- Vai trò của kế toán quản trị phục vụ chức năng kiểm soát là cung cấp thông tin về tình hình thực tế, thông tin chênh lệch giữa thực tế với dự toán của từng bộ phận trong doanh nghiệp,
Trang 1Tôi xin gửi lời cám ơn đến Ban Giám Đốc, các Anh, Chị trong Phòng Kế toán khách sạn Hương Giang đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt những kinh nghiệm thực tế trong công việc Cám ơn Anh, Chị không tiếc thời gian, tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp tôi hoàn thành công việc của mình
Trong giới hạn thời gian thực hiện khóa luận mà kiến thức lại vô cùng rộng lớn nên bài viết không tránh khỏi những sai sót, tôi rất mong được sự thông cảm và tận tình góp ý của Quý Thầy cô cũng như Quý Khách sạn để giúp tôi ngày một hoàn thiện hơn và vững vàng, tự tin hơn trong công tác chuyên môn sau này
Tôi xin chân thành cám ơn!
Huế, ngày 10 tháng 5 năm 2016
Sinh viên thực hiện
Hoàng Thị Lê Hiếu
tế Hu
ế
Trang 2ii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CPQLDN Chi phí quản lý doanh nghiệp
Trang 3DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Tình hình lao động của Khách sạn qua 3 năm (2013 - 2015) 33
Bảng 2.2 Tình hình tài sản và nguồn vốn của Khách sạn qua 3 năm (2013 - 2015) 36
Bảng 2.3 Tình hình kết quả hoạt động kinh doanh của Khách sạn qua 3 năm (2013 - 2015) 39 Bảng 2.4 Giá các loại phòng tại khách sạn Hương giang 48
Bảng 2.5 Giá một số món ăn tại khách sạn Hương Giang 50
Bảng 2.6 Giá một số mặt hàng chuyển bán ở khách sạn Hương Giang 51
Bảng 2.7 Bảng đề xuất điều chỉnh giá dịch vụ Massage 52
Bảng 2.8 Bảng giá thanh toán hướng dẫn viên đề xuất mới 53
Bảng 2.9 Báo cáo kết quả kinh doanh năm 2015 và kế hoạch kinh doanh năm 2016 56 Bảng 2.10 Bảng tổng hợp chi phí chung của Khách sạn 63
Bảng 2.11 Báo cáo kết quả kinh doanh tại Khách sạn Hương Giang 68
Bảng 2.12 Báo cáo doanh thu tại Khách sạn Hương Giang 72
Bảng 2.13 Báo cáo chi phí sản xuất kinh doanh tại Khách sạn Hương Giang 73
Bảng 2.14 Bảng kê doanh thu tại bộ phận massage_sauna 75
Bảng 2.15 Kết quả hoạt động kinh doanh Room tại Khách sạn Hương Giang 76
Bảng 2.16 Kết quả hoạt động kinh doanh F & B tại Khách sạn Hương Giang 77
tế Hu
ế
Trang 4iv
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1 Bộ máy quản lý của Khách sạn Hương Giang 29
Sơ đồ 2.2 Cơ cấu bộ máy kế toán 42
Sơ đồ 2.3 Trình tự ghi sổkế toán theo Hình thức kế toán trên máy vi tính 44
tế Hu
ế
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ii
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU iii
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ iv
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng nghiên cứu 2
4 Phạm vi nghiên cứu 2
5 Phương pháp nghiên cứu 2
6 Kết cấu của khóa luận 3
PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ DOANH THU VÀ KẾT QUẢ KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP 4
1.1 Khái quát về KTQT trong doanh nghiệp 4
1.1.1 Vai trò của KTQT 4
1.1.2 Nội dung cơ bản của KTQT 5
1.1.3 Các phương pháp, kỹ thuật nghiệp vụ sử dụng trong KTQT 6
1.1.4 Phân biệt KTQT và KTTC 7
1.2 Tổ chức KTQT trong doanh nghiệp 8
1.2.1 Tổ chức thu nhận, xử lý, hệ thống hóa, cung cấp thông tin KTQT 8
1.2.2 Tổ chức bộ máy KTQT trong doanh nghiệp 10
1.3 Tổ chức KTQT doanh thu và KQKD trong doanh nghiệp 11
1.3.1 Định giá bán sản phẩm trong doanh nghiệp 11
1.3.1.1 Lý thuyết kinh tế của quá trình định giá sản phẩm 11
1.3.1.2 Phương pháp định giá bán sản phẩm thông thường 12
tế Hu
ế
Trang 6vi
1.3.1.3.Phương pháp định giá bán sản phẩm theo chi phí NVL và chi phí
nhân công 14
1.3.1.4 Xác định giá bán sản phẩm mới 15
1.3.1.5 Định giá bán sản phẩm trong trường hợp đặc biệt 16
1.3.2 Tổ chức KTQT doanh thu 17
1.3.2.1 Doanh thu, phân loại doanh thu 17
1.3.2.2 Nội dung tổ chức KTQT doanh thu 18
1.3.3 Tổ chức KTQT kết quả kinh doanh 22
1.3.3.1 Phương pháp xác định kết quả kinh doanh 22
1.3.3.2 Nội dung tổ chức KTQT kết quả kinh doanh 23
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ DOANH THU VÀ KẾT QUẢ KINH DOANH CỦA KHÁCH SẠN HƯƠNG GIANG RESORT & SPA 26
2.1 Giới thiệu tổng quan về Khách sạn Hương Giang Resort & Spa 26
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Khách sạn Hương Giang 26
2.1.2 Chức năng và nhiệm vụ của Khách sạn Hương Giang 27
2.1.2.1 Chức năng 27
2.1.2.2 Nhiệm vụ 28
2.1.3 Cơ cấu bộ máy quản lý của Khách sạn Hương Giang 28
2.1.3.1 Sơ đồ bộ máy quản lý 28
2.1.3.2 Chức năng, nhiệm vụ của từng chức danh, bộ phận 30
2.1.4 Đặc điểm hoạt động kinh doanh của Khách sạn Hương Giang 32
2.1.5 Tình hình nguồn lực của Khách sạn Hương Giang 33
2.1.5.1 Tình hình nhân lực của Khách sạn qua 3 năm (2013 – 2015) 33
2.1.5.2 Tình hình tài sản và nguồn vốn của Khách sạn qua 3 năm (2013 – 2015) 35 2.1.6 Kết quả hoạt động kinh doanh của Khách sạn qua 3 năm (2013 – 2015) 38 2.1.7 Tổ chức công tác kế toán tại Khách sạn Hương Giang 42
2.1.7.1 Tổ chức bộ máy kế toán 42
2.1.7.2 Tổ chức chế độ kế toán 43
tế Hu
ế
Trang 72.1.7.3 Các chính sách kế toán áp dụng 46
2.1.8 Ảnh hưởng của đặc điểm hoạt động kinh doanh, tổ chức quản lý tại Khách sạn ảnh hưởng đến tổ chức KTQT doanh thu và KQKD 46
2.2 Thực trạng tổ chức KTQT doanh thu, KQKD tại Khách sạn Hương Giang Resort & Spa 47
2.2.1 Vấn đề định giá các dịch vụ tại khách sạn Hương Giang 47
2.2.1.1 Định giá phòng khách sạn Hương Giang 48
2.2.1.2 Định giá sản phẩm ăn uống 48
2.2.1.3 Định giá hàng chuyển bán 50
2.2.1.4 Định giá dịch vụ bổ sung 52
2.2.2 Tổ chức lập dự toán doanh thu và KQKD 53
2.2.3 Công tác KTQT doanh thu tại Khách sạn Hương Giang 58
2.2.4.Công tác KTQT chi phí tại Khách sạn Hương Giang 62
2.2.5 KTQT KQKD tại Khách sạn Hương Giang 66
2.2.6 Tổ chức hệ thống chứng từ, sổ kế toán trong KTQT doanh thu, KQKD tại Khách sạn Hương Giang 69
2.2.7 Tổ chức hệ thống báo cáo KTQT doanh thu và KQKD tại Khách sạn Hương Giang 71
2.2.8 Quản trị doanh thu, chi phí và KQKD theo từng hoạt động kinh doanh 75 2.2.9 Tổ chức bộ máy KTQT tại Khách sạn Hương Giang 78
2.2.10 Công tác hạch toán doanh thu và xác định KQKD tại Khách sạn Hương Giang 78
2.3 Đánh giá thực trạng tổ chức KTQT doanh thu và KQKD tại Khách sạn Hương Giang Resort & Spa 83
2.3.1 Những ưu điểm 84
2.3.2 Những hạn chế 87
CHƯƠNG 3: HOÀN THIỆN TỔ CHỨC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ DOANH THU VÀ KẾT QUẢ KINH DOANH CỦA KHÁCH SẠN HƯƠNG GIANG RESORT & SPA 90
3.1 Ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác kế toán quản trị 90
tế Hu
ế
Trang 8viii
3.2 Hoàn thiện hệ thống báo cáo KTQT doanh thu và XDKQ 90
3.3 Lập dự toán doanh thu, KQKD 91
3.4 Phân loại chi phí phục vụ cho KTQT doanh thu và XDKQ 92
3.5 Phân bổ chi phí chung 93
3.6 Tổ chức vận dụng hệ thống sổ kế toán trong KTQT doanh thu và KQKD 93
3.7 Hoàn thiện công tác KTQT doanh thu, chi phí và KQKD 94
3.8 Hoàn thiện công tác định giá bán sản phẩm, hàng hóa, dịch v ụ 94 PHẦN 3: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 96
1 Kết luận 96
2 Kiến nghị 97
3 Hướng phát triển của đề tài 98
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
PHỤ LỤC
tế Hu
ế
Trang 9PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Lý do chọn đề tài
Kinh doanh khách sạn là một trong những ngành cung cấp lao vụ, dịch vụ phục
