nam lần thứ XVII diễn ra tại Tam Kỳ, bầu Ban Chấp hành mớinhiệm kỳ 1997-2000 gồm 47 đồng chí Đồng chí Nguyễn Đức Hạt được bầu làm

Bí thư, các đồng chí Lê Trí Tập và Nguyễn Hữu Mai làm Phó Bí thư

Đại hội lần thứ XVIII: Từ ngày 5 đến 8-12-2000, Đại hội đại biểu Đảng

bộ tỉnh lần thứ XVIII tổ chức tại Tam Kỳ Đại hội bầu Ban Chấp hành mới gồm

47 đồng chí, đồng chí Nguyễn Đức Hạt được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy, các đồngchí Vũ Ngọc Hoàng và Nguyễn Hữu Mai làm Phó Bí thư

Đại hội lần thứ XIX: Từ ngày 6 đến ngày 8-12-2005, Đại hội đại biểu

Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX tổ chức tại Tam Kỳ Đại hội bầu Ban Chấp hành mớinhiệm kỳ 2006-2010 gồm 49 đồng chí Đồng chí Vũ Ngọc Hoàng được bầu làm

Bí thư, các đồng chí Nguyễn Xuân Phúc và Nguyễn Đức Hải làm Phó Bí thư

Về sau, tháng 4 năm 2006, đồng chí Nguyễn Xuân Phúc được TW điều độngnhận nhiệm vụ mới Đến ngày 26 tháng 10 năm 2006, Hội nghị Tỉnh uỷ lần thứ

V đã bầu đồng chí NGuyễn Văn Sỹ làm Phó bí thư

Câu số 03:

Nêu tóm tắt tiểu sử của các đồng chí Bí thư Tỉnh uỷ từ khi Đảng bộ tỉnh thành lập cho đến nay ?

Trả lời:

* Đồng chí Phan Văn Định, sinh ngày 11-5-1903, tại làng Đông Thái,

tổng Việt Yên, nay thuộc xã Tùng Ảnh, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh

Sinh ra và lớn lên trong một gia đình nho giáo và tại một địa phương cótruyền thống hiếu học, giàu lòng yêu nước, đồng chí Phan Văn Định sớm bộc lộtinh thần yêu nước Sau khi học xong tiểu học, đồng chí theo học trường Kỹnghệ thực hành Huế, ngành lái ô tô Năm 1923, đồng chí vừa lái xe cho các quanlại của Pháp, vừa tham gia cách mạng Năm 1926, tham gia thành lập Hội Áihữu Lái xe Đoàn Trung kỳ Tháng 9 năm 1928, chi bộ đầu tiên Hội Việt Namcách mạng Thanh niên được thành lập tại Đà Nẵng, phát triển lực lượng cốt cántrong Hội Ái hữu Lái xe Đoàn Tháng 3 năm 1929, Kỳ bộ Trung Kỳ chủ trươngtách Đà nẵng ra khỏi Quảng Nam, đồng chí Phan Văn Định được chỉ định thamgia Ban Chấp hành Tỉnh bộ Quảng Nam Tháng 9 năm 1929, Đảng bộ ĐôngDương Cộng sản Đảng tỉnh Quảng Nam ra đời, đồng chí Phan Văn Định làm bíthư Tối 28-3-1930, tại bãi cát Trường Lệ, bên cây Thông Một, Hội An, BCHlâm thời Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam ra thông cáo về thành lập Đảng bộĐảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Quảng Nam do đồng chí Phan Văn Định làm Bíthư

Về sau, được Xứ uỷ Trung Kỳ tăng cường ba tỉnh uỷ viên, đồng chí PhanVăn Định đề cử đồng chí Phạm Thâm thay thế chức Bí thư còn bản thân đồngchí nhận chức Phó bí thư Tỉnh uỷ

Trang 10

Ngày 22-10-1930, đồng chí bị địch bắt giam tại nhà lao Vĩnh Điện, đồngchí đã cùng với các đồng chí khác tiếp tục đấu tranh trong tù Đến tháng 8-1934được tha tù, và bị quản thúc tại quê nhà Năm 1940 lại bị mật thám bắt giam tạinhà lao Hà Tĩnh, đến tháng 3-1945 đồng chí ra tù về tham gia Mặt trận ViệtMinh tại huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh rồi sau đó gia nhập quân đội, chuyển sangcông tác tại Bộ Tư lệnh Liên khu 4, giữ chức Trưởng ban Giao thông Vận tảiQuân khu Từ tháng 1 năm 1957, làm Giám đốc Nông trường Thắng Lợi, Giámđốc Nông trường 20-4 Đồng chí nghỉ hưu năm 1966 và qua đời năm 1984.

Có thể nói, tuy thời gian công tác tại Quảng Nam không lâu, nhưng vớicương vị là bí thư Tỉnh uỷ đầu tiên của tỉnh Quảng Nam, đồng chí Phan VănĐịnh đã để lại nhiều công lao, tình cảm và ấn tượng tốt đẹp trong quá trình hoạtđộng cách mạng ở tỉnh nhà

* Đồng chí Phạm Thâm, (tức Phạm Tấn Khánh), sinh năm 1903, tại

làng Xuân Đài, xã Điện Quang, phủ Điện Bàn, Quảng Nam

Đồng chí có tinh thần yêu nước từ rất sớm Năm 1928, đồng chí tham giaBan chấp hành Tỉnh Đảng bộ VNCMTN, và đã cùng các đồng chí NguyễnThanh, Nguyễn Tụy tổ chức thành một nhóm để thành lập Hội VNTNCM đầutiên ở Điện Bàn và được đề cử làm Bí thư Huyện uỷ Điện Bàn

