1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Giáo án dạy thêm ngữ văn 6 kì 1 (chuẩn)

74 30 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 446,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tài liệu giáo án dạy thêm môn Ngữ văn 6 học kì 1 được biên soạn chi tiết,công phu, các kiến thức chuẩn xác. Tài liệu dùng để tham khảo cho các thày cô khi dạy thêm ở nhà hoặc ở trường rất hữu ích, giảm bớt thời gian tìm tài liệu, soạn giáo án để dạy.........

Trang 1

GIÁO ÁN GỒM 2 PHẦN: PHẦN 1 LÀ CÁC CHUYÊN ĐỀ ÔN TẬP, PHẦN

II LÀ CÁC ĐỀ CÓ ĐÁP ÁN ĐỂ LUYỆN TẬP PHẦN I: CÁC CHUYÊN ĐỀ ÔN TẬP CHUYÊN ĐỀ 1: TRUYỆN TRUYỀN THUYẾT

Ôn tập: Bánh Chưng bánh Giầy

Ôn tập: Ông lão đánh cá và con cá vàng

CHUYÊN ĐỀ 3: TRUYỆN NGỤ NGÔN

Ôn tập: Ếch ngồi đáy giếng

Ôn tập: Thầy bói xem voi

Ôn tập: Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng

CHUYÊN ĐỀ 4: TRUYỆN CƯỜI

Ôn tập: Treo biển

Ôn tập: Lợn cưới, áo mới

CHUYÊN ĐỀ 5: TRUYỆN TRUNG ĐẠI

Ôn tập: Con hổ có nghĩa

Ôn tập: Mẹ hiền dạy con

Ôn tập: Thầy thuốc giỏi cốt nhất ở tấm lòng

CHUYÊN ĐỀ 6: TRUYỆN HIỆN ĐẠI

Ôn tập: Bài học đường đời đầu tiên

Ôn tập: Sông nước Cà Mau

Ôn tập: Bức tranh của em gái tôi

Ôn tập: Vượt thác

Ôn tập: Buổi học cuối cùng

CHUYÊN ĐỀ 7: THƠ HIỆN ĐẠI VIỆT NAM

Ôn tập: Đêm nay Bác không ngủ

Ôn tập: Lượm

Ôn tập: Mưa

Trang 2

CHUYÊN ĐỀ 8: KÍ

Ôn tập: Cô Tô

Ôn tập: Cây tre Việt Nam

Ôn tập: Lòng yêu nước

Ôn tập: Lao xao

CHUYÊN ĐỀ 9: VĂN BẢN NHẬT DỤNG

Ôn tập: Cầu Long Biên- chứng nhân lịch sử

Ôn tập: Bức thư của thủ lĩnh da đỏ

Ôn tập: Động Phong Nha

PHẦN II: ĐỀ LUYỆN TẬP TỔNG HỢP

PHẦN I: CÁC CHUYÊN ĐỀ ÔN TẬP CHUYÊN ĐỀ 1: TRUYỆN TRUYỀN THUYẾT

BÀI 1: CON RỒNG CHÁU TIÊN

A KIẾN THỨC TRỌNG TÂM

1 Thể loại Truyện truyền thuyết

2 Tóm tắt Ngày xưa ở vùng đất Lạc Việt có vị thần con trai thần Long Nữ,

tên Lạc Long Quân kết duyên cùng nàng Âu Cơ thuộc dòng họThần Nông xinh đẹp Về sau, Âu Cơ sinh ra bọc trăm trứng, từtrăm trứng nở ra một trăm người con khôi ngô tuấn tú Vì LạcLong Quân không quen sống trên cạn lâu ngày nên hai vợ chồngmỗi người dẫn năm mươi người con lên rừng và xuống biển.Người con trưởng được suy tôn làm vua Hùng trên đất PhongChâu, đặt tên nước là Văn Lang, cứ thế kế tục tới muôn đời sau

3 Bố cục

(3 phần)

- Phần 1 (từ đầu đến “cung điện Long Trang”): Giới thiệu về LạcLong Quân và Âu Cơ

Trang 3

- Phần 2 (tiếp đó đến “rồi chia tay nhau lên đường”): Việc sinh con

và chia con của Lạc Long Quân và Âu Cơ

- Phần 3 (còn lại): Việc lập nước Văn Lang và nguồn gốc của dântộc Việt

4 Giá trị

nội dung

Truyền thuyết “Con Rồng cháu Tiên” nhằm giải thích, suy tônnguồn gốc giống nòi và qua đó thể hiện ý nguyện đoàn kết, thốngnhất cộng đồng Việt

5 Giá trị

nghệ thuật

- Sử dụng nhiều chi tiết tưởng tượng, hoang đường, kì ảo

- Hình tượng nhân vật mang dáng dấp thần linh

II Dàn ý Phân tích văn bản “Con rồng cháu tiên”

+ Vị thần thuộc nòi rồng, con trai thần Long Nữ

+ Thần mình rồng, thường ở dưới nước, thỉnh thoảng lên sống trên cạn, sức khỏe

vô địch, có nhiều phép lạ

+ Giúp dân diệt trừ Ngư Tinh, Hồ Tinh, Mộc Tinh

+ Dạy dân cách trồng trọt, chăn nuôi và cách ăn ở

- Âu Cơ: ở vùng núi cao phương Bắc, thuộc dòng họ Thần Nông, xinh đẹp tuyệttrần

→ Lạc Long Quân và Âu Cơ gặp nhau, đem lòng yêu nhau rồi thành vợ thànhchồng, cùng nhau chung sống trên cạn

→ Sự kết duyên của những con người phi thường

b Việc sinh con và chia con của Lạc Long Quân và Âu Cơ

- Âu Cơ sinh ra một cái bọc trăm trứng, trăm trứng nở ra một trăm người con hồnghào, đẹp đẽ lạ thường Đàn con không cần bú mớm mà tự lớn lên như thổi, mặtmũi khôi ngô, khỏe mạnh như thần

Trang 4

→ Hình tượng cái bọc một trăm trứng thể hiện những con người của dân tộc Việt

c Việc lập nước Văn Lang và nguồn gốc của dân tộc Việt

- Người con trưởng theo Âu Cơ được tôn lên làm vua, lấy hiệu là Hùng Vương,đóng đô ở đất Phong Châu, đặt tên nước là Văn Lang

- Khi nhắc đến nguồn gốc của mình, thường xưng là con Rồng cháu Tiên

3 Kết bài

- Khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật của văn bản

+ Nội dung: Truyền thuyết “Con Rồng cháu Tiên” nhằm giải thích, suy tôn nguồngốc giống nòi và qua đó thể hiện ý nguyện đoàn kết, thống nhất cộng đồng Việt+ Nghệ thuật: sử dụng các chi tiết tưởng tượng hoang đường, kì ảo, xây dựng nhânvật mang dáng dấp thần linh…

+ Họ chia con để cai quản các phương, kẻ ở núi, người ở biển

Trang 5

Câu 3: Việc kết duyên của Lạc Long Quân cùng Âu Cơ và chuyện Âu Cơ sinh

nở có điều gì kì lạ? Lạc Long Quân và Âu Cơ chia con như thế nào và để làm gì? Theo truyện này thì người Việt là con cháu của ai?

+ Lạc Long Quân và Âu Cơ chia đôi mỗi người 50 con theo mẹ lên chốn non cao,

50 người con theo cha về ven biển để chiếm lĩnh các vùng đất, mở rộng nơi cư trú,làm ăn, để cho gia đình tương lai thành dân tộc, đất nước Đặc biệt có việc gì(chiến tranh, thiên tai…) thì giúp đỡ lẫn nhau dễ hơn

- Theo truyện ngày thì người Việt Nam ta là con cháu của vị thần nòi Rồng là LạcLong Quân và của bà Âu cơ nòi giống Tiên Nguồn gốc này rất cao quý và đáng tựhào

Câu 4: Em hiểu thế nào là chi tiết tưởng tượng kì ảo? Hãy nói rõ vai trò của các chi tiết này trong truyện?

* Gợi ý:

- Chi tiết tưởng tượng, kì ảo là những chi tiết không có thật Các chi tiêt này khiếncho các nhân vật và sự kiện lịch sử mang màu sắc thần thoại Nó được gọi làtruyền thuyết

- Trong truyện Con Rồng cháu Tiên, những chi tiết này có vai trò tô đậm tính chất

kì lạ, đẹp đẽ của các nhân vật (Lạc Long Quân và Âu Cơ), đồng thời chứng tỏngười Việt có nguồn gốc khác thường, rất cao quý và đẹp đẽ Qua đó, nhân dân tamuốn nhắn nhủ người đời sau hãy luôn luôn tự hào, tôn kính tổ tiên mình Các chitiết tưởng tượng, kì ảo trong truyện vừa phản ánh một trình độ hiểu biết nhất định ởgiai đoạn lịch sử sơ khai, vừa là kết quả của óc tưởng tượng phi thường của ngườiLạc Việt

Câu 5: Ý nghĩa của truyện Con Rồng cháu Tiên?

* Gợi ý: Ý nghĩa truyện Con rồng, cháu Tiên:

- Giải thích, suy tôn nguồn gốc cao quý thiêng liêng của dân tộc Việt Nam

- Truyện cũng thể hiện niềm tự hào dân tộc, ý nguyện đoàn kết, thống nhất từ xaxưa của cộng đồng người Việt: dù ở bất cứ đâu, đồng bằng hay miền núi, trong

Trang 6

Nam hay ngoài Bắc, người Việt Nam đều là con cháu các vua Hùng, có chungdòng dõi “con Rồng cháu Tiên”, vì thế phải biết thương yêu, đùm bọc lẫn nhau.

Câu 6: Em biết những truyện nào của các dân tộc khác ở Việt Nam, cũng giải thích nguồn gốc dân tộc tương tự như truyện “Con Rồng, cháu Tiên”? Sự giống nhau ấy khẳng định điều gì?

* Gợi ý:

- Các truyện tương tự truyện Con Rồng, cháu Tiên, các dân tộc khác ở Việt Nam

cũng có những câu chuyện giải thích về nguồn gốc dân tộc tương tự, như:

+ Truyện “Quả trứng thiêng” của dân tộc Mường

+ Truyện “Quả bầu mẹ” của dân tộc Khơ Mú

- Ý nghĩa của sự giống nhau:

+ Sự tương đồng về cách giải thích nguồn gốc của các dân tộc

+ Khẳng định về tình đoàn kết giữa các dân tộc anh em

+ Sự gặp gỡ, giao thoa về nền văn hóa giữa các dân tộc

II Bài tập nâng cao:

Bài tập 1: Hãy viết đoạn văn nêu suy nghĩ của em về truyện Con Rồng cháu Tiên.