vụ nhu cầu sinh hoạt và thỏa mãn nhu cầu đời sống văn hóa, tinh thần của con người Nước ta, trong những năm gần đây hoạt động kinh doanh khách sạn đã phát triển nhanh cả về số lượng lẫn chất lượng Để hoạt động kinh doanh khách sạn có hiệu quả hơn, đòi hỏi phải sử dụng đồng bộ các công cụ quản lý kinh tế, tài chính, trong đó kế toán được xem là công cụ quản lý quan trọng nhất Tuy nhiên, muốn kế toán phát huy một cách tốt nhất chức năng thông tin và kiểm tra của mình, cần phải xây dựng một hệ thống kế toán hoàn chỉnh Với hệ thống kế toán này, thông tin được cung cấp không chỉ hướng vào các quá trình, các sự kiện kinh tế xảy ra mà còn phải hướng đến những diễn biến trong tương lai, nhằm giúp các nhà quản lý doanh nghiệp hoạch định, tổ chức điều hành, kiểm soát và đưa ra những quyết định đúng đắn, phù hợp với các mục tiêu đã xác lập Một hệ thống đáp ứng được nhu cầu thông tin như vậy phải là một hệ thống bao gồm hai phân hệ: kế toán tài chính và kế toán quản trị
Kế toán quản trị, đặc biệt là kế toán quản trị doanh thu và kết quả kinh doanh trong các doanh nghiệp có tầm quan trọng rất lớn trong việc thiết lập hệ thống thông tin một cách trực tiếp và thường xuyên đối với các nhà quản trị, nhưng do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan mà kế toán quản trị doanh thu, kết quả kinh doanh vẫn còn là vấn đề mới mẻ đối với các doanh nghiệp nước ta nói chung và các khách sạn nói riêng Chính vì vậy, việc nghiên cứu hoàn thiện kế toán quản trị doanh thu và kết quả tại khách sạn là vấn đề hết sức cần thiết và có ý nghĩa quan trọng giúp cho các nhà quản trị có thể quản lý và điều hành có hiệu quả hoạt động của khách sạn
Đề tài: “Hoàn thiện tổ chức kế toán quản trị doanh thu và kết quả kinh doanh tại Khách sạn Hương Giang Resort & Spa” được em lựa chọn với mong muốn bổ
sung, tăng cường tính ứng dụng của kế toán quản trị đối với các doanh nghiệp cũng như các khách sạn, góp phần phát triển công tác kế toán quản trị và nâng cao trình độ quản lý, sức cạnh tranh của khách sạn
tế Hu
ế
Trang 102
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Khái quát, hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về kế toán quản trị, mối quan hệ giữa kế toán quản trị và kế toán tài chính Làm sáng tỏ vai trò, nội dung và phương pháp của tổ chức kế toán quản trị doanh thu và kết quả kinh doanh trong doanh nghiệp
- Nghiên cứu và phân tích thực trạng về tổ chức kế toán quản trị doanh thu và kết quả tại Khách sạn Hương Giang Resort & Spa Căn cứ vào kết quả nghiên cứu, khóa luận nêu rõ ưu điểm, tồn tại trong việc tổ chức kế toán quản trị doanh thu và kết quả kinh doanh trong Khách sạn Hương Giang Resort & Spa
- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện tổ chức kế toán quản trị doanh thu và kết quả kinh doanh trong Khách sạn Hương Giang Resort & Spa
3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến tổ chức kế toán quản trị nói chung và tổ chức kế toán quản trị doanh thu và kết quả kinh doanh tại Khách sạn Hương Giang Resort & Spa nói riêng
- Số liệu được thu thập tại phòng Kế toán Khách sạn Hương Giang Resort & Spa trong 3 năm 2013 – 2015 nhằm phân tích tình hình cơ bản của khách sạn, trong đó số liệu năm 2015 được chú trọng để phục vụ cho nội dung chính của đề tài
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập số liệu
Phương pháp nghiên cứu, tham khảo tài liệu: Thông qua tìm hiểu các đề tài khóa luận tốt nghiệp, các chuyên đề có liên quan tới lĩnh vực nghiên cứu, tiến hành tổng
tế Hu
ế
Trang 11hợp, so sánh giữa các đề tài, chắt lọc một số ý kiến hay để tiếp nhân thông tin cần thiết cho bài nghiên cứu
Phương pháp thu thập từ phòng kế toán và các tài liệu liên quan: Tiến hành trao đổi với báo cáo viên về công tác kế toán quản trị nói chung và công tác kế toán quản trị doanh thu và kết quả kinh doanh nói riêng để thu thập được các số liệu cần thiết
- Phương pháp xử lý số liệu
Dựa trên các chứng từ thu thập được, tôi tiến hành tổng hợp, phân loại, so sánh, phân tích số liệu, kết hợp với các lý thuyết đã tìm hiểu được và số liệu thực tế để đưa
ra được những phân tích đánh giá, kết luận cho bài nghiên cứu
6 Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần đặt vấn đề và kết luận thì đề tài bao gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về tổ chức KTQT doanh thu và KQKD trong doanh nghiệp
- Chương 2: Thực trạng tổ chức KTQT doanh thu và KQKD của Khách sạn Hương Giang Resort & Spa
- Chương 3: Hoàn thiện tổ chức KTQT doanh thu và KQKD của Khách sạn Hương Giang Resort & Spa
tế Hu
ế
Trang 124
PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ DOANH THU VÀ KẾT QUẢ KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP
1.1 Khái quát về KTQT trong doanh nghiệp
1.1.1 Vai trò của KTQT
Theo Luật kế toán Việt Nam (khoản 2, điều 3): “Kế toán quản trị là việc thu thập,
xử lý, tổng hợp và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán”
Theo định nghĩa của Hiệp hội kế toán viên quản trị Hoa Kỳ: “Kế toán quản trị là quá trình nhận diện, đo lường, tổng hợp, phân tích, soạn thảo, diễn giải và truyền đạt thông tin được nhà quản trị sử dụng để lập kế hoạch, đánh giá và kiểm tra trong nội bộ
tổ chức và để đảm bảo việc sử dụng hợp lý và có trách nhiệm đối với các nguồn lực cả
tổ chức đó”
Dựa trên những định nghĩa này, ta nhận thấy vai trò của kế toán quản trị được thể hiện tương ứng với từng chức năng của nhà quản trị như sau:
- Vai trò của kế toán quản trị phục vụ chức năng hoạch định là cung cấp thông tin
về tình hình tài chính, tình hình hoạt động của đơn vị, của đối thủ cạnh tranh, điều kiện thị trường, thị hiếu khách hàng và sáng kiến kỹ thuật Thông tin do kế toán quản trị cung cấp rất quan trọng trong việc truyền đạt và hướng dẫn nhà quản trị xây dựng kế hoạch ngắn hạn và dài hạn
- Vai trò của kế toán quản trị phục vụ chức năng tổ chức - điều hành là cung cấp thông tin cho việc xây dựng và phát triển một cơ cấu nguồn lực hợp lý trong doanh nghiệp và những thông tin phát sinh hàng ngày trong doanh nghiệp Thông tin do kế toán quản trị cung cấp phải có tác dụng phản hồi về hiệu quả và chất lượng của các hoạt động đã và đang được thực hiện để giúp nhà quản trị có thể kịp thời điều chỉnh và
tổ chức lại hoạt động của doanh nghiệp
tế Hu
ế
Trang 13- Vai trò của kế toán quản trị phục vụ chức năng kiểm soát là cung cấp thông tin
về tình hình thực tế, thông tin chênh lệch giữa thực tế với dự toán của từng bộ phận trong doanh nghiệp, giúp cho nhà quản trị kiểm soát được việc thực hiện các chỉ tiêu
dự toán và đưa ra các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động trong tương lai
- Vai trò của kế toán quả trị phục vụ chức năng ra quyết định là thu thập, xử lý và cung cấp các thông tin liên quan đến các phương án kinh doanh nhằm giúp cho nhà quản trị lựa chọn phương án tối ưu nhất Đối với các quyết định có tính chiến lược, thông tin do KTQT cung cấp phải hỗ trợ cho nhà quản trị xác định các mục tiêu của tổ chức và đánh giá các mục tiêu đó có thể thực hiện được trên thực tế hay không Đối với các quyết định tác nghiệp, KTQT cung cấp những thông tin để giúp nhà quản trị ra quyết định về sử dụng các nguồn lực của tổ chức và giám sát các nguồn lực đó đã và đang được sử dụng như thế nào
Vai trò của KTQT được thể hiện khác nhau ở mỗi cấp độ quản trị trong tổ chức:
- Ở cấp độ quản trị cấp cơ sở, KTQT cung cấp thông tin phục vụ cho nhà quản trị cấp cơ sở kiểm soát và cải tiến hoạt động tại bộ phận do họ quản lý
- Ở cấp quản trị cấp trung gian, KTQT cung cấp thông tin phục vụ cho nhà quản trị cấp trung gian giám sát và đưa ra quyết định về các nguồn lực như nguyên vật liệu, vốn đầu tư, sản phẩm, dịch vụ và khách hàng,
1.1.2 Nội dung cơ bản của KTQT