Năm 1929, đồng chí được điều lên Tỉnh bộ Hội VNCMTN Quảng Nam,làm Tỉnh uỷ viên Sau khi thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương Tỉnh QuảngNam, đồng chí được điều về Điện Bàn phụ trách chi bộ Đông Dương Cộng sảnĐảng phủ Điện Bàn

Ngày 28-3-1930, Ban Chấp hành lâm thời Tỉnh Đảng bộ Quảng Nam rathông báo về thành lập Tỉnh Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam Ban chấp hànhTỉnh uỷ lâm thời gồm các đồng chí Phan Văn Định làm Bí thư, đồng chí PhạmThâm làm Phó Bí thư Sau đó, đồng chí Pham Văn Định vì không quen thuộcđịa hình trên địa bàn tỉnh nên đã đề cử đồng chí Phạm Thâm thay mình làm Bíthư Tỉnh Đảng bộ trong thời gian từ tháng 8 năm 1930 đến tháng 10 năm 1930

* Đồng chí Nguyễn Trác, (tức Thiều), sinh ngày 4/11/1904, tại làng Hà

Thanh, tổng Hạ Nông, phủ Điện Bàn, Quảng Nam Ở tuổi thanh niên, đồng chívào Sàigòn làm công nhân cho hãng Satne, được chi bộ Đảng Cộng sản ở đâykết nạp vào Đảng tháng 7-1930 Tháng 1-1931 bị địch bắt, kết án tù, đày ra CônĐảo Năm 1936, đồng chí được thả tự do và bị trục xuất về Quảng Nam Đồngchí là một trong những đảng viên cốt cán của Đảng bộ Quảng Nam, đã họp bànlập ra Uỷ ban vận động Đại hội Đông Dương của Quảng Nam Cuối năm 1936,triệu tập hội nghị , với thành phần mỗi phủ, huyện cử 1 người tham dự Hội nghịquyết định thành lập Ban Tỉnh uỷ lâm thời (có Nguyễn Trác, Nguyễn Thuý,Nguyễn Thành Hãn, Nguyễn Đức Thiệu, Trần Học Giới ), cử đồng chí NguyễnTrác làm Bí thư lâm thời

Đồng chí Nguyễn Trác làm Bí thư Tỉnh uỷ Quảng Nam từ cuối năm 1936đến tháng 10 năm 1938, là Xứ uỷ viên Trung Kỳ, về sau là Phó bí thư Xứ uỷTrung Kỳ

Trang 11

* Đồng chí Nguyễn Thành Hãn, sinh ngày 1-5-1905 tại làng Trà Kiệu

Tây, nay thuộc xã Duy Sơn, huyện Duy Xuyên Những năm đầu thế kỷ XX, chịuảnh hưởng của phong trào yêu nước do cụ Phan Bội Châu và Phan Châu Trinhkhởi xướng, được tiếp xúc với các đồng chí trong tổ chức Hội Việt Nam Cáchmạng thanh niên, Nguyễn Thành Hãn sớm giác ngộ và bắt đầu tham gia hoạtđộng cách mạng

Tháng 3-1931, phong trào cách mạng ở Quảng Nam vị bể vỡ ở nhiều nơi,Nguyễn Thành Hãn bị Pháp bắt, kết án 3 năm tù giam rồi đưa về giam ở nhà laoHội An Trong tù, đồng chí vẫn kiên quyết đấu tranh, giữ vững khí tiết củangười cộng sản Năm 1933, nhân việc "Bảo Đại hồi loan", Pháp ân xá tù chínhtrị, trong đó có Nguyễn Thành Hãn Năm 1936, đồng chí đã tham gia họp bànlập ra UB vận động Đại hội Đông Dương của Quảng Nam, đồng chí được phâncông vào Ban chấp hành tỉnh Đảng bộ và làm phó bí thư Từ tháng 11-1938, khiđồng chí Nguyễn Trác chuyển về Khu uỷ V, đồng chí được chỉ định làm Bí thưTỉnh uỷ đến tháng 2-1939

Tháng 9-1939, chiến tranh thế giới lần thứ II bùng nổ; ở Đông Dương bọnthực dân Pháp thi hành chính sách thống trị thời chiến, đàn áp dã man phongtrào cách mạng Nguyễn Thành Hãn bị địch bắt, giam ở nhà lao tỉnh QuảngNam Trong nhà giam lần này, mặc dù địch dùng nhiều hình thức tra tấn, khaithác mới, siết chặt chế độ giam giữ hơn, song đồng chí vẫn hăng hái tham giacác cuộc đấu tranh chống đàn áp Tại phiên tòa xét xử tù nhân chính trị (ngày 6-1-1940), Nguyễn Thành Hãn cùng anh em bị đưa ra xét xử đã biến phiên tòa trởthành nơi kết tội bọn tay sai thực dân Pháp Kết thúc phiên tòa, đồng chí bịchuyển xuống nhà lao Hội An, bị tăng án lên khổ sai chung thân và cuối năm

1940 bị đày đi nhà tù Buôn Ma Thuột Năm 1942, bọn giám thị ở nhà tù Buôn

Ma Thuột dựng thêm một trại giam ở Đắk Mil rồi chuyển 100 tù nhân ở Buôn

Ma Thuột lên giam ở đó

Tại nhà tù Đắk Mil, Nguyễn Thành Hãn đề nghị với tổ chức có chủtrương cho anh em tù nhân vượt ngục trở về tiếp tục hoạt động cách mạng Đầuxuân 1943, kế hoạch tổ chức vượt ngục được tiến hành, không may bị bại lộ.Bọn địch đã thủ tiêu các đồng chí vượt ngục, trong đó có đồng chí NguyễnThành Hãn

