1. Trang chủ
  2. » Mẫu Slide

Phân tích đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích

16 53 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 1,65 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

 Chính trong hoàn cảnh cô đơn nơi đất khách quê người, tâm trạng của Kiều chuyển từ buồn sang nhớ. Kiều nhớ người yêu, nhớ cha mẹ. Nỗi nhớ ấy được Nguyễn Du miêu tả xúc động bằng nhữn[r]

Trang 1

VĂN MẪU LỚP 9 PHÂN TÍCH TÁC PHẨM

ĐỀ BÀI: PHÂN TÍCH ĐOẠN TRÍCH KIỀU Ở LẦU NGƯNG BÍCH

A SƠ ĐỒ TÓM TẮT GỢI Ý

B DÀN BÀI CHI TIẾT

1 Mở bài

a) Giới thiệu về tác phẩm và đoạn trích

- Tác phẩm “Truyện Kiều” là một tuyệt phẩm của tác giả Nguyễn Du Ông đã đóng góp

cho nền thi ca Việt Nam cổ đại một tác phẩm tuyệt vời có sức sáng tạo, vang xa tới nhiều thế hệ sau

- Đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” là một đoạn trích hay nó đã lột tả được tâm trạng

của Thúy Kiều

b) Giới thiệu về tác giả

- Nguyễn Du đã khéo léo sử dụng rất nhiều bút pháp điêu luyện nhưng nổi bật lên là tả cảnh ngụ tình, lấy cảnh vật để nói lên nỗi lòng của con người, người và cảnh vì thế mà tâm đầu ý hợp hòa quyện vào nhau

2 Thân bài

a) Hoàn cảnh cô đơn, cay đắng xót xa của Kiều

Trang 2

 Sáu câu thơ đầu gợi tả cảnh thiên nhiên nơi lầu Ngưng Bích với không gian, thời gian nghệ thuật

- Không gian nghệ thuật được miêu tả dưới con mắt nhìn của Thúy Kiều:

Lầu Ngưng Bích là nơi Kiều bị giam lỏng Hai chữ "khóa xuân" đã nói lên điều đó

 Cảnh đẹp nhưng mênh mông, hoang vắng và lạnh lẽo:

o Ngước nhìn xa xa, chỉ thấy dãy núi mờ nhạt

o Nhìn lên trời cao chỉ có "tấm trăng gần -> Thời gian chiều tối, gợi buồn

o Xa hơn nữa, nhìn ra "bốn bề bát ngát xa trông" là những cát vàng cồn nọ nối tiếp

nhau cùng với bụi hồng trên dặm dài thăm thẳm

 Nghệ thuật liệt kê, đối lập tương phản "non xa"/"trăng gần", đảo ngữ, từ láy "bát ngát"

 Gợi không gian rợn ngợp, vắng lặng không một bóng người Đối diện với cảnh ấy, Kiều cảm thấy trống trải cô đơn

 Kiều đau đớn, tủi nhục cho thân phận của mình:

Bẽ bàng mây sớm đèn khuya Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng

- Cụm từ "mây sớm đèn khuya" gợi thời gian tuần hoàn khép kín, quanh đi quẩn lại hết

"mây sớm" lại "đèn khuya" Thời gian cứ thế trôi đi, rồi lặp lại, Kiều thấy tuyệt vọng với tâm trạng cô đơn, buồn tủi, hổ thẹn đến "bẽ bàng"

- Bốn chữ "như chia tấm lòng" diễn tả nỗi niềm chua xót, nỗi lòng tan nát của Kiều

 Bút pháp chấm phá đặc sắc, khung cảnh làm nền cho Kiều thổ lộ tâm tình Thiên nhiên rộng lớn mà con người nhỏ bé, đơn côi

b) Nỗi thương nhớ Kim Trọng và cha mẹ của Kiều

 Chính trong hoàn cảnh cô đơn nơi đất khách quê người, tâm trạng của Kiều chuyển từ buồn sang nhớ Kiều nhớ người yêu, nhớ cha mẹ Nỗi nhớ ấy được Nguyễn Du miêu tả xúc động bằng những lời độc thoại nội tâm của chính nhân vật