Theo “Tài liệu giảng dạy kế toán quản trị” của Th.S Đinh Xuân Dũng, Kế toán quản trị có nội dung rất rộng, sau đây là những nội dung cơ bản:
- Nếu xét theo nội dung các thông tin mà kế toán quản trị cung cấp, có thể khái quát kế toán quản trị doanh nghiệp bao gồm:
+ Kế toán quản trị các yếu tố sản xuất kinh doanh (bao gồm: Hàng tồn kho, tài sản cố định, lao động và tiền lương);
+ Kế toán quản trị chi phí và giá thành sản phẩm;
+ Kế toán quản trị doanh thu và kết quả kinh doanh;
+ Kế toán quản trị về các hoạt động đầu tư tài chính;
+ Kế toán quản trị các hoạt động khác của doanh nghiệp
tế Hu
ế
Trang 146
Trong các nội dung nói trên, trọng tâm của kế toán quản trị là lĩnh vực chi phí Nếu xét quá trình kế toán quản trị trong mối quan hệ với chức năng quản lý, kế toán quản trị bao gồm các khâu:
+ Chính thức hóa các mục tiêu của doanh nghiệp thành các chỉ tiêu kinh tế;
+ Lập dự toán chung và các dự toán chi tiết;
+ Thu thập, cung cấp thông tin về kết quả thực hiện các mục tiêu;
+ Soạn thảo báo cáo kế toán quản trị
Như vậy, thông tin của kế toán quản trị không chỉ là thông tin quá khứ, thông tin thực hiện mà còn bao gồm các thông tin về tương lai (kế hoạch, dự toán ) Mặt khác, thông tin kế toán quản trị không chỉ là các thông tin về giá trị mà còn bao gồm các thông tin khác (hiện vật, thời gian lao động )
1.1.3 Các phương pháp, kỹ thuật nghiệp vụ sử dụng trong KTQT
KTQT là một bộ phận của hệ thống kế toán, nên về nguyên tắc KTQT cũng sử dụng các phương pháp cơ bản giống như KTTC Cụ thể gồm:
- Phương pháp chứng từ kế toán: Là phương pháp kế toán phản ánh các hoạt động kinh tế tài chính phát sinh và hoàn thành theo thời gian và địa điểm phát sinh của chúng vào các bản chứng từ kế toán, phục vụ cho công tác kế toán và công tác quản lý
- Phương pháp đối ứng tài khoản kế toán: Là phương pháp dùng để ghi một nghiệp vụ kinh tế phát sinh vào ít nhất hai tài khoản kế toán có liên quan theo đúng mối quan hệ khách quan giữa các đối tượng kế toán
- Phương pháp tính giá: Là phương pháp kế toán sử dụng thước đo tiền tệ để xác định giá trị thực tế của đối tượng kế toán theo những nguyên tắc nhất định Theo nghĩa rộng, đối tượng tính giá là toàn bộ đối tượng kế toán bao gồm tài sản, nợ phải trả, vốn chủ sở hữu, thu nhập, chi phí và kết quả hoạt động Theo nghĩa hẹp, đối tượng tính giá chỉ bao gồm tài sản, nợ phải trả, vốn chủ sở hữu
- Phương pháp tổng hợp – cân đối kế toán: Là phương pháp kế toán được sử dụng
để tổng hợp số liệu từ các sổ kế toán theo những quan hệ cân đối vốn có của các đối
tế Hu
ế
Trang 15tượng kế toán nhằm cung cấp các chỉ tiêu kinh tế tài chính cho các đối tượng sử dụng thông tin kế toán, phục vụ công tác quản lý các hoạt động của đơn vị
Thông tin KTQT chủ yếu nhằm phục vụ quá trình ra quyết định của các nhà quản trị Thông tin này thường không có sẵn, do đó, KTQT phải vận dụng một số phương pháp nghiệp vụ để xử lý chúng thành dạng phù hợp với nhu cầu của nhà quản trị như: Thiết kế thông tin thành dạng so sánh được; Phân loại chi phí theo các tiêu thức khác nhau nhằm cung cấp thông tin phục vụ cho việc ra các quyết định kinh doanh; Trình bày mối quan hệ giữa các thông tin kế toán theo dạng phương trình; Trình bày các thông tin đó dưới dạng đồ thị
1.1.4 Phân biệt KTQT và KTTC
Theo Bài 1 - “Bài giảng kế toán quản trị” của Th.S Hồ Phan Minh Đức, có phân biệt kế toán quản trị và kế toán tài chính như sau:
Tiêu thức phân biệt Kế toán quản trị Kế toán tài chính
Đối tượng sử dụng thông
Đặc điểm của thông tin
Biểu diễn dưới hình thái giá trị
Phạm vi báo cáo Từng bộ phận, từng khâu
Tính chất bắt buộc của
thông tin và báo cáo
Không tuân thủ các nguyên tắc chung của kế toán
Tuân thủ các nguyên tắc của kế toán (GAAPs)
Kỳ báo cáo Bất kỳ khi nào cần cho nhà
quản lý
Định kỳ hàng tháng, quý, năm
Trang 168
1.2 Tổ chức KTQT trong doanh nghiệp
1.2.1 Tổ chức thu nhận, xử lý, hệ thống hóa, cung cấp thông tin KTQT
Quá trình tổ chức thu nhận, xử lý, hệ thống hóa và cung cấp thông tin thực hiện trong KTQT
Có 4 nội dung cơ bản:
- Tổ chức hệ thống chứng từ kế toán: (có tính chất bắt buộc và hướng dẫn) phù hợp với tính đa dạng của nghiệp vụ kinh tế phát sinh; đảm bảo đầy đủ các yếu tố cần thiết để kiểm tra tính hợp lệ, hợp pháp, tổ chức luân chuyển chứng từ hợp lý và nhanh chóng vừa đảm bảo nguồn thông tin ban đầu quan trọng, vừa là cơ sở kiểm tra và ghi
sổ được nhanh chóng
- Tổ chức hệ thống tài khoản kế toán: Hệ thống tài khoản phụ thuộc vào quy mô kinh doanh của DN, DN kinh doanh nhiều ngành nghề, sản xuất sản phẩm qua nhiều công đoạn, dùng để lập chứng từ, ghi sổ và lập các BCTC và BCQT
- Tổ chức hệ thống sổ kế toán: Theo hình thức kế toán phù hợp với đặc điểm và yêu cầu quản lý của đơn vị có tác dụng quan trọng để phân loại, xử lý và tổng hợp thông tin được nhanh chóng chính xác Dựa vào số liệu đã phản ánh trên các sổ kế toán để lập các BCTC theo qui định chung cũng như lập các báo cáo quản trị nội bộ khác
- Tổ chức hệ thống báo cáo KTQT phục vụ cho chức năng hoạch định, tổ chức thực hiện, đánh giá để đưa ra các quyết định đúng đắn cho đơn vị
Quá trình tổ chức thu nhập thông tin tương lai trong KTQT:
Thông tin tương lai là những thông tin về các hiện tượng và sự kiện chưa xảy ra
Để ra được quyết định nhà quản trị cần rất nhiều thông tin liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau, đồng thời cũng được thu thập theo nhiều cách khác nhau
Nguồn thông tin này kế toán có thể tổ chức thu thập theo quy trình sau:
Sự kiện
kinh tế
Xếp loại và tổng hợp
Báo cáo theo yêu cầu quản lý
Phân tích ảnh hưởng hạch toán, ghi sổ
tế Hu
ế
Trang 17- Theo quy trình này, giai đoạn đầu tiên KTQT phải quan tâm là hoạch định mục tiêu: Nhà quản trị muốn có thông tin đem lại lợi ích thì thông tin đó phải có quan hệ trực tiếp đến vấn đề đặt ra của doanh nghiệp và đòi hỏi phải giải quyết Việc thu thập thông tin sẽ rất tốn kém nếu hoạch định mục tiêu không rõ ràng hay sai lệch
- Lựa chọn nguồn thông tin: Đây là giai đoạn thứ hai KTQT thực hiện để thu thập thông tin tương lai Trong giai đoạn này KTQT phải xác định loại thông tin mà quản trị quan tâm và phương pháp thu thập thông tin có hiệu quả nhất Tuỳ theo đó là thông tin sơ cấp hay thứ cấp hoặc cả hai mà kế toán thu thập, ghi chép và trình bày phù hợp + Thu thập thông tin, số liệu thứ cấp: Thông tin, số liệu thứ cấp là thông tin đã có
ở đâu đó và trước đây đã thu thập cho mục tiêu khác, thông tin này kế toán có thể thu thập từ các báo cáo quản trị nội bộ, BCTC, cũng có thể thu thập từ bên ngoài (như ấn phẩm của cơ quan Nhà nước, tạp chí, sách, dịch vụ tư vấn ).Thu thập thông tin thứ cấp có ưu điểm là chi phí thấp và dễ tìm kiếm song không phải lúc nào cũng có được các thông tin mà nhà quản trị cần và cũng có khi thông tin, số liệu không đầy đủ và lạc hậu không đáng tin cậy cho việc ra quyết định Trong trường hợp đó KTQT sẽ phải phân bổ thêm chi phí và tốn thời gian để thu thập thông tin từ đầu, các số liệu gốc và điều đó sẽ cập nhật và chính xác hơn
+ Thu thập thông tin số liệu sơ cấp: Rất nhiều thông tin tương lai được thu thập
từ đầu mà chưa có ở bất cứ đâu Để thu thập thông tin sơ cấp phải có kế hoạch thu thập, nghiên cứu Kế hoạch này phải thể hiện những nội dung cụ thể như: phương pháp thu thập, công cụ thu thập, mẫu thu thập, cách thức liên hệ
Tuỳ theo nội dung cần thu thập, KTQT sử dụng các phương pháp thu thập và trình bày khác nhau Các phương pháp thu thập thông tin ban đầu là: quan sát, thực nghiệm, thăm dò dư luận ; các kỹ thuật được sử dụng khi thu thập là: phân tích, chọn mẫu, tổng hợp và ước tính