Sau ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đồng chí Nguyễn ThànhHãn được Đảng và Nhà nước công nhận là liệt sĩ và hài cốt đồng chí được đưa

về an táng tại quê nhà nơi đồng chí sinh ra, lớn lên và giác ngộ cách mạng

* Đồng chí Nguyễn Đức Thiệu, sinh ngày 25-12-1907, quê làng Ái

Nghĩa, nay thuộc thị trấn Ái Nghĩa, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam

Đồng chí tham gia hoạt động cách mạng từ rất sớm, và nhanh chóng tiến

bộ trên nhiều mặt, trở thành một trong những cán bộ lãnh đạo chủ chốt của TỉnhQuảng Nam Lúc nhỏ học chữ Hán với ông Bác ở quê nhà; năm 13 tuổi họcQuốc ngữ, Năm 1925, ra Huế học Cao đẳng tiểu học tại Trường Pellerin, tại đâyđồng chí đã tiếp thu những tư tưởng tiến bộ, yêu nước và tích cực tham giaphong trào thanh niên yêu nước Tháng 4-1927, đồng chí vào Sài-gòn tiếp tục

Trang 12

hoạt động cách mạng Tháng 9-1928 gia nhập vào VNTNCMĐC Hội Cuối năm

1929, gia nhập An Nam Cộng sản Đảng Tại đây đồng chí tham gia đấu tranh, bịđịch bắt năm 1930, đưa về quê nhà quản thúc Tháng 5-1937, tham gia họpthành lập Ban Tỉnh uỷ lâm thời Quảng Nam tại làng Tân Thạnh, huyện HoàVang Sau đó, Ban chấp hành Tỉnh Đảng bộ quyết định mở cuộc hội nghị Tỉnh

uỷ vào tháng 2-1939 ở hang núi Trà Kiệu để củng cố bộ máy lãnh đạo và bànmột số công việc thiết yếu Hội nghị đã bầu Ban chấp hành Tỉnh Đảng bộ, dođồng chí Nguyễn Đức Thiệu làm Bí thư Đến tháng 8 năm 1939, Tỉnh uỷ quyếtđịnh phân công đồng chí ra phụ trách Đảng bộ Đà Nẵng, trực thuộc lãnh đạo của

Xứ uỷ Tháng 9-1939, đồng chí bị bắt, đày đi Buôn Mê Thuột đến tháng 5-1945

ra tù về địa phương tiếp tục hoạt động

Năm 1954, đồng chí tập kết ra Bắc, làm ở Phủ Thủ tướng, rồi làm TrưởngPhòng Kế hoạch Phân phối và Vật tư của Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước, Vụtrưởng Vụ Kế hoạch Vật tư, Vụ trưởng Vụ Giao thông, vận tải và Bưu điện.Trong quá trình tham gia cách mạng đồng chí là người có đóng góp cho phongtrào cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhất là phong trào ở địa phương.Đồng chí mất ngày 17-9-1992, tại quê nhà

* Đồng chí Võ Chí Công tên thật là Võ Toàn, sinh ngày 8-7-1913 tại làng

Tam Mỹ, tổng Phú Quý, phủ Tam Kỳ, nay là xã Tam Xuân, huyện Núi Thành,tỉnh Quảng Nam

Từ năm 1930 đến 1934, ông hoạt động trong Thanh niên Cộng sản Năm

1935, ông gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương và làm Bí thư chi bộ ghép, rồilàm Bí thư Huyện uỷ Tam Kỳ Tháng 3-1940, Tỉnh uỷ lâm thời Quảng Namthành lập, do Võ Toàn làm Bí thư đến tháng 10 năm 1940 Cuối tháng 8-1942,một cuộc họp quyết định thành lập liên tỉnh-thành uỷ, do đồng chí Võ Toàn làm

Bí thư (gồm Quảng Nam, Hội An, Đà Nẵng) cho đến ngày 15-16/01/1943, LiênTỉnh, Thành uỷ họp, quyết định cử Tỉnh uỷ mới của Quảng Nam, do đồng chí

Võ Toàn làm Bí thư đến tháng 11 năm 1943

Tháng 11 năm 1943, ông bị thực dân Pháp bắt và kết án 25 năm tù, đày điBuôn Ma Thuột Tháng 3 năm 1945, sau khi Nhật đảo chính Pháp, ông ra tù vàđược cử làm trưởng ban khởi nghĩa, chỉ huy cướp chính quyền ở Quảng Nam-

Đà Nẵng

Từ 1946 đến 1960, làm Thanh tra quân Khu V, Bí thư Ban Cán sự ĐôngBắc Miên, Khu uỷ viên Khu V, Bí thư Tỉnh uỷ Quảng Nam - Đà Nẵng (3-1952đến 1953), Phó Bí thư Khu uỷ V Từ 1960, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứIII được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, làm Bí thư khu uỷ Khu V

Từ 1961 đến 1975, Phó Bí thư Trung ương Cục miền Nam, phụ trách Bí thư khu

uỷ V, Chính uỷ Quân khu V, Phó ban Đại diện Trung ương Đảng và Chính phủ

ở miền Nam

Từ 1976, uỷ viên Bộ Chính trị khoá IV, đại biểu Quốc hội khoá VI, được

cử giữ chức Phó Thủ tướng Chính phủ kiêm Bộ trưởng Bộ Hải sản, sau đó làPhó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp, Trưởng ban Cải tạo nôngnghiệp miền Nam

Trang 13

Từ tháng 4 năm 1981, đại biểu Quốc hội khoá 7, Phó Chủ tịch Hội đồng

Bộ trưởng Được Đại hội V của Đảng bầu lại vào vào Bộ Chính trị, Bí thư Trungương Đảng (3/1982) Từ tháng 6 năm 1986, ông được phân công giữ chức PhóChủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (12/1986),được bầu lại vào Bộ Chính trị