- Trước hết, Kiều nhớ đến Kim Trọng bởi trong cơn gia biến, Kiều đã phải hi sinh mối

tình đầu đẹp đẽ để cứu gia đình, Kiều đã phần nào "đền ơn sinh thành" cho cha mẹ Vì

thế trong lòng Kiều, Kim Trọng là người mất mát nhiều nhất, nỗi đau ấy cứ vò xé tâm can Kiều khiến Kiều luôn nghĩ đến Kim Trọng

 Nàng nhớ đến cảnh mình cùng Kim Trọng uống rượu thề nguyền dưới ánh trăng

Chữ "tưởng" ở đây có thể xem là một nhãn tự Nguyễn Du không dùng chữ "nhớ"

Trang 3

mà dùng chữ "tưởng" "Tưởng" vừa là nhớ, vừa là hình dung, tưởng tượng ra người

mình yêu

o Thúy Kiều như tưởng tượng thấy, ở nơi xa kia, người yêu cũng đang hướng về

mình, đang ngày đêm đau đáu chờ tin nàng: "Tin sương luống những rày trông mai chờ"

o Rồi bất chợt, nàng liên tưởng đến thân phận "bên trời góc biển bơ vơ" của mình Kiều băn khoăn tự hỏi: "Tấm son gột rửa bao giờ cho phai":

 Câu thơ muốn nói tới tấm lòng son của Kiều, tấm lòng nhớ thương Kim Trọng

sẽ không bao giờ phai mờ, nguôi quên dù cho có gặp nhiều trắc trở trong đường đời

 Câu thơ còn gợi ra một cách hiểu nữa: Tấm lòng son trong trắng của Kiều bị những kẻ như Tú Bà, Mã Giám Sinh làm cho dập vùi, hoen ố, biết bao giờ mới gột rửa được?

 Trong bi kịch tình yêu, Thúy Kiều có nỗi đau về nhân phẩm

- Nhớ người yêu, Kiều cũng xót xa nghĩ đến cha mẹ: Chữ "xót" diễn tả tấm lòng Kiều dành

cho đấng sinh thành:

 Nàng lo lắng xót xa nghĩ đến hình bóng tội nghiệp của cha mẹ, khi sáng sớm, lúc chiều hôm tựa cửa ngóng tin con, hay mong chờ con đến đỡ đần

 Nàng lo lắng không biết giờ đây ai là người chăm sóc cha mẹ khi thời tiết đổi thay

 Nàng xót xa khi cha mẹ ngày một thêm già yêu mà mình không được ở bên cạnh để phụng dưỡng

 Tác giả đã sử dụng các thành ngữ "rày trông mai chờ", "quạt nồng ấp lạnh", "cách mấy

nắng mưa" và các điển tích, điển cố "sân Lai, gốc Tử" để nói lên tâm trạng nhớ thương,

lo lắng và tấm lòng hiếu thảo của Kiều dành cho cha mẹ

 Ở đây, Nguyễn Du đã miêu tả khách quan tâm trạng của Thúy Kiều vượt qua những định kiến của tư tưởng phong kiến: đặt chữ tình trước chữ hiếu

 Trong cảnh ngộ khi ở lầu Ngưng Bích, Kiều là người đáng thương nhất nhưng nàng vẫn quên mình để nghĩ đến người yêu, nghĩ đến cha mẹ Qua đó chứng tỏ Kiều là con người thủy chung hiếu nghĩa, đáng trân trọng

c) Tâm trạng đau buồn, lo âu của Kiều qua cách nhìn cảnh vật

Trang 4

Điệp ngữ "buồn trông" được lặp lại 4 lần tạo âm hưởng trầm buồn, trở thành điệp khúc

diễn tả nỗi buồn đang dâng lên lớp lớp trong lòng Kiều Cảnh vật thiên nhiên qua con mắt của Kiều gợi nỗi buồn da diết:

- Cánh buồm thấp thoáng lúc ẩn lúc hiện nơi cửa bể chiều hôm gợi hành trình lưu lạc mờ mịt không biết đâu là bến bờ

- Cánh hoa trôi man mác trên ngọn nước mới sa gợi thân phận nhỏ bé, mỏng manh, lênh đênh trôi dạt trên dòng đời vô định không biết đi đâu về đâu