- Xử lý phân tích thông tin: Sau khi thu thập thông tin KTQT tiến hành xử lý thông tin đó thành những thông tin kế toán hữu ích cho mục tiêu và quyết định của nhà quản trị Để xử lý các thông tin này KTQT áp dụng các phương pháp kế toán chung
tế Hu
ế
Trang 181.2.2 Tổ chức bộ máy KTQT trong doanh nghiệp
Theo Thông tư 53/2006/TT-BTC về “Hướng dẫn áp dụng kế toán quản trị doanh nghiệp” Việc tổ chức bộ máy kế toán quản trị của doanh nghiệp phải phù hợp với đặc điểm hoạt động, quy mô đầu tư và địa bàn tổ chức sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, với mức độ phân cấp quản lý kinh tế - tài chính của doanh nghiệp Bộ máy kế toán phải gọn nhẹ, khoa học, hợp lý và hiệu quả cao trong việc cung cấp thông tin cho
bộ máy lãnh đạo của doanh nghiệp
Các doanh nghiệp căn cứ vào các điều kiện cụ thể của mình (quy mô; trình độ cán bộ; đặc điểm sản xuất, kinh doanh, quản lý, phương tiện kỹ thuật ) để tổ chức bộ máy kế toán quản trị theo một trong các hình thức sau:
Hình thức kết hợp: Tổ chức kết hợp giữa kế toán tài chính với kế toán quản trị
theo từng phần hành kế toán: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành, kế toán bán hàng,… Kế toán viên theo dõi phần hành kế toán nào thì sẽ thực hiện cả kế toán tài chính và kế toán quản trị phần hành đó Ngoài ra, doanh nghiệp phải bố trí người thực hiện các nội dung kế toán quản trị chung khác, như: Thu thập, phân tích các thông tin phục vụ việc lập dự toán và phân tích thông tin phục vụ cho việc ra quyết định trong quản trị doanh nghiệp Các nội dung công việc này có thể bố trí cho kế toán tổng hợp hoặc do kế toán trưởng đảm nhiệm
Hình thức tách biệt: Tổ chức thành một bộ phận kế toán quản trị riêng biệt với bộ
phận kế toán tài chính trong phòng kế toán của doanh nghiệp Hình thức này chỉ thích hợp với các doanh nghiệp có quy mô lớn, như: Tổng công ty, tập đoàn kinh tế,
Hình thức hỗn hợp: Là hình thức kết hợp hai hình thức nêu trên như: Tổ chức bộ
phận KTQT chi phí giá thành riêng, còn các nội dung khác thì theo hình thức kết hợp
tế Hu
ế
Trang 191.3 Tổ chức KTQT doanh thu và KQKD trong doanh nghiệp
1.3.1 Định giá bán sản phẩm trong doanh nghiệp
1.3.1.1 Lý thuyết kinh tế của quá trình định giá sản phẩm
Theo “Tài liệu giảng dạy kế toán quản trị” của Th.S Đinh Xuân Dũng:
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, những quyết định của quá trình định giá sản phẩm là những quyết định quan trọng mà các nhà quản trị doanh nghiệp luôn phải xem xét và cố gắng thực hiện sao cho phù hợp với những qui luật khách quan vốn có của nền kinh tế đó là qui luật cung - cầu; qui luật cạnh tranh; qui luật giá trị Chính vì
sự nhận thức không đầy đủ những qui luật vốn có của nền kinh tế thị trường mà một số không ít các nhà quản trị doanh nghiệp cho rằng việc định giá bán của sản phẩm (vật
tư, hàng hoá tiêu thụ) là không cần thiết vì theo họ quan niệm đó là do thị trường tự điều tiết bởi cung - cầu do sự thoả thuận giữa người mua - người bán Nếu chỉ đơn thuần suy nghĩ theo quan điểm đó thì doanh nghiệp khó có thể tồn tại được chứ chưa nói đến khả năng phát triển để không cần quan tâm tới việc xác định giá bán sản phẩm
vì sản phẩm các doanh nghiệp đó sản xuất ra để cạnh tranh trên thị trường với giá đã được xác định sẵn Họ chỉ quan tâm tới khối lượng sản phẩm cần sản xuất đảm bảo đúng chất lượng mà thôi Tuy vậy, ngay cả trong trường hợp này mà doanh nghiệp không có chính sách, quyết định phù hợp cho việc định giá sản phẩm thì khó có thể đạt được mục đích cuối cùng là lợi nhuận tối đa
Giá bán sản phẩm là nhân tố có ảnh hưởng lớn, trực tiếp đến doanh thu, lợi nhuận của doanh nghiệp Chủ DN biết rằng, giá bán sản phẩm cho lợi nhuận tối đa khi mà số chênh lệch dương giữa tổng doanh thu và tổng chi phí là lớn nhất
Tổng doanh thu lớn nhất khi khối lượng tiêu thụ lớn nhất và giá bán đơn vị là cao nhất Còn tổng chi phí ảnh hưởng bởi khối lượng sản phẩm tiêu thụ và chi phí tính cho một đơn vị sản phẩm tiêu thụ
Trong quá trình vận dụng lý thuyết kinh tế của quá trình định giá bán sản phẩm để tăng tổng doanh thu, các chủ doanh nghiệp cần thấy được các vấn đề quan trọng sau đây:
tế Hu
ế
Trang 20- Khối lượng sản phẩm tiêu thụ tăng sẽ làm cho tổng chi phí tăng lên, nhưng không phải hoàn toàn theo mức độ tỷ lệ thuận như nhau
- Doanh nghiệp thực hiện chính sách tăng tổng doanh thu thì thời gian đầu tỷ lệ tăng doanh thu sẽ cao hơn tỷ lệ tăng chi phí Điều mà có nghĩa là sản xuất, tiêu thụ càng nhiều thì càng lãi nhiều Song, tới một mức nhất định tốc độ tăng chi phí sẽ đạt bằng tốc độ tăng tổng doanh thu, khi đó việc sản xuất thêm sản phẩm nhằm mục đích tiêu thụ một khối lượng lớn là phương án cần được xem xét để lựa chọn Phương án này sẽ đảm bảo cho doanh nghiệp thu được lợi nhuận cao nhất với khối lượng sản phẩm tiêu thụ và giá bán hợp lý nhất
Các chủ doanh nghiệp đều có những nhận thức, hiểu biết lý thuyết về quá trình định giá bán sản phẩm dựa vào lý thuyết kinh tế vi mô để định giá bán sản phẩm theo những phương pháp thông thường nhằm mục đích trang trải bù đắp chi phí liên quan đến khối lượng sản phẩm tiêu thụ và đạt được mức độ lợi nhuận mong muốn
1.3.1.2 Phương pháp định giá bán sản phẩm thông thường
Quan điểm đạt được lợi nhuận mong muốn là quan điểm chung của nhiều chủ doanh nghiệp trong việc ra quyết định giá bán sản phẩm theo phương pháp định giá sản phẩm thông thường Nội dung chủ yếu của phương pháp này là việc xác định giá bán sản phẩm trên cơ sở các bộ phận chi phí sau:
- Chi phí gốc (chi phí cơ sở)
- Phần chi phí cộng thêm vào chi phí gốc
Trang 21+ Chi phí để sản xuất, chế tạo sản phẩm (bao gồm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung)
+ Toàn bộ biến phí về sản xuất, tiêu thụ và biến phí quản lý
- Phần chi phí cộng thêm vào chi phí cơ sở để xác định giá bán đó là một tỷ lệ
để đảm bảo cho doanh nghiệp có thể bù đắp tất cả chi phí và thoả mãn mức hoàn vốn mong muốn
Như vậy, chi phí cơ sở để định giá bán sản phẩm thông thường có thể bao gồm các khoản chi phí khác nhau Do vậy có 2 phương pháp định giá bán sản phẩm thông thường:
- Định giá bán sản phẩm dựa vào giá thành sản xuất sản phẩm:
Giá thành sản xuất sản phẩm là toàn bộ các chi phí liên quan đến việc sản xuất, chế tạo sản phẩm hoặc thực hiện lao vụ dịch vụ đã hoàn thành, bao gồm:
+ Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
+ Chi phí nhân công trực tiếp
+ Chi phí sản xuất chung
Căn cứ vào tài liệu do bộ phận kế toán chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm cũng như kết quả đánh giá sản phẩm làm dở cuối kỳ ta sẽ tính được giá thành sản xuất sản phẩm riêng theo từng khoản mục trên Giá thành sản xuất được sử dụng làm chi phí gốc của sản phẩm Căn cứ vào chính sách định giá sản phẩm của doanh nghiệp mà xác định tỷ lệ phần trăm chi phí cộng thêm vào chi phí gốc để xác định giá bán sản phẩm, sao cho bù đắp được phần chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp tính cho sản phẩm hàng hoá tiêu thụ và đạt được mức lãi mong muốn
- Định giá bán sản phẩm dựa vào biến phí trong giá thành toàn bộ của sản phẩm tiêu thụ:
Các chi phí liên quan đến việc sản xuất, tiêu thụ sản phẩm đều có thể phân chia thành định phí và biến phí
Định giá sản phẩm dựa vào chi phí thay đổi trong giá thành toàn bộ sản phẩm tiêu thụ là căn cứ vào các chi phí thay đổi để tính chi phí gốc, bao gồm:
tế Hu