Từ tháng 4 năm 1987 đến năm 1991, đại biểu Quốc hội khoá 8 và đượcQuốc hội bầu làm Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng

Từ tháng 6 năm 1991 đến tháng 6 năm 1996: là Cố vấn Ban Chấp hành Trungương Đảng

Ông đã được nhà nước trao tặng Huân chương Sao vàng

* Đồng chí Hồ Tỵ, còn gọi là Hồ Trí Tân, Bí danh là Định, sinh tháng

10 năm 1906, tại thôn An Lương, tổng Bích La, phủ Triệu Phong (nay là xãTriệu Hòa, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị) Đồng chí tham gia cách mạngtại quê nhà, và là phái viên của Xứ uỷ Trung Kỳ

Khoảng tháng 10 năm 1940, đồng chí Hồ Tỵ, được Xứ uỷ Trung Kỳ phâncông, sau đôi lần thăm dò, móc nối được với Tỉnh uỷ Quảng Nam Kết quả mộtcuộc hội nghị Tỉnh uỷ mở rộng tại Chùa Hang (Tam Kỳ) được tổ chức Hội nghị

đã bầu BCH Tỉnh Đảng bộ chính thức, do đồng chí Hồ Tỵ làm Bí thư

Ngày 28-10-1940, theo chỉ thị của Xứ uỷ, đồng chí Hồ Tỵ vào bắt liên lạcvới Tỉnh uỷ Quảng Ngãi Đồng chí đã cùng với người liên lạc bị mật thám bắt,Tỉnh uỷ Quảng Nam bị đứt liên lạc với sự lãnh đạo của Đảng kể từ đó

* Đồng chí Trương Hoàn, sinh năm 1911, tại làng Hữu Niên, tổng An

Dạ, phủ Triệu Phong (nay là xã Triệu Hòa, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị).Tháng 10-1941, Tỉnh uỷ Quảng Nam triệu tập cuộc họp tại Quế Sơn Theo quyếtđịnh của Xứ uỷ, Tỉnh uỷ được củng cố lại Đồng chí Trương Hoàn, Xứ uỷ viênđược tăng cường về tỉnh, trực tiếp làm Bí thư Tỉnh uỷ từ tháng 10-1941 đếntháng 7 năm 1942, cho đến khi có một cuộc họp quyết định thành lập Liên Tỉnh-Thành uỷ, vào tháng 8-1942, bầu đồng chí Võ Toàn làm Bí thư

* Đồng chí Trần Văn Quế, sinh ngày 01-5-1922, tại làng Thọ Khương,

tổng Đức Hoà, phủ Tam Kỳ, nay thuộc thôn 6, xã Tam Hiệp, huyện Núi Thành,tỉnh Quảng Nam Đồng chí tham gia cách mạng trong phong trào Bình dân(1936-1937) Vào Đảng Cộng sản Việt Nam tháng 2-1939, bị bắt tù tại Hội Annăm 1940, bị đày đi Buôn Mê Thuột năm 1941 Đồng chí đã nhảy tàu trốn vềhoạt động bí mật (3-1944), làm Bí thư Tỉnh uỷ từ tháng 4-1944 Đến tháng 9năm 1944, tại Chùa Kim Bồng, Tỉnh uỷ lâm thời Quảng Nam được thành lập,bầu đồng chí Trần Văn Quế làm Bí thư đến tháng 11 năm 1945

Năm 1946 là phái viên Xứ uỷ phụ trách kiểm tra Năm 1947 là Trưởng TyThông tin-giáo dục, Giám đốc Tuyên truyền kháng chiến miền Nam Trung bộ.Năm 1948 là uỷ viên Ban cán sự tỉnh Gia Lai Năm 1950-1951 là uỷ viên Bancán sự Gia Lai-Kon Tum

* Đồng chí Nguyễn Xuân Nhĩ, còn gọi là Tám Tâm, sinh ngày

15-2-1912, tại làng Bích Trâm, phủ Điện Bàn, nay thuộc xã Điện Hoà, huyện Điện

Trang 14

Bàn, tỉnh Quảng Nam Đồng chí tham gia cách mạng từ năm 17 tuổi, khi cònhọc tại trường Quốc học Huế Tháng 9 năm 1930, lúc mới 18 tuổi, đồng chíđược kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam tại chi bộ nhà trường

Tháng 10-1930 đồng chí bị đich bắt bỏ tù đến tháng 3-1933, đồng chíđược ra tù, về quê và tiếp tục tham gia hoạt động cách mạng, gây dựng cơ sở ởđịa phương Năm 1936, vào Sàigòn tham gia phong trào ái hữu, đến cuối năm

1937 về Quảng Nam tham gia mở trường dạy học truyền bá quốc ngữ và xâydựng phong trào cách mạng Tháng 9 năm 1939 đồng chí lại bị địch bắt giam tạinhà lao Vĩnh Điện, rồi nhà lao Hội An, đày đi Lao Bảo Ngày 9-3-1945, đồngchí được trả tự do, về tham gia chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền ở QuảngNam

Đầu tháng 9-1945, UBNDCM lâm thời tỉnh Quảng Nam được thành lập,đồng chí được cử làm Chủ tịch, được bầu làm đại biểu Quốc hội khoá I và lưunhiệm các khoá II và III Đến tháng 11-1945, được bầu làm Bí thư Tỉnh uỷQuảng Nam, kiêm Chủ nhiệm Việt Minh tỉnh Quảng Nam đến tháng 10-1946