* Gợi ý:

Truyền thuyết Con Rồng cháu Tiên mở ra trang sử mới cho dân tộc ta, đã giải

thích và suy tôn nguồn gốc thiêng liêng của cộng đồng người Việt Những chi tiết

kì ảo về hình tượng bọc trăm trứng, về mẹ nòi giống Tiên, Rồng đã khiến chúng tathêm tự hào, tin yêu, tôn kính tổ tiên, dân tộc mình và cũng làm tăng sức hấp dẫncủa câu chuyện Và rồi từ bọc trăm trứng, 100 người con đã ra đời và nửa theo chalên rừng, nửa xuống biển cùng mẹ Dù cách xa như vậy, dù người đồng bằng haymiền núi, dù miền ngược hay miền xuôi nhưng tất cả cùng chung một dòng máu,một cội nguồn, chung mẹ cha trong một gia đình Lời dặn dò của Lạc Long Quân

đã phản ánh ý nguyện của nhân dân ta về sự đoàn kết, gắn bó, giúp đỡ lẫn nhau Truyện đã đề cao nguồn gốc chung và biểu hiện ý nguyện đoàn kết, thống nhất củanhân dân của mọi miền đất nước Truyện Con Rồng cháu Tiên tuy có những yếu tốtưởng tượng, kì ảo nhưng về cơ bản đã giải thích, suy tôn nguồn gốc của đất nước

ta Đồng thời truyện cũng thể hiện niềm tự hào dân tộc, ý nguyện đoàn kết, thốngnhất từ xa xưa của cộng đồng người Việt: dù ở bất cứ đâu, đồng bằng hay miền núi,trong Nam hay ngoài Bắc, người Việt Nam đều là con cháu các vua Hùng, cóchung dòng dõi “con Rồng cháu Tiên”, vì thế phải biết thương yêu, đùm bọc lẫnnhau

Trang 7

Bài tập 2: Trình bày vai trò của các chi tiết tưởng tượng kì ảo trong truyện

Con Rồng cháu Tiên.

* Gợi ý:

Chi tiết tưởng tượng kì ảo là những chi tiết không có thật mà có tính chất hoangđường, kì lạ Những chi tiết tưởng tượng kì ảo thường xuất hiện trong các truyềnthuyết, truyện cổ tích, thần thoại Trong truyện truyền thuyết, nhân dân sáng tạo

ra những chi tiết tưởng tượng kì ảo nhằm dựng lên những câu chuyện thần kì,nhằm giải thích những sự việc, sự kiện chưa thể giải thích theo cách thông thường,cũng có khi là để thần thánh hóa các nhân vật mà nhân dân ngưỡng mộ, tôn sùng.Trong truyện Con Rồng cháu Tiên, những chi tiết tưởng tượng kì ảo có vai trò làmtăng tính chất kì lạ và đẹp đẽ của nhân vật Lạc Long Quân và Âu Cơ Việc tưởngtượng ra Âu Cơ sinh bọc trăm trứng là một cách lí giải đẹp đẽ và cao quý nguồngốc của dân tộc Việt Qua việc thần kì hóa nguồn gốc dân tộc, người thời xưamuốn nhắn nhủ thế hệ sau phải biết tự hào và tôn kính tổ tiên mình Các chi tiếttưởng tượng kì ảo còn giúp cho câu chuyện thêm sức hấp dẫn và lôi cuốn ngườiđọc, người nghe

Những chi tiết tưởng tượng kì ảo trong truyện Con Rồng cháu Tiên phản ánh phầnnào trình độ nhận thức lịch sử sơ khai của người Việt cổ, đồng thời cho thấy khảnăng tưởng tượng phong phú của họ

Truyện Con Rồng cháu Tiên tuy có nhiều chi tiết xuất phát từ trí tưởng tượng củangười dân nhưng cơ bản đã giải thích khá rõ và tô đậm vẻ đẹp của dân tộc Việt.Nội dung của truyện đã thể hiện lòng tự hào dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý nguyệnthống nhất đất nước của người Việt xa xưa Con cháu người Việt dù sống ở bất cứnơi đâu trên đất nước đều là con cháu của vua Hùng, có chung một dòng dõi đó làcon Rồng cháu Tiên Hai tiếng đồng bào thân thương cũng xuất phát từ câu chuyệnnày, do vậy những ai cùng chung nguồn gốc Lạc Việt, cùng mang tiếng đồng bàođều phải yêu thương, đùm bọc lẫn nhau

C PHIẾU BÀI TẬP:

Phiếu bài tập số 1:

Cho đoạn văn sau:

“ Lạc Long Quân nói:

- Ta vốn nòi rồng ở miền nước thẳm, nàng là dòng tiên ở chốn non cao Kẻ ở cạn, người ở nước tính tình, tập quán khác nhau, khó mà ăn ở cùng nhau một nơi lâu dài được Nay ta đưa năm mươi con xuống biển, nàng đưa năm mươi con lên núi, chia nhau cai quản các phương Kẻ miền núi, người miền biển, khi

Trang 8

có việc gì thì giúp đỡ lẫn nhau, đừng quên lời hẹn”

Câu 1: Đoạn trích trên trích trong văn bản nào?

Câu 2: Trong truyện Con Rồng cháu Tiên, vì sao Lạc Long Quân và Âu Cơ chia

tay nhau?

Câu 3: Xét về cấu tạo, từ “ tính tình”, “tập quán” thuộc loại từ nào?

Câu 4: Chi tiết năm mươi con theo cha xuống biển, năm mươi con theo mẹ lên

non, khi có việc thì nương tựa lẫn nhau thể hiện điều gì?

Phiếu bài tập số 2:

Cho đoạn văn:

" Ngày xưa, ở miền đất Lạc Việt, cứ như bây giờ là Bắc Bộ nước ta có một vị thần thuộc nòi rồng, con trai thần Long Nữ tên là Lạc Long Quân Thần mình rồng, thường ở dưới nước, thỉnh thoảng lên sống trên cạn, sức khỏe vô địch, có nhiều phép lạ Thần giúp dân diệt trừ Ngư tinh, hồ tinh, mộc tinh- những loài yêu quái bấy lâu làm hại dân lành Thần dạy dân cách trồng trọt, chăn nuôi và cách ăn ở Xong việc, thần thường về thuỷ cung với mẹ, khi có việc cần thần mới hiện lên.

Bấy giờ, ở vùng núi cao phương Bắc, có nàng Âu Cơ thuộc dòng họ Thần Nông, xinh đẹp tuyệt trần Nghe tiếng vùng đất Lạc có nhiều hoa thơm cỏ lạ, bang bèn tìm đến thăm Âu Cơ và Lạc Long Quân gặp nhau, đem lòng yêu nhau rồi trở thành vợ chồng, cùng chung sống trên cạn ở cung điện Long Trang."

Câu 1: Hãy trình bày nguồn gốc, hình dáng của Lạc Long Quân và Âu Cơ?

Câu 2: Chỉ ra các từ phức trong đoạn văn: “Thần giúp dân diệt trừ Ngư tinh, hồ

tinh, mộc tinh- những loài yêu quái bấy lâu làm hại dân lành Thần dạy dân cách trồng trọt, chăn nuôi và cách ăn ở Xong việc, thần thường về thuỷ cung với mẹ, khi có việc cần thần mới hiện lên”.

và phân loại các từ phức vừa tìm được thành 2 loại: Từ ghép và từ láy

Câu 3: Qua câu chuyện, ông cha ta muốn giáo dục với chúng ta điều gì?

Câu 4: Học xong tác phẩm, em hiểu người Việt Nam có nguồn gốc như thế nào? Câu 5: Nêu một số câu ca dao, tục ngữ nói về ý nguyện mà ông cha ta muốn

nhắn nhủ qua truyền thuyết "Con Rồng Cháu Tiên"

Hướng dẫn:

Phiếu bài tập số 1:

Trang 9

Câu 1: Đoạn trích trên trích trong văn bản “ Con Rồng cháu Tiên”

Câu 2: Trong truyện, Lạc Long Quân và Âu Cơ chia tay nhau vì Lạc Long Quân

quen sống ở dưới nước, không sống lâu được trên cạn

Câu 3: Xét về cấu tạo, từ “ tính tình” thuộc từ láy, từ “tập quán” thuộc từ ghép Câu 4: Chi tiết Năm mươi con theo cha xuống biển, năm mươi con theo mẹ lên

non, khi có việc thì nương tựa lẫn nhau thể hiện ước nguyện đoàn kết, gắn bó giúp

đỡ lẫn nhau của các dân tộc anh em trong cộng đồng dân tộc Việt Nam

Phiếu bài tập số 2:

Câu 1: Hãy trình bày nguồn gốc, hình dáng của Lạc Long Quân và Âu Cơ?

- Lạc Long Quân: con thần biển, có nhiều phép lạ, có sức mạnh phi thường, diệtyêu quái giúp dân

- Âu Cơ: con Thần Nông, xinh đẹp tuyệt trần, yêu thiên nhiên, cây cỏ

Câu 2: Các từ phức trong đoạn văn: diệt trừ, Ngư tinh, Hồ tinh, Mộc tinh, yêu

quái, bấy lâu, dân lành, trồng trọt, chăn nuôi, ăn ở, thuỷ cung.

- Từ ghép: diệt trừ, Ngư tinh, Hồ tinh, Mộc tinh, yêu quái, bấy lâu, dân lành, chănnuôi, ăn ở, thuỷ cung

- Từ láy: trồng trọt

Câu 3: Qua câu chuyện, ông cha ta muốn giáo dục với chúng ta điều gì?

- Lòng tôn kính, tự hào về nòi giống Rồng Tiên

- Thương yêu, đùm bọc lẫn nhau

- Đoàn kết, gắn bó nhau

Câu 4: Học xong tác phẩm, em hiểu người Việt Nam có nguồn gốc là con cháu của

vua Hùng, cùng nở ra từ bọc trăm trứng, cùng thuộc nói giống Rồng Tiên

Câu 5: Một số câu ca dao, tục ngữ nói về ý nguyện mà ông cha ta muốn nhắn nhủ

qua truyền thuyết "Con Rồng Cháu Tiên"

1/ Bầu ơi thương lấy bí cùng,

Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn

2/ Nhiễu điều phủ lấy giá gương,

Người chung một nước phải thương nhau cùng

3/ Khôn ngoan đối đáp người ngoài

Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau

4/ Một cây làm chẳng nên non

5/ Ba cây chụm lại nên hòn núi cao

6/ Dù ai đi ngược về xuôi

Nhớ ngày Giỗ Tổ mùng mười tháng ba

Trang 10

Dù ai buôn bán gần xa

Nhớ ngày Giỗ Tổ tháng ba mùng mười

BÀI 2: BÁNH CHƯNG, BÁNH GIẦY

A KIẾN THỨC TRỌNG TÂM

1 Thể loại Truyện truyền thuyết

2 Tóm tắt Lúc vua Hùng về già muốn truyền ngôi cho các con nên ra điều

kiện: không kể con trưởng, con thứ, miễn ai làm vừa ý TiênVương sẽ được nối ngôi Các lang đua nhau tìm kiếm của ngonvật lạ trên rừng dưới biển dâng cho vua cha Riêng có Lang Liêu,người con thứ mười tám, sau khi mộng thấy thần đã làm một loạibánh hình vuông, một loại bánh hình tròn để dâng vua Vua vôcùng hài lòng mang bánh lễ Tiên Vương, và được kế ngôi vua Từ