ế
Trang 2214
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
- Chi phí nhân công trực tiếp
- Biến phí chi phí sản xuất chung
- Biến phí chi phí bán hàng
- Biến phí chi phí QLDN
Cũng tương tự như phương pháp định giá sản phẩm dựa vào giá thành sản xuất
ta phải xác định phần chi phí cộng thêm theo một tỷ lệ hợp lý so với chi phí gốc, để có thể bù đắp đủ các định phí về chi phí sản xuất chung, chi phí bán hàng và chi phí QLDN, đồng thời có lãi
1.3.1.3 Phương pháp định giá bán sản phẩm theo chi phí NVL và chi phí nhân công Phương pháp này áp dụng thích hợp với các doanh nghiệp dịch vụ để xác định giá bán dịch vụ (dịch vụ sửa chữa, tư vấn pháp lý )
Định giá dịch vụ gồm 2 bộ phận:
- Định giá chi phí nguyên vật liệu;
- Định giá chi phí nhân công;
Nội dung, trình tự tính toán từng khoản như sau:
- Định giá chi phí nguyên vật liệu trong giá bán, căn cứ vào 3 yếu tố:
+ Giá nguyên vật liệu ghi trên hoá đơn;
+ Phụ phí nguyên vật liệu tính thêm vào giá nguyên vật liệu trên hoá đơn Phần phụ phí nguyên vật liệu được tính bằng cách lấy giá ghi trên hoá đơn nhân với tỷ lệ hợp lý, đó là một tỷ lệ đảm bảo có đủ chi phí bù đắp các khoản chi phí về giấy tờ, văn phòng phẩm, chi phí phục vụ, chi phí lưu kho, lưu bãi
+ Mức lợi nhuận tính cho chi phí nguyên vật liệu đó
- Định giá chi phí nhân công trong giá bán cũng được xác định tương tự như đối với nguyên vật liệu, bao gồm:
tế Hu
ế
Trang 23+ Chi phí nhân công trực tiếp;
+ Phần phụ phí bù đắp chi phí khác;
+ Phần tính theo lợi nhuận mong muốn về chi phí nhân công
Phần chi phí nhân công trong số sản phẩm dịch vụ bán được căn cứ vào số giờ công tính bình quân cho một đơn vị sản phẩm dịch vụ và đơn giá chi phí nhân công trong giá bán
1.3.1.4 Xác định giá bán sản phẩm mới
Sản phẩm mới hiểu theo nghĩa rộng bao gồm những sản phẩm chưa có trên thị trường hoặc những sản phẩm tương tự như sản phẩm đã có (đối với các doanh nghiệp sản xuất chế tạo lần đầu) nhưng khác về mẫu mã, thay đổi về chất lượng
Đối với những sản phẩm mới chưa hề xuất hiện trên thị trường thì việc định giá bán chúng đối với các doanh nghiệp là việc làm khó khăn, có tính chất thách thức và không chắc chắn, vì không thể có được những thông tin chắc chắn tin cậy về khả năng tiêu dùng, về thị hiếu hay về khả năng thay thế cho những sản phẩm cũ Mục đích của các doanh nghiệp khi chế tạo, sản xuất sản phẩm mới là để chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ mới, để có độc quyền trong một thời gian nhất định để đạt tới mục đích cuối cùng lợi nhuận tối đa Song, sản xuất ra có bán được hay không, bán với giá nào, khả năng tiêu thụ nhiều hay ít? Có biết bao câu hỏi đặt ra đối với các chủ doanh nghiệp Nhưng một trong những vấn đề được quan tâm hơn cả là bán với giá nào? Do vậy việc xác định giá bán đối với sản phẩm mới là công việc có ý nghĩa quan trọng và phức tạp Với cách định giá bán sản phẩm mới cao rồi giảm dần, nếu thực hiện được thì các chủ doanh nghiệp sẽ đạt được lợi nhuận tối đa trong một thời gian ngắn hạn Cho tới khi giá bán giảm dần thì những khoản lợi nhuận tối đa mà doanh nghiệp đã thu được, cũng đã làm hài lòng họ Mặt khác, với người tiêu dùng việc giảm dần giá bán
sẽ dễ chấp nhận hơn là việc tăng giá bán
Tuy nhiên, trong thực tế có nhiều doanh nghiệp khi định giá bán sản phẩm mới lại theo một chiến lược định giá khác tức là giá bán sản phẩm mới lúc đầu xây dựng ở mức độ vừa phải có thể trang trải bù đắp được các chi phí và có lãi nhất định Sau đó
tế Hu
ế
Trang 2416
khi mà sản phẩm mới đã trở thành thông dụng, đã chiếm lĩnh được thị trường thì họ sẽ tăng giá dần lên, nhằm thu được lợi nhuận nhiều hơn Nhưng, vì tâm lý của người tiêu dùng việc tăng giá dần để đạt lợi nhuận cao hơn của những thời gian sau nhiều khi lại khó thực hiện được, vì khi đó sức cạnh tranh có thể bị giảm sút, vì sản phẩm đó thông dụng, nhiều nhà sản xuất khác sẽ lao vào sản xuất, điều này tất sẽ dẫn đến việc sản xuất, tiêu thụ gặp khó khăn
Như vậy, đối với sản phẩm mới dù định giá bán cao rồi giảm dần, hay thấp rồi cao dần đều nhằm mục đích cuối cùng là lợi nhuận tối đa Định giá theo phương pháp nào tuỳ thuộc, chịu ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố khác nhau Doanh nghiệp cần phải thật năng động trong việc nghiên cứu, tìm kiếm thị trường, biết được khả năng cạnh tranh, chiếm lĩnh thị trường của mình để có được chiến lược định giá bán sản phẩm mới hợp lý nhất
1.3.1.5 Định giá bán sản phẩm trong trường hợp đặc biệt
Ngoài các trường hợp định giá bán sản phẩm đã trình bày ở trên, doanh nghiệp cần phải có quyết định định giá sản phẩm trong trường hợp đặc biệt, không bình thường sau đây:
- Thị trường tiêu thụ mới
- Khách hàng nước ngoài
- Khối lượng đơn đặt hàng nhiều
Trong trường hợp đặc biệt nêu trên, đòi hỏi các doanh nghiệp phải nghiên cứu, đánh giá đúng được năng lực sản xuất, khả năng cạnh tranh và những khó khăn của mình để có thể dành được những hợp đồng, thị trường tiêu thụ mới với khối lượng lớn
Từ đó mà có chính sách định giá sản phẩm cho hợp lý
Thường các doanh nghiệp phải xác định được mức giá thấp nhất để có thể bù đắp, trang trải được những biến phí về chi phí sản xuất sản phẩm, biến phí chi phí bán hàng, biến phí chi phí quản lý doanh nghiệp
Sau đó doanh nghiệp phải xác định được phạm vi giá linh hoạt tức là phần tiền cộng thêm vào chi phí gốc (mức giá thấp nhất) để có thể bù đắp được phần định phí chi phí bán hàng, định phí chi phí QLDN và có được lợi nhuận mong muốn
tế Hu
ế
Trang 251.3.2 Tổ chức KTQT doanh thu
1.3.2.1 Doanh thu, phân loại doanh thu
Doanh thu
Theo chuẩn mực số 14 “Doanh thu và thu nhập khác”:
Doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn sở hữu
Phân loại doanh thu
Tùy theo từng loại hình hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp có các loại doanh thu và thu nhập sau:
- Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ: Là tổng giá trị được thực hiện do việc bán hàng và cung cấp dịch vụ trong một kỳ kế toán của hoạt động SXKD Tổng số doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là số tiền ghi trên hóa đơn bán hàng, trên hợp đồng cung cấp lao vụ, dịch vụ
- Doanh thu hoạt động tài chính: Là số tiền lãi, tiền bản quyền, cổ tức, lợi nhuận được chia và thu từ những hoạt động tài chính khác của doanh nghiệp
- Thu nhập khác: Là các khoản thu nhập được tạo ra từ các hoạt động khác ngoài hoạt động kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, như: Thu nhập từ thanh lý, nhượng bán TSCĐ, vi phạm hợp đồng, vi phạm pháp luật, các khoản nợ khó đòi, ghi nhầm, bỏ sót, gian lận, trốn lậu thuế…
Căn cứ vào phương thức bán hàng, doanh thu còn được chia thành:
- Doanh thu bán hàng thu tiền ngay: Là số tiền doanh nghiệp thu được ngay sau khi cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho khách hàng
- Doanh thu bán chịu: Là giá trị được thực hiện do việc cung cấp hàng hóa, dịch
vụ cho khách hàng nhưng chưa thu được tiền
- Doanh thu bán hàng trả chậm, trả góp: Là lợi ích kinh tế thu được từ việc bán hàng nhưng khách hàng không thanh toán toàn bộ tiền khi mua hàng mà thanh toán
tế Hu
ế
Trang 2618
dần thành nhiều lần sau đó
- Doanh thu bán hàng đại lý: Là lợi ích kinh tế thu được từ việc gửi hàng cho đơn
vị đại lý bán hộ, khi bán được hàng doanh nghiệp sẽ trả cho đại lý một khoản hoa hồng tính theo phần trăm trên giá bán (hay giá thanh toán) của số hàng bán được
- Doanh thu chưa thực hiện (nhận được): Số tiền của khách hàng đã trả trước cho một hoặc nhiều kỳ kế toán về phần công việc mà doanh nghiệp chưa thực hiện