- Nội cỏ rầu rầu trải rộng nơi chân mây mặt đất gợi cuộc sống úa tàn, bi thương, vô vọng kéo dài không biết đến bao giờ

Hình ảnh "gió cuốn mặt duềnh" và âm thanh ầm ầm của tiếng sóng "kêu quanh ghế ngồi"

gợi tâm trạng lo sợ hãi hùng như báo trước, chỉ ngay sau lúc này, dông bão của số phận

sẽ nổi lên, xô đẩy, vùi dập cuộc đời Kiều

 Bằng nghệ thuật ẩn dụ, hệ thống câu hỏi tu từ, các từ láy "thấp thoáng", "xa xa", "man

mác","rầu rầu","xanh xanh","ầm ầm" góp phần làm nổi bật nỗi buồn nhiều bề trong

tâm trạng Kiều Tác giả lấy ngoại cảnh để bộc lộ tâm cảnh Cảnh được miêu tả từ xa đến gần; màu sắc từ nhạt đến đậm; âm thanh từ tĩnh đến động; nỗi buồn từ man mác, mông lung đến lo âu, kinh sợ, dồn đến cơn bão táp của nội tâm, cực điểm của cảm xúc trong lòng Kiều Toàn là hình ảnh về sự vô định, mong manh, sự dạt trôi, bế tắc, sự chao đảo nghiêng đổ dữ dội

 Lúc này, Kiều trở nên tuyệt vọng, yếu đuối nhất, vì thế nàng đã mắc lừa Sở Khanh để rồi dấn thân vào cuộc đời ô nhục

3 Kết bài

- Đánh giá vai trò và ý nghĩa đoạn trích trong việc thể hiện nội dung tư tưởng và phong cách nghệ thuật của Nguyễn Du

Đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” là một bức tranh được vẽ lên với những màu

sắc xám lạnh, gợi tả tâm trạng vô cùng sống động, nhưng nó cũng nhiều thê lương

ai oán

Phân tích bút pháp nghệ thuật “tả cảnh ngụ tình” của Nguyễn Du Cảnh và người

trong đoạn trích như hòa vào làm một

C BÀI VĂN MẪU

Trang 5

Đề bài: Em hãy viết bài văn phân tích đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích”, in trong tập “Truyện

Kiều” của đại thi hào Nguyễn Du

Gợi ý làm bài

Bài mẫu 1

Tác phẩm “Truyện Kiều” là một tuyệt phẩm của tác giả Nguyễn Du Ông đã đóng góp cho nền

thi ca Việt Nam cổ đại một tác phẩm tuyệt vời có sức sáng tạo, vang xa tới nhiều thế hệ sau

Đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” là một đoạn trích hay nó đã lột tả được tâm trạng của Thúy

Kiều

Nguyễn Du là bậc thầy về tả cảnh Nhiều câu thơ tả cảnh của ông có thể coi là chuẩn mực cho

vẻ đẹp của thơ ca cổ điển Nhưng Nguyễn Du không chỉ giỏi về tả cảnh mà còn giỏi về tả tình cảm, tả tâm trạng Trong quan niệm của ông, hai yếu tố tình và cảnh không tách rời nhau mà luôn đi liền nhau, bổ sung cho nhau

Đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích là một bức tranh tâm tình đầy xúc động Bằng bút pháp tả cảnh ngụ tình, Nguyễn Du đã miêu tả tâm trạng nhân vật một cách xuất sắc Đoạn thơ cho thấy nhiều cung bậc tâm trạng của Kiều Đó là nỗi cô đơn, buồn tủi, là tấm lòng thủy chung, nhân hậu dành cho Kim Trọng và cha mẹ