đó, bánh chưng, bánh giầy trở thành lễ vật không thể thiếu trongdịp Tết lễ

5 Giá trị

nghệ thuật

- Sử dụng các chi tiết tưởng tượng kì ảo

- Lối kể chuyện dân gian: theo trình tự thời gian

II/ Phân tích văn bản “Bánh chưng, bánh giầy”:

1/ Mở bài

Trang 11

- Giới thiệu về thể loại truyền thuyết (khái niệm truyền thuyết, khái quát đặc trưngthể loại truyền thuyết…)

- Giới thiệu về truyền thuyết “Bánh chưng, bánh giầy” (tóm tắt truyền thuyết, kháiquát giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật…)

2/ Thân bài

a/ Nhà vua ra quyết định truyền ngôi

- Hoàn cảnh truyền ngôi: giặc ngoài đã dẹp yên, vua đã già, muốn truyền ngôi

- Người nối ngôi vua phải là người nối được chí vua, không nhất thiết phải là contrưởng

- Cách thức: một câu đố để thử tài – “ai làm vừa ý ta, ta sẽ truyền ngôi cho”

→ Cách chọn người nối ngôi của vua Hùng khác với các đời vua trong lịch sử

b/ Lang Liêu và các hoàng tử tìm kiếm, làm lễ vật

- Các hoàng tử đua nhau làm lễ thật hậu, thật ngon đem về lễ Tiên vương, họ đi tìmcủa quý trên rừng xuống biển

-Lang Liêu là người thiệt thòi nhất, từ khi lớn lên, chỉ chăm lo việc đồng áng, trồnglúa trồng khoai, trong nhà chỉ có khoai, lúa là nhiều

- Lang Liêu nằm mộng thấy thần, được thần mách bảo, Lang Liêu nghe lời thầnlàm lễ vật dâng vua cha:

Chọn thứ gạo nếp thơm lừng, trắng tinh, đem vo sạch, lấy đậu xanh, thịt lợn làmnhân, dùng lá dong trong vườn gói thành bánh hình vuông, nấu một ngày một đêmthật nhừ

Thứ gạo nếp ấy, chàng đồ lên, giã nhuyền, nặn hình tròn

c/ Ý nghĩa và tục lệ bánh chưng, bánh giầy

- Bánh của Lang Liêu được chọn để tế Trời, Đất cùng Tiên vương

- Sau khi lễ xong, vua cùng quần thần ăn bánh, ai cũng tấm tắc khen ngon

- Lang Liêu là người hiểu ý nhà vua nên được truyền ngôi cho Ý nghĩa món bánhcủa Lang Liêu:

Bánh hình tròn tượng trưng cho trời nên gọi là bánh giầy

Bánh hình vuông tượng trưng là đất, thịt mỡ, đậu xanh, lá dong là tượng cầm thú,cây cỏ, muôn loài, đặt tên là bánh chưng

Lá bọc ngoài, mĩ vị ở trong là ngụ ý đùm bọc nhau

- Tục lệ ở nước ta: chăm nghề trồng trọt, chăn nuôi và có tục ngày Tết làm bánhchưng, bánh giầy, thiếu bánh chưng, bánh giầy là thiếu hẳn hương vị ngày Tết

3/ Kết bài

- Khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật của văn bản;

Trang 12

Nội dung: Truyền thuyết “Bánh chưng bánh giầy” vừa giải thích nguồn gốc củabánh chưng, bánh giầy vừa phản ánh thành tựu văn minh nông nghiệp ở buổi đầudựng nước với thái độ đề cao lao động, đề cao nghề nông và thể hiện sự tôn kínhTrời, Đất và tổ tiên của nhân dân ta

Nghệ thuật: sử dụng các yếu tố tưởng tượng, kì ảo, cách kể chuyện dân gian

- Cảm nhận của bản thân về truyền thuyết: hiểu hơn về nguồn gốc của một loàibánh…

Ý định của vua trong việc chọn người nối ngôi tức phải nối được chí của vua,không nhất thiết là con trưởng

Hình thức là nhân lễ Tiên Vương, ai làm vừa ý vua sẽ được truyền ngôi Chính vìthế, nhà vua dùng hình thức thử tài để chọn (nhân lễ Tiên vương, ai làm vừa ý vua

sẽ được truyền ngôi)

Câu 2: Vì sao trong các con vua, chỉ có Lang Liêu được thần giúp đỡ?

* Gợi ý:

Trong số các người con của vua, chỉ có Lang Liêu được thần giúp đỡ, vì:

+ Mẹ chàng trước kia bị vua cha ghẻ lạnh, ốm rồi chết So với anh em, chàng làngười thiệt thòi nhất

+ Mặt khác, tuy là con vua, nhưng “từ khi lớn lên, ra ở riêng” chàng “chỉ chăm loviệc đồng áng, trồng lúa, trồng khoai” - sống cuộc sống như dân thường

+ Đồng thời, chàng là người có trí sáng tạo, hiểu được ý thần: “Trong trời đất,không gì quý bằng hạt gạo” và lấy gạo làm bánh để lễ Tiên vương

=> Qua đó, truyện đã thể hiện ý nguyện của nhân dân lao động, những người hiềnlành, chăm chỉ sẽ luôn nhận được sự giúp đỡ khi khó khăn, hoạn nạn

Câu 3: Vì sao hai thứ bánh của Lang Liêu được vua cha chọn để tế Trời, Đất, Tiên Vương và Lang Liêu được truyền ngôi vua?

* Gợi ý:

Trang 13

Hai thứ bánh của Lang Liêu được vua cha chọn để tế Trời, Đất, Tiên vương vàLang Liêu được chọn nối ngôi vua vì:

- Hai thứ bánh đó thể hiện công sức lao động chăm chỉ, cần cù và thể hiện sự quýtrọng nghề nông, quý trọng sản phẩm do con người làm ra;

- Hai thứ bánh đó thể hiện ý tưởng sáng tạo sâu xa:

+ Bánh tròn tượng hình Trời, bánh vuông tượng hình Đất

+ Cách thức gói “các thứ thịt mỡ, đậu xanh, lá dong là tượng cầm thú, cây cỏ muônloài” và “lá bọc ngoài, mĩ vị để trong” thể hiện mối quan hệ khăng khít giữa conngười với thiên nhiên trong lối sống và trong nhận thức truyền thống của ngườiViệt Nam; đồng thời thể hiện truyền thống đoàn kết, gắn bó và tinh thần đùm bọcnhau giữa những người dân đất Việt vốn là anh em sinh từ một bọc trứng Lạc Long

- Âu Cơ

Việc vua Hùng chọn Lang Liêu nối ngôi chứng tỏ vua trọng người vừa có tài cóđức vừa có lòng hiếu thảo; đồng thời qua đó cũng đề cao lao động và phẩm chấtsáng tạo trong lao động của nhân dân

Câu 4: Hãy nêu ý nghĩa của truyền thuyết Bánh chưng, bánh giầy.

* Gợi ý:

Ý nghĩa của truyền thuyết Bánh chưng, bánh giầy là:

Truyện giải thích nguồn gốc của bánh chưng, bánh giầy, đó là hai thứ bánh tiêubiểu có trong ngày Tết cổ truyền nước ta

Truyện cũng phản ánh thành tựu văn minh nông nghiệp ở buổi đầu dựng nước vớithái độ đề cao trí thông minh và lòng hiếu thảo của người lao động, đề cao nghềnông

Qua cách vua Hùng lựa chọn người nối ngôi là Lang Liêu, truyện còn đề cao ýthức tôn kính tổ tiên, xây dựng phong tục tập quán trên cơ sở coi trọng những giátrị sáng tạo thiêng liêng của nhân dân, ca ngợi truyền thống đạo lí cao đẹp của dântộc Việt Nam

II Nâng cao:

Câu 1: Ý nghĩa của phong tục ngày Tết nhân dân ta làm bánh chưng, bánh giầy

* Gợi ý:

- Dân tộc nào cũng có thức ăn truyền thống Song chưa thấy dân tộc nào có mộtthức ăn vừa độc đáo, vừa ngon lành, vừa bổ, vừa gắn liền với truyền thuyết dân tộclâu đời Bánh chưng hình vuông, màu xanh, tượng trưng Trái Đất Bánh dầy hìnhtròn, màu trắng, tượng trưng Trời, dương, thể hiện triết lý Vuông Tròn của người

Trang 14

Việt Nam Bánh chưng âm giành cho Mẹ, bánh giầy dương giành cho Cha Bánhchưng bánh giầy là thức ăn trang trọng, cao quý nhất để cúng Tổ tiên, thể hiện tấmlòng uống nước nhớ nguồn, nhớ công ơn sinh thành dưỡng dục to lớn, bao la nhưtrời đất của cha mẹ

- Sự tích trên muốn nhắc nhở con cháu về truyền thống của dân tộc, thờ cúng tổtiên; là lời giải thích ý nghĩa cũng như nguồn cội của của Bánh Chưng, Bánh Giầytrong văn hóa, đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của cây lúa và thiên nhiêntrong nền văn hoá lúa nước

Câu 2: Đọc truyện này em thích nhất chi tiết nào? Tại sao?

* Gợi ý:

Có thể chọn chi tiết Lang Liêu làm bánh Chi tiết này hấp dẫn người đọc bởi cùngvới sự cần cù hiếu thảo, tự tay làm bánh để dâng lên tổ tiên Lang Liêu đã chứng tỏmình là người xứng đáng được truyền ngôi Chàng hoàng tử thứ mười tám của vuaHùng đã làm ra một thứ bánh vừa ngon lại vừa sáng tạo bằng sự thông minh và tàitrí của mình Và vì thế, chàng không những làm cho vua cha cảm thấy hài lòng màcác lang khác cũng tỏ ra mến phục

Hoặc chi tiết cuộc thi tài, Lang Liêu được thần giúp đỡ Chi tiết này thường gặptrong truyện dân gian, thể hiện mong ước của nhân dân lao động ở hiền gặp lành,khi gặp khó khăn luôn nhận được sự giúp đỡ

Phần tham khảo mở rộng

Câu 3: Kể lại truyện Bánh chưng bánh giầy bằng lời văn của em

* Gợi ý:

a Mở bài: Vậy là một mùa xuân nữa lại về Trên khắp các nẻo đường, mọi người

đều nô nức mua sắm, chuẩn bị cho một cái Tết đủ đầy, cả nhà cùng nhau sum họp

Mẹ em đang gói những chiếc bánh chưng vuông vắn, một nét ẩm thực không thểthiếu trong ngày tết truyền thống củ dân tộc Việt Nam Và chiếc bánh chưng nhưkhơi dậy những hồi ức trong em về truyền thuyết ý nghĩ Bánh chưng, bánh giầy

b Thân bài: Truyện kể về vua Hùng Vương lúc về già, vua có hai mươi người con

trai nhưng không biết chọ ai xứng đáng để truyền ngôi Giặc ngoài đã dẹp yên, đấtnước muốn yên ổn, ấm no thì ngai vàng mới vững Vì vậy, vua bèn gọi các con lại

và nói:

Mảnh đất Lạc Việt của chúng ta từ buổi đầu dựng nước đã truyền được sáu đời.Nhiều lần giặc Ân đã xâm lấn bờ cõi của chúng ta Nhờ phúc ấm của Tiên vương,nhân dân ta đã đánh đuổi được giặc ngoại xâm, thiên hạ hưởng hạnh phúc, bìnhyên Nay ta đã già rồi, không thể sống mãi trên đời Người ta truyền ngôi phải là

Trang 15

người nối chí ta, không nhất thiết phải là con trưởng Năm nay, nhân lễ Tiênvương, ai làm vừa lòng ta, ta sẽ truyền ngôi cho, có Tiên vương chứng giám.