Ngoài ra căn cứ vào yêu cầu quản trị DN doanh thu còn được chia thành:
- Doanh thu bán ra ngoài: Là lợi ích kinh tế thu được từ việc bán hàng và cung cấp dịch vụ cho các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp
- Doanh thu tiêu thụ nội bộ: Là lợi ích kinh tế thu được từ việc bán hàng và cung cấp dịch vụ nội bộ giữa các đơn vị trực thuộc hạch toán phụ thuộc trong cùng một doanh nghiệp tính theo giá nội bộ
- Doanh thu xuất khẩu: Là lợi ích kinh tế thu được từ việc bán hàng và cung cấp dịch vụ cho các đối tượng bên ngoài quốc gia mà doanh nghiệp đang thực hiện hoạt động SXKD
- Doanh thu nội địa: Là lợi ích kinh tế thu được từ việc bán hàng và cung cấp dịch vụ cho các đối tượng bên trong lãnh thổ quốc gia mà doanh nghiệp đang thực hiện hoạt động SXKD
1.3.2.2 Nội dung tổ chức KTQT doanh thu
Lập dự toán tiêu thụ sản phẩm
Theo “Tài liệu giảng dạy kế toán quản trị” của Th.S Đinh Xuân Dũng:
Dự toán là các kế hoạch chi tiết mô tả việc huy động và sử dụng các nguồn lực của DN trong một khoảng thời gian nhất định Dự toán tiêu thụ sản phẩm được lập trên
cơ sở dự báo sản phẩm tiêu thụ Nhiều yếu tố thường được xem xét khi dự báo sản phẩm tiêu thụ:
- Số lượng sản phẩm tiêu thụ của các kỳ trước và xu hướng biến động của nó;
- Các đơn đặt hàng chưa thực hiện;
tế Hu
ế
Trang 27- Chính sách giá trong tương lai, chiến lược tiếp thị để mở rộng thị trường, hoạt động nghiên cứu và phát triển;
- Sự cạnh tranh: Dự đoán hành động của đối thủ cạnh tranh, dự đoán nhu cầu của thị trường về những sản phẩm thay thế;
- Xu hướng chung của nền kinh tế, sự thay đổi về tổng sản phẩm xã hội, công ăn việc làm, giá cả và thu nhập trên đầu người
- Tình hình kinh tế của ngành mà doanh nghiệp đang hoạt động;
- Những yếu tố khác: sự kiện chính trị, môi trường pháp lý
Dự toán tiêu thụ là nền tảng để lập các dự toán khác của doanh nghiệp, vì vậy đòi hỏi các doanh nghiệp phải tìm hiểu nhu cầu, thị hiếu của khách hàng, kết hợp với năng lực của mình để lên kế hoạch và lập dự toán
Kết quả sản phẩm tiêu thụ của kỳ trước được sử dụng như điểm bắt đầu của việc
dự toán sản phẩm tiêu thụ Người lập kế hoạch sẽ dự đoán được số lượng sản phẩm tiêu thụ trong mối quan hệ với các yếu tố trên Đánh giá đúng đắn các yếu tố sẽ làm cho dự toán tiêu thụ sản phẩm vừa mang tính tiên tiến, lại vừa mang tính hiện thực, phù hợp với khả năng thực hiện của nhà quản trị
Dự toán tiêu thụ được lập dựa trên mức tiêu thụ ước tính và đơn giá bán dự kiến: Doanh thu dự toán = Số lượng sản phẩm tiêu thụ dự kiến x Đơn giá bán dự kiến
Tổ chức hệ thống sổ sách, tài khoản trong KTQT doanh thu
Các nhà quản trị doanh nghiệp luôn cần thiết thông tin một cách chi tiết cụ thể về chi phí, doanh thu và kết quả của từng loại hoạt động, từng loại sản phẩm, lao vụ dịch
vụ để đáp ứng yêu cầu quản lý vĩ mô, để có được những quyết định đúng đắn cho sự phát triển doanh nghiệp không chỉ trong thời gian hiện tại mà cả về tương lai lâu dài Việc kế toán chi tiết chi phí, doanh thu và kết quả sẽ giúp các chủ doanh nghiệp quyết định nên mở rộng hay thu hẹp quy mô hoạt động, mở rộng, thu hẹp như thế nào, tới mức độ nào hay đình chỉ, quyết định SXKD hay chuyển hướng hoạt động
tế Hu
ế
Trang 2820
Việc hạch toán doanh thu bán hàng phải tôn trọng nguyên tắc chi phí và doanh thu của hoạt động sản xuất kinh doanh thực tế phát sinh, phải phù hợp theo niên độ kế toán Riêng đối với những sản phẩm, dịch vụ doanh nghiệp đã cung cấp cho khách hàng và được khách hàng trả trước một lần cần hạch toán riêng thành khoản doanh thu nhận trước, sau đó sẽ tính toán kết chuyển số doanh thu tương ứng từng kỳ vào khoản doanh thu bán hàng
Căn cứ vào yêu cầu quản trị kinh doanh mà việc KTQT cần được thực hiện trên các Tài khoản, sổ kế toán phù hợp với loại hình, đặc điểm hoạt động SXKD của DN
Sổ chi tiết doanh thu được mở riêng cho từng hoạt động, từng hàng hóa, dịch vụ Tùy theo yêu cầu quản trị doanh thu của từng doanh nghiệp mà sổ chi tiết có thể mở theo kết cấu không hoàn toàn giống nhau Tuy nhiên, các sổ chi tiết doanh thu phải đảm bảo được các nội dung chính sau: Ngày tháng ghi sổ; Số liệu và ngày lập chứng từ; Tóm tắt nội dung chứng từ; Tài khoản đối ứng; Số lượng, đơn giá, thành tiền của sản phẩm hàng hóa dịch vụ tiêu thụ; Các khoản giảm trừ doanh thu
Theo chuẩn mực số 14 “Doanh thu và thu nhập khác”: Tài khoản 511 – doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ được sử dụng để phản ánh doanh thu của DN Để theo dõi chi tiết, tài khoản này được mở thành các tài khoản cấp 2, cấp 3… tương ứng tùy theo yêu cầu quản trị của mỗi DN như: TK 5111 – doanh thu bán hàng hóa; TK
5112 – doanh thu bán sản phẩm; TK 5113 – doanh thu cung cấp dịch vụ; TK 5114 – doanh thu trợ cấp, trợ giá TK 5117– doanh thu kinh doanh bất động sản; TK 5121 – doanh thu bán hàng hóa trong nội bộ; TK 5122 – doanh thu bán sản phẩm trong nội bộ; TK 5123 – doanh thu cung cấp dịch vụ trong nội bộ; TK 5151 – doanh thu tiền lãi;
TK 5152 – doanh thu tiền bản quyền; TK 5153 – doanh thu cổ tức; TK 5154 – lợi nhuận được chia,…
Ngoài ra, kế toán còn sử dụng các tài khoản khác như: TK 157, TK 111, TK 112,
TK 131, TK 3331,… để theo dõi doanh thu tại khách sạn
Với các Tài khoản quản trị nêu trên tùy theo từng yêu cầu quản lý, cụ thể của doanh nghiệp có thể mở chi tiết cụ thể bởi theo yêu cầu, ví dụ:
tế Hu
ế
Trang 29TK 5111 mở thành TK 51111 – doanh thu hàng hóa A
TK 5151 mở thành TK 51511 – lãi cho vay
Trường hợp khách hàng thanh toán trước thời hạn quy định hoặc vì một lý do ưu đãi nào đó mà được doanh nghiệp giảm trừ sẽ được thanh toán riêng thành khoản chiết khấu bán hàng, đồng thời theo dõi khoản chiết khấu này riêng biệt cho từng hoạt động tiêu thụ: hàng hóa, thành phẩm và cung cấp dịch vụ
Mục tiêu của việc tiêu thụ, bán hàng là thu được tiền để bù đắp trang trải các chi phí liên quan đến việc sản xuất, chế tạo sản phẩm hay cung cấp dịch vụ và các chi phí liên quan trong quá trình bán hàng, chi phí QLDN Do vậy cùng với việc thúc đẩy quá trình tiêu thụ sản phẩm hàng hóa, dịch vụ là quá trình thu hồi kịp thời số tiền mà khách hàng phải trả về những sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ doanh nghiệp đã cung cấp Việc theo dõi, kiểm tra và đôn đốc khách hàng thanh toán kịp thời có ảnh hưởng lớn đến quá trình thu hồi vốn để tiếp tục sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Do vậy đối với những khách hàng cò nợ DN, cũng cần phải tổ chức kế toán chi tiết riêng theo từng khách hàng trên các tài khoản, sổ kế toán liên quan
Toàn bộ số tiền còn phải thu của khách hàng cũng như tình hình thanh toán của khách hàng được phản ánh tổng hợp trên TK 131 – Phải thu của khách hàng Song, các doanh nghiệp phải mở chi tiết TK 131 thành các TK cấp 2 riêng chi từng khách hàng, thí dụ: TK 1311 – Thanh toán với khách hàng X; TK 1312 – Thanh toán với khách hàng Y Việc theo dõi chi tiết theo từng khách hàng, người mua trên sổ chi tiết thanh toán với người mua giúp cho doanh nghiệp biết được số tiền còn phải thu đối với từng khách hàng, thông qua đó mà có biện pháp đôn đốc kịp thời, để thu hồi đủ
tế Hu
ế
Trang 3022
1.3.3 Tổ chức KTQT kết quả kinh doanh
1.3.3.1 Phương pháp xác định kết quả kinh doanh
Theo “Tài liệu giảng dạy kế toán quản trị” của Th.S Đinh Xuân Dũng:
KQKD của DN sau một thời kỳ hoạt động (thường là một năm) là chênh lệch giữa đầu ra và đầu vào của hoạt động SXKD Tuy nhiên số chênh lệch đó chỉ mới nói lên kết quả lãi (lỗ) tổng hợp của toàn bộ hoạt động SXKD