Kết cấu của đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích rất hợp lí Phần đầu tác giả giới thiệu cảnh Kiều

bị giam lỏng ở lầu Ngưng Bích; phần thứ hai: Trong nỗi cô đơn buồn tủi, nàng nhớ về Kim Trọng và cha mẹ; phần thứ ba: Tâm trạng đau buồn của Kiều và những dự cảm về những bão

tố cuộc đời sẽ giáng xuống đời Kiều

Thiên nhiên trong sáu câu thơ đầu được miêu tả hoang vắng, bao la đến rợn ngợp Ngồi trên lầu cao, nhìn phía trước là núi non trùng điệp, ngẩng lên phía trên là vầng trăng như sắp chạm đầu, nhìn xuống phía dưới là những đoạn cát vàng trải dài vô tận, lác đác như bụi hồng nhỏ

bé như càng tô đậm thêm cuộc sống cô đơn, lẻ loi của nàng lúc này:

Trước lầu Ngưng Bích khoá xuân

Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung Bốn bề bát ngát xa trông Cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia

Trang 6

Có thể hình dung rất rõ một không gian mênh mông đang trải rộng ra trước mắt Kiều Không gian ấy càng khiến Kiều xót xa, đau đớn:

Bẽ bàng mây sớm đèn khuya, Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng

Một chữ “bẽ bàng” mà lột tả thật sâu sắc tâm trạng của Kiều lúc bấy giờ: Vừa chán ngán, buồn tủi cho thân phận mình, vừa xấu hổ, sượng sùng trước “mây sớm, đèn khuya” Và cảnh vật như cũng chia sẻ, đồng cảm với nàng: “Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng” Bức tranh thiên

nhiên không khách quan, mà có hồn, đó chính là bức tranh tâm cảnh của Kiều những ngày cô đơn ở lầu Ngưng Bích

Trong tâm trạng cô đơn, buồn tủi nơi đất khách quê người, Kiều tìm về với những người thân của mình Nỗi nhớ người yêu, nhớ cha mẹ được Nguvễn Du miêu tả rất xúc động trong những lời độc thoại nội tâm của nhân vật Nỗi nhớ thương được chia đều: Bốn câu đầu dành cho người yêu, bốn câu sau dành cho cha mẹ Nhưng nỗi nhớ với chàng Kim được nói đến trước

vì đây là nỗi nhớ nồng nàn và sâu thẳm nhất Nỗi nhớ đó được xoáy sâu vào đêm thề nguyền dưới ánh trăng và nỗi đau cũng trào lên từ đó:

Tưởng người dưới nguyệt chén đồng

Tin sương luống những rày trông mai chờ

Bên trời góc bể bơ vơ, Tấm thân gột rửa bao giờ cho phai

Lời thơ như chứa đựng nhịp thổn thức của một trái tim yêu đương đang chảy máu! Nỗi nhớ của Kiều thật tha thiết, mãnh liệt! Kiều tưởng tượng ra cảnh chàng Kim đang ngày đêm chờ mong tin mình một cách đau khổ và tuyệt vọng Mới ngày nào nàng cùng với chàng Kim nặng lời ước hẹn trăm năm mà bỗng dưng, nay trở thành kẻ phụ bạc, lỗi hẹn với chàng Chén rượu thề nguyền vẫn còn chưa ráo, vầng trăng vằng vặc giữa trời chứng giám lời thề nguyền vẫn

còn kia, vậy mà bây giờ mỗi người mỗi ngả Rồi bất chợt Kiều liên tưởng đên thân phận: “Bên trời góc bể bơ vơ” của mình và tự dằn vặt: “Tấm son gột rửa bao giờ cho phai” Kiều nuối tiếc

mối tình đầu trong trắng của mình, nàng thấm thía tình cảnh cô đơn của mình, và cũng hơn

ai hết, nàng hiểu rằng sẽ không bao giờ có thể gột rửa được tấm lòng son sắt, thủy chung của mình với chàng Kim Và thực sự, bóng chàng Kim cũng sẽ không bao giờ phai nhạt trong tâm trí Kiều trong suốt mười lăm năm lưu lạc

Trang 7

Nhớ người yêu, Kiều càng xót xa nghĩ đến cha mẹ Mặc dầu nàng đã “Liều đem tấc cỏ, quyết đền ba xuân”, cứu được cha và em thoát khỏi vòng tù tội, nhưng nghĩ về cha mẹ, bao trùm

trong nàng là một nỗi xót xa lo lắng Kiều đau lòng khi nghĩ đến cảnh cha mẹ già tựa cửa trông con Nàng lo lắng không biết khi thời tiết thay đổi ai là người chăm sóc cha mẹ Nguyễn Du đã

rất thành công khi sử dụng thành ngữ, điển cố (tựa cửa hôm mai, quạt nồng ấp lạnh, gốc tử)