Đồng chí cũng đã từng giữ các chức vụ Đại diện Đảng và Chính phủ tạimiền Trung Trung Bộ; Bí thư liên tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên; Uỷviên Thường vụ Khu uỷ Khu V; Uỷ viên Ban Thường vụ Quốc hội khoá VI.Đồng chí qua đời ngày 15-9-1983, an táng tại nghĩa trang Điện Bàn

Do có nhiều công lao đóng góp, đồng chí đã được tặng thưởng nhiều phầnthưởng cao quý: Huân chương Độc lập hạng Nhì, Huân chương Hồ Chí Minh

* Đồng chí Trương Quang Giao, tức Trương Quang Viên, sinh ngày

30-3-1910, tại xã Tịnh Khê, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi

Đồng chí là một trong những cán bộ lãnh đạo có tầm cỡ, có kinh nghiệmtrong chiến đấu và hoạt động dân vận Trong công tác lãnh đạo, đồng chí luôn

có tính bao quát, phóng khoáng, tập trung cho những chủ trương lớn, những mụctiêu lớn, tin vào sự sáng tạo, thông minh của cấp dưới, giúp họ có điều kiện pháthuy năng lực Tại Hội nghị đại biểu toàn Đảng bộ tại làng Lộc Chánh, ThăngBình, tỉnh QN-ĐN, năm 1946, đồng chí được bầu làm Bí thư Tỉnh uỷ QN-ĐN,

từ tháng 11-1946 đến tháng 01 năm 1949

* Đồng chí Nguyễn Xuân Hữu, tức Bảy Râu, Bảy Hữu, Nguyễn Hữu

Trinh, sinh ngày 01-01-1923, tại xã Điện Hồng, huyện Điện Bàn, tỉnh QuảngNam Là chiến sỹ cách mạng, tham gia cách mạng và gia nhập Đảng Cộng sảnĐông Dương từ rất sớm Đồng chí đã từng giữ các chức vụ Uỷ viên BCH TWĐảng Cộng sản Việt Nam các khoá IV, V, VI; là Uỷ viên Hội đồng Nhà nước,Đại biểu Quốc hội các khoá VI và VIII; Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam; Uỷviên Ban Thường vụ Khu uỷ Khu 5

Đồng chí được cử giữ chức Bí thư Tỉnh uỷ Quảng Nam-Đà Nẵng từ

6-01-1949 đến tháng 01-1950, và sau này làm Bí thư Tỉnh uỷ Phú Khánh

Cuộc đời hoạt động cách mạng, nhất là trên từng cương vị công tác củamình, đồng chí đã góp phần quan trọng vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân

Trang 15

tộc, thống nhất đất nước, quá độ đi lên xây dựng CNXH Đồng chí qua đời ngày29-10-1989

* Đồng chí Cao Sơn Pháo, còn gọi là Bùi Như Tùng, sinh năm 1922, tại

làng Thái Sơn, xã Điện Tiến, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam Đồng chí đã thamgia hoạt động cách mạng từ rất sớm

Tại Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng lần thứ nhất,ngày 6-1-1949, đồng chí Cao Sơn Pháo được bầu làm Phó Bí thư và từ tháng 1-

1950 được chỉ định làm Bí thư thay cho đồng chí Nguyễn Xuân Hữu đi nhậnnhiệm vụ mới Đến Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ II ngày 2-3-1950, bầuđồng chí Cao Sơn Pháo làm Bí thư

Đồng chí hy sinh trên được đi công tác khi vừa tròn 34 tuổi

* Đồng chí Trương Chí Cương, tức Trương Công Thuận, còn gọi là

Trương Kiểm, Tư Thuận, sinh ngày 3/1/1919, tại làng Phụng Châu, xã XuyênChâu, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam

Đồng chí sinh ra trong một gia đình nông dân có truyền thống yêu nước.Năm 1936, tham gia phong trào Dân chủ Năm 1937, vào Đàon Thanh niên Dânchủ, hoạt động trong Hội Tương tế ái hữu Năm 1939 bị thực dân Pháp bắt tù,trong tù cũng như sau khi ra tù đồng chí tiếp tục hoạt động cách mạng Năm

1941, gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương, lần lượt đảm nhận các chức vụ,đến Bí thư Huyện uỷ Tam Kỳ Tháng 3/1942 bị bắt và bị đày lên nhà lao Ban

Mê Thuột Tháng 3/1945, ra tù, hoạt động ở Phú Yên, tham gia khởi nghĩa giànhchính quyền ở Phú Yên, làm Bí thư Tỉnh uỷ Phú Yên Năm 1946, làm Bí thưTỉnh uỷ Ninh Thuận Năm 1950 là Bí thư Ban Cán sự Cực Nam 1951, LiênKhu uỷ Liên Khu V, Bí thư Tỉnh uỷ Bình Thuận,

Đồng chí được bầu làm Bí thư Tỉnh uỷ Quảng Nam-Đà Nẵng từ nămtháng 8-1954 đến tháng 1-1955 và được cử làm Bí thư Tỉnh uỷ từ tháng 1-1960đến tháng 12-1960 sau khi được điều về công tác tại Khu ủy Khu V Sau TếtMậu Thân, tháng 1-1968, đồng chí là Phó Bí thư Khu uỷ Khu V được phân côngtrực tiếp làm Bí thư Đặc khu uỷ Quảng Đà Năm 1959, đồng chí là Uỷ viên Uỷban Thanh tra của Chính phủ; năm 1961, là Uỷ viên dự khuyết và sau đó là Uỷviên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa III Đồng chí mất tháng 3 năm