Do hoạt động SXKD của doanh nghiệp gồm nhiều loại hoạt động khác nhau nên kết quả kinh doanh của doanh nghiệp trước hết được chia thành 3 loại:
- Kết quả hoạt động SXKD thông thường: Kết quả tiêu thụ sản phẩm, kinh doanh mua bán vật tư hàng hóa cung cấp thực hiện lao vụ dịch vụ
Kết quả hoạt động SXKD thông thường là số chênh lệch giữa doanh thu bán hàng trừ đi các khoản: giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng và chi phí QLDN
Và để phù hợp và thuận tiện cho việc tổng hợp số liệu lập các chỉ tiêu trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh thì kết quả hoạt động SXKD thông thường được xác định theo trình tự sau:
Chi phí QLDN
Trang 31- Kết quả hoạt động tài chính:
Kết quả hoạt động tài chính là lợi nhuận từ hoạt động về đầu tư chứng khoán, cho vay, kinh doanh bất động sản Là số chênh lệch giữa doanh thu (thu nhập hoạt động tài chính) với chi phí về hoạt động tài chính
- Kết quả bất thường: Đây là số chênh lệch giữa doanh thu bất thường và chi phí bất thường
Tuy nhiên, kết quả kinh doanh được xác định như trên chỉ mới thể hiện số tổng hợp về thu nhập, chi phí Đối với các nhà quản trị doanh nghiệp, ngoài kết quả chung
đó còn rất cần các số liệu, thông tin kế toán về kết quả của từng loại hoạt động và trong từng loại hoạt động lại cần biết cụ thể hơn kết quả lãi (lỗ) cho từng loại, từng nhóm lao vụ, dịch vụ,… Nhà quản trị doanh nghiệp cần cán bộ kế toán cung cấp đầy
đủ thông tin về doanh thu, giá thành, CPQLDN, CPBH của từng loại sản phẩm, từng dịch vụ,… Qua đó họ đưa ra được những quyết định cho phù hợp: sản xuất tiếp không,
mở rộng hay thu hẹp quy mô, chuyển hướng SXKD, đầu tư cho vay hay sản xuất, Để thỏa mãn những yêu cầu đó cần thiết phải tổ chức KTQT kết quả kinh doanh
1.3.3.2 Nội dung tổ chức KTQT kết quả kinh doanh
Việc tổ chức kế toán quản trị kết quả kinh doanh của từng mặt hàng, sản phẩm, từng loại lao vụ dịch vụ cần phải được tiến hành một cách đồng bộ và bắt đầu từ khâu tổ chức kế toán chi tiết chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm để xác đinh được trị giá vốn hàng bán, tới việc kế toán doanh thu, thu nhập và việc phân bổ chi phí thời kỳ (chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp
Trong từng khâu cần phải tổ chức hệ thống chứng từ, tài khoản và sổ kế toán chi tiết để có thể tập hợp những số liệu, thông tin liên quan mà xác định được chi tiết KQKD từng mặt hàng sản phẩm, từng lao vụ dịch vụ
Trị giá vốn hàng bán có thể được tính theo những phương pháp khác nhau, tùy thuộc vào đặc điểm hình thành và sự vận động của hàng bán trong từng loại hình doanh nghiệp và việc đăng ký phương pháp tính trị giá thực tế hàng xuất kho của doanh nghiệp
tế Hu
ế
Trang 32Đối với các khoản giảm từ doanh thu: Giảm giá hàng bán, doanh thu hàng bán bị trả lại và thuế xuất khẩu (nếu có) cũng phải được tổ chức kế toán chi tiết trên cơ sở các chứng từ gốc hợp lý để ghi sổ kế toán chi tiết theo từng mặt hàng sản phẩm, lao vụ, dịch vụ
Để kế toán quản trị kết quả kinh doanh của từng mặt hàng, sản phẩm, từng loại lao vụ dịch vụ, doanh nghiệp có thể mở kết hợp cả sổ chi tiết doanh thu và sổ chi tiết kết quả kinh doanh thành một sổ "Sổ chi tiết tiêu thụ và kết quả" như mẫu sau:
SỔ CHI TIẾT TIÊU THỤ, KẾT QUẢ
Tên sản phẩm (hàng hoá, dịch vụ)
Thành
tiền
Chứng từ
Nội dung TK ĐƯ
Doanh thu Các khoản tính trừ
giá
Thành tiền Khác
Thuế tiêu thụ
Cộng phát sinh Doanh thu thuần Giá vốn hàng bán Lãi gộp
tế Hu
ế
Trang 33Việc kế toán quản trị thu nhập, chi phí và kết quả từng nghiệp vụ đối với hoạt động tài chính và các nghiệp vụ bất thường cũng được tiến hành trên cơ sở các chứng
từ gốc và sổ kế toán chi tiết được mở phù hợp với yêu cầu quản trị doanh nghiệp Với việc tổ chức kế toán chi tiết doanh thu và kết quả kinh doanh từng hoạt động, từng mặt hàng, sản phẩm, lao vụ, dịch vụ các nhà quản trị doanh nghiệp có thể thực hiện việc phân tích, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch doanh thu và kế hoạch lợi nhuận cũng như việc xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố: Khối lượng sản phẩm tiêu thụ, kết cấu mặt hàng, giá thành sản phẩm đến lợi nhuận của doanh nghiệp từ đó mà ra được các quyết định phù hợp cho sự phát triển SXKD của DN
Từ đó ta có công thức tính KQKD của từng loại sản phầm, từng lao vụ, dịch vụ là:
Với nội dung và cách xác định kết quả kinh doanh theo góc độ quản trị doanh nghiệp cần thiết phải đảm bảo các yêu cầu sau:
- Tổ chức kế toán quản trị theo yêu cầu cụ thể của doanh nghiệp
- Tổ chức kế toán quản trị theo từng nội dung, yếu tố cấu thành để xác định kết quả về doanh thu, các khoản giảm trừ giá vốn, các chi phí phân bổ
- Tổ chức tốt hệ thống chứng từ, tài khoản, sổ kế toán một cách chi tiết để có được thông tin cần thiết cho việc xác định kết quả
- Thực hiện phân bổ các chi phí theo tiêu thức phân bổ hợp lý tức là phải đảm bảo được quan hệ tỷ lệ thuận giữa số chi phí cần phân bổ với tổng các tiêu chuẩn phân bổ
Các khoản giảm trừ doanh thu của từng sản phẩm, dịch vụ
Giá vốn hàng bán của từng sản phẩm, dịch vụ
Chi phí bán hàng phân bổ cho từng sản phẩm, dịch vụ
Chi phí quản lý doanh nghiệp phân bổ cho từng sản phẩm, dịch vụ
Trang 3426
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ
DOANH THU VÀ KẾT QUẢ KINH DOANH CỦA KHÁCH SẠN HƯƠNG GIANG RESORT & SPA
2.1 Giới thiệu tổng quan về Khách sạn Hương Giang Resort & Spa
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Khách sạn Hương Giang
Khách sạn Hương Giang Resort & Spa tọa lạc tại trung tâm thành phố Huế, bên cạnh dòng sông Hương thơ mộng
Khách sạn Hương Giang nguyên là một câu lạc bộ sĩ quan của chế độ cũ với cơ
sở vật chất nghèo nàn lạc hậu Sau khi hòa bình lập lại năm 1976, khách sạn đi vào hoạt động trở lại Đến tháng 10 năm 1987, khách sạn trực thuộc Công ty Du lịch Bình Trị Thiên Từ tháng 10 năm 1987 đến tháng 10 năm 1994, khách sạn là đơn vị hạch toán nội bộ thuộc Công ty Du lịch Thừa Thiên Huế Từ tháng 10 năm 1994 đến tháng
10 năm 1996 là doanh nghiệp Nhà nước có thêm Công ty Khách sạn Hương Giang Từ tháng 11 năm 1996 đến tháng 12 năm 2007 là đơn vị hạch toán phụ thuộc trực thuộc Công ty Du lịch Hương Giang Từ tháng 11 năm 2008 đến tháng 9 năm 2010 trực thuộc Công ty Du lịch Hương Giang Từ tháng 10 năm 2010 đến nay là đơn vị hoạt động theo mô hình Chi nhánh Công ty Cổ phần Du lịch Hương Giang
Tháng 5 năm 2009, Khách sạn Hương Giang đã được Tổng cục Du lịch tái công nhận là khách sạn đạt tiêu chuẩn 4 sao đồng thời cho phép đổi tên từ Khách sạn Hương Giang thành Khách sạn Hương Giang Resort & Spa
Quá trình hình thành và phát triển, từ một đơn vị có cơ sở vật chất nghèo nàn đến nay khách sạn đã có 165 phòng ngủ với 315 giường phân bổ ở các khu: khu A 34 phòng, khu B 50 phòng và khu C 81 phòng Trong đó có 16 phòng giường đôi, 149 phòng 2 giường đơn và 1 phòng một giường đơn 105 phòng tiêu chuẩn, 45 phòng tiêu chuẩn hướng sông, 4 phòng gia đình, 9 phòng đặc biệt và 2 phòng đặc biệt cao cấp Cơ
sở Morin Bạch Mã và biệt thự Nguyễn Văn Lễ có 12 phòng với 20 giường
tế Hu
ế
Trang 35Về dịch vụ bổ sung có quầy Lobby bar, bar Hoa Mai và Dragon smile bar, dịch
vụ sauna và massage bên trong và sân vườn Dịch vụ cắm hoa nghệ thuật, beauty salon, phòng tập thể dục, bể bơi, dịch vụ giặt là, dịch vụ vận chuyển du lịch với 8 xe từ
4 đến 45 chỗ và dịch vụ trò chơi có thưởng dành cho người nước ngoài (E-casino)