để thể hiện tình cảm nhớ nhung sâu nặng cũng như những băn khoăn, trăn trở của Kiều khi nghĩ đến cha mẹ, nghĩ đến bổn phận làm con của mình Trong hoàn cảnh của Kiều, những suy nghĩ, tâm trạng đó càng chứng tỏ Kiều là một người con rất mực hiếu thảo

Nhớ người yêu, nhớ cha mẹ, nhưng rồi cuối cùng nàng Kiều lại quay về với cảnh ngộ của mình, sống với tâm trạng và thân phận hiện tại của chính mình Mỗi cảnh vật qua con mắt, cái nhìn của Kiều lại gợi lên trong tâm trí nàng một nét buồn Và nàng Kiều mỗi lúc lại càng chìm sâu vào nỗi buồn của mình Nỗi buồn sâu sắc của Kiều được ngòi bút bậc thầy Nguyễn Du mỗi lúc càng tô đậm thêm bằng cách dùng điệp ngữ liên hoàn rất độc đáo trong tám câu thơ tả cảnh ngụ tình:

Buồn trông cửa bể chiều hôm, Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?

Buồn trông ngọn nước mới sa Hoa trôi man mác biết là về đâu?

Buồn trông nội cỏ rầu rầu, Chân mây mặt đất một màu xanh xanh

Buồn trông gió cuốn mặt duềnh,

Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi

Nguyễn Du quan niệm: “Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu” Mỗi cảnh vật hiện ra qua con mắt của Kiều ở lầu Ngưng Bích đều nhuốm nỗi buồn sâu sắc Mỗi cặp câu gợi ra một nỗi buồn “Buồn trông” là buồn mà nhìn ra xa, nhưng cũng là buồn mà trông ngóng một cái gì đó mơ hồ sẽ đến

làm đổi thay tình trạng hiện tại Hình như Kiều mong cánh buồm, nhưng cánh buồm chỉ thấp thoáng, xa xa không rõ, như một ước vọng mơ hồ, mỗi lúc mỗi xa Kiều lại trông ngọn nước mới từ cửa sông chảy ra biển, ngọn sóng xô đẩy cánh hoa phiêu bạt, không biết về đâu như

thân phận của mình Rồi màu xanh xanh bất tận của “nội cỏ rầu rầu” càng khiến cho nỗi buồn

thêm mênh mang trong không gian; để rồi cuối cùng, nỗi buồn đó bỗng dội lên thành một nỗi

Trang 8

kinh hoàng khi “Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi” Đây là một hình ảnh vừa thực, vừa ảo,

cảm thấy như sóng vỗ dưới chân, đầy hiểm họa, như muốn nhấn chìm Kiều xuống vực

Tám câu thơ tuyệt bút với nghệ thuật “tả cảnh ngụ tình” kết hợp với nghệ thuật điệp ngữ liên

hoàn đầu mỗi câu lục và nghệ thuật ước lệ tượng trưng cùng với việc sử dụng nhiều từ láy

tượng hình, tượng thanh (thấp thoáng, xa xa, man mác, rầu rầu, ầm ầm) đã khắc họa rõ cảm

giác u uất, nặng nề, bế tắc, buồn lo về thân phận của Thúy Kiều khi ở lầu Ngưng Bích

Đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” là một bức tranh thiên nhiên đồng thời cũng là một bức

tranh tâm trạng có bố cục chặt chẽ và khéo léo Thiên nhiên ở đây liên tục thay đổi theo diễn biến tâm trạng của con người Mỗi nét tưởng tượng của Nguyễn Du đều phản ánh một mức

độ khác nhau trong sự đau đớn của Kiều Qua đó, cho thấy Nguyễn Du đã thực sự hiểu nỗi lòng nhân vật trong cảnh đời bất hạnh để ca ngợi tấm lòng cao đẹp của nhân vật, để giúp ta hiểu thêm tâm hồn của những người phụ nữ tài sắc mà bạc mệnh