Các lang ai cũng muốn được truyền ngôi nên cố gắng làm hài lòng vua cha nhưng

ý cha muốn thế nào, không ai đoán được Vì vậy, họ đua nhau làm những mâm cao

cỗ đầy thật ngon để đem về lễ Tiên vương Tuy nhiên, người buồn nhất là LangLiêu, chàng là con thứ mười tám của vua nhưng mẹ chàng bị ghẻ lạnh, ốm rồi chết.Chàng ra ở riêng, quanh năm chỉ biết chăm lo việc đồng áng, trồng lúa, trồngkhoai Trong nhà chỉ có lúa, khoai nên chàng chẳng biết làm gì để dâng cúng Tiênvương nên lấy làm buồn Một đêm, chàng nằm mộng thấy một vị thần đến báo:Lang Liêu ! Trong trời đất, không gì quý bằng hạt gạo Các thứ khác tuy ngonnhưng quý, hiếm mà người ta không làm ra được Còn gạo trồng nhiều thì ăn đượcnhiều, gạo bình dị nhưng rất quý giá Con hãy sử dụng mà làm bánh lễ Tiên vương.Tỉnh dậy, chàng mừng thầm Chàng bèn chọn thứ gạo nếp ngon, hạt đâu xanh, thịtlợn và lá dong trong vườn để gói thứ thánh hình vuông và đem ninh thật nhừ Đểmâm cỗ đa dạng, phong phú hơn, cùng một thứ gạo ấy chàng giã nhuyễn, đồ lênrồi nặn thành hình tròn

Hôm đó, đến ngày lễ Tiên vương, trước sân cung đình, mọi người háo hức chờ đợi.Các lang lần lượt mang các món ăn vào yết kiến nhà vua Vua cha xem qua mộtlượt rồi bỗng dừng lại trước chồng bánh của Lang Liêu và rất ngạc nhiên Ông chogọi Lang Liêu lên và chàng đã kể việc được thần báo mộng Vua cha nói:

Bánh hình tròn tượng trưng cho Trời, ta đặt tên là bánh giầy Bánh hình vuông làtượng trưng cho Đất, ta đặt tên là bánh chưng Lá bọc ngoài, mĩ vị để trong là ngụ

ý đùm bọc nhau Lang Liêu dâng lễ vật hợp với ý ta Lang Liêu sẽ nối ngôi và trởthành vị vua kế tục đất nước

c Kết bài: Từ đó, nước ta chăm nghề trồng trọt, chăn nuôi và có tục ngày tết làm

bánh chưng, bánh giầy Truyền thuyết đã giải thích nguồn gốc của hai loại bánh,vừa đề cao nền nông nghiệp và thể hiện truyền thống đạo hiếu, biết ơn Trời, Đất, tổtiên của dân tộc ta

Câu 4: Tả cảnh gia đình em chuẩn bị đón Tết bằng một bài văn ngắn

* Gợi ý:

a Mở bài: Khi ánh én chao liệng trên bầu trời, những hạt mưa xuân lất phất bay

trên mầm lá non đã báo hiệu một mùa xuân mới lại về Ngày xuân là khoảng thờigian để gia đình tụ họp, cùng nhau sum vầy đón tết Gia đình em cùng nhau chuẩn

bị ngày tết trong không khí vui vẻ, rộn ràng

Trang 16

b Thân bài: Kì nghỉ tết đã đến, em cùng gia đình háo hức chuẩn bị những công

việc để đón năm mới Ông bà nội lau dọn và sửa sang lại bàn thờ để đón gia tiên vềđón tết cùng gia đình Ông giảng giải cho em, ngày tết truyền thống là dịp để concháu nhớ ơn tiên tổ, nhớ về cội nguồn của dân tộc mình Ngoài sân, bố em đangxếp những chậu cây cảnh mới mua Mùa xuân, cây cối như được khoác lên mìnhtấm áo mới, được điểm tô bởi những mầm non xanh biếc xen lẫn với nụ hoa chớm

nở Em cùng mẹ dọn dẹp, lau nhà cửa, bàn ghế và chuẩn bị những món ăn quenthuộc ngày tết Mẹ em đã hướng dẫn em những món ăn truyền thống của dân tộc,

là nem rán, bánh chưng xanh và đĩa mứt gừng cay ấm Mỗi khi Tết đến, em thíchnhất là được cùng mẹ đi chợ tết mua sắm Mẹ chọn mua những bông hoa cúc vàngrực rỡ, đôi câu đối đỏ và rất nhiều bánh kẹo để đặt lên ban thơ, thắp huong tổ tiêntrong ba ngày tết Em cùng mẹ chọn cho ông bà và bố những chiếc áo len áo ấm

áp Em cũng rất vui vì chọn được cho mình bộ quần áo mới để diện ngày tết

c Kết bài: Mỗi dịp tết đến xuân sang, cả gia đình em lại cùng được quây quần để

chuẩn bị đón mừng năm mới Em mong gia đình sẽ mãi luôn hạnh phúc và đầm ấmnhư vậy

C PHIẾU BÀI TẬP:

Phiếu bài tập số 1:

Cho đoạn văn: “Tỉnh dậy, Lang Liêu mừng thầm Càng ngẫm nghĩ, chàng càng thấy lời thần nói đúng Chàng bèn chọn thứ gạo nếp thơm lừng, trắng tinh, hạt nào hạt nấy tròn mẩy, đem vo thật sạch, lấy đậu xanh, thịt lợn làm nhân, dùng lá dong trong vườn gói thành hình vuông, nấu một ngày một đêm thật nhừ Để đổi

vị, đổi kiểu, cũng thứ gạo nếp ấy, chàng đồ lên, giã nhuyễn, nặn hình tròn”

(SGK Ngữ văn 6 tập 1, trang 11)

Câu 1: Đoạn văn trên trích từ văn bản nào?

Câu 2: Văn bản ấy thuộc thể loại truyện dân gian nào?

Câu 3: Xác định phương thức biểu đạt của đoạn văn

Câu 4: Tìm từ ghép trong đoạn văn và phân ra từ từ ghép đẳng lập, chính phụ? Câu 5: Đoạn văn trên kể về sự việc gì?

Câu 6: Viết một đoạn văn ngắn trình bày cảm nhận của em về nhân vật Lang

Liêu

Phiếu bài tập số 2:

Đọc đoạn văn sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:

“Đến ngày lễ Tiên vương, các lang mang sơn hào hải vị, nem công chả phượng tới, chẳng thiếu thứ gì Vua cha xem qua một lượt rồi dừng lại trước

Trang 17

chồng bánh của Lang Liêu, rất vừa ý, bèn gọi lên hỏi Lang Liêu đem giấc mộng gặp thần ra kể lại Vua cha ngẫm nghĩ rất lâu rồi chọn hai thứ bánh ấy đem tế Trời, đất cùng Tiên vương”

(SGK Ngữ văn 6 tập 1, trang 11)

Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn văn ?

Câu 2: Xác định các từ theo cấu tạo trong câu sau: “Lang Liêu đem giấc mộng

Câu 5: Viết một đoạn văn ngắn trình bày ý nghĩa chi tiết tưởng tượng kì ảo được

sử dụng trong văn bản chứa đoạn văn trên

Phương thức biểu đạt: Tự sự kết hợp miêu tả

Câu 4: Các từ ghép: mừng thầm, ngẫm nghĩ, gạo nếp, thơm lừng, trắng tinh, tròn

mẩy, đậu xanh, thịt lợn, lá dong, hình vuông, hình tròn

Trang 18

Vương, Lang Liêu chỉ lo làm thế nào để có lễ vật tươm tất, xứng đáng để lễ Tiênvương chứ không lo tranh ngôi báu Lang Liêu dùng ngay những thứ mình làm ra

để dâng lên Tiên Vương, thể hiện rõ thái độ biết ơn và kính trọng trời đất, tổ tiên.Không những vậy, chàng còn là người có tài- thể hiện ở khả năng sáng tạo: làngười duy nhất hiểu được ý vua cha (mong muốn phát triển nghề nông, mang lại

ấm no, thái bình cho dân), thông minh khi hiểu được ý thần Chàng khéo léo, sángtạo khi chỉ có một gợi ý nhỏ của thần mà biết lựa chọn sản vật phù hợp, chế biến

ra hai thứ bánh có ý nghĩa vô cùng sâu sắc Chính bởi mang trong mình nhiềuphẩm chất tốt đẹp như thế, hình tượng Lang Liêu luôn sống mãi trong lòng nhândân

Phiếu bài tập số 2

Câu 1: Phương thức biểu đạt chính: Tự sự

Câu 2: “Lang Liêu/ đem/ giấc mộng/ gặp /thần/ ra/ kể/ lại”

Từ đơn: đem, gặp, thần, ra, kể, lại

Từ ghép: Còn lại

Câu 3: Hai thứ bánh đó là bánh chưng và bánh giầy

- Ý nghĩa:

+ Ý nghĩa thực tế : Đề cao thành qủa của nghề nông

+ Ý nghĩa sâu xa: tượng trưng của Trời - Đất, muôn loài, tượng trưng cho ngụ ýđùm bọc nhau

Câu 4:

- Truyền thống yêu nước chống giặc ngoại xâm của dân tộc

- Thời kì đất nước ta phát triển kinh tế, người dân tự làm ra lương thực để duy trìđời sống

- Hiểu biết hơn về văn hóa dân tộc, biết ơn Trời đất, Tổ tiên qua việc tế lễ

+ Thể hiện niềm tin của nhân dân vào tổ tiên linh thiêng, thần thánh của mình

Trang 19

+ Khiến câu chuyện hay hơn, hấp dẫn người đọc, người nghe.