1975, tại Hà Nội

Do có nhiều công lao đóng góp, đồng chí đã được Đảng và Nhà nước tặngthưởng nhiều phần thưởng cao quý Trong đó có Huân chương Hồ Chí Minhhạng III (ngày nay Huân chương Hồ Chí Minh không phân hạng, nhưng trướcđây trong thời chiến, được phân thành 3 hạng)

* Đồng chí Phan Tốn, sinh ngày 01-5-1921, tại Xóm Miếu, làng Thọ

Khương, tổng Đức Hoà, phủ Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam (nay là thôn 6, xã TamHiệp, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam) Thuở nhỏ, ông học giỏi, mới 8 tuổi

đã đỗ Yếu lược, nhưng không may cha chết sớm, ông phải nghỉ học ở lớp đệnhị Tháng 2-1940, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam Tháng 7năm 1955, Liên Khu uỷ V chỉ định ông làm quyền Bí thư Tỉnh uỷ Quảng Nam-

Trang 16

Đà Nẵng Tại hội nghị Tỉnh uỷ mở rộng, tháng 9 năm 1955 ông được bầu làm Bíthư Tỉnh uỷ Quảng Nam-Đà Nẵng đến tháng 2 năm 1956 Sau khi chia tách tỉnh,ông lại được cử làm Bí thư Tỉnh uỷ Quảng Nam từ 2-1956 đến cuối năm 1959.Tháng 3-1959, ông được bầu bổ sung vào Liên Khu uỷ Khu V Năm 1960, ôngđược bầu đi dự Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III tại Hà Nội Trong thời gian

dự Đại hội, ông bị tái phát bệnh và chết vì bệnh đau dạ dày ngày 9-7-1960 tạiBệnh viện Việt-Xô, Hà Nội

Cuộc đời ông là là một quãng đời đấu tranh liên tục, không mệt mỏi từthời thơ ấu cho đến lúc tắt thở trên giường bệnh Lúc nào ông cũng tất bật, suy

tư, thận trọng, cảnh giác cao độ trong mọi hoàn cảnh, được đồng bào, đồng chíquý mến, tin yêu

* Đồng chí Phạm Tứ (tức Mười Khôi), sinh ngày 4-4-1917, tại làng Châu

Bí, xã Điện Tiến, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam Đồng chí giác ngộ và thamgia cách mạng từ năm 1936, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương năm1939

Tháng 1-1960, Tỉnh ủy QN-ĐN tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ IV, đồngchí Phạm Tứ được bầu làm Phó Bí thư, Đến cuối năm 1960, đồng chí Phạm Tứđược chỉ định làm Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam-Đà Nẵng Đến tháng 12-1962, tạiĐại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Nam lần thứ V (12-1962) đã bầu đồng chíPhạm Tứ làm Bí thư Tỉnh uỷ và giữ chức đến tháng 3-1963

Đồng chí cũng đã từng được bầu làm Khu uỷ viên Khu uỷ V Đồng chíqua đời năm 1987

* Đồng chí Vũ Trọng Hoàng, (tức Bốn Hương), sinh ngày 01-5-1922, tại

làng Phương Trì, tổng Xuân Phú, huyện Quế Sơn, nay là xã Quế Phú, huyệnQuế Sơn, tỉnh Quảng Nam Tham gia cách mạng từ năm 1937, vào Đảng Cộngsản Đông Dương (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam) tháng 11 năm 1939

Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Nam lần thứ V (12-1962) đã bầuđồng chí Vũ Trọng Hoàng làm Phó Bí thư Khoảng 3 tháng sau (3-1963), đồngchí Phạm Tứ được điều về Khu ủy V, đồng chí Vũ Trọng Hoàng làm Bí thư

Tại Đại hội Tỉnh Đảng bộ Quảng Nam lần thứ VI (12-1964), tại ĐồngLinh, xã Bình Phú, huyện Thăng Bình, bầu đồng chí Vũ Trọng Hoàng làm Bíthư

Từ ngày 14 đến 18-10-1967, Đảng bộ Quảng Nam tiến hành Đại hội lầnthứ VII tại Trại 154, xã Trà Đốc, huyện Bắc Trà My, bầu đồng chí Vũ TrọngHoàng làm Bí thư

Đồng chí cũng đã từng kinh qua các chức vụ Khu uỷ viên, Phó Trưởngban Tổ chức Khu uỷ V và Phó Trưởng Ban Tổ chức TW Đảng Do có nhiềucông lao đóng góp cho sự nghiệp cách mạng, đồng chí được Đảng và Nhà nướctặng thưởng nhiều phần thưởng cao quý Đồng chí từ trần ngày 11-11-1998

* Đồng chí Trần Thận, (còn có tên là Trần Cát) sinh năm 1927, tại xã

Duy Vinh, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam

Trang 17

Đồng chí tham gia cách mạng từ rất sớm, đã kinh qua các chức vụ Khu uỷviên Khu uỷ khu 5, Bí thư Tỉnh uỷ Quảng Nam, Bí thư Đặc Khu uỷ Quảng Đà.Phó Tổng Thanh tra Nhà nước.