Có thể nói với một cơ sở vật chất, trang thiết bị phương tiện như trên, khách sạn Hương Giang Resort & Spa cơ bản đã được hoàn thiện, đủ khả năng cạnh tranh và phát triển trong thị trường kinh doanh du lịch trên địa bàn, ổn định việc làm và thu nhập cho người lao động
2.1.2 Chức năng và nhiệm vụ của Khách sạn Hương Giang
2.1.2.1 Chức năng
Trải qua quá trình hình thành và phát triển, hiện nay khách sạn Hương Giang đã trở thành một đơn vị kinh doanh du lịch tổng hợp phục vụ nhu cầu của khách du lịch Việc cung cấp những sản phẩm dịch vụ theo nhu cầu của khách hàng luôn được khách sạn đáp ứng đầy đủ với chất lượng cao, tạo được niềm tin từ khách hàng
Hiện nay, khách sạn tổ chức kinh doanh nhiều hoạt động khác nhau như: dịch vụ lưu trú, dịch vụ ăn uống, dịch vụ vận chuyển, lữ hành quốc tế và nội địa, dịch vụ vui chơi giải trí, massage spa, dịch vụ bán hàng lưu niệm và các dịch vụ du lịch khác
tế Hu
ế
Trang 36- Công tác tài chính: Bảo toàn và phát triển nguồn vốn được giao, tạo ra hiệu quả kinh tế xã hội, thúc đẩy khách sạn ngày một phát triển
2.1.3 Cơ cấu bộ máy quản lý của Khách sạn Hương Giang
2.1.3.1 Sơ đồ bộ máy quản lý
Cơ cấu tổ chức của khách sạn Hương Giang Resort & Spa được trình bày thể hiện qua sơ đồ 2.1
tế Hu
ế
Trang 37Sơ đồ 2.1 Bộ máy quản lý của Khách sạn Hương Giang
Massage
Bê bơi Cắt tóc
Tổ mộc nề
Tổ cây cảnh
Kho vật liệu
Tổ VSCC
BP
Lễ tân
BP Bảo trì
BP Buồng
Đội xe vận chuyển
Nhà hàng
Dịch vụ tổng hợp
Tổ bếp bánh
Tổng Giám Đốc
Phòng tổ chức hành chínhPhòng kinh doanh
Phó TGĐ phụ trách nhà hàng
Phòng kế toán
tế Hu
ế
Trang 3830
2.1.3.2 Chức năng, nhiệm vụ của từng chức danh, bộ phận
Tổng Giám Đốc khách sạn là người có quyền hành và trách nhiệm cao nhất,
điều hành trực tiếp hoạt động kinh doanh của khách sạn, theo dõi kiểm tra việc thực hiện của từng bộ phận dưới sự lãnh đạo của Tổng Giám Đốc công ty Tổng Giám Đốc
có trách nhiệm vạch ra các mục tiêu kinh doanh, tổ chức tốt các hoạt động quản lý khách sạn, có quyền phê duyệt các kế hoạch bồi dưỡng, quản lý, tuyển chọn, đền bạt
và kỷ luật đối với cán bộ công nhân viên cũng như việc quản lý tài sản, chất lượng phục vụ và thực hiện nhiệm vụ kế hoạch được giao
Phó TGĐ phụ trách nhà hàng giúp TGĐ điều hành quản lý hoạt động kinh
doanh ẩm thực của khách sạn, vạch ra phương hướng kinh doanh dịch vụ ăn uống, đồng thời chịu trách nhiệm về KQKD của bộ phận này, đề ra các quy chế, điều lệ, quy trình và tiêu chuẩn thao tác các dịch vụ ăn uống, kiểm tra đôn đốc việc thực hiện
Phó TGĐ phụ trách lưu trú chịu trách nhiệm điều hành, quản lý bộ phận tân lễ,
phòng buồng Hằng ngày phải nắm được thông tin về tình trạng phòng và dự tính về kế hoạch cho thuê phòng trong tuần mới Nhận các thông tin từ các tổ chức khác, đồng thời có trách nhiệm xác nhận các khoản thanh toán từ lễ tân, giải quyết các khiếu nại từ khách hàng nếu có
Phòng tổ chức hành chính giúp TGĐ về công tác tổ chức nhân sự của khách sạn
bao gồm các công việc như: quản lý hồ sơ nhân sự, ký kết hợp đồng lao động, theo dõi các hoạt động thi đua khen thưởng hàng tháng, hàng quý, theo dõi quản lý các biện động về nhân sự Làm công tác tiền lương, tiền thưởng, quản lý công tác bồi dưỡng và đào tạo cán bộ công nhân viên
Phòng kế toán tham mưu cho TGĐ quản lý tốt về mặt tài chính, thực hiện các
nghiệp vụ kinh tế theo đúng quy định của pháp luật, giúp TGĐ quản lý thu chi từ khách sạn, quản lý vật tư thiết bị, tài sản của khách sạn, hạch toán kế toán, kiểm soát chi tiêu Đồng thời kết hợp với các phòng ban khác tiến hành kiểm tra đánh giá phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh
tế Hu
ế
Trang 39Phòng kinh doanh tham mưu và thông tin cho Ban Giám Đốc hoạch định chiến
lược trong kinh doanh cũng như triển khai và kiểm tra tình hình thực hiện các kế hoạch kinh doanh của khách sạn Tổ chức thực hiện các chương trình tiếp thị, tìm kiếm nguồn khách, xúc tiến bán tour, bán tiệc và đảm bảo công tác nghiên cứu và phát triển thị trường
Phòng kế hoạch vật tư tham mưu cho TGĐ về việc lập kế hoạch, đầu tư mở
rộng cơ sở vật chất của khách sạn; xét duyệt và thông qua các đề xuất mua hàng hóa, TSCĐ, công cụ dụng cụ, thiết bị vật tư trước khi trình TGĐ ký duyệt
Bộ phận lễ tân là nơi đón tiếp khách, nhận đăng kí phòng cho khách lưu trú Đây
là nơi khách hàng làm thủ tục nhận, trả phòng, làm các hóa đơn thanh toán, đổi tiền, cung cấp các thông tin cần thiết mỗi khi khách có yêu cầu; tiếp nhận các khiếu nại của khách hàng kịp thời phản hồi cho các bộ phận
Bộ phận dịch vụ tổng hợp thực hiện các hoạt động như: vệ sinh công cộng, cung
cấp các hoạt động vui chơi giải trí và các dịch vụ mua sắm khác, khai thác tối đa khả năng chi tiêu và thời gian nhàn rỗi của khách
Bộ phận bán hàng có nhiệm vụ phục vụ khách hàng đến ăn uống, tổ chức
sắp xếp các đơn đặt tiệc và các cuộc hội nghị, hội thảo, phục vụ cơm vua khi có
sự đặt trước
Bộ phận bếp chuẩn bị và cung cấp thức ăn theo thực đơn và số lượng đã đặt
hoặc yêu cầu trực tiếp từ khách hàng, đảm bảo chế biến thức ăn đúng chất lượng, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, hợp khẩu vị, đưa đến cho khách hàng cảm giác an toàn, ngon miệng
Bộ phận bảo trì có nhiệm vụ sửa chữa, bảo dưỡng toàn bộ trang thiết bị, máy
móc, điện nước của khách sạn; chăm sóc và cắt tỉa cây cảnh trong khuôn viên khách sạn; xây dựng và sơn quét các hư hỏng cục bộ, làm cho khách sạn luôn luôn mới
Bộ phận buồng phục vụ khách nghỉ ngơi tại khách sạn, đảm bảo các phòng luôn
sạch sẽ, kiểm tra các phương tiện, tiện nghi phòng ngủ, yêu cầu bộ phận bảo trì cải tạo, sửa chữa… và kịp thời báo cho lễ tân về số phòng chưa có khách để đưa vào kinh doanh
tế Hu
ế
Trang 4032
Bộ phận bảo vệ có nhiệm vụ bảo vệ lợi ích của khách sạn, tăng cường công tác
bảo vệ tài sản chung của khách sạn và của khách, giữ gìn an toàn trật tự tại khách sạn, tạo sự an tâm cho khách; theo dõi quá trình tự chấm công của cán bộ công nhân viên
Đội xe làm nhiệm vụ đón khách tới khách sạn và đưa khách rời khách sạn, giúp
đỡ khách trong việc vận chuyển và tham quan thành phố Bộ phận vận chuyển hành lý giúp khách vận chuyển hành lý lên phòng và đưa hành lý ra xe cho khách
2.1.4 Đặc điểm hoạt động kinh doanh của Khách sạn Hương Giang
Kinh doanh khách sạn là ngành kinh doanh dịch vụ Sản phẩm tạo ra chủ yếu phải có sự tiếp xúc giữa con người với con người, nên nó có những đặc điểm riêng biệt Kinh doanh khách sạn phải chịu sự phụ thuộc bởi tài nguyên du lịch Vì khách sạn là nơi cư trú tạm thời, là thời điểm dừng chân của khách khi họ tham gia hoạt động
du lịch, tham quan, nghỉ ngơi, giải trí tại nơi có tài nguyên du lịch Hoạt động kinh doanh khách sạn có lao động trực tiếp lớn, mà sản phẩm chủ yếu của khách sạn là dịch
vụ, do đó nó cần một khối lượng lao động lớn
Trong khách sạn thời gian làm việc hết sức căng thẳng về tinh thần, nhân viên làm việc 24/24 giờ trong ngày, công việc lại mang tính chuyên môn hóa cao, do vậy nó cũng phải cần một khối lượng lao động lớn để thay thế lẫn nhau nhằm có thể đảm bảo chất lượng sản phẩm cũng như sức khỏe người lao động Hoạt động kinh doanh khách sạn đòi hỏi vốn đầu tư ban đầu và đầu tư cố định rất cao và mang tính chu kỳ Nó hoạt động tùy theo thời vụ du lịch, vì hoạt động kinh doanh khách sạn chỉ tồn tại và phát triển khi có nhu cầu khách đến, họ cần có tài nguyên đẹp, thời tiết, khí hậu trong lành
ổn định Chúng ta không thể thay đổi được quy luật tự nhiên, môi trường sinh thái nên hoạt động này mang tính chu kỳ
tế Hu
ế