- Có thể nói, chi tiết Lang Liêu được Thần báo mộng và lời báo mộng trở thànhhiện thực là một chi tiết kì ảo giàu ý nghĩa làm nên thành công của truyền thuyếtBánh chưng bánh giầy

Đoạn văn tham khảo

Trong tác phẩm Bánh chưng bánh giầy, chi tiết kì tưởng tượng, kì ảo duy nhất được

sử dụng là chi tiết Lang Liêu được thần báo mộng, đây là chi tiết mang ý nghĩa sâusắc Đây là chi tiết quen thuộc trong các truyện dân gian: người nghèo khổ, thiệtthòi luôn được thần tiên giúp đỡ Ta thấy Lang Liêu xứng đáng được vì chàng làngười yêu lao động và chăm chỉ, là người gần với cuộc sống nhân dân nhất Chitiết đã thể hiện sự đồng tình của nhân dân, họ đứng về phía Lang Liêu, người gầngũi và gắn bó với họ, đồng thời cũng thể hiện niềm tin của nhân dân vào tổ tiênlinh thiêng của mình Chi tiết này làm cho hình tượng nhân vật trở nên đẹp đẽ hơn

để câu chuyện hay hơn, hấp dẫn hơn Có thể nói, chi tiết Lang Liêu được Thần báomộng và lời báo mộng trở thành hiện thực là một chi tiết kì ảo giàu ý nghĩa làmnên thành công của truyền thuyết Bánh chưng bánh giầy

Trang 20

BÀI 3: THÁNH GIÓNG

A KIẾN THỨC TRỌNG TÂM

I Tìm hiểu văn bản:

1 Thể loại Truyện truyền thuyết

2 Tóm tắt Đời Hùng Vương thứ sáu, làng Gióng có hai vợ chồng ông lão

chăm chỉ, phúc đức nhưng không có con Một hôm bà vợ ra đồngướm vào vết chân to, về nhà thụ thai Mười hai tháng sau sinh cậucon trai khôi ngô Lên ba tuổi mà chẳng biết đi, không biết nóicười Giặc Ân xâm lược, nhà vua chiêu mộ người tài, cậu bé cấttiếng nói yêu cầu vua sắm roi sắt, áo giáp sắt, ngựa sắt để đánhgiặc Cậu ăn khỏe, lớn nhanh như thổi Cả làng phải góp gạo nuôi.Giặc đến, chú bé vùng dậy, vươn vai biến thành tráng sĩ, mặc giápsắt, cưỡi ngựa sắt, cầm roi sắt xông ra đánh tan giặc, roi sắt gãytráng sĩ nhổ những cụm tre quật giặc Tráng sĩ mình một ngựa, lênđỉnh núi cởi bỏ giáp sắt cùng ngựa bay lên trời Nhân dân nhớ ơnlập đền thờ, giờ vẫn còn hội làng Gióng và các dấu tích ao hồ,

sử về người anh hùng cứu nước chống giặc ngoại xâm

5 Giá trị

nghệ thuật

Xây dựng nhiều chi tiết tưởng tượng kì ảo tạo nên sức hấp dẫn cho

truyền thuyết

Trang 21

II/ Dàn ý phân tích văn bản “Thánh Gióng”:

a Sự ra đời của Thánh Gióng

- Bà mẹ ra đồng, ướm chân mình lên một vết chân rất to, về nhà bà thụ thai

- Mười hai tháng mang thai, sinh ra một đứa bé khôi ngô

- Đến ba tuổi, đứa bé không biết nói, biết cười, không biết đi, cứ đặt đâu thì nằmđấy

→ Sự ra đời kì lạ, khác thường của Thánh Gióng

b Thánh Gióng đòi đi đánh giặc và sự lớn lên kì lạ

- Khi nghe tiếng rao của sứ giả, Thánh Gióng cất tiếng nói đầu tiên – tiếng nói xinđược đi đánh giặc

- Gióng đòi một con ngựa sắt,một cái roi sắt và một áo giáp sắt cùng lời hứa sẽđánh tan quân xâm lược

→ Câu nói của Thánh Gióng mang sức mạnh tiềm ẩn của lòng yêu nước Điều đóthể hiện ý thức, trách nhiệm đối với đất nước và ý chí, lòng quyết tâm đánh thắnggiặc Ân

- Từ khi gặp sứ giả,Thánh Gióng lớn nhanh như thổi:

Cơm ăn mấy cũng không no, áo vừa mặc xong đã căng đứt chỉ

Hai vợ chồng làm ra bao nhiêu cũng không đủ nuôi

Cả làng góp gạo nuôi chú bé, ai cũng mong chú giết giặc, cứu nước

→ Sự lớn mạnh của lòng yêu nước, của quyết tâm đánh thắng giặc Ân xâm lược.Gióng sinh ra, lớn lên trong vòng tay của nhân dân, mang trên mình nguyện vọngcủa nhân dân

c Gióng cùng nhân dân đánh thắng giặc Ân và bay về trời

- Gióng vươn vai một cái trở thành một tráng sĩ, mình cao hơn trượng, oai phonglẫm liệt

- Gióng ra trận đánh giặc:

Mặc áo giáo, cầm roi, nhảy lên mình ngựa

Thúc ngựa, phi thẳng đến nơi có giặc, đón đầu chúng đánh giết hết lớp này đến lớpkhác

Trang 22

Khi roi sắt gãy, tráng sĩ nhổ những cụm tre cạnh đường quật vào giặc

Kết quả: giặc chết như rạ, giẫm đạp lên nhau chạy trốn

→ Dũng mãnh, oai phong, lẫm liệt

→ Ngợi ca lòng yêu nước, sức mạnh chống ngoại xâm của nhân dân ta

- Gióng bay về trời: một mình một ngựa, tráng sĩ lên đỉnh núi, cởi áo giáp sắt bỏlại, cả người lẫn ngựa bay lên trời

→ Thánh Gióng về với cõi bất tử Qua đó, cho thấy thái độ ngợi ca, tôn trọng củanhân dân đối với những người anh hùng

d Nhân dân ghi nhớ công ơn của Thánh Gióng

- Lập đền thờ ở làng Phù Đổng, tục gọi là làng Gióng, hàng năm làng mở hội tolắm

- Dấu tích còn để lại đến ngày nay: những bụi tre đằng ngà ở huyện Ba Vì, những

ao hồ liên tiếp, làng Cháy…

→ Niềm tin của nhân dân vào sức mạnh thần kì của dân tộc

3/ Kết bài

- Khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật của văn bản

+ Nội dung: Hình tượng Thánh Gióng với nhiều sắc màu thần kì là biểu tượng rực

rỡ của ý thức và sức mạnh bảo vệ đất nước, đồng thời là sự thể hiện quan niệm vàước mơ của nhân dân ta ngay từ buổi đầu lịch sử về người anh hùng cứu nướcchống giặc ngoại xâm

+ Nghệ thuật: sử dụng nhiều yếu tố tưởng tượng kì ảo, tăng sức hấp dẫn cho vănbản

Trang 23

+ Sinh ra khác thường (bà mẹ chỉ ướm vào vết chân lạ mà thụ thai) Thụ thai đếnmười hai tháng; ba tuổi mà chẳng biết đi đứng, nói cười.

+ Khi sứ giả đến tìm người tài giỏi giúp nhà vua đánh giặc, Gióng bỗng cất tiếngnói xin đi đánh giặc

+ Gióng lớn nhanh như thổi, ăn cơm mấy cũng không no, áo vừa mặc xong đã đứtchỉ

+ Giặc đến, Gióng vươn vai biến thành một tráng sĩ cao lớn

+ Ngựa sắt mà hí được, lại phun lửa

+ Nhổ tre ven đường đánh giặc, giặc tan vỡ

+ Khi dẹp xong giặc, chàng Gióng và ngựa sắt từ từ bay lên trời

Ngựa phun lửa thiêu cháy một làng, chân ngựa chạy biến thành ao hồ, tre ngả màuvàng óng

Câu 2: Theo em, các chi tiết sau đây có ý nghĩa như thế nào?

a Tiếng nói đầu tiên của chú bé lên ba là tiếng nói đòi đánh giặc

b Gióng đòi ngựa sắt, roi sắt, giáp sắt để đánh giặc

c Bà con làng xóm vui lòng góp gạo nuôi cậu bé

d Gióng lớn nhanh như thổi, vươn vai thành tráng sĩ

đ Gậy sắt gãy, Gióng nhố tre bên đường đánh giặc

e Gióng đánh giặc xong, cởi áo giáp sắt để lại và bay thẳng về trời

* Gợi ý:

Các chi tiết đặc biệt trong truyện thể hiện rất nhiều ý nghĩa

a Thứ nhất tiếng nói đầu tiên của Gióng là tiếng nói đòi đi đánh giặc Chi tiết nàychứng tỏ nhân dân ta luôn có ý thức chống giặc ngoại xâm Khi có giặc, từ ngườigià đến trẻ con đều sẵn sàng đánh giặc cứu nước Đây là một chi tiết thần kì: chưa

hề biết nói, biết cười, ngay lần nói đầu tiên, chú bé đã nói rất rõ ràng về một việc

hệ trọng của đất nước

b Thứ hai, Gióng đòi ngựa sắt, roi sắt, áo giáp sắt để đánh giặc Gióng không đòi

đồ chơi như những đứa trẻ khác mà đòi vũ khí, những vật dụng để đánh giặc Đâycũng là một chi tiết thần kì Gióng sinh ra đã là một anh hùng và điều quan tâm duynhất của vị anh hùng đó là đánh giặc

c Thứ ba, bà con làng xóm vui lòng góp gạo nuôi cậu bé Gióng là đứa con củanhân dân, được nhân dân nuôi nấng, dạy dỗ Sức mạnh của Gióng là sức mạnh củanhân dân, sức mạnh của tinh thần đồng sức, đồng lòng

d Thứ tư, Gióng lớn nhanh như thổi, vươn vai thành tráng sĩ Đây cũng là chi tiếtthể hiện sức mạnh của nhân dân, sức mạnh của dân tộc Khi hoà bình là những

Trang 24

người lao động rất bình thường, nhưng khi chiến tranh xảy ra, sự đoàn kết đã hoáthành sức mạnh bão tố, phi thường, vùi chôn quân giặc

e Thứ năm, Roi sắt gãy, Gióng nhổ tre bên đường đánh giặc Gậy sắt là vũ khí củangười anh hùng Nhưng khi cần thì cả cỏ cây cũng biến thành vũ khí

g Thứ sáu, Gióng đánh giặc xong, cởi áo giáp sắt để lại và bay thẳng lên trời.Gióng cũng như nhân dân hay chính là nhân dân, đánh giặc vì lòng yêu nước, cămthù giặc, sẵn sàng hi sinh thân mình mà không đòi hỏi được khen thưởng hay bancho danh lợi

Câu 3: Hãy nêu ý nghĩa của hình tượng Thánh Gióng?