Tháng 12-1964, Tỉnh Đảng bộ Quảng Đà tổ chức Đại hội, đồng chí TrầnThận được bầu làm Phó bí thư Tỉnh uỷ cho đến tháng 11-1967 Tháng 1-1968,Quảng Đà nhập với thành phố Đà Nẵng thành Đặc khu Quảng Đà, đồng chíTrần Thận tiếp tục giữ chức Phó Bí thư Đặc khu uỷ Quảng Đà

Từ ngày 16-30/11/1969, Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Nam lần thứ VIII đãbầu đồng chí Trần Thận làm Bí thư Tỉnh uỷ, đến tháng 7-1970 đồng chí thôi giữchức Bí thư Tỉnh uỷ để nhận công tác khác

Từ ngày 4-10/9/1973, Đại hội lần thứ X Đặc khu Quảng Đà đã bầu đồngchí Trần Thận làm Bí thư Tỉnh uỷ, cho đến tháng 3 năm 1975, khi nhập tỉnhQuảng Nam và Đặc Khu uỷ Quảng Đà thành tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng, đồngchí thôi chức Bí thư Tỉnh uỷ Quảng đà

Hiện nay đồng chí đang nghỉ hưu tại thành phố Đà Nẵng

* Đồng chí Hồ Nghinh, tên thật là Hồ Hữu Phước, sinh ngày 19 tháng 12

năm 1915, tại xã Duy Trinh, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam Tham giacách mạng từ năm 1929, trực tiếp tham gia lãnh đạo công tác Đảng, Chínhquyền và Mặt trận ở địa phương

Từ cuối năm 1964, Khu ủy Khu V đã quyết định tách Đà Nẵng ra khỏitỉnh Quảng Đà, đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Khu uỷ, đã cử đồng chí HồNghinh, bí thư Tỉnh uỷ Quảng Đà kiêm nhiệm Bí thư Thành uỷ Đà Nẵng

Tại Đại hội Tỉnh Đảng bộ Quảng Đà lần thứ VI (12-1964), đồng chí HồNghinh làm Bí thư Tỉnh ủy Tháng 11-1967, Khu ủy V quyết định sáp nhập tỉnhQuảng Đà và thành phố Đà Nẵng thành Đặc khu Quảng Đà, đồng chí HồNghinh làm Bí thư Sau đó, đồng chí Hồ Nghinh được điều về Khu ủy Khu 5

Tại Đại hội lần thứ IX, tháng 8-1971 của Đảng bộ Đặc khu Quảng Đà,đồng chí Hồ Nghinh được bầu làm Bí thư Ngày 4-10-1975, Thường vụ Khu ủy

5 và UBND cách mạng lâm thời Khu Trung Trung Bộ quyết định hợp nhất tỉnhQuảng Nam và Đặc khu Quảng Đà thành tỉnh QN-ĐN, do đồng chí Hồ Nghinhlàm Bí thư

Tại Đại hội Tỉnh Đảng bộ QN-ĐN lần thứ XI, XII, đồng chí Hồ Nghinh

được bầu làm Bí thư Tỉnh uỷ Đồng chí là uỷ viên TW Đảng các khoá IV vàkhoá V Năm 1983, đồng chí được TW điều động làm Phó ban Kinh tế TWĐảng

Do có nhiều công lao cống hiến cho cách mạng, đồng chí Hồ Nghinh đãđược tặng thưởng nhiều huân chương: Huân chương Lao động hạng nhất, Huânchương Giải phóng hạng nhất, Huân chương Quyết thắng hạng nhất, Huânchương Chống Mỹ hạng nhất và Huân chương Hồ Chí Minh năm 2007 Đồngchí từ trần tại Đà Nẵng đầu năm 2007

Trang 18

* Đồng chí Hoàng Minh Thắng, tên thật là Nguyễn Tấn Vịnh, sinh ngày

20/10/1927, tại Bình Sa, Thăng Bình, Quảng Nam

Mười tám tuổi, Nguyễn Tấn Vịnh đã giác ngộ chính trị, hăng hái tham giađoàn lực lượng nòng cốt của Việt Minh 19 tuổi, vào Đảng Cộng sản ĐôngDương, 22 tuổi là Ủy viên Ban Thường vụ Huyện ủy, Chính trị viên Huyện ĐộiThăng Bình 24 tuổi là Phó ban Chính trị Thành Đội Đà Nẵng

Năm 1954, tập kết ra Bắc và 6 năm sau, đã trở lại chiến trường QuảngNam, với cái tên là Hoàng Minh Thắng Đồng chí đã chỉ huy thành công chiếndịch giải phóng vùng đông Thăng Bình, Duy Xuyên, Tam Kỳ và chiến thắngNúi Thành lịch sử năm 1965

Sau Mậu Thân 1968, làm Phó Chính ủy Sư đoàn 3 bộ binh lập nhiều chiếncông vang dội Tháng 7-1970, được điều về làm Bí thư Tỉnh uỷ Quảng Nam TạiĐại hội X Tỉnh Đảng bộ Quảng Nam (10-20/3/1973), bầu làm Bí thư Tỉnh uỷ

Ngày 15/10/1975, hợp nhất 2 tỉnh Quảng Nam và Quảng Đà, đồng chíđược cử làm Phó Bí thư, Chủ tịch UBND tỉnh QN-ĐN

Về sau, đồng chí Hoàng Minh Thắng giữ các chức vụ Uỷ viên TW Đảng(khoá 5, 6), Đại biểu QH (khoá 7, 8, 9), Bí thư Tỉnh uỷ Quảng Nam Đà Nẵng(6/1/1983-29/10/1986); Bộ trưởng Bộ Thương mại; Chủ tịch Liên minh Hợp tác

xã Việt Nam

Trong quá trình công tác, đồng chí đã có công lớn trong chiến tranh cũngnhư trong thời kỳ xây dựng đất nước, như: Khai hoang, phục hoá trên diện rộng;xây dựng hồ Phú Ninh và hệ thống thuỷ lợi; mở 4 tuyến đường nhựa lên miềnnúi; trình Hội đồng Chính phủ bãi bỏ 80 trạm kiểm soát qua 38 tỉnh để tháo gỡách tắc trong lưu thông hàng hóa; nâng cao vị thế của kinh tế hợp tác và các hợptác xã Những thành tựu trong xây dựng và đổi mới là của nhân dân và tập thểlãnh đạo, nhưng có sự quyết tâm và tính sáng tạo của đồng chí trên cương vịngười quản lý, điều hành