Bài mẫu 2

Nguyễn Du là một danh nhân văn hóa, một đại thi hào của dân tộc ta Ông đã để lại cho kho

tàng văn học Việt Nam ta một kiệt tác của nền văn học trung đại - tác phẩm “Truyện Kiều”

Ngoài hai giá trị lớn và giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo, truyện Kiều còn rất thành công về mặt nghệ thuật Chỉ xét riêng về nghệ thuật miêu tả nội tâm nhân vật và bút pháp tả cảnh ngụ tình, Nguyễn Du đã đạt đến đỉnh cao chói lọi nhất trong lịch sử bằng trích đoạn Kiều ở lầu Ngưng Bích miêu tả thành công cảnh ngộ cô đơn, buồn tủi và tấm lòng thủy chung, hiếu thảo của Kiều

Đoạn trích "Kiều ở lầu Ngưng Bích" nằm trong phần "Gia biến và lưu lạc" Đoạn thơ dài 22 câu,

không chỉ biểu lộ tình cảm xót thương của Nguyễn Du đối với kiếp người bạc mệnh mà còn thể hiện bút pháp đặc sắc về tự sự, về tả cảnh ngụ tình với ngôn ngữ độc thoại nội tâm để biểu đạt nỗi lòng và tâm trạng của Kiều Cảnh ngộ của Kiều ở lầu Ngưng Bích vô cùng cô đơn, buồn tủi:

Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân,

Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung

Bốn bề bát ngát xa trông, Cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia

Trang 9

Bẽ bàng mây sớm đèn khuya, Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng

Bằng nét bút tả cảnh ngụ tình điêu luyện, Nguyễn Du đã miêu tả thành công nội tâm của Kiều

Từ ngữ "khóa xuân" đã cho thấy tình cảnh Kiều lâm vào cảnh cá chậu chim lồng, bị giam lỏng nơi lầu cao, khóa kín tuổi xuân của nàng "Khóa xuân" ở đây không phải nói tới những cô gái

còn cấm cung mà là sự mỉa mai, chua xót cho thân phận nàng Kiều Nàng trơ trọi giữa thời gian mênh mông, không gian hoang vắng trong hoàn cảnh tha hương, cô đơn, giờ lại bị đầy

vào chốn lầu xanh ô nhục "Lầu Ngưng Bích" vốn là một nơi phong cảnh tuyệt đẹp, khung cảnh

hữ tình, thơ mộng được mở ra cả ba chiều cao, xa và rộng qua các từ ngữ "non xa", "trăng gần", "cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia" Thế nhưng "Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ!",

trong tình cảnh giam cầm Kiều khung cảnh thật buồn thảm, vắng lặng, nhìn trăng nàng chỉ thấy vầng trăng đơn côi, nhìn mặt đất thì bên là cồn cát nhấp nhô lượng sóng bên là bụi hồng cuốn xa hàng vạn dặm hoang vu, vắng lặng Lầu Ngưng Bích chỉ là là một chấm nhỏ giữa thiên

nhiên trơ trọi, giữa mênh mang trời nước Trong cái không gian quẩn quanh "mây sớm đèn khuya" gợi vòng tuần hoàn khép kín của thời gian, tất cả như giam hãm tuổi xuân mơn mởn

của tuyệt sắc giai nhân, sự sống của Kiều như bị những bàn tay tàn bạo bóp nghẹt Từ đó khắc

sâu thêm nỗi đơn côi khiến Kiều càng thấy "bẽ bàng" chán ngán, buồn tủi, không ai chia sẻ

nàng chỉ biết là bạn với mây, với đèn, với cảnh vật hoang vu, nhạt nhòa

Trong nỗi cô đơn tuyệt đối ấy, Kiều cảm thấy xa cách, hoang vắng, một mình một bóng bơ vơ,

bị giam cầm cách biệt nơi đất khách quê người, xa quê hương, xa người yêu của mình:

Tưởng người dưới nguyệt chén đồng, Tin sương luống những rày trông mai chờ

Bên trời góc bể bơ vơ, Tấm son gột rửa bao giờ cho phai

Ở lầu Ngưng Bích Kiều đã nhớ về Kim Trọng trước, đó là một nét bút đặc sắc, độc đáo và phù

hợp với tâm lí, thể hiện tấm lòng chung thủy của Kiều Các từ ngữ "tưởng", "trông", "chờ"

trong ngôn ngữ độc thoại nội tâm của Kiều đã làm bật lên nỗi nhớ Kim Trọng khôn nguôi của nàng Kiều càng nhớ về lời thề đôi lứa, lời hẹn ước trăm năm ở vườn Thúy lại càng thương cho Kim Trọng Chén rượu thề như còn đây mà nay mỗi người như mỗi ngả khiến nàng ân

hận, xót xa như kẻ phụ tình Nàng tưởng tượng Kim Trọng đang hướng về mình, "rày trông

Trang 10

mai chờ" uổng công vô ích khiến nàng càng thêm xót xa, càng thấp thỏm lo âu Dù cho mỗi

người một phương nhưng tình cản, tấm lòng son của nàng dành cho Kim Trọng là mãi mãi, không thể phai mờ Càng nghĩ Kiều càng lo lắng, khiến nàng bật lên câu hỏi tu từ không biết

trên bước đường trôi dạt nơi "bên trời góc bể", bao giờ nàng mới có thể gột rửa sạch những

hoen ố của tấm lòng son chung thủy để có thể đáp lại tình yêu của Kim Trọng dành cho nàng

Ở nơi lầu cao ấy, nàng cũng không nguôi nhớ thương, lo lắng cho cha mẹ của mình:

Xót người tựa cửa hôm mai, Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ?

Sân Lai cách mấy nắng mưa,

Có khi gốc tử đã vừa người ôm

Với ngôn ngữ độc thoại, kết hợp với lối viết cổ, tâm trạng ngổn ngang của Kiều hiện lên thật

rõ nét Các từ ngữ "hôm mai", "cách mấy nắng mưa" chỉ nỗi nhớ mong cha mẹ dài theo năm tháng của nàng Kiều xót thương cha mẹ mình ngày đêm lo lắng, "tựa cửa hôm mai" mong ngóng tin nàng, sợ cha mẹ già yếu ở nhà, không ai chăm sóc, phụng dưỡng Thành ngữ "quạt nồng ấp lạnh", cùng với điển tích "Sân Lai", "Gốc tử" đã nói lên tâm trạng nhớ thương, tấm

lòng hiếu thảo của Kiều với cha mẹ mình Nàng lo sợ ở nơi quê hương, mọi thứ đã đổi thay, cha mẹ nàng lại ngày càng già yếu nên nàng vô cùng day dứt, áy náy vì chưa làm tròn bổn phận phụng dưỡng cha mẹ của người con Từ đó tấm lòng vị tha và hiếu thảo của Kiều đã hiện lên thật rõ nét Trong cảnh ngộ bị giam lỏng nơi lầu Ngưng Bích, lưu lạc nơi chân trời góc bể, Kiều là người đáng thương nhất Thế nhưng với tâm hồn cao đẹp của mình, nàng luôn hi sinh bản thân, quên đi cảnh ngộ của bản thân để lo lắng, nghĩ về Kim Trọng, nghĩ về cha mẹ của mình Nỗi nhớ của Kiều rất thực và có chiều sâu, từ đó cho thấy Kiều là một đứa con hiếu thảo, một người tình thủy chung và là một con người giàu lòng vị tha

Tâm trạng buồn tủi của Kiều đã thể hiện rõ nét qua cảnh vật bên ngoài Mỗi cảnh vật là một nét riêng nhưng đều diễn tả một khía cạnh trong tâm trạng của Kiều Cánh buồm trên biển giữa mênh mông trời chiều hoàng hôn thật cô độc, lẻ loi:

Buồn trông cửa bể chiều hôm, Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?

Khung mở ra vào thời điểm chiều hôm, thời điểm của những lưu luyến khó tả "Cửa bể chiều hôm" gợi trước mắt ta hình ảnh những tia nắng leo lắt cuối ngày phản chiếu lên mặt biển xanh

Ngày đăng: 18/04/2021, 07:18

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w