* Gợi ý:

Ý nghĩa của hình tượng Thánh Gióng:

- Thánh Gióng là hình tượng tiêu biểu của người anh hùng chống giặc ngoại xâm.Gióng được sinh ra từ nhân dân, do nhân dân nuôi dưỡng Gióng đã chiến đấu bằngtất cả tinh thần yêu nước, lòng căm thù giặc của nhân dân Sức mạnh của Gióngkhông chỉ tượng trưng cho sức mạnh của tinh thần đoàn kết toàn dân, đó còn là sứcmạnh của sự kết hợp giữa con người và thiên nhiên, bằng cả vũ khí thô sơ và hiệnđại

- Gióng mang nhiều nguồn sức mạnh:

+ Thần linh (vết chân)

+ Cộng đồng (nuôi cơm)

+ Vũ khí bằng sắt (thành tựu kỹ thuật)

+ Thiên nhiên, đất nước (tre làng)

Hình tượng Thánh Gióng với nhiều màu sắc thần kì, hoang đường song là biểutượng về lòng yêu nước và sức mạnh chống giặc ngoại xâm của nhân dân ta Thểhiện quan niệm và ước mơ cùa nhân dân ta về hình mẫu lí tưởng của người anhhùng chống giặc ngoại xâm Bên cạnh đó, truyền thuyết cũng nói lên sức mạnhtiềm tàng, ấn sâu bên trong những con người kì dị Từ truyền thống đánh giặc cứunước, nhân dân ta đã thần thánh hoá những vị anh hùng trở thành những nhân vậthuyền thoại, tượng trưng cho lòng yêu nước, sức mạnh quật khởi của dân tộc

Câu 4: Truyền thuyết thường liên quan đến sự thật lịch sử Theo em, truyện Thánh Gióng có liên quan đến sự thật lịch sử nào?

* Gợi ý:

Sự thật lịch sử được phản ánh trong truyện Thánh Gióng là thời đại Hùng Vương

Trang 25

- Trên cơ sở một nền kinh tế nông nghiệp trồng lúa nước đã khá phát triển, ngườidân Văn Lang đã tạo nên cả một nền văn minh rực rỡ, đồng thời cũng luôn luônphải chống giặc ngoại xâm phương Bắc để bảo vệ đất nước

- Bên cạnh việc cấy trồng lúa nước, nhân dân thời bấy giờ đã có ý thức chế tạo vũkhí chống giặc từ chất liệu kim loại (bằng sắt)

- Truyền thuyết cũng phản ánh: trong công cuộc chống ngoại xâm, từ xa xưa,chúng ta đã có truyền thống huy động sức mạnh của cả cộng đồng, dùng tất cả cácphương tiện để đánh giặc

II Nâng cao:

Câu 1: Hình ảnh nào của Gióng là hình ảnh đẹp nhất trong tâm trí em?

* Gợi ý:

Trong các hình ảnh về Thánh Gióng, có thể chọn một hình ảnh đẹp nhất như:

- Chú bé vùng dậy, vươn vai một cái biến thành một tráng sĩ mình cao hơn trượng,oai phong lẫm liệt Em thích hình ảnh này vì nó tượng trưng cho sức mạnh phithường của Gióng Khi đất nước cần, mỗi người dân đều sẵn sàng đóng góp côngsức cho dân tộc

- Một mình một ngựa, tráng sĩ lên đỉnh núi, cởi giáp sắt bỏ lại, rồi cả người lẫnngựa từ từ bay lên trời Vì khi hoàn thành nhiệm vụ đất nước giao phó, Gióng đãkhông màng danh lợi

Câu 2: Theo em, tại sao hội thi thể thao trong nhà trường phổ thông lại mang tên là Hội khoẻ Phù Đổng?

* Gợi ý:

- Hội thi dành cho lứa tuổi thiếu niên, lứa tuổi Thánh Gióng trong thời đạimới Mong muốn thế hệ trẻ hôm nay phát huy được sức mạnh và tinh thần củaThánh Gióng năm xưa

- Hình ảnh Thánh Gióng là hình ảnh của sức mạnh, tinh thần đoàn kết tập thể, củatinh thần chiến thắng rất phù hợp với ý nghĩa của một hội thi thể thao

Phần tham khảo mở rộng

Câu 3:

“Ôi sức trẻ! Xưa trai Phù Đổng

Vươn vai, lớn bổng dậy nghìn cân

Cưỡi lưng ngựa sắt bay phun lửa

Nhổ bụi tre làng đuổi giặc Ân!”

(Tố Hữu)

Trang 26

Dựa vào nội dung đoạn thơ, phát biểu cảm nghĩ của em về người anh hùng làng Gióng

* Gợi ý:

a Mở bài:

Trải qua ngàn năm lịch sử dựng và giữ nước, dân tộc ta ngày nay được sống trongkhông khí thanh bình, hạnh phúc Trong ngày hội lớn của quê hương, em cùng bố

mẹ đến thăm di tích lịch sử đền Gióng để tưởng nhớ vị anh hùng dân tộc năm xưa

Kí ức về truyện truyền thuyết Thánh Gióng lại vang lên trong em với những cảmphục, tự hào về nhân vật anh hùng này

Từ khi gặp sứ giả, Gióng ăn nhiều, lớn nhanh hư thổi, cơm ăn mấy cũng không đủ

no, áo vừa may đã chật Gióng lớn nhanh như thổi không chỉ nhờ công lao của cha

mẹ mà còn nhờ sự đóng góp rất lớn của bà con xóm làng đã góp gạo thổi cơm nuôicậu bé Và để đủ vũ khí giúp Gióng chiến đấu với kẻ thủ còn nhờ sự vất vả củanhân dân ta, ngày đêm rèn luyện binh khí, ngựa sắt, áo giáp sắt Qua đó, cho thấytinh thần đoàn kết, chung sức chung lòng của nhân dân ta khi đất nước lâm nguy.Tinh thần ấy đã tạo nên sức mạnh to lớn để nhân dân ta đủ sức mạnh chống giặcngoại xâm

Trang 27

Không chỉ vậy, Gióng còn là hình ảnh của người anh hùng thông minh, mưu trí.Hình ảnh “Gióng vươn vai một cái bỗng biến thành tráng sĩ” là hình ảnh đẹp, chothấy phong thái lẫm liệt của người anh hùng ra trận Khi chiếc roi sắt bị gãy, Gióngnhanh trí nhổ khóm tre ven đường để quét sạch giặc Ân, chúng nhẫm đạp lên nhau

để trốn thoát Lũ giặc hung bạo, tham lam đã nhận kết cục thảm hại trước sứcmạnh và lòng dũng cảm của chàng trai làng Gióng Điều đó cũng thể hiện sự mưutrí, tận dụng mọi lực lượng, mọi vũ khó trong chiến đấu và bảo vệ non sông, bờcõi

Hình ảnh cuối cùng về người anh hùng làng Gióng là hình ảnh đẹp, mãi khắc ghitrong tâm trí em Gióng giết giặc Ân rồi một mình phi ngựa lên đỉnh núi Sóc, cởi

bỏ chiếc áo giáp sắt và từ từ bay lên trời Người anh hùng ấy đã hoàn thành trọngtrách mà đất nước, nhân dân giao phó Người trở về trời mà không màng đến lợidanh, hi sinh vì hạnh phúc và ấm nó của nhân dân Bởi vậy mà ngày nay, đến tháng

tư hàng năm, nhân dân ta mở hội để nhớ ơn công lao của Thánh Gióng Truyềnthống uống nước nhớ nguồn đó là đạo lí cao đẹp của dân tộc và nhắc nhở con cháumai sau mãi khắc ghi công ơn của thế hệ cha ông đi trước

Vợ chồng tôi mừng lắm Nhưng lạ thay! Thằng bé đến khi lên ba vẫn không biếtnói, biết cười, cũng chẳng biết đi, chỉ đặt đâu nằm đấy

Bấy giờ, giặc Ân sang xâm lược nước ta Giặc mạnh, nhà vua lo sợ bèn sai sứ giả

đi khắp nơi rao tìm người tài giỏi cứu nước Bỗng con trai tôi cất tiếng gọi khiếntôi vừa vui và vô cùng bất ngờ:

- Mẹ ơi! Mẹ ra mời sứ giả vào đây cho con!

Trang 28

Ôi! Con đã nói được rồi ư? Con còn nhỏ sao tham gia chuyện đại sự của dất nướcđược? Tuy nhiên, Gióng cương quyết muốn mời nên tôi đành chiều theo ý Khi sứgiả vào, Gióng bảo: “Ông về tâu với vua sắm cho ta một con ngựa sắt, ta sẽ phá tan

lũ giặc này” Sứ giả vừa kinh ngạc, vừa mừng rỡ, vội vàng về tâu vua Nhà vuatruyền cho thợ ngày đêm làm gấp những vật mà con trai tôi dặn

Từ sau hôm gặp sứ giả, Gióng nói với tôi:

Mẹ hãy nấu nồi cơm to cho con, con lấy sức chuẩn bị đi đánh giặc

Con tôi lớn nhanh như thổi Cơm ăn bao nhiêu cũng không no, áo vừa mặc xong dãcăng đứt chỉ Vợ chồng tôi làm ra bao nhiêu cũng không đủ nuôi con nên đành phảichạy nhò bà con làng xóm Dân làng đều vui mừng góp gạo, nấu cơm để Gióng ăn

và hi vọng con tôi sẽ đánh thắng giặc, trừ họa cho đất nước

Giặc đã đến chân núi Trâu Thế ước rất nguy, mọi người hoảng hốt Vừa lúc đó, vị

sứ giả đã đến nhà tôi đem theo ngựa sắt, roi sắt, áo giáp sắt đến Và trước mắt tôi,không còn là cậu con trai bé bỏng ngày nào, Gióng đã vùng dậy, vươn vai một cáibiến thành một tráng sĩ mình cao hơn trượng, oai phong lẫm liệt Cầm lấy tay hai

vợ chồng tôi, Gióng xúc động nói:

Chào cha mẹ, đã đến giờ con phải ra trận để cứu dân giúp nước Cha mẹ ỏ lại giữgìn sức khỏe

Quay sang bà con láng giềng, Gióng nhờ bà con láng giềng chăm sóc chúng tôi nếusau trận chiến nó không trở về Tôi giấu vội giọt nước mắt lăn dài trên má Gióngbước lên vỗ vào mông ngựa Ngựa hí dài mấy tiếng vang dội Tôi đưa chiếc áogiáp, Gióng mặc và cầm roi, nhảy lên mình ngựa Tôi nhìn theo bóng con trai vàngựa đang tiến ra trận

Ngựa phun lửa, tráng sĩ thúc ngựa phi thẳng đến nơi có giặc, đón đầu chúng đánhhết lớp này đến lớp khác, giặc chết như rạ Bỗng roi sắt gãy, Gióng bèn nhổ nhữngcụm tre cạnh đường làm vũ khí quật vào giặc, giặc tan vỡ Đám tàn quân giẫm đạp

lê nhau chạy trốn, Gióng đuổi chúng đến chân núi Sóc Rồi con trai tôi tiến lênđỉnh núi, cởi bỏ áp giáp sắt, cả người lẫn ngựa từ từ bay lên trời cao Tôi nhìn theobóng con xa dần

Để ghi nhớ công ơn của con trai tôi với đất nước, nhà vua đã phong là Phù ĐổngThiên Vương và lập đền thờ ngay tại ngôi làng nơi tôi sinh ra Gióng Dù nỗi mấtcon trong tôi chẳng thể nào nguôi nhưng tôi mãi tự hào về đứa con của mình, vịanh hùng dân tộc được mọi người nhớ ơn

Câu 5: Hình ảnh nào của Gióng là hình ảnh đẹp nhất trong tâm trí em? Hãy viết đoạn văn trình bày cảm nhận của em về hình ảnh đó?