* Đồng chí Nguyễn Văn Chi, sinh ngày 28-7-1945, tại xã Hòa Tiến,

huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng Vào Đảng Cộng sản Việt Nam tháng 6năm 1965

Năm 1954-1964, vừa đi học vừa tham gia cách mạng, làm cơ sở hợp phápcho huyện uỷ Hoà Vang Tháng 10/1964 thoát ly làm văn thư tại huyện ủy HòaVang Năm 1965-1969 làm uỷ viên Ban Kinh tế, Phó ban Kinh Tài II huyện HoàVang; Phó Ban Tổ chức Đảng ủy, rồi Thường vụ Đảng ủy, Trưởng Ban Tổ chứckhu II huyện Hoà Vang Tháng 3/1971, Phó Bí thư Đảng ủy khu II, Tỉnh uỷ viênQuảng Đà, Bí thư khu II Hoà Vang; Chánh văn phòng Tỉnh ủy Quảng Đà.Tháng 5/1976, Phó Bí thư Huyện ủy Hoà Vang Từ 10/1976-07/1979: Chủ tịch

Ủy ban nhân dân huyện, Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Nam-Đà Nẵng, Bí thưHuyện ủy Hoà Vang Từ 7/1979-10/1982: Thường vụ Tỉnh ủy, Phó chủ tịchUBND tỉnh, Chủ nhiệm Uỷ ban Kế hoạch tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng Tháng10/1984-6/1986: Phó bí thư thành uỷ Đà Nẵng Tháng 12/1986: UV BCH TW

Trang 19

khoá VI, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam-Đà Nẵng Tháng 7/1991 là Ủy viên BCH

TW khoá VII, Bí thư Tỉnh uỷ Quảng Nam-Đà Nẵng

Từ 4/1994-4/1995: Phái viên của Đảng và Chính phủ tại miền Trung vàTây Nguyên Tháng 5/1995, Ủy viên BCH TW khoá VIII, Phó trưởng Ban bảo

vệ chính trị nội bộ TW Từ 7/2000-2002, Ủy viên BCH TW khoá IX, TrưởngBan bảo vệ chính trị nội bộ TW, được bầu bổ sung vào Ban Bí thư tháng 1 năm

2003

Tại Đại hội Đảng lần thứ X, được bầu vào Bộ Chính trị và Ban Bí thư,Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa IX, X

* Đồng chí Mai Thúc Lân, sinh ngày 6/01/1935, tại xã Điện Phước,

huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam Thời trẻ, trong thời gian đi học đồng chí đã

có tinh thần yêu nước, và tham gia cách mạng từ rất sớm Năm 1954 tập kết raBắc, đồng chí đã từng làm Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Phú

Tại hội nghị đại biểu giữa nhiệm kỳ khóa XV (29 đến 31-3-1994), đồngchí Mai Thúc Lân làm Bí thư Tỉnh uỷ Quảng Nam-Đà Nẵng

Tại Đại hội lần thứ XVI, từ ngày 23 đến 27-4-1996, đồng chí được bầulàm Bí thư Tỉnh uỷ Quảng Nam-Đà Nẵng

Ngay sau ngày tái thành lập tỉnh Quảng Nam, Ban Chấp hành Trung ương

đã ra Quyết định số 123-QĐNS/TW, ngày 12-12-1996, thành lập Đảng bộQuảng Nam, chỉ định Ban Chấp hành lâm thời, do đồng chí Mai Thúc Lân làm

Bí thư

Tháng 10/1997, đồng chí được TW điều động tham gia đại biểu Quốc hộichuyên trách, làm Phó Chủ tịch Quốc Hội Hiện nay, đồng chí đã nghỉ hưu.Trong suốt cuộc đời tham gia cách mạng, đồng chí Mai Thúc Lân được đánh giá

là một trong những nhà lãnh đạo thẳng thắn, trung thực và tích cực tham gia bàitrừ tham nhũng

* Đồng chí Nguyễn Đức Hạt, sinh năm 1945, tại xã Tam Xuân 2, huyện

Núi Thành, tỉnh Quảng Nam Đồng chí được bầu làm Phó Bí thư Tỉnh uỷ QuảngNam-Đà Nẵng tại nhiệm kỳ Đại hội XVI (23-27/4/1996)

Ngày 12-12-1996, thực hiện chia tách tỉnh, BCH TW Đảng đã chỉ địnhTỉnh uỷ lâm thời Quảng Nam, đồng chí Nguyễn Đức Hạt làm Phó Bí thư

Tại Đại hội 17 (9-10/10/1997), đồng chí được bầu làm Bí thư Tỉnh uỷQuảng Nam Đến ngày 5-8/12/2000, tại Đại hội 17 của Tỉnh Đảng bộ, đồng chítái đức cử Bí thư Tỉnh uỷ Đồng chí là Uỷ viên BCH TW Đảng các khoá IX, X.Tháng 7-2001, đồng chí được TW điều động làm Phó trưởng Ban thường trựcBan Tổ chức TW Đảng cho đến nay

* Đồng chí Vũ Ngọc Hoàng, sinh ngày 23/5/1953, tại xã Tam Xuân,

huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam Đồng chí sinh ra trong một gia đình giàutruyền thống cách mạng, nên có tinh thần yêu nước từ khi còn trẻ

Từ nhỏ, trong thời kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đồng chí ra miềnBắc học phổ thông, sau khi tốt nghiệp đại học, đồng chí về công tác tại Phòng

Ngày đăng: 28/11/2013, 22:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w