Trang 29

* Gợi ý:

- Hình ảnh đẹp phải có ý nghĩa về nội dung, hay về nghệ thuật

- Gọi tên (ngắn gọn) được hình ảnh đó và trình bày lý do vì sao thích?

- Yêu cầu: đoạn văn không quá dài

- Cảm nghĩ phải chân thật xác đáng Nói rõ tại sao lại có cảm nghĩ đó

Ví dụ:

1 Hình ảnh : đánh giặc xong, Gióng cất bỏ áo giáp sắt bay về trời.

- ý chí phục vụ vô tư không đòi hỏi công anh

- Gióng về trời - về cõi vô biên bất tử Gióng hoá vào non nước đất trời Văn Langsống mãi trong lòng nhân dân

2 Tiếng nói đầu tiên: Ca ngợi ý thức đánh giặc cứu nước

3 Gióng đòi ngựa sắt, roi sắt, giáp sắt, nhổ tre đánh giặc

- Muốn có những vũ khí tốt nhất của thời đại để diêu diệt

- Để đánh thắng giặc chúng ta phải chuẩn bị từ lương thực vũ khí lại đưa cả nhữngthành tựu văn hoá kỹ thuật (ngựa sắt, roi sắt, giáp sắt) vào cuộc chiến đấu

- Gióng đánh giặc không chỉ bằng vũ khí mà bằng cả cây cỏ (hiện đại + thô sơ) củađất nước (lời kêu gọi : Ai có súng)

4 Bà con làng xóm góp gạo nuôi Gióng

- Gióng lớn lên bằng những thức ăn đồ mặc của nhân dân sức mạnh dũng sĩ củaGióng được nuôi dưỡng từ những cái bình thường giản dị

- Nhân dân ta rất yêu nước ai cũng mong Gióng lớn nhanh đánh giặc

- Gióng được nhân dân nuôi dưỡng Gióng là con của nhân dân tiêu biểu cho sứcmạnh toàn dân

5 Gióng lớn nhanh như thổi vươn vai thành tráng sĩ

- Trong truyện cổ người anh hùng thường phải

khổng lồ về thể xác, sức mạnh, chiến công (Thần trụ trời -Sơn tinh ) Gióng vươnvai thể hiện sự phi thường ấy

- Sức mạnh cấp bách của việc cứu nước làm thay đổi con người Gióng  thay đổitầm vóc dân tộc

Câu 6: Trẻ em vẫn mơ ước vươn vai một cái là trở thành tráng sĩ như Thánh Giong Em hãy tưởng tượng mình mơ thấy Thánh Gióng và hỏi ngài bí quyết, xem ngài khuyên em như thế nào?

* Gợi ý:

a Mở bài: Giới thiệu về cuộc gặp gỡ với Thánh Giong.

Trang 30

b Thân bài

- Tưởng tượng và kể lại hoàn cảnh gặp gỡ với nhân vật (trong một giấc mơ saukhi được học, được đọc hoặc nghe kể về câu chuyện có nhân vật ấy, khi đi thamquan ở Đền Gióng có khung cảnh thiên nhiên gợi nhớ đến câu chuyện và nhânvật )

- Kể lại diễn biến cuộc gặp gỡ: Căn cứ sự việc liên quan đến nhân vật (do nhânvật tạo ra hoặc liên quan nhân vật)

+ Hỏi thăm Thánh Gióng, sức khỏe của ngài, tại sao ngài có thể đánh thắng giặcbằng vũ khí đơn sơ

+ Thánh Gióng trả lời, dạy em cách rèn luyện sức khỏe, khuyên em cố gắng,chăm chỉ học tập

+ Thánh Gióng nhờ em truyền đạt điều nay cho các bạn, mong các em thi đuahọc tập, rèn luyện

c Kết bài: Sau khi tỉnh dậy, em nhớ lời Thánh Gióng và sẽ cố gắng thực hiện lời

ngài khuyên

Hướng dẫn viết:

* VD đoạn mở bài: Khi nghe tiếng đồng hồ reng reng, tôi giật mình thức dậy.

Bỗng tôi sực nhớ đến giấc mơ tối qua Tôi mơ được gặp Thánh Giong nhân vậttrong truyền thuyết Thánh Giong mà tôi mới được học Người anh hùng ThánhGióng đó khuyên tôi nhiều điều bổ ích

* VD đoạn viết về hoàn cảnh gặp gỡ: Đêm qua, khi học bài xong, mệt quá, tôi

gục xuống bàn thiu thiu ngủ Bỗng tôi nghe có tiếng vó ngựa phi mỗi lúc một gầnrồi một chàng trai khôi ngô, tuấn tú xuất hiện Chàng mặc áo giáp sắt, tay cầm roisắt, ngồi uy nghi trên lưng ngựa

Câu 7: Em hãy chỉ ra ra và phát biểu cảm nghĩ về ý nghĩa của những yếu tố kì

ảo trong truyền thuyết “Thánh Gióng”:

* Gợi ý:

a Mở bài:

- Khái quát về thể loại truyện truyền thuyết và vai trò của yếu tố kỳ ảo trongtruyền thuyết

Trang 31

- Giới thiệu truyện Thánh Gióng- tác phẩm tiêu biểu của thể loại truyền thuyết- cónhiều yếu tố kì ảo và giàu ý nghĩa.

b Thân bài:

- Khái niệm về yếu tố kỳ ảo trong truyền thuyết

- Tóm tắt truyền thuyết Thánh Gióng

- Những yếu tố kì ảo trong truyện và ý nghĩa của chúng

- Ý nghĩa của hình tượng Thánh Gióng

c Kết bài: khẳng định vai trò của yếu tố thần kì trong truyền thuyết nói chung và

trong truyện Thánh Gióng nói riêng

Bài làm:

a Mở bài:

- Truyền thuyết là loại truyện dân gian kể về các nhân vật và sự kiện có liên quanđến lịch sử thời quá khứ, để qua đó thể hiện quan điểm, thái độ và cách đánh giácủa nhân dân đối với các sự kiện và nhân vật lịch sử được kể

- Trong truyền thuyết, yếu tố kì ảo đóng vai trò khá quan trọng Ý nghĩa của những

yếu tố kì ảo trong truyện truyền thuyết Thánh Gióng đã thể hiện điều đó b Thân bài:

- Các chi tiết thần thoại, kỳ ảo vốn là đặc trưng của thần thoại được sử dụng trongtruyền thuyết làm chức năng huyền thoại hóa các nhân vật, sự kiện; thể hiện sự tônsung, ngưỡng mộ của nhân dân đối với các nhân vật đã đi vào truyền thuyết

- Truyền thuyết Thánh Gióng kể về Thánh Gióng Vào đời Hùng Vương thứ 6, giặc

Ân sang xâm phạm bờ cõi nước ta Nghe tiếng loa của sứ giả cần tìm người tài giỏiđánh giặc, cậu bé ba tuổi mà không biết nói biết cười ở làng Gióng bỗng ngồi dậy,gọi sứ giả vào và bảo ông ta về tâu vua sắm ngựa sắt, giáp sắt và roi sắt cho Gióng

đi đánh giặc Nhận được ngựa sắt, giáp sắt và roi sắt, Gióng biến thành một tráng sĩoai phong lẫm liệt ra trận đánh tan giặc Đến chân núi Sóc, Gióng bỏ lại áo giáp sắtrồi cả người lẫn ngựa bay lên trời Vua nhớ công ơn phong là Phù Đổng ThiênVương và lập đền thờ ngay ở quê nhà

- Hình tượng Thánh Gióng với nhiều chi tiết thần kỳ là biểu tượng của ý thức tinhthần và sức mạnh bảo vệ đất nước trước họa ngoại xâm Hình tượng đó cũng thểhiện niềm mong ước của nhân dân ta từ xa xưa về người anh hùng cứu nước

+ Chi tiết thần kỳ đầu đầu tiên là sự ra đời của Gióng: chàng được sinh ra một cách

kỳ lạ từ một bà mẹ nông dân Bà ra đồng làm ruộng, ướm bàn chân mình trên mộtvết chân to và về nhà thu thai Gióng Điều đó khẳng định rằng sức mạnh của dântộc nằm ở nhân dân, do nhân dân tạo ra

Trang 32

+ Đủ ngày đủ tháng, GIóng được sinh ra, sau 3 năm không nói không cười vậy màtiếng nói đầu tiên của Gióng là tiếng nói đòi đi đánh giặc Thật kỳ lạ! Chưa hề biếtnói biết cười mà ngay lần nói đầu tiên chú bé đã nói rất rõ ràng về một việc hệtrọng của đất nước Chi tiết này chứng tỏ nhân dân ta luôn có ý thức chống giặcngoại xâm Khi có giặc, từ già đến trẻ con đều sẵn sàng đánh giặc cứu nước

+ Sau khi mời được sứ giả vào Gióng xin ngựa sắt, roi sắt, áo giáp sắt để đánhgiặc Chú không đòi đồ chơi như những đứa trẻ khác mà đòi vũ khí, những vậtdụng để đánh giặc Điều này khẳng định rất rõ ràng Gióng sinh ra đã là một anhhung Và điều quan tâm duy nhất của vị anh hùng đó là đánh giặc Đánh giặc là sựnghiệp chung của cả nước

+ Gióng lên tiếng xin đi đánh giặc, bà con làng xóm vui lòng góp gạo nuôi cậu bé.Như vậy, Gióng là đứa con của nhân dân, được nhân dân nuôi nấng dạy dỗ Sứcmạnh của Gióng là sức mạnh của nhân dân, sức mạnh của tinh tthần đồng sức đồnglòng

+ Chi tiết kỳ ảo ấn tượng nhất trong truyện truyền thuyết là chi tiết Gióng lớnnhanh như thổi, vươn vai thành tráng sĩ Hình ảnh ấy thể hiện sức mạnh của nhândân, sức mạnh của dân tộc: khi hòa bình là những người lao động rất bình thườngnhưng khi chiến tranh xảy ra, sự đoàn kết đã hóa thành sức mạnh bão tố phithường, vùi chôn quân giặc Điều đó giống như lời khẳng định của Bác Hồ “mỗikhi tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy( lòng yêu nước) lại sôi nổi Nó kết thànhmột làn sóng vô cùng mạnh mẽ, nó vượt qua mọi sự nguy hiểm khó khăn, nó nhấnchìm tất cả lũ bán nước và cướp nước”

+ Đánh tan giặc, Gióng cởi áo giáp sắt để lại và bay thẳng lên trời Chàng cũng nhưnhân dân luôn mang trong mình khát vọng hòa bình Từ khi sinh ra đến lúc trưởngthành, chỉ có một nhiệm vụ đó là đánh giặc cứu nước Đó đã trở thành biểu tượngcủa sức mạnh chiến đấu Khi giặc đã tan, Gióng bay về trời cũng là thể hiện ước

mơ hòa bình Cũng có thể hiểu rằng, Gióng nói riêng và nhân dân nói chung đánhgiặc vì lòng yêu nước, căm thù giặc, sẵn sàng hi sinh thân mình mà không đòi hỏiđược khen thưởng hay ban danh lợi

c Kết bài: Truyền thuyết Thánh Gióng sử dụng nhiều chi tiết tưởng tượng kỳ ảo

độc đáo Những chi tiết thần kỳ ấy là biểu tượng của ý thức tinh thần và sức mạnhbảo vệ đất nước trước giặc ngoại xâm Hình tượng Thánh Gióng cũng thể hiệnniềm mong ước của nhân dân ta từ xa xưa về người anh hùng cứu nước

Trang 33

Câu 8: Hãy chứng minh: điều thú vị là sản phẩm nghệ thuật văn học truyền miệng- truyện Thánh Gióng- tuy giàu chất tưởng tượng, bay bổng và kì ảo mà vẫn không xa rời thực tế.

* Gợi ý:

Nhờ dùng trí tưởng tượng để sáng tạo nên hình tượng kì ảo mà chuyện lại phản ánhđược những sự thật lịch sử diễn ra suốt cả thời đại dựng nước đầu tiên của dân tộc-thời đại đó là thời đại Hùng Vương Trên cơ sở một nền kinh tế nông nghiệp trồnglúa nước đã phát triển, người dân Văn Lang đã tạo nên cả một nền văn minh rực rỡ.Đây cũng là lúc chiến tranh tự vệ ngày càng quyết liệt, nó khiến người dân VănLang phải đoàn kết và luôn luôn đề cao cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấuthì phải thắng để tồn tại Bởi thế người Văn Lang không chỉ giỏi sản xuất nôngnghiệp mà còn giỏi cả nghề thủ công, đặc biệt là nghề khai thác quặng và luyệnkim loại, chế tạo vũ khí nhiều loại, nhiều kiểu dáng để đáp ứng các yêu cầu củachiến tranh tự vệ Thời đó mỗi người Văn Lang vừa là một nhà nông hoặc thợ thủcông nghiệp vừa là một chiến sĩ khi cần chiến đấu Gióng là con nhà nông cầm vũkhí do thợ thủ công chế tạo ra trận, trở thành chiến sĩ, dũng sĩ Hình tượng ThánhGióng được trau chuốt qua thời gian bởi nhiều thế hệ Chính vì, hình tượng đó kếttinh trong lòng mình toàn bộ lịch sử dựng nước giữ nước của một dân tộc suốt mấynghìn năm qua luôn gánh trên vai đồng thời nhiệm vụ lịch sử làm ăn và đánh giặc

C PHIẾU BÀI TẬP:

Phiếu bài tập số 1:

Đọc đoạn văn sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:

“Tục truyền đời Hùng Vương thứ sáu, ở làng Gióng có hai vợ chồng ông lão chăm chỉ làm ăn và có tiếng là phúc đức Hai ông bà ao ước có một đứa con Một hôm bà ra đồng trông thấy một vết chân rất to, liền đặt bàn chân mình lên ướm thử để xem kém thua bao nhiêu Không ngờ về nhà bà thụ thai và mười hai

tháng sau sinh một cậu bé mặt mũi rất khôi ngô Hai vợ chồng mừng lắm.

Nhưng lạ thay! Đứa trẻ cho đến khi lên ba vẫn không biết nói, biết cười, cũng chẳng biết đi, cứ đặt đâu thì nằm đấy…

(SGK Ngữ văn 6 tập 1, trang 19)

Câu 1: Đoạn văn trên trích từ văn bản nào? Văn bản đó thuộc thể loại nào của

truyện dân gian? Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn văn

Câu 2: Xác định từ theo cấu tạo trong câu sau: “Tục truyền đời Hùng Vương thứ

sáu, ở làng Gióng có hai vợ chồng ông lão chăm chỉ làm ăn và có tiếng là phúc đức”

Trang 34

Câu 3: Đoạn văn trên kể về sự việc gì?

Câu 4: Tìm các từ mượn trong đoạn văn trên và cho biết nguồn gốc của các từ

mượn đó

Phiếu bài tập số 2:

Đọc đoạn văn sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:

“Bấy giờ có giặc Ân đến xâm phạm bờ cõi nước ta Thế giặc mạnh, nhà vua

lo sợ, bèn sai sứ giả đi khắp nơi rao tìm người tài giỏi cứu nước Đứa bé nghetiếng rao, bỗng dưng cất tiếng nói: “ Mẹ ra mời sứ giả vào đây” Sứ giả vào, đứa

bé bảo: “ Ông về tâu với vua sắm cho ta một con ngựa sắt, một cái roi sắt vàmột tấm áo giáp sắt, ta sẽ phá tan lũ giặc này” Sứ giả vừa kinh ngạc, vừa mừng

rỡ, vội vàng về tâu vua Nhà vua truyền cho thợ ngày đêm làm gấp những vậtchú bé dặn”

(SGK Ngữ văn 6 tập 1, trang 19)

Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn văn ?

Câu 2: Nhân vật chính trong truyện là ai ?

Câu 3 : Cho biết ý nghĩa của chi tiết : “Tiếng nói đầu tiên của chú bé là tiếng nói

đòi đi đánh giặc ” ?

Câu 4 : Tìm cụm danh từ trong câu : “ Ông về tâu với vua sắm cho ta một con

ngựa sắt, một cái roi sắt và một tấm áo giáp sắt, ta sẽ phá tan lũ giặc này”

Câu 5 : Hội thi trong nhà trường thường mang tên “ Hội khoẻ Phù Đổng” Hãy

lí giải vì sao?

Phiếu bài tập số 3:

Đọc kĩ đoạn văn sau và trả lời câu hỏi:

“ Giặc đã đến chân núi Trâu Thế nước rất nguy, người người hoảng hốt Vừalúc đó sứ giả đem ngựa sắt, roi sắt, áo giáp sắt đến Chú bé vùng dậy, vươn vaimột cái bỗng biến thành một tráng sĩ mình cao hơn trượng, oai phong, lẫm liệt.Tráng sĩ bước lên vỗ vào mông ngựa Ngựa hí dài mấy tiếng vang dội Tráng sĩmặc áo giáp, cầm roi, nhảy lên mình ngựa Ngựa phun lửa, tráng sĩ thúc ngựaphi thẳng đến nơi có giặc, đón đầu chúng đánh giết hết lớp này đến lớp khác,

giặc chết như rạ.”

(SGK Ngữ văn 6 tập 1, trang 20)

Câu 1: Tóm tắt sự việc nêu trong đoạn văn bằng một câu văn?

Câu 2: Phương thức biểu đạt chính của đoạn văn trên là gì?

Câu 3: Tìm các cụm danh từ trong đoạn văn trên?

Câu 4: Chi tiết sau đây có ý nghĩa gì: “ Đến đấy, một mình một ngựa, tráng sĩ

Trang 35

lên đỉnh núi, cởi áo giáp sắt bỏ lại, rồi cả người lẫn ngựa từ từ bay lên trời”.

Phiếu bài tập số 4:

Cho đoạn văn:

" Nghe chuyện Phù Đổng Thiên Vương tôi tưởng tượng đến một trang nam nhi sức vóc khác thường nhưng tâm hồn còn thô sơ và giản dị như tâm hồn tất cả mọi người xưa " Phù Đổng Thiên Vương gặp lúc quốc gia lâm nguy đã xông pha ra trận, đem sức khoẻ mà đánh tan giặc, nhưng bị thương nặng Tuy thế " Phù Đổng Thiên Vương vẫn ăn một bữa cơm rồi nhảy xuống hồ Tây tắm, xong mới ôm vết thương lên ngựa đi tìm một rừng cây âm u, ngồi dựa vào một gốc cây to, giấu kín nỗi đau đớn mà chết."

Câu 1: Cho biết nhân vật “Phù Đổng Thiên Vương” trong đoạn trích trên là ai ? Câu 2: Hãy nêu ý nghĩa của hình tượng nhân vật này trong truyện ?

Câu 3: Thay thế các từ đồng nghĩa với từ " Phù đổng Thiên Vương" trong đoạn

văn trên?

Hướng dẫn:

Phiếu bài tập số 1:

Câu 1:

- Đoạn văn trên trích từ văn bản Thánh Gióng

- Văn bản ấy thuộc thể loại truyện truyền thuyết

Từ mượn: tục truyền, Hùng Vương, phúc đức, thụ thai, khôi ngô,

Nguồn gốc: Từ mượn tiếng Hán

Phiếu bài tập số 2:

Trang 36

Câu 1: Phương thức biểu đạt chính của đoạn văn : tự sự

Câu 2: Nhân vật chính trong truyện là Thánh Gióng.

Câu 3 : Ý nghĩa của chi tiết : “Tiếng nói đầu tiên của chú bé là tiếng nói đòi đi

đánh giặc ” :

- Ca ngợi ý thức đánh giặc, cứu nước trong hình tượng Gióng

- Ý thức đánh giặc cứu nước tạo cho người anh hùng những khả năng hành độngkhác thường, thần kì

- Gióng là hình ảnh của nhân dân, khi bình thường thì âm thầm, lặng lẽ Nhưng khinước nhà có giặc ngoại xâm thì họ vùng lên cứu nước

Câu 4 : Cụm danh từ : một con ngựa sắt, một cái roi sắt, một tấm áo giáp sắt, lũ

Câu 1: Tóm tắt: Giặc đến chân núi Trâu, cũng là lúc sứ giả đến, Gióng vươn vai

biến thành tráng sĩ nhảy lên mình ngựa xông ra chiến trường diệt giặc

Câu 2: Phương thức biểu đạt của đoạn văn trên là tự sự và miêu tả.

Câu 3: Các cụm danh từ trong đoạn văn trên: Vừa lúc đó, một tráng sĩ, mấy tiếng vang dội

Câu 4: Chi tiết: “ Đến đấy, một mình một ngựa, tráng sĩ lên đỉnh núi, cởi áo giáp

sắt bỏ lại, rồi cả người lẫn ngựa từ từ bay lên trời”.

Ý nghĩa của chi tiết trên:

- Áo giáp sắt của nhân dân làm cho để Gióng đánh giặc, nay đánh giặc xong trả lạicho nhân dân, vô tư không chút bụi trần,

- Thánh gióng bay về trời, không nhận bổng lộc của nhà vua, từ chối mọi phầnthường, chiến công để lại cho nhân dân,

- Gióng sinh ra cũng phi thường khi đi cũng phi thường (bay lên trời)

- Gióng bất tử cùng sông núi, bất tử trong lòng nhân dân

Phiếu bài tập số 4:

Câu 1: Thánh Gióng là nhân vật được nói đến trong đoạn văn

Trang 37

Câu 2: Gióng là biểu tượng rực rỡ của ý thức và sức mạnh bảo vệ đất nước, thể

hiện quan niệm và ước mơ của nhân dân ta ngay từ buổi đầu lịch sử về người anh

hùng cứu nước chống giặc ngoại xâm

Câu 3: Có thể chọn những từ ( cụm từ) đồng nghĩa để thay thế như:

Ngày đăng: 18/04/2021, 05